Toàn bộ tài liệu và cách thức thực hiện của chương trình cũng đã được trao lại cho UBND xã và Trạm Y tế xã Nam Thanh để tiếp tục thực hiện các giải pháp can thiệp cải thiện điều kiện lao
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM BÌNH YÊN XÃ NAM THANH - NAM TRỰC - NAM ĐỊNH
Chủ nhiệm đề tài: Đỗ Minh Sinh
Nam Định - 2017
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ NHÔM BÌNH YÊN XÃ NAM THANH - NAM TRỰC - NAM ĐỊNH
Chủ nhiệm đề tài: Đỗ Minh Sinh
Cấp quản lý: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
Mã số đề tài (nếu có):
Thời gian thực hiện: từ tháng 5/2016 - 5/2017
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 7,65 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH 7,65 triệu đồng
Nam Định – 2017
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
1 Tên đề tài: Đánh giá hiệu quả của một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định
2 Chủ nhiệm đề tài: Đỗ Minh Sinh
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Y tế công cộng
4 Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định
5 Danh sách nghiên cứu viên:
- ThS Vũ Thị Thúy Mai - Khoa Y tế công cộng
- Nguyễn Thị Tuyết - Sinh viên lớp ĐHCQ 10 C
- Đoàn Thị Giang - Sinh viên lớp ĐHCQ 10 A
6 Thư ký đề tài: ThS Vũ Thị Thúy Mai
7 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 5/2016 - 5/2017
Trang 4LI Lifting equation (Hàm số nâng nhấc)
MTLĐ Môi trường lao động
NIOSH National Institute for Occupational Safety and Health
(Viện An toàn sức khỏe nghề nghiệp Quốc gia (Hoa Kỳ))
OWAS Ovako Working posture Assessment System
(Hệ thống phân tích tư thế làm việc theo Ovako)
RWL Recommended weight limit (khuyến cáo giới hạn trọng lượng) TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCKL Tái chế kim loại
TNLĐ Tai nạn lao động
TTLĐ Tư thế lao động
WISE Work Improvements in Small Enterprises
(Cải thiện điều kiện lao động trong doanh nghiệp nhỏ)
WISH Work Improvemet for Safe Home
(Cải thiện điều kiện làm việc tại hộ gia đình)
WHO World Health Organization(Tổ chức Y tế thế giới)
Trang 5TÓM TẮT KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA ĐỀ TÀI
Sau quá trình triển khai các hoạt động can thiệp cải thiện điều kiện lao động, nghiên cứu thu được một số kết quả nổi bật như sau:
1 Kết quả đạt được và khả năng ứng dụng của kết quả
Nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm một số giải pháp can thiệp cải thiện điều kiện lao động Kết quả cho thấy có sự thay đổi tích cực về hành vi của người lao động trong việc xây dựng một môi trường làm việc an toàn hơn Hiệu quả của việc làm này được minh chứng bởi những sự thay đổi về tư thế lao động, cảm giác mệt mỏi và tai nạn lao động Toàn bộ tài liệu và cách thức thực hiện của chương trình cũng đã được trao lại cho UBND xã và Trạm Y tế xã Nam Thanh để tiếp tục thực hiện các giải pháp can thiệp cải thiện điều kiện lao động
2 Đánh giá việc thực hiện đề tài so với đề cương được phê duyệt
Về tiến độ thực hiện: đề tài đã đảm bảo đúng tiến độ so với đề cương
Các kết quả cho thấy nghiên cứu cũng đã đạt được mục tiêu đề ra là đánh giá hiệu quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động
Về các sản phẩm tạo ra so với đề cương được phê duyệt là đầy đủ và đảm bảo chất lượng bao gồm bản báo cáo về hiệu quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động
Việc sử dụng kinh phí chi cho các hoạt động của đề tài đảm bảo đúng quy định và đã được kiểm định
3 Một số đề xuất
Đề nghị Nhà trường tạo điều kiện về nguồn kinh phí để có thể thực hiện đề tài trên quy mô lớn hơn
Đề nghị Nhà trường hỗ trợ để có thể đăng ký đề tài cấp tỉnh với nội dung là
“Cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề tái chế kim loại”
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan điều kiện lao động và làng nghề 3
1.2 Tổng quan một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động phù hợp với loại hình sản xuất tái chế kim loại 5
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu 13
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đặc điểm chung của hộ gia đình và người lao động 20
3.2 Kết quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động 21
Chương 4: BÀN LUẬN 28
4.1 Kết quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động 28
4.2 Kết quả thay đổi về tình trạng sức khỏe của người lao động 30
4.3 Một số ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 33
KẾT LUẬN 33
KIẾN NGHỊ 34 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Quy mô sản xuất của 20 hộ gia đình tham gia nghiên cứu 20
Bảng 3.2 Một số đặc điểm của các hộ sản xuất tại làng Bình Yên 20
Bảng 3 3 Một số đặc điểm người lao động sản xuất tái chế nhôm (n=73) 20
Bảng 3.4 Kết quả cải thiện “Mang vác và vận chuyển nguyên vật liệu” 21
Bảng 3.5 Kết quả cải thiện “Đảm bảo an toàn máy” 21
Bảng 3.6 Kết quả cải thiện “Thiết kế nơi làm việc” 21
Bảng 3.7 Kết quả cải thiện trong nhóm “Môi trường lao động” 22
Bảng 3.8 Kết quả cải thiện “Cơ sở phúc lợi và Tổ chức công việc” 22
Bảng 3.9 Thay đổi mức độ tư thế giữa trước và sau can thiệp (n=404) 23
Bảng 3.10 Kết quả giảm thiểu gánh nặng tư thế theo OWAS (n=404) 23
Bảng 3.11 Kết quả cải thiện tình trạng mệt mỏi theo thang đo FAS (n=73) 23
Bảng 3.12 Tình trạng đau mỏi cơ, xương của người lao động (n=73) 24
Bảng 3.13 Tần suất xảy ra tại nạn lao động của người lao động (n=73) 24
Bảng 3.14 Phân loại tai nạn lao động trước và sau can thiệp 25
Bảng 3.15 Phân bố tính chất tổn thương do tai nạn lao động 25
Bảng 3.16 Phân bố nguyên nhân gây tai nạn lao động 25
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1 Kết quả cải thiện điều kiện lao động phân nhóm theo WISH 23
Biểu đồ 3 2 Phân bố tình trạng mệt mỏi trước và sau can thiệp 24
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ Hình 2.1 Sơ đồ quy trình tái chế nhôm tại làng Bình Yên 13
Hình 2 2 Quá trình thay đổi hành vi cải thiện điều kiện lao động theo mô hình “Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi” 18
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Tái chế phế liệu nói chung và tái chế kim loại nói riêng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Tái chế kim loại giúp giảm thiểu sử dụng tài nguyên, tạo việc làm, góp phần bảo tồn hệ sinh thái và tạo cơ hội cho phát triển bền vững [19] Để thực hiện được những vai trò trên thì việc đảm bảo điều kiện lao động
an toàn tại các khu vực tái chế kim loại là điều cần thiết Vì điều kiện lao động đóng vai trò cốt lõi trong hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo an toàn cho người lao động
và là tiền đề cho sự phát triển của xã hội [14]
