1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHO VAY TẠI QUỸ hỗ TRỢ PHỤ nữ NGHÈO THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

93 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được Hội LHPN Việt Nam thành lập từ năm 2007 theo mô hình của Ngân hàng Grameen, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô, trực thuộc Hội.. Xuất phát từ

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ QUỲNH TRÂM

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHO VAY

TẠI QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

mã số: 83 40 410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN KHOÁT

Trang 2

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu độc lập của tôi, các thông tin, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Các thông tin sử dụng trong luận văn đều được thu thập từ thực tiễn, tại đơn vị cơ quan Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị và chưa được ai nghiên cứu, công bố bất cứ công trình khoa học nào

Quảng Trị, ngày tháng năm 2019

Nguyễn Thị Quỳnh Trâm

Trang 3

ii

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn, PGS TS Nguyễn Xuân Khoát cùng toàn thể các thầy, cô giáo trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học kinh Huế, Ban giám đốc, các đồng chí, đồng nghiệp công tác tại Quỹ hỗ trợ phụ

nữ nghèo thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Luận văn là quá trình nghiên cứu tâm huyết, sự làm việc khoa học và nghiêm túc của bản thân Tuy nhiên trong quá trình thực hiện do khả năng và trình độ còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định

Tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo và những độc giả quan tâm đến đề tài này

Trang 5

iv

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 3

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 3

6 Kết cấu của luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO 5

1.1 Tổng quan về hộ nghèo, phụ nữ nghèo và Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo 5

1.1.1 Khái niệm nghèo và phụ nữ nghèo 5

1.1.2 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo 6

1.1.3 Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo 10

1.2 Nội dung cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo 12

1.2.1 Các khái niệm 12

1.2.2 Quy trình và thủ tục cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo 14

1.2.3 Vai trò của cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo các tổ chức cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo ở Việt Nam 17

1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả cho vay đối với phụ nữ nghèo 19

1.3.1 Tiêu chí định tính 19

1.3.2 Tiêu chí định lượng 20

1.4 Các điều kiện ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay đối với phụ nữ nghèo 22

1.4.1 Điều kiện khách quan 22

1.4.2 Nhân tố thuộc về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo 23

1.5 Kinh nghiệm cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo ở một số nước trên thế giới và Việt Nam 26

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 26

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 6

v

1.5.2 Kinh nghiệm của một số tổ chức tài chính vi mô trong nước 29

1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho vay rút ra đối với Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà 31

Tóm tắt chương 1 32

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ 33

2.1 Giới thiệu chung về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Việt Nam và Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà 33

2.1.1 Khát quát chung về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Việt Nam 33

2.1.2 Khát quát chung về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà 34

2.2 Phân tích thực trạng cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị 39

2.2.1 Quá trình triển khai thực hiện hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà 39

2.2.2 Tình hình cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà giai đoạn 2014-2017 42

2.2.3 Phân tích tình hình cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà theo các chỉ tiêu định tính và định lượng 52

2.3 Đánh giá chung thực trạng công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà 59

2.3.1 Những kết quả đạt được 59

2.4 Những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 62

2.4.1 Những hạn chế chủ yếu 62

2.4.2 Nguyên nhân của những hạn chế (Xếp theo một số nguyên nhân cơ bản ) 63

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC CHO VAY ĐỐI VỚI PHỤ NỮ NGHÈO TẠI QUỸ HỖ TRỢ PHỤ NỮ NGHÈO THÀN PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ 64

3.1 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà 64

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 7

vi

3.1.1 Định hướng và mục tiêu hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại

Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà 64

3.1.2 Mục tiêu hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà 65

3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác cho vay tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà 66

3.2.1 Nhóm giải pháp về nghiệp vụ 66

3.2.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ 77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

1 Kết luận 80

2 Kiến nghị 81

2.1 Với chính phủ 81

2.2 Với chính quyền các cấp 82

2.3 Với Hội LHPN các cấp 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

BIÊN BẢN CỦA HỘI ĐỒNG

BẢN NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 1

BẢN NHẬN XÉT PHẢN BIỆN 2

BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN TR ƯỜ

I H ỌC

KINH

TẾ HU

Trang 8

vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Danh mục các loại vốn vay của Quỹ 40 Bảng 2.2 : Tình hình dư nợ và tiết kiệm của Quỹ năm 2014-2017 43 Bảng 2.3: Số lượng thành viên tham gia Quỹ giai đoạn 2014-2017 44 Bảng 2.4: T trọng đối tượng thành viên tham gia Quỹ HTPNN TP Đông Hà qua

các năm 2014-2017 46 Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ của các phường tham gia Quỹ HTPPN TP Đông Hà giai

đoạn 2014-2017 47 Bảng 2.6: Cơ cấu thành viên của các phường tham gia Quỹ HTPPN TP Đông Hà

giai đoạn 2014-2017 49 Bảng 2.7: Dư nợ vốn theo ngành nghề kinh doanh qua các năm 2014-2017 50 Bảng 2.8: Số lượng thành viên theo ngành nghề kinh doanh ở Quỹ HTPNN TP

Đông Hà qua các năm 2014-2017 51 Bảng 2.9: Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt động cho vay của Quỹ HTPNN 55 Bảng 2.10: Các hệ số bền vững về họat động và tài chính của Quỹ 57

Trang 9

viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Mục đích sử dụng vốn vay (%) 11 Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Quỹ 34 Hình 2.2: Biểu đồ minh họa mức độ tăng trưởng tín dụng tại Quỹ HTPNN TP

Đông Hà 43 Hình 2.3: Biểu đồ minh họa mức độ tăng trưởng thành viên giai đoạn 2014-2017

tại Quỹ HTPNN TP Đông Hà 44 Hình 2.4: T trọng đối tượng thành viên tham gia Quỹ HTPNN TP Đông Hà qua

các năm 46 Hình 2.5: Dư nợ vốn vay của các Phường tham gia Quỹ HTPNN TP Đông Hà qua

các năm (2014-2017) 48 Hình 2.6: Dư nợ tiết kiệm của các Phường tham gia Quỹ HTPNN TP Đông Hà qua

các năm (2014-2017) 48 Hình 2.7: Số lượng thành viên tham gia vay vốn của các Phường tham gia Quỹ

HTPNN TP Đông Hà qua các năm (2014-2017) 50 Hình 2.8 : Số thành viên vay vốn ở các ngành nghề kinh doanh thuộc Quỹ HTPNN

Trang 10

1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua và trong cả giai đoạn sắp tới Sau hơn hai mươi năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những các thành tựu trên nhiều lĩnh vực tuy nhiên vẫn còn phải đương đầu với nhiều thách thức lớn trong đó có vấn đề nghèo đói và sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra sâu sắc với khoảng cách ngày càng giãn rộng Nhiều năm qua Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với chức năng đại diện chăm

lo cho quyền lợi phụ nữ đã tập trung chỉ đạo và triển khai nhiều phong trào, chương trình thiết thực hỗ trợ phụ nữ nghèo, phụ nữ dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương Hội LHPN Việt Nam, các cấp Hội phụ nữ

đã tập trung vào các hoạt động hỗ trợ phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”,

“Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập” đã khơi dậy được tiềm năng to lớn, sức sáng tạo và truyền thống nhân ái, ý thức tự nguyện giúp nhau giống, vốn, kinh nghiệm, ngày công sản xuất trong phụ nữ Nguồn vốn hỗ trợ phụ

nữ nghèo phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo được các cấp Hội tập trung khai thác từ ngân hàng, các tổ chức quốc tế, từ tiết kiệm của chị em

Được Hội LHPN Việt Nam thành lập từ năm 2007 theo mô hình của Ngân hàng Grameen, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô, trực thuộc Hội Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đang hoạt động trên địa bàn

