1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua mạng xã hội ở các trung tâm giáo dục

131 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết khoa học Hoạt động Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã được thực hiện thường xuyê

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Khổng Thị Minh Giang

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH

TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MẠNG

XÃ HỘI Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC

KĨ NĂNG SỐNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Khổng Thị Minh Giang

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MẠNG

XÃ HỘI Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC

KĨ NĂNG SỐNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Giáo dục học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THỊ HƯƠNG

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Tác giả luận văn

Khổng Thị Minh Giang

Trang 4

Ban giám đốc 3 trung tâm: Trung tâm KNS Rồng Việt, Trường Ngoại khóa Tomato, Trung tâm Sức Trẻ Mới tại Thành phố Hồ Chí Minh cùng các Thầy, Cô giáo giảng dạy tại trung tâm đã tạo điều kiện, nhiệt tình hỗ trợ và tích cực tham gia cùng chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Các anh, chị cùng khóa học, các đồng nghiệp, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi sai sót, tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của Quý thầy, cô và các anh, chị đồng nghiệp Trân trọng cảm ơn./

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9/2018

Tác giả

Khổng Thị Minh Giang

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG 7

1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề ở ngoài nước 7

1.1.2 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước 12

1.2 Các khái niệm cơ bản 16

1.2.1 Mạng xã hội 16

1.2.2 Kĩ năng sống 17

1.2.3 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống 19

1.2.4 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua mạng xã hội 19

1.3 Mạng xã hội và sự phát triển nhân cách học sinh trung học cơ sở 20

1.3.1 Đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học cơ sở 20

1.3.2 Mục đích của mạng xã hội 22

1.3.3 Đặc điểm của mạng xã hội 23

1.3.4 Ảnh hưởng của mạng xã hội đến sự phát triển nhân cách học sinh THCS 25

1.4 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở Trung tâm giáo dục kĩ năng sống 26

1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ của Trung tâm giáo dục kĩ năng sống 26

Trang 6

1.4.2 Mục đích giáo dục kĩ năng sống thông qua mạng xã hội 27

1.4.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở thông qua mạng xã hội 28

1.4.4 Hình thức tổ chức và phương pháp, phương tiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở Trung tâm GDKNS 30

1.4.5 Đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở thông qua mạng xã hội 33

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở thông qua mạng xã hội 34

1.5.1 Yếu tố chủ quan 34

1.5.2 Yếu tố khách quan 35

Kết luận chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38

2.1 Khái quát về các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống tại thành phố Hồ Chí Minh 38

2.1.1 Trung tâm giáo dục Kĩ năng sống Rồng Việt 38

2.1.2 Trường ngoại khóa Tomato 39

2.1.3 TNHH Giáo dục & Đào tạo Sức Trẻ Mới 39

2.2 Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng 39

2.2.1 Mẫu nghiên cứu thực trạng 39

2.2.2 Cách thức khảo sát 40

2.2.3 Cách thức xử lý số liệu 40

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 40 2.3.1 Thực trạng nhận thức về mục tiêu giáo dục Kĩ năng sống cho HS

THCS thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống

Trang 7

TP.HCM 41

2.3.2 Thực trạng nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua MXH ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 43

2.3.3 Thực trạng hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua MXH ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 45

2.3.4 Thực trạng phương pháp giáo dục các kĩ năng sống cho học sinh thông qua MXH ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 47

2.3.4 Thực trạng đánh giá kết quả giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua MXH ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 49

2.3.5 Thực trạng về các điều kiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua MXH ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 50

2.4 Nguyên nhân của thực trạng hoạt động GDKNS cho HS THCS thông qua MXH ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 52

Kết luận chương 2 57

Chương 3 BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI Ở CÁC TRUNG TÂM GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 57

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội 58

3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 58

3.1.2 Đảm bảo tính hệ thống 58

3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 59

3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả 59

3.2 Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội tại các trung tâm giáo dục kĩ năng sống Tp HCM 59