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng thực tế hiện nay cho thấy điều kiện lao động tại cơ sở tái chế kim loại đang tồn tại nhiều yếu tố có hại và yếu tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động Tỷ lệ mẫu đo vi khí hậu vượt tiêu chuẩn tại làng Phù Ủng là 53,7% [16], số mẫu đo tiếng ồn vượt tiêu chuẩn tại làng Đại Bái là 90,9% [20], hàm lượng bụi toàn phần tại làng Tống Xá vượt tiêu chuẩn từ 1,1-4,6 lần [11] Bên cạnh đó người lao động cũng phải làm việc với các loại máy và thiết
bị không an toàn như các bộ phận truyền động không được che chắn hoặc không được bảo dưỡng định kỳ [8]
Trong khi đó đa số người lao động tái chế kim loại có trình độ học vấn chưa cao, thiếu hiểu biết về các qui định an toàn - vệ sinh lao động [4], [13] Đồng thời nhiều cơ
sở sản xuất, chính quyền địa phương chưa quan tâm và hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa cũng như hiệu quả của việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động [5], [18] Đây là nguyên nhân góp phần làm gia tăng tình trạng bệnh tật và tai nạn lao động Tỷ lệ người lao động làng Vân Chàng mắc bệnh đường hô hấp lên tới 48% [15], có tới 38,9% người lao động làng Đồng Sâm bị bệnh về tâm thần kinh [25], tỷ lệ tai nạn lao động tại làng Văn Môn khoảng 75% [24] Chính vì vậy việc đảm bảo an toàn - vệ sinh lao động thông qua việc thực hiện các giải pháp cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề tái chế kim loại là vấn đề cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn và nhân đạo sâu sắc
Cho đến nay đã có nhiều giải pháp cải thiện điều kiện lao động được nghiên cứu
và áp dụng vào thực tế Kết quả áp dụng các giải pháp này tại các làng nghề đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc cải điều kiện lao động, đồng thời nâng cao nhận thức của người lao động về an toàn - vệ sinh lao động qua đó góp phần đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe người lao động [8], [42] Tuy nhiên tại Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề có quy mô nhỏ lẻ còn thiếu hụt Bên cạnh đó hiệu quả của các giải pháp can thiệp đến sức khỏe người lao động chưa được phân tích rõ ràng
Làng nghề tái chế nhôm Bình Yên là một đơn vị hành chính thuộc xã Nam Thanh tỉnh Nam Định Sau gần 30 năm phát triển đến nay quy mô sản xuất của làng vẫn giữ nguyên theo hình thức hộ cá thể Trong khi đó các làng nghề tái chế kim loại khác đã chuyển đổi sang loại hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã Khoảng trống tri thức về điều kiện lao động và sức khỏe người lao động tại làng Bình Yên vẫn đang tồn tại Vậy điều kiện lao động tại làng Bình Yên là như thế nào? Sức khỏe của người lao động ra sao? Liệu có cải thiện được vấn đề này không? Đáp án của các câu hỏi trên có thể giúp đánh giá được quy mô và nguyên nhân của vấn đề để từ đó đưa ra các can thiệp cải thiện phù hợp và khả thi nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao sức khỏe cho người lao động tại đây Với ý nghĩa như trên, nghiên cứu này đã được tiến hành với 02 mục tiêu:
Trang 91 Đánh giá kết quả cải thiện điều kiện lao động trong các cơ sở sản xuất tại làng nghề tái chế nhôm Bình Yên xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định
2 Đánh giá cải thiện tình trạng sức khỏe của người lao động tại làng nghề tái chế
nhôm Bình Yên xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan điều kiện lao động và làng nghề
1.1.1 Khái niệm và các yếu tố của điều kiện lao động
1.1.1.1 Khái niệm điều kiện lao động
Theo Cục An toàn Lao động - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2007) “Điều kiện lao động là tổng thể các yếu tố về kinh tế, xã hội, tổ chức, kỹ thuật, tự nhiên thể hiện qua quá trình công nghệ, dụng cụ lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con người lao động và sự tác động qua lại giữa chúng trong không gian và thời gian nhất định tạo nên những điều kiện cần thiết cho hoạt động của con người trong quá trình sản xuất” [6]
1.1.1.2 Các yếu tố của điều kiện lao động
Có nhiều cách để phân chia các yếu tố cầu thành điều kiện lao động, tuy nhiên dựa trên cơ sở hình thành và những ảnh hưởng của các yếu tố đến cơ thể con người, có thể chia điều kiện lao động (ĐKLĐ) thành các nhóm sau [21]:
Các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế, xã hội, tự nhiên và văn hóa: Các
yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động (máy, thiết bị, công cụ, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu, ) Các yếu tố liên quan đến tính chất của quá trình lao động (thể lực hay trí óc, thủ công, cơ giới, tự động ) Các yếu tố về tổ chức bố trí lao động (chế độ lao động nghỉ ngơi, thời gian lao động )
Các yếu tố tâm, sinh lý như mức chịu tải, nhịp điệu lao động của cơ bắp, mức
tiêu hao năng lượng, biến đổi sinh lý, sinh hóa của cơ thể, căng thẳng thần kinh, chế độ làm việc, tư thế lao động (TTLĐ)…
Môi trường lao động: yếu tố vật lý (vi khí hậu, chiếu sáng, rung xóc, tiếng ồn);
yếu tố hóa học (bụi, hơi khí độc hại); yếu tố vi sinh vật (vi khuẩn, nấm )
1.1.2 Tổng quan về làng nghề Việt Nam
1.1.2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề Việt Nam
Làng nghề là một trong những đặc trưng gắn liền với sự phát triển của nông thôn Việt Nam Hầu hết các làng nghề truyền thống đã được hình thành và trải qua quá trình phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại các vùng nông thôn Các ghi chép cho thấy làng đúc đồng Đại Bái có lịch sử trên 900 năm, làng gốm Bát Tràng là 500 năm, làng chạm bạc Đồng Sâm cũng có niên đại trên 400 năm [3]
Sự ra đời của các làng nghề là do nhu cầu giải quyết lao động trong lúc nông nhàn nhằm sản xuất ra các sản phẩm phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là sản xuất nông nghiệp Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ngày nay bên cạnh các làng nghề truyền thống có rất nhiều làng nghề mới đã hình thành và phát triển rộng khắp trên cả nước, trong đó chủ yếu tập trung ở vùng Đồng bằng sông Hồng Từ chỗ chỉ sản xuất ra các sản phẩm phục vụ cho người dân trong làng, đến nay sản phẩm của các làng nghề đã đáp ứng được hầu hết các nhu cầu của nền kinh tế thị trường [3], [22]
Trang 111.1.2.2 Khái niệm và phân loại làng nghề
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006) “Làng nghề là một hoặc
nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản
xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”[2]