14 tỉnh thành từ Bắc đến Nam Tại Quảng Trị, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo hoạt động trên 2 địa bàn là TP Đông Hà và huyện Gio Linh Là đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi mô, Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo cam kết trao quyền cho phụ nữ và các

hộ gia đình gặp khó khăn về mặt xã hội và kinh tế thông qua việc tiếp cận tới các dịch vụ tài chính, bảo hiểm vi mô, giáo dục, sinh kế, y tế và các dịch vụ nâng cao năng lực khác

Trang 11

2

Dù đã có những đóng góp đáng ghi nhận vào kết quả giảm nghèo, tuy nhiên vẫn chưa có công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo nhằm làm rõ và nâng cao hoạt động cho vay vi mô đối với phụ nữ nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói chung và thành phố Đông Hà nói riêng Xuất phát từ lý

do đó, tác giả chọn đề tài “ Hoàn thiện công tác cho vay tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị” làm luận văn thạc sĩ kinh tế với mong muốn góp phần nào đó trong việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của Quỹ

hỗ trợ phụ nữ nghèo ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà, từ đó đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà

- Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

- Đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà, tỉnh

Quảng Trị

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tuợng nghiên cứu:

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc hoàn thiện công tác cho vay đối với phụ nữ tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà

Trang 12

3

- Về thời gian: khảo sát, nghiên cứu trong giai đoạn 2014-2017 và đề xuất

định hướng, giải pháp đến năm 2023

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

4.1 Phương pháp luận:

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Số liệu từ các báo cáo của Quỹ Hỗ trợ phụ

nữ nghèo TP Đông Hà qua các năm

- Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu

- Phương pháp phân tích số liệu

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

- Phương pháp thống kê mô tả

- Một số phương pháp nghiên cứu khác

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

5.1 Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, hỗ trợ trong công việc chuyên môn của người làm luận văn, cũng như những người quan tâm đến lĩnh vực cho vay hỗ trợ cho phụ nữ nghèo

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu đề tài về hoạt động cho vay đối với phụ

nữ nghèo tại TP Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị Qua nghiên cứu thực trạng cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo trong công tác xóa đói giảm nghèo, đề tài phân tích đánh giá kết quả đạt được, tìm ra những thuận lợi và hạn chế, từ đó đưa ra giải pháp kiến nghị khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo trong việc xóa đói giảm nghèo Vì vậy đây là đề tài có ý nghĩa trong công cuộc xóa

đói giảm nghèo tại địa phương

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn gồm ba chương:

Trang 13

4

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về cho vay đối với phụ nữ nghèo

Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác cho

vay đối với phụ nữ nghèo tại Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo thành phố Đông Hà, tỉnh

Trang 14

5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI

PHỤ NỮ NGHÈO

1.1 Tổng quan về hộ nghèo, phụ nữ nghèo và Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

1.1.1 Khái niệm nghèo và phụ nữ nghèo

- Khái niệm nghèo:

Ở nước ta căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân trong những năm qua thì khái niệm đói nghèo được xác định như sau:

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia

Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu

+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không

có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại

+Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét

+Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu

- Khái niệm hộ nghèo:

Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện

Trang 15

6

- Khái niệm phụ nữ nghèo :

Phụ nữ nghèo là nhóm xã hội thường có học vấn thấp, đông con, nhận thức hạn chế, gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh tế, sinh hoạt Họ dễ bị tổn thương, rất ít cơ hội để cải thiện đời sống và thăng tiến bản thân, phụ nữ nghèo thường là lao động thuần nông hoặc buôn thúng bán bưng, lao động chân tay không chuyên môn

Họ có ít cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo,thường gặp nhiều khó khăn trong công việc gia đính, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại việc

Phụ nữ nghèo có đời sống khó khăn, khó tiếp cận các dịch vụ kinh tế-xã hội

và văn hóa, ít cơ hội phát triển cho bản thân và gia đình

1.1.2 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo

Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai

thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo là công cụ quan trọng để xác định mức độ và tình trạng nghèo của mỗi quốc gia Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo có thể được hiểu là một chuẩn mực chung nào đó mà người hay

hộ nào đó có thu nhập hoặc chi tiêu dưới mức chuẩn chung sẽ được coi là nghèo Tiêu chí này là một khái niệm động, thay đổi theo thời gian và được điều chỉnh hợp lý theo tình hình phát triển của các quốc gia, các tổ chức quốc tế trên thế giới

1.1.2.1 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo của thế giới

Để đánh giá nghèo đói, UNDP dùng cách tính dựa trên cơ sở phân phối thu nhập theo đầu người hay theo nhóm dân cư Thước đo này tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong thời gian nhất định, nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là: Đem chia dân số của một nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: Rất giàu, giàu, trung bình, nghèo và rất nghèo Theo cách tính này, vào những năm

1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% Như vậy nhóm giàu nhất gấp 59 lần nhóm nghèo nhất

Trang 16

7

Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu, nghèo của các quốc gia dựa vào mức thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với 2 cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo t giá hối đoái và tính theo USD Phương pháp PPP (purchasing power parity), là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD

Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại

+ Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu

+ Từ 20.000 đến dưới 25.000 USD/người/năm là nước giàu

+ Từ 10.000 đến dưới 20.000 USD/người/năm là khá giàu

+ Từ 2.500 đến dưới 10.000 USD/người/năm là nước trung bình

+ Từ 500 đến 2.500 USD/người/năm là nước nghèo

+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo

Theo phương pháp thứ hai: WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hoá, thực hiện phương pháp tính “rỗ hàng hoá” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh WB đã tính mức năng lượng tối thiểu cần thiết cho một người để sống là 2.100 calo/ngày Với mức giá chung của thế giới để đảm bảo mức năng lượng đó cần khoảng 1 USD/người/ngày

Từ đó, năm 1995 WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 370USD/người/năm Với mức trên WB ước tính

có trên 1,2 t người trên thế giới đang sống trong nghèo đói

Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội Do đặc điểm của nền kinh tế – xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được xác định là 14USD/người/ngày Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaisia là 28USD/người/tháng.Srilanc là 17USD/người/tháng Bangladet là USD/người/tháng

Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người hiện nay (năm 2006) khoảng 720

Trang 17

8

USD/người/năm, nên trên bình diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó,

do đó không thể lấy chuẩn nghèo đói của WB để xác định nghèo đói của Việt Nam

Chỉ tiêu thu nhập quốc dân tính theo đầu người là chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đang dùng để xác định giàu nghèo Nhưng cũng cần thấy rằng nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hoá, chính trị, xã hội Trong thực tế nhiều nước phát triển có thu nhập bình quân theo đầu người cao nhưng vẫn chưa đạt được sự phát triển toàn diện Tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường và những bất công khác vẫn còn phổ biến, khoảng cách nghèo ngày càng tăng lên, xu hướng này không chỉ xảy

ra ở những nước nghèo mà còn xảy ra ở những nước khá và giàu Qua đó có thể thấy rằng: Nghèo khổ trong xã hội không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp hay cao mà còn là kết quả của phân phối thu nhập và thực hiện công bằng xã hội Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc dân bình quân, UNDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm hệ thống ba chỉ tiêu; tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân đầu người trong năm Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận các nước giàu nghèo tương đối chính xác và

khách quan

1.1.2.2 Tiêu chí phân loại chuẩn nghèo của Việt Nam

Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, t lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộ trong số đó tái nghèo

Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản

Trang 18

9

của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng xa học sinh phải học trong những căn nhà

lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo

Ở Việt Nam, tiêu chí xác định hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước dành cho người nghèo phải căn cứ vào chuẩn nghèo mà

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành cho từng giai đoạn

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định số TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/1/2011về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015 như sau:

09/2011/QĐ- Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống;

 Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống;

 Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng;

 Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

Giai đoạn 2016-2020

Giai đoạn này chuẩn hộ nghèo được xác định theo Quyết định

số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/11/2015 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 như sau:

Trang 19

10

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản trở lên

Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

 Hộ cận nghèo

Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên

700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000

đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản

1.1.3 Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

1.1.3.1 Quan niệm về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo là một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực tài chính vi

mô, xây dựng dựa trên mô hình Grameen, Đức Người tham gia được vay từ 7-10 triệu đồng với lãi suất thấp, thanh toán dần mỗi tháng và nộp thêm một khoản tiết kiệm nhỏ Kết thúc vòng vốn, người vay không những trả hết nợ mà còn được nhận lại một khoản tiền do mình tiết kiệm Đó là cách chia sẻ khó khăn với phụ nữ nghèo

để giúp họ nâng cao cuộc sống của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Việt Nam

1.1.3.2 Sự cần thiết phải hỗ trợ phụ nữ nghèo

Những người phụ nữ ở đây họ đều là những người nghèo vì vậy để thoát khỏi đói nghèo thì đòi hỏi phải có 3 yếu tố : phải có kiến thức trong hoạt động kinh doanh và sản xuất, có lao động và vốn Kiến thức kinh doanh ở đây là một yếu tố cần thiết, quyết định việc sử dụng lao động và tiền vốn một cách hiệu quả trong sản

Trang 20

11

xuất Còn vốn là một yếu tố hết sức quan trọng trong kinh doanh sản xuất Nếu thiếu vốn thì dù có kiến thức và sức lao động cũng khó có thể phát triển hoạt động kinh doanh, sản xuất Đối với các phụ nữ nghèo thì thiếu vốn chính là một trong những trở ngại đầu tiên trên con đường nỗ lực vươn lên để thoát nghèo Có rất nhiều lý do đó là tích luỹ thấp, thu nhập thường chỉ đủ cho những sinh hoạt tối thiểu; ít có khả năng tiếp cận vốn vay do thiếu tài sản thế chấp, đặc biệt là đối với phụ nữ còn có lý do ít thông tin, không nắm được các thủ tục cần thiết để tiếp cận vốn từ các nguồn chính thức Theo kết quả điều tra ở TP Đông Hà cho ta thấy, có 70,5% số hộ có phụ nữ nghèo được hỏi có nhu cầu cần vốn để phát triển kinh tế, 80.2% cần có kiến thức kinh doanh, 70.6% cần có lao động và 30.3% cần sự trợ giúp của bạn bè, họ hàng, chính quyền Ví vậy có 67.1% số hộ có phụ nữ nghèo được hỏi dùng tiền vay mượn để đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, 33.3%

số hộ đầu tư kinh doanh, dịch vụ Chỉ có 10.4% số hộ vay mượn để làm nhà, mua sắm phương tiện đắt tiền, 15.6% đầu tư vào giáo dục và chăm sóc sức khoẻ (Biểu

đồ 2.2) Như vậy, cùng với kiến thức thì vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh phát triển ngành nghề là vấn đề nan giải đối với việc phát triển kinh tế đối với các hộ có phụ nữ nghèo

Đầu tư SX nông

nghiệp, chăn nuôi

Đầu tư kinh doanh dịch vụ

Đầu tư vào giáo dục

và CSSK

Làm nhà, mua sắm phương tiện

Tỷ lệ

Hình 1.1: Mục đích sử dụng vốn vay (%)

Theo kết quả điều tra thì ta thấy có tới 79.3% số hộ được hỏi đã vay mượn tiền

và chỉ có 20.6% số hộ là không phải vay mượn Tuy nhiên các hộ đi vay mượn từ nhiều nguồn khác nhau Khi được hỏi cho biết thiếu vốn thì có tới 40.2% số hộ cho

Trang 21

12

biết họ lựa chọn nguồn vay từ Hội phụ nữ; 23,7% số hộ đến ngân hàng làm thủ tục vay; 21,2% vay của họ hàng, bạn bè và 5,1% vay của các cá nhân cho vay lãi Thực

tế cho thấy, có 4 nguồn vốn vay chủ yếu cho đối tượng phụ nữ nghèo, đó là:

Vay vốn từ họ hàng, bạn bè: Với nguồn vốn như thế này thì các hộ gia đình

cho biết họ không thể nào vay với số tiền lớn được để đầu tư vào sản xuất

Những khoản vay này chỉ đủ để đáp ứng được những chi tiêu sinh hoạt của cá nhân như ma chay, cưới hỏi,v.v… Hơn thế nữa, số lượng người có nhu cầu thì lớn

mà số có thể đáp ứng thì ít nên vay vốn từ nguồn này cũng không dễ dàng, kể cả số tiền nhỏ đối với những người nghèo

Vay vốn từ ngân hàng: hiện nay vay vốn từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn, ngân hàng Chính sách, đã được triển khai một cách đồng bộ, họ cũng tạo điều kiện để cho những người nghèo có điều kiện để vay vốn để phục vụ sản xuất trong trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, việc vay vốn từ nguồn này cũng gặp nhiều khó khăn Thủ tục vay vốn tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn rườm rà

về các thủ tục, giấy tờ mất nhiều thời gian họ phải đi lại

Vay vốn từ tư nhân: Đây là một nguồn vốn với lãi suất rất là cao Đối với phụ

nữ nghèo thì đây là một điều rất khó khăn mặc dù thủ tục rất đơn giản nhưng không phải người nghèo nào cũng có thể vay được và với việc phải trả lãi suất cao như vậy thì nhiều hộ gia đình đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, đặc biệt là đối với các gia đình thuộc hộ nghèo, cận nghèo

Vì vậy, để phụ nữ nghèo tham gia phát triển kinh tế, nâng cao mức sống cần thiết phải có sự hỗ trợ của các tổ chức chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp, trong

đó có Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

1.2 Nội dung cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo

1.2.1 Các khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm cho vay

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi

Trang 22

13

1.2.1.2 Khái niệm cho vay phụ nữ nghèo

Cho vay đối với phụ nữ nghèo là những khoản cho vay dành riêng cho phụ nữ nghèo, phụ nữ cận nghèo, phụ nữ yếu thế, có sức lao động, nhưng thiếu vốn để phát triển sản xuất trong một thời gian nhất định phải hoàn trả số vốn gốc và lãi Tùy theo từng đối tượng có thể hưởng lãi suất ưu đãi khác nhau nhằm giúp phụ nữ nghèo vượt qua cơn đói nghèo, cải thiện đời sống vật chất, nâng cao địa vị kinh tế của phụ nữ trong xã hội Cho vay đối với phụ nữ nghèo hoạt động theo những mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện riêng khác với các loại hình tín dụng của các Ngân hàng thương mại bởi nó chứa đựng những yếu tố cơ bản sau:

Mục tiêu: cho vay đối với phụ nữ nghèo là nhằm hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh

tế, cải thiện đời sống, bình đẳng giới, nâng cao địa vị kinh tế của phụ nữ, hoạt động

vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục tiêu lợi nhuận

Nguyên tắc: cho vay đối với phụ nữ nghèo có sức lao động nhưng thiếu

phương tiện sản xuất kinh doanh Đó là những người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn phải là những hộ được xác định theo chuẩn mực nghèo đói do Bộ LĐ-TBXH hoặc do địa phương, tổ chức cho vay công bố trong từng thời kỳ và thực hiện cho vay có hoàn trả (gốc và lãi) theo kỳ hạn đã thỏa thuận

Điều kiện cho vay: tùy theo từng nguồn vốn, thời kỳ khác nhau, từng địa

phương khác nhau có thể quy định các điều kiện cho phù hợp với thực tế, nhưng một trong những điều kiện cơ bản nhất của cho vay đối với phụ nữ nghèo đó là: khi tham gia vay vốn không cần phải thế chấp tài sản

1.2.1.3 Khái niệm tài chính vi mô – cho vay hỗ trợ người nghèo

Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB) định nghĩa tài chính vi mô (TCVM) là sự cung cấp dịch vụ tài chính như: một khoản tiền gửi, tiền vay ở ngân hàng, dịch vụ chi trả, chuyển tiền và tiền bảo hiểm cho người nghèo, cho hộ có thu nhập thấp và những người buôn bán nhỏ ADB xác định ba nguồn dịch vụ tài chính vi mô: 1) Các định chế tài chính chính thức chẳng hạn như Ngân hang và các hợp tác xã tín dụng; 2) Các định chế tài chính tín dụng bán chính thức như các Tổ chức Phi Chính phủ (NGOs); 3) Các nguồn không chính thức như: người cho vay tư nhân, các chủ cửa hang tư nhân

Trang 23

vụ tài chính cho người nghèo, người có thu nhập thấp với mức lãi suất mỗi tháng thường từ 1% trở lên Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này thì 2 loại trên được gọi chung là cho vay hỗ trợ người nghèo Tuy nhiên để thuận tiện cho việc phân loại, phân tích, đánh giá từng loại qua số liệu điều tra, loại tài chính vi mô từ chương trình xoá đói giảm nghèo qua Ngân hàng chính sách xã hội và các tổ chức Ban ngành, Đoàn thể có nguồn vốn u thác từ Ngân hàng chính sách xã hội cung cấp cho người nghèo thì được gọi là cho vay ưu đãi, còn tài chính vi mô từ các tổ chức Ban ngành, Đoàn thể , tổ chức phi Chính phủ trong và ngoài nước, từ các Ngân hàng thương mại, từ các nguồn khác cung cấp cho người nghèo, người thu nhập thấp gọi là cho vay nhỏ

1.2.2 Quy trình và thủ tục cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo

1.2.2.1 Các quy trình

a) Quy trình thẩm định, xét duyệt cho vay

- Thành viên đăng ký nhu cầu vay vốn với Chi/Tổ trưởng trước ngày họp tổ ít nhất 1 ngày;

Tại buổi thẩm định, cán bộ yêu cầu TV:

Trang 24

15

+ Nộp bản sao Giấy chứng nhận hộ nghèo (nếu có);

- Xét duyệt ban đầu tại tổ

Tổ trưởng/CBTD căn cứ DS đăng ký vay vốn, tiến hành bình xét ban đầu tại buổi thu tiền kỳ đó; Sau buổi họp tổ cuối cùng của xã, CBTD gửi DS đã được duyệt ban đầu tại tổ cho HPN xã/phường cho ý kiến

- Thẩm định và phê duyệt

Trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận được Danh sách thành viên đăng

ký vay vốn, CBTD phải thẩm định, hoàn thiện và trình HSVV cho Trưởng BĐH

Đối với các khoản vay trên 25 triệu đồng của toàn chi nhánh: Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ từ CBTD, Trưởng BĐH phải thẩm định và phê duyệt

hời gi n từ khi làm đơn ĐN đến khi nhận được tiền tối đ 30 ngà

b) Quy trình giải ngân

Vốn vay sẽ được giải ngân trong ngày sinh hoạt tổ tại Hội trường UBND phường/xã/thị trấn:

Khi đi nhận vốn, TVVV trình CMND/sổ hộ khẩu cho người phát vốn; Sổ hộ nghèo đối với TVVV là đối tượng chính sách;

Thủ quỹ phát vốn trực tiếp cho TV

Trong trường hợp TVVV không thể đi nhận vốn vì lý do đặc biệt có thể ủy quyền cho người bảo lãnh đi nhận vốn thay

c) Quy trình thu vốn, lãi, tiết kiệm

Quy trình thu, lãi, tiết kiệm sẽ diễn ra định kỳ hàng tháng, tại buổi sinh hoạt

tổ ở một địa điểm cố định do tổ quy định

1.2.2.2 Thủ tục cho vay

- Đối tượng th m gi : Là Hội viên, phụ nữ:

+ Độ tuổi tham gia vòng 1: 18 - 65 tuổi;

+ Sinh sống thường xuyên tại địa phương;

+ Có hộ khẩu thường trú hoặc có hộ khẩu tạm trú (sổ tạm trú dài hạn KT3) tại địa phương ít nhất 2 năm liên tục tính đến thời điểm khảo sát;

Trang 25

rong đó, ưu tiên:

+ PN thuộc hộ nghèo, cận nghèo, thu nhập thấp;

+ Phụ nữ yếu thế: PN khuyết tật, PN chịu ảnh hưởng của HIV, PN hoàn lương tái hòa nhập cộng đồng…

+ Phụ nữ nông thôn mất việc làm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, do doanh nghiệp bị phá sản…

Lưu ý:

- Người bảo lãnh:

Người vay vốn cần 1 người bảo lãnh Người bảo lãnh có thể là chồng, con,

bố, mẹ, anh chị em ruột hoặc người thân được TV lựa chọn và tự nguyện đứng ra bảo lãnh Người bảo lãnh cần đảm bảo các điều kiện:

+ Tuổi từ 18 - 65 tuổi, có đủ hành vi dân sự, có đủ khả năng hoàn trả khoản vay khi thành viên vay vốn không trả được; Sinh sống cùng địa bàn của TVVV; Có

hộ khẩu thường trú hoặc có hộ khẩu tạm trú (sổ tạm trú dài hạn KT3) tại địa phương

ít nhất 2 năm liên tục tính đến thời điểm khảo sát;

+ Không mắc các tệ nạn xã hội;

+ Chỉ được bảo lãnh cho 01 người vay;

+ Người bảo lãnh không phải là người đang vay vốn của Quỹ

Phụ nữ đơn thân hoặc những TV không có người bảo lãnh hợp pháp phải có

sự bảo lãnh của Hội phụ nữ xã/phường/thị trấn

Một sổ hộ khẩu ↔ Một thành viên vay vốn

Thu nhập thấp: từ 3.700.000đồng/người/tháng trở xuống

Trang 26

17

1.2.3 Vai trò của cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo các tổ chức cho vay hỗ trợ phụ

nữ nghèo ở Việt Nam

1.2.3.1 i trò củ cho v hỗ trợ phụ nữ nghèo

Mặc dù đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo và phát triển kinh tế, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nguy cơ giảm nghèo chưa bền vững Một trong những trở ngại lớn là thiếu các dịch vụ tài chính phù hợp và sẵn sàng trong khu vực nông thôn Vì vây, vai trò của cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo trong việc xóa đói giảm nghèo rất quan trọng và cần thiết, thể hiện ở các nội dung chính sau:

- Tạo ra một kênh tiếp vốn quan trọng cho phụ nữ nghèo tại các địa bàn khó khăn phát triển kinh tế: hiện nay các tổ chức tài chính cung cấp rất nhiều các dịch

vụ tài chính cho khách hàng, tuy nhiên người nghèo thường khó tiếp cận được với những dịch vụ này do không có đủ điều kiện như tài sản thế chấp, cầm cố

- Đáp ứng các nhu cầu về vay vốn của phụ nữ thông qua cách tiếp cận dễ dàng nhanh chóng thuận lợi: những sản phẩm vốn vay đc thiết kế riêng cho người nghèo nên người nghèo có thể có điều kiện tiếp cận những sản phẩm này khá dễ dàng, nhanh chóng thuận lợi

- Đa dạng hóa nguồn thu nhập của các hộ nghèo giảm các nguy cơ tổn thương kinh tê và nâng cao mức sống:bên cạnh việc cung cấp vốn còn cung cấp các dịch vụ phi tài chính giúp chị em phụ nữ nghèo có khả năng kinh doanh tạo ra các khoản thu nhập từ đó tăng thêm năng lực về tài chính cho mình, giúp phụ nữ nghèo thoát nghèo

- Cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo là công cụ tạo ra bình đẳng giới, giúp phụ nữ

có điều kiện tham gia làm kinh tế, tạo ra thu nhập cho gia đình và giảm phụ thuộc kinh tế vào người chồng Nguồn vốn vay hỗ trợ giúp cho phụ nữ thực hiện hoạt động kinh doanh nhỏ nhằm nâng cao thu nhập cho gia đình như buôn bán, chăn nuôi…

- Tạo ra mối liên kết cộng đồng, nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng nâng cao vị thế của phụ nữ trong XH: một số sản phẩm phải có liên kết nhóm

là sự thay thế cho thế chấp Do đó để đảm bảo lợi ích chung của nhóm thì các thành viên trong nhóm phải có sự hiểu biết lẫn nhau và có uy tín nhất định Chính vì vậy

Trang 27

18

mà sản phẩm tài chính vi mô tạo ra sự liên kết cộng đồng khá bền vững Trên thực

tế thì các hoạt động cho vay hỗ trợ người nghèo chủ yếu tập trung vào phụ nữ đối tượng dễ bị tổn thương nhất, do vậy sẽ góp phần thực hiện bình đẳng giới, cơ hội để phụ nữ thay đổi hoàn cảnh sống của mình nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình cũng như xã hội

1.2.3.2 Các tổ chức cho v hỗ trợ phụ nữ nghèo ở iệt N m

Hiện nay ở Việt Nam có hàng trăm tổ chức cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo thuộc

ba khu vực: khu vực chính thức, khu vực bán chính thức và khu vực phi chính thức

- Khu vực chính thức: Khu vực chính thức là những tổ chức được Chính phủ

ủy quyền và tuân theo các quy định và sự kiểm soát của ngành ngân hàng, đây là những tổ chức lớn có uy tín thuộc sở hữu của Chính phủ, huy động được số lượng tiền gửi lớn nhất từ đại bộ phận dân cư, có vai trò cung cấp dịch vụ ở cả đô thị và khu vực nông thôn Khu vực chính thức gồm các ngân hàng thương mại, đầu tư, tiết kiệm, phát triển; các ngân hàng phục vụ nông thôn; các ngân hàng theo mô hình hợp tác xã; các tổ chức phi ngân hàng khác; các công ty tài chính; các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng, Quỹ hưu trí; các công ty bảo hiểm, các tổ chức tài chính vi mô

chính thức đăng ký theo luật TCTD

- Ở Việt Nam khu vực chính thức gồm Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Quỹ Tín dụng Nhân dân, 3 tổ chức tài chính vi mô được cấp phép của Ngân hàng Nhà nước :Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV Tình thương,Tổ chức tài chính vi mô TNHH Thanh Hóa,Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7

- Khu vực bán chính thức: bao gồm những tổ chức do Chính phủ cấp giấy

phép, hoạt động dưới sự giám sát của Chính phủ, không tuân theo các quy định của ngân hàng Cụ thể là các hợp tác xã tín dụng và tiết kiệm, các hiệp hội tín dụng, các ngân hàng nhân dân không đăng ký chính thức là TCTD; các ngân hàng hợp tác xã; các quỹ tiết kiệm tạo việc làm; các dự án phát triển, các chương trình/ dự án TCVM

do các đoàn thể thực hiện, các Quỹ xã hội, từ thiện thực hiện TCVM, Nhóm tiết

kiệm tín dụng: Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo

Trang 28

19

- Khu vực phi chính thức: Khu vực phi chính thức hoạt động ngoài kiểm soát

của Chính phủ gồm những tổ chức, công ty tài chính phi chính thức, các hiệp hội tín dụng và tiết kiệm quay vòng và biến thế của nó, đơn vị, cá nhân, nhóm dân cư, cửa hàng, quỹ tương trợ, nhóm, tổ tiết kiệm, cho vay lãi chuyên nghiệp, bạn bè, người

- hứ nhất: Hoạt động tín dụng phải bảo đảm để Quỹ thực hiện được chức

năng mà Nhà nước đã giao, đồng thời phải mang lại thu nhập cho Quỹ đủ để trang trải các khoản chi phí liên quan và hạn chế thấp nhất nguy cơ rủi ro như không thu hồi được vốn cho vay hoặc thu hồi chậm

Hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ còn thể hiện ở khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Nói cách khác, đối với bên đi vay thì điều này trước hết biểu hiện ở chỗ thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn đầy đủ, nhanh chóng, kịp thời Tuy nhiên, vẫn phải bảo đảm những nguyên tắc an toàn cần thiết và theo những quy trình nhất định Qua đó, bên đi vay sẽ tiết kiệm được các chi phí giao dịch, tiết kiệm thời gian và nhất là sẽ không bỏ lỡ những cơ hội sản xuất kinh doanh tốt

- hứ h i: Khả năng sử dụng vốn vay có hiệu quả của bên đi vay Tức là,

bên đi vay sử dụng vốn vay được từ Quỹ phục vụ tốt hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như mục tiêu khi đi vay đề ra

- hứ b : Đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của vùng, địa

phương và cả nước Đây là hệ quả tất yếu đạt được khi cả bên đi vay và Quỹ đều hoạt động tốt Điều này được biểu hiện ở chỗ, hoạt động của Quỹ sẽ đóng góp vào

Trang 29

20

việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, thúc đẩy sản xuất phát triển, thúc đẩy phát triển kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chủ trương, định hướng và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tạo thêm việc làm cho phụ nữ nghèo, nâng cao mức sống

Nhìn chung, hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ là một chỉ tiêu rất tổng hợp, được đánh giá trên quan điểm của cả ba đối tượng: Quỹ, khách hàng vay vốn

và nền kinh tế - xã hội Các chỉ tiêu định tính chỉ là những căn cứ đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng của Quỹ một cách khái quát Muốn có những kết luận chính xác hơn, cần phải dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể liên quan đến Quỹ Riêng nhân tố kinh tế - xã hội rất khó có các chỉ tiêu định lượng để đo lường tác động cụ thể đối với từng hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo đến

sự phát triển chung đối với phát triển kinh tế của đất nước Do đó, tùy từng trường hợp cụ thể mà người ta có thể đánh giá hiệu quả kinh tế trên cả hai mặt định tính và định lượng Đôi khi chỉ đánh giá trên các khía cạnh ở tầm vĩ mô

1.3.2 Tiêu chí định lượng

1.3.2.1 Các chỉ số đánh giá rủi ro cho vay

- Tỷ lệ nợ quá hạn

T lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn*100%/Tổng dư nợ cho vay

Chỉ tiêu này cho thấy khả năng thu hồi vốn của TCTD và tổ chức TCVM đối với các khoản vay của mình Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng cho vay cũng như rủi ro cho vay T lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng cho vay kém và ngược lại

- T lệ nợ xấu/ tổng dư nợ cho vay

Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trên 90 ngày mà không đòi được và không tái cơ cấu

Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được chính phủ xử lý rủi ro

Trang 30

21

1.3.2.2 Một số chỉ số tài chính sử dụng trong báo cáo tài chính của các tổ chức tài chính vi mô

- Chỉ số tự cung/vững hoạt động (OSS)

Chỉ số tự cung hoạt động thể hiện khả năng đảm bảo mọi chi phí trong quá trình hoạt động của mình dựa trên nguồn thu nhập từ hoạt động của tổ chức Nó cho thấy tính tự vững trong hoạt động

Tự cung/tự vững hoạt động = Tổng thu nhập /(Chi phí tài chính + Chi phí hoạt động + Dự phòng mất vốn)

- Chỉ số tự cung/tự vững tài chính (FSS)

Chỉ số này thể hiện khả năng tự chủ về tài chính, về khả năng phân phối thu nhập cho các chi phí tài chính, chi phí trong quá trình hoạt động thể hiện qua công thức:

Tự cung/tự vững tài chính = Tổng thu nhập /(Chi phí tài chính + Chi phí hoạt động + Dự phòng mất vốn+ Chi phí vốn qu định)

Chi phí vốn qu định bao gồm tất cả các dạng trợ cấp và các khoản dự phòng lạm phát

- T lệ dư nợ cho vay trễ hạn (PAR)

PAR > 30 ngày = dư nợ cho vay có trễ hạn trên 30 ngày/ tổng vốn đầu tư cho vay

Chỉ tiêu này phản ánh tính hiệu quả trong thu hồi nợ nếu chỉ số PAR tăng cao thể hiện dư nợ cho vay trễ hạn lớn nghĩa là hoạt động của tổ chức không hiệu quả

và ngược lại

- T suất lợi nhuận / vốn chủ sở hữu bình quân

ROE = Lợi nhuận thuần / vốn chủ sở hữu bình quân

Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu Hệ số càng lớn, khả năng sinh lời tài chính càng cao

- T suất lợi nhuận/tài sản (ROA)

ROA = Lợi nhuận thuần / tổng tài sản bình quân

Chỉ tiêu này cho thấy khả năng sinh lời trên một đống tài sản

Trang 31

22

1.4 Các điều kiện ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay đối với phụ nữ nghèo

1.4.1 Điều kiện khách quan

rõ ràng là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển hoạt động của các tổ chức cung ứng TCVM nói chung và của các sản phẩm dịch vụ tài chính vi mô nói riêng Môi trường chính sách là hệ thống các chính sách điều tiết và giám sát hoạt động TCVM Một mặt, chính sách đưa ra các chuẩn mực và quy chế hoạt động cho tổ chức cung ứng TCVM nhằm đảm bảo an toàn hoạt động cho các tổ chức, mặt khác chính sách có thể là đòn bẩy thúc đẩy tính sáng tạo, cạnh tranh và tăng trưởng của

tổ chức cung ứng TCVM, theo đó, thúc đẩy khối lượng sản phẩm dịch vụ cung cấp cho người nghèo và gia tăng quy mô khách hàng được hưởng dịch vụ Chính sách cũng được thể hiện thông qua chiến lược phát triển ngành tài chính vi mô cấp quốc gia Chiến lược là kim chỉ nam dẫn lối cho sự phát triển của cả ngành TCVM Tùy thuộc vào tình trạng ngành TCVM, một chiến lược TCVM cấp quốc gia có thể có nhiều cách tiếp cận và các ưu tiên khác nhau Chiến lược phát triển ngành TCVM hướng đến xây dựng ngành TCVM cạnh tranh, năng động, hoạt động dựa trên thông

lệ tốt nhất, phục vụ đông đảo đối tượng nghèo và thu nhập thấp, từ đó thúc đẩy sự hoạt động chuyên nghiệp và bền vững, hiệu quả của các tổ chức cung ứng TCVM với mục tiêu cung cấp các sản phẩm dịch vụ tài chính vi mô chất lượng và lâu dài tới tay người dân có nhu cầu

1.4.1.2 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế là điều kiện cho sự phát triển của lĩnh vực tài chính nói chung, và của TCVM nói riêng Sự phát triển của nền kinh tế có ảnh hưởng không

Trang 32

23

nhỏ đến khả năng phát triển sản phẩm dịch vụ TCVM thông qua tác động tới nhu cầu và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ tài chính của khách hàng Môi trường kinh kế thuận lợi, đang tăng trưởng, sức mua cao, sản xuất mở rộng sẽ tác động làm nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính tăng lên do người dân cần vay thêm vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh, khi sản xuất kinh doanh phát triển mang lại lợi nhuận, người dân lại có thêm nhu cầu về một sản phẩm tiết kiệm phù hợp… do đó các sản phẩm dịch vụ tài chính sẽ có điều kiện để mở rộng và phát triển Nhưng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng hay chậm phát triển, nhu cầu tiêu dùng giảm mạnh, sản xuất kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng Do đó, nhu cầu về các sản phẩm dịch

vụ tài chính cũng giảm, các sản phẩm dịch vụ TCVM cũng giảm về cả quy mô và tốc độ tăng trưởng

1.4.1.3 Môi trường chính trị, xã hội

Nhân tố môi trường chính trị xã hội tác động tới cả đối tượng cung ứng và đối tượng sử dụng sản phẩm dịch vụ TCVM Môi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo thuận lợi cho các tổ chức cung ứng tăng cường các sản phẩm dịch vụ và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các nhà tài trợ trên thế giới tăng cường đầu tư vào mở rộng các sản phẩm dịch vụ cho hộ gia đình thu nhập thấp Ngoài ra, nhân tố về môi trường xã hội bao gồm các yếu tố về quan niệm sống, các yếu tố của đời sống tinh thần, trình độ học vấn, trật tự an ninh và an toàn xã hội là những biến số quyết định đến thói quen, sở thích khách hàng, từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng các dịch

vụ tài chính vi mô Ví dụ như ở Bangladesh và một số quốc gia châu Phi, các TCTCVM thành công đã dựa vào sức mạnh xã hội để mở rộng cho vay theo nhóm, dựa vào niềm tin không nợ nần trước khi qua đời để đòi nợ

1.4.2 Nhân tố thuộc về Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo

1.4.2.1 Về tổ chức

- Việc xác định đối tượng phụ nữ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo vay vốn ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động Theo cơ chế phải là phụ nữ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, phụ nữ yếu thế thiếu vốn sản xuất kinh doanh nhưng việc bình xét, bình chọn từ Hội LHPN các xã, phường tại một số thời điểm có nhiều hộ không

Trang 33

1.4.2.2 Về đội ngũ cán bộ

Khả năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ tín dụng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của hoạt động tín dụng Cán bộ tín dụng không chấp hành đúng quy trình cho vay, không tuân thủ đúng các chính sách tín dụng của Quỹ, làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý tham nhũng làm trái pháp luật thì sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng đến uy tín của Quỹ

- Trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng cũng ảnh hưởng đến sự thành công của hoạt động tín dụng Cán bộ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng kinh nghiệm đánh giá xác đáng tính khả thi của món vay thì sẽ xác định được đúng năng lực thực sự của khách hàng

- Ngoài ra, cán bộ còn phải có sự hiểu biết về môi trường pháp luật, môi trường kinh tế xã hội, đường lối phát triển kinh tế của đất nước để từ đó có thể dự đoán được trước những biến động có thể xảy ra để tư vấn cho khách hàng xây dựng phương án kinh doanh phù hợp

1.4.2.3 Về khách hàng

- Hoạt động cho vay đối với phụ nữ nghèo là hoạt động có tín rủi ro cao Ngoài những nguyên nhân khách quan như thiên tai, bão lụt, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi…thường xảy ra trên diện rộng thiệt hại lớn còn là những nguyên nhân khác

từ bản thân của phụ nữ nghèo như: ý thức kém, thiếu kiến thức làm ăn, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, sức cạnh tranh kém, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đầu tư

- Phương thức đầu tư chưa phong phú dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn vay sai mục đích, vốn vay không phát huy hiệu quả, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư vốn

Trang 34

25

1.4.2.4 Chất lượng hoạt động của tổ VV-TK

Chất lượng hoạt động của tổ VV-TK chiếm một phần không nhỏ đến thành công của các Quỹ hỗ trợ Nếu tổ VV-TK hoạt động tốt, thành viên tuân thủ những quy định, chính sách của Quỹ, tổ trưởng năng nổ nhiệt tình tâm huyết, nắm rõ tình hình thành viên tham gia thì hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ ngày càng phát triển, ngược lại thành viên chây ì, không tuân thủ những quy định chính sách, chậm trả, tổ trưởng xâm tiêu vốn dẫn đến ảnh hưởng đến những thành viên khác, hoạt động của tổ khó có khả năng duy trì, dẫn đến giải thể tổ và Quỹ khó có thể hoạt động được hiệu quả Vì vậy muốn tổ VV-TK hoạt động tốt ngay từ lúc thành lập cần tuyên truyền và hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ, thủ tục lập hồ sơ vay vốn, cũng như cách quản lý và phương pháp theo dõi trên sổ sách cho các tổ trưởng Tổ VV-

TK Tùy từng tình hình thực tế của các xã, phường mà các tổ trưởng tổ VV-TK thực hiện củng cố, sáp nhập, thành lập tổ mới Khi hướng dẫn thủ tục vay vốn và tiến hành bình xét phải tuyên truyền nâng cao nhận thức của nguời vay trong trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích và hoàn trả vốn Định kỳ kiểm tra đối chiếu, theo dõi việc ghi chép sổ sách của Tổ VV-TK Xử lý dứt điểm và nghiêm minh trước pháp luật các tổ trưởng xâm tiêu, chiếm dụng vốn

1.4.2.5 Kiểm tra giám sát

Nếu cán bộ tín dụng không nắm vững và tuân thủ các quy định, quy trình, các chính sách và nguyên tắc hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ thì sẽ gây tổn thất, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Do đó, công tác kiểm tra giám sát giúp cho cán bộ tín dụng làm đúng cơ chế, đúng pháp luật nếu có phát hiện sai sót, lệch lạc sẽ có biện pháp hạn chế hoặc ngăn ngừa tổn thất Ngoài ra hoạt động kiểm tra giám sát cũng góp phần cảnh báo các rủi ro có thể xảy ra, ngăn ngừa các phát hiện đó xảy ra cũng như đưa ra các giải pháp kịp thời để xử lý các vấn đề còn tồn tại trong quản lý tín dụng

Qua hoạt động kiểm tra giám sát cũng phát hiện ra các chính sách tín dụng không hợp lý, thể lệ quy trình nghiệp vụ cho vay có những sơ hở và còn chưa chặt chẽ Do đó để hạn chế khách hàng lợi dụng những thiếu sót nhằm chiếm đoạt nguồn

Trang 35

nợ Vì vậy hoạt động kiểm tra giám sát cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động tín dụng của Quỹ hỗ trợ

1.4.2.6 Yếu tố khoa học công nghệ

Công nghệ và khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý tín dụng của các Quỹ hỗ trợ, nhất là trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay Nếu Quỹ được trang bị kỹ thuật phương tiện công nghệ hiện đại chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn Đó cũng là tiền đề để Quỹ thu hút thêm khách hàng mở rộng tín dụng và giúp quản lý tín dụng hiệu quả hơn

Sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin hiện đại còn giúp cho việc thu thập thông tin chính xác, nhanh chóng, công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách tín dụng hiệu quả hơn cũng như có thể ngăn chặn các gian lận của khách hàng lợi dụng sơ hở của Quỹ xã hội để xâm tiêu, chiếm dụng vốn hoặc vay ké, vay hộ, vay ở nhiều địa bàn khác nhau trong cùng hộ thống của Quỹ…

1.5 Kinh nghiệm cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo ở một số nước trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

- Bangladesh

Ở đây có Ngân hàng Grameen(GB) là ngân hàng chuyên phục vụ người nghèo, chủ yếu là phụ nữ nghèo Nguồn vốn hoạt động của Ngân hàng Grameen từ các cổ đông là thành viên đóng góp Khoảng 66% nguồn vốn là từ tiền gửi của các thành viên vay vốn Khi vay, họ sẽ gửi tiết kiệm tự nguyện một số tiền nhỏ theo định kỳ trả nợ để bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng Để phát triển, GB phải tự bù

Trang 36

và nhóm bảo lãnh là đủ Nhưng ngân hàng có cơ chế kiểm tra rất chặt chẽ, tạo cho người nghèo sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả Để phục vụ đúng đối tượng người vay phải đủ chuẩn mực đói nghèo, nghĩa là hộ gia đình phải có dưới 0,4 acre đất canh tác và mức thu nhập bình quân đầu người dưới 100 USD/ năm.GB được quyền đi vay để cho vay và được ủy thác nhận tài trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước, huy động tiền gửi, tiết kiệm của các thành viên, quản lý các quỹ của nhóm và được phát hành trái phiếu vay nợ GB hoạt động theo cơ chế lãi suất thực dương, được Chính phủ cho phép hoạt động theo luật riêng, không bị chi phối bởi luật tài chính và luật ngân hàng hiện hành

Hiện GB đang cung cấp món vay cho 4,5 triệu người nghèo với số tiền rất nhỏ tương đương vài trăm USD, tuy nhiên t lệ hoàn trả nợ vay lên đến 98% Hiện

ở Bangladesh đã có hơn 6 ngàn chi nhánh trên 70 nghìn làng xã, lượng tiền lưu thông thường xuyên trong hệ thống đạt mức 500 triệu USD Thống kê cho thấy, 96% khách hàng của ngân hàng này là phụ nữ Mô hình này chứng minh rằng người nghèo có nhu cầu tài chính lớn và hoạt động bền vững dựa vào khách hàng nghèo

Trang 37

28

bằng sự cam kết bảo đảm của nhóm, tổ hợp tác sản xuất Lãi suất cho vay đối với hộ nông dân nghèo thường được giảm từ 1-3%/ năm so với lãi suất cho vay các đối tượng khác Kết quả là năm 2006 BAAC tiếp cận được 95% khách hàng là nông dân Sở dĩ có được điều này là một phần do Chính phủ đã quy định các ngân hàng thương mại khác phải dành 20% số vốn huy động được để cho vay lĩnh vực nông thôn Số vốn này có thể cho vay trực tiếp hoặc gửi vào BAAC nhưng thông thường các ngân hàng thường gửi vào BAAC

- Philippines

Tiền thân của Ngân hàng CARD là một NGO hoạt động về TCVM trực thuộc CARD (Center for Agriculture and Rural Development - một quỹ xã hội ở Philippines) NGO này ra đời năm 1989, nhằm vận dụng mô hình GB vào Philippines, đưa các dịch vụ TCVM cho phụ nữ nghèo nông thôn, đặc biệt, những phụ nữ không có đất, giúp họ khởi nghiệp với các dự án kinh doanh nhỏ hoặc mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ hiện có để tạo thu nhập, nâng cao đời sống Năm 1997, sau 8 năm hoạt động, CARD NGO chính thức được Ngân hàng Trung ương Philippines cấp giấy phép hoạt động như một ngân hàng nông thôn tại thành phố San Pablo, với vốn góp ban đầu Php 5.000.000 (167.000 USD) Từ đây, Ngân hàng có cơ sở pháp lý để huy động tiền gửi từ công chúng và khai thác thị trường cho vay thương mại, đồng thời, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế thu nhập Ðây là một ví dụ sinh động chuyển đổi mô hình hoạt động từ một NGO thành một trung gian tài chính chính thức tại Philippine cũng như các nước trong khu vực Ðông Nam Á Ðến tháng 01/2012, Ngân hàng này phục vụ 617.285 khách hàng, với dư nợ 2,47 tỉ Php (58,56 triệu USD), tỉ lệ hoàn trả đạt 99,18%4

Mạng lưới Ngân hàng CARD khá rộng, với 1 hội sở chính, 51 chi nhánh và

337 đơn vị dịch vụ (năm 2012) Hoạt động của Ngân hàng giống với GB ở Bangladesh Có hơn 750 nghìn người đã là khách hàng của CARD, trong đó, phần lớn là người rất nghèo và không có đất, do vậy, các dịch vụ ngân hàng được thiết kế phục vụ phù hợp, đưa các dịch vụ tới tận cộng đồng theo hình thức “tín dụng tận ngõ”, và phục vụ các giao dịch tài chính có thể rất nhỏ trong khả năng của họ, mà không phải thế chấp

Trang 38

29

Do linh hoạt trong nhận tiết kiệm, Ngân hàng CARD thu nhận được nguồn tiết kiệm khá lớn từ người nghèo, cụ thể, từ năm 2009, khoản gửi tiết kiệm chiếm trên 50% tổng tài sản tại CARD, trong khi lượng tiền gửi tại CARD chưa nhiều, chiếm t trọng khá nhỏ

1.5.2 Kinh nghiệm của một số tổ chức tài chính vi mô trong nước

1.5.2.1 Tổ chức tài chính vi mô tình thương ( YM)

Tổ chức Tài chính vi mô TNHH Một thành viên Tình Thương (TYM) là tổ chức tài chính vi mô chính thức đầu tiên tại Việt Nam do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành lập với sứ mệnh cải thiện chất lượng cuộc sống của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, đặc biệt ưu tiên phụ nữ nghèo, yếu thế thông qua các dịch vụ tài chính và phi tài chính, tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế

và xã hội, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ

Được thành lập năm 1992, trải qua hơn 20 năm phát triển và trưởng thành, với thành tích giúp đỡ hàng nghìn chị em phụ nữ thoát nghèo bền vững, vươn lên làm giàu, xây dựng mô hình vay vốn dễ dàng và phù hợp với các hộ gia đình tại các địa bàn nông thôn, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước, TYM đã vinh dự nhận được những giải thưởng cao quý do Nhà nước trao tặng như Huân chương lao động hạng Nhất, Giải thưởng phụ nữ Việt Nam, Tổ chức tài chính vi mô tiêu biểu,

Địa bàn hoạt động: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An

Mục tiêu YM hướng đến là gần gũi với khách hàng tạo điều kiện để khách

hàng được tiếp cận nguồn vốn vay dễ dàng, việc phát vốn và hoàn trả hàng tuần được thực hiện tại chính địa bàn nơi khách hàng sinh sống, cán bộ TYM thường xuyên có mặt ở địa bàn, hòa nhã, thân thiện, thăm hỏi và giải quyết các khúc mắc của khách hàng kịp thời, khách hàng được TYM trực tiếp hỗ trợ hoặc được TYM hỗ trợ tìm kiếm/kết nối với các nguồn/giải thưởng khác để nhận được những hỗ trợ xã hội hữu ích (trao học bổng, xây mái ấm tình thương, giải thưởng Doanh nhân vi mô, trao quà gia đình khó khăn…) và khách hàng được tham gia đóng góp ý kiến cho sự phát triển chung của TYM

Trang 39

30

Hoạt động củ YM đ dạng và hữu ích, thủ tục gi o dịch thuận tiện: TYM

cho vay không yêu cầu tài sản thế chấp, khách hàng TYM không phải trả thêm bất

kì khoản phí nào như phí hồ sơ, phí hành chính, phí giao dịch, v.v, việc phát vốn nhanh chóng và kịp thời, thủ tục đơn giản, cho vay khởi điểm từ những món vốn nhỏ, vốn vay được lặp lại và tăng dần theo thời gian tham gia và theo nhu cầu vay vốn của khách hàng, khách hàng có thể tham gia tiết kiệm từ khoản tiền rất nhỏ và ngoài ra khách hàng được hỗ trợ khi họ và gia đình không may gặp rủi ro như ốm đau nằm viện…

1.5.2.2 Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7

Mạng lưới M7+ là tổ chức tài chính vi mô lớn thứ 3 tại Việt Nam về quy mô

tổ chức, xếp sau Quỹ CEP (Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm) thuộc liên đoàn lao động thành phố Hồ Chí Minh và Quỹ Tình thương của Hội liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam (TYM)

Mạng lưới được thành lập ngày 5/7/2006 tại Him Lam, tỉnh Điện Biên, bao gồm 7 chương trình tiết kiệm - tín dụng được quản lí bởi hội Phụ nữ địa phương Các chương trình này đều có chung mô hình cung cấp dịch vụ và đối tượng khách hàng giống nhau là các nhóm người gặp thách thức về kinh tế - xã hội (chủ yếu là phụ nữ và dân tộc thiểu số) sống tại các khu vực nghèo và miền núi của huyện Mai Sơn (tỉnh Sơn La), Uông Bí và Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh), Can Lộc (tỉnh Hà Tĩnh), Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận), huyện Điện Biên và thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên)

Từ năm 1993 tới 2003, 7 chương trình này hoạt động dưới sự tài trợ của ActionAid Việt Nam Sau đó, ActionAid chuyển giao cho các chương trình này hoạt động độc lập, dưới sự quản lý của hội phụ nữ địa phương Từ thời điểm đó tới nay, các chương trình cũng lần lượt hoàn thiện cơ cấu tổ chức và chuyển đổi thành

mô hình Quỹ xã hội như là một bước trung gian để tiến tới trở thành các tổ chức tài chính vi mô hoạt động chuyên nghiệp

Kể từ khi còn hoạt động dưới dạng các chương trình tiết kiệm – tín dụng, các thành viên thuộc mạng lưới M7 đã cung cấp các sản phẩm về tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm tới gần 35 nghìn khách hàng

Trang 40

31

Tới 12/2012, tổng số thành viên của M7 tại 5 tỉnh lên tới 38.774, số thành

viên tham gia M7MPA: hơn 23.000 người

1.5.3 Bài học kinh nghiệm cho vay rút ra đối với Quỹ hỗ trợ phụ nữ nghèo Thành phố Đông Hà

Từ thực tế cho vay hỗ trợ phụ nữ nghèo ở một số nước trên thế giới và Việt Nam, chắc chắn sẽ giúp chúng ta học hỏi và rút ra được nhiều bài học bổ ích trong việc làm tăng hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng, đặc biệt là chương trình cho vay ưu đãi Những bài học kinh nghiệm đó là:

- Thứ nhất, cho vay đối với người nghèo cần được sự trợ giúp từ phía Nhà

nước Vì cho vay hộ nghèo gặp rất nhiều rủi ro Trước hết là rủi ro về nguồn vốn, khó khăn này cần có sự giúp đỡ từ phía Nhà nước Điều này các nước Thái Lan và Philippines đã làm Tiếp theo là rủi ro về cho vay, có nghĩa là rủi ro mất vốn, Nhà nước sẽ có chính sách cấp bù cho những khoản tín dụng bị rủi ro bất khả kháng mà không thu hồi được

- Thứ hai, phát triển thị trường tài chính nông thôn và quản lý khách hàng

cho những món vay nhỏ Từng bước tiến tới hoạt động theo cơ chế lãi suất thực dương Lãi suất cho vay đối với người nghèo không nên quá thấp bởi vì lãi suất quá thấp sẽ không huy động được tiềm năng về vốn ở nông thôn, người vay vốn không chịu tiết kiệm và vốn được sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả kinh tế

Tóm lại thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, mỗi địa bàn đều có cách làm khác nhau, thành công ở một số nước đều bắt nguồn từ thực tiễn của chính nước đó Ở Việt Nam, trong thời gian qua đã bước đầu rút ra được bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới về cho vay vốn đối với hộ nghèo nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng Tin tưởng rằng trong thời gian tới, bằng việc giải quyết những vấn đề còn hạn chế và tạo những hướng đi đúng đắn giữa các định chế tài chính phục vụ vốn cho người nghèo ở nước ta với những giải pháp hợp lý giúp cho phụ nữ nghèo có thêm vốn để đầu tư và mở rộng sản xuất vượt qua biên giới đói nghèo

Ngày đăng: 18/02/2021, 22:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Nguyễn Kim Anh (2016), Chuyển đổi tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam: Bài học kinh nghiệm của các tổ chức tài chính vi mô Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Anh
Năm: 2016
9. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011), Nghiên cứu tài chính vi mô với giảm nghèo tại Việt Nam – Kiểm định và so sánh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Tuyết Mai (2011)
Tác giả: Nguyễn Thị Tuyết Mai
Năm: 2011
11. Website:http://hoilhpn.org.vn/; http://www.gso.gov.vn ; https://thuvienphapluat.vn/; http://www.tymfund.org.vn/ ; http://www.baoquangtri.vn/ ; https://www.m7mfi.vn/TR ƯỜ NG ĐẠ I H Ọ C KINHT Ế HU Ế Link
1. Báo cáo thường niên Quỹ Hỗ trợ phụ nữ nghèo TP Đông Hà năm 2013,2014,2015,2016,2017 Khác
2. Báo Quảng Trị (2017), Hỗ trợ phụ nữ nghèo từ đồng vốn nhỏ Khác
3. Ngân hàng nhà nước Việt Nam & nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam (2012), ài chính vi mô bền vững & biến đổi khí hậu tại iệt N m, Báo cáo hội thảo về tài chính vi mô lần thứ I Khác
4. Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng chính phủ Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 Khác
5. Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020 Khác
6. Đặng Văn Tấn(2014), Nâng cao hiệu quả cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế Khác
7. Lâm Quân(2015),Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Nghệ An Khác
10. Phan Chí Tâm (2015) , Nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng chính sách xã hội Tỉnh Quảng Trị Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm