1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng giấc ngủ và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh nam định năm 2016

106 68 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đó đề tài " Chất lượng giấc ngủ và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định" được thực hiện năm 2016 nhằm tì

Trang 1

VŨ THỊ MINH PHƯỢNG

CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH

NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH- 2017

Trang 2

VŨ THỊ MINH PHƯỢNG

CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH

NĂM 2016

Chuyên ngành: Điều dưỡng

Mã số: 60.72.05.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS BS Ngô Huy Hoàng

Nam Định -2016

Trang 3

hiệu quả chăm sóc và điều trị, ảnh hưởng đến chỉ số huyết áp đặc biệt đối với người bệnh tăng huyết áp (THA) Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng và xác định các yếu

tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ ( CLGN) của người bệnh THA

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả với 400 người bệnh THA đang điều trị ngoại trú bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2016 Người tham gia nghiên cứu được phỏng vấn để trả lời các câu hỏi Dữ liệu được phân tích bằng các phép thống kê mô tả, kiểm định Khi bình phương và hệ số tương quan Pearson được áp dụng để tìm hiểu mối quan hệ giữa các biến nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy 87,2% người bệnh có CLGN thấp với thời gian ngủ mỗi đêm ít hơn 5 tiếng là 67,%; có 48% người bệnh cần ít nhất 30 phút để đi vào giấc ngủ, mức độ khó ngủ được báo cáo trong nghiên cứu là 39,8% và rất khó ngủ là 39%và chỉ có 20 % người bệnh đạt hiệu suất giấc ngủ từ 85% trở lên Hầu hết người bệnh không có thói quen sử dụng thuốc ngủ và không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến hoạt động ban ngày do thiếu ngủ và có 47,5% người bệnh tự đánh giá CLGN của bản thân là kém Trong nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp, mức thu nhập, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú với CLGN Sự tương quan yếu được tìm thấy giữa thực hành vệ sinh giấc ngủ với CLGN (r=0.182, p<0.05) Niềm tin và thái độ về giấc ngủ có tương quan trung bình với CLGN ( r= -0.479, r< 0.05)

Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có sự cải thiện trong thực hành vệ sinh giấc ngủ như không sử dụng giường ngủ cho những việc khác, tạo môi trường ngủ thoái mái như kiểm soát nhiệt độ phòng cho thích hợp, hạn chế tiếng ồn và hạn chế những suy nghĩ không tích cực khi đi ngủ như có thể tham khảo các phương pháp giúp thư giãn tinh thần trước khi ngủ Về những sai lệch trong niềm tin và thái độ về giấc ngủ của người bệnh cần giáo dục cho người bệnh không nên khuếch đại các hậu quả giấc ngủ hoặc có những suy nghĩ thái quá về giấc ngủ đồng thời uốn nắn những niềm tin sai lệch về mất ngủ và những mong muốn không thực tế về giấc ngủ

Trang 4

dưỡng Nam Định, phòng đào tạo sau Đại học – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định và các phòng ban, bộ môn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ, Bác sĩ Ngô Huy Hoàng, người thầy tận tâm và nhiệt tình, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn Sự tận tâm dìu dắt và khích lệ của thầy là động lực giúp em vượt qua những khó khăn trong quá trình thực hiện để hoàn thành luận văn này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong hội đồng, các thầy cô đã giúp đỡ, góp ý chỉnh sửa cho bài luận văn của em được hoàn thiện nhất

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể cán bộ và nhân viên phòng khám quản lý Tăng huyết áp Khoa khám bệnh, Ban giám đốc bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định cũng như toàn thể người bệnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực hiện luận văn

Em luôn biết ơn và trân trọng đối với sự động viên, khích lệ của nhà trường, bạn bè đồng nghiệp đã có sự giúp đỡ vô tư, tận tình và những người thân trong gia đình là những người đã luôn giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập

Nam Định, ngày 22 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thị Minh Phượng

Trang 5

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu có được trong luận văn này là trung thực, chưa từng được công bố trên bất kì tài liệu nào của bất cứ một tác giả nào trước đây Mọi thông tin được thu thập trực tiếp trên 400 người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định

Nam Định, ngày 22 tháng 10 năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thị Minh Phượng

Trang 6

TÓM TẮT

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về tăng huyết áp 4

1.1.1 Tình hình mắc bệnh tăng huyết áp 4

1.1.2 Phân loại tăng huyết áp 5

1.1.3 Triệu chứng của tăng huyết áp 6

1.1.4 Nguyên nhân tăng huyết áp 6

1.1.5 Hậu quả của tăng huyết áp 8

1.1.6 Tăng huyết áp và chất lượng giấc ngủ 9

1.2 Tổng quan về giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ 11

1.2.1 Giấc ngủ sinh lý 11

1.2.2 Rối loạn giấc ngủ 15

1.2.3 Chất lượng giấc ngủ 17

1.3 Các yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ 23

1.3.1 Yếu tố nhân khẩu học 23

1.3.2 Yếu tố vệ sinh giấc ngủ và thực hành vệ sinh giấc ngủ 23

1.3.3 Yếu tố kiến thức về giấc ngủ 26

1.3.4 Yếu tố niềm tin và thái độ về chức năng giấc ngủ 26

Trang 7

1.4.2 Phương pháp đo lường chủ quan 28

1.4.3 Khung lý thuyết 29

1.5 Tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 30

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31

2.3 Thiết kế nghiên cứu 31

2.4 Cỡ mẫu 31

2.5 Phương pháp chọn mẫu 32

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.7 Các biến số nghiên cứu 34

2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 34

2.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 38

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 38

CHƯƠNG: 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1 Đặc điểm chung của và thực trạng chất lượng giấc 39

3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học 39

3.1.2 Thực trạng Chất lượng giấc ngủ 41

3.1.3 Kiến thức về giấc ngủ 47

3.1.4 Thực hành vệ sinh giấc ngủ 50

3.1.5 Niềm tin và thái độ về giấc ngủ của đối tượng tham gia nghiên cứu 52

3.2 Một số yếu tố liên quan đến Chất lượng giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu 57 3.2.1 Nhân khẩu học và Chất lượng giấc ngủ 57

Trang 8

BÀN LUẬN 64

4.1 Thực trạng Chất lượng giấc ngủ 64

4.2 Các yếu tố liên quan đến Chất lượng giấc ngủ 66

4.3 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 74

KẾT LUẬN 75

KHUYẾN NGHỊ 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 88

Phụ lục 1: Phiếu đánh giá chất lượng giấc ngủ cho người bệnh THA 88 Phụ lục 2: Bản cam kết đồng ý tham gia nghiên cứu Error! Bookmark not defined

Phụ lục 3: Hướng dẫn tính điểm chỉ số chất lượng giấc ngủ PSQI Error! Bookmark not defined

Phụ lục 4: Đánh giá độ tin cậy bộ câu hỏi Error! Bookmark not defined Phụ lục 5: Định nghĩa biến số nghiên cứu Error! Bookmark not defined Phụ lục 6: Danh sách người bệnh tham gia nghiên cứu Error! Bookmark not defined

Trang 9

OSA : Obstructive sleep apnea (Ngưng thở tắc nghẽn khi ngủ)

CDC : Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm kiểm soát

và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ)

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

HHTT : Huyết áp tâm thu

HHTTr: Huyết áp tâm trương

ESC :European Society of Cardiology (Hiệp hội tim mạch Châu Âu)

ESH : European Society of Hypertension (Hiệp hội bệnh tăng huyết áp Châu

Âu)

NHANES : National Health and Nutrition Examination Survey (Y tế Quốc gia

và khảo sát kiểm tra dinh dưỡng)

Trang 10

Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học 40

Bảng 3.2: Đặc điểm thời gian thực ngủ mỗi đêm 41

Bảng 3.3: Đặc điểm tỉnh giấc giữa đêm 42

Bảng 3.4: Đặc điểm thời gian đi vào giấc ngủ 43

Bảng 3.5: Hiệu suất giấc ngủ 44

Bảng 3 6: Mức độ sử dụng thuốc ngủ trong 1 tuần 44

Bảng 3.7: Mức độ ảnh hưởng đến hoạt động ban ngày 45

Bảng 3.8: Tự đánh giá chất lượng giấc ngủ 45

Bảng 3.9: Chất lượng giấc ngủ của đối tượng tham gia nghiên cứu 46

Bảng 3.10 : Kiến thức về giấc ngủ của đối tượng tham gia nghiên cứu 47

Bảng 3.11: Mức độ kiến thức chung theo số câu trả lời đúng 49

Bảng 3.12: Mô tả thực hành vệ sinh giấc ngủ trên đối tượng nghiên cứu 50

Bảng 3.13 Mối tương quan giữa tuổi và chất lượng giấc ngủ 57

Bảng 3.14 Mối tương quan giữa thời gian bị bệnh tăng huyết áp và chất lượng giấc ngủ 58

Bảng 3.15 Mối tương quan giữa các thông tin chung khác và chất lượng giấc ngủ 59

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa Kiến thức về giấc ngủ với CLGN của đối tượng nghiên cứu 61

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa thực hành vệ sinh giấc ngủ với Chất lượng giấc ngủ 61

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa niềm tin và thái độ về giấc ngủ với Chất lượng giấc ngủ 62

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa kiến thức chung về giấc ngủ; thực hành vệ sinh giấc ngủ; niềm tin và thái độ về giấc ngủ với Chất lượng giấc ngủ 63

Trang 11

Biểu đồ 3.1: Mức độ khó ngủ 43

Biểu đồ 3.2 Niềm tin về sự khuếch đại các hậu quả giấc ngủ kém 52

Biểu đồ 3.3 Niềm tin và thái độ về tiên lượng thái quá về giấc ngủ 53

Biểu đồ 3.4 Niềm tin và thái độ sai lầm liên quan thuốc ngủ 54

Biểu đồ 3.5 Niềm tin sai lệch về mất ngủ và hành vi thúc đẩy 55

Biểu đồ 3.6 Mong đợi giấc ngủ không thực tế đối tượng nghiên cứu 56

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngủ là một nhu cầu cơ bản cho sự sống còn của con người, thời gian ngủ của một con người chiếm khoảng một phần ba Một chu kỳ giấc ngủ bình thường là rất quan trọng để đạt được một chức năng bình thường của quá trình sinh lý và tâm thần [1] Cơ thể sẽ tiết ra hormon quan trọng cho quá trình chuyển hóa, tích lũy năng lượng, giúp cơ thể phát triển và thích nghi với môi trường sống Thiếu ngủ gây

ức chế hệ phó giao cảm, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch và các bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa [22]