Có nhiều cách khác nhau để phân loại làng nghề, tuy nhiên trên cơ sở tiếp cận vấn đề về môi trường làng nghề thì cách phân loại làng nghề theo ngành sản xuất và loại hình sản xuất là phù hợp hơn cả Theo đó làng nghề được phân chia thành 6 nhóm ngành chính và mỗi nhóm chính lại có các nhóm nhỏ khác nhau [3]: (i) Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ; (ii) Làng nghề nhuộm, ươm tơ, thuộc da; (iii) Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá; (iv) Làng nghề tái chế phế liệu (trong đó có nhóm làng nghề cơ khí); (v) Làng nghề thủ công mỹ nghệ; (vi) Các nhóm ngành khác: chế tạo công cụ thô sơ, mộc da dụng, …
1.1.2.3 Vai trò của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Sự phát triển của làng nghề đã đáp ứng hầu hết nhu cầu cơ bản và thiết yếu của người dân ở nông thôn, có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp, phục vụ sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống của người dân [27] Góp phần giải quyết việc làm tại chỗ, lao động lúc nông nhàn, lao động khuyết tật, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Sự phát triển các làng nghề cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn, nâng cao trình độ văn hóa, dân trí, đổi mới nông thôn, đồng thời bảo tồn được các giá trị văn hóa dân tộc [10], [19], [27]
1.1.2.4 Các thách thức trong quá trình phát triển của làng nghề
Phần lớn công nghệ và kỹ thuật được áp dụng cho sản xuất tại làng nghề còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, tính cạnh tranh rất hạn chế [4] Bên cạnh đó do công nghệ sản xuất lạc hậu, hiệu quả sử dụng nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất chật hẹp, việc đầu tư cho các hệ thống xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn chưa được quan tâm kết hợp với ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn chưa cao vì vậy hoạt động sản xuất tại các làng nghề đã tạo ra nhiều hệ lụy cho môi trường và sức khỏe người dân sống trong vùng làng nghề [30]
1.1.2.5 Đặc điểm của làng nghề tái chế kim loại
Nhóm làng nghề tái chế chất thải, trong đó có tái chế kim loại là nhóm ngành mới được hình thành, tuy nhiên lại phát triển khá nhanh cả về quy mô và loại hình Trước đây sản phẩm chủ yếu của nhóm làng nghề này là sản xuất các dụng cụ phục vụ nông nghiệp như cày, bừa, cuốc, xẻng Tuy nhiên đến nay nhóm làng nghề này đã có những bước phát triển mạnh mẽ Đã có thêm rất nhiều loại hình sản xuất mới xuất hiện, như đúc nhôm, đúc đồng, cán kéo sắt, thép, tạo hình sản phẩm cho các ngành công nghiệp sản xuất khác nhau… [4]
Với đặc điểm chung là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, trình độ công nghệ lạc hậu, nguyên, nhiên liệu sản xuất phức tạp, vấn đề an toàn vệ sinh lao động chưa được quan tâm đúng mức đã tạo nhiều yếu tố có hại và yếu tố nguy hiểm gây ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe người lao động Quá trình nấu chảy kim loại, ủ và tháo dỡ khuân đúc có
Trang 12thể tạo ra bụi và các khí độc hại Quá trình tẩy rửa, làm sạch bề mặt và mạ kim loại
có thể phát sinh hơi kiềm, hơi axit…
1.2 Tổng quan một số giải pháp cải thiện điều kiện lao động phù hợp với loại hình sản xuất tái chế kim loại
1.2.1 Giới thiệu về các nhóm giải pháp điều kiện lao động
Có nhiều giải pháp để cải thiện điều kiện lao động nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe của người lao động, tuy nhiên có thể phân chia các giải pháp này thành các nhóm như sau [4], [21]: (i) Nhóm giải pháp tổ chức lao động, nơi làm việc; (ii) Nhóm biện pháp kỹ thuật công nghệ sản xuất; (iii) Nhóm biện pháp kỹ thuật an toàn và vệ sinh công nghiệp; (iv) Nhóm giải pháp quản lý; (v) Nhóm các biện pháp y tế, bảo vệ sức khỏe Mỗi nhóm giải pháp này có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với những điều kiện cụ thể của từng loại hình sản xuất và đặc điểm của mỗi cơ sở sản xuất Với đặc điểm sản xuất nhỏ lẻ, trình độ công nghệ lạc hậu, mặt bằng và vốn sản xuất hạn chế nên việc áp dụng đồng bộ cùng lúc 05 nhóm giải pháp cải thiện ĐKLĐ cho các làng nghề TCKL là rất khó khăn Do đó trước mắt việc ưu tiên lựa chọn nhóm giải pháp phù hợp với đặc điểm sản xuất của làng nghề là hướng đi đúng đắn Nhóm giải pháp này phải đảm bảo tính bền vững, chi phí thấp, hiệu quả cao, dễ chấp nhận, dễ thực hiện, phù hợp với đặc điểm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội của địa phương và dựa vào nguồn lực sẵn có của địa phương Trong 05 nhóm giải pháp trên thì nhóm giải
pháp “Tổ chức lao động, nơi làm việc” có thể đáp ứng được gần như toàn bộ các
nguyên tắc trên
Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Viện An toàn sức khỏe nghề nghiệp Quốc gia (Hoa Kỳ)… đã xuất bản nhiều tài liệu về An toàn - Vệ sinh lao động; hướng dẫn quản lý môi trường lao động, khuyến cáo các giải pháp khả
thi để cải thiện ĐKLĐ Các giải pháp cải thiện ĐKLĐ thuộc nhóm “Tổ chức lao động,
nơi làm việc” phù hợp với làng nghề TCKL đã và đang được sử dụng sẽ được mô tả
chi tiết sau đây:
1.2.2 Giới thiệu một số giải pháp điều kiện lao động thuộc nhóm “Tổ chức lao động, nơi làm việc” phù hợp với làng nghề tái chế kim loại
1.2.2.1 Giải pháp “Nâng cao sức khỏe nơi làm việc”
Các chương trình nâng cao sức khỏe nơi làm việc là một sự phối hợp toàn diện
về các chiến lược tăng cường và bảo vệ sức khỏe được thực hiện tại nơi làm việc bao gồm các chương trình, chính sách, quyền lợi, hỗ trợ môi trường và các liên kết đến các cộng đồng xung quanh được thiết kế để khuyến khích sức khỏe và sự an toàn của tất cả lực lượng lao động
Mặc dù “Nâng cao sức khỏe nơi làm việc” là một chương trình cải thiện ĐKLĐ khá toàn diện và đem lại nhiều hiệu quả tuy nhiên việc thực hiện chương trình này cần
có nhiều nguồn lực và cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan từ NLĐ, người sử dụng lao động, ngành y tế cũng như cả hệ thống chính trị Vì vậy giải pháp này chỉ được đề xuất thực hiện khi đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu trên Ngoài ra hiệu quả đầu ra mang tính lâu dài, khó đánh giá vì vậy cần phải thiết kế các công cụ đo lường phù hợp
1.2.2.2 Chương trình Cải thiện điều kiện lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ - Work Improvements in Small Enterprises (WISE)
Trang 13Chương trình WISE được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1988, qua nhiều quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và sửa chữa, bản hướng dẫn chương trình WISE hoàn chỉnh được xuất bản lần gần đây nhất là vào năm 2009 do ILO phát hành Chương trình WISE tập trung vào một số nguyên tắc cơ bản và những ví dụ cụ thể để cải thiện điều kiện lao động Những hoạt động này có thể có những tác động tích cực trực tiếp đến cả cơ sở sản xuất cũng như hoạt động, động lực và hiệu quả làm việc của cả người lao động Chương trình WISE đã được thiết kế phù hợp để cải thiện điều kiện lao động trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, không phù hợp với hình thức sản xuất nhỏ lẻ theo
Điều kiện áp dụng chương trình WISH khá đơn giản không cần nhiều nguồn lực, không cần có sự tham gia của quá nhiều các bên liên quan, dễ thực hiện, chi phí thấp, hiệu quả rõ ràng và dễ đánh giá Bên cạnh đó việc triển khai thực hiện theo từng hộ cá thể riêng lẻ mỗi giải pháp cải thiện phù hợp với điều kiện cụ thể của từng hộ sản xuất, từng loại hình sản xuất Đây là giải pháp cải thiện điều kiện lao động rất phù hợp với các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ lẻ theo hộ gia đình [40]
1.2.2.4 Phương pháp Ecgônômi khảo sát điều kiện lao động và đánh giá gánh nặng lao động, gánh nặng tư thế lao động
Một trong nhiều ứng dụng của Ecgônômi đang được áp dụng rộng rãi hiện nay
đó là ứng dụng Ecgônômi để dự phòng rối loạn Cơ-xương-khớp nghề nghiệp Một số phương pháp khảo sát Ecgônômi để dự phòng rối loạn Cơ-xương-khớp nghề nghiệp sẽ được trình bày chi tiết sau đây
* Phương pháp RULA
Phương pháp RULA là một phương pháp được xây dựng để khảo sát Ecgônômi tại nơi làm việc có liên quan đến các rối loạn Cơ-xương-khớp ở chi trên Công cụ này cung cấp một đánh giá nhanh về vị trí đau ở cổ, thân và chi trên cùng với chức năng cơ bắp của cơ thể Một hệ thống mã hóa được sử dụng để tạo ra một danh sách hành động cho thấy mức độ can thiệp cần thiết để giảm nguy cơ chấn thương do gánh nặng TTLĐ
* Phương pháp REBA [35]
REBA là một công cụ phân tích tư thế nhạy cảm với rủi ro Cơ-xương-khớp được xây dựng dựa trên việc nghiên cứu trong một loạt các nhiệm vụ và đánh giá của tư thế
làm việc trong chăm sóc y tế và các ngành dịch vụ khác
* Phương pháp đánh giá công việc nâng nhấc (Lifting equation - LI) của Viện An toàn Sức khỏe nghề nghiệp quốc gia (Hoa Kỳ)[53]
Phương pháp này được sử dụng với mục đích thiết kế lại các công việc nâng nhấc đang làm hoặc để thiết kế mới các công việc bằng tay, ước lượng độ lớn liên quan của
Trang 14sự căng thẳng cơ thể đối với một công việc hoặc một nghề Tuy nhiên phạm vi áp dụng hạn chế và không áp dụng được cho các trường hợp: nâng nhấc bằng một tay; làm việc > 8giờ/ngày; làm việc trong tư thế ngồi hoặc quỳ; hạn chế về không gian làm việc; các vật nặng dễ đổ; đẩy, kéo, vác trong khi nâng nhấc; dùng xe di chuyển; thiếu
ma sát giữa chân và nền nhà
* Phương pháp OWAS[39]
Phương pháp OWAS được phát triển bởi công ty thép Ovako Oy ở Phần Lan từ năm 1977 Phương pháp OWAS là việc xác định chuyển động của từng bộ phận trên cơ thể xung quanh thắt lưng, vai, chi dưới và tư thế ngồi Mục đích của OWAS là xác định được những tư thế lao động bất lợi của người lao động từ đó thảo luận với họ về cách khắc phục cải thiện tư thế bất lợi này thành tư thế lao động an toàn giúp tăng cường sức khỏe, ngăn cản sự xuất hiện của các vấn đề sức khỏe mới đặc biệt là hạn chế tai nạn lao động và các bệnh cơ-xương-khớp
Trong các phương pháp Ecgônômi khảo sát ĐKLĐ và đánh giá GNLĐ và gánh nặng TTLĐ đang được áp dụng hiện nay thì phương pháp OWAS là phương pháp đơn giản nhất, đánh giá được toàn bộ tư thế của cả thân người, phù hợp với đánh giá tư thế trong sản xuất cơ khí
1.2.3 Hiệu quả can thiệp cải thiện điều kiện lao động
1.2.3.1 Hiệu quả cải thiện điều kiện lao động trên thế giới
* Hiệu quả áp dụng chương trình WISE
Chương trình WISE là một trong những chương trình cải thiện điều kiện lao động được áp dụng rộng rãi hiện nay và đã đem lại hiệu quả rõ rệt Áp dụng một số cải thiện điều kiện môi trường (làm tấm chắn tại các lò lung kim loại…) theo phương pháp WISE tại một số cơ sở đúc kim loại vừa và nhỏ tại Bankok và một số tỉnh lân cận
ở Thái Lan kết quả cho thấy nhiệt độ tại nơi NLĐ thực hiện các thao tác đã giảm một cách có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 [42]
Một báo cáo khác tại Thái Lan về việc áp dụng chương trình WISE tại 18 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ cho thấy sau 6 tháng áp dụng chương trình đã có 35 cải thiện được thực hiện Những cải thiện này đã góp phần giảm tỷ lệ triệu chứng rối loạn Cơ-xương-khớp ở NLĐ có ý nghĩa thống kê [34] Ứng dụng WISE để cải thiện ĐKLĐ tại Cebu
và Dabao của Philipin đã giúp tăng năng suất lao động giảm sự cố gắng quá sức của NLĐ [51] Hiệu quả cải thiện ĐKLĐ theo WISE cũng đã được ghi nhận tại 24 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ khác tại CeBu, Philinpin và tại một số cơ sở sản xuất ở Ấn Độ [41]
Sử dụng phương pháp cải tiến công nghệ sản xuất như thay đổi hệ thống dẫn lửa, cải tiến quy trình trộn nguyên vật liệu,… tại nhà máy tái chế nhôm ở Mostar - Bosnia
và Herzegovina cho thấy hiệu quả giảm tiếng ồn có ý nghĩa thống kê so với trước khi cải thiện Trước can thiệp số mẫu đo TCVSLĐ chiếm tới 78,4% sau can thiệp chỉ còn 13% Cường độ tiếng ồn trước can thiệp từ 95 dBA - 102 dBA sau can thiệp giảm xuống còn từ 63 dBA - 94 dBA [33]
* Hiệu quả áp dụng chương trình WISH
Ứng dụng phương pháp WISH để hướng dẫn cải thiện ĐKLĐ tại các hộ cá thể ở Muang- Surin (Thái Lan) cho kết quả 78,78% NLĐ đã thực hiện các cải thiện ĐKLĐ
Sự khác biệt về điểm cải thiện bằng WISH giữa trước và sau can thiệp có ý nghĩa
Trang 15thống kê với p < 0,05 Người lao động rất hứng thú với việc thực hiện các cải thiện của
họ [38] Hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp WISH để cải thiện ĐKLĐ cũng được ghi nhận tại các cơ sở sản xuất cá ngọt giòn ở Thái Lan Sau quá trình hướng dẫn cải thiện ĐKLĐ cho thấy các cải thiện được thực hiện nhiều nhất thuộc nhóm vận chuyển và cất giữ nguyên vật liệu, đặc biệt là việc sử dụng an toàn và bảo quản các hóa chất Nhận thức về việc sử dụng PTBVCN đã tăng lên đáng kể sau can thiệp [31] Bên cạnh đó WISH cũng giúp cải thiện tình trạng chiếu sáng nơi làm việc tại một số
cơ sở sản xuất khác ở quốc gia này [45]
* Hiệu quả áp dụng các phương pháp Ecgônômi
Ứng dụng Phương trình nâng nhấc của NIOSH trên NLĐ TCKL tại Puget Sound
- Bremerton (Mỹ) cho thấy Với việc thiết kế các bàn để vật liệu trước khi người công nhân cho vật liệu vào máy đã làm giảm hệ số nâng nhấc của người lao động đáng kể
Cụ thể trước can thiệp những công việc có trọng lượng tay cầm là 5kg có hệ số nâng nhấc là LI = 1,8 sau can thiệp chỉ còn LI = 0,6 Đề xuất giới hạn trọng lượng cho các nhiệm vụ đơn lẻ trước can thiệp chỉ là 5,5 kg; tuy nhiên sau can thiệp con số này là 16,1 kg [37] Hiệu quả của việc ứng dụng Phương trình nâng nhấc để giảm các yếu tố nguy cơ và tăng cường sức khỏe NLĐ cũng được ghi nhận tại Thái Lan [46] Theo đó sau khi can thiệp đã giảm tỷ lệ đau mỏi Cơ-xương-khớp cho người lao động một cách
có ý nghĩa thống kê
