1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ nghiên cứu xây dựng nội dung, chương trình thể dục thể thao ngoại khóa cho nam sinh viên trường

279 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 279
Dung lượng 4,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 3.6 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo liên quan đến công tác GDTC của nhà trường hiện nay 60 Bảng 3.7 Số lượng và trình độ giảng viên Giáo dục thể chất tại Trường Cao đẳng Cảnh sá

Trang 1

- - -    - - -

ĐẶNG MINH THẮNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH THỂ DỤC THỂ THAO NGOẠI KHÓA CHO NAM SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN II

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019

Trang 2

- - -    - - -

ĐẶNG MINH THẮNG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH THỂ DỤC THỂ THAO NGOẠI KHÓA CHO NAM SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN II

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả luận án

Đặng Minh Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa trong trường học 6

1.2 Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 9

1.3 Đặc điểm tâm lý, sinh lý và tố chất thể lực sinh viên lứa tuổi 19-22 13

1.3.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên 13

1.3.2.Đặc điểm sinh lý của sinh viên 16

1.3.3 Đặc điểm các tố chất thể lực của sinh viên 17

1.4 Thể dục thể thao ngoại khoá trong nhà trường 19

1.4.1 Vai trò và nguyên tắc tổ chức thể dục thể thao ngoại khoá 21

1.4.2 Mục đích của tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá 22

1.4.3 Đặc điểm hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá 25

1.4.4 Các điều kiện đảm bảo cho công tác tổ chức thể dục thể thao ngoại khoá 26

1.4.5 Nội dung tổ chức các hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá trong trường đại học 27

1.4.6 Hình thức tổ chức các hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá trong nhà trường 29

1.4.7 Phân loại hình thức thể dục thể thao ngoại khóa 29

1.5 Đặc điểm về thể chất của nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 33

1.6 Tình hình thực tế về hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa trong Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II hiện nay 34

17 Các công trình nghiên cứu có liên quan 35

1.7.1 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến thể thao ngoại khóa trong trường học trên thế giới 35

Trang 5

1.7.2 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến thể thao ngoại khóa

trong trường học trong nước 37

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 45

2.1 Đối tượng nghiên cứu 45

2.1.1 Chủ thể nghiên cứu 45

2.1.2 Khách thể nghiên cứu 45

2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 46

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 46

2.2.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm: 48

2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 50

2.2.5 Phương pháp toán học thống kê: 51

2.3 Tổ chức nghiên cứu 54

2.3.1 Kế hoạch nghiên cứu 54

2.3.2 Địa điểm nghiên cứu 54

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 55

3.1 Đánh giá thực trạng hoạt động TDTT ngoại khóa của nam sinh viên trong Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 55

3.1.1 Xác định các tiêu chí đánh giá thực trạng hoạt động TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 55

3.1.2 Phân tích thực trạng hoạt động TDTT ngoại khóa của nam sinh viên trong Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 60

3.1.3 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động TDTT ngoại khóa của sinh viên 87

3.2 Nghiên cứu xây dựng nội dung chương trình thể dục thể thao ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 95

Trang 6

3.2.1 Các nguyên tắc xây dựng nội dung chương trình TDTT ngoại

khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 95

3.2.2 Các căn cứ xây dựng nội dung chương trình TDTT ngoại khóa cho sinh viên nam Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 98

3.2.3 Xác định nội dung giảng dạy các môn TDTT ngoại khóa cho sinh viên nam Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 99

3.2.4 Phân phối thời lượng cho từng nội dung chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II109 3.2.5 Xây dựng tiến trình giảng dạy chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 116

3.3 Đánh giá hiệu quả thực nghiệm nội dung chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 117

3.3.1 Tổ chức thực nghiệm 117

3.3.2 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm chương trình TDTT ngoại khóa 118

3.3.3 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm chương trình TDTT ngoại khóa 121

3.3.4 Đánh giá sự phù hợp của nội dung chương trình TDTT ngoại khóa sau thời gian thực nghiệm 141

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147

Kết luận: 147

Kiến nghị: 150

DANH MỤC MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

GDQP-AN Giáo dục quốc phòng an ninh

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tiêu chuẩn rèn luyện thể lực Bộ Công An đối với

Bảng 3.1 Các tiêu chí đánh giá đánh giá hoạt động TDTT

ngoại khóa theo đề xuất của chuyên gia 56

Bảng 3.2 Kết quả mô tả thống kê về các tiêu chí được phỏng

Bảng 3.3 Hệ số tin cậy tổng thể của các tiêu chí 57

Bảng 3.4 Mối tương quan đa bội giữa các tiêu chí đánh giá

Bảng 3.5 Mối tương quan với biến tổng và hệ số tin cậy của

từng tiêu chí

Error! Bookmark not defined

Bảng 3.6 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo liên quan đến

công tác GDTC của nhà trường hiện nay 60

Bảng 3.7 Số lượng và trình độ giảng viên Giáo dục thể chất

tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 62

Bảng 3.8 Chuyên môn đào tạo giảng viên Giáo dục thể chất

tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 64

Bảng 3.9 Mức độ quan tâm giảng viên đối với hoạt động

Bảng 3.10

Cơ sở vật chất phục vụ công tác Giáo dục thể chất

và hoạt động TDTT ngoại khóa tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

66

Trang 10

Bảng 3.11 Kinh phí đành cho hoạt động TDTT ngoại khóa

Bảng 3.12 Sự đáp ứng của nội dung TDTT ngoại khóa đối với

Bảng 3.13 Sự đảm bảo và phù hợp của nội dung TDTT ngoại

khóa đối với sự phát triển lực của nam sinh viên 70

Bảng 3.14 Tầm quan trọng của việc phát triển thể lực cho sinh

viên thông qua nội dung TDTT ngoại khóa 72

Bảng 3.15 Môn TDTT ngoại khóa nào phù hợp với điều kiện

Bảng 3.15 Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động TDTT

Bảng 3.16 Đánh giá tính chuyên cần trong lựa chọn các hình

thức tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên 75

Bảng 3.17 Công tác hướng dẫn sinh viên tập luyện TDTT

Bảng 3.18 Thực trạng về tình hình tập luyện TDTT ngoại

Bảng 3.19 Nhu cầu tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên 79

Bảng 3.20 Sự hứng thú tập luyện chương trình TDTT ngoại

Bảng 3.21 Thực trạng thể lực của nam sinh viên Trường Cao

Bảng 3.22 Thực trạng phân loại thể lực ở nam sinh viên

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II (n = 480) 83 Bảng 3.23 Mức độ hài lòng của sinh viên về chương trình 85