Giấc ngủ càng cần thiết đối với một người bệnh, chất lượng giấc ngủ ( CLGN) kém là một yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển bệnh và giảm kết quả điều trị

và chăm sóc đối với người bệnh THA [41] Một số nghiên cứu dịch tễ đã chứng minh mối quan hệ giữa thời gian ngủ ngắn, mất ngủ và THA, về mối liên quan giữa mất ngủ, sự rối loạn nhịp thở khi ngủ, hội chứng ngừng thở khi ngủ với THA và các yếu tố nguy cơ của các bệnh lý tim mạch [71], [41], [42], [76] Khoảng 50-60% người bệnh ngưng thở khi ngủ có THA và khoảng 50% người bệnh THA có RLGN đặc biệt trong trường hợp THA đối kháng [79] Trong nghiên cứu của Olebiosu năm

2009 cho kết quả gần 43% người bệnh THA có chất lượng giấc ngủ kém [17] Nghiên cứu của James và cộng sự [46] đã kết luận RLGN có liên quan chặt chẽ đến bệnh lý tim mạch và thời gian ngủ đầy đủ là một yếu tố quan trọng để ngừa THA trong xã hội hiện đại Mặc dù các yếu tố nguy cơ chính gây THA trong đó có tiền sử gia đình, lối sống ít vận động, ăn uống kém, hút thuốc lá, giới tính, chủng tộc, và tuổi tác đã được tập chung nghiên cứu rất nhiều, tuy nhiên 1 yếu tố nguy cơ thường

bị bỏ qua là giấc ngủ Giấc ngủ là điều cần thiết cho sức khỏe tối ưu, sức sống và

có thể tự quản lý bởi từng cá nhân [56]

Việc tăng cường giấc ngủ trở thành một trong những lĩnh vực trọng tâm trong chăm sóc toàn diện của Điều dưỡng, hỗ trợ chữa bệnh cho người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc Sự hiểu biết về chất lượng giấc ngủ và các yếu tố

Trang 13

liên quan đến CLGN của người bệnh sẽ giúp Điều dưỡng thực hiện một cách tối ưu chất lượng công việc chăm sóc [23], và người bệnh có thể tự cải thiện được chất lượng giấc ngủ góp phần cải thiện huyết áp Như vậy để thúc đẩy chất lượng giấc ngủ ở người bệnh THA là cần phải xem xét các yếu tố liên quan làm ảnh hưởng đến giấc ngủ ở người bệnh [23] Trong khi đó các nghiên cứu hiện chủ yếu tập trung vào chế độ ăn, chế độ luyên tập hay sự tuân thủ điều trị của người bệnh THA Trên

cơ sở đó đề tài " Chất lượng giấc ngủ và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định" được thực hiện năm 2016 nhằm tìm hiểu thực trạng chất lượng giấc ngủ và tìm hiểu các yếu tố liên quan với mong muốn được góp phần vào cái nhìn bao quát hơn về vấn đề chất lượng giấc ngủ của người bệnh tăng huyết áp

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng về chất lượng giấc ngủ của người bệnh THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ ở người bệnh THA điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về tăng huyết áp

1.1.1 Tình hình mắc bệnh tăng huyết áp

Theo tổ chức y tế thế giới và Hiệp hội quốc tế về tăng huyết áp (World Health Organization and International Society of Hypertension: WHO- ISH), tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg

Theo ước tính của WHO năm 2013, THA đang ảnh hưởng đến hơn một phần

ba người lớn từ 25 tuổi trở lên khoảng 1 tỷ người trên thế giới [85] THA là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đối với bệnh tim và đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong sớm và tàn tật THA góp phần vào gần 9,4 triệu người tử vong do bệnh tim mạch mỗi năm, làm tăng nguy cơ của các bệnh như suy thận và mù lòa [88] Đến năm 2025 ước tính có khoảng 1,56 tỷ người lớn sẽ phải sống chung với bệnh THA [87]

Trong năm 2008 trên toàn cầu tỷ lệ tăng huyết áp ở người trưởng thành từ

25 tuổi trở lên là 40% Trong số tất cả các khu vực của WHO, tỷ lệ THA cao nhất ở châu Phi ( 46%), thấp nhất là châu Mỹ ( 35%) người trưởng thành bị THA Tỷ lệ THA gần như không có sự khác biệt giữa 2 giới tuy nhiên có sự khác biệt nhỏ ở khu vực châu Mỹ và châu Âu là nam giới có tỷ lệ mắc cao hơn so với nữ giới Tỷ lệ THA cao hơn ở những nước có thu nhập thấp và trung bình là 40% so với các nước

có thu nhập cao là 35% do các chính sách đa nghành và việc tiếp cận tốt hơn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe [88]

Tỷ lệ THA ở Trung Quốc là trên 39%( 59,4% ở người bệnh tuổi từ 60 tuổi trở lên và 72,8% ở những người trong độ tuổi trên 75 tuổi Với một dân số già đi nhanh chóng, tỷ lệ THA và bệnh tim mạch có liên quan ở người bệnh châu Á tiếp tục tăng và trở thành gánh nặng kinh tế xã hội [51] "Tỷ lệ tăng huyết áp tương tự giữa các nước châu Á khác, dao động từ 30% ở Hàn Quốc đến 47% ở Mông Cổ" [51]

Trang 16

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới tỷ lệ THA ở người trưởng thành từ

25 tuổi trở lên ở các nước có tỷ lệ cao ở khu vực Đông Nam Á như sau: Myanma 42%, Indonesia 41%, Thái Lan 34,2% [86]

Tại Việt Nam, tần suất tăng huyết áp ở người lớn ngày càng gia tăng Trong những năm 1960 tỷ lệ THA là khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%; năm 2001 là 16,3%

và năm 2005 là 18,3% [5].Theo Phạm Thái Sơn năm 2012 [10] từ nghiên cứu cơ sở cộng đồng cho một chương trình mục tiêu quốc gia, dịch tễ và y tế toàn cầu giữa đại học Umea và đại học Y Hà Nội tỷ lệ THA ở người lớn Việt nam là 25,1 % tương đương khoảng 11 triệu người, tỷ lệ nam giới cao hơn phụ nữ ( 28,3% so với 23,1%, p< 0,001) Một nghiên cứu ở đối tượng người cao tuổi thì tỷ lệ THA rất cao như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Khanh và cộng sự năm 2011 tại tỉnh Mỹ Tho 48,6% ( nam 48,5% và nữ 46,7%) và ở 2 xã Tam Thanh và Thành Lợi huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định theo kết quả nghiên cứu của Trần Văn Long năm 2015 là 52,2%

và 53,2% [14]

1.1.2 Phân loại tăng huyết áp

Theo khuyến cáo cập nhật sử dụng cách phân loại của Hội Tim mạch Việt Nam đã công bố vào năm 2007 dựa vào phân loại của WHO/ISH năm 1999, năm

2005 và Ủy ban liên quốc gia về THA ( JNC7) và đặc biệt là khuyến cáo của ESC/ESH 2003 Việc phân loại bao gồm tối ưu, bình thường, bình thường cao, ba giai đoạn THA: nhẹ, vừa, nặng Việc chọn giai đoạn THA được chọn theo con số

HA cao nhất THA tâm thu đơn độc khi huyết áp tâm thu≥ 140 mmHg và huyết áp tâm trương ≤ 90 mmHg THA tâm thu đơn độc được phân làm 3 mức độ 1, 2, và 3 theo trị số HA tâm thu

Trang 17

Bảng 1.1 Phân độ tăng huyết áp [7]

Phân loại này dựa trên đo HA tại phòng khám Nếu HHTT và HATTr không cùng một phân loại thì chọn mức HA cao hơn để xếp loại

1.1.3 Triệu chứng của tăng huyết áp

Đa số người bệnh THA không có triệu chứng cơ năng, trừ biểu hiện thực thể

là đo huyết áp thấy tăng

Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện THA khi đã có biến chứng do THA như đột quỵ não, nhồi máu não, nhồi máu cơ tim đây là lý do tại sao bệnh THA được gọi là "kẻ giết người thầm lặng"

Một số người THA có thể bị nhức đầu; đỏ bừng mặt, cảm giác có mây mù trước mắt; ruồi bay trước mắt; tê tay nhất thời Tuy nhiên, những biểu hiện này không phải đặc hiệu của THA và không phải lúc nào cũng thường xuyên xảy ra cho đến khi huyết áp có thể đạt đến một giai đoạn nghiêm trọng hoặc khi xuất hiện các biến chứng đe dọa tính mạng Như vậy, THA chỉ có thể khẳng định được bằng đo huyết áp Đa số các trường hợp THA được phát hiện qua đo huyết áp thường qui, tuy nhiên với một số trường hợp cần đo huyết áp liên tục trong 24 giờ [4]

1.1.4 Nguyên nhân tăng huyết áp

Thay đổi, hoặc là từ gen hoặc môi trường, trong các chức năng bình thường của cơ thể có thể gây ra THA, bao gồm thay đổi ở thận và dư thừa lượng muối, hệ

Trang 18

thống renin-angiotensin-aldosterone, hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, cấu trúc

và chức năng mạch máu [84]

Các nhà nghiên cứu tiếp tục nghiên cứu những thay đổi khác nhau trong các chức năng cơ thể bình thường gây ra THA Các chức năng chính ảnh hưởng đến THA bao gồm:

Thận và sự dư thừa muối

Thận thường điều chỉnh cân bằng muối của cơ thể bằng cách giữ Natri và nước và bài tiết Kali Mất cân bằng trong chức năng này của thận có thể làm tăng khối lượng tuần hoàn, có thể gây THA

Hệ thống Renin-Angiotensin-Aldosterone

Các hệ thống renin-angiotensin-aldosterone làm angiotensin và aldosterone hormone Angiotensin thu hẹp hoặc co mạch máu, có thể dẫn đến THA Aldosterone kiểm soát cách các chất lỏng và nồng độ muối cân bằng thận Tăng mức độ hoặc hoạt động aldosterone có thể thay đổi chức năng thận, dẫn đến tăng khối lượng tuần hoàn và THA

Hoạt động hệ thống thần kinh giao cảm

Hệ thống thần kinh giao cảm có chức năng quan trọng trong việc điều hòa huyết áp, bao gồm nhịp tim, huyết áp và nhịp thở Sự mất cân bằng trong hệ thống này gây ra THA

Cấu trúc và chức năng mạch máu

Những thay đổi về cấu trúc và chức năng của các động mạch lớn và nhỏ có thể đóng góp cho THA Con đường angiotensin và hệ thống miễn dịch có thể xơ cứng các động mạch nhỏ và lớn, có thể ảnh hưởng đến huyết áp

Nguyên nhân di truyền của THA [84]