Sử dụng OWAS để đánh giá tư thế NLĐ tại một số cơ sở cơ khí ở Philipin đã xác định được rất nhiều TTLĐ bất lợi Một loạt các giải pháp can thiệp đã được triển khai thực hiện Sử dụng phương pháp tổng trọng lượng tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả các can thiệp các tác giả đã ghi nhận được kết quả: hiệu quả chi phí tăng từ 6,9 điểm trước can thiệp tăng lên 7,4 điểm sau can thiệp; điểm thực hiện thao tác dễ dàng tăng từ 7 lên 8,4 điểm; tăng sức bền khi làm việc từ 6,75 lên 8,35 điểm [49]
Kết hợp sử dụng OWAS, REBA và RULA để đánh giá tư thế trên người lao động tại nhà máy sản xuất thép tại Nagpur Ấn Độ nhận thấy có nhiều tư thế lao động bất lợi cần thay đổi, các tác giả đã đề xuất một số cải thiện bao gồm: thay thế và sắp xếp lại các bảng điều khiển, thiết kế lại ghế ngồi cho NLĐ … Với những cải thiện điều kiện lao động như trên sau can thiệp đã làm giảm số lượng các tư thế bất lợi có ý nghĩa thống kê [32]
1.2.3.2 Hiệu quả cải thiện điều kiện lao động tại Việt Nam
* Hiệu quả áp dụng chương trình WISE
Trong số các chương trình cải thiện ĐKLĐ hiện nay đang được áp dụng tại Việt Nam thì WISE là phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất Báo cáo kết quả thực hiện
dự án “Thực hiện hiệu quả Chương trình quốc gia về An toàn - Vệ sinh lao động nhằm cải thiện an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc ở Việt Nam” cho thấy được hiệu quả rõ rệt của chương trình WISE Theo đó từ năm 2009-2011 đã có 574 doanh nghiệp vừa
và nhỏ thuộc 10 tỉnh/thành phố tham gia với 1813 cải thiện đã được nghi nhận Hầu hết các cải thiện này đều đơn giản, thiết thực, chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao, góp phần tích cực nâng cao năng suất lao động, phòng ngừa TNLĐ và bệnh nghề nghiệp [7]
Áp dụng phương pháp WISE tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại làng nghề cơ khí Xuân Tiến - Nam Định cho thấy có rất nhiều cải thiện đã được thực hiện Trong đó nhóm cải tạo môi trường làm việc và nhóm cải thiện điều kiện tiện nghi phục vụ lao
Trang 16động có nhiều cải thiện được thực hiện nhất nhóm lần lượt là 32,3% và 27,4% [8] Cải thiện điều kiện lao động tại các khu công nghiệp ở tỉnh Nam Định bằng phương pháp WISE cũng đã được ghi nhận Sau 03 năm thực hiện chương trình 12/12 doanh nghiệp
đã thực hiện các cải thiện điều kiện lao động Mỗi doanh nghiệp đã thực hiện từ 3-15 đầu mục cải thiện cho 583 NLĐ Các cải thiện chủ yếu là cải thiện về ánh sáng (75%); chống nóng (75%); cải thiện tư thế làm việc cho công nhân (75%); mở rộng nhà xưởng (41,7%); … [9]
Kết quả triển khai phương pháp WISE tại 248 hộ gia đình tại một số làng nghề phía Bắc cho kết quả: tổng số đã có 730 cải thiện điều kiện lao động và điều kiện sống được ghi nhận Gần 70% cải thiện điều kiện lao động tại các làng nghề là về an toàn dụng cụ máy móc, cải thiện điều kiện tiện nghi phục vụ lao động và cải thiện môi trường sống [17]
* Hiệu quả áp dụng các phương pháp Ecgônômi
Sử dụng phương pháp đánh giá gánh nặng lao động thể lực bằng phương trình nâng nhấc của NIOSH trên người lao động ở Xuân Tiến - Nam Định đã cho thấy được vai trò của phương pháp này trong việc giảm gánh nặng công việc cho người lao động
Áp dụng những cải thiện đơn giản tại công đoạn cuốn lô như người lao động khi thực hiện các thao tác nâng nhấc cần nâng tấm tôn sát người và người chủ doanh nghiệp cần làm giá để tấm tôn trước khi nâng để vào máy cuốn Kết quả triển khai cho thấy: chỉ số nâng nhấc (LI) tại công đoạn nâng vật-công đoạn cuốn lô; điểm cuối-công việc cuốn lô trước can thiệp lần lượt là LI = 1,66; LI = 11,32 (tiêu chuẩn cho phép LI < 1) sau can thiệp giảm xuống tương ứng là LI = 0,99; LI = 0,93 Với những cải thiện như trên đã góp phần giảm tỷ lệ TNLĐ tại đây một cách có ý nghĩa thống kê [8]
* Một số hiệu quả cải thiện điều kiện lao động khác
Báo cáo kết quả thực hiện dự án RAS/08/07M/JPN về việc áp dụng chương trình WISH trên 246 hộ gia đình tại Thái Nguyên, Đồng Nai và một số tỉnh khác đã có 490 cải thiện được người lao động thực hiện [7]
Kết quả áp dụng chương trình “Nâng cao sức khỏe nơi làm việc” tại làng nghề chế biến bún Tiền Ngoài - Bắc Ninh cũng đã cho thấy được hiệu quả trong việc cải thiện điều kiện lao động, nâng cao ý thức trách nhiệm của người lao động và các cấp chính quyền địa phương về đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, cải thiện môi trường làm việc [17]
Áp dụng mô hình quản lý An toàn vệ sinh lao động theo đề xuất của ILO tại một
số doanh nghiệp đóng, sửa chữa tàu thủy ở phía Bắc cho thấy nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về An toàn vệ sinh lao động và điều kiện môi trường lao động được cải thiện, mức độ rủi ro nguy cơ nghề nghiệp đã giảm xuống đáng kể [28]
Sử dụng phương pháp huấn luyện về an toàn - vệ sinh lao động (AT-VSLĐ) trực tiếp cho NLĐ tại nhà máy Xi măng Tam Điệp - Ninh Bình cho kết quả: Kiến thức của NLĐ về nghĩa vụ, quyền lợi của NLĐ về các nguyên tắc AT-VSLĐ, kiến thức về các yếu tố nguy hiểm, các yếu tố độc hại của NLĐ đã tăng lên một cách có ý nghĩa thống
kê Tỷ lệ NLĐ thực hành đúng quy định an toàn thiết bị, máy móc; kiểm tra sửa chữa thiết bị; thực hành phòng ngừa bệnh do ô nhiễm môi trường đã tăng cao hơn trước can thiệp từ 2-4 lần [29]
Rất nhiều chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe về an toàn vệ sinh lao
Trang 17động, bảo vệ môi trường, nâng cao sức khỏe cũng đã được triển khai tại nhiều làng nghề, cơ sở, doanh nghiệp trên cả nước Kết quả của những chương trình này đã giúp tăng cường kiến thức và thực hành của người lao động về an toàn vệ sinh lao động Tỷ
lệ có sử dụng PTBVCN và sử dụng đúng cách đã tăng lên có ý nghĩa thống kê Qua đó giúp giảm sự phơi nhiễm của người lao động với các yếu tố độc hại trong quá trình sản xuất, giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao sức khỏe cho người lao động [1], [23], [26]
Như vậy có thể nhận thấy tại Việt Nam cho đến nay đã có nhiều chương trình cải thiện điều kiện lao động đang được áp dụng Tuy nhiên, đa số các chương trình can thiệp mới chỉ tập trung vào khu vực các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực làng nghề đặc biệt là các làng nghề có quy mô sản xuất nhỏ lẻ còn đang bị bỏ ngỏ Bên cạnh đó kết quả của các chương trình can thiệp đa số mới chỉ mô tả được số lượng những cải thiện đã được thực hiện mà chưa đi sâu vào phân tích hiệu quả của các cải thiện đó đối với sức khỏe của người lao động Những thay đổi về sức khỏe như thay đổi về tình trạng mệt mỏi sau ca lao động, thay đổi về khả năng làm việc, thay đổi về rối loạn cơ-xương-khớp, … cần được mô tả để thấy rõ được hiệu quả của các chương trình can thiệp
Trang 18Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Điều kiện lao động tại khu vực tái chế nhôm: cơ sở sản xuất, loại hình sản xuất, các yếu tố tâm sinh lý và ecgônômi
- Người lao động tái chế nhôm: các đặc điểm cá nhân, tình trạng tai nạn lao động, mệt mỏi trong lao động, tình trạng đau mỏi xương khớp
2.1.2 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ 5/2016-5/2017 tại làng Bình Yên xã Nam Thanh huyện Nam Trực tỉnh Nam Định
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu
2.1.3.1 Giới thiệu địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai tại làng Bình Yên, xã Nam Thanh - Nam Trực - Nam Định Làng Bình Yên nằm ở phía bắc của tỉnh Nam Định cách thành phố Nam Định khoảng 20km Diện tích đất tự nhiên của làng khoảng 7,2 km2 trong đó đất thổ cư chiếm khoảng 1,7 km2 Làng Bình Yên có 600 hộ dân với dân số khoảng 2300 người, mật độ bình quân 319 người/ m2 Hình thức sản xuất chính của làng là sự kết hợp giữa các hoạt động sản xuất tái chế nhôm với sản xuất nông nghiệp
Hoạt động sản xuất tái chế nhôm tại làng Bình Yên được hình thành từ năm
1989 Ban đầu chỉ có 4 hộ chế tạo các loại chậu, xoong nhôm với nguyên liệu nhôm cán được nhập về từ làng Vân Chàng hoặc Bắc Ninh Hiện nay số hộ sản xuất tại làng nghề là 300 hộ Trong đó Cô nhôm có 57 hộ; Đúc nhôm có 29 hộ; Cán nhôm có 25 hộ; Tạo hình và tẩy rửa có 184 hộ; Khác là 05 hộ Số lao động tại chỗ của làng Bình Yên khoảng 600 người và thường xuyên có khoảng 400 lao động ở các địa phương khác sang làm thuê
2.1.3.2 Loại hình và quy mô sản xuất
Hiện nay tại làng nghề Bình Yên đang tồn tại các loại hình sản xuất gồm: Cô nhôm; Đúc nhôm; Cán nhôm; Tạo hình sản phẩm và một số công đoạn phụ trợ khác Các sản phẩm của làng nghề Bình Yên rất đa dạng như mâm, xoong, ấm, chảo, chậu… Quy mô sản xuất tại làng nghề Bình Yên hiện nay là sản xuất nhỏ lẻ theo hộ gia đình mỗi gia đình thực hiện một công đoạn tách rời nhau Đây là điểm khác biệt của làng nghề Bình Yên với một số làng nghề TCKL tại Nam Định như làng Tống Xá, làng Vân Chàng, làng Xuân Tiến…
Trang 192.1.3.3 Nguyên, nhiên liệu và quy trình sản xuất
Nhiên liệu sử dụng để sản xuất tại làng nghề Bình Yên chủ yếu là than đá và củi với số lượng khoảng trên 40 tấn/tháng Hóa chất sử dụng để tẩy trắng sản phẩm chủ yếu là NaOH với số lượng khoảng trên 2 tấn/tháng Nguyên liệu để đánh bóng sản phẩm là dung dịch Crom (khoảng 500 lít/tháng)
Cô nhôm
Đúc nhôm
Cán nhôm
Lon bia, nước
Than, củi, điện
Bụi, khói, hơi kim loại, khí độc, chất thải rắn, nhiệt cao
Tiếng ồn, dầu
mỡ, nguồn điện rò rỉ, chất thải rắn
Bụi, khói, hơi kim loại, khí độc, chất thải rắn, nhiệt cao
Tiếng ồn, dầu
mỡ, nguồn điện rò rỉ, chất thải rắn Máy, điện
Phôi nhôm
Hóa chất, nước, than
Bụi, khói, khí độc, nhiệt cao, dung dịch hóa chất Tẩy rửa sản phẩm
Sản phẩm thô
Đóng gói sản phẩm Sản phẩm hoàn chỉnh
Giấy bọc, dây buộc
Bụi
Trang 20Hình 2.1 Sơ đồ quy trình tái chế nhôm tại làng Bình Yên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có so sánh trước sau để đánh giá hiệu quả của các biện pháp cải thiện điều kiện lao động Sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính để đạt được mục tiêu nghiên cứu Mô hình kết hợp được
áp dụng là mô hình thiết kế kết hợp giải thích theo trình tự, nghiên cứu định lượng trước, nghiên cứu định tính sau
Thiết kế nghiên cứu định lượng sử dụng để can thiệp và đánh giá hiệu quả can thiệp Các giải pháp can thiệp gồm: can thiệp cải thiện ĐKLĐ chung theo WISH, giảm thiểu gánh nặng tư thế lao động theo OWAS Đánh giá hiệu quả của các giải pháp can thiệp thông qua số lượng các can thiệp cải thiện điều kiện lao động được thực hiện và đánh giá sự thay đổi về một số chỉ số sức khỏe như: mệt mỏi trong lao động, tai nạn lao động, đau mỏi xương, khớp sau can thiệp
Thiết kế nghiên cứu định tính được sử dụng để giải thích các kết quả của chương trình can thiệp Giải thích hiện tượng vì sao lại có sự thay đổi các chỉ số sức khỏe của NLĐ như kết quả của nghiên cứu định lượng Tìm hiểu quan điểm của chính quyền và
y tế địa phương cũng như của người lao động về tính phù hợp hiệu quả và khả năng duy trì nhân rộng của chương trình can thiệp
2.2.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
Đơn vị mẫu là các hộ gia đình tham gia sản xuất tái chế nhôm tại làng Bình Yên Công thức tính cỡ mẫu được áp dụng như sau:
Trong đó:
- n là số hộ gia đình tham gia cải thiện điều kiện lao động
- Z(/2) là giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị Với lực mẫu là 80% ( = 0,2), mức ý nghĩa 95% ( = 0,05) tương đương với Z(/2) = 1,96 và Z(1-) = 0,84
- p0 là tỷ lệ hộ sản xuất có ĐKLĐ tốt trước can thiệp (ước tính 0,2)
- p1 là tỷ lệ hộ sản xuất có ĐKLĐ tốt sau can thiệp (ước tính 0,6)
Thay vào công thức trên tính được n = 15 hộ Ước tính có 25% số hộ không đồng
ý tham gia, do đó số hộ gia đình được lựa chọn vào can thiệp làm tròn là 20 hộ gia
Trang 21đình Tổng số người lao động thực tế của 20 hộ là 73 người
2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
* Chọn hộ gia đình tham gia can thiệp cải thiện điều kiện lao động
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Là những hộ có tham gia vào quá trình sản xuất tái chế nhôm tại làng Bình Yên, có thời gian sản xuất tối thiểu được 01 năm, có ít nhất 02 lao động trở lên, đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ: Hộ gia đình không đồng ý tham gia
- Phương pháp chọn mẫu: Do số lượng các hộ tham gia sản xuất ở các công đoạn
là không đồng đều nên phương pháp chọn mẫu không ngang bằng về tỷ lệ được lựa chọn Sử dụng phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên để lựa chọn đủ số lượng hộ gia đình tham gia nghiên cứu, cụ thể: công đoạn cô nhôm 06 hộ; công đoạn đúc nhôm 02 hộ;
công đoạn cán nhôm 02 hộ; công đoạn tạo hình và tẩy rửa 10 hộ Tổng số có 20 hộ
Chọn toàn bộ người lao động của 20 hộ là 73 người
* Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
Chọn chủ đích 01 lãnh đạo Ủy Ban nhân dân xã Nam Thanh và Y tế thôn làng Bình Yên tham gia phỏng vấn sâu (PVS) Chọn ngẫu nhiên 05 người lao động tham gia phỏng vấn sâu Tổng cỡ mẫu của nghiên cứu định tính là 07 người
2.2.3 Nội dung nghiên cứu và tổ chức thực hiện
2.2.3.1 Các nội dung nghiên cứu
- Khảo sát tình trạng sức khỏe người lao động thông qua việc phỏng vấn cảm nhận của người lao động về: mệt mỏi, đau nhức xương, khớp, tình trạng tai nạn lao động, tính chất và nguyên nhân của tai nạn lao động
- Đánh giá gánh nặng tư thế lao động của NLĐ bằng phương pháp OWAS
- Khảo sát điều kiện lao động của các hộ gia đình về một số nội dung gồm: cất giữ
và vận chuyển nguyên vật liệu, đảm bảo an toàn máy, thiết kế nơi làm việc, môi trường lao động, cơ sở phúc lợi và tổ chức công việc
- Phỏng vấn sâu đại diện chính quyền, người lao động về hiệu quả, khả năng duy trì và nhân rộng của chương trình can thiệp
2.2.3.2 Tổ chức thực hiện chương trình can thiệp
- Lựa chọn mô hình can thiệp: căn cứ vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và đặc điểm sản xuất của làng nghề Bình Yên, mô hình “Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi” được lựa chọn Mô hình được Prochaska giới thiệu từ năm 1984 và đã được
áp dụng rộng rãi trong các chương trình can thiệp thay đổi hành vi Mô hình này thừa nhận việc thay đổi hành vi là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn cần
có những tác động khác nhau Theo đó quá trình thay đổi hành vi gồm 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chưa quan tâm đến việc thay đổi hành vi; Giai đoạn 2: Quan tâm để thay
đổi hành vi; Giai đoạn 3: Chuẩn bị thay đổi; Giai đoạn 4: Hành động; Giai đoạn 5:
Duy trì hành vi đã thay đổi
- Lựa chọn chương trình can thiệp: Trên cơ sở đánh giá ban đầu về thực trạng ĐKLĐ và tình trạng sức khỏe (mệt mỏi, đau nhức xương, khớp, TNLĐ) của NLĐ tại
20 hộ gia đình tham gia can thiệp, nghiên cứu đã lựa chọn 02 biện pháp can thiệp gồm: (i) cải thiện điều kiện lao động chung theo chương trình cải thiện điều kiện lao động
Trang 22tại hộ gia đình - WISH; (ii) giảm thiểu gánh nặng lao động theo OWAS
- Xây dựng tài liệu truyền thông: Nghiên cứu biên soạn tài liệu truyền thông phù hợp với trình độ học vấn và đặc thù nghề nghiệp của người lao động Nội dung của tài liệu truyền thông tập trung vào một số nội dung chính: tài liệu hướng dẫn cải thiện điều kiện lao động tại hộ gia đình; các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất; tư thế làm việc bất lợi và biện pháp phòng ngừa
- Hiệp y với đại diện Ủy ban nhân dân xã Nam Thanh về việc triển khai các hoạt động của nghiên cứu Thành lập nhóm cộng tác viên truyền thông gồm: y tế thôn và trưởng thôn
- Tập huấn kiến thức, phương pháp truyền thông cho nhóm cộng tác viên Thống nhất với nhóm cộng tác viên về thời gian, cách thức tiếp cận các hộ gia đình ở mỗi công đoạn khác nhau tham gia cải thiện điều kiện lao động
- Tiến hành can thiệp cải thiện điều kiện lao động chung theo WISH
+ Nội dung cải thiện ĐKLĐ theo WISH gồm 05 nhóm sau: (i) những cải thiện
về cất giữ và vận chuyển nguyên vật liệu, (ii) những cải thiện về đảm bảo an toàn máy, (iii) những cải thiện về thiết kế nơi làm việc, (iv) những cải thiện về môi trường lao động, (v) cải thiện về cơ sở phúc lợi và tổ chức công việc
+ Phương pháp truyền thông: WISH là hình thức học tập dựa trên trải nghiệm thực tế do vậy hình thức truyền thông phù hợp là hình thức truyền thông trực tiếp Tiến hành thảo luận với từng NLĐ và thảo luận nhóm với những NLĐ trong cùng một hộ sản xuất để tìm cách cải thiện điều kiện lao động
+ Quy trình hướng dẫn cải thiện điều kiện lao động theo WISH:
Bước 1: thảo luận với NLĐ về tầm quan trọng của việc cải thiện ĐKLĐ, họ sẽ
thu được những lợi ích gì khi thực hiện cải thiện điều kiện lao động
Bước 2: thảo luận và cùng trao đổi với người lao động về cách thức sử dụng
bảng kiểm hành động cải thiện điều kiện lao động theo WISH
Bước 3: cùng người lao động quan sát tất cả các khu vực làm việc trong xưởng
sản xuất để tìm ra các điều kiện lao động bất lợi
Bước 4: thảo luận với người lao động về việc có cần thiết phải thực hiện các cải
thiện theo danh mục bảng kiểm hành động WISH hay không
Bước 5: cùng người lao động kiểm tra danh mục các cải thiện đã được đánh dấu
“Có” (cần thiết cải thiện) Tiếp tục thảo luận với NLĐ về những cải thiện “Ưu tiên” thực hiện trong danh mục những cải thiện cần thực hiện
Bước 6: thảo luận cùng NLĐ về các biện pháp để có thể cải thiện được điều kiện
lao động theo các mục đã đánh dấu ưu tiên thực hiện
Bước 7: người lao động thực hiện và duy trì các cải thiện đã lựa chọn ưu tiên
theo danh mục bảng kiểm WISH Trong giai đoạn nghiên cứu đã hộ trợ người lao động
về một số giải pháp để cải thiện như: cùng người lao động thiết kế lại vị trí để các nguyên vật liệu, tạo ra đường vận chuyển nguyên liệu rõ ràng, xây dựng nội quy sản xuất, thiết kế và lắp đặt các tấm che chắn cho các bộ phận chuyển động nguy hiểm của máy…
Bước 8: duy trì thực hiện Sau khi người lao động đã thực hiện được cơ bản các
Trang 23cải thiện trong danh mục ưu tiên đã chọn ở trên Quy trình can thiệp sẽ làm lại từ bước
3 đến bước 7 để tiếp tục triển khai thực hiện các cải thiện khác nhằm đảm bảo an toàn
và nâng cao sức khỏe cho người lao động
Bước 9: sau khi người lao động đã thuần thục các bước trong quy trình cải thiện
ĐKLĐ, nghiên cứu thực hiện hình thức “Trao quyền” cho NLĐ để họ tự xác định được những ĐKLĐ bất lợi xuất hiện trong quá trình sản xuất, tự xác định được những danh mục cải thiện cần ưu tiên thực hiện cũng như cách thức để có thể thực hiện được phù hợp với điều kiện cụ thể của gia đình mình
- Tiến hành can thiệp giảm thiểu gánh nặng tư thế lao động theo OWAS
+ Nội dung giảm thiểu gánh nặng TTLĐ theo OWAS: Phương pháp OWAS là việc xác định chuyển động của từng bộ phận trên cơ thể xung quanh thắt lưng, vai, chi dưới và tư thế ngồi Mục đích của OWAS là xác định được những TTLĐ bất lợi và tìm cách khắc phục
+ Phương pháp truyền thông: sử dụng hình thức truyền thông trực tiếp Tiến hành thảo luận trực tiếp với từng NLĐ để tìm cách cải thiện tư thế lao động bất lợi thành tư thế lao động an toàn
+ Quy trình hướng dẫn giảm thiểu gánh nặng tư thế lao động theo OWAS:
Bước 1:quan sát tư thế của người lao động (chụp ảnh) và ghi lại thành mã gồm 4
số tương ứng với vị trí của lưng, tay, chân và trọng lượng cầm tay
Bước 2:xác định mức độ nguy cơ của tư thế Mức độ nguy cơ tư thế gồm: 1 =
không cần cải thiện; 2 = điều chỉnh trong tương lai gần; 3 = điều chỉnh càng sớm càng tốt; 4 = điều chỉnh ngay lập tức (căn cứ vào bảng mã của OWAS)
Bước 3: thảo luận cùng NLĐ về những tư thế lao động của họ, mức độ nguy cơ
của từng tư thế và ảnh hưởng của tư thế bất lợi đến sức khỏe, những lợi ích mà họ thu được nếu thực hiện các biện pháp để thay đổi tư thế bất lợi
Bước 4: thảo luận cùng người lao động về các biện pháp để thay đổi tư thế bất
lợi Tại giai đoạn này, nghiên cứu đã hỗ trợ người lao động một số biện pháp để giảm thiểu gánh nặng tư thế lao động (phụ lục 9)
Bước 5: duy trì thực hiện Thông thường một NLĐ thường phải làm việc với
nhiều tư thế trong một ngày và tư thế bất lợi có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, bên cạnh
đó việc thực hành hành vi mới chưa quen nên họ có thể quay về tư thế cũ Do vậy cứ 2-3 tuần một lần quy trình can thiệp sẽ làm lại từ bước 1 - 4 để tiếp tục tìm ra các tư thế bất lợi và thay đổi để đảm bảo an toàn cho NLĐ
Bước 6: sau khi người lao động đã thuần thục các bước trong quy trình xác định
và thay đổi các tư thế bất lợi, nghiên cứu thực hiện hình thức “Trao quyền” cho NLĐ
để họ tự xác định được những tư thế bất lợi của nhau, tự tìm ra cách khắc phục để có
tư thế lao động an toàn hơn
- Giám sát thực hiện: Hàng tháng tiến hành thảo luận với Nhóm cộng tác viên để báo cáo tình hình truyền thông tại cơ sở, những thuận lợi, khó khăn và giải pháp khắc phục đồng thời lập kế hoạch cho việc truyền thông trong tháng tiếp theo Cung cấp các thông tin, tài liệu cho cộng tác viên nếu cần Tiến hành giám sát tại thực địa để kiểm
Trang 24tra tính hiệu quả công tác truyền thông
- Đánh giá sau can thiệp:
+ Sau quá trình triển khai 02 biện pháp can thiệp, nghiên cứu tiến hành quan sát tình trạng thực tế trong các nhà xưởng sản xuất để ghi nhận các cải thiện điều kiện lao động được thực hiện, số lượng tư thế bất lợi được thay đổi Khảo sát tình trạng sức khỏe NLĐ thông qua việc khám và phỏng vấn cảm nhận của NLĐ về: mệt mỏi, đau nhức xương, khớp, tình trạng tai nạn lao động
+ Phỏng vấn sâu đại diện chính quyền, người lao động về hiệu quả, khả năng duy trì và nhân rộng của chương trình can thiệp
tố này đến sức khỏe của họ cũng như khả năng cải thiện ĐKLĐ để giải quyết vấn đề
Giúp NLĐ xác định các rào cản có thể gặp phải và cách giải quyết, nhấn mạnh đến những lợi ích thu được nếu thay đổi
Lập kế hoạch hành động, tìm ra những cách để cải thiện ĐKLĐ chung, những tư thế mới phù hợp với công việc
Theo dõi, hỗ trợ thường xuyên, trao đổi với NLĐ về khả năng duy trì những cải thiện đã thay đổi và khả năng quay về như cũ
Các giai đoạn
thay đổi
Quá trình thay đổi
Hành động can thiệp
Nâng cao nhận thức
Nhận thức về lợi ích của sự thay đổi
Xác định các rào cản
Duy trì và tiếp tục hỗ trợ
Chương trình hành động thay đổi
Trang 25Hình 2 2 Quá trình thay đổi hành vi cải thiện điều kiện lao động theo mô hình “Lý
thuyết về quá trình thay đổi hành vi”
2.2.4 Các biến số chính trong nghiên cứu
Bảng 2.1 Các biến số chính của nghiên cứu
TT Các biến số Khái niệm, cách xác định, đơn vị tính
Nội dung nghiên cứu số 1: Cải thiện điều kiện lao động
1.1 Số lượng cải thiện
điều kiện lao động
Là số lượng các cải thiện điều kiện lao động được thực hiện về mang vác vận chuyển vật liệu, đảm bảo an toàn máy, môi trường lao động…
1.2 Số lượng tư thế được
thay đổi
Là số lượng tư thế lao động bất lợi được thay đổi về
tư thế lao động an toàn
1.3 Phân loại mức tư thế
sau can thiệp
Là số lượng tư thế được phân loại ở 4 mức theo OWAS sau can thiệp
Nội dung nghiên cứu số 2: Hiệu quả cải thiện điều kiện lao động
2.1 Tình trạng mệt mỏi
Là cảm giác chủ quan của người lao động về trạng thái mệt mỏi trong lao động được đánh giá theo thang đo Fatigue Assessment Scale (FAS)
2.2 Phân loại mệt mỏi
Sử dụng điểm cắt 21 điểm để phân loại tình trạng mệt mỏi của NLĐ thành hai nhóm: có và không mệt mỏi
2.3 Tình trạng đau mỏi
cơ, xương
Là cảm giác chủ quan của người lao động về trạng thái đau mỏi cơ, xương của mình Đánh giá theo thang Standardised Nordic Questionnaires
2.4 Tần suất xảy ra tai
nạn lao động
Là số lần bị tai nạn lao động tính theo tuần, tháng, năm và được chia thành 4 mức: hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, liên tục
2.2.5 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu
2.2.5.1 Phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp người lao động về các nội dung
- Loại hình sản xuất, tuổi đời, tuổi nghề, công đoạn sản xuất, thời gian làm việc,
- Các yếu tố tâm sinh lý lao động: cảm nhận của người lao động về gánh nặng công việc và gánh nặng tư thế lao động
- Tình trạng tại lao động: có bị tai nạn lao động trong năm, nguyên nhân dẫn đến chấn thương và tính chất tổn thương
- Cảm nhận chủ quan về tình trạng rối loạn cơ, xương; cảm nhận chủ quan về tình trạng mệt mỏi trong lao động
Trang 26- Phỏng vấn sâu lãnh đạo cộng đồng và người lao động về chương trình can thiệp Các công cụ sử dụng để phỏng vấn được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước, các công cụ chuẩn quốc tế (Phụ lục 2, 3,4) Trước khi đưa vào sử dụng, các bộ công cụ được đánh giá độ tin cậy bằng hệ số Cronback’s Alpha
2.2.5.2 Quan sát hiện trường
- Sử dụng bảng kiểm quan sát hiện trường về các nội dung: tình trạng sử dụng bảo
hộ lao động, cấp công trình nhà xưởng, trình độ công nghệ sản xuất và các cải thiện điều kiện lao động đã thực hiện
- Sử dụng bảng mã OWAS (Phụ lục 5) để quan sát, đánh giá tư thế lao động
Bảng 2 1 Mức độ cấp bách phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh tư thế
Mức tư thế Mức độ căng thẳng theo OWAS Mức độ cấp bách
1 Tư thế bình thường Không cần biện pháp đặc biệt nào
2 Tư thế gây căng thẳng đáng kể Cần điều chỉnh trong tương lai gần
3 Tư thế gây căng thẳng rất đáng kể Cần điều chỉnh càng nhanh càng tốt
4 Tư thế có hại rõ ràng Cần điều chỉnh ngay lập tức
2.2.6 Phương pháp quản lý, xử lý và phân tích số liệu
Số liệu sau khi được thu thập được làm sạch và nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 Quá trình nhập liệu được nhập 2 lần riêng biệt bằng 2 người khác nhau, sau đó so sánh giữa 2 bản số liệu để tìm ra những sai sót và sửa chữa Các số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS trước khi đưa vào phân tích
Sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm và bảng, biểu để tóm tắt biến định tính như: giới tính, công đoạn sản xuất… Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng để mô tả các biến định lượng có phân bố chuẩn, trung vị và khoảng được sử dụng để mô tả các biến không có phân bố chuẩn
Sử dụng McNemar Test để kiểm định khác biệt sự thay đổi các tỷ lệ, Paired Samples Test để kiểm định sự thay đổi các giá trị trung bình và Wilcoxon Signed Ranks Test để kiểm định sự thay đổi các giá trị trung vị trước và sau can thiệp Sự khác biệt được chấp nhận với giá trị p < 0,05
Sử dụng chỉ số hiệu quả để đánh giá hiệu quả của can thiệp
ℎỉ ố ℎ ệ ả ( ) = / − / 100
Trong đó: p1 là kết quả điều tra trước can thiệp
p2 là kết quả điều tra sau can thiệp
2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
Trước khi tiến hành các hoạt động nghiên cứu, thuyết minh đề tài đã được thông qua bởi Hội đồng Khoa học và Hội đồng Đạo đức Trường ĐH Điều dưỡng Nam Định Việc triển khai các hoạt động của nghiên cứu đảm bảo đúng các nguyên tắc của
đạo đức nghiên cứu trong Y học: (i) Tự nguyện: các đối tượng được giải thích rõ ràng
về mục đích và nội dung nghiên cứu, chỉ khi đối tượng đồng ý tự nguyện ký vào giấy