Trang 11

TDTT ngoại khóa

Bảng 3.24 Phân loại kết quả học tập môn GDTC của sinh viên

nam Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II 86

Bảng 3.25 Nhận thức của sinh viên về tập luyện TDTT ngoại

Bảng 3.28 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến tập luyện TDTT

Bảng 3.29 Đánh giá điều kiện giảng dạy TDTT của Giảng

Bảng 3.30 Kết quả phỏng vấn nội dung môn Bóng đá ngoại

Bảng 3.31 Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung

chương trình môn học Bóng chuyền ngoại khóa 102

Bảng 3.32 Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung

chương trình môn học Bơi lội ngoại khóa 106

Bảng 3.33 Kết quả phỏng vấn về việc lựa chọn nội dung

chương trình môn học Cầu lông ngoại khóa Sau 107

Bảng 3.34 Phân phối thời lượng cho từng nội dung giảng dạy

Bảng 3.35 Phân phối thời lượng cho từng nội dung giảng dạy

Bảng 3.36 Phân phối thời lượng cho từng nội dung giảng dạy 113

Trang 12

môn Bơi lội ngoại khóa

Bảng 3.37 Bảng phân phối thời lượng cho từng nội dung

giảng dạy môn Cuầ lông ngoại khóa Sau 114

Bảng 3.38 Kết quả kiểm tra thể lực các nhóm trước thực

nghiệm chương trình TDTT ngoại khóa Sau 118 Bảng 3.39 Các hệ số Phân tích phương sai ANOVA 120

Bảng 3.40 Kết quả so sánh thể lực của các nhóm trước thực

Bảng 3.41 Kết quả kiểm tra thể lực các nhóm sau thực nghiệm

Bảng 3.42 Kết quả phân tích ANOVA sau thực nghiệm

Bảng 3.43 Kết quả so sánh các chỉ tiêu thể lực của các nhóm

Bảng 3.44 Thống kê mô tả so sánh thể lực trước và sau thực

Bảng 3.45 Hệ số tương quan của các chỉ tiêu thể lực trước và

Trang 13

Bảng 3.51 Số sinh viên hài lòng với chương trình TDTT

Bảng 3.52 Thông kê mô tả trị trung bình về Sự hài lòng với

Bảng 3.53 Kiểm nghiệm Chi-Square Tests giữa các nhóm 140

Bảng 3.54 Sự hài lòng về chương trình TDTT ngoại khóa

Bảng 3.55

Sự đáp ứng yêu cầu của nội dung chương trình TDTT ngoại khóa theo đánh giá của giảng viên và CBQL

141

Bảng 3.56

Sự đảm bảo của nội dung chương trình TDTT ngoại khóa đối với sự phát triển lực của nam sinh viên

142

Bảng 3.57

Mức độ phù hợp của chương trình TDTT ngoại khóa đối với điều kiện hiện tại của Nhà trường theo đánh giá của giảng viên và CBQL

143

Bảng 3.58

Mức độ phù hợp của chương trình thể thao ngoại khóa với điều kiện của Nhà Trường theo đánh giá của các nhóm sinh viên

Sau 143

Bảng 3.59 Kết quả kiểm nghiệm Chi-Square Tests 144

Trang 14

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nhà trường 61 Biểu đồ 3.2 Thâm niên công tác cán bộ giảng viên GDTC 63 Biểu đồ 3.3 Độ tuổi cán bộ giảng viên GDTC 63 Biểu đồ 3.4 Chuyên môn đào tạo giảng viên Giáo dục thể chất 64

Biểu đồ 3.5 Mức độ quan tâm của giảng viên đối với hoạt động

Biểu đồ 3.9 Tầm quan trọng của việc phát triển thể lực cho sinh

viên thông qua nội dung TDTT ngoại khóa 72

Biểu đồ 3.10 Môn TDTT ngoại khóa nào phù hợp với điều kiện

Biểu đồ 3.11 Hướng dẫn sinh viên tập luyện TDTT ngoại khóa của

Biểu đồ 3.12 Nhu cầu tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên 80

Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ % sinh viên hứng thú tập luyện TDTT ngoại

Biểu đồ 3.14 Thực trạng thể lực chung ở nam sinh viên Trường

Biểu đồ 3.15 Mức độ hài lòng của sinh viên về chương trình

Biểu đồ 3.16 Tỷ lệ % phân loại kết quả học tập GDTC của nam 86

Trang 15

Biểu đồ 3.22 Kết quả kiểm tra thể lực trước và sau thực nghiệm

Biểu đồ 3.25 Sự hứng thú tập luyện TDTT ngoại khóa ở các nhóm 135

Biểu đồ 3.26 Tần số sinh viên các nhóm hài lòng về chương trình

Biểu đồ 3.27 Giá trị trung bình chung về sư hài lòng của sinh viên

đối với chương trình TDTT ngoại khóa 139

Biểu đồ 3.28 Sự đáp ứng yêu cầu, sự đảm bảo và sự phù hợp của

Biểu đồ 3.29 Kết quả đánh giá của sinh viên về mức độ phù hợp

tổng thể của môn thể thao ngoại khóa Sau 143

Trang 16

LỜI MỞ ĐẦU

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, lực lượng Cảnh sát Nhân dân được Đảng, nhà nước và nhân dân giao nhiệm vụ phòng chống các thế lực thù địch và các loại tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn

xã hội Chính vì vậy điều tất yếu cần phải xây dựng lực lượng Cảnh sát Nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại, có kỷ luật nghiêm minh, bản lĩnh vững vàng, có sức mạnh và năng lực chiến đấu cao Đây là yếu tố quan trọng giúp cho mỗi người cán bộ chiến sĩ Cảnh sát Nhân dân hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang trên đường hội nhập quốc

tế một cách đa phương và toàn diện, lực lượng Cảnh sát Nhân dân không chỉ được trang bị bản lĩnh chính trị vững vàng, có kiến thức pháp luật, giỏi về năng lực chuyên môn nghiệp vụ, mà phải thường xuyên được tham gia tập luyện nhằm hoàn thiện kỹ năng quân sự, nâng cao trình độ võ thuật và tăng cường phát triển thể chất, đủ năng lực, thích nghi với mọi điều kiện công tác chiến đấu

Vì vậy, công tác xây dựng lực lượng Cảnh sát Nhân dân trong giai đoạn mới Được Bộ Công an chú trọng nhiều mặt, trong đó đặt biệt quan tâm đến việc chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định về huấn luyện quân sự, luyện tập võ thuật và công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao, nội khoá và ngoại khoá của học sinh, sinh viên Giáo dục thể chất trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học Điều 4 và Điều 20 (Luật Thể dục thể thao) ghi rõ Chính sách nhà nước về giáo dục thể chất và thể dục thể thao trong nhà trường Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học Thông

Trang 17

qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện Hoạt động thể dục thể thao, ngoại khoá giúp cho sinh viên tăng cường sức khoẻ để học tập và công tác sau này Thực hiện mục tiêu đào tạo, giáo dục bồi dưỡng toàn diện đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát Nhân dân nói chung và nam sinh viên các Trường Cảnh sát nói riêng là một nội dung cơ bản để xây dựng lực lượng Cảnh sát chính quy, tinh nhuệ, hiện đại Trên cơ

sở mục tiêu đào tạo chung, công tác giáo dục thể chất trong trường Cao đẳng Cảnh sát phải hoàn thành được các mục tiêu cụ thể, rèn luyện nâng cao sức khoẻ và phát triển thể chất cho sinh viên, phục vụ cho học tập các học phần, môn học khác, đáp ứng sân chơi, nhu cầu giải trí cho sinh viên

Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II là cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Công an, chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục đào tạo và

Bộ Công an Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II là trường đào tạo ra những sĩ quan cảnh sát tương lai Có chức năng, nhiệm vụ đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng Hiện nay, Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II đang

tổ chức đào tạo sĩ quan cảnh sát giao thông, cảnh sát điều tra tội phạm hình

sự, cảnh sát kinh tế, cảnh sát điều tra về ma tuý, cảnh sát điều tra về tội phạm môi trường, cảnh sát về quản lý hành chánh và trật tự xã hội Với số lượng

600 sinh viên cho mỗi khoá, chủ yếu là nam sinh viên Trường có bộ môn Quân sự võ thuật-thể dục thể thao trực thuộc Ban giám hiệu Về công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao thao còn nhiều hạn chế Chương trình đào tạo theo hình thức niên chế Chương trình giảng dạy giáo dục thể chất, nội dung còn tương đối nghèo nàn, thời gian học tập quá ngắn, chương trình môn GDTC dành cho sinh viên học tập là 75 tiết, như vậy chưa

đủ thời gian để sinh viên tập luyện hình thành kỹ xảo vận động, mà có chăng chỉ dừng lại ở mức độ hình thành kỹ năng vận động Về nội dung, bao gồm

kỹ thuật chạy cự ly ngắn 100m, kỹ thuật chạy cự ly trung bình 1500m, kỹ

Trang 18

thuật nhảy xa kiêu ngồi, kỹ thuật nhảy cao kiểu úp bụng, kỹ thuật bơi ếch, kỹ thuật co tay xà đơn Vì vậy, sinh viên dễ nhàm chán, chưa tạo sự hứng thú trong học tập Trong khi đó, nhà trường lại không có môn học tự chọn cho sinh viên

Về hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá của sinh viên chỉ mang tính

tự phát, các sinh viên thường tự tìm nhóm với nhau để tập luyện và vui chơi các môn mình ưa thích, hàng năm nhà trường chỉ tổ chức thi đấu một số môn thể thao một lần trong năm, sự quan tâm của nhà trường về phong trào thể dục thể thao trong sinh viên chưa thực sự cao Hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu xây dựng nội dung, chương trình hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Sảnh sát Nhân dân II

Quá trình đào tạo đòi hỏi mỗi sinh viên khi ra trường phải có sức khoẻ tốt, đặc biệt là sự phát triển về thể lực mới đáp ứng được nhiệm vụ công tác chiến đấu của lực lượng Cảnh sát Nhân dân

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế nêu trên, nghiên cứu sinh mạnh dạn

lựa chọn đề tài “Nghiên cứu xây dựng nội dung chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II”

Mục đích nghiên cứu:

Xây dựng nội dung chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích tập luyện TDTT ngoại khóa của sinh viên Từ đó, góp phần làm phong phú chương trình các môn TDTT ngoại khóa hiện nay của Trường, đồng thời nâng cao chất lượng học tập GDTC và rèn luyện thân thể thường xuyên của sinh viên ngành Công an càng ngày tốt hơn

Mục tiêu nghiên cứu:

1 Đánh giá thực trạng hoạt động TDTT ngoại khóa của nam sinh viên trong Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

Trang 19

- Xác định các chỉ tiêu đánh giá hoạt động TDTT ngoại khóa của nam sinh viên trong Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Phân tích thực trạng hoạt động TDTT ngoại khóa của nam sinh viên trong Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Các nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động ngoại khóa TDTT của sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

2 Nghiên cứu xây dựng nội dung chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Nguyên tắc xây dựng nội dung chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Các căn cứ xây dựng nội dung chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Xác định nội dung của chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Phân phối thời lượng cho từng nội dung chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Xây dựng tiến trình giảng dạy chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

3 Đánh giá hiệu quả thực nghiệm nội dung chương trình TDTT ngoại khoá cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Tổ chức thực nghiệm nội dung chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm nội dung chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

- Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm nội dung chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II

Trang 20

- Đánh giá sự phù hợp của nội dung chương trình TDTT ngoại khóa cho nam sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II sau thời gian thực nghiệm

Giả thuyết nghiên cứu:

Xây dựng nội dung chương trình TDTT NK cho sinh viên Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II đưa vào tập luyện phù hợp với nhu cầu điều kiện thực tế hiện nay sẽ là nhân tố thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện, nhằm phát triển thể lực, từ đó đáp ứng với tiêu chuẩn rèn luyện thể lực của ngành công an

Trang 21

Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa trong trường học

Bộ Giáo dục và đào tạo và Tổng cục Thể dục Thể thao đã ra Thông tư Liên bộ số 04/04/GDĐT – TDTT về việc đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong sinh viên, học sinh và đưa hoạt động ngoại khoá thể dục thể thao vào trường học để phát động phong trào luyện tập rộng khắp trong nhà trường các cấp với mục tiêu mỗi sinh viên, học sinh biết chơi một môn thể thao[18] Chỉ thị 36/CT – TW ra ngày 24/03/1994 của Ban Bí thư Trung

Ương Đảng [3] nhấn mạnh “ phát triển thể dục thể thao là một bộ phận quan

trọng trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, công tác thể dục thể thao phải góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, phát triển rộng rãi phong trào thể dục thể thao quần chúng với khẩu hiệu:

“khoẻ để xây dựng bảo vệ tổ quốc” Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,

tăng cường bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao đến năm 2020 Ngày 01/12/2011 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng đã ra Nghị quyết số 08 – NQ/

TW [4] Trong Nghị quyết đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học Thể dục thể thao trường học là một bộ phận quan trọng của phong trào thể dục, thể thao, một mặt của giáo dục toàn diện nhân cách học sinh, sinh viên,

cần được quan tâm đầu tư đúng mức, xây dựng và thực hiện: “ Đề án tổng

thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học” Thực hiện tốt giáo

dục thể chất theo chương trình nội khoá, phát triển mạnh các hoạt động thể

Trang 22

thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và

kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao Đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao trường học, bảo đảm yêu cầu phát triển toàn diện góp phần nâng cao thể trạng, tầm vóc người Việt Nam, làm nền tảng cho phát triển thể thao thành tích cao, xây dựng lối sống lành mạnh trong tầng lớp thanh thiếu niên Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể dục thể thao trường học, đổi mới nội dung, giáo trình, chương trình giáo dục thể chất phù hợp với thể chất học sinh, sinh viên Việt Nam và tăng cường tổ chức hoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá cụ thể, linh hoạt

Trong luật Thể dục thể thao, năm 2006 được Quốc hội thông qua và ban hành theo quyết định số 77/2006/ QH 11 Điều 20 có nêu hoạt động thể dục thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người học, được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao Điều 22, về trách nhiệm của nhà trường Tổ chức thực hiện chương trình môn học giáo dục thể chất theo quy định của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, tổ chức cho người học tham gia các hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa Điều

23, đối với giảng viên thể dục thể thao có quyền và nghĩa vụ, giảng dạy môn học giáo dục thể chất theo đúng chương trình, tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu thể thao Điều 24, quyền

và nghĩa vụ của sinh viên, thực hiện nhiệm vụ môn học giáo dục thể chất, được tham gia hoạt động thể dục thể thao theo sở thích, được sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện giáo dục thể chất và thể dục thể thao trong nhà trường