Sự hiểu biết về các hệ thống cơ thể có liên quan đến THA được kết luận từ các nghiên cứu di truyền THA thường có tính gia đình Các nghiên cứu đã xác định được nhiều gen và đột biến khác liên quan đến THA như quy định và renin-angiotensin-aldosterone thận Các yếu tố di truyền được biết đến chiếm 2-3 % của tất cả các trường hợp Hiện nay đang có rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng những

Trang 19

thay đổi ADN nhất định trong quá trình phát triển của thai nhi cũng có thể gây ra sự phát triển của bệnh THA sau này trong cuộc sống

Nguyên nhân môi trường của THA

Nguyên nhân môi trường của THA bao gồm thói quen lối sống không lành mạnh, thừa cân hoặc béo phì, và sử dụng thuốc không hợp lý

Lối sống không lành mạnh

Lối sống không lành mạnh có thể gây ra THA, bao gồm: Lượng natri trong khẩu phần cao và độ nhạy natri, lạm dụng rượu, thiếu hoạt động thể chất

Thừa cân và béo phì

Các nghiên cứu cho thấy thừa cân hoặc béo phì có thể làm tăng sức đề kháng trong các mạch máu, làm cho tim làm việc nhiều hơn và dẫn đến THA

Thuốc

Thuốc như hen suyễn hoặc các liệu pháp hormon, bao gồm cả thuốc tránh thai và estrogen, và thuốc bán không cần kê đơn như thuốc cảm có thể gây ra THA Điều này xảy ra bởi vì các loại thuốc có thể thay đổi sự cân bằng dịch và muối, làm mạch máu co lại, hoặc ảnh hưởng đến hệ thống renin-angiotensin-aldosterone dẫn đến THA

Nguyên nhân khác của THA

Nguyên nhân khác của THA bao gồm các điều kiện khác như các bệnh lý mạn tính

ở thận, ngưng thở khi ngủ, các vấn đề về tuyến giáp, hoặc khối u nhất định Điều này xảy ra bởi vì các nguyên nhân này làm thay đổi sự cân bằng dịch, natri, và hormone trong máu, dẫn đến THA thứ phát [84]

Ngoài ra, Rối loạn giấc ngủ đặc biệt là thời gian ngủ ngắn, hội chứng ngưng thở khi ngủ là một yếu tố nguy cơ gây bệnh THA thường hay bị bỏ qua [22],[42],[76]

1.1.5 Hậu quả của tăng huyết áp

THA làm tăng các nguy cơ tổn thương cho tim và các mạch máu trong các

cơ quan chính như não và thận THA là nguyên nhân có thể phòng ngừa quan trọng nhất của bệnh tim và đột quỵ trên toàn thế giới Tuy nhiên, nếu không được kiểm

Trang 20

soát, THA có thể dẫn đến một cơn đau tim, phát triển các bênh lý của tim và cuối cùng là suy tim Các mạch máu có thể phát triển các chỗ phình ra (phình động mạch) tạo điều kiện cho sự tắc nghẽn các cục máu đông cộng với tình trạng áp lực máu trong lòng mạch tăng gây hiện tượng vỡ và xuất huyết khỏi lòng mạch Áp lực trong mạch máu cao có thể gây ra hiện tượng vỡ các mạch máu trong não làm máu thoát ra ngoài lòng mạch và gây đột quỵ não THA cũng có thể dẫn đến suy thận,

mù lòa và suy giảm nhận thức Những hậu quả sức khỏe của bệnh THA có thể được kết hợp bởi các yếu tố khác làm tăng tỷ lệ của cơn đau tim, đột qu [84]

1.1.6 Tăng huyết áp và chất lượng giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ làm ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ, rối loạn giấc ngủ (RLGN) được xem là yếu tố nguy cơ, yếu tố thúc đẩy của THA [22], [41], [84] Theo kết quả từ khảo sát về sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia và Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ, Atlanta năm 2011 đã chứng minh vấn đề giấc ngủ là phổ biến, là một yếu tố nguy cơ tiềm ẩn cho các bệnh tim mạch, trở thành vấn đề quan trọng trong cuộc sống, nhất là với nhịp sống, cách sống hiện tại ở các nước phát triển [73]

Pooja Bansil và cộng cự đã có nghiên cứu về thời gian ngủ, chất lượng giấc ngủ và bệnh THA năm 2011 [73] Trong nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ các cuộc khảo sát các quốc gia về sức khỏe và dinh dưỡng ( NHANES) từ năm 2005 đến năm

2008 đã có những phát hiện cho thấy mối liên quan giữa các vấn đề về giấc ngủ và THA Cụ thể như sau: Trong số 10.308 người tham gia nghiên cứu có 3587 (30,2%)

có THA, và tỷ lệ tổng thể các rối loạn giấc ngủ, giấc ngủ ngắn, và ngủ kém trong quần thể nghiên cứu là 7,5%, 33,0% và 52,1% Trong số người có THA thì kết quả nghiên cứu về tự trả lời có tình trạng rối loạn giấc ngủ là 11,2 % so với 6% ở đối tượng không bị THA [73] Thời gian ngủ ít hơn 7 giờ ở đối tượng có THA và không

có THA là 34,7% so với 32,3% Tỷ lệ có chất lượng giấc ngủ kém là 52,4 % ở đối tượng có THA Tỷ lệ về giấc ngủ ngắn và chất lượng giấc ngủ kém là 19,2 %, chỉ có vấn đề về giấc ngủ ngắn là 32,5%, chỉ có vấn đề về chất lượng giấc ngủ kém là

Trang 21

25,2% và chỉ có 25,2% là tỷ lệ không bị một trong các vấn đề về giấc ngủ như đã nói ở trên

Cũng trong nghiên cứu này tỷ lệ THA khác nhau ở 2 nhóm đối tượng nghiên cứu THA trong số người bị rối loạn giấc ngủ, giấc ngủ ngắn, và ngủ kém là 44,7%, 31,7% và 30,3% Trong số các vấn đề về rối loạn giấc ngủ, tỷ lệ THA là cao nhất trong số người lớn bị rối loạn giấc ngủ và giấc ngủ ngắn (61,5%), tiếp theo là những người chỉ có rối loạn giấc ngủ (55,8%), và tỷ lệ có cả rối loạn giấc ngủ, giấc ngủ ngắn, và ngủ kém (49,7%) Kết quả nghiên cứu từ cuộc khảo sát cho thấy những người có vấn đề về các rối loạn giấc ngủ có khả năng bị THA là gấp hơn hai lần so với những người không có vấn đề giấc ngủ [73]

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy việc có những RLGN làm ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ như thường xuyên bị mất ngủ, chứng ngưng thở khi ngủ có thể đóng góp vào sự phát triển và duy trì huyết áp và sự xuất hiện các biến chứng tim mạch Xu hướng song song của giảm thời gian ngủ và tăng rối loạn chuyển hóa như béo phì, tiểu đường và THA Từ nghiên cứu thực nghiệm đã cho thấy thiếu ngủ làm giảm leptin, tăng ghrelin, tăng sự thèm ăn, làm tổn hại sự nhạy cảm insulin và THA Mối quan hệ này có thể một phần là kết quả của các cơ chế sinh học, cho thấy rằng thiếu ngủ có thể làm thay đổi hormone và hệ thống thần kinh giao cảm, dẫn đến THA [41]

Trong nghiên cứu của A Fiorentini và cộng sự năm 2006 đã nghiên cứ tình trạng rối loạn chất lượng giấc ngủ ở người bệnh THA và đái tháo đường sử dụng thang đánh giá chất lượng giấc ngủ PSQI kết quả cho thấy tỷ lệ bị THA trong nhóm người có chất lượng giấc ngủ kém là 87,1% so với nhóm có chất lượng giấc ngủ tốt

là 35,1 % (p<0.0001) Các giá trị trung bình của huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương cao hơn trong nhóm có chất lượng giấc ngủ kém Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ bệnh lý giữa rối loạn giấc ngủ và THA thông qua hoạt động của hệ thần kinh giao cảm [16]

Liu và cộng sự trong một nghiên cứu năm 2013 [55] đã chỉ ra: " Khoảng 60 triệu người Mỹ đang bị ảnh hưởng bởi rối loạn giấc ngủ mạn tính và có các vấn đề

Trang 22

giấc ngủ, có thể làm suy yếu thể chất khỏe mạnh và chức năng nhận thức " Kết quả

dữ liệu nghiên cứu từ 375.653 người Mỹ trưởng thành trong độ tuổi ≥ 18 năm 2009 nghiên cứu các hành vi nguy cơ và hệ thống giám sát đã được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa thiếu ngủ và bệnh mạn tính Các mối quan hệ đã được kiểm tra thêm bằng cách sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến sau khi kiểm soát độ tuổi, giới tính, chủng tộc / dân tộc, giáo dục Tỷ lệ tổng thể của thiếu ngủ trong suốt 30 ngày trước đó là 10,4%; 17,0% cho 14-29 ngày; 42,0% cho 1-13 ngày và 30,6% cho không ngày nào Các mối liên quan mạnh mẽ giữa thiếu ngủ và các bệnh mạn tính

là có ý nghĩa (p <0,0001) và ông đưa ra kết luận rằng thiếu ngủ và rối loạn khác của giấc ngủ là một yếu tố nguy cơ có liên quan với sự phát triển các bệnh mạn tính [55] Ngoài ra theo Hiệp hội Tâm thần Mỹ thì vấn đề giấc ngủ thường được tìm thấy trong các rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu và rối loạn tâm thần ở người lớn và trẻ em [19]

1.2 Tổng quan về giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ

1.2.1 Giấc ngủ sinh lý

- Khái niệm giấc ngủ

Ngủ là trạng thái tự nhiên không có ý thức, ngoài việc tiếp tục duy trì các chức năng cơ bản của cơ thể như tuần hoàn, hô hấp Đây là thời gian nghỉ ngơi lấy lại năng lượng của cơ thể sau một ngày hoạt động [28]

Ngủ là một hoạt động tự nhiên theo chu kỳ mà những cảm giác và vận động tạm thời bị hoãn lại một cách tương đối, với đặc điểm dễ nhận thấy là cơ thể bất tỉnh hoàn toàn hoặc một phần và sự bất động của gần như hầu hết các cơ bắp Giấc ngủ là một trạng thái đồng bộ cao, tăng cường sự tăng trưởng và trẻ hóa của hệ thống miễn dịch, thần kinh, xương và hệ thống cơ bắp Nó được quan sát thấy ở tất

cả các động vật có vú, tất cả các loài chim, nhiều loài bò sát, động vật lưỡng cư

và cá Ở con người, các động vật có vú khác và đa số các loài động vật khác đã được nghiên cứu (như một số loài cá, chim, kiến, ruồi), giấc ngủ thường xuyên rất cần thiết cho sự sống [58]

Trang 23

- Tầm quan trọng của giấc ngủ

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra giấc ngủ rất quan trọng đối với con người Giấc ngủ giúp cơ quan trong cơ thể được nghỉ ngơi và phục hồi năng lượng, giúp cho sự điều hòa thân nhiệt và sự phát triển của bộ não [55] Ngủ là điều cần thiết để phục hồi sức khỏe thể chất và tinh thần Đối với người lớn tuổi, một đêm ngon giấc đặc biệt quan trọng vì nó giúp cải thiện sự tập trung và trí nhớ, cho phép cơ thể sửa chữa bất kì tổn thương tế bào xảy ra trong ngày và hồi phục hệ thống miễn dịch, từ đó giúp ngăn ngừa bệnh tật [15]

Người trải qua các rối loạn giấc ngủ cũng có nhiều khả năng mắc các bệnh mạn tính như THA, tiểu đường, trầm cảm, và bệnh béo phì, cũng như ung thư, tỷ lệ

tử vong tăng lên, và giảm chất lượng cuộc sống [34] Như vậy ngủ là một phần tất yếu của cuộc sống Chúng ta không thể sống mà không ngủ Do đó, giấc ngủ còn được xem như một tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá chất lượng của cuộc sống Đối với người thầy thuốc, giấc ngủ của người bệnh được xem như là một tiêu chuẩn cần đạt được trong quá trình điều trị và tiên lượng bệnh [8]

- Các giai đoạn của giấc ngủ

Ngủ là một quá trình hoạt động sinh lý, trong khi quá trình chuyển hóa tổng quát của cơ thể giảm thì tất cả các cơ quan chính và hệ thống điều hòa trong cơ thể vẫn tiếp tục duy trì chức năng của nó Giấc ngủ được chia thành 2 trạng thái riêng biệt: Trạng thái ngủ có cử động nhãn cầu nhanh (Rapid Eye Movement - REM) và Trạng thái ngủ không có cử động nhãn cầu nhanh (Non-Rapid Eye Movement - NREM) [22]

Giấc ngủ bình thường bao gồm các chu kỳ của giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh (NREM) xen kẽ với giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (REM) Giấc ngủ NREM bao gồm giai đoạn ngủ nông và ngủ sâu Giấc ngủ REM còn được gọi là giai đoạn ngủ "mơ" Chức năng của giấc ngủ là phục hồi, cung cấp thời gian nghỉ ngơi và hồi phục cho cơ thể Người lớn cần ngủ trung bình 8 tiếng (từ 6-10 tiếng) Bình thường chúng ta sẽ ngủ thiếp đi trong vòng 10 đến 20 phút từ lúc bắt đầu đi ngủ, thức dậy một cách tự nhiên một hay hai lần trong đêm sau đó ngủ trở lại dễ

Trang 24

dàng, và thức dậy cảm thấy sảng khoái Trẻ em cần ngủ nhiều hơn và có xu hướng ngủ sâu hơn, trong khi những người già bị thức giấc thường xuyên hơn và ít ngủ sâu hơn [22], [24]

Giấc ngủ REM (Rapid Eye Movement )

Giấc ngủ REM là giai đoạn được đánh dấu bởi hoạt động mạnh mẽ của não, mức độ hoạt động có thể tương đương lúc thức Sóng điện não nhanh và mất đồng

bộ Nhịp thở trở nên nhanh hơn, không đều và nông, mắt chuyển động nhanh theo các hướng khác nhau, cơ tay, chân biểu hiện liệt tạm thời Nhịp tim, huyết áp tăng Giấc mơ xảy ra hầu hết trong giai đoạn này

Giấc ngủ REM là một giai đoạn rất tích cực với một mức độ cao của não và hoạt động sinh lý REM sleep tiếp tục tạo thuận lợi cho quá trình đồng hóa protein, nhưng trong quá trình cùng thời gian này có một biến động lớn trong hoạt động của

hệ thần kinh tự trị, gây ra biến thiên nhịp tim Tăng trong giai điệu đối giao cảm có thể gây ra chậm nhịp tim, loạn nhịp xoang, và các tập phim của nút xoang nhĩ và nhĩ thất khối kích thích giao cảm có thể gây tăng thoáng huyết áp, tim tỷ lệ, tỷ lệ hô hấp, và cung lượng tim Giấc ngủ REM là giai đoạn gần nhất kết hợp với mơ ước,

và cần thiết trong quá trình phục hồi tinh thần và chữa bệnh [13], [22], [24]

Giấc ngủ NREM (Non-Rapid Eye Movement)

Giấc ngủ NREM đặc trưng bởi sự giảm các hoạt động sinh lý, giấc ngủ trở nên sâu hơn, nhịp thở, nhịp tim chậm xuông, huyết áp giảm nhẹ Giấc ngủ NREM được chia thành 4 giai đoạn và dài khoảng 2-5% tổng thời gian của giấc ngủ

- Giai đoạn 1: Là khoảng thời gian ngủ lơ mơ, là giai đoạn chuyển từ trạng thái thức sang trạng thái ngủ, và có thể bắt gặp giật cơ đột ngột trong giai đoạn này

- Giai đoạn 2: Là giai đoạn ngủ nhẹ nhàng, mắt ngừng chuyển động, các cơ bắp giãn mềm, nhịp tim chậm và nhiệt độ cơ thể giảm xuống

- Giai đoạn 3 và 4: Được gọi chung là giai đoạn sóng chậm Giai đoạn này huyết áp giảm, nhịp thở chậm, thân nhiệt giảm xuống thấp hơn, cơ thể bất động, giấc ngủ sâu hơn, không có chuyển động mắt, giảm hoạt động cơ, khó bị đánh thức, những người

bị thức dậy trong giai đoạn này có cảm giác lảo đảo, mất phương hướng trong một

Trang 25

vài phút sau khi thức dậy Ở một vài trẻ em có thể có đái dầm, chứng hoảng sợ trong khi ngủ, chứng miên hành trong giai đoạn này [13],[22],[24]

- Cấu trúc của giấc ngủ

Mỗi cơ thể khác nhau có nhu cầu về thời gian ngủ khác nhau, một số người khỏe mạnh, không có cảm giác mệt mỏi vì nhiều nguyên nhân khác nhau trong ngày cần ngủ từ 3-4 giờ/ đêm; tuy nhiên, đa số cần ngủ nhiều hơn, trung bình từ 6- 8 giờ mỗi đêm [22] Giấc ngủ bình thường có ba phần chính là giấc ngủ yên tĩnh, giấc ngủ nhanh hay còn gọi là giấc ngủ REM và thời kì hoạt động ngắn trong khoảng từ 1-2 phút Trong thời gian ngủ mỗi đêm có khoảng 4-5 giấc ngủ yên tĩnh xen kẽ với 4-5 giấc ngủ REM, cứ khoảng 2 giờ thì có 1-2 phút xảy ra hiện thượng hoạt động ngắn, hiện tượng này thường xảy ra nhiều hơn vào cuối giấc ngủ [22]

Ngoài số lượng giờ ngủ thì sự đan xem hợp lý giữa giấc ngủ NREM và giấc ngủ REM, độ nông và độ sâu giấc ngủ là yếu tố quan trọng Một giấc ngủ bình thường, giai đoạn REM và NREM thay đổi xem kẽ trong suốt đêm Một chu kì nủ đầy đủ bao gồm chu kì REM và NREM xen kẽ 90-110 phút, được lặp lại 4-6 lần mỗi đêm [22]

Hình 1.1: Các giai đoạn ngủ trong 1 đêm ở người trưởng thành

Trang 26

Thông thường ở người trưởng thành, trung bình 75% thời gian ngủ là giai đoạn NREM Giai đoạn 1 chiểm khoảng 5%, giai đoạn 2 chiếm khoảng 45%, giai đoạn 3 chiếm khoảng 12% và giai đoạn 4 chiếm khoảng 13% Còn lại khoảng 25%

là thời gian của giấc ngủ REM Giai đoạn REM đầu tiên ngắn nhất thuwongf kéo dài không quá 10 phút, những giai đoạn sau dài hơn khoảng 15-40 phút Hầu hết các giai đoạn REM thường xảy ra trong 1/3 cuối của đêm, trong khi hầu hết giai đoạn 4 của giấc ngủ NREM xảy ra trong 1/3 đầu của đêm [22]

1.2.2 Rối loạn giấc ngủ

1.2.3.1 Khái niệm rối loạn giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ là tình trạng thay đổi cả về thời lượng và chất lượng giấc ngủ Người bệnh có thể mất ngủ, ngủ ít hoặc ngủ quá nhiều Đặc điểm của một số rối loạn giấc ngủ như trằn trọc khó vào giấc, hay tỉnh giấc giữa chừng, khó quay trở lại giấc ngủ sau khi tỉnh giấc, cố thể rơi vào giấc ngủ một cách mệt mỏi nhưng chỉ ngủ được khoảng 1 giờ sau đó tỉnh giấc và không thể ngủ lại được, cảm giác rất buồn ngủ nhưng khi lên giường lại không ngủ được, thức giấc sớm vào khoảng 4 giờ sáng, thức giấc nhiều lần trong đêm [11], [22]

1.2.3.2 Các loại rối loạn giấc ngủ

Rối loạn giấc ngủ có liên quan đến những xáo trộn trong giấc ngủ do các vấn

đề y tế tiềm ẩn, lối sống và các yếu tố môi trường thường dẫn đến phá vỡ giấc ngủ, làm giảm chất lượng giấc ngủ Những rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất là mất ngủ, chứng ngủ rũ, và ngưng thở khi ngủ Cường độ có thể bị ảnh hưởng bởi kích thích khác nhau [65]

Trang 27

mất ngủ thứ phát có nghĩa là mất ngủ xuất phát từ hậu quả của một bệnh tâm thần hay một bệnh thực tổn nào đó hoặc đơn giản chỉ là do tác dụng phụ của thuốc hoặc một chất mà họ đang sử dụng [21] Mất ngủ là chứng rối loạn giấc ngủ phổ biến nhất, và theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Bệnh (CDC) năm 2013, "đặc trưng bởi không có khả năng bắt đầu hoặc duy trì giấc ngủ hoặc nó cũng mang hình thức của sự thức tỉnh sớm vào buổi sáng và không tỉnh táo sau khi thức giấc [34] Theo nghiên cứu của Gellis và Lichstein năm 2009 mô tả rằng tỷ lệ thực tế trong nước Mỹ ước tính khoảng 9% đến 16% đối với chứng mất ngủ mãn tính và 27% đối với thỉnh thoảng mất ngủ và kết luận với giả định rằng "giấc ngủ kém có liên quan với tăng mệt mỏi, căng thẳng tâm lý, nguy cơ tự tử, giảm chức năng miễn dịch, chi phí cao hơn y tế, tăng khuyết tật, và những giới hạn lớn hơn trong hoạt động [43] Ngủ không đủ có liên quan đến sự phát triển và quản lý của một số bệnh mạn tính bao gồm bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, béo phì, và trầm cảm [34]

Chứng ngủ rũ

Chứng ngủ rũ là một rối loạn thần kinh mạn tính gây ra bởi sự bất lực của não bộ để điều chỉnh chu kỳ ngủ- thức bình thường Tại thời điểm khác nhau trong suốt cả ngày người bệnh có thể rơi vào giấc ngủ trong một thời gian kéo dài từ vài giây đến vài phút hoặc thậm chí lâu hơn Con người có thể vô tình rơi vào giấc ngủ trong khi làm việc, ngay khi đang có cuộc trò chuyện, chơi một trò chơi, trong lúc ăn hoặc nguy hiểm nhất là khi đang điều khiển phương tiện giao thông hoặc đang điều khiển máy móc do đó chứng ngủ rũ là một mối nguy hiểm tiềm tàng Trái lại với một giấc ngủ bình thường là những người bị chứng ngủ rũ lại thường xuyên trải qua sự thức giấc thường xuyên trong giấc ngủ ban đêm Các nhà khoa học tin rằng chứng ngủ rũ

có ảnh hưởng đến cơ chế não điều kiển giấc ngủ REM Đối với một giấc ngủ bình thường thì một chu kì giấc ngủ điển hình là khoảng 100-110 phút, bắt đầu với NREM và chuyển sang giấc ngủ REM sau 80-100 phút nhưng những người bị chứng ngủ rũ thường xuyên có giấc ngủ REM trong vòng một vài phút để đi vào giấc ngủ [20]

Hội chứng chân không nghỉ

Trang 28

Hội chứng chân không nghỉ là một rối loạn thần kinh đặc trưng bởi đau nhói hay những cảm giác khó chịu khác ở chân không thể kiểm soát được và có cảm giác muốn được di chuyển để giảm sự khó chịu Các triệu chứng xảy ra chủ yếu vào ban đêm gây ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ Hội chứng này xảy ra cao gấp đôi ở phụ nữ có thể bắt đầu ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất và ảnh hưởng nghiêm trọng

là ở độ tuổi trung niên trở lên và nặng lên theo tuổi tác [70]

Ngưng thở khi ngủ

Ngưng thở khi ngủ là một rối loạn trong lúc ngủ biểu hiện là có một hoặc nhiều khoảng ngừng thở hoặc thở nông trong lúc ngủ, thời gian tạm dừng thở có thể kéo dài từ vài giây đến vài phút và có thể xảy ra 30 lần hoặc hơn trong một giờ ngủ biểu hiện bằng một hơi thở bình thường sau đó bắt đầu bằng một lần nữa hoặc với một tiếng khịt mũi to hoặc âm thanh nghẹn do đó làm gián đoạn giấc ngủ ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ là nguyên nhân hàng đầu gây buồn ngủ ban ngày quá mức và cảm giác mệt mỏi trong ngày Hiện tượng ngưng thở khi ngủ thường không được chẩn đoán, các bác sĩ thường không thể phát hiện tình trạng này trong thời gian thăm phòng bệnh thường xuyên ngoài ra không có xét nghiệm máu nào có thể giúp chẩn đoán bệnh trạng [69]

1.2.3 Chất lượng giấc ngủ

1.2.3.1 Khái niệm về chất lượng giấc ngủ

Chất lượng giấc ngủ là một hiện tượng phức tạp mà rất khó để xác định và

đo lường một cách khách quan Chất lượng giấc ngủ bao gồm các khía cạnh định lượng và định tính của giấc ngủ, như tổng thời gian ngủ, sự khó ngủ, độ sâu của giấc ngủ, sự thoải mái sau khi ngủ dậy [18] Chất lượng giấc ngủ tốt có thể được định nghĩa là đi vào giấc ngủ một cách dễ dàng, quá trình chuyển đổi dễ dàng từ sự tỉnh táo để ngủ, duy trì giấc ngủ yên tĩnh, không bị phá với giấc ngủ giữa đêm bởi

sự thức giấc và chuyển đổi dễ dàng từ giấc ngủ đến sự tỉnh táo vào buổi sáng [74] 1.2.3.2 Tình hình chung về chất lượng giấc ngủ và các rối loạn giấc ngủ

Theo phân tích đầu tiên trên toàn châu Phi và châu Á về vấn đề giấc ngủ do Trường Đại học Y khoa Warwick ước tính, có 150 triệu người lớn đang bị khó ngủ

Trang 29

và có liên quan đến các rối loạn giấc ngủ Có 16,6 % dân số báo cáo mất ngủ và rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng khác trong các nước được khảo sát - gần 20% trong số người trưởng thành nói chung ở phương Tây theo khảo sát toàn quốc tại Canada và

Mỹ [78]

Kết quả nghiên cứu từ cuộc khảo sát trực tuyến ở Ghana của Đại học Witwatersrand ở Nam Phi về chất lượng giấc ngủ của 24.434 phụ nữ và 19.501 nam giới từ 50 tuổi trở lên trong tám địa điểm ở người dân nông thôn ở Ghana, Tanzania, Nam Phi, Ấn Độ, Bangladesh, Việt Nam và Indonesia, và một khu vực đô thị ở Kenya khi họ kiểm tra các liên kết tiềm năng giữa các vấn đề giấc ngủ và nhân khẩu học xã hội, chất lượng cuộc sống, sức khỏe thể chất và tình trạng tâm thần cho thấy: Có sự thay đổi đáng chú ý trên khắp các nước được khảo sát - Bangladesh, Nam Phi và Việt Nam đã có mức độ rất cao của các vấn đề giấc ngủ, trong một số trường hợp vượt mức mất ngủ phương Tây Tuy nhiên, Ấn Độ và Indonesia báo cáo mức độ tương đối thấp của các vấn đề nghiêm trọng của giấc ngủ Nghiên cứu cũng tìm thấy một tỷ lệ cao hơn của các vấn đề giấc ngủ ở phụ nữ và các nhóm tuổi lớn hơn, các mẫu được tìm thấy ở các nước thu nhập cao hơn

Theo Saverio Stranges là tác giả chính trong nghiên cứu này tại Trường đại học Y Warwick cùng các đồng nghiệp ở Ngianga-Bakwin Kandala thực hiện phân tích cho biết: "Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức độ của các vấn đề giấc ngủ trong thế giới đang phát triển cao hơn so với suy nghĩ trước đây Điều này đặc biệt liên quan đến nhiều nước có thu nhập thấp đang phải đối mặt với gánh nặng kép của bệnh với áp lực lên nguồn tài chính, mà còn từ một tỷ lệ ngày càng tăng của các bệnh mãn tính như bệnh tim mạch và ung thư Nghiên cứu mới này cho thấy rối loạn giấc ngủ cũng có thể đại diện cho một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng

và không được công nhận ở những người lớn tuổi, đặc biệt là phụ nữ, trong những nơi thu nhập thấp Cũng có vẻ như vấn đề giấc ngủ không liên quan với đô thị hóa như những người được khảo sát đã được chủ yếu sống ở vùng nông thôn" [78]

Một trong những yếu tố nổi bật nhất của sự phân tích là sự khác biệt giữa các quốc gia Bangladesh có tỷ lệ cao nhất của các vấn đề giấc ngủ trong những nước

Trang 30

được phân tích với 43,9 % tỷ lệ cho phụ nữ - nhiều hơn gấp đôi tỷ lệ của các nước đang phát triển và cao hơn so với 23,6 % thấy ở nam giới Bangladesh cũng đã thấy

mô hình rất cao của sự lo âu và trầm cảm Việt Nam cũng đã có mức rất cao của các vấn đề giấc ngủ 37,6 % ở phụ nữ và 28,5 % đối với nam giới Trong khi đó ở các nước châu Phi, Tanzania, Kenya và Ghana thấy tỷ lệ giữa 8,3% và 12,7 % Tuy nhiên Nam Phi đã tăng gấp đôi tỷ lệ của các nước châu Phi khác 31,3 % ở phụ nữ

và 27,2 % đối với nam giới Ấn Độ và Indonesia đều có tỷ lệ rất thấp của các vấn đề giấc ngủ là 6,5 % ở phụ nữ Ấn Độ và 4,3% ở nam giới Ấn Độ Nam giới Indonesia báo cáo tỷ lệ của các vấn đề giấc ngủ của 3,9 % và phụ nữ có tỷ lệ 4,6 % [78] 1.2.3.3 Hậu quả của chất lượng giấc ngủ kém

Trong nghiên cứu của Sogol Javaheri và cộng sự năm 2008 [81] đã nghiên cứu phân tích ngang về chất lượng giấc ngủ và THA ở 238 trẻ em khỏe mạnh bằng cách phân tích sâu sử dụng các biện pháp khách quan để đánh giá chất lượng giấc ngủ và THA đã cho một liên kết mạnh mẽ về hiệu quả giấc ngủ kém với tăng nguy

cơ tiền THA và THA Cụ thể là huyết áp tâm thu cao hơn đáng kể trong số các thanh niên có hiệu quả giấc ngủ kém so với những thanh niên có hiệu quả giấc ngủ cao hơn Huyết áp tâm trương cao hơn ở thanh niên có hiệu quả giấc ngủ kém so với nhóm thanh niên hiệu quả giấc ngủ cao là 24,0% so với 2,4 %, p< 0,001 Đồng thời tác giả chỉ ra rằng nghiên cứu trong tương lai là cần thiết để giải quyết việc phòng chống THA nên bao gồm không chỉ cần quản lý cân nặng, chế độ vận động

mà trong nghiên cứu của ông nhấn mạnh sự cần thiết phải theo dõi số lượng và chất lượng giấc ngủ như một phần của sự kiểm soát sức khỏe Chứng minh trong kết quả của ông cho thấy rằng mỗi lần tăng 5% hiệu quả giấc ngủ có liên quan với 0,65±0,35 mmHg giảm huyết áp tâm trương ( p=0,05) Khi hiệu quả giấc ngủ thấp

đã được mô hình hóa như một tiếp xúc lưỡng phân, mô hình điều chỉnh ước tính rằng thanh thiếu niên có hiệu quả giấc ngủ thấp có huyết áp tâm thu trung bình cao hơn 3,99±1,24mmHg so với những người có hiệu quả giấc ngủ cao hơn ( p=0,002) [81]

Trang 31

Chất lượng giấc ngủ kém là hậu quả của các khó chịu từ người bệnh, từ các yếu tố tình huống như thực hành vệ sinh giấc ngủ chưa tốt, yếu tố sinh lý như mệt mỏi hay lo lắng liên quan đến yếu tố tâm lý cũng như các vấn đề về nhận thức, thái

độ về những hành vi vệ sinh giấc ngủ Mối quan hệ giữa các thành phần này chỉ ra rằng chất lượng giấc ngủ kém xảy ra ở người bệnh THA có thể bị ảnh hưởng bởi một hay nhiều yếu tố ảnh hưởng trên Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng sẽ được xác định bởi các yếu tố ảnh hưởng và sẽ phụ thuộc nhiều vào cường độ của yếu tố ảnh hưởng gây nên các mức độ về chất lượng giấc ngủ trên người bệnh Kết quả là, chất lượng giấc ngủ kém gây ra những hậu quả ngắn hạn và dài hạn về cả sức khỏe thể chất và tâm lý Đặc biệt, giấc ngủ kém ở người bệnh THA có nguy cơ thúc đẩy các biến chứng, ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống Như vậy, việc thúc đẩy chất lượng giấc ngủ trong chăm sóc người bệnh THA là một điều quan trọng đáp ứng nhu cầu cơ bản trong chăm sóc toàn diện của Điều dưỡng

1.2.3.4 Chất lượng giấc ngủ ở người bệnh tăng huyết áp

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra có mối quan hệ giữa chỉ số huyết áp và đặc điểm thay đổi sinh lý ngày đêm Ở người trưởng thành chỉ số huyết áp ban đêm giảm khoảng từ 10-20% so với chỉ số huyết áp ban ngày [75], [72] Tuy nhiên, áp lực máu có thể giảm hơn 20% hoặc < 10% thậm chí có thể chỉ số huyết áp tăng vào thời điểm đêm khi ngủ do đó người bệnh được phân loại thường dựa trên chỉ số huyết áp tâm thu là cực giảm (extreme dippers) với tỷ số huyết áp đêm ngày < 0,8 Giảm( dippers) với tỷ số huyết áp nằm trong khoảng từ 0,8-0,9 Không giảm ( non- dippers) với tỷ số huyết áp đêm ngày là 0,9- 1,0 Sự đảo ngược của giảm ( reverse dippers) với tỷ số huyết áp đêm ngày >1,0 [36], [75] Kết quả hiện tượng này từ mô hình ngoại sinh của hoạt động, căng thẳng và tư thế trong 24h [47], [35] cũng như nhịp sinh học nội sinh trong hệ thống thần kinh kiểm soát huyết áp [80] Sự thay đổi trong các nhịp sinh học nội tại có thể dẫn đến không có sự giảm huyết áp về đêm (non-dipping) Hiện tượng này thường thấy ở người bệnh THA, ở một số dạng của bệnh THA thứ phát và các rối loạn của hệ thần kinh giao cảm Sự liên quan lâm sàng của hiện tượng này đã được chứng minh trong thực tế rằng hiện tượng không

Trang 32

giảm chỉ số huyết áp sinh lý đêm ngày ( non-dipping) và đặc biệt là có liên quan với tăng tần số của tổn thương cơ quan đích tăng huyết áp ( não, tim và thận), cũng như mạch máu não và các bệnh tim mạch ở người bệnh tăng huyết áp [44] Như vậy rối loạn giấc ngủ là một yếu tố quan trọng gây ra sự phá vỡ chỉ số huyết áp sinh lí ngày đêm làm tăng tần số các biến chứng và ảnh hưởng trầm trọng đến tình trạng bệnh của người bệnh THA [44]

Hội chứng nghưng thở khi ngủ (OSA) đã được Jacek Wolf và cộng sự nghiên cứu năm 2010 chứng minh rằng có liên quan lớn đến tỷ lệ mắc các bệnh lý tim mạch và góp phần tăng tỷ lệ tử vong ở các trường hợp có biến chứng tim mạch [45] Hiện tượng không giảm tỷ số huyết áp đêm ngày thường xảy ra ở người bệnh

có hội chứng ngưng thở khi ngủ- một loại của rối loạn giấc ngủ nhất là trên đối tượng người bệnh THA Ngay cả OSA nhẹ có thể làm tăng huyết áp ban đêm thông qua các cơ chế khác nhau bao gồm cả thiếu oxy máu, kích hoạt giao cảm, thay đổi

cơ học và sự gián đoạn của giấc ngủ bình thường OSA có thể ngăn chặn sự suy giảm huyết áp sinh lý trong lòng mạch và nghiêm trọng hơn nó có thể tăng chỉ số huyết áp về đêm so với chỉ số huyết áp lúc tỉnh táo ban ngày OSA có thể là một yếu tố quan trọng trong việc xác định các nguy cơ tim mạch trong những trường hợp tăng huyết áp mà không giảm tỷ số huyết áp ngày đêm Hiệu quả điều trị của OSA có thể làm giảm bớt những bất thường về thần kinh và trao đổi chất, cải thiện kiểm soát huyết áp và làm giảm nguy cơ tim mạch [45]

Kết quả nghiên cứu của Rosa Maria Bruno năm 2013 khi nghiên cứu thuần tập cắt ngang về chất lượng giấc ngủ kém trên 222 người bệnh THA điều trị ngoại trú tại trường đại học Pisa, Ytaly đã cho tỷ lệ CLGN kém chung ở đối tượng nghiên cứu là 38,2%, và có sự khác biệt giữa hai giới, tỷ lệ đó ở phụ nữ so với nam giới là 46,1% so với 30,5 % [76] Kết luận từ nghiên cứu là có mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ kém và tình trạng THA đặc biệt là THA kháng ở phụ nữ [76]

Thời gian ngủ cũng được các nghiên cứu chứng minh là có liên quan đến tình trạng THA [73], [42], [76] Mối quan hệ giữa tự báo cáo về thời gian ngủ và tình trạng THA được tiến hành nghiên cứu phân tích theo chiều dọc trong thời gian

Trang 33

1982 đến 1992 của các đối tượng đã được tham gia nghiên cứu theo dõi dịch tễ học của cuộc khảo sát vê sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia NHANES của GangWisch

và cộng sự đã cho thấy thời gian ngủ có liên quan đến tình trạng THA 131 trong số

647 người bệnh được chẩn đoán THA có số giờ ngủ nhỏ hơn 7 giờ mỗi đêm là 32%, nhiều hơn 9 giờ mỗi đêm là 8% Ở độ tuổi từ 32 đến 59 mỗi đêm ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm là 34%, nhiều hơn 9 giờ mỗi đêm là 5% Còn ở độ tuổi trên 60 thì thời gian ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm là 25% và nhiểu hơn 9 giờ mỗi đêm là 18% Thời gian ngủ 7-8 giờ mỗi đêm ở độ tuổi 32-59 là 61% sơ với 57% ở độ tuổi trên 60 [42] Ngoài ra trong kết quả nghiên cứu của Rosa Maria Bruno và cộng sự cho thấy thời gian ngủ chung không có sự khác biệt đáng kể ở hai giới 6,4± 1,6 với 6,8 ± 1,6 tiếng mỗi đêm nhưng lại có sựu khác biệt về thời gian ngủ ngắn < 6 tiếng mỗi đêm

ở hai giới là 27,1 % ở nam giới với 35,7 % ở phụ nữ Thời gian đi vào giấc > 30 phút cũng cao hơn ở phụ nữ 22,6 % với 19,7% ở nam giới Tương tự hiệu suất giấc ngủ thấp < 85% ở phụ nữ cũng cao hơn 43,5% với 37,6% ở nam giới Ngoài ra tỷ lệ rối loạn chức năng ban ngày cũng cao hơn ở phụ nữ [76]

Nếu như cuộc khảo sát về sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia NHANES từ năm 1982 đến 1992 chỉ điều tra về thời gian ngủ ngắn như một yếu tố nguy cơ của THA thì một nghiên cứu khác của Pooja Pansil và cộng sự cũng sử dụng dữ liệu từ cuộc khảo sát về sức khỏe và dinh dưỡng quốc gia của Mỹ từ năm 2005- 2008 ( NHANES) đây là cuộc nghiên cứu quốc gia đầu tiên kiểm tra mối liên hệ giữa rối loạn giấc ngủ, thời gian ngủ, chất lượng giấc ngủ và THA ở người lớn tại Mỹ Kết quả về các vấn đề về giấc ngủ trên 3578 người THA có kết quả về thời gian ngủ ít hơn 7 giờ mỗi đêm là 34,7% trong khoảng tương tự như cuộc khảo sát từ năm 1982-

1992 là 32 % Tỷ lệ người có chất lượng giấc ngủ kém là 52,4% và chỉ có 25,2% cho rằng họ không có vấn đề về giấc ngủ hoặc chất lượng giấc ngủ của họ bình thường và có thể chấp nhận được [73]

Trang 34

1.3 Các yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ

1.3.1 Yếu tố nhân khẩu học

Kết quả trong nghiên cứu của Julie Gallasch và Michael Gradisar năm 2007 cho thấy thực hành hành vi giấc ngủ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ thì yếu tố tuổi và giới cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ [53] Ở phụ nữ đặc biệt trong độ tuổi mãn kinh có chất lượng giấc ngủ kém hơn so với nam giới vì có thể có yếu tố nhạy cảm hơn ở phụ nữ thời kỳ này đặc biệt

về vấn đề tâm lý căng thẳng và lo lắng được phát hiện ở phụ nữ nhiều hơn điều đó phần nào nói lên có mối liên quan của yếu tố giới và CLGN cũng như tình trạng THA [53], [89], [76]

Cũng trong nghiên cứu của Julie Gallasch chỉ ra rằng giới tính có ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ Các giá trị trong kết quả nghiên cứu về giới cho rằng những người đàn ông có chất lượng giấc ngủ kém hơn Mặc dù phụ nữ báo cáo rối loạn giấc ngủ thường xuyên hơn và ông đưa ra giải thích phụ nữ (đặc biệt là phụ nữ lớn tuổi) có thể do họ chủ động hơn trong việc tìm kiếm sự trợ giúp y tế cho các vấn

đề ngủ của họ, trong đó có thể ảnh hưởng đến mức độ kiến thức giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ [53] Kết quả nghiên cứu của Zhang về giới tính và giấc ngủ năm

2006 cho thấy phụ nữ có xu hướng bị rối loạn mất ngủ nhiều hơn nam giới [89]

Tuổi là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cả kiến thức giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ Tuổi lớn hơn có liên quan với kiến thức giấc ngủ kém hơn, thực hành giấc ngủ tốt hơn, nhưng chất lượng giấc ngủ kém hơn [53]

1.3.2 Yếu tố vệ sinh giấc ngủ và thực hành vệ sinh giấc ngủ

Vệ sinh giấc ngủ là những hành vi và những yếu tố được cho là để thúc đẩy cải thiện số lượng và chất lượng của giấc ngủ [82], hay vệ sinh giấc ngủ có thể được định nghĩa là "những hành vi tạo thuận lợi cho giấc ngủ và tránh những yếu tố và những hành vi can thiệp không tốt vào giấc ngủ", những hành vi thúc đẩy chất lượng giấc ngủ tốt, đủ thời gian ngủ và đầy đủ sự tỉnh táo vào ban ngày [27],[61] Thực hành vệ sinh giấc ngủ bao gồm sự thực hành những hành vi và nhân tố môi trường tác động lên chất lượng giấc ngủ Hành vi có lợi cho giấc ngủ bao gồm thập

Trang 35

thể dục thường xuyên, duy trì ổn định thời gian đi ngủ và thức dậy Hành vi không

có lợi cho giấc ngủ là sử dụng các chất kích thích như cà phê hoặc thuốc lá, tham gia các hoạt động thể lực quá mức hay có những trạng thái cảm xúc khó chịu trước khi ngủ Vệ sinh giấc ngủ cũng bao gồm các yếu tố môi trường có lợi cho giấc ngủ, nhân tố môi trường bao gồm sử dụng nệm, gối được thoải mái cũng như ngủ trong một môi trường có mức bóng tối, âm thanh và nhiệt độ thích hợp dựa trên mức độ thoải mái cá nhân của mỗi người Mặc dù giấc ngủ có thể được quản lý, nó vẫn có thể có vấn đề trên những người bệnh có bệnh tim mạch đặc biệt là bệnh mạch vành [83], [61]

Các giá trị kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng thực hành hành vi giấc ngủ có ảnh hưởng lớn nhất đến chất lượng giấc ngủ Thực hành vệ sinh giấc ngủ có liên quan đến chất lượng giấc ngủ [27], [61], [53]

CDC năm 2012 đưa ra hướng dẫn về thực hành vệ sinh giấc ngủ và được sử dụng để cải thiện chất lượng giấc ngủ Nội dung các khuyến nghị trong thực hành

vệ sinh giấc ngủ là:

(1) Cố định thới gian ngủ và thời gian thức giấc

(2) Phòng ngủ yên tĩnh, tối, và là môi trường để nghỉ ngơi với nhiệt độ không quá nóng và không quá lạnh

(3) Giường ngủ thoải mái và chỉ sử dụng nó để ngủ và không phải là nơi để sử dụng cho các hoạt động khác, chẳng hạn như đọc sách, xem TV, hoặc nghe nhạc Loại bỏ tất cả các hoạt động như xem ti vi, làm viếc với máy vi tính, và các 'tiện ích' khác

từ phòng ngủ

(4) Tránh ăn nhiều trước giờ ngủ

Trong nhiều trường hợp, mất ngủ là liên quan đến “vệ sinh” giấc ngủ kém

Đó là những thói quen xấu gây trở ngại cho giấc ngủ như: Sử dụng chất kích thích, hút thuốc, ăn nhiều thực phẩm giàu năng lượng, đi ngủ không đúng giờ [67] Môi trường bên ngoài, những tác nhân vật lý như ánh sáng, thói quen làm việc, hoạt động và đồng hồ sinh học của cơ thể cũng như dao động của nhiệt độ cơ thể, nồng

độ hormone, nhịp thức – ngủ xảy ra trong khoảng 24h, được điều khiển bởi đồng hồ

Trang 36

sinh học của não Ở người, đồng hồ sinh học bao gồm một nhóm các tế bào thần kinh nằm ở vùng dưới đồi thị Nhịp sinh lý 24 giờ có sự đồng bộ với những thay đổi vật lý môi trường bên ngoài và thời gian biểu xã hội/công việc Tác nhân đồng bộ

có tác động mạnh nhất là ánh sáng Sáng – tối là những tín hiệu bên ngoài giúp thiết

lập đồng hồ sinh học trong giấc ngủ Như vậy, hệ thống hằng định nội môi có

khuynh hướng gây buồn ngủ không phụ thuộc vào thời điểm ngày hay đêm, trong khi hệ thống giờ sinh học có khuynh hướng gây buồn ngủ theo nhịp ngày đêm Do

sự tác động qua lại này nên chất lượng giấc ngủ đạt được tốt nhất khi lịch ngủ đồng nhất với đồng hồ sinh học bên trong và ánh sáng ngày – đêm bên ngoài Điều đó giải thích sự cần thiết của ngủ đúng giờ để không ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ [67]

Nghiên cứu của Lorna KP Suen và cộng sự năm 2010 thực hiện phân tích hồi quy cho thấy rằng kiến thức về vệ sinh giấc ngủ có liên quan đến thực hành giấc ngủ, trong đó, lần lượt, có liên quan đến chất lượng giấc ngủ tổng thể( β=-0,08, p< 0,001) Các dữ liệu từ mô hình hồi quy của họ cho thấy lịch trình giấc ngủ, tiếng ồn môi trường, và lo lắng trong khi ngủ góp phần vào chất lượng giấc ngủ kém [57] Nghiên cứu trong các quần thể người trưởng thành khỏe mạnh khác cho thấy rằng các hoạt động buổi tối và các điều kiện trong khi ngủ ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ [ 26] Một khuyến nghị về vệ sinh giấc ngủ khác bao gồm không tập thể dục vào ban đêm; không sử dụng cà phê, rượu, và không sử dụng thuốc lá cũng như các hoạt động xảy ra ngay trên trên giường, chẳng hạn như đọc sách hoặc xem truyền hình là những yếu tố liên quan đến giấc ngủ kém [82], [26], [61]

Như vậy Thực hành vệ sinh giấc ngủ là thực hiện các hành vi cải thiện giấc ngủ và hạn chế các hành vi không tốt cho giấc ngủ Đây là biện pháp để có một giấc ngủ ngon mà không cần dùng các loại thuốc Thực hành vệ sinh giấc ngủ bao gồm một loạt các hành vi và yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ [61]

Trang 37

1.3.3 Yếu tố kiến thức về giấc ngủ

Trong một số nghiên cứu trước về kiến thức giấc ngủ thường chỉ tập trung vào kiến thức vệ sinh giấc ngủ và đưa ra nhiều ý kiến trái chiều về mối quan hệ giữa kiến thức vệ sinh giấc ngủ với chất lượng giấc ngủ [57], [53], [25] Trong nghiên cứu của Gradisar năm 2007 đã mở rộng và làm rõ điều này hơn bằng cách bao quát hơn về lĩnh vực kiến thức giấc ngủ bao gồm cả kiến thức vệ sinh giấc ngủ và kiến thức về những hành vi điều trị giấc ngủ Mối quan hệ giữa kiến thức giấc ngủ, thực hành giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ đã được kiểm tra để xác định kiến thức giấc ngủ bao gồm kiến thức vệ sinh giấc ngủ và kiến thức về hành vi điều trị giấc ngủ có

sự tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giấc ngủ [53] Những hành vi điều trị giấc ngủ là những hành động có thể mang lại một cảm giác nhẹ nhõm dẫn đến một giấc ngủ tốt [53] Điều này đã được kiểm tra trong nghiên cứu của ông rằng

sẽ có hữu ích cho người có CLGN kém hoặc những người có mất ngủ thoáng qua

và có lợi cho công tác phòng chống mất ngủ Như vậy phù hợp với mục đích của giáo dục sức khỏe là để nâng cao kiến thức về các vấn đề sức khỏe, để thúc đẩy và khuyến khích thay đổi hành vi, dẫn đến một sự cải tiến trong kết quả sức khỏe 1.3.4 Yếu tố niềm tin và thái độ về chức năng giấc ngủ

Bằng chứng lâm sàng cho thấy rằng một loạt các niềm tin bất thường, kỳ vọng quá mức và một loạt những thái độ sai lệch là yếu tố kích thích tinh thần và làm trầm trọng thêm rối loạn giấc ngủ [68]

Theo Julie Gradisar và cộng sự nghiên cứu về mối liên quan giữa kiến thức, thực hành giấc ngủ trên một mẫu nghiên cứu gồm 946 với độ tuổi trung bình là 38,5

± 14,7 với tỷ lệ nữ là 67% cho thấy có mối có liên quan của tuổi và giới tính cũng như thực hành giấc ngủ đến chất lượng giấc ngủ tuy nhiên lại không tìm thấy mối tương quan giữa kiến thức và chất lượng giấc ngủ ( β= 0.02, p= 0.47) trên cơ sở đó ông có đưa ra hướng tiếp theo là tiếp tục nghiên cứu các yếu tố bổ sung như niềm tin vào giấc ngủ đặc biệt ông nhấn mạnh vào những niềm tin sai lệch về giấc ngủ ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ và việc thực hiện các kiến thức giấc ngủ chính xác là cần thiết [53]

Trang 38

Niềm tin và thái độ về chức năng giấc ngủ được cho là đóng một vai trò trung gian quan trọng trong việc duy trì mất ngủ Trong nghiên cứu của Morin và cộng sự đã đánh giá tác động của phương pháp điều trị nhận thức hành vi trên những niềm tin giấc ngủ liên quan đến thái độ cũng như mối quan hệ giữa những thay đổi và cải thiện giấc ngủ Những phát hiện này làm nổi bật tầm quan trọng của mục tiêu niềm tin và thái độ ngủ liên quan trong việc điều trị chứng mất ngủ [30] Morin (1993) đã đưa ra kết luận rằng cách chúng ta nghĩ về giấc ngủ của mình có khả năng đóng góp vào khả năng để bắt đầu và duy trì giấc ngủ

Bằng chứng lâm sàng trong các tài liệu cho thấy rằng một loạt các lỗi về niềm tin, sự kỳ vọng là công cụ trong việc nâng cao kích thích cảm xúc và làm trầm trọng thêm rối loạn giấc ngủ [39], [63] Quan sát này phù hợp với những phát hiện của Jansson & Linton (2007) trong một nghiên cứu (N = 3600) kiểm tra xem hưng phấn, đau khổ, và niềm tin của giấc ngủ có liên quan đến chứng mất ngủ Nghiên cứu được tiến hành trong một năm Jansson & Linton cho thấy niềm tin của giấc ngủ liên quan đến, lo âu, trầm cảm, và kích thích là liên quan đến việc duy trì mất ngủ, nhưng cũng có những hiện tượng tâm lý thường đồng xảy ra ở những người bị mất ngủ [49]

1.4 Phương pháp đo lường và đánh giá chất lượng giấc ngủ

1.4.1 Phương pháp đo lường khách quan

Phương pháp đo lường khách quan thường được áp dụng phổ biến hiện nay

là đa kí giấc ngủ (Polysomnography) Đa kí giấc ngủ là phương tiện giúp ghi lại một loạt các thông số sinh lý của con người trong khi ngủ nhằm đánh giá giấc ngủ

và chẩn đoán những vấn đề liên quan đến rối loạn giấc ngủ Máy đa kí giấc ngủ có các kênh để ghi lại sóng của não, mức độ oxy trong máu, nhịp tim, các cử động mắt,

cử động chân, thông số hô hấp, chuyển động cơ hô hấp, tiếng ngáy Đa kí giấc ngủ thường được thực hiện tại các đơn vị điều trị giấc ngủ trong bệnh viện hoặc trung tâm theo dõi giấc ngủ và là một thử nghiệm để ghi lại các mô hình giấc ngủ [64]

Trang 39

1.4.2 Phương pháp đo lường chủ quan

Cho đến thời điểm hiện tại có nhiều phương pháp đo lường giấc ngủ chủ quan như thang đo mất ngủ Athens (Ethens Isomia Scale- AIS), chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsbrurgh( Pittsburgh Sleep Quality Index- PSQI), thang đo thiếu ngủ Epworth( Epworth Scale- ESS), thang đo mất ngủ Bergeb Insomia Scale - BIS) được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia [77]

Trong chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) cuả Daniel J Buysse và cộng sự được xem như công cụ thông dụng và hữu hiệu được sử dụng nhiều nơi trên thế giới nhằm đánh giá chất lượng giấc ngủ, là một thang đo có độ nhạy và độ đặc hiệu cao Đánh giá chất lượng giấc ngủ bằng " Thang PSQI" theo bản dịch tiếng Việt được sử dụng tai Viện Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Gia - Bệnh viện Bạch Mai [5] Chỉ số PSQI là tổng hợp điểm của một bảng câu hỏi mà người được hỏi tham gia trả lời gồm: 4 câu hỏi có kết thúc mở, 14 câu hỏi khi trả lời cần dựa trên tần suất

sự kiện và các mức độ tốt xấu khác nhau trên 7 phương diện:

 Thời gian ngủ

 Tỉnh giấc giữa đêm

 Mức độ khó ngủ

 Hiệu suất giấc ngủ

 Mức ảnh hưởng đến hoạt động ban ngày do thiếu ngủ

 Sử dụng thuốc ngủ

 Tự đánh giá chất lượng giấc ngủ

CLGN được tính bằng thang điểm có giá trị từ 0 – 21, sẽ được báo cáo dưới hai dạng là:

- Điểm tổng chung của các câu hỏi từ 0-19 hoặc

- Hai nhóm "chất lượng giấc ngủ kém" hay "chất lượng giấc ngủ tốt":

+ Tổng điểm PSQI ≤ 5 chất lượng giấc ngủ tốt

+ Tổng điểm PSQI > 5 chất lượng giấc ngủ kém trong đó

Điểm PSQI > 13 chất lượng giấc ngủ rất kém

Trang 40

Do điều kiện và khuân khổ của luận văn thạc sĩ nghiên cứu này sử dụng phương pháp đo lường chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) cuả Daniel J Buysse

để đánh giác chất lượng giấc ngủ của người bệnh THA điều trị ngoại tại bệnh viện

Đa khoa tỉnh Nam Định

1.4.3 Khung lý thuyết

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu và thực tiễn quản lý và chăm sóc người bệnh THA ngoại trú Khung lý thuyết được hình thành bao gồm các yếu tố dưới đây:

Yếu tố nhân khẩu học

- Kiến thức vệ sinh giấc ngủ

- Kiến thức hành vi điều trị giấc

ngủ

Chất lượng giấc ngủ

Niềm tin và thái độ về giấc ngủ

- Khuếch đại các hậu quả giấc ngủ

- Tiên lượng thái quá về giấc ngủ

- Quan niệm sai lầm liên quan đến

- Thói quen thời gian ngủ

- Thói quen ăn uống trước ngủ

- Thói quen sinh hoạt trước ngủ

- Môi trường ngủ

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lý Duy Hưng (2008). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn giấc ngủ trong các rối loạn liên quan trong các rối loạn liên quan stress. Luận văn thạc sỹ y học. Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn giấc ngủ trong các rối loạn liên quan trong các rối loạn liên quan stress
Tác giả: Lý Duy Hưng
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2008
5. Nguyễn Kim Việt (2011), "Chỉ báo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI)", truy cập ngày 08/11/2013 tại trang web: http://nimh.gov.vn/home/trac- nghiem- tam-ly/28-cac-trc-nghim/134-ch-bao-cht-lng-gic-ng-pittsburgh-psqi.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ báo chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI)
Tác giả: Nguyễn Kim Việt
Năm: 2011
6. Nguyễn Lân Việt ( 2012). Tăng huyết áp- vấn để cần được quan tâm hơn. Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống tăng huyết áp.&lt;http://vnha.org.vn/huyetap.vn/baiphatthanh/1.THA-Van-de-dang-bao-dong.pdf /&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp- vấn đề cần được quan tâm hơn
Tác giả: Nguyễn Lân Việt
Nhà XB: Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống tăng huyết áp
Năm: 2012
7. Nguyễn Lân Việt và cộng sự ( 2014). Hội nghị tăng huyết áp Việt Nam lần thứ 1. Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, Hội tim mạch Quốc gia Việt Nam số 66 - 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị tăng huyết áp Việt Nam lần thứ 1
Tác giả: Nguyễn Lân Việt, cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Năm: 2014
8. Nguyễn Mạnh Hoàn ( 2014). Truyền thông vì sức khỏe tâm thần cộng đồng - bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương. wepsite: www.maihuong.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông vì sức khỏe tâm thần cộng đồng - bệnh viện tâm thần ban ngày Mai Hương
9. Nguyễn Thanh Bình (2011), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, giấc ngủ đồ đa kí và hiệu quả của CPAP trong điều trị hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ", Luận án Tiến sỹ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, giấc ngủ đồ đa kí và hiệu quả của CPAP trong điều trị hội chứng ngừng thở do tắc nghẽn khi ngủ
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2011
10. Phạm Thái sơn ( 2012). Hypertention in Vietnam. From community- base studies to a national targeted programme, Epidemiology and Global Health, Department of Public H ealth and Clinical Medicine, Umeồ University, &amp;Hanoi Medical University, Vietnam UMEA – 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertention in Vietnam. From community- base studies to a national targeted programme
Tác giả: Phạm Thái sơn
Nhà XB: Epidemiology and Global Health, Department of Public Health and Clinical Medicine, Umeồ University
Năm: 2012
11. Phạm Vũ Khánh (2011). Lão khoa Y học cổ truyền. Hà Nội: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. trang 196-197 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lão khoa Y học cổ truyền
Tác giả: Phạm Vũ Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
13. Trần Hữu Bình (2005). Rối loạn giấc ngủ không thực tổn. Tài liệu giảng dạy sinh viên y5, Bộ môn Tâm thần Trường Đại học Y Hà Nội .trang: 245 - 251 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn giấc ngủ không thực tổn
Tác giả: Trần Hữu Bình
Năm: 2005
14. Trần Văn Long ( 2015). Tình hình sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm can thiệp nâng cao kiến thức- thực hành phòng chống bệnh THA tại 2 xã huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định. Luận án tiến sĩ y tế công công. Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sức khỏe người cao tuổi và thử nghiệm can thiệp nâng cao kiến thức- thực hành phòng chống bệnh THA tại 2 xã huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định
Tác giả: Trần Văn Long
Nhà XB: Đại học Y tế công cộng
Năm: 2015
16. A. Fiorentini , R. Valente, A. Perciaccante, L. Tubani ( 2006). Sleep's quality disorders in patients with hypertension and type 2 diabetes mellitus.International Journal of Cardiology. 114 (2007) e50–e52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sleep's quality disorders in patients with hypertension and type 2 diabetes mellitus
Tác giả: A. Fiorentini, R. Valente, A. Perciaccante, L. Tubani
Nhà XB: International Journal of Cardiology
Năm: 2006
17. Alebiosu OC, et, al( 2009). Quality of sleep among hypertensive patients in a semi-urban Nigerian community: a prospective study. Pub Med.gov. 2009 Jan ;121(1):166-72. doi: 10.3810/pgm.2009.01.1969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of sleep among hypertensive patients in a semi-urban Nigerian community: a prospective study
Tác giả: Alebiosu OC, et al
Nhà XB: Pub Med.gov
Năm: 2009
18. Allison G. Harvey, Kathleen Stinson, Katriina L. Whitaker, Damian Moskovitz, and Harvinder Virk (2008). The Subjective Meaning of Sleep Quality: A Comparison of Individuals with and without Insomnia. Journal Sleep. Mar 1; 31(3): 383–393 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Subjective Meaning of Sleep Quality: A Comparison of Individuals with and without Insomnia
Tác giả: Allison G. Harvey, Kathleen Stinson, Katriina L. Whitaker, Damian Moskovitz, Harvinder Virk
Nhà XB: Journal Sleep
Năm: 2008
19. American Psychiatric Association ( 2013). Diagnostic and statistical manual of mental disorders: DSM-5. Fifth Edition.Washington, Dc: American Psychiatric Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and statistical manual of mental disorders: DSM-5
Tác giả: American Psychiatric Association
Nhà XB: American Psychiatric Publishing
Năm: 2013
20. American Sleep Asociation. What is Narcolepsy. (NINDS, NIH, 3/3007) , &lt;https://www.sleepassociation.org&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is Narcolepsy
Tác giả: American Sleep Association
Nhà XB: NINDS
Năm: 2007
22. Barbara A.Phillips (2006), Sleep - wake cycle: Its physiology and Impact on health. US National Sleep Foundation.23 BB Kamdar, DM Needham, NA Collop( 2012).Sleep Deprivation in Critical Illness: Its Role in Physical and Psychological Recovery.Journal of Intensive CareMedicine27(2),97-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: US National Sleep Foundation". 23 BB Kamdar, DM Needham, NA Collop( 2012).Sleep Deprivation in Critical Illness: Its Role in Physical and Psychological Recovery."Journal of Intensive CareMedicine
Tác giả: Barbara A.Phillips
Năm: 2006
24. Benjamin J. Sadock et al (2005), Normal sleep and sleep disorders. Concise textbook of Clinical psychiatry second edition, p: 309 - 321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Concise textbook of Clinical psychiatry second edition
Tác giả: Benjamin J. Sadock et al
Năm: 2005
12. Thuốc ngủ và sự làm dụng gây nguy hại đến sức khỏe. Truy cập: 30/08/2016 tại địa chỉ wepsite: http://nhathuocgpp.edu.vn Link
15. Trung tâm y tế dựu phòng quận Thủ Đức. Bệnh mất ngủ. Cập nhật ngày 17/08/2016. Tại wepsite: http://yteduphongthuduc.gov.vn. hoặc://yteduphongtphcm.gov.vnTÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH Link
21. An Overview of Insomina. &lt;http://www.webmd.com/sleep-disorders/guide/insomnia-symptoms-and-causes#1-2&gt;. Access 03/10/2016 and: http://healthysleep.med.harvard.edu/ Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w