3.2.1 Nâng cao nhận thức về giáo dục kĩ năng sống thông qua mạng xã hội cho các lực lượng giáo dục và học sinh THCS 59 3.2.2 Xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho

Trang 8

học sinh THCS thông qua mạng xã hội tại các TT GDKNS 60

3.2.3 Đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội 72

3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 73

3.3.1 Biện pháp 1 Nâng cao nhận thức về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội 74

3.3.2 Biện pháp 2 Xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội 75

3.3.3 Biện pháp 3 Đảm bảo các nguồn lực cần thiết cho hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội 77

3.4 Thực nghiệm sư phạm 79

3.4.1 Mục đích, nội dung, giả thuyết thực nghiệm 79

3.4.2 Tiến trình thực nghiệm 79

3.4.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 86

Kết luận chương 3 91

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95 PHỤ LỤC

Trang 9

UNICEF : Qũy Nhi đồng Liên hiệp quốc

UNESCO : Tổ chức Giáo dục – Khoa học – Văn hóa quốc tế WHO : Tổ chức Y tế thế giới

KHGD : Kế họach giáo dục

GD KNS : Giáo dục Kĩ năng sống

CBQL : Cán bộ quản lý

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Mô tả mẫu điều tra giáo dục 39

Bảng 2.2 Quy ước xử lý thông tin thực trạng 40

Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL, GV về mục tiêu GDKNS qua mạng xã hội 41

Bảng 2.4 Đánh giá về thực hiện nội dung GDKNS thông qua mạng xã hội 44

Bảng 2.5 Đánh giá về thực hiện hình thức GDKNS thông qua mạng xã hội 46

Bảng 2.6 Đánh giá về thực hiện phương pháp GDKNS thông qua mạng xã hội 48

Bảng 2.7 Đánh giá về thực hiện đánh giá kết quả GDKNS thông qua mạng xã hội 49

Bảng 2.8 Đánh giá về điều kiện GDKNS cho HS THCS thông qua mạng xã hội 51

Bảng 2.9 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng hạn chế đến thực trạng hoạt động GDKNS cho HS THCS thông qua MXH ở các TT giáo dục kĩ năng sống TP.HCM 53

Bảng 3.1 Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 1 74

Bảng 3.2 Tính cần thiết và khả thi của biện pháp 2 75

Bảng 3.3 Sự cần thiết và khả thi của biện pháp 3 77

Bảng 3.4 Mức độ thực hiện kĩ năng quản lí thông tin 80

Bảng 3.5 Kết quả đánh giá trước khi thực nghiệm 86

Bảng 3.6 Kết quả đánh giá sau khi thực nghiệm 87

Bảng 3.7 Khác biệt có ý nghĩa trước và sau khi thực nghiệm 88

Bảng 3.8 Đánh giá của HS về chủ đề kỹ năng quản lý thông tin học tập qua mạng xã hội với hình thức quay video clip và livestream tổng kết 89

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước đang ngày một phát triển, điều kiện kinh tế xã hội có những sự thay đổi, mục tiêu hướng đến năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại.Trong quá trình phát triển đất nước luôn cần những con người, những nhân lực có khả năng thích ứng với sự thay đổi của điều kiện kinh tế xã hội, nắm bắt những thời

cơ mà mình có để xây dựng tương lai của chính mình và phục vụ đất nước

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo

dục và đào tạo của Đảng cộng sản Việt Nam (Ban Bí thư, 2013) đã khẳng định: “Tạo

chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”

Điều này cho thấy mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục hiện nay rất chú trọng đến giáo dục cho học sinh trở thành một công dân có khả năng thích ứng tốt như thay đổi phương pháp học tập, chủ động tham gia vào các chương trình, trang bị kĩ năng sống, thích ứng với môi trường xung quanh… giúp họ thực hiện những mục tiêu trong cuộc sống, sẵn sàng đối mặt với khó khăn và thử thách để trưởng thành