Trang 23

Đối với lực lượng công an nhân dân nói chung và lực lượng cảnh sát nhân dân nói riêng là một trong những lực lượng vũ trang trọng yếu của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo

vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và chế độ xã hội và chăm lo cuộc sống bình yên của nhân dân Điều 47, Hiến pháp Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam năm 1992 ghi rõ: “ Nhà nước xây dựng Công an nhân dân Cách mạng,

chính quy, từng bước hiện đại dựa vào nhân dân và làm nòng cốt cho phong trào nhân dân” Và Điều 9, Luật Công an Nhân dân năm 2005, đã xác định: “ Nhà nước có chính sách đào tạo, bồi dưỡng sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Công an Nhân dân, xây dựng Công an Nhân dân Cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.” Trong các Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ

VIII, IX, X và XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đều xác định mục tiêu:

“ xây dựng Công an nhân dân Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại ” Quyết định số 53/2008, Ngày 18/9/2008 Bộ trưởng bộ GDĐT ký ban hành quyết định về việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên.trong đó nêu rõ đánh giá kết quả rèn luyện thể lực toàn diện của người học trong nhà trường,điều chỉnh nội dung, phương pháp GDTC phù hợp với các trường ở các cấp học và trình độ đào tạo, đẩy mạnh thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khoẻ để học tập, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.Việc đánh giá, xếp loại thể lực học sinh sinh viên phải phù hợp lứa tuổi gới tính của học sinh, sinh viên trong nhà trường ở các cấp và trình độ đào tạo [9]

Thông tư số 24/2013/TT-BCA, Ngày 24/3/2013, Bộ trưởng bộ Công

an ký ban hành Thông tư qui định tiêu chuẩn rèn luyện thể lực trong lực lượng Công an nhân dân.[8]

Trang 24

Để tăng cường thể lực cho cán bộ, chiến sĩ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong lực lượng Công

an nhân dân

Nội dung kiểm tra: chạy cự ly ngắn 100m, chạy cự ly trung bình 1500m, tại chỗ bật xa, nằm sấp chống đẩy hoặc co tay xà đơn (áp dụng cho nam); đối với nữ, chạy 100m, chạy 800m, tại chỗ bật xa

Thông tư nêu rõ rèn luyện thể lực theo tiêu chuẩn là quyền và trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ công an Bộ yêu cầu mỗi cán bộ, chiến sĩ tích cực, tự giác, tự mình luyện tập thể dục thể thao, mỗi ngày dành ra ít nhất 30 phút để tập luyện và biết chơi một môn thể thao Các học viên trường Công

an kết hợp đưa nội dung rèn luyện thể lực theo tiêu chuẩn vào chương trình giảng dạy môn học thể dục thể thao cho học sinh, sinh viên

Kiểm tra rèn luyện thể lực theo tiêu chuẩn được tổ chức định kỳ mỗi năm một lần, có thể chia làm nhiều đợt để tất cả cán bộ, chiến sĩ được tham gia kiểm tra Đánh giá về tiêu chuẩn thể lực học sinh sinh viên, Ngày 19/08/2008, Bộ trưởng bộ GD&ĐT ký ban hành quyết định về việc đánh giá, xếp loại tể lực học sinh sinh viên Mục đích đánh giá kết quả rèn luyện thể lực toàn diện của người học trong nhà trường, điều chỉnh nội dung, phương pháp GDTC phù hợp với các trường ở các cấp học và trình độ đào tạo,đẩy mạnh thường xuyên rèn luyện thân thể, nâng cao sức khoẻ để học tập xây dựng và bảo vệ tổ quố, trong quá trình hội nhâp quốc tế.Việc đánh giá xếp loại thể lực phải phù hợp lứa tuổi giới tính của học sinh sinh viên trong nhà trường ở các cấp và trinh độ đào tạo

1.2 Các khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Thể dục thể thao: là một một bộ phận của nền văn hóa – xã hội, TDTT

là sự tổng hợp của những thành tựu của xã hội trong sự nghiệp sang tạo nên

và sử dụng hợp lý những phương tiện, phương pháp vá các biện pháp chuyên

Trang 25

môn để nâng cao sức khỏe, bồi dưỡng thể lực, trí lực của nhân dân góp phần giáo dục và phát triển con người toàn diện TDTT là một loại hình hoạt động

mà phương tiện cơ bản là các bài tập thể lực.[41]

Thể chất là chất lượng cơ thể con người, đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái, chức năng của cơ thể được hình thành và phát triển

do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống bao gồm cả giáo dục và rèn luyện.[41]

Thể lực là một loại năng lực hoạt động vận động của thân thể người (đây là nội hàm cơ bản) Chỉ năng lực sức mạnh, sức nhanh, sức bền, linh hoạt, mềm dẻo và năng lực khác của con người biểu hiện trong vận động, lao động và đời sống Thể lực chung gọi tắt của tố chất thân thể hay tố chất thể lực chung, đáp ứng cho các hoạt động chung trong vận động, lao động và đời sống; thể lực chuyên môn gọi tắt của tố chất thân thể hay tố chất thể lực chuyên môn phù hợp cho một môn thể thao nhất định Thể lực trong một số trường hợp có thể hiểu theo nghĩa rộng, ngoài năng lực hoạt động, vận động của thân thể người còn bao hàm kết cấu hình thái bên ngoài của con người (quy cách cơ thể như Chiều cao hoặc tầm vóc, thể trọng, chu vi, kích thước,

mỡ dưới da ) [40]

Theo Nguyễn Quang Quyền, “Phát triển thể chất là một quá trình diễn

ra liên tục trong suốt cuộc đời của cá thể Những biến đổi hình thái, chức năng sinh lý và tố chất vận động là những yếu tố cơ bản để đánh giá sự phát triển thể chất Phát triển thể chất là một quá trình chịu sự tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên- xã hội Trong đó, các yếu tố xã hội đóng vai trò ảnh hưởng trực tiếp và quyết định sự phát triển thể chất của cơ thể con người”

[53]

Theo A.M Macximenko, “Phát triển thể chất là quá trình và kết quả

của sự biến đổi về hình thái và khả năng chức phận của cơ thể con nguời, đạt

Trang 26

được dưới ảnh hưởng của di truyền, môi trường sống và mức độ tích cực vận động của cá nhân” [1]

Đánh giá sự phát triển thể chất, dùng các chỉ số nhân trắc như cân nặng, chiều cao, vòng đầu, vòng cánh tay, chỉ số khối cơ thể (BMI), dung tích sống…

Giáo dục thể chất là quá trình sư phạm nhằm giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện thể chất và nhân cách nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ, trong quá trình giáo dục thể chất, hình thái và chức năng các cơ quan trong cơ thể được từng bước hoàn thiện, hình thành và phát triển các tố chất thể lực, kỹ năng, kỹ xảo vận động và hệ thống chi thức chuyên môn Giáo dục thể chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện năng lực vận động của con người, giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục, mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động và phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người.[41]

Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục, nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức,

kỹ năng, kỹ xảo, … từ thế hệ này cho thế thế hệ khác Điều đó có nghĩa là, giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó (vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh, sinh viên, với nguyên tắc sư phạm, …).[53]

Giáo dục thể chất là một hình thức giáo dục, nhằm trang bị kỹ năng, kỹ xảo vận động và những tri thức chuyên môn (giáo dưỡng), phát triển tố chất thể lực, tăng cường sức khoẻ

Như vậy, Giáo dục thể chất có thể chia thành hai mặt tương đối độc lập: dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục các tố chất thể lực Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất Đó là quá trình

Trang 27

trang bị những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản, cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn

Bản chất của thành phần thứ hai trong Giáo dục thể chất là tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất vận động, đảm bảo phát triển các năng lực vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, …)

Như vậy, Giáo dục thể chất là một loại giáo dục có nội dung đặc trưng

là dạy học động tác và giáo dục các tố chất vận động của con người Việc dạy học động tác và phát triển các tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ, làm tiền

đề cho nhau, thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau Nhưng chúng không bao giờ đồng nhất, giữa chúng có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và Giáo dục thể chất khác nhau

Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của Giáo dục thể chất được gắn liền với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động Giáo dục thể chất trong nhà trường là quá trình hoạt động thống nhất và đồng thời giữa hai mặt: giảng dạy, học tập và rèn luyện

Giảng dạy là thông qua giáo viên truyền thụ những kiến thức kỹ thuật, phương pháp vận động cơ bản cần thiết, để người học sinh có khả năng tự vận động, tự rèn luyện

Học tập rèn luyện là quá trình mỗi học sinh tự chủ động, tích cực vận động những kiến thức đã học, đã tiếp thu được để rèn luyện, biến quá trình đào tạo của nhà trường thành quá trình tự rèn luyện một cách sáng tạo có hiệu quả

Giáo dục thể chất có tính đặc thù rõ rệt, nó có tính độc lập riêng, song

nó lại gắn bó hữu cơ với các mặt hoạt động, rèn luyện, giáo dục những con người phát triển toàn diện

Các hình thức Giáo dục thể chất: Giáo dục thể chất trong các trường học phải được tiến hành bằng các hình thức sau đây: Giờ học chính khoá thể

Trang 28

dục thể thao; Giờ học ngoại khoá: luyện tập trong các câu lạc bộ, tham gia các cuộc thi đấu thể thao ở trong và ngoài trường

Theo P.Ph Lexgaphơtơ (1837- 1909), Nhà bác học Nga nổi tiếng, nhà

sư phạm, nhà hoạt động xã hội, người sáng lập học thuyết về giáo dưỡng thể chất, bản chất của giáo dưỡng thể chất là làm sao để học, tách riêng các cử động ra và so sánh chúng với nhau, điều khiển có ý thức các cử động đó và thích nghi với các trở ngại, đồng thời khắc phục các trở ngại đó sao cho khéo léo và kiên trì

Hoàn thiện thể chất là mức độ quy định có tính chu kỳ và thời gian về sức khỏe, phát triển toàn diện về năng lực thể chất, để phù hợp với những yêu cầu hoạt động của con người trong những điều kiện cụ thể cuả lao động, sản xuất, đời sống xã hội đảm bảo năng xuất lao động và kéo dài tuổi thọ

Hoạt động TDTT ngoại khóa: Hoạt động TDTT ngoại khóa là hoạt động TDTT tự nguyện có tổ chức được tiến hành ngoài giờ học chính khóa “Phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khoẻ của HSSV” [34]

1.3 Đặc điểm tâm lý, sinh lý và tố chất thể lực sinh viên lứa tuổi 19-22 1.3.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên

1.3.1.1 Đặc điểm tự ý thức của sinh viên

Một trong những đặc điểm tâm lí quan trọng nhất của lứa tuổi SV là phát triển tự ý thức Đó là ý thức và sự tự đánh giá của SV về hành động, kết quả tác động của mình, tư tưởng, tình cảm, tác phong đạo đức, hứng thú, động cơ của hành vi, hoạt động, là sự đánh giá toàn diện về bản thân mình và

vị trí của mình trong cuộc sống.[62]

Tự ý thức bao gồm cả tự quan sát bản thân, tự phân tích, tự trọng, tự đánh giá, tự kiểm tra hoạt động và nhân cách của mình Tự ý thức được xem như là một loại đặc biệt của ý thức trong đời sống cá nhân, có chức năng tự điều chỉnh hành động và thái độ đối với bản thân

Trang 29

1.3.1.2 Hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên

Hoạt động học tập ở ĐH là hoạt động tâm lí của SV được tổ chức một cách độc đáo, nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị cho SV trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện và có trình độ nghiệp vụ cao

Hoạt động nghiên cứu khoa học của SV có ý nghĩa khá quan trọng trong việc góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, giúp SV tiếp cận và giải quyết một số vấn đề khoa học và thực tiễn

1.3.1.3 Động c học tập của sinh viên

Bất cứ hoạt động nào cũng được thúc đẩy, kích thích bởi động cơ Động

cơ là cái vì nó mà người ta hoạt động để đạt mục đích đã định Vì vậy, hoạt động học tập của sinh viên cũng được kích thích, thúc đẩy bởi động cơ nào đó.[61]

Động cơ học tập của SV cũng được xem là sự vật, hiện tượng kích thích, thúc đẩy SV học tập để nắm vững tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách

Những sự vật hiện tượng có thể trở thành động cơ học tập, bắt nguồn từ hai nguồn gốc:

- Nguồn gốc bên ngoài: Đó là gia đình, nhà trường, xã hội, địa vị cá nhân Những mong đợi của gia đình, xã hội, kỳ vọng của người thân đối với sinh viên

- Nguồn gốc bên trong: Xuất phát từ nhu cầu hiểu biết hoàn thiện tri thức, hứng thú học tập,…

Những sự vật hiện tượng này kết hợp với nhau, tác động kích thích sinh viên học tập được gọi là dộng cơ học tập của sinh viên Dựa vào mục đích học tập của sinh viên, các nhà nghiên cứu cho thấy, ở sinh viên hiện nay có rất nhiều động cơ học tập có thể chia làm 5 loại như: Động cơ xã hội, động

Trang 30

cơ nghề nghiệp, động cơ nhận thức, động cơ tự khẳng định mình, động cơ vụ lợi

- Động cơ xã hội: Đó là những sinh viên thể hiện ý thức về các nhu cầu, lợi ích của xã hội, về các mục đích và chuẩn mực xã hội

- Động cơ nghề nghiệp: Đó là những sinh viên mong muốn nắm được nghề nào đó, hứng thú với nghề đã chọn và có khả năng sáng tạo nghề nghiệp

- Động cơ nhận thức: Thể hiện ở chỗ sinh viên có nhu cầu học tập, học tập để nâng cao sự hiểu biết, hoàn thiện bản thân, biết được nhiều điều mới lạ,…

- Động cơ tự khẳng định mình: Đó là những sinh viên có ý thức về năng lực khả năng của mình Trong học tập muốn thể hiện được mong muốn và khả năng đó

- Động cơ vụ lợi: Đó là những SV học tập để có địa vị xã hội, có lương cao,…

Những động cơ này kích thích, thúc đẩy SV tích cực học tập, ở những

SV khác nhau thì thể hiện các động cơ này ở những mức độ cũng khác nhau [62]

1.3.1.4 Động c tham gia thể thao của con người

Bản thân vận động là một nhu cầu của sự sống, bởi bản chất của sự sống

là sự vận động Vì vậy, bảo vệ, tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ là một ước muốn, một nhu cầu tiềm ẩn trong mỗi con người Ước muốn này đặt biệt

rõ ở những người có tuổi, những người có vấn đề về sức khỏe

Mong muốn có một thể hình đẹp là một ước muốn của mọi cá nhân, điều này đặc biệt rõ ở nam và nữ thanh niên

Nhu cầu thưởng thức sự hấp dẫn, vẻ đệp của môn thể thao, thỏa mãn cảm giác dễ chịu do môn thể thao mang lại

Trang 31

Do khác nhau về giới tính lứa tuổi, điều kiện kinh tế, lối sống mà hứng thú, sở thích và động cơ tập luyện của quần chúng cũng rất đa dạng: Người lớn tuổi: tập dưỡng sinh, thái cực quyền…; Thanh niên: các môn võ, môn bóng, ; Nữ thanh niên: nhịp điệu, khiêu vũ,…

Sở thích của thiếu niên thì đa dạng hơn, nhưng nhìn chung các em không thích những môn có tính đơn điệu [44] [62]

Động cơ tham gia thể thao là một mặt ý thức của người tập trong đó phản ánh tư tưởng, tình cảm thúc đẩy họ tham gia tập luyện Động cơ miêu tả trạng thái kích thích bên trong, điều khiển và chỉ đạo hành vi

Schiffman & Kanuk (2001) Đề xuất một định nghĩa chung cho động cơ tham gia thể thao phản ánh quá trình với 5 giai đoạn: nhu cầu về sự thừa nhận; giảm bớt căng thẳng; trạng thái nổ lực; sự mong muốn; mục tiêu hướng tới hành vi

Nhận xét về một số đặc điểm tâm lí sinh viên: Mỗi một lứa tuổi khác nhau đều có những đặc điểm tâm lý nổi bật, chịu sự chi phối của hoạt động chủ đạo Tuy nhiên ở lứa tuổi SV có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của SV [62]

1.3.2.Đặc điểm sinh lý của sinh viên

- Hệ thần kinh: Kích thước não và hành tủy đạt tới mức người trưởng

thành Hành động phân tích và tổng hợp của vỏ não tăng lên, tư duy trừu tượng đã hình thành tốt, điều khiển thần kinh chiếm vai trò chủ đạo, khả năng

Trang 32

định hướng trong không gian đạt tới mức trưởng thành, khả năng điều chỉnh

về lực của tác động đến mức hoàn chỉnh [29]

- Hệ cơ xương: Ở lứa tuổi này, cơ thân mình phát triển nhất Sau khi kết

thúc thời kỳ tăng trưởng cơ thể, chiều cao cơ thể phát triển chậm lại, độ dày

cơ bắp bắt đầu phát triển nhanh, sợi cơ dày lên rõ rệt, trọng lượng cơ thể tăng lên, sức mạnh cơ bắp phát triển đáng kể, sức mạnh tối đa của các nhóm cơ khác tăng từ 9-14 lần

-Trao đổi chất và năng lượng: Chu kỳ hô hấp và độ sâu hô hấp tăng lên,

sức bền ưa khí tăng mạnh, sức bền được đánh giá qua khả năng hấp thụ ox tối

đa tăng 3,5lần/p ở lứa tuổi 18-22

- Hệ tuần hòan: Mạch bắt đầu ổn định khoảng 70-80 l/phút

- Huyết áp: Bắt đầu ổn định, huyết áp tối đa do vận động với công suất lớn tăng khoảng 50mmHg

1.3.3 Đặc điểm các tố chất thể lực của sinh viên

Sự thay đổi các tổ chất thể lực trên cơ sở của sự phát triển hình thái, chức năng Nó thay đổi theo lứa tuổi, giới tính, có tính làn sóng và tính giai đoạn Sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình trưởng thành diễn ra không đồng bộ, mỗi tố chất phát triển theo nhịp độ riêng và vào từng thời kỳ khác nhau Các tố chất thể lực bao gồm: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo, khéo léo [40]

1.3.3.1 Sức mạnh

Sức mạnh phụ thuộc vào hệ vận động vì nó có liện hệ mật thiết với các

tổ chức xương, cơ, dây chằng, năng lực khống chế và điều hòa cơ Ở tuổi trưởng thành, sự phát triển các nhóm cơ không đồng đều nên tỷ lệ sức mạnh của các nhóm cơ cũng thay đổi theo lứa tuổi Trong khi đó sức mạnh của các nhóm cơ duỗi phát triển nhanh hơn nhóm cơ co, cơ hoạt động nhiều sẽ phát

Trang 33

triển nhanh hơn cơ hoạt động ít, ở độ tuổi 18 – 21 thì sức mạnh cơ bắp có sự phát triển với nhịp độ cao và có tính chất đột biến

1.3.3.2 Sức nhanh

Tốc độ là một tố chất vận động đặc trưng bởi thời gian tiềm tàng của phản ứng, tần số động tác và tốc độ động tác đơn lẻ Trong hoạt động thể lực, tốc độ biểu hiện một cách tổng hợp Tốc độ của động tác đơn lẻ biến đổi rõ rệt trong quá trình phát triển Nếu được tập luyện thì tốc độ của động tác đơn

lẻ sẽ phát triển tốt hơn

1.3.3.3 Sức bền

Sức bền phát triển đến 21 – 22 tuổi thì đạt đỉnh cao, sức bền có liên quan mật thiết đến chức năng hệ thống tuần hoàn, hô hấp, … và khả năng ổn định của cơ thể, tố chất sức bền cũng biến đổi đáng kể trong các hoạt động tĩnh lực cũng như động lực Sức bền ưa khí phát triển mạnh vào độ tuổi 18 –

22, trong khi sức bền yếm khí phát triển mạnh ngay ở lứa tuổi 12 – 17

1.3.3.4 Khéo léo

Tố chất vận động khéo léo thể hiện khả năng điều khiển các yếu tố thể lực, không gian, thời gian của động tác Một trong các yếu tố quan trọng của khéo léo là định hướng chính xác trong không gian Khả năng này phát triển cao nhất ở lứa tuổi 7 – 10 tuổi từ 10 – 12 tuổi khả năng này ổn định và ở tuổi

14 – 15 giảm xuống đến 16 – 17 tuổi khả năng định hướng trong không gian

sẽ đạt mức độ người lớn

1.3.3.5 Mềm dẻo

Tố chất mềm dẻo là góc độ hoạt động của các khớp của cơ thể con người, nó là khả năng kéo dải của dây chằng và cơ bắp Độ mềm dẻo không phát triển đồng đều theo sự phát triển của lứa tuổi Độ linh hoạt của cột sống

ở nam tuổi 7 – 14 nâng cao rõ rệt và đạt chỉ số lớn nhất vào tuổi 15 Khi lớn

Trang 34

lên phát triển chậm lại Độ linh hoạt phát triển cao vào độ tuổi 12 – 13, biên

độ khớp hông lớn nhất vào độ tuổi 7 – 10 sau đó phát triển chậm lại.[41] Nhận xét về đặc điểm phát triển các tố chất thể lực của sinh viên: Sự phát triển hài hòa các tố chất thể lực của cơ thể là một trong những nhiệm vụ

vô cùng quan trọng trong công tác GDTC cho HSSV Thể lực tốt sẽ tạo điều kiện để cơ thể phát triển dễ dàng và kích thích hoạt động của hệ hô hấp, tuần hoàn, giúp quá trình tiêu hóa được tốt hơn Đây là một trong những điều kiện chính để giúp cho cơ thể có sức khoẻ ổn định, bởi, việc lưu thông tuần hoàn máu tốt sẽ giúp cơ thể có đủ dưỡng chất và dưỡng khí, đồng thời loại bỏ các chất độc ra ngoài cơ thể Khi có sức khoẻ tốt các em sẽ tham gia học tập và hoạt động tốt hơn

1.4 Thể dục thể thao ngoại khoá trong nhà trường

Cùng với giờ học giáo dục thể chất nội khoá, hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục phẩm chất ý chí, nhân cách cho học sinh, sinh viên Thể dục thể thao ngoại khoá còn là môi trường thuận lợi, đầy tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao cho quốc gia Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay, thể dục thể thao ngoại khoá càng có ý nghĩa tích cực về mặt cộng đồng, hướng thế hệ trẻ vào các sinh hoạt thể thao lành mạnh Do đó, nghiên cứu hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá trong các trường học ở nước ta làm cơ sở phát triển chung cho phong trào thể dục thể thao sinh viên

cả nước là rất cần thiết

Theo các quyết định số 72/2008/QĐ-BGD&ĐT về việc ban hành quy định tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa cho học sinh sinh viên Theo nghị quyết và luật thể dục thể thao thì hoạt động thể dục thể thao là hoạt động tự nguyện của người học được tổ chức theo phương thức ngoại khóa phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe nhằm tạo điều kiện

Trang 35

cho người học thực hiện quyền vui chơi giải trí phát triển năng khiếu về thể dục thể thao Hoạt động thể dục thể thao ngoại khóa tạo sự chuyển biến về thể thao trong nhà trường góp phần nâng cao thể trạng và tầm vóc của người Việt Nam.[34]

Hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá, là hoạt động của sinh viên ngoài giờ lên lớp, không nằm trong chương trình chính khoá Hoạt động ngoại khoá được tổ chức dựa trên tinh thần tự nguyện của sinh viên Hoạt động ngoại khoá do nhà trường tổ chức và quản lý, là những hoạt động bổ ích, có tác dụng bổ sung và hỗ trợ chương trình chính khoá, giúp nâng cao chất lượng đào tạo và tạo môi trường học tập áp dụng thực tiễn cho sinh viên Hoạt động ngoại khoá gắn liền với chương trình chính khoá Hoạt động ngoại khoá, thực chất là sự tiếp nối hoạt động chính khoá trên lớp

Hoạt động thể dục thể thao nói chung và ngoại khoá là một hoạt động trò chơi, một hình thức thi đấu đặc biệt, chủ yếu và phần nhiều bằng sự vận động thể lực, nhằm phát huy những năng lực chuyên biệt, đạt thành tích cao,

và còn là những quan hệ chuẩn mực, những thành tựu đạt được trong hoạt động này Hoạt động thể dục thể thao trong nhà trường có ý nghĩa quan trọng

và rất thiết thực, góp phần nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực, rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý chí và lối sống lành mạnh cho sinh viên, học sinh Đồng thời, góp phần tích cực tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp và bảo vệ tổ quốc, là môi trường thuận lợi và giàu tiềm năng để phát triển và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước Có thể nói, hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cho sinh viên hiện nay là cần thiết, nhằm tăng cường cho đất nước những nguồn lực lao động có chất lượng, đồng thời, đáp ứng mục tiêu đào tạo chung Hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá phải thường xuyên, liên tục, xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, sân bãi, thành lập các câu lạc

bộ, hoạt động nhóm, tham gia giao lưu, thi đấu.[34]

Trang 36

1.4.1 Vai trò và nguyên tắc tổ chức thể dục thể thao ngoại khoá

Hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá có vị trí quan trọng trong giáo dục và thể dục thể thao trường học Các hoạt động ngoại khoá kết hợp cùng với các hoạt động dạy học, cấu thành một cấu trúc giáo dục trường học hoàn chỉnh, góp phần hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục Thể dục thể thao ngoại khoá cùng với giáo dục thể chất chính khoá là một thể thống nhất của thể dục thể thao trường học và song song tồn tại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, không thể thiếu mặt nào Trong quá trình tổ chức tập luyện thể thao, còn có thể giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ: tăng cường sức khoẻ, phát triển toàn diện và hài hoà; giáo dục tố chất thể lực và hình thành các kỹ năng, kỹ xảo vận động cần thiết trong sinh hoạt và lao động; trang bị những tri thức cần thiết để thực hành thể dục thể thao trong lao động và đời sống hàng ngày; hình thành thế giới quan duy vật, sự giác ngộ về chính trị, giáo dục chủ nghĩa yêu nước, ý thức tập thể, … đào tạo lực lượng hậu bị cho đội tuyển

Tác giả Trịnh Trung Hiếu đã đưa ra 3 nguyên tắc chung của giáo dục thể dục thể thao là: kết hợp giáo dục thể dục thể thao với thực tiễn lao động

và chiến đấu, phát triển con người toàn diện, nâng cao sức khoẻ

Theo V.P Philin, việc tổ chức giáo dục thể chất ngoài trường học được thực hiện trên các cơ sở luận điểm: phù hợp với các mục tiêu, nhiệm vụ và nguyên tắc giáo dục thể chất; có sự liên hệ phối hợp chặt chẽ của tất cả các ngành, cơ quan, tổ chức quan tâm trực tiếp đến hoạt động này, cũng như của gia đình và xã hội; kế thừa kết quả giáo dục thể chất trong trường học, giúp cho trường học tăng cường, nâng cao và mở rộng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo thể dục thể thao, tổ chức nghỉ ngơi lành mạnh cho học sinh, sinh viên; sử dụng các hình thức hoạt động đa dạng, phù hợp với sự ham thích, đặc điểm lứa tuổi và trình độ thể lực của người tập; thường xuyên dựa trên kỷ luật tực giác, sự ham thích và lợi ích của đối tượng tập luyện; bảo đảm sự chỉ đạo về

Trang 37

phương pháp và việc kiểm tra y học có chất lượng đối với tất cả các hình thức

cơ bản về tập luyện thể dục thể thao ngoài trường học

Như vậy, có thể đúc kết lại, trong khâu tổ chức, hướng dẫn thể dục thể thao ngoại khoá cần nắm rõ đặc điểm phát triển tâm sinh lý đối tượng sinh viên (lứa tuổi, giới tính, sức khoẻ, chuyên ngành, nhu cầu, sở thích thể thao,

…), các điều kiện cần và đủ để thực hiện công tác này Cần lưu ý một số nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Phù hợp với xu hướng phát triển chung và đạt hiệu quả thực tiễn

- Đáp ứng nhu cầu, sở thích của đối tượng

1.4.2 Mục đích của tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá

Tổ chức thể dục thể thao ngoại khoá cho học sinh, sinh viên là việc làm thiết thực Việc làm này, thể hiện rõ qua các mục đích sau:

1.4.2.1 Thỏa mãn nhu cầu vận động của học sinh, sinh viên

Trong suốt những năm học phổ thông, học sinh chỉ được có khoảng 3 giờ học thể dục thể thao chính khoá, trong khi đó, thời gian tập luyện thể dục thể thao ngoại khoá nhiều gấp bội Vận động là nhu cầu cơ bản nhất của học sinh, vì thế, phải có đủ sân bãi, phòng tập thể dục thể thao là điều kiện không thể thiếu để thành lập một trường học đủ chuẩn Thoả mãn nhu cầu vận động cũng là tiêu chí tiên quyết khi phụ huynh lựa chọn trường học cho con em họ

Từ năm học 1994-1995, Bộ Giáo dục và đào tạo đã yêu cầu các trường đại học, cao đẳng thực hiện theo hướng dẫn số 904/ĐH ngày 17/02/1994 về giáo dục thể chất theo quy trình đào tạo mới Theo đó, các trường đảm bảo khối

Trang 38

lượng toàn khoá là 150 tiết, phân làm 2 giai đoạn Nhưng cho đến nay, hầu như rất ít các trường thực hiện đúng yêu cầu này Thực tế cho thấy, việc học giáo dục thể chất chính khoá, mỗi tuần chỉ một buổi (2-3 tiết) và thực hiện nhanh chóng trong 2-3 học kỳ, là chưa đáp ứng nhu cầu vận động, rèn luyện thể chất của học sinh, sinh viên [72]

Tổ chức Y tế thế giới cảnh báo: “Giảm hoạt động thể chất và chương trình giáo dục thể chất trong trường học là một xu hướng đáng báo động trên toàn thế giới” Do đó, tổ chức thêm hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá để thỏa mãn nhu cầu này là điều rất cần thiết.[78]

1.4.2.2 Hình thành chế độ học tập, nghỉ ng i hợp lý

Khi bước vào môi trường đại học, sinh viên sẽ phải đối mặt với hàng loạt các hoạt động đa dạng, mà đòi hỏi họ phải có sự ưu tiên lựa chọn và sắp xếp thời gian hợp lý và khoa học để thích nghi và đạt hiệu quả tốt trong suốt quá trình đào tạo

Trong đó, thể dục thể thao ngoại khoá có vai trò rất quan trọng so với các hoạt động khác Tham gia tập luyện thể dục thể thao ngoại khoá đều đặn, giúp sinh viên có sức khỏe tốt, tạo thói quen rèn luyện thân thể thường xuyên, thư giản, nghỉ ngơi tích cực, qua đó dần dần hình thành

dục là tư tưởng Trí dục là sự hiểu biết về văn hóa, khoa học, kỹ thuật

Mỹ dục là sự hiểu biết về những cái hay, cái đẹp Cuối cùng là thể dục một mục tiêu không thể thiếu theo quan điểm giáo dục của chúng ta, là cơ

Trang 39

sở để tiếp thu tốt đức dục, trí dục, mỹ dục” Do đó, cùng với giáo dục thể chất chính khóa, thể dục thể thao ngoại khoá thể hiện rõ mục đích này

1.4.2.4 Rèn luyện kỹ năng sống qua các hoạt động giao lưu, giao tiếp

Quan hệ giao lưu, giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành

và phát triển tâm lý, nhân cách của học sinh, sinh viên Trong xã hội ngày nay, nếu không được sống, không được hoạt động, giao lưu, giao tiếp với người khác thì học sinh, sinh viên không thể tiếp thu, lĩnh hội kiến thức, những kinh nghiệm lịch sử, xã hội để tạo nên “chất người”

Tham gia hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá, học sinh, sinh viên sẽ có cơ hội cùng gặp gỡ, tập luyện, giao tiếp với một nhóm người, một tập thể, một cộng đồng, , qua đó sẽ hình thành ở họ các kỹ năng sống (quan hệ, giao tiếp, ứng xử, quyết định, thay đổi hành vi, lập mục tiêu, )

Tham gia hoạt động vui chơi và thể thao cho giới trẻ cơ hội để thể hiện sự tự diễn đạt, sự tự tin, giảm căng thẳng, sự thành công, giao tiếp

xã hội cũng như học tập tinh thần đoàn kết và sự công bằng Những tác động tích cực này cũng giúp chống lại những nguy cơ và tác hại do lối sống tĩnh tại, căng thẳng, cạnh tranh và nhiều áp lực gây ra khá phổ biến trong cuộc sống giới trẻ ngày nay Tham gia vào các hoạt động thể chất

và thể thao có hướng dẫn cũng có thể kéo theo các hành vi lành mạnh khác bao gồm tránh rượu, thuốc lá, sử dụng ma túy và hành vi bạo lực cũng như chấp nhận chế độ ăn uống lành mạnh, nghỉ ngơi đầy đủ và thực hành an toàn tốt hơn

Một số nghiên cứu cho thấy rằng, trong số các thanh thiếu niên, thường xuyên tham gia vào các hoạt động thể chất ít có khả năng sử dụng thuốc lá Tương tự, các trẻ em có nhiều hoạt động thể chất thì kết quả học

Trang 40

tập cao hơn Nhóm các môn thể thao và trò chơi tập thể thúc đẩy hội nhập

xã hội tích cực và tạo thuận lợi cho việc phát triển các kỹ năng xã hội ở trẻ

1.4.3 Đặc điểm hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá

Theo Lê Văn Lẫm và Phạm Xuân Thành, khi tổ chức hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá cần lưu ý đến các mặt:[34]

Tính chất hoạt động, thể hiện sự phối hợp giữa tham gia bắt buộc và tự nguyện

Nội dung và không gian hoạt động, nội dung phong phú, linh hoạt không bị hạn chế Không gian địa điểm tiến hành rộng lớn (trong trường hoặc ngoài trường)

Hình thức và thời gian hoạt động, hình thức đa dạng có thể tiến hành

theo cá nhân, nhóm, khóa, trường Thời gian hoạt động linh hoạt có thể tiến hành bất kỳ lúc nào trong ngày, tùy theo điều kiện thời gian của học sinh sinh viên

Vai trò của cán bộ, giáo viên và học sinh, sinh viên, trong thể dục thể thao ngoại khoá cán bộ, giáo viên đóng vai trò chủ đạo, tư vấn, hướng dẫn, định hướng; còn học sinh, sinh viên phát huy vai trò chủ thể qua tích cực chủ động phát huy lòng đam mê, hứng thú thể dục thể thao năng khiếu, năng lực sáng tạo của mình

Quy mô hoạt động thể dục thể thao ngoại khoá Hoạt động thể dục

thể thao thể hiện cần quy mô qua: số lượng học sinh sinh viên, cán bộ, giáo viên thể dục thể thao, cán bộ đoàn, công đoàn, phụ huynh học sinh, sinh viên cùng tham gia Số môn thể thao tổ chức được cho học sinh, sinh viên tập luyện, số giải thi đấu tham gia các cấp trong năm

Quan hệ giữa phổ cập và nâng cao Với đa số học sinh, sinh viên thể

dục thể thao ngoại khoá có tính phổ cập, chủ yếu biết chơi một môn thể

Ngày đăng: 19/02/2021, 08:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w