TRIỆU ĐỨC LINH BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỊCH CHIẾT TỪ CÂY XƯƠNG RỒNG Euphorbia antiquorum L TRONG BẢO QUẢN GỖ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 1TRIỆU ĐỨC LINH
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỊCH CHIẾT TỪ CÂY
XƯƠNG RỒNG (Euphorbia antiquorum L) TRONG BẢO QUẢN GỖ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2016 - 2020
Thái Nguyên - 2020
Trang 2TRIỆU ĐỨC LINH
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DỊCH CHIẾT TỪ CÂY
XƯƠNG RỒNG (Euphorbia antiquorum L) TRONG BẢO QUẢN GỖ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng Lớp : K48 QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp Khóa học : 2016 - 2020 Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Việt Hưng
Thái Nguyên - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên một tài liệu nào, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020
XÁC NHẬN CỦA GVHD NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
ThS Nguyễn Việt Hưng Triệu Đức Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Mỗi sinh viên khi ra trường đều cần trang bị cho mình những kiến thức cần thiết, chuyên môn vững vàng Như vậy việc thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết đối với mỗi sinh viên trong nhà trường, qua đó giúp sinh viên
hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học và vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, đồng thời giúp sinh viên hoàn thiện hơn về mặt kiến thức luận, phương pháp làm việc, nãng lực công tác nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn sản xuất, nghiên
cứu khoa học
Từ những cơ sở trên được sự nhất trí của nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, chúng tôi đã tiến hành thực tập tại trường Ðại Học Nông
Lâm Thái Nguyên với đề tài: “Bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông từ
cây Xương rồng (Euphorbia antiquorum L) tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên Trong thời gian thực tập ngoài sự cố gắng và nỗ lực phấn đấu
của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy Th.S Nguyễn Việt Hưng đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa, bạn bè trong lớp đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, rèn luyện và
hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Do trình độ và thời gian có hạn, lại là bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu mới nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những kiến thức đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các
bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng năm 2020
Sinh viên
Triệu Đức Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Bảo quản gỗ và tầm quan trọng của công tác bảo quản gỗ 4
2.1.2 Phương pháp bảo quản 5
2.1.3 Những vấn đề về thuốc bảo quản và nguyên liệu 9
2.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thấm thuốc của gỗ 11
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 15
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam 17
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
Trang 63.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp kế thừa 21
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 21
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực chế phẩm bảo quản 23
3.4.4 Phương pháp xác định lượng thuốc thấm 27
3.4.5 Phương pháp phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu 29
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Ảnh hưởng của nồng độ đến lượng chế phẩm chiết từ cây Xương rồng thấm vào gỗ 30
4.2 Hiệu lực từ chế phẩm thân cây Xương rồng trên gỗ thông 31
4.2.1 Hiệu lực của dịch chiết từ cây Xương rồng ở nồng độ 25% đối với Nấm 31
4.2.2 Hiệu lực của dịch chiết từ cây Xương rồng nồng độ 25% đối với nấm 32 4.2.3 Hiệu lực của dịch chiết từ cây Xương rồng nồng độ 35% đối với nấm 33 4.4 Hiệu lực với mối của chế phẩm từ cây Xương rồng trên gỗ Thông 36
4.4.1 Hiệu lực của dịch chiết từ cồn đối với mối 36
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Kiến nghị 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Mẫu bảng 1: Lượng thuốc thấm 15% 28 Mẫu bảng 2: Lượng thuốc thấm 25% 28 Mẫu bảng 3: Lượng thuốc thấm 35% 28 Mẫu bảng 4: Hiệu lực của dịch chiết từ thân cây Xương rồng đối với nấm
(chiết bằng cồn) 29 Bảng 4.1 Ảnh hưởng của nồng độ đến lượng chế phẩm thấm vào gỗ 30 Bảng 4.2 Hiệu lực của chế phẩm chiết từ thân cây Xương rồng ở nồng độ
15% đối với nấm 31 Bảng 4.3 Đánh giá hiệu lực của dịch chiết từ cây Xương rồng độ 25% đối
với nấm 32 Bảng 4.4 Đánh giá hiệu lực của dịch chiết từ cây Xương rồng nồng độ 35%
đối với nấm 34 Bảng 4.5 Hiệu lực của dịch chiết từ cây Xương rồng ở các nồng độ đối với nấm 35 Bảng 4.6 Hiệu lực của dịch chiết vỏ và lá cây Xương rồng đối với mối 37
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện lượng thuốc thấm 30 Hình 4.2 Hình ảnh so sánh hiệu lực đối với nấm của mẫu gỗ ngâm chế phẩm
nồng độ 15% và mẫu đối chứng 32 Hình 4.3 Hình ảnh so sánh hiệu lực đối với nấm của mẫu gỗ ngâm chế phẩm
nồng độ 25% và mẫu đối chứng 33 Hình 4.4 Hình ảnh so sánh hiệu lực đối với nấm của mẫu gỗ ngâm chế phẩm
nồng độ 35% và mẫu đối chứng 34 Hình 4.5 Hình ảnh so sánh hiệu lực đối với nấm của mẫu gỗ ở các nồng độ
ngâm chế phẩm ở các nồng độ và mẫu đối chứng 35 Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện Tbm 36 Hình 4.6 Hình ảnh so sánh hiệu lực đối với mối của mẫu gỗ ngâm chế phẩm
ở các nồng độ và mẫu đối chứng 37 Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện vết mối ăn 37
Trang 9lý kéo dài gây khó khăn trong việc chủ động nguồn nguyên liệu, gỗ ngâm nước lâu ngày sẽ bị mất màu, gây ô nhiễm môi trường nước và không khí tại khu vực xử lý
Để khắc phục những nhược điểm của các biện pháp bảo quản truyền thống, các loại thuốc bảo quản lâm sản có hiệu lực tốt phòng chống sinh vật gây hại lâm sản đã ngày càng phát triển về chủng loại và số lượng theo hướng
an toàn với môi trường Tại Việt Nam, từ năm 1998 đến nay, có 13 loại thuốc bảo quản lâm sản do Viện Khoa học Việt Nam nghiên cứu thành công đã chính thức đăng ký trong “Danh mục thuốc Bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam” Trong đó gồm các chủng loại: thuốc dùng để xử lý ngâm tẩm gỗ, thuốc phòng diệt mối gây hại lâm sản, thuốc chống cháy cho gỗ
Gỗ Thông hiện nay là một trong những loại gỗ được sử dụng khá phổ biến trong ngành công nghiệp chế biến gỗ Với những đặc tính thông dụng của một loại gỗ tốt thì gỗ Thông đang dần có một thị trường khá phát triển Tuy nhiên do các đặc điểm cấu tạo của gỗ làm cho gỗ dễ bị mốc mục, biến màu, dễ cháy, dễ bị côn trùng sâu nấm phá hoại
Trang 10Cây Xương rồng còn được gọi là Bá vương tiên hoặc Hóa ương lặc Xương rồng ông là loài thực vật cổ nhiệt đới, cây Xương rồng 3 cạnh là một loài cây thuộc họ xương rồng, đây là một trong số rất nhiều giống cùng họ Cây chủ yếu mọc hoang dã và hát triển rất nhanh, rất ít người biết đến giá trị thật sự của cây này Vì thế cây đã bị chặt bỏ rất nhiều
Để có cơ sở khoa học về cách sử dụng chế phẩm chiết thân Xương rồng loại chế phẩm bảo quản lâm sản có nguồn gốc thực vật thân thiện với môi trường vào phục vụ sản xuất nên tôi lựa chọn nghiên cứu cây Xương rồng và lựa chọn cây Thông là loại gỗ rừng trồng được trồng phổ biến tại Việt Nam để
thử nghiệm với tên đề tài “Bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông từ dịch
chiết cây Xương rồng (Euphorbia antiquorum L) tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên”.
1.2 Mục tiêu và ý nghĩa của đề tài
1.2.2 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong công tác học tập
Tích lũy được những kinh nghiệm và kiến thức từ thực tế, củng cố lý thuyết đã học và biết cách thực hiện một đề tài
Trang 11trường nước và không khí, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu sẽ giúp cho các xưởng mộc và các hộ gia đình biết được công dụng của chế phẩm có tác dụng bảo quản gỗ, và
sử dụng dịch triết một cách hợp lý và hiệu quả nhất
Dựa vào kết quả này người dân có thể áp dụng biện pháp bảo quản gỗ đạt hiệu quả tốt nhất, không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến sức khỏe của chính họ và mọi người xung quanh
Trang 12
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1) Bảo quản kỹ thuật là phương pháp bảo quản tác động vào gỗ làm cho
gỗ kéo dài thời gian sử dụng, phương pháp này không dùng hóa chất như: cách ly gỗ với đất, nước, hơi ẩm, hong, phơi, sấy hoặc ngâm gỗ trong bùn ao
2) Bảo quản bằng hoá chất: là phương pháp dùng hóa chất để phun tẩm vào gỗ, quét, ngâm gỗ tẩm gỗ hoặc xông hơi, dùng hoá chất xử lý trực tiếp sinh vật hại gỗ
3) Bảo quản bằng biện pháp sinh học: dùng một số loài nấm, côn trùng
để diệt sinh vật hại gỗ
2.1.1.2 Tầm quan trọng của công tác bảo quản
Công nghệ bảo quản nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ sử dụng lâm sản ngoài gỗ và gỗ gấp hàng chục lần so với việc sử dụng theo độ bền tự nhiên Nhằm tăng giá trị sử dụng, hạn chế các tổn thất nặng nề do các sinh vật gây hại như mối mọt, nấm mục v.v….gây ra kể từ ngay sau khi chặt hạ đến suốt quá trình sử dụng Bằng biện pháp kỹ thuật (có hoặc không sử dụng chế phẩm bảo quản) phải kéo dài tuổi thọ sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ lên nhiều lần
so với gỗ không được xử lý bảo quản, góp phần đảm bảo an toàn cho các sản phẩm và công trình sử dụng lâm sản Công nghệ bảo quản ra đời được đánh giá là một bộ phận của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật của thế kỷ XX
Trang 13Nó mang lại hiệu quả quả kinh tế lớn, tiết kiệm tài nguyên rừng, góp phần sử dụng tài nguyên hợp lý, chủ động, hiệu quả, do đó nó có vai trò trong chiến lược phát triển, bảo vệ tài nguyên rừng và trong nền kinh tế quốc dân
2.1.2 Phương pháp bảo quản
2.1.2.1 Phương pháp ngâm thường
Ngâm gỗ vào thuốc bảo quản trong điều kiện bình thường là một trong những phương pháp tẩm cổ điển nhất Khi ngâm gỗ hoặc lâm sản khác trong một chất lỏng có hiện tượng sau: Sự chuyển động của các phần tử thuốc từ dung dịch vào trong gỗ (lâm sản khác) nhờ hiện tượng thẩm thấu và sự chuyển động dung dịch thuốc vào gỗ nhờ áp lực mao quản Hiện tượng thẩm thấu thường xảy ra ở gỗ hoặc tre có độ ẩm cao trên điểm bão hòa và ngâm trong dung dịch Các màng tế bào được coi là màng bán thấm, tạo ra sự thấm một chiều của các phần tử thuốc từ ngoài vào Đồng thời với quá trình thấm thuốc vào gỗ thì có một số phần tử nước từ trong gỗ chuyển động ngược trở
ra vào dung dịch thuốc Tốc độ chuyển động của hai chiều ngược nhau này phụ thuộc vào ẩm độ gỗ, nồng độ dung dịch, loại gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc
và cs, 2006) [12]
2.1.2.2 Phương pháp khuyếch tán
Nguyên lý cơ bản của phương pháp chính là quá trình khuyếch tán của ion hoặc phân tử từ chế phẩm bảo quản vào gỗ Khi gỗ có độ ẩm cao được ngâm vào dung dịch chế phẩm có nồng độ cao, hoặc quét cao xung quanh, do chênh lệch nồng độ các phân tử hoặc ion của chế phẩm từ dung dịch chuyển vào sâu trong gỗ Ẩm độ gỗ ít nhất phải trên 50%, nồng độ dung dịch phải cao hơn gấp 2- 3 lần so với nồng độ chế phẩm cùng loại khi tẩm bằng phương pháp khác (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [12]
Trang 142.1.2.3 Phương pháp nóng - lạnh
Khi gỗ được làm nóng lên, không khí và hơi nước trong gỗ cũng bị nóng dần và dãn nở thể tích Song thể tích gỗ tăng không đáng kể, do vậy áp suất trong gỗ sẽ cao hơn áp suất bên ngoài, một phần không khí và hơi nước
sẽ thoát ra khỏi gỗ Khi gỗ bị chuyển sang trạng thái lạnh, không khí và hơi nước còn lại trong gỗ sẽ bị lạnh và trở về trạng thái ban đầu, thể tích không gian mà chúng chiếm chỗ sẽ nhỏ hơn Kết quả làm cho áp suất trong khoang rỗng tế bào gỗ bị giảm, thấp hơn áp suất môi trường xung quanh Do sự chênh lệch áp suất này, dung dịch chế phẩm lạnh sẽ dễ dàng thấm vào gỗ (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [12]
2.1.2.4 Phương pháp chân không áp lực
Phương pháp này gồm hai quá trình:
Tăng áp lực: Tạo ra sức ép để ép chế phẩm thấm vào gỗ, trị số áp lực thông thường 6 -12.10 5 pa Hút chân không: Độ sâu chân không thường là
600 – 650 mmHg Cụ thể hút chân không ở các thời điểm: Chân không trước khi tăng áp lực Chân không giữa các quá trình áp lực Chân không sau quá trình áp lực Trật tự của hai quá trình cơ bản này thay đổi tùy theo quy trình, tức phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Khả năng thấm chế phẩm của các loại gỗ, độ
ẩm gỗ, loại chế phẩm, lượng thấm chế phẩm cần thiết…
Sự thay đổi của hai quá trình đã tạo nên nhiều phương pháp tẩm gỗ như: Phương pháp tế bào đầy, phương pháp tế bào rỗng, phương pháp bán dẫn (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [12]
2.1.2.5 Phương pháp bóc vỏ cây
Phương pháp này để hạn chế sự xâm nhập của mọt hại gỗ tươi và mối hại vỏ cây, sau khi khai thác thường được bóc vỏ ( trừ một số loại gỗ chuyên dùng cần giữ vỏ) Bóc vỏ làm gỗ ráo mặt nhanh, ẩm độ giảm xuống tạo điều
Trang 15kiện bất lợi cho các sinh vật hại gỗ tươi xâm nhập (Nguyễn Thị Bích Ngọc và
cs, 2006) [12]
2.1.2.6 Phương pháp phơi, sấy gỗ
Gỗ phơi sấy là một biện pháp bảo quản lâm sản khỏi một số loại côn trùng hại gỗ tươi Gỗ có độ ẩm cao được xếp thành chồng lên nhau hoặc được xếp lên đà kê để ngoài không khí hoặc cho vào lò sấy Với phương pháp này, ngoài loại bỏ được những yếu tố gây hại do sinh vật gây ra còn hạn chế được tác nhân phi sinh vật như cong vênh, nứt nẻ ở gỗ Trong việc xếp đống gỗ để hong phơi tránh hiện tượng để ánh sáng chiếu hoặc gió lùa trực tiếp vào đầu của cây hoặc tấm ván gỗ Khi đó làm cho độ ẩm thoát ra quá nhanh dẫn đến hiện tượng gỗ bị nứt đầu Việc xếp thanh kê phải đúng kỹ thuật: kích thước các thành kê, khoảng cách giữa các thanh kê phải đều nhau, các thanh kê giữa các trồng ván phải thẳng hàng Khoảng cách giữa các thanh kê phụ thuộc vào loại
gỗ, chiều dày tấm ván, kích thước thanh kê thường dày 2.5 cm, rộng 5 - 6 cm (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [12]
2.1.2.7 Phương pháp hun khói, ngâm
Phương pháp này áp dụng theo kinh nghiệm Phương pháp hun khói tre,
gỗ, song mây lên trên bếp giúp cho tre nứa, song mây khô nhanh, chống được mốc Mặt khác trên bề mặt sẽ có một lớp bồ hóng có thành phần hóa học tương
tự như sản phẩm dầu nhựa có khả năng phòng được nấm mốc và mọt tre Phương pháp ngâm tre, gỗ trong ao hồ hoặc bùn với một thời gian 6 tháng đến
1 năm hoặc lâu hơn sẽ hạn chế được mọt, mối Phương pháp này sẽ làm biến đổi thành phần hóa học trong gỗ, cụ thể làm cho hàm lượng đường và tinh bột
có trong tre, gỗ giảm đi (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [12]
2.1.2.8 Phương pháp tẩm cây đứng
Phương pháp này có tên là tẩm cây sống (cây chưa bị chặt hạ) Lợi dụng đặc điểm của cây phải hút nước, muối khoáng từ đất qua hệ thống rễ,
Trang 16theo các mạch dẫn lên lá để sau quá trình quang hợp tạo thành nhựa luyện nuôi cây Phương pháp này sẽ tác động chặn dòng nhựa luyện và thay bằng dung dịch chế phẩm bảo quản, chế phẩm sẽ đi theo mạch dẫn và phân bố trong cây (Nguyễn Thị Bích Ngọc và cs, 2006) [12]
2.1.2.9 Phương pháp thay thế nhựa
Gỗ sau khi chặt 2 - 3 ngày, nhựa cây vẫn ở trang thái lỏng sẽ dịch chuyển được nếu có lực đẩy từ phía gốc đến ngọn của khúc gỗ Lợi dụng đặc điểm này, người ta dùng dung dịch chế phẩm tiếp vào một đầu của khúc gỗ (phía gốc), nhờ sự chênh lệch áp lực của dung dịch ở đầu gốc và đầu ngọn khúc gỗ, dung dịch tẩm sẽ ép vào các mạch, dồn dần nhựa về một phía và sẽ thay thế vị trí của nhựa vào các khoảng trống Thời gian ngâm tẩm tùy thuộc vào từng loại gỗ, bình quân 5 - 12 ngày Sau khi kết thúc quá trình tẩm một tuần lễ có thể tiến hành bóc vỏ và tùy theo thời gian hong phơi tương ứng với yêu cầu về độ ẩm ta có thể đem sử dụng Lượng thuốc tiêu hao cho phương pháp này khoảng 400 - 500kg/m3 dung dịch thuốc nước Có nồng độ dung dịch thuốc tẩm tùy thuộc vào từng loại thuốc mà sử dụng (Nguyễn Thị Tuyên, 2008) [17]
2.1.2.10 Phương pháp phun, quét
+ Phương pháp quét
Là phương pháp bảo quản thô sơ nhất, thường gặp trong thực tế sản xuất, như trong các khâu bảo quản tạm thời gỗ ở các bãi bến trong một thời gian ngắn và bảo quản lớp mặt các vật dụng bằng gỗ
+ Phương pháp phun
Phương pháp phun nhanh hơn phương pháp quét tuy vậy do lượng hao phí của phương pháp này quá lớn, nhất là những chi tiết nhỏ nên phạm vi sử dụng ít Tác dụng bảo quản: mang tính tạm thời, bảo quản lớp mặt Nó cũng
có tầm quan trọng nhất định trong một số trường hợp như bảo quản bổ sung
Trang 17những vật dụng ở những chỗ hiểm yếu của các công trình như gầm cầu, trần nhà các chỗ khe ngóc ngách quét (Nguyễn Thị Tuyên, 2008) [17]
2.1.3 Những vấn đề về thuốc bảo quản và nguyên liệu
2.1.3.1 Nguyên liệu gỗ
- Thông trắng
- Tuổi gỗ thông là 16 tuổi
- Một số tính chất và đặc điểm của gỗ Thông:
+ Ngoại hình: Cây Thông có vỏ màu nâu đỏ Gốc có màu sẫm hơn, khi già bong thành từng mảng Cành non màu vàng nhạt hoặc hung, không có long
+ Cấu tạo gỗ Thông: Gỗ Thông có lõi màu nâu vàng, gỗ giác và gỗ lõi phân biệt, thớ thô, không có lỗ mạch, quản bào chiếm 90% thể tích gỗ, chiều dài quản bào 3.29 ± 0.59mm, tế bào mô mềm xếp dọc thân cây, tia gỗ sắp xếp theo chiều ngang thân cây chiếm 5-6% thể tích gỗ, số lượng ống dẫn nhựa dọc là 1.06 ống/mm 2
+ Các tính chất cơ, vật lý của gỗ Thông:
- Sức co dãn của gỗ: Là sự thay đổi về kích thước của gỗ khi độ ẩm của
gỗ thay đổi trong khoảng từ 0% đến độ ẩm bão hòa thớ gỗ và ngược lại độ ẩm bão hòa thớ gỗ xuống 0%
- Khối lượng thể tích của gỗ: 0.45g/ cm3
- Giới hạn bền khi nén ngang thớ:
Nén ngang thớ toàn bộ theo chiều tiếp tuyến: 22 (Kg/ cm2)
Nén ngang thớ toàn bộ theo chiều xuyên tâm: 22 (Kg/ cm2)
Nén ngang thớ cục bộ theo chiều tiếp tuyến: 38 (Kg/ cm2)
Nén ngang thớ cục bộ theo chiều xuyên tâm: 40 (Kg/ cm2)
- Độ cưỡng tính:
Độ cưỡng tính theo mặt cắt ngang: 500 (Kg/ cm2)
Độ cưỡng tính theo mặt cắt xuyên tâm: 400 (Kg/ cm2)
Trang 18Độ cưỡng tính theo mặt cắt tiếp tuyến: 450 (Kg/ cm2)
- Giới hạn bề khi uốn tĩnh:
Giới hạn bền theo chiều xuyên tâm: 420 (Kg/ cm2)
Giới hạn bền theo chiều tiếp tuyến: 450 (Kg/ cm2)
2.1.3.2 Nguyên liệu chế phẩm
Đặc điểm của cây Xương rồng
Cây Xương rồng (Euphorbia antiquorum L) nhỏ mọng nước, cao 1-3m
hay hơn, phân nhiều cành Cành có 3 cạnh lồi Lá nhỏ, mọng nước, mọc ở trên cạnh lồi của cành, cuống rất ngắn Hai lá kèm biến thành gai Cụm hoa mọc ở những chỗ lõm của mép cành, có 1-7 bao chung, họp thành ngù, mỗi bao chung nằm trên 2 lá bắc phân thùy rộng, các tuyến mật chẻ đôi Trong bao chung có nhiều nhị tương ứng với các hoa đực thoái hóa và một nhụy ứng với một hoa cái Quả nhỏ màu xanh, có 3 mảnh, mang vòi nhụy tồn tại
Xương rồng ông là loài thực vật cổ nhiệt đới Cây mọc tự nhiên và được trồng khắp các nước thuộc vùng nhiệt đới châu Á như Ấn Độ, Xrilanca, Mianma, Lào, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Philippin và Nam Trung Quốc,
kể cả đảo Hải Nam Xương rồng ông có nguồn gốc từ vùng hoang mạc, về sau
do tác động của con người hoặc động vật, cây đã phát triển đi khắp nơi Ở Việt Nam, xương rồng ông có nhiều trong quần thể trồng
Nhựa Xương rồng chứa α euphorbol C31H52O, xycloartenol C30H50O,
β amyrin C30H50O và euphol γ-euphorbol
Trang 19Công dụng của cây Xương rồng
Trong dân gian, người ta sử dụng nhựa Xương rồng làm thuốc tẩy, tháo nước, chữa đau bụng, nhưng do tác dụng quá mạnh nên phải pha chế cùng nhiều vị thuốc khác
Dùng ngoài làm thuốc sát trùng, chữa đau răng, diệt sâu bọ,… Cây chứa chất độc, nên khi dùng phải hết sức cẩn thận, không tùy ý dùng nếu chưa
+ Loại thuốc, lượng thuốc, nồng độ thuốc Loại thuốc khác nhau thì lượng thuốc thấm và thời gian thấm thuốc là khác nhau Trong cùng một loại thuốc khi thay đổi nồng độ dung dịch, lượng thuốc bảo quản sễ ảnh hưởng tới khả năng thấm thuốc Có một vài trường hợp khi ngâm gỗ có độ ẩm cao với dung dịch thuốc nồng độ cao lúc này làm thay đổi quá trình thấm của thuốc vào gỗ Từ thấm theo nguyên lý mao dẫn sang thấm theo nguyên lý khuếch tán
Trang 202.1.3.3 Chế phẩm bảo quản
+ Yêu cầu của chế phẩm bảo quản:
- Độc hại cao với sinh vật hại lâm sản nói chung
- Không độc hại với con người và gia súc
- Khả năng ổn định của thuốc lâu dài trong lâm sản khi sử dụng trong các môi trường khác nhau
- Dễ thấm, thấm sâu vào lâm sản
- Không làm ảnh hưởng đến tính chất của gỗ và giảm tối đa khả năng bén cháy của gỗ, không làm ảnh hưởng đến độ bền cơ học của gỗ
- Không ảnh hưởng đến màng keo dán và quá trình trang sức bề mặt
- Không ăn mòn kim loại
- Không gây ô nhiễm môi trường
- Giá thành rẻ, thông dụng, dễ sử dụng
+ Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản với nấm mỗi loài nấm có một ngưỡng độ ẩm thích hợp cho quá trình phát triển, ngoài ra còn các điều kiện khác như oxy, nhiệt độ, ánh sáng và độ pH Để phòng chống nấm gây hại lâm sản, người ta thường áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm thay đổi điều kiện sống của nấm hoặc làm độc hóa nguồn thức ăn của nấm bằng các loại thuốc bảo quản lâm sản Chế phẩm bảo quản có hiệu lực đối với nấm khi được tẩm vào gỗ, trước hết nó đã tạo ra một môi trường khác hẳn với gỗ không tẩm chế phẩm, nó tước bỏ những điều kiện thuận lợi cho việc nảy mầm của các bào tử nấm, hơn thế nữa chế phẩm bảo quản còn phá hoại ngay các bào tử nấm, các hoạt chất của chế phẩm bảo quản thấm vào các bào tử phản ứng với các thành phần chủ yếu của bào tử làm cho bào tử không nảy mầm được Kết quả tổng hợp các tác động nói trên của chế phẩm bảo quản là làm cho nấm bị biến dạng về hình thái hoặc bị tiêu diệt ngay trên gỗ tẩm chế phẩm bảo quản
Trang 21+ Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản với côn trùng chế phẩm bảo quản dùng để phòng trừ côn trùng có thể xử lý diệt trực tiếp côn trùng hoặc bằng lớp hóa chất độc ngăn không cho côn trùng tiếp cận với nguồn thức ăn Cơ chế tác dụng của chế phẩm bảo quản đối với côn trùng là chế phẩm có thể làm tê liệt
hệ thần kinh do chúng tiếp xúc trực tiếp với chế phẩm hoặc khi côn trùng ăn phải
gỗ đã tẩm chế phẩm Chế phẩm có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn và các men tiêu hóa trong ruột côn trùng làm cho thức ăn không tiêu hóa được
+ Cơ chế thấm chế phẩm bảo quản:
Quá trình thấm chế phẩm bảo quản vào trong gỗ là do một hoặc nhiều quá trình tác động vào đó là các quá trình mao dẫn, tác động khuếch tán hoặc
do tác động áp lực từ bên ngoài Các tác động này, tùy từng trường hợp cụ thể
nó có thể độc lập hoặc cùng lúc xảy ra
+ Thấm do mao dẫn:
Theo tài liệu: lâm sản và bảo quản lâm sản, tập 2 của trường Đại học Lâm nghiệp xuất bản 1992, thì quá trình mao dẫn được miêu tả như sau: Khi ngâm gỗ vào trong môi trường là dung dịch bảo quản dung dịch thấm được vào trong gỗ là nhờ áp lực mao dẫn Hiện tượng này xảy ra khi gỗ có độ ẩm dưới điểm bão hòa thớ gỗ Khi một vật rắn nhúng vào một dịch thể theo quy luật vật lý nơi tiếp giáp giữa dịch thể, chất rắn và không khí sẽ tạo ra bề mặt cong do sức căng bề mặt ngoài của chất lỏng và mức độ dính ướt của vật rắn nơi tiếp giáp giữa vật rắn và dịch thể tạo ra một góc và do đó xuất hiện hai loại áp lực mao quản thuận, nghịch khác nhau Khi áp lực mao quản thuận sự thấm chế phẩm sẽ kém và ngược lại khi áp lực mao quản nghịch thì sự thấm thuốc sẽ tốt hơn Trên thực tế, do tế bào gỗ có cấu tạo không đồng nhất, đẳng hướng và một số loại gỗ còn có dầu nhựa cản trở sự thấm chế phẩm và việc xác định các thông số sẽ gặp khó khăn
Trang 22+ Thấm do khuếch tán:
Quá trình khuếch tán là quá trình di chuyển vật chất từ pha này sang pha khác khi hai pha tiếp xúc trực tiếp với nhau Trong dung dịch quá trình khuếch tán làm cho dung dịch đồng nhất về khối lượng riêng và áp suất Do vậy, các phần tử ion thuốc bảo quản hòa tan trong nước sẽ chuyển động với một động năng trung bình của chuyển động tịnh tiến vào, áp suất đó do các phần tử gây lên Áp suất này gọi là áp suất thẩm thấu Trong ngâm tẩm gỗ vách tế bào gỗ có thể coi là màng bán thấm Vận tốc chuyển động của các phân tử hoặc ion phụ thuộc vào nhiệt độ, khi nhiệt độ càng cao thì vận tốc chuyển dịch tăng lên Bằng các phép đo chính xác, người ta đo được tốc độ chuyển động tỷ lệ với T (T là nhiệt độ) Áp suất thấm thấu phụ thuộc vào T, nếu T tăng thì áp suất tăng Đối với gỗ có độ ẩm cao, khi tẩm thuốc bảo quản, nước ở trong gỗ có xu hướng dịch chuyển ra dung dịch tẩm và các phân tử hoặc ion chất bảo quản sẽ dịch chuyển vào gỗ
+ Thấm do áp lực từ bên ngoài:
Quá trình thấm này là do có áp lực được tạo ra từ bên ngoài tác động lên bề mặt dung dịch thuốc hoặc bề mặt gỗ Áp lực này có thể được tạo ra bằng những hình thức sau:
Dùng thiết bị tạo áp suất nén áp lực lên bề mặt dung dịch chế phẩm Trong thực tế người ta có thể kết hợp với rút chân không cho gỗ để tăng thêm
độ chênh lệch áp suất Tạo ra chênh lệch cột áp giữa dung dịch thuốc và bề mặt
gỗ bằng cách nâng độ cao của bình đựng chế phẩm lên so với bề mặt gỗ một độ cao nhất định Làm cho áp suất trong gỗ thấp hơn so vơi dung dịch thuốc ở bên ngoài bằng cách đun nóng gỗ lên cho nước và không khí trong gỗ thoát ra ngoài sau đó làm lạnh đột ngột trong dung dịch thuốc Vì vậy trong thực tế của công tác bảo quản lâm sản, cần chọn loại thuốc bảo quản và dung môi có khối lượng riêng nhỏ để cho quá trình thuốc thấm vào gỗ được thuận lợi
Trang 232.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản trên thế giới
Ngay từ thời kỳ sơ khai, người Ai Cập đã biết dùng nhựa để bảo vệ gỗ trong công trình xây dựng, tránh cho gỗ không bị mục nát do các sinh vật gây
ra Từ lâu đời, người dân ở một số nước châu Á đã có biện pháp bảo quản rất độc đáo và hiệu quả đó là ngâm gỗ, tre nứa trong bùn ao Biện pháp này đã trở thành tập quán duy trì cho đến ngày nay Tất cả những giải pháp bảo quản lâm sản mang tính tập quán đó không mang lại hiệu quả bảo quản triệt để, bởi nguyên nhân gây nên sự phá huỷ lâm sản chưa được khám phá Đến khi những phát hiện của Pasteur và Kock đã chỉ ra rằng các vi sinh vật và côn trùng là những đối tượng sinh vật chủ yếu gây nên sự phá hủy cấu trúc lâm sinh thì định hướng tẩm vào gỗ và lâm sản bằng các hóa chất có độc tính với sinh vật gây hại mới được hình thành Việc ngâm tẩm gỗ nhằm kéo dài tuổi thọ mới ra đời cách đây 300 năm
Năm 1747, Emerson đã đề xuất dùng chế phẩm dạng dầu để bảo quản
gỗ, sớm hơn nữa là Zohann Glauder đã dùng một loại nhựa để quét cho gỗ đã được đốt cháy một lớp mỏng Đến thế kỷ 19, một loạt sản phẩm hóa chất đã được sử dụng để tẩm gỗ như clorua thủy ngân HgCl2 (1805), Clorua kẽm ZnCl2 (1815), sun phát đồng CuSO4 (1837)… Trong những thập niên trở lại đây, danh mục các sản phẩm hóa học dùng cho bảo quản lâm sản ngày càng được bổ sung thêm Song, chính trong quá trình phát triển đó, các hóa chất có độc tính cao đối với sức khỏe con người và môi trường đã dần bị loại bỏ Các hợp chất tổng hợp bằng con đường hóa học, chiết xuất từ thực vật, từ vi sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại lâm sản cao và an toàn với con người, môi trường sống đã được ưu tiên nghiên cứu và đưa vào sử dụng Cùng với sự ra đời phát triển của các lĩnh vực khoa học sinh vật, nhiều loài nấm mốc, côn trùng, phá hại gỗ và lâm sản cũng đã được điều tra, phân loại Các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh
Trang 24thái đã làm tiền đề cho các nhà hoá học, công nghệ, nghiên cứu mở rộng các chế phẩm bảo quản, các biện pháp kỹ thuật xử lý bảo quản gỗ và lâm sản Một trong những thành tựu nổi bật về sự kết hợp hữu hiệu này của các nhà nghiên cứu cơ bản và các nhà nghiên cứu kỹ thuật giữa thế kỷ 20 này là nghiên cứu diệt mối gây hại lâm sản trong các công trình xây dựng bằng phương pháp lây truyền để diệt mối tận tổ Từ việc phát hiện ra đặc tính của mối: chúng mớm thức ăn cho nhau, liếm lẫn nhau, một số nhà khoa học của
ấn Độ, Inđônexia đã nghĩ đến biện pháp dùng các chất hoá học xử lý lên con mối, nhờ đặc tính sinh học nói trên, mối sẽ truyền chất độc về tận tổ, tận hoàng cung của mối chúa Feytand (1949) cho biết cụ thể thêm rằng các hợp chất có gốc là asenic hoặc fluo ở dạng bột mịn có thể dùng làm thuốc để gây cho mối chết bằng cách lây truyền (Coventry E và Cs, 2002) [22]
Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn các cơ sở lý luận để từ đó nghiên cứu các giải pháp phù hợp trong việc bảo quản lâm sản (Biswas Kausik và cộng sự, 2002) [21]
Christebsen (1951) nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ với khả năng khuếch tán của thuốc bảo quản gỗ và nhận định rằng: nhiệt độ tăng thì khả năng khuếch tán tăng, do khi nhiệt độ tăng thì khả năng linh động của điện tử phân ly của thuốc bảo quản cũng sẽ tăng và do đó dễ khuếch tán vào gỗ (Biswas Kausik và cộng sự, 2002) [21]
Smith và Wiliam (1969) đã nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng khuếch tán của dung dịch thuốc bảo quản và có kết luận: độ ẩm gỗ
là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quá trình khuếch tán của dung dịch thuốc bảo quản vào gỗ Khi độ ẩm gỗ thấp hơn 50% thì quá trình khuếch tán xảy ra chậm (Biswas Kausik và cộng sự, 2002) [21]
Becker (1976) và Tamblyn (1985) đã tiến hành quan sát những nhân tố ảnh hưởng đến khuếch tán Vinden (1984) và Dickinson (1989) đã tiến hành
Trang 25nghiên cứu quá trình phòng mục gỗ bằng phương pháp khuếch tán và lưu ý cần phải đo đạc một cách tỷ mỷ độ ẩm của gỗ, nhiệt độ xử lý, nồng độ của dung dịch và thời gian xử lý mới có thể xác định được chính xác các yếu tố ảnh hưởng (Biswas Kausik và cộng sự, 2002) [21]
Viden (1984) thông qua các thí nghiệm của mình đã kết luận rằng: quá trình khuếch tán chủ yếu xảy ra ở các mao mạch trong những tế bào rỗng Hàm lượng nước trong gỗ cao thì tốc độ khuếch tán tăng Năm 1990, Konabe trong một thí nghiên cứu của mình đã nhận định: trong xử lý ngâm tẩm, nếu
gỗ quá khô phải làm cho gỗ ướt để cho độ khuếch tán có hiệu quả cao nhất (Biswas Kausik và cộng sự, 2002) [21]
2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng chế phẩm bảo quản ở Việt Nam
Gỗ sau khi chặt hạ đã mất đi khả năng bảo vệ tự nhiên, chống lại sự phá hoại côn trùng và nấm Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, nơi mà điều kiện khí hậu hết sức thích hợp cho sự phát triển của sinh vật gây hại lâm sản thì tổn thất về lâm sản do sinh vật gây ra là rất lớn Mục đích của quá trình bảo quản
là tác động vào lâm sản (có hoặc không có hoá chất) nhằm nâng cao khả năng kháng chịu đối với sinh vật gây hại, kéo dài thời gian sử dụng của lâm sản Đối với gỗ sử dụng làm nguyên liệu trong sản xuất đồ mộc đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm phá hoại của sinh vật hại gỗ, các giải pháp kỹ thuật và loại chế phẩm bảo quản phù hợp với điều kiện sử dụng lâm sản Một
số tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực bảo quản ở nước ta như sau:
Nguyễn Xuân Khu (1972), trong luận án PTSKH đã nghiên cứu chế độ tẩm gỗ dương ở độ ẩm khác nhau Tác giả đã nghiên cứu về mối tương quan giữa sức thấm thuốc với độ ẩm gỗ, nồng độ thuốc theo các chiều thớ gỗ khác nhau ở gỗ giác, gỗ lõi Tác giả cũng đã rút ra nhiều kết luận có ý nghĩa khoa học về bảo quản gỗ như: khi gỗ có độ ẩm dưới điểm bão hòa sức thấm thuốc
gỗ dương sẽ tăng dần khi độ ẩm giảm, ngược lại khi độ ẩm cao hơn 50% sức
Trang 26thấm thuốc sẽ tăng khi tăng độ ẩm Tác giả cũng kết luận sức thấm thuốc theo chiều xuyên tâm lớn hơn chiều tiếp tuyến, gỗ giác lớn hơn gỗ lõi [7]
Nguyễn Chí Thanh (1985), đã tiến hành thử hiệu lực của thuốc bảo quản và độ bền của gỗ trong điều kiện trên bãi thử tự nhiên Tác giả đã dùng 5 loại thuốc là XM-5B, LN3 , XM-5A, FBB và FBC để thử hiệu lực đối với 16 loài gỗ tự nhiên bằng 2 phương pháp: ngâm thường và áp lực chân không Tác giả kết luận: Hiệu lực của thuốc phụ thuộc vào lượng thuốc thấm và điều kiện
sử dụng [15]
Lê Văn Lâm (1985) đã bước đầu nghiên cứu bảo quản cho ván dán ba lớp gỗ trám trắng Tác giả tiến hành ngâm tẩm gỗ bóc bằng phương pháp nhúng với 5 công thức thuốc bảo quản có thành phần chủ yếu gồm PCP, Boax, NaF và CuSO4 nồng độ 5% Tác giả đã kết luận thuốc có hiệu lực phòng chống sự phá hoại của sinh vật hại gỗ và ít ảnh hưởng đến màu sắc tự nhiên của gỗ [10]
Lê Duy Phương, Phan Thị Lương Ngọc (2003) đã tiến hành nghiên cứu tạo thuốc chống mốc cho lâm sản Tác giả đã tiến hành nghiên cứu tạo các công thức thuốc mới để để khảo nghiệm hiệu lực phòng chống mối boron và mối fluo tỏ ra có hiệu lực phòng mốc tốt hơn cả Công thức thuốc đảm bảo yêu cầu về hiệu lực phòng chống mốc cho lâm sản và an toàn với môi trường
Lê Văn Lâm, Bùi Văn Ái và các cộng tác viên (2005) đã tiến hành nghiên cứu bảo quản một số tre gỗ rừng trồng sử dụng ngoài trời làm cọc tiêu, xây dựng
cơ bản, nguyên liệu sản xuất đồ mộc và ván nhân tạo Đề tài đã bước đầu đánh giá được độ bền tự nhiên của 17 loại gỗ rừng trồng chủ yếu làm cơ sở định hướng kỹ thuật bảo quản [13]
Bùi Văn Ái (2008) đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu sử dụng dầu vỏ hạt điều làm thuốc bảo quản lâm sản”, kết quả chỉ ra rằng khi sử dụng dầu vỏ hạt điều đã được xục khí Clo ở nồng độ 10% có hiệu lực bảo quản tốt đối với côn trùng nhưng ít có hiệu quả với nấm gây hại Trên cơ sở tham khảo các công
Trang 27thức chế phẩm bảo quản lâm sản của các nước trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo nghiệm hiệu lực các chế phẩm bảo quản của nước ngoài
và cải tiến thay đổi tỷ lệ thành phần của chế phẩm cho đảm bảo hiệu lực phòng chống sinh vật gây hại lâm sản trong điều kiện đặc thù của Việt Nam [1]
Bùi Hoàng Dũng (2019), bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng
dịch triết từ vỏ và lá cây bạch đàn trắng (Eucalyptus camadulensis Dehnh) tại
trường Đại học Nông lâm [3]
Trần Thị Lan (8) bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông bằng dịch
triết từ cây Long não (Cinnamomum camphora (L.) tại trường Đại học Nông
lâm Thái Nguyên [18]
Lèng Thanh Bách (2019), bước đầu nghiên cứu bảo quản gỗ thông từ
dịch chiết cây Bông ổi (Lantana camara) tại trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên [2]
Với các kết quả nghiên cứu trên cho thấy ở Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu sử dụng thân cây Xương rồng trong bảo quản gỗ Do vậy việc thực hiện đề tài sử dụng cây Xương rồng có ý nghĩa qua trọng
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng
- Hiệu lực của dịch chiết từ thân cây Xương rồng
- Đối với nấm và mối hại gỗ
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Nguyên liệu:
+ Gỗ Thông được khai thác ở trong rừng trồng
+ Dịch chiết thân và lá cây Xương rồng chiết bằng cồn nồng độ: 15%, 25%, 35%
+ Tuổi: 16 tuổi
+ Chiết xuất: ngâm cồn
Dụng cụ, thiết bị thí nghiệm: Sử dụng các trang thiết bị có trong phòng thí nghiệm tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
- Phương pháp: Phương pháp ngâm
+ Đổ cồn vào ngâm ở các cấp nồng độ
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Khả năng phòng chống mối
+ Khả năng phòng chống nấm mốc
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
Địa điểm: Tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Thời gian nghiên cứu: 1/2020 - 6/2020
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Ảnh hưởng của nồng độ chế phẩm đến lượng thuốc thấm vào gỗ
- Đánh giá hiệu lực của dịch chiết từ thân cây Xương rồng đến khả năng phòng trừ mối
Trang 29- Đánh giá hiệu lực của dịch chiết từ thân cây Xương rồng đến khả năng phòng trừ nấm
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp kế thừa
Thu thập các thông tin về nhu cầu, yêu cầu nguyên liệu gỗ sản xuất đồ mộc, tình trạng xâm hại của nấm mốc đối với Thông mã vĩ, tình hình sản xuất, công nghệ phòng, tẩy nấm mốc hại gỗ tại Việt Nam và trên thế giới qua các kênh: bài báo, tài liệu lưu trữ, truy cập các trang điện tử, tổng hợp, phân tích, đánh giá các thông tin thu được làm cơ sở đề xuất kế thừa, tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Yếu tố cố định:
+ Loại gỗ, tuổi gỗ, độ ẩm
+ Phương pháp, thời gian ngâm
+ Thuốc bảo quản
- Yếu tố thay đổi:
+ Nồng độ dung dịch bảo quản
3.4.2.1 Nguyên vật liệu
- Gỗ Thông: 16 tuổi từ gỗ tròn gia công thành các thanh có kích thước 10×25×300 (mm)
- Thân Xương rồng tươi để tạo chế phẩm
- Phương pháp bảo quản: phương pháp ngâm
3.4.2.2 Các bước tạo dịch chiết từ thân cây Xương rồng
- Dịch chiết từ thân cây Xương rồng (ngâm với cồn ở nhiệt độ thường) + Bước 1: Lấy thân cây Xương rồng tươi
+ Bước 2: Băm nhỏ thân cây Xương rồng
+ Bước 3: Chiết dịch thân cây Xương rồng
Trang 30Hình 3.3 Tách dịch triết Hình 3.4 Pha chế phẩm theo nồng độ
Nồng độ 15%: 85ml nước + 15ml dịch chiết thân cây Xương rồng Nồng độ 25%: 75ml nước + 25ml dịch chiết thân cây Xương rồng Nồng độ 35%: 65ml nước + 35ml dịch chiết thân cây Xương rồng Đối chứng: 65ml nước + 35ml cồn
- Trình tự ngâm
+ Pha dung dịch theo tỷ lệ: 15%, 25%, 35%
+ Ngâm đều dịch chiết thân cây Xương rồng lên bề mặt mẫu gỗ, sau đó xếp lên giá kê
Trang 31+ Ngâm lên kín mẫu gỗ và quét nhiều lần để đảm bảo lượng thuốc thấm vào gỗ rồi đem phơi
+ Mẫu thử mối phơi khô đạt độ ẩm < 20%
Hình 3.5 Pha dung dịch từ cây
- Thước kẹp PANME điện tử
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu lực chế phẩm bảo quản
3.4.3.1 Đánh giá hiệu lực chế phẩm đối với mối
- Chế phẩm bảo quản từ cây Xương rồng : nồng độ dịch chiết bảo quản 15%, 25%, 35%
Trang 32- Mối thử: Mối nhà (coptotemes formosanus Shir)
- Quy cách mẫu: mẫu thử nghiệm có kích thước 10×25×300 (mm)
- Số lượng mẫu thử nghiệm là 60 mẫu, gồm45 mẫu tẩm chế phẩm bảo quản và 15 mẫu không tẩm chế phẩm
- Phương pháp xử lý mẫu: mẫu sau khi xử lý ngâm, để khô tự nhiên và xếp vào hộp theo thứ tự từng loại nồng độ và mẫu đối chứng Đặt hộp chứa các mẫu thử vào nơi đang có mối hoạt động mạnh Sau thời gian 3 tháng, các hộp mẫu đưa ra đánh giá khi trong hộp có mẫu đối chứng có 70% đã bị mối phá hủy hoàn toàn
Tvr =𝑉𝑅𝑑𝑐−𝑉𝑅𝑡𝑡
𝑉𝑅𝑑𝑐 x 100 + Phần trăm số mẫu có vết mối ăn sâu ≥1 mm2 (Tvs)