Giáo dục kĩ năng sống là hình thành lối sống tích cực trong xã hội hiện đại, xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ

sở giúp người học có cả kiến thức, thái độ và các kĩ năng thích hợp Giáo dục kĩ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của người học từ thói quen thụ động

có thể gây rủi ro chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả cao để nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân, góp phần phát triển bền vững cho

xã hội Đồng thời, giáo dục kĩ năng sống cần được thực hiện thống nhất trong nhiệm

vụ giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh

Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng sự phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ

Trang 12

năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng; năng lực

tự hoàn thiện; năng lực hợp tác; năng lực hoạt động xã hội;…để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội Theo đó, vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được các nước quan tâm

Thực tế trong những năm gần đây “Kĩ năng sống”, “Chương trình học Kĩ năng sống” là những cụm từ được cha mẹ học sinh, giáo viên, Ban giám đốc các trung tâm giáo dục KNS, các trường quan tâm và chú trọng tổ chức thực hiện Hiện nay, giáo dục KNS đang được triển khai tại hệ thống các trường học và trung tâm giáo dục KNS trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh dưới nhiều hình thức khác nhau, phong phú, đa dạng và đem lại hiệu quả tích cực cho người học Tuy nhiên việc tiếp cận và cung cấp thông tin về các nội dung cũng như hoạt động giáo dục KNS thông qua mạng, đặc biệt là mạng xã hội hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu, cũng như sự kỳ vọng từ phía người học và các bên liên quan

Đến nay tại Việt Nam việc giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua hệ thống truyền thông trên mạng xã hội vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu chuyên sâu tìm hiểu và đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hành vi, thói quen tốt của học sinh THCS thông qua hệ thống truyền thông trên mạng xã hội, cụ thể là mạng xã hội Facebook

Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài:

“Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống tại thành phố Hồ Chí Minh.”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận, xác định thực trạng và đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống thành phố Hồ Chí Minh nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục

kĩ năng sống cho học sinh THCS tại TP, HCM thông qua hệ thống mạng xã hội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

Trang 13

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống tại Thành Phố Hồ Chí Minh

4 Giả thuyết khoa học

Hoạt động Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội

ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã được thực hiện thường xuyên và đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn những bất cập và hạn chế trong việc thực hiện các nội dung, hình thức và phương pháp GDKNS, Nếu xác định thực trạng và đề xuất các biện pháp Giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống tại Thành Phố

Hồ Chí Minh có tính cần thiết và khả thi thì có thể nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục KNS cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội

5.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống tại TP HCM 5.3 Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng

xã hội ở các Trung tâm giáo dục Kĩ năng sống tại TP.HCM

6 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua hệ thống mạng xã hội Facebook tại các Trung tâm giáo dục KNS trên địa bàn TP.HCM

- Về đối tượng khảo sát: Đề tài tập trung khảo sát học sinh khối THCS từ độ tuổi 13 đến 15 tuổi đang học tập tại một số trung tâm KNS Tp Hồ Chí Minh gồm: Công ty cổ phần và đào tạo quốc tế Rồng Việt, Công ty Sức Trẻ Mới, Tomato Children’s Home

- Về thời gian thực hiện đề tài: Dự kiến từ tháng 8/2017 đến tháng 5/2018

Trang 14

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu

7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc

Hệ thống truyền thông trên mạng xã hội về giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh THCS tại TP.HCM là một bộ phận của hệ thống giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS, Bản thân hệ thống truyền thông trên mạng xã hội về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được cấu thành bởi nhiều yếu tố như mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, các đối tượng tham gia … Các yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo nên cấu trúc của hệ thống truyền thông Thông qua việc nghiên cứu sẽ phát hiện những yếu tố mang tính bản chất, tính quy luật của hệ thống truyền thông để có thể có những tác động phù hợp và có trọng tâm

7.1.2 Quan điểm lịch sử - logic

Hoạt động giáo dục kĩ năng sống tại các trung tâm giáo dục Kĩ năng sống trên địa bàn TP, Hồ Chí Minh đã diễn ra theo một quá trình phát triển cho tới ngày nay theo nhiều hình thức, phương pháp khác nhau trong đó có hệ thống truyền thông trên mạng xã hội Do vậy, quan điểm này giúp người nghiên cứu phát hiện ra những mối liên hệ đặc trưng của hệ thống này trong quá khứ, hiện tại và tương lai Bên cạnh đó,

đề tài vừa kế thừa lịch sử nghiên cứu vấn đề, vừa bảo đảm tính lịch sử cụ thể một cách hợp lý

7.1.3 Tiếp cận thực tiễn

Thực tiễn vừa là cơ sở, vừa là động lực và mục đích trực tiếp của lý luận Do đó

cơ sở lý luận phải được minh chứng thông qua các sự kiện và hoạt động thực tiễn Vì vậy, việc khảo sát thực trạng là rất quan trọng, qua khảo sát thực trạng về hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua hệ thống truyền thông trên mạng

xã hội tại địa bàn các trung tâm giáo dục Kĩ năng sống ở TP Hồ Chí Minh sẽ phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu và nguyên nhân của thực trạng Từ đó, người nghiên cứu đề xuất các biện pháp giáo dục Kĩ năng sống thông qua hệ thống truyền thông trên mạng xã hội cho học sinh THCS tại TP.HCM hiện nay Ngoài ra, tiếp cận thực tiễn còn đòi hỏi kết quả của đề tài cần đề ra những biện pháp cần thiết và khả thi, có thể vận dụng và đáp ứng được những đòi hỏi từ thực tiễn đào tạo của nhà trường trong

Trang 15

giai đoạn tới

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp các đề tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; những tư liệu, tài liệu lý luận về giáo dục Kĩ năng sống; kết quả nghiên cứu lý thuyết và những kết quả khảo sát, đánh giá giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở

Phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: phân loại hệ thống các tài liệu khoa học, khái quát hóa các lý luận đã được phân tích, tổng hợp có liên quan đến đề tài một cách logic và có hệ thống nhằm phát triển thành cơ sở lý luận của đề tài

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Mục tiêu: Phương pháp được thực hiện nhằm thu thập thông tin về thực trạng giáo dục KNS cho học sinh thông qua mạng xã hội

-Phương pháp tiến hành: bảng khảo sát gồm hệ thống các câu hỏi kín, được xây dựng xoay quanh nội dung nghiên cứu

- Đối tượng khảo sát: học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý các TT GDKNS, học sinh cấp THCS tại địa bàn TP.HCM

7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

- Mục tiêu: Phương pháp được thực hiện nhằm tìm hiểu sâu hơn về thực trạng giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội, Phương pháp được thực hiện chủ yếu với giáo viên và một số Ban giám đốc các trung tâm các nhà trường khối THCS

- Phương pháp tiến hành: Trao đổi trực tiếp

- Đối tượng phỏng vấn: Học sinh, giáo viên, ban Giám đốc các trung tâm

7.2.2.3 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này được sử dụng nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của một số biện pháp GDKNS cho HS THCS thông qua MXH

7.2.3 Phương pháp thống kê toán học

- Mục đích: Nhằm thống kê, tính toán các dữ liệu, đảm bảo kết quả phân tích

Trang 16

được nhanh chóng, chính xác và khách quan

- Phương tiện thống kê: Phần mềm SPSS for Windows 20,0 xử lý kết quả thống

kê Từ đó, người nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng và khảo nghiệm để rút ra kết luận

8 Cấu trúc luận văn

Trang 17

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA MẠNG XÃ HỘI Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC

KĨ NĂNG SỐNG 1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề ở ngoài nước

1.1.1.1 Lịch sử nghiên cứu kĩ năng sống và hoạt động GDKNS

Từ những năm 1960, khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống đã được

nhiều nhà quản lý, nhà giáo dục, nhà tâm lý học,… quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu, tập trung nhiều về các khía cạnh: khái niệm, nội dung và hình thức giáo dục kĩ năng sống, UNESCO đã chỉ ra ba thành tố của học vấn là: kiến thức, kĩ năng và thái độ, trong đó kĩ năng và thái độ đóng vai trò then chốt và cho rằng KNS là năng lực cá nhân, giúp cho việc thực hiện đầy đủ chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày (Nguyễn Thanh Bình, 2017)

Từ những năm 1990, thuật ngữ “Kĩ năng sống” đã xuất hiện trong một số

chương trình hành động của các tổ chức lớn trên thế giới và trong nhiều chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới Các nghiên cứu trên thế giới đều hướng đến tìm một quan niệm chung về KNS và GDKNS để từ đó đưa ra mục tiêu, nội dung giáo dục KNS Các tổ chức lớn trên thế giới đi tiên phong trong việc khuyến khích tất cả các quốc gia trên đưa GDKNS vào chương trình giáo dục của mình Mục tiêu của GDKNS cho thế hệ trẻ toàn cầu được các tổ chức này thống nhất là nâng cao tiềm năng của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ để họ có được những hành động nhằm thích ứng và làm chủ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống

Theo tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc), những thử thách mà trẻ

em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là kĩ năng đọc, viết, tính toán; GDKNS là tạo ra sự thay đổi hành vi, là khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động, UNICEF đề nghị hệ thống KNS gồm 3 nhóm kĩ năng được nhìn nhận dưới góc độ tồn tại và phát triển cá nhân bao gồm: 1) Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình: kĩ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân, kĩ năng

Trang 18

xây dựng mục tiêu cuộc sống, kĩ năng bảo vệ bản thân,…2) Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với người khác: kĩ năng thiết lập quan hệ, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, …3) Nhóm kĩ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả:

kĩ năng phân tích vấn đề, kĩ năng nhận thức thực tế, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng ứng xử, kĩ năng giải quyết vấn đề,…(Nguyễn Thanh Bình, 2017), (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2015)

Theo quan niệm của tổ chức UNESCO, hệ thống KNS gồm 2 nhóm kĩ năng: 1)

Những KNS chung gồm: kĩ năng nhận thức, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, kĩ năng

xã hội hay kĩ năng tương tác, 2) Những kĩ năng trong từng vấn đề cụ thể như: các vấn

đề về giới, phòng chống bạo lực, gia đình và cộng đồng, bảo vệ thiên nhiên và môi trường (Nguyễn Thanh Bình, 2017), (Nguyễn Việt Cường, 2000), (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2015)

Theo quan niệm của tổ chức WHO (Tổ chức Y tế thế giới), KNS là năng lực tâm

lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Cụ thể hơn, nó là khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống, đó cũng là khả năng một cá nhân duy trì trạng thái khỏe mạnh về tinh thần biểu hiện qua các hành vi tích cực và phù hợp khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh; năng lực tâm lý xã hội có vai trò phát huy sức khỏe về thể chất, tinh thần và xã hội Các tổ chức WHO, UNESCO, UNICEF nhìn chung đã thống nhất rằng kĩ năng sống là những khả năng hành động mà con người cần rèn luyện để thích ứng và làm chủ cuộc sống hiện tại cũng như tương lai của mình và đã xác định 10 KNS cơ bản, được xem như cần thiết

để giáo dục cho tất cả mọi người là: kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề,

kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng truyền thông có hiệu quả,

kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức bản thân, kĩ năng thấu cảm, kĩ năng ứng phó với cảm xúc, kĩ năng ứng phó với (Nguyễn Thanh Bình, 2017), (Nguyễn Việt Cường, 2000)

Từ những năm 2000, các quốc gia trên thế giới khi xây dựng chương trình giáo

dục cho riêng mình, đã nhấn mạnh giáo dục kĩ năng và thái độ cho tất cả học sinh các

độ tuổi, trong đó có GDKNS cho học sinh trong nhà trường, GDKNS đã được thực

Trang 19

hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người năm 2000 yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học tiếp cận giáo dục kĩ năng sống phù hợp, Theo tài liệu của UNICEF, đã có hơn 155 nước trên thế giới đưa GDKNS vào nhà trườngbằng nhiều hình thức giáo dục khác nhau (Nguyễn Thanh Bình, 2008), (Trần Thị Mỹ Hạnh, 2010).

Trong những năm gần đây, có rất nhiều nghiên cứu về GDKNS nhằm giới thiệu các vấn đề lý luận và thực tiễn của GDKNS dành cho các nhà quản lý, nhà giáo dục, cha mẹ học sinh và những người làm công tác huấn luyện, giáo dục trẻ em, Life Skill Education and Curriculum (Chương trình và Giáo dục kĩ năng sống) của Gracious Thomas (2006) nhấn mạnh vai trò của giáo viên và huấn luyện viên trong việc trang

bị các KNS cho trẻ em The Indispensable – Book of Practical Life Skills (Quyển sách về những kĩ năng thực hành thiết yếu) của Nic Compton (2009) cung cấp phương thức giải quyết vấn đề trong cuộc sống làm cho trẻ em lo lắng, bối rối thông qua những hướng dẫn cụ thể trong việc xử lý các tình huống Teaching Your Children Life Skills (Dạy kĩ năng sống cho trẻ em) của Deborah Carroll đã đề cập đến mười lưu ý khi dạy con trẻ để biến những cuộc đi mua sắm, kỳ nghỉ và các tình huống khác trong sinh hoạt hàng ngày trở thành những cơ hội học tập những KNS và đã chỉ ra cách thức ngắn gọn giúp trẻ em đối xử tử tế và phát triển lòng tự trọng The Practical Life Skills Workbook (Sách hướng dẫn những kĩ năng sống mang tính thực hành) của Ester A, Leutenberg và John J, Liptak (2009) nhấn mạnh vai trò của KNS trong cuộc sống hàng ngày và phân tích mối quan hệ giữa KNS với trí thông minh, cảm xúc và nhân cách cũng như vai trò của KNS cho sự thành công của cá nhân (Trần Thị Mỹ Hạnh, 2010)

1.1.1.2 Lịch sử nghiên cứu mạng xã hội và hoạt động giáo dục KNS thông qua mạng xã hội

Mạng xã hội ra đời đã ảnh hưởng vào nhiều mặt của đời sống Do vậy, trường học không thể đứng ngoài xu hướng công nghệ này bởi giới trẻ ngày nay lớn lên cùng với web 2,0 Thế nên, nhiệm vụ đặt ra cho nhà trường (cũng như giáo viên) là giúp người học khám phá những công dụng khác (ngoài giải trí, kết nối bạn bè) của mạng

xã hội, nhận thức được tính hai mặt (tốt và xấu) của web 2,0, cũng như giáo dục cho

Trang 20

học sinh, sinh viên năng lực chịu trách nhiệm đối với những nội dung mà họ đăng tải trên Internet (Atabekian, 2010)

Trong giảng dạy ngoại ngữ, năm 2003, tại Australia, Hannah & de Nooy yêu cầu sinh viên lên diễn đàn của báo Le Monde để thảo luận các vấn đề chính trị (Hanna

& de Nooy, 2003), Năm 2006, Ollivier cho 15 sinh viên người Áo viết bài về nơi mà

họ sinh ra trên Wikipedia (Ollivier, 2007) Tháng 11 năm 2012, trong khuôn khổ dự

án “Le français en (première) ligne”, sinh viên người Latvia đã giới thiệu một bộ phim của Latvia trên Prezi

So với các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ khác, ưu thế của mạng xã hội là giúp người học có cơ hội trao đổi thực sự với những người nói ngôn ngữ này Nhờ

đó, việc học có tính thực tiễn hơn, mang nhiều ý nghĩa hơn so với các tình huống giao tiếp giả định ở trong lớp học – nơi giáo viên dường như là người duy nhất mà các sản phẩm của người học hướng đến (Dejean-Thircuir & Mangenot, 2013) Ngoài ra, nhờ lợi thế về công nghệ, các sản phẩm do người học thực hiện trên mạng xã hội thường sống động, độc đáo hơn Có thể lấy bài giới thiệu phim của sinh viên Latvia ở trên làm ví dụ: khi chọn Prezi làm công cụ, người học có thể đưa vào phần trình bày cả văn bản, hình ảnh, lẫn một trích đoạn phim ngắn

Với các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống thông qua mạng xã hội, có thể điểm qua như sau:

Được xem như một kênh truyền thông mới, sự phát triển bùng nổ của mạng xã hội thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Trên thế giới, đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu, bài viết về mạng xã hội và giới trẻ đã thu được nhiều thành quả, tiêu biểu như: Nghiên cứu của Sophie Tan-Ehrhardt năm 2013: “Social networks and Internet usages by the young generations” (Mạng xã hội và thói quen

sử dụng Internet của thế hệ trẻ) Nghiên cứu này đã chỉ ra những thói quen của giới trẻ khi sử dụng mạng xã hội và Internet, so sánh những thói quen này với những hành

vi trong đời thực cũng như những quan điểm của thế hệ trẻ về mạng xã hội, Internet Đồng thời, nghiên cứu cũng nhấn mạnh về sự quan trọng của mạng xã hội và Internet trong xã hội hiện đại

Một nghiên cứu khác của Isak Ladegaard với tên gọi “Young and old use social

Trang 21

media for surprisingly different reasons” (Những người trẻ và già sử dụng truyền thông xã hội với những lý do đáng ngạc nhiên), đã cho thấy những lý do mà mọi người tham gia sử dụng mạng xã hội, mạng xã hội đã thay đổi thói quen và lối sống của họ như thế nào cũng như xu hướng sử dụng mạng xã hội trong tương lai như thế nào

Bên cạnh đó, cũng có không ít những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đối với thế hệ trẻ, tiêu biểu như cuộc tranh luận trên trang web Debate.org với tiêu đề: Is social networking bad for today's generation? (Có phải mạng xã hội là xấu đối với thế hệ ngày nay?) Đã có rất nhiều ý kiến vào tranh luận, trong đó có 58% đồng ý rằng mạng xã hội đang có những tác động tiêu cực đến thế hệ trẻ, 42% không đồng ý và kể ra những ưu điểm mà mạng xã hội mang lại

Năm 2004, Nxb Brookes – Mỹ đã hợp tác với một nhóm tác giả như: Baker, Bruce L,; Brightman, Alan J,; Blacher, Jan B,; Heifetz, Louis J,; Hinshaw, Stephen R,; Murphy, Diane M xuất bản cuốn “Dạy kĩ năng sống hằng ngày cho trẻ” Cuốn sách là tập hợp hệ thống các kĩ năng sống cần thiết cho trẻ từ 3 – 15 tuổi và hướng dẫn một cách cụ thể nhằm giúp phụ huynh dạy kĩ năng sống cho trẻ thông qua các hoạt động thường ngày trong gia đình mà không phải phụ thuộc quá nhiều vào việc đến trường của trẻ

Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy dù xuất phát từ quan điểm chung về kĩ năng sống từ Tổ chức Y tế thế giới hay UNESCO, hay tại quốc gia khác nhau trên thế giới nhưng ở mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự khác biệt về quan niệm và nội dung Kĩ năng sống được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như: lồng ghép ở cả giáo dục chính quy (giáo dục trong chương trình đào tạo) và cả giáo dục không chính quy (hoạt động ngoại khóa – hoạt động ngoài giờ lên lớp) Những quan niệm, nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai vừa thể hiện nét chung vừa thể hiện nét đặc thù, những nét riêng của từng quốc gia Nhìn chung các quốc gia cũng mới bước đầu triển khai chương trình và biện pháp giáo dục kĩ năng sống nên chưa thật toàn diện

và sâu sắc, vì chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng kĩ năng sống ở người học sau khi được trang bị hay huấn luyện

Trang 22

kĩ năng sống Đặc biệt, đề cập đến việc hình thức tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống thông qua mạng xã hội của các Trung tâm giáo dục kĩ năng sống còn chưa được quan tâm và thực hiện

1.1.2 Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong nước

1.1.2.1 Lịch sử nghiên cứu KNS và giáo dục KNS

Từ những năm 1990, theo xu thế phát triển giáo dục chung của thế giới, thuật

ngữ KNS và GDKNS bắt đầu được quan tâm nhiều tại Việt nam bởi chính phủ và các

bộ, ngành liên quan Các chủ trương, chính sách về giáo dục có liên quan GDKNS cho học sinh được ban hành, Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản chỉ đạo số 1363/TTg về việc “Đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” nhằm đề cập đến việc trang bị cho người học những kĩ năng ứng xử với môi trường; Bộ GD-ĐT ban hành Chỉ thị số 10/CT-GD-ĐT năm 1995 và Chỉ thị số 24/CT-GD-ĐT năm 1996 về công tác phòng chống HIV/AIDS và tăng cường công tác phòng chống ma túy tại trường học, đã đề cập đến những kĩ năng sống cần giáo dục cho HS nhằm tránh xa hiểm họa ma túy và bệnh AIDS như: kĩ năng từ chối, kĩ năng bảo vệ bản thân, kĩ năng ứng xử, kĩ năng chia sẻ Theo đó, các chương trình và dự án liên quan với GDKNS đã bắt đầu được triển khai Ví dụ, các chương trình GDKNS của các dự án do UNICEF tài trợ đã đem lại những kết quả đáng kể Năm 1996, chương trình: “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/ AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” đã giáo dục cho thanh thiếu niên các kĩ năng: tự nhận thức, giao tiếp, kiên định, xác định giá trị (Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn, 2003)

Từ năm 2000, chủ đề GDKNS cho học sinh được bàn thảo và nghiên cứu ngày

càng nhiều, Bộ GD-ĐT xác định GDKNS cho học sinh là một trong những nội dung chính thức của giáo dục phổ thông Bên cạnh đó, các chương trình GDKNS được tài trợ xuất hiện ngày càng nhiều, ví dụ như chương trình GDKNS cho HS qua ngoại khóa theo Dự án VIE 01/2010 do UNFPA tài trợ với nhiều tài liệu hướng dẫn các hoạt động ngoại khóa về giáo dục rất bổ ích Các hội thảo và hội nghị ở phạm vi quốc gia đã được tổ chức để bàn về GDKNS cho HS, Năm 2003 tại Hà Nội, với sự tài trợ của UNESCO, Bộ GD-ĐT đã tổ chức hội thảo quốc gia: “Chất lượng giáo dục và kĩ

Trang 23

năng sống” Tham gia hội thảo này, các nhà giáo dục và các đại biểu đã cùng nhau bàn luận các vấn đề về KNS, đánh giá chất lượng GDKNS trong những năm qua, giới thiệu một số mô hình GDKNS tiêu biểu Hội thảo đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của GDKNS cho HS Việt Nam

Từ đó, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về HĐGDKNS cho HS được thực hiện Nhiều tác giả đã nghiên cứu cơ sở lý luận của GDKNS và chỉ ra nội dung cần giáo dục cho trẻ em từng độ tuổi Các tác giả đã nhấn mạnh GDKNS cho HS cần được thực hiện chủ yếu thông qua chương trình các môn học, các hoạt động giáo dục của nhà trường và có thể cùng với các chương trình của các dự án do nước ngoài tài trợ (Nguyễn Thanh Bình, 2008)

Đinh Thị Thanh Ngọc (2008) đã nghiên cứu nhu cầu học tập kĩ năng sống trong nhà trường của học sinh trường trung học phổ thông, nghiên cứu các vấn đề lý luận

về KNS và GDKNS, tìm hiểu thực trạng nhu cầu học tập KNS của HS và đề xuất một

số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả GDKNS Lê Thị Xuân Thu (2011) nghiên cứu

kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo, thực trạng GDKNS cho trẻ mẫu giáo và đề xuất một

số biