LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Nâng cao ch ất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tri ển nông thôn Việt N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN VĂN HUY
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ
VỪA TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH
HUYỆN MINH HÓA BẮC QUẢNG BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
MÃ SỐ: 834 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI ĐỨC TÍNH
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ: “Nâng cao ch ất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát tri ển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình“ là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi trên cơ sở nghiên cứu các lý thuyết đã học,nghiên cứu khảo sát thực tiễn và được hướng dẫn của PGS TS Bùi Đức Tính
Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các tư liệu, tài liệu tham khảo từcác nghiên cứu trước đều được ghi chú dẫn nguồn đầy đủ theo qui định
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của luận văn
Học viên
Nguyễn Văn Huy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng cho vay đối
v ới khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
tri ển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình”, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các cá nhân và tổ chức Tôi xin đượcbày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới tất cả các cá nhân và tổ chức đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Nhà trường, Phòng Đào tạo Sau
Đại học, các khoa của Trường Đại học kinh tế Huế đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về
mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn giáo viên hướng dẫn PGS.TS Bùi Đức Tính đã
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp nhiều ý kiến quý báu của Ban lãnh đạo,
đồng nghiệp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi
nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó
Quảng Bình, Ngày 19 tháng 05 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Huy
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 4TÓM LƯỢC LUẬN VĂN
Từ kết quả nghiên cứu của luận văn “Nâng cao ch ất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát tri ển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình”
rút ra một số kết quả sau:
Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng tín dụng đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại Phân tích thực trạng chất lượng tíndụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT chi nhánh huyệnMinh Hóa Bắc Quảng Bình, giai đoạn 2015 – 2017 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng
đến hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng
Bình và trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng có thể
áp dụng trong thực tiễn
Tác giả lấy ý kiến khảo sát của 200 DNNVV đang vay vốn tại Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình kếthợp với phân tích tình hình cho vay DNNVV của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình giai đoạn 2015 – 2017
để đánh giá về chất lượng tín dụng cho vay đối với DNNVV của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình trong thờigian vừa qua
Thực trạng chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ
và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Minh HóaBắc Quảng Bình qua các năm 2015 - 2017 về cơ bản đã đạt những kết quả nhất định
Tuy nhiên, thông qua các phương pháp thu thập thông tin, thống kê, phân tích, sosánh, khảo sát, tổng hợp đánh giá các mặt về thực tiễn về chất lượng tín dụng cho vay
đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình còn nhiều hạn chế:
Chưa sâu sát trong quản lý khoản cho vay: Các cán bộ chưa chủ động tìm
kiếm các doanh nghiệp nhỏ và vừa khác, thiếu nghiêm túc trong công việc, chưathực sự đi sâu bám sát khách hàng để có thể tiếp cận và theo dõi tình hình biến động
về tài chính, hoạt động kinh doanh và trình trạng về tài sản đảm bảo
Chưa có các chính sách khen thưởng thích đáng để khuyến khích, nâng cao
trách nhiệm của cán bộ tín dụng trong quá trình cho vay: Thực tế các cán bộ sẽ bị
xử phạt đối với các khoản nợ không thu hồi được nhưng lại không có chế độ khen
thưởng khi họ hoàn thành xuất sắc công việc của mình Điều này gây ra tâm lý ỷ lại,ảnh hưởng không tốt đến chất lượng cho vay DNNVV
Tác giả đã nêu ra được những hạn chế ảnh hưởng đến việc cho vay đối vớikhách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình Đồng thời, tác giảcũng đã đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng cho vay đối với kháchhàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình, góp phần tăng trưởng quy
mô dư nợ của ngân hàng này cũng như góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của DNNVVtrên địa bàn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AGRIBANK : Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM LƯỢC LUẬN VĂN iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU ix
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 6
1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 6
1.1.2 Vai trò, đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa .8
1.2 Khái quát chung về NHTM 10
1.2.1 Khái niệm .10
1.1.2 Vai trò của NHTM 11
1.2.3 Các hoạt động NHTM 13
1.3 Hoạt động tín dụng ngân hàng 18
1.3.1 Khái niệm 18
1.3.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng 20
1.4 Chất lượng tín dụng ngân hàng 23
1.4.1 Khái niệm 23
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng 24
1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng 30
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NHNO& PTNT CHI
NHÁNH HUYỆN MINH HÓA BẮC QUẢNG BÌNH 37
2.1 Khái quát chung về NHNo& PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình .37
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của NHNo& PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của NHNo& PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình .38
2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình .40
2.2 Thực trạng chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng DNNVV tại NHNo&PTNT - Chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình .42
2.2.1 Những nguyên tắc và điều kiện cho vay đối với DNNVV ở Chi nhánh 42
2.2.2 Quy trình cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Chi nhánh 46
2.2.3 Các sản phẩm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 49
2.2.4 Tình hình cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình 51
2.2.5 Tình hình chất lượng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình giai đoạn 2015 – 2017 55
2.3 Đánh giá chất lượng tín dụng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình thông qua kết quả khảo sát khách hàng
2.3.1 Đặc điểm mẫu khảo sát
2.3.2 Kết quả khảo sát 69
2.4 Đánh giá chất lượng tín dụng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình 73
2.4.1 Kết quả đạt được 76
2.4.2 Hạn chế còn tồn tại 78
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 8CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG
CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHNO&PTNT CHI NHÁNH
HUYỆN MINH HÓA BẮC QUẢNG BÌNH .85
3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập 85
3.2 Định hướng, mục tiêu phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình 87
3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình trong thời gian tới 89
3.3.1 Đẩy mạnh công tác Marketing 89
3.3.2 Tăng cường cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng 90
3.3.3 Xây dựng và thực hiện chính sách khách hàng đồng bộ, phù hợp với DNNVV 91
3.3.4 Nâng cao uy tín của ngân hàng 93
3.3.5 Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, xã hội và pháp luật, cho đội ngũ cán bộ tín dụng DNNVV 94
3.3.6 Tuân thủ thực hiện đúng các quy trình tín dụng, đặc biệt là nâng cao chất lượng quy trình thẩm định 95
3.3.7 Sàng lọc và lựa chọn khách hàng là DNNVV 95
3.3.8 Xây dựng, thực hiện nhất quán chính sách tín dụng đối với DNNVV 97
3.3.9 Giải pháp về tổ chức nhân sự 98
3.3.10 Áp dụng tiến bộ công nghệ hiện đại vào công tác cho vay 99
3.3.11 Yêu cầu doanh nghiệp mua bảo hiểm cho tài sản đảm bảo 100
3.3.12 Chú trọng công tác kiểm tra, quản lý sau vay 100
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
3.1 Kết luận 101
3.2 Kiến nghị 102
3.2.1 Kiến nghị với Chính Phủ 102
3.2.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 103 3.2.3 Kiến nghị với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam 104
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO 106QUYẾT ĐỊNH HỘI ĐỒNG
BIÊN BẢN HỘI ĐỒNGNHẬN XÉT PHẢN BIỆN 1 + 2BẢN GIẢI TRÌNH
XÁC NHẬN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức NHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc
Quảng Bình 38
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2015-2017 40
Bảng 2.2: Tình hình doanh số cho vay DNNVV giai đoạn năm 2015 - 2017 51
Bảng 2.3: Chỉ tiêu doanh số thu nợ doanh nghiệp nhỏ và vừa 53
Bảng 2.4: Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 54
Bảng 2.5 Bảng tỷ trọng doanh số cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 59
Bảng 2.6 Bảng hệ số thu nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 60
Bảng 2.7 Dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 61
Bảng 2.8 Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 62
Bảng 2.9 Tỷ lệ nợ xấu đối với cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 63
Bảng 2.11: Nợ gia hạn trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 66
Bảng 2.12: Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa 67
Bảng 2.13 Thu nhập từ lãi cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 67
Bảng 2.14 Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa 68
Bảng 2.15 Đặc điểm mẫu khảo sát 69
Bảng 2.16 Đánh chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa qua yếu tố sự tin cậy 70
Bảng 2.17 Đánh chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa qua yếu tố tính đáp ứng 71
Bảng 2.18 Đánh chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa qua yếu tố năng lực phục vụ 72
Bảng 2.19 Đánh chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa qua yếu tố sự đồng cảm 73
Bảng 2.20 Đánh chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa qua yếu tố phương tiện hữu hình 74
Bảng 2.21 Đánh chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa qua yếu tố lãi suất 75
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng là chức năng kinh tế hàng đầu của ngân hàng để tài trợ chochi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ Hoạt động tín dụngcủa ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại địa phươngngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo
ra sức sống cho nền kinh tế Hơn nữa thông qua các khoản cho vay của ngân hàng, thị
trường sẽ có thêm thông tin về chất lượng tín dụng của từng khách hàng và nhờ đó giúp
cho họ có khả năng nhận thêm các khoản tín dụng mới từ những nguồn khác và chi phíthấp hơn Doanh nghiệp nhỏ và vừa là một loại hình Doanh nghiệp không những thíchhợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà nó còn đặc biệtthích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển Ở nước ta trước đây, việcphát triển các DNNVV cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường lối đổi mớikinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các Doanh nghiệp này mới thực sựphát triển nhanh về cả số và chất lượng
Trong những năm trở lại đây, các DNNVV đã không ngừng phát triển cả về số
lượng và chất lượng hoạt động kinh doanh và ngày càng khẳng định những đóng góp
quan trọng của mình vào sự phát triển kinh tế đất nước, chiếm tới 97% trên tổng sốcác doanh nghiệp tại Việt Nam, DNNVV hàng năm đóng góp tới 40% GDP của cả
nước và đang sử dụng 50% lực lượng lao động của toàn nền kinh tế trong nước Điều
này càng làm rõ được hơn vai trò quan trọng của DNNVV trong nền kinh tế ViệtNam Và tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình các DNNVV cũng có sự gia tăngnhanh chóng về số lượng, sự mở rông quy mô hoạt động và đóng góp tích cực vào sự
tăng trưởng của địa phương Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, nhu cầu
sử dụng vốn để mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất và kinh doanh củacác DNNVV là rất lớn Chính vì vậy đối với các ngân hàng, các DNNVV được đánh
giá là đối tượng tiềm năng lớn, tạo điều kiện cho ngân hàng cỏ thể tăng lợi nhuận và
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 12cận, sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay từ ngân hàng cũng như là chất lượng cho vayDNNVV của các ngân hàng thương mại nói chung còn nhiều vấn đề bất cập Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa BắcQuảng Bình cũng đã có định hướng phát triển tín dụng đối với loại hình DNNVVnày Tuy nhiên, việc phát triển tín dụng đối với DNNVV tại Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình cònhạn chế về quy mô và chưa có sự quan tâm đúng mức trong việc phát triển tín dụng
đối với nhóm khách hàng tiềm năng này, trong khi đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa
chiếm phần lớn trong cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Và tạiNHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình, mặc dù đã đạt đượcnhững kết quả nhất định sau khi đã chú trọng nâng cao chất lượng cho vay đối với
các DNNVV nhưng chất lượng cho vay đối với DNNVV của NHNo&PTNT chi
nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình vẫn còn nhiều tồn tại và nhiều vấn đề đángchú ý, như doanh số cho vay còn hạn chế, quy trình cho vay - quy trình thẩm định dự
án trước và sau khi cho vay còn nhiều bất cập.…Và trong thời kỳ này kinh tế của địaphương đang bắt đầu có làn sóng phát triển vượt bậc, các DNNVV được thành lập
nhiều kèm theo vô số dự án kinh doanh
Từ thực tế trên em đã chọn chủ đề “Nâng cao chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát tri ển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình”
làm đề tài nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu 2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở kết quả phân tích thực trạng về cho vay đối với khách hàng doanh
nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Namchi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình, căn cứ trên những tồn tại hạn chế tácgiả đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanhnghiệp nhỏ và vừa tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 13- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng có thể ápdụng trong thực tiễn.
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừacủa chi nhánh NHNo&PTNT huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu các nội dung liên quan đến thực trạng chất lượng
tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa của chi nhánh NHNo&PTNThuyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình Các số liệu thống kê trong 3 năm gần đây (2015-2017)
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Minh Hóa
Bắc Quảng Bình
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng
tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa và đề xuất các giảipháp hoàn thiện trong thời gian tới
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 144 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp tài liệu, thông tin được sử dụng trong nghiên cứu
Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó, tìm thông tin thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng, các báo cáo tài chính của NHNo&PTNT Việt Nam
nói chung và chi nhánh NHNo&PTNT huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình nói riêng
và các tài liệu có liên quan khác đã được công bố chính thức
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thứ cấp được thu thập từ
Phòng kế hoạch – kinh doanh của chi nhánh NHNo&PTNT huyện Minh Hóa BắcQuảng Bình
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp sẽ được điều tra khách
hàng DNNVV có quan hệ tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Minh HóaBắc Quảng Bình Qua đó thu thập thông tin đánh giá về nội dung và thực trạng chất
lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình
Phương pháp định lượng: Điều tra thực nghiệm thông qua bảng khảo sát khách hàng
doanh nghiệp nhỏ và vừa đang vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình và dùng kết quả điều tra
được sử dụng bảng tính excell để phân tích kết quả nhằm đưa ra giải pháp và kiến
nghị về chất lượng tín dụng cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừatại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh huyện Minh Hóa BắcQuảng Bình
Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Số lượng bảng câu hỏi
được phát ra là 230 bảng, số lượng thu về được 222 bảng, sau khi kiểm tra và chọn
lọc thì chỉ có 200 bảng khảo sát hợp lệ
4.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích
- Phương pháp thống kê mô tả: Được sử dụng để phân tích mô tả thực trạng
các vấn đề liên quan đến chất lượng tín dụng từ số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp
Thống kê mô tả đặc điểm của đối tượng khảo sát và nhận diện đặc điểm nhómkhách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 15triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình
- Phương pháp so sánh, đánh giá: So sánh một chỉ tiêu với chỉ tiêu gốc, điều
kiện so sánh các số liệu phải phù hợp về không gian, thời gian, nội dung kinh tế,
đơn vị đo lường, phương pháp tính toán, qui mô và điều kiện kinh doanh
- Phương pháp phân tích thông tin: Sau khi đã thu được số liệu đã qua xử lý
bằng phương pháp thông kê mô tả, học viên sẽ áp dụng các phương pháp suy luận,biện chứng duy vật, so sánh, tổng hợp, phân tích biển đồ đồ thị từ đó đưa ra đượcnhững đánh giá và đề xuất các đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượngtín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Minh Hóa Bắc Quảng Bình
4.3 Công cụ xử lý dữ liệu
Sử dụng phần mềm Excell để xử lý số liệu, vẽ bảng, đồ thị, tính toán tỷ lệ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 1.1.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh
tế có tư cách pháp nhân được tổ chức ra để hoạt động kinh doanh trong một lĩnh vựcnhất định với mục đích công ích hoặc thu lợi nhuận Thông thường cần có 3 điềukiện sau để được công nhận là một doanh nghiệp (Lê Vinh Danh, 2009):
- Có tư cách pháp nhân đầy đủ (Doanh nghiệp được Nhà nước thành lập,công nhận hay cho phép hoạt động )
Th ứ nhất: Dựa vào quan hệ sở hữu về vốn và tài sản, các doanh nghiệp được chia
thành doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp
- Doanh nghiệp Nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước thành lập, đầu tưvốn và quản lý nó với tư cách là chủ sở hữu
- Doanh nghiệp tư nhân là những doanh nghiệp do cá nhân đầu tư vốn và tựchịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp là các doanh nghiệp có sự đan xen của cáchình thức sở hữu khác nhau trong cùng một doanh nghiệp
Cách phân loại này chỉ rõ quan hệ sở hữu về vốn và tài sản trong các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Đồng thời là một trong các căn cứ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 17để Nhà nước có chính sách kinh tế và định hướng phát triển phù hợp đối với từng
loại doanh nghiệp (Nguyễn Minh Kiều, 2011)
Th ứ hai: Dựa vào mục đích kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và doanh nghiệp hoạt động công ích
- Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh là tổ chức kinh tế do Nhà nước thànhlập hoặc thừa nhận, hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường Mục tiêu số một
là thu lợi nhuận tối đa
- Doanh ghiệp hoạt động công ích (thường là doanh nghiệp Nhà nước ) là tổchức kinh tế thực hiện các hoạt động về sản xuất, lưu thông hay cung cấp các dịch
vụ công cộng, trực tiếp thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước hoặc thựchiện nhiệm vụ an ninh quốc phòng Mục tiêu chính của các doanh nghiệp này làhiệu quả kinh tế và xã hội
Phân loại theo hình thức này là cơ sở để chọn tiêu thức đánh giá lợi ích xã hội củadoanh nghiệp cho hợp lý và là một trong những căn cứ quan trọng để xác định chínhsách tài trợ của Nhà nước
Th ứ ba: Dựa vào lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có thể chia làm hai
loại là doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính
- Doanh nghiệp tài chính là các tổ chức tài chính trung gian như các ngânhàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm Những doanh nghiệp này cókhả năng cung ứng cho nền kinh tế các loại dịch vụ về tài chính, tiền tệ, tín dụng,bảo hiểm
- Doanh nghiệp phi tài chính là các doanh nghiệp lấy sản xuất kinh doanh sảnphẩm làm hoạt động chính
Phân loại theo tiêu thức này chỉ ra chức năng của từng loại doanh nghiệp
Chức năng chủ yếu của các doanh nghiệp tài chính là làm môi giới thu hút vàchuyển giao vốn từ nới thừa vốn đến nơi thiếu để đầu tư phát triển kinh tế Đối vớicác doanh nghiệp phi tài chính, chức năng chủ yếu là cung cấp các sản phẩm, hànghoá hay dịch vụ phi tài chính đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế Qua tiêu
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 18thức phân loại này Nhà nước có thêm căn cứ để hoạch định các chính sách quản lýphù hợp với mỗi loại hình doanh nghiệp trong từng ngành nghề.
Th ứ tư: Dựa vào quy mô kinh doanh người ta chia doanh nghiệp thành các
loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa
Việc quy định thế nào là doanh nghiệp lớn, nhỏ và vừa là tuỳ thuộc vào điềukiện kinh tế xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng
giai đoạn phát triển kinh tế Tại nước ta, tiêu chí phân loại DNNVV đã được quyđịnh tạm thời tại công văn số 681/CP – KTN ngày 20/6/1998 của Thủ tướng Chính
phủ Theo quy định tại công văn này, tiêu chí xác định DNNVV là vốn và số lao
động Cụ thể là DNNVV là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số laođộng trung bình hàng năm dưới 200 người (Theo công văn số 681/CP – KTN ngày
20/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ)
Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho việc phát triển các DNNVV, ngày
23/11/2001 Chính phủ đã ra nghị định 90/2001/NĐ - CP Trong đó quy địnhDNNVV là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo phápluật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể củangành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có
thể áp dụng linh hoạt đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong haichỉ tiêu trên (23/11/2001 Chính phủ đã ra nghị định 90/2001/NĐ – CP)
1.1.2 Vai trò, đặc điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.1.2.1 Vai trò doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển đang tiến tới một nền kinh tếthị trường định hướng XHCN thì DNNVV càng có ý nghĩa quan trọng Thể hiện cụthể trên các mặt sau:
- DNNVV chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều lao động và đónggóp phần lớn thu nhập quốc dân cho đất nước Theo số liệu thống kê của các nhàkinh tế, hiện nay DNNVV của nước ta chiếm trên 80% tổng số doanh nghiệp, tạo
công ăn việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội Như vậy, phát triển DNNVV là
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 19chủ trương đúng đắn của Đảng, nó được gắn liền với đường lối phát triển kinh tếnhiều thành phần của Đảng theo định hướng kinh tế thị trường nhằm giải quyết việc
làm, tăng thu nhập, góp phần vào ổn định tình hình kinh tế xã hội
- Các DNNVV đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá và cung cấpdịch vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp gia công vệ tinhcho các doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ hàng hoá cho cácdoanh nghiệp lớn Hiện DNNVV chiếm khoảng 31% tổng sản lượng công nghiệp
hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp, 64% khối lượng vận chuyển
hành khách và hàng hoá (Trần Viết Hoàng và Cung Trần Việt, 2009)
- Các DNNVV đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngày càng phong
phú và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biến hàng hoá xuất
khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu Hệ thống siêu thị cũng không thể thay thế đượccác của hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn hiện đại không sản xuất được nhữngsản phẩm đơn chiếc Bằng sự đa dạng ngành nghề, tính nhạy cảm thị trường cácDNNVV sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sảnphẩm và nhu cầu tiêu dùng cầu xã hội Với lợi thế so sánh về các nguyên liệu nônglâm thuỷ hải sản để sản hàng hoá xuất khẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyềnthống đã tạo ra khả năng vô cùng to lớn cho khu vực DNNVV tham gia sản xuất, giacông chế biến, đại lý khai thác cho xuất khẩu Do doanh nghiệp lớn hạn chế về khuvực địa lý, phương pháp tổ chức sản xuất và nếu muốn kinh doanh thường phải sửdụng các DNNVV làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng gói
- Các DNNVV có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương,khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất Phát triển DNNVV sẽ giúp
các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tài nguyên, lao động trong mọi lĩnh
vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương Từng địa phương cũng bị giới hạn bởingân sách, khả năng tích tụ và tập trung vốn của doanh nghiệp tư nhân không nhiềunên việc phát triển doanh nghiệp lớn là hạn chế Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ
ta đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại ở vùng núi phía Bắc,
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 20Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các DNNVV, đồng thời việc chú
trọng phát triển các DNNVV là một trong những hướng chiến lược quan trọng quátrình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
1.1.2.2 Một số đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế Ở
nước ta, DNNVV chiếm 33,6% trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
65,9% trong các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã; 94,6% công ty trách nhiệm hữuhạn; 99,4% doanh nghiệp tư nhân; 65,9% doanh nghiệp Nhà nước và gần 100% doanhnghiệp hoạt động ở lĩnh vực nông thôn là các DNNVV (Nguyễn Trọng Hoài, 2009)
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính năng động và linh hoạt cao trước nững
thay đổi của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng
mặt hàng nhanh vì vốn đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh Các DNNVV dễ phát huybản chất hợp tác, có thể duy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở trong nước
- Các DNNVV có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả Các quyết
định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc và tránh phiền
hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp
- Các DNNVV có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao, ít xảy rarủi ro nên tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần kinh tế
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu điểm trên, DNNVV cũng còn những
đặc điểm bộc lộ mặt hạn chế như, nguồn tài chính hạn hẹp nên quá trình tích tụ và
tập trung để đầu tư tái sản xuất diễn ra rất chậm chạp, trình độ quản lý sản xuất kinhdoanh còn nhiều hạn chế, khó khăn thâm nhập vào thị trường thế giới và khu vực
1.2 Khái quát chung về NHTM 1.2.1 Khái niệm.
- Ngân hàng thương mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm nămgắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển hệ thống NHTM đã có
tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá,ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 21thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chếtài chính không thể thiếu được.
- Hiện nay có rất nhiều khái niệm về NHTM Tại Mỹ, NHTM được cho là
“công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong
ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: “NHTM là những xínghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng
dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho
chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”
- Ở Việt Nam, theo Luật tổ chức tín dụng khoản 1 và khoản 7 Điều 20 xác
định “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ
ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấpcác dịch vụ thanh toán” và trong các loại hình tổ chức tín dụng thì “NHTM là một
tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửicủa khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thựchiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”
- Tóm lại, NHTM là một tổ chức tài chính cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính
mà chủ yếu là nhận tiền gửi, cho vay và các dịch vụ thanh toán
1.1.2 Vai trò của NHTM 1.1.2.1 Chức năng tập trung vốn
- Trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được
sử dụng một cách triệt để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra
lưu thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và
có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh Nhưng những chủ thể nàykhông quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được
lưu thông Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từngười muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay vay
Thực hiện được điều này NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 22của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
NHTM vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có
được nó sẽ duy trì họat động của mình
Vai trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổphiếu, trái phiếu,… NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư;
chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán; đảm nhận việc mua trái phiếucông ty…
1.1.2.2 Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán.
- Chức năng này có nghĩa là ngân hàng tiến hành nhập tiền vào tài khoản haychi trả tiền theo lệnh của chủ tài khỏan Khi các khách hàng gởi tiền vào ngân hàng,
họ sẽ được đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một cáchnhanh chóng tiện lợi, nhất là đối với các khỏan thanh tóan có giá trị lớn, ở mọi địa
phương mà nếu khách hàng tự làm sẽ rất tốn kém khó khăn và không an toàn (ví dụ:
chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản…)
- Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông
và độc quyền quản lý các công cụ đó (sec, giấy chuyển ngân, thẻ thanh toán ) đã
tiết kiệm cho xã hội rất nhiều vể chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ luân chuyểnvốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa Ở các nước phát triển phần lớn thanh
toán được thực hiện qua sec và được thực hiện bằng việc bù trừ thông qua hệ thốngngân hàng thương mại Ngoài ra việc thực hiện chức năng là thủ quỹ của các doanh
nghiệp qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán đã tạo cơ sở cho ngân hàng thựchiện các nghiệp vụ cho vay
- Hiện nay ở các nước công nghiệp phát triển việc sử dụng hình thức chuyểntiền bằng điện tử là chuyện bình thường và chính điều này đưa đến việc không sửdụng sec ngân hàng mà dùng thẻ như thẻ tín dụng Họ thanh toán bằng cách nốimạng các máy vi tính của các ngân hàng thương mại trong nước nhằm thực hiệnchuyển vốn từ tài khoản người này sang người khác một cách nhanh chóng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 231.1.2.3 Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp
- Vào cuối thế kỉ 19 hệ thống ngân hàng hai cấp được hình thành, các ngânhàng không còn họat động riêng lẽ nữa mà tạo thành hệ thống, trong đó ngân hàngtrung ương là cơ quan quản lý về tiền tệ, tín dụng là ngân hàng của các ngân hàng
Các ngân hàng còn lại kinh doanh tiền tệ, nhờ họat động trong hệ thống các NHTM
đã tạo ra bút tệ thay thế cho tiền mặt
Quá trình tạo ra tiền của NHTM được thực hiện thông qua tín dụng và thanhtoán trong hệ thống ngân, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống ngân hàng trung
ương mỗi nước
1.2.3 Các hoạt động NHTM 1.2.3.1 Nghiệp vụ tạo vốn
- Là nghiệp vụ hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, được gọi
là nghiệp vụ cơ bản vì các nguồn vốn này nằm bên tài sản Nợ trên bảng tổng kết tàisản của ngân hàng thương mại Các nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm có”
* Vốn tự có và quỹ ngân hàng: Trong đó vốn điều lệ là số vốn ban đầu phải lớn hơnmức tối thiểu do nhà nước quy đinh mà ngân hàng phải có để được phép hoạt động
Tùy theo loại hình ngân hàng mà các chủ thể góp vốn khác nhau: với ngân hàng tưnhân thì đó là vốn riêng của một doanh nghiệp đầu tư, với ngân hàng cổ phần thìvốn điều lệ được hình thành do phát hành cổ phiếu, nếu ngân hàng quốc doanh thìtoàn bộ do ngân sách nhà nước cấp
Quỹ ngân hàng bao gồm: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư và pháttriển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, quỹ khác….ngoài
ra còn có các quỹ không hình thành từ lợi nhuận ngân hàng như quỹ khấu hao cơbản tài sản cố định, quỹ khấu hao sữa chữa lớn, các quỹ khác theo quy định củapháp luật tài chính
Nguồn vốn tự có của ngân hàng chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng nguồnvốn của ngân hàng nhưng nó đóng vai trò quan trọng vì đó là cơ sở để tiến hànhkinh doanh, tiến hành thu hút những nguồn vốn khác
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 24* Vốn tiền gửi của khách hàng: Lịch sử phát triển ngành ngân hàng cho thấy
để bảo quản số tiền vàng, người ta đã thuê ngân hàng giữ hộ và đòi hỏi hoàn trảđúng số tiền đã gửi nên ngân hàng không thể dùng chúng để cho vay Về sau, người
ta chỉ yêu cầu phải hoàn trả đủ số lượng với thời hạn lâu hơn nên ngân hàng có thể
sử dụng vốn tiền gửi của khách hàng để cho vay kiếm lời, còn người gửi tiền khôngnhững không phải trả tiền thua giữ tiền mà còn được hưởng lãi suất trên số tiền đó
Trong tổng nguồn vốn hoạt động, vốn tiền gửi là vốn chủ yếu của ngân hàng, nóchiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Để bảo đảm một khoảng cách an toàn trong hoạt động của ngân hàng, trong mốitương quan giữa vốn tự có và vốn huy động, nếu chênh lệch đó càng lớn thì hệ số an
toàn của ngân hàng càng thấp Vì vậy, để đảm bảo mức độ an toàn tối thiếu, cần có
quy định giới hạn giữa vốn tự có và vốn huy động
* Nguồn vốn đi vay: Có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân
hàng thương mại, thuộc loại này bao gồm:
- Vốn huy động từ việc phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiềngửi của ngân hàng nhằm bổ sung nguồn vốn hoạt động của ngân hàng khi vốn tự có
và vốn tiền gửi chưa đủ đáp ứng yêu cầu kinh doanh
- Vốn vay của ngân hàng trung ương: Khi ngân hàng trung ương nhận chovay chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá của ngân hàng thương mại
- Vốn vay của các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác thông quathị trường tiền tệ ngắn hạn Tại đây, các ngân hàng thiếu tiền thanh toán sẽ vay của
các ngân hàng khác để thanh toán, nghiệp vụ này vừa giúp cho các ngân hàng thiếu
tiền có tiền mặt ngay vừa giúp cho những ngân hàng dư tiền cho vay để sinh lời
- Vốn vay của các ngân hàng nước ngoài
* Nguồn vốn tiếp nhận: Những nguồn vốn mà ngân hàng thương mại ủy thác
từ các tổ chức trong hoặc ngoài nước từ ngân sách nhà nước để cho vay trung, dàihạn thuộc kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung của nhà nước, để thực hiện những dự
án có mục tiêu định trước trong sản xuất kinh doanh
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 25* Các nguồn khác như vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân
hàng như khi làm đại lý, dịch vụ thanh toán, làm trung gian thanh toán…
Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng
thanh toán làm sao để đáp ứng được các nhu cầu rút tiền của khách hàng Muốn
vậy, các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn, không sử dụng nó, để sẵn
sàng đánh ứng nhu cầu thanh toán Phần vốn để dành này gọi là dự trữ
- Tiền mặt tại quỹ: Có khả năng thanh toán kịp thời nhất Ngân hàng thươngmại phải để tại quỹ của mình một số tiền phòng hộ theo một tỷ lệ nhất định trên tiềngửi của khách hàng để đáp ứng nhu cầu thanh toán hoặc rút tiền mặt của khách hàngtrong ngày
- Tiền gửi tại ngân hàng trung ương: Theo quy định, ngân hàng thương mạiphải mở tài khoản tại ngân hàng trung ương và gửi vào đó một số tiền nhất địnhgồm 2 phần:
+ Phần tối thiểu theo quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ dự trữ bắtbuộc Ngân hàng trung ương được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong từng
thời kỳ nhất định.Việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bặt buộc do chính phủ quy định
+ Phần còn lại dùng để giao hoán séc và thanh toán nợ với các tổ chức tíndụng và ngân hàng thương mại khác Tiền gửi của ngân hàng thương mại phải mởtài khoản tại ngân hàng trung ương biến động hàng ngày vì mỗi ngày ngân hàng
thương mại đều có nộp hay rút tiền mặt, đổi séc tại phòng giao hoán
- Tiền gửi của ngân hàng thương mại tại các ngân hàng thương mại và các tổchức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu thanh toán, chuyển tiền khác địa phương
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 26- Tiền đầu tư vào các chứng phiếu có giá trị, những chứng phiếu này có thểbán ra bất cứ lúc nào trên thị trường chứng khoán Hoạt động này vừa tạo ra sự an
toàn vừa mang lại lợi nhuận cho ngân hàng thương mại
* Nghiệp vụ tín dụng: Ngân hàng thương mại sử dụng phần lớn nguồn vốn hoạt
động của ngân hàng Nghiệp vụ tín dụng gồm có:
- Chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác: Đây là nghiệp vụ chovay gián tiếp mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và chủ thểkhác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng, là việc ngân hàng mua thương phiếu của
khách hàng, đây phải là những thương phiếu còn trong thời hạn hiệu lực, người sở
hữu những thương phiếu đó khi bán cho ngân hàng sẽ nhận một số tiền bằng mệnhgiá của thương phiếu trừ cho lợi tức chiết khấu do ngân hàng quy định
- Nghiệp vụ tín dụng thế chấp: Đây là một hình thức cho vay có đảm bảobằng tài sản của khách hàng Tài sản này có thể là nhà cửa, công trình xây dựng, tàubiển, cây lâu năm…và phải thuộc quyền sở hữu của người vay, có thể bán nhanhchóng Khi cho vay, ngân hàng cho vay theo tỷ lệ trên trị giá thực thế chấp có xácnhận củ công chứng Khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân
hàng để nhận lại các giấy tờ trên, nếu không trả được nợ ngân hàng được quyền yêu
cầu tòa án cho lệnh phát mãi tài sản để thu nợ
- Nghiệp vụ tín dụng ứng trước vào tài khoản: Đây là một thể thức cấp tíndụng mà trong đó ngân hàng đồng ý cho khách hàng sử dụng một mức tín dụng nhất
định trong thời hạn nhất định, đồng thời hai bên ký kết với nhau một hợp đồng tín
dụng Mức cho vay có thể thực hiện theo hai cách: Chuyển tất cả các khoản tiền vayvào tài khoản tiền gửi, hoặc cho phép khách hàng sử dụng dần số tiền vay bằng cáchphát hành séc hoặc các công cụ thanh toán ngay trên tài khoản vãng lai
- Nghiệp vụ tín dụng thuê mua và tín dụng đầu tư, trong đó:
+ Tín dụng thuê mua là việc ngân hàng đứng mau tài sản của người cung cấp
để cho thuê đối với người có nhu cầu sử dụng (người đi thuê) Khi hợp đồng cho
thuê hết hạn, người đi thuê có thể trả lại tài sản đó cho ngân hàng, xin gia hạn thêm
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 27hợp đồng hoặc mua lại tài sản đó theo giá cả thỏa thuận với ngân hàng Tài sản chothuê ở đây có thể là động sản hoặc bất động sản.
+ Tín dụng đầu tư: Thực chất khoản cho vay trung, dài hạn của ngân hàng đểtài trợ cho các doanh nghiệp trong các dự án đầu tư như các công trình xây dựng cơbản, cải tạo và quy mô sản xuất kinh doanh, khôi phục hoặc thay thế tài sản cố định,cải tiến và hợp lý hóa sản xuất kinh doanh
- Nghiệp vụ tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng sinh hoạt, cho vay để muahàng tiêu dùng Ở các nước phát triển, mọi người có thu nhập ổn định đều được
ngân hàng cho vay dưới hình tức cấp thẻ tín dụng
* Nghiệp vụ đầu tư: Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoảnmục cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể cho ngân hàng thươngmại Trong nghiệp vụ này ngân hàng thực hiện kinh doanh kiếm lãi như các doanhnghiệp khác, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để
đầu tư dưới các hình thức như:
- Đầu tư chứng khoán: Bằng cách cho các công ty cổ phần đã hoạt đọng, các
xí nghiệp vay theo cách mua trái khoán của xí nghiệp, cho ngân hàng khác vay bằng
cách mua công trái, đầu tư vào các công ty bằng cách mua cổ phiếu của công ty
- Hùn vốn, liên doanh…là các biện pháp trực tiếp góp vốn với các doanhnghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới
Tất cả mọi hành động đầu tư vào chứng khoán đều nhằm mục đích mang lạithu nhập Nhưng mặt khác nhờ hoạt động mà các rủi ro trong hoạt động của ngân
hàng được phân tán Ngoài ra nếu đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro
sẽ rất thấp Vì vậy các ngân hàng thương mại có xu hướng sử dụng nguồn vốn ngày
càng tăng cho việc đầu tư vào trái phiếu chính phủ Theo quy định của ngân hàngthương mại chỉ được phép dùng nguồn vốn tự có để thực hiện nghiệp vụ đầu tư
* Tài sản có khác: Những khoản mục còn lại của tài sản có, trong đó chủ yếu
là tài sản lưu động - cơ sở vật chất để tiến hành hoạt động ngân hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 281.2.3.3.Nghiệp vụ trung gian - nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng
- Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ tợ đáng kểcho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thunhập cho ngân hàng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí…có vị trí xứng đáng trong giai
đoạn phát triển hiện nay của ngân hàng
Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng thương mại thực hiện theo sự uỷ nhiệm củakhách hàng được hưởng tiền hoa hồng như:
- Chuyển tiền cho khách hàng sang địa phương khác để họ sử dụng theo yêucầu hoặc trả cho một người nào đó
- Thu hộ: Ngân hàng đứng ra thay mặt khách hàng để thu hộ các khoản kỳphiếu đến hạn, chứng khoán, hàng hóa…
- Ủy thác: Là nghiệp vụ mà ngân hàng làm theo ủy thác của khách hàng nhưquản lý tài sản hộ, chuyển gia tài hộ, bảo quản chứng khoán và vật có giá, thanh lýtài sản của xí nghiệp bị phá sản…
- Mua bán hộ: Theo ủy nhiệm của khách hàng, ngân hàng đứng ra phát hành
cổ phiếu hoặc trái phiếu hoặc trái khoán công ty hoặc trái khoán nhà nước, mua bánngoại tệ, kim khí quý, đá quý cho khác hàng
-Kinh doanh vàng, bạc, ngoại tệ để kiếm lời nếu được phép của ngân hàng
trung ương
- Làm tư vấn tài chính tiền tệ như cung cấp thông tin, hướng dẫn chính sáchtiền tệ, thương mại, lập dự án đầu tư tín dụng, ủy thác đầu tư cho khách hàng
1.3 Hoạt động tín dụng ngân hàng 1.3.1 Khái niệm
- Tín dụng là một khái niệm đã tồn tại từ lâu đời trong đời sống xã hội loài
người Theo tiếng Latin, tín dụng – phiên âm của từ “creditim”, nghĩa là sự tín
nhiệm Điều này có nghĩa là trong quan hệ tín dụng, người cho vay tin tưởng rằng
người đi vay sẽ hoàn trả vào một ngày nào đó trong tương lai như hai bên đã thoả
thuận Như vậy, một cách đơn giản nhất, tín dụng là quan hệ vay mượn trên nguyêntắc hoàn trả cả vốn lẫn lãi giữa người đi vay và người cho vay Người cho vay tin
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 29tưởng vào người vay sẽ sử dụng vốn có hiệu quả và hoàn trả đúng thời hạn cả vốn
lẫn lãi
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngânhàng, một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổchức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa
là người cho vay
- Với tư cách là người đi vay, ngân hàng huy động mọi nguồn vốn tạm thờinhàn rỗi trong xã hội bằng các hình thức: Nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các
tổ chức, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốntrong xã hội
- Với tư cách là người cho vay, ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho các đơn
vị, tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu thiếu vốn cần được bổ sung trong hoạt động sảnxuất kinh doanh và tiêu dùng Với vai trò này, tín dụng ngân hàng đã thực hiện chức
năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng yêu cầu tái sản xuất xã hội Cơ sở kháchquan để hình thành chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng ngân hàng là dođặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội đã thường xuyên xuất
hiện hiện tượng tạm thời thừa vốn ở các tổ chức, cá nhân này, trong khi các tổ chức,
cá nhân khác lại có nhu cầu thiếu vốn Hiện tượng thừa thiếu vốn phát sinh do có sựchênh lệch về thời gian, số lượng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổchức, cá nhân trong quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải được tiến hành liên tục Tíndụng thương mại đã không giải quyết được vấn đề này, chỉ có ngân hàng là tổ chứcchuyên kinh doanh tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn đó khi ngân hànggiữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
- Có ba loại quan hệ chủ yếu trong quan hệ tín dụng ngân hàng, bao gồm:
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với dân cư
+ Quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các TCTD khác trong và
ngoài nước
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 30Ngày nay, tín dụng ngân hàng đã và đang là nhân tố thúc đẩy lực lượng sảnxuất phát triển, điều tiết và di chuyển vốn, tăng thêm tính hiệu quả của vốn tiền tệtrong nền kinh tế thị trường.
1.3.2 Các hình thức tín dụng ngân hàng
- Người ta có thể dựa vào rất nhiều tiêu thức để phân loại các hình thức và sảnphẩm cho vay Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học nhằm mục đích giúp cho cácngân hàng có thể thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả của côngtác quản trị rủi ro tín dụng Phân loại cho vay dựa và các căn cứ sau đây:
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Đây là loại cho vay ngắn hạn củangân hàng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại
và dịch vụ nhằm để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp này
Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay phục vụ cho mục đích trang trải các chi phísản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,nhiên liệu…
- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng,công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các
định chế tài chính khác
- Cho vay tiêu dùng: Là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nhưmua sắm các vật dụng đắt tiền và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông
thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng
1.3.2.2 Th ời hạn cho vay:
- Theo tiêu thức này, người ta chia cho vay thành 03 loại:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 31Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng
để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân
- Cho vay trung hạn: Là các món vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng
Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định,cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựngcác dự án mới có quy mô nhỏ và thời hạn thu hồi vốn nhanh Bên cạnh đầu tư chotài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thườngxuyên của các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp mới thành lập
- Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn vay trên 05 năm và thời hạntối đa có thể lên tới 20 – 30 năm Cho vay dài hạn được sử dụng để thực hiện các dự
án đầu tư mới, mở rộng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xây dựng nhà ở, mua sắm, đầu tưphương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp, dây chuyền, nhà máy
sản xuất
1.3.2.3 M ức độ tín nhiệm đối với khách hàng
- Theo tiêu thức phân loại này, cho vay được chia thành hai loại:
+ Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp hoặccầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tíncủa bản thân khách hàng Đối với những khách hàng tốt, có uy tín cao, có khả năngtài chính vững mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào
uy tín của khách hàng mà không cần một nguồn thu thứ hai bổ sung
+ Cho vay có tài sản bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảmnhư thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba Đối với
khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có bảođảm Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai,
bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu tính chắc chắn
1.3.2.4Phương pháp cho vay:
- Dựa vào tiêu thức này, cho vay của NHTM được chia thành các loại sau đây:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 32+ Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay nhiều lần cách biệt nhau
đối với khách hàng không có nhu cầu thường xuyên và chỉ vay trong trường hợp
cần thiết vốn để ngân hàng tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sảnxuất kinh doanh Khi cần vay vốn, khách hàng làm đơn yêu cầu và trình phương án
sử dụng vốn vay gửi đến Ngân hàng Ngân hàng sẽ phân tích, đánh giá khách hàng
và ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả
nợ, lãi suất và yêu câu bảo đảm nếu cần
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Đây là hình thức cho vay mà theo đó ngân
hàng và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một
khoảng thời gian nhất định Hạn mức tín dụng này được xác định dựa trên kế hoạchsản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng Hạn mức tíndụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ Mỗi lần khách hàng vay chỉ cần trình bày
phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoá dịch
vụ và nêu yêu cầu vay Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từvay, ngân hàng sẽ phát tiền vay cho khách hàng
+ Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép khách hàngtrả góp làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận Cho vay trả góp thường
được áp dụng đối với các khoản cho vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định
hoặc hàng tiêu dùng lâu bền Số tiền mỗi lần trả được tính toán sao cho phù hợp vớikhả năng trả nợ
+ Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hànghoá, áp dụng đối với doanh nghiệp thương mại hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu
kỳ tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với ngân hàng Doanhnghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn, ngân hàng có thể cho vay để mua hàng hoá
và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải
làm đơn xin vay luân chuyển Ngân hàng cùng với khách hàng thoả thuận với nhau
về phương thức cho vay, hạn mức tín dụng và các nguồn cung cấp hàng hoá cũng
như khả năng tiêu thụ Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từhoá đơn nhập hàng và số tiền cần vay, Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 33Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho trở thành vật bảo đảm cho khoản vay tạiNgân hàng.
+ Cho vay thấu chi: Là việc cho vay mà Ngân hàng thoả thuận bằng văn bảnchấp thuận cho khách hàng chi vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán của
khách hàng đến một giới hạn nhất định (gọi là hạn mức thấu chi) Để được vay thấuchi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gian thấu chi
Trong thời gian thấu chi, khách hàng có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi…vượt quá số
dư tiền gửi để chi trả nhưng không được vượt quá hạn mức thấu chi Khi khách
hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi Nếu khách
hàng chi vượt quá hạn mức thấu chi thì sẽ bị phạt và đình chỉ sử dụng hình thức này
1.4 Chất lượng tín dụng ngân hàng 1.4.1 Khái niệm
- Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, phùhợp với sự phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với khả năng của ngân hàng, và số vốn
vay này được khách hàng đứa vào quá trình sản xuất, kinh doanh tạo ra số tiền lớnhơn, đảm bảo khả năng trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đủ và đúng hạn, đồng thời,
khách hàng vay có thể trang trải đủ chi phí và có lợi nhuận, khối lượng sản phẩmhàng hóa hữu ích cung cấp cho xã hội tăng (Lê Thị Mận, 2010)
- Như vậy, khi xem xét chất lượng tín dụng của ngân hàng nói chung và đốivới doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng, cần tính đến ba nhân tố: ngân hàng thươngmại, khách hàng và nền kinh tế
- Xét từ giác độ ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm
vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tíchcực của bản thân ngân hàng và phải đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường,
đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Chất lượng hoạt động tín dụng
phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng,
tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữangắn hạn, trung và dài hạn trong nền kinh tế (Nguyễn Minh Kiều, 2011)
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 34- Xét từ giác độ khách hàng: thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự
am hiểu khách hàng sẽ làm cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng,
đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hợp lý về vốn cho họ Trong điều kiện cạnh tranh hiện
nay, chất lượng là yêu cầu hàng đầu, vì vậy, chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêucầu hợp lý của khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút
được khách hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù
hợp với tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng,góp phần làm lành mạnh tài chính khách hàng (Nguyễn Minh Kiều, 2011)
- Xét từ giác độ nền kinh tế: Hoạt động tín dụng trong những năm gần đâyphản ánh rõ nét sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới với nhiềukhái niệm mới, nội dung mới để đạt được sự thống nhất về nhận thức và tạo điềukiện nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng Tín dụng phục vụ sản xuất kinhdoanh, tạo việc làm cho người lao động, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, góp phần
tăng trưởng kinh tế và khai thác khả năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa
nguồn vốn nhàn rỗi trong nước, tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tếphát triển (Nguyễn Minh Kiều, 2011)
- Như vậy, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ảnh mức độ thíchnghi của ngân hàng thương mại với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thể hiến sứcmạnhc ủa một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại Chất lượng tín dụng
được xác định qua nhiều yếu tố: Thu hút được khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận
tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí tổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ…
1.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng ngân hàng 1.4.2.1 Chỉ tiêu định tính
- Cảm giác an tâm của khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng nếuNgân hàng có bảo vệ, có bãi gửi xe, có nhân viên trông xe không thu lệ phí thì Ngânhàng sẽ tạo được một ấn tượng đầu tiên rất tốt đẹp trong lòng khách hàng
- Nếu ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban sẽ giúp khách hàngkhông bị bỡ ngỡ và đỡ tốn thời gian Từ đó khách hàng sẽ có ấn tượng tốt vềNgân hàng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 35Cách bố trí sắp sếp trong phòng làm việc của ngân hàng, trang phục của nhân
viên, đặc biệt là thái độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín
dụng của ngân hàng Ngân hàng có được một đội ngũ cán bộ lành nghề, hăng sayvới công việc cũng là một trong những yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng tíndụng ngân hàng Do đó, ngân hàng không thể bằng lòng với khả năng phục vụ hiệntại mà phải thường xuyên củng cố phong cách làm việc, đào tạo cán bộ xây dựng cơ
sở vật chất phục vụ Nếu chất lượng tín dụng cao thì chắc chắn Ngân hàng sẽ cónhiều khách hàng mới
- Uy tín của ngân hàng cũng góp phần làm nên chất lượng tín dụng của Ngânhàng
Các Ngân hàng nước ngoài, ngân hàng cổ phần trong nước vào Việt Nam
không lâu nhưng phong cách làm việc, thái độ phục vụ khách hàng của họ là rất tốt
Trong số này có thể kể đến ngân hàng ANZ, là một ngân hàng của úc mới vào ViệtNam từ năm 1992 Khách hàng khi đến giao dịch với ANZ bao giờ cũng rất yên tâm
và thoải mái bởi ở đây có một đội ngũ nhân viên bảo vệ rất chuyên nghiệp, một ban
lễ tân niềm nở và hướng dẫn khách hàng tận tình, chu đáo, một không khí làm việcnghiêm túc Tất cả những điều đó đã góp phần tạo nên uy tín của ngân hàng ANZ ởViệt Nam (Nguyễn Thị Hường, 2012)
- Như vậy, dựa vào các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào chất
lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại
1.4.2.2 Chỉ tiêu định lượng
- Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng,
trong đó có các chỉ tiêu cơ bản sau:
+ Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu: Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ban hànhngày 22/04/2005 của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu (hay nợ có vấn đề, nợ khônglành mạnh, nợ khó đòi, nợ không thể đòi,…) được định nghĩa là các khoản nợ thuộc
nhóm 3, 4 và 5 quy định tại điều 6 hoặc điều 7 của Quy định này
+ Nợ xấu mang các đặc trưng sau: Khách hàng đã không thực hiện nghĩa vụ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 36Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến cókhả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi.
Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phátmãi không đủ trang trải nợ gốc và lãi
Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày
- Cụ thể, các khoản nợ xấu bao gồm:
+ Nợ dưới tiêu chuẩn (nợ nhóm 3)+ Nợ nghi ngờ (nợ nhóm 4)
+ Nợ có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5)
- Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của ngân hàng
thương mại tại một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm
Chỉ tiêu này được tính như sau:
Dư nợ xấu
X 100%
Tổng dư nợ cho vay
- Cũng theo quy định này, các ngân hàng có thể chọn phân loại nợ theo
phương pháp định lượng hay phương pháp định tính với các cách xếp loại khác
nhau như sau:
Theo Quyết định 493 phân loại nợ thành năm nhóm, bao gồm:
+ Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả
năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tươnglai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán
+ Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lạithời hạn trả nợ
+ Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày
+ Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày và
nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 37+ Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý
- Theo phương pháp này, mặc dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể
để phân loại nợ như trên nhưng tổ chức tín dụng vẫn có quyền chủ động tự quyếtđịnh phân loại bất kỳ khoản nợ nào vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với
mức độ rủi ro cao nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm
+ Nợ nghi ngờ+ Nợ có khả năng mất vốnChỉ tiêu này được tính như sau:
Các khoản nợ quá hạn phát sinh có thể do nhiều nguyên nhân chủ quan (trình
độ quản lý của doanh nghiệp còn yếu kém, công nghệ sản xuất lạc hâu, doanh nghiệpkhông thích nghi được với thị trường, doanh nghiệp bị đình trệ sản xuất…) và nguyên
nhân khách quan (rủi ro trong kinh doanh do thiên tai, chiến tranh, có các khoản nợ
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 38là không thể tránh khỏi, do đó, các ngân hàng thương mại phải tùy thuộc vào đối
tượng khách hàng của mình mà thiết lập mức giới hạn tỷ lệ nợ quá hạn nhất định
Thông thường, nếu nhìn vào cách tính, ta sẽ thấy chỉ tiêu này càng lớn chứng
tỏ ngân hàng sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của ngân hàng sẽ hiệu quả
hơn Tuy nhiên, điều này chưa chắc đã đúng Thực ra, ta chưa thể khẳng định được
hiệu suất sử dụng vốn cao thì chất lượng tín dụng cùa ngân hàng là tốt và ngược lại,bởi tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động lớn song có thể tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn vẫn ở tỷ lệthấp, làm ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng tín dụng Ngoài ra, ta có thể thấy rằngngân hàng có hiệu suất sử dụng vốn cao chưa hẳn đã tốt hoặc ngược lại, do nếu chỉtiêu này có giá trị lớn (càng lớn hơn 1, tức tổng số tiền huy động ít hơn tổng số tiềncho vay) thì ngân hàng phải tìm kiếm nguồn vốn khác có chi phí cao hơn; đồngthời, nếu hiệu suất sử dụng vốn thấp (có giá trị càng nhỏ hơn 1, tức tổng số tiền huy
động được nhiều hơn tổng số tiền cho vay) thì ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng thừa
vốn Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp so sánh khả năng cho vay và
huy động vốn của ngân hàng Vì vậy, khi xem xét ảnh hưởng của chỉ tiêu này tới
chất lượng tín dụng của ngân hàng, chúng ta phải xem xét một cách tổng hợp chỉtiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác
* Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng:
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng trongmột thời gian nhất định (thường là một năm), phản ánh thời gian thu hồi nợ củangân hàng là nhanh hay chậm và được xác định như sau:
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 39lượng vốn do các doanh nghiệp sản xuất vay chiếm tỷ trọng lớn dư nợ thì chỉ tiêu
này của ngân hàng sẽ thấp hơn (vốn quay vòng chậm hơn) so với lượng vốn do cácdoanh nghiệp thương mại vay chiếm tỷ trọng lớn dư nợ Do vậy, để có sự chính xáctrong xem xét chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêu này thì các tiêu thức tính toánphải thống nhất, vòng quay vốn tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạnvay và từng đối tượng vay cụ thể
* Chỉ tiêu lợi nhuận:
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất lợi nhuận củahoạt động tín dụng =
Lợi nhuận từ hoạt động
Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời của các khoản tín dụng, một khoản tíndụng ngắn hạ hay dài hạn không thể xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lạilợi nhuận cho ngân hàng Chỉ tiêu này có giá trị lớn chứng tỏ các khoản vay củangân hàng sinh lời và ngược lại Đánh giá chất lượng tín dụng thông qua chỉ tiêunày cũng chỉ mang tính chất tương đối vì chỉ tiêu này cũng phụ thuộc khá nhiều vàochính sách lãi suất Chẳng hạn trường hợp khách hàng được vay một khoản tíndụng, cam kết trả nợ theo niên kim cố định và đã trả nợ đầy đủ qua các kỳ đầu,
nhưng đến kỳ cuối cùng, do khó khăn trong sản xuất kinh doanh, khách hàng này
không trả được nợ đúng hạn, lúc này khoản vay có sinh lời nhưng vẫn tồn tại mộtkhoản nợ quá hạn là một phần trong dư nợ gốc ban đầu nên cũng không thể khẳng
định đây là một khoản tín dụng có chất lượng tốt Ngoài ra, khi so sánh chất lượng
Trường Đại học Kinh tế Huế
Trang 40dụng của ngân hàng này cao hơn ngân hàng khác do có tỷ suất lợi nhuận của hoạt
động tín dụng cao hơn, nguyên nhân cũng bởi do sự khác nhau trong chính sách lãi
suất của từng ngân hàng Vì vậy, chỉ tiêu này cũng nên được xem xét một cách
tương đối trong mối quan hệ với các chỉ tiêu và yếu tố quan trọng khác làm ảnhhưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng
1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng 1.4.3.1 Sự phát triển của nền kinh tế
- Để NH có thể huy động được nhiều vốn mở rộng hoạt động tín dụng phục
vụ cho việc phát triển kinh tế thì cần có một nền kinh tế ổn định Một nền kinh tếphát triển ổn định, sẽ giúp cho NH mở rộng quy mô hoạt động của mình, làm giá cảluôn giữ ở mức ổn định, tránh được tình trạng lạm phát hoặc giảm phát
- NH sẽ khó tránh khỏi rủi ro nếu nền kinh tế không ổn định, chu kỳ kinh tế
có tác động không nhỏ đến hoạt động cho vay của NH Trong thời kỳ nền kinh tế thịtrường bị suy thoái, sản xuất bị đình trệ, kinh doanh bị thu hẹp thì nhu cầu vốn tín
dụng giảm và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện thì cũng khó có thể sử dụng cóhiệu quả hay khó có thể trả nợ đúng hạn cho NH Ngược lại, thời kỳ nền kinh tế
hưng thịnh SXKD được mở rộng dẫn đến nhu cầu về vốn tăng, từ đó chất lượng tín
dụng được nâng lên, giảm bớt rủi ro tín dụng Như vậy, chu kỳ kinh tế ảnh hưởngnhiều đến hiệu quả của các khoản vốn tín dụng NH (Nguyễn Tấn Bình, 2010)
- Ngoài ra, các chính sách và sự điều tiết của các cơ quan có thẩm quyền ởmỗi ngành, mỗi vùng đều có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng
1.4.3.2 Môi trường chính trị, pháp lý
- Môi trường Xã hội - Chính trị
+ Khách hàng và NH thực hiện quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tín nhiệmgiữa hai bên Vì vậy sự tín nhiệm là cầu nối mỗi quan hệ giữa NH và kháchhàng Uy tín của NH trên thị trường ngày càng cao thì sẽ thu hút được lượng
khách hàng ngày càng đông Mối quan hệ xã hội thể hiện cụ thể giữa NH và
khách hàng là nhân tố không kém phần quan trọng quyết định tới quy mô, phạm
vi hoạt động của mỗi NH, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng
Trường Đại học Kinh tế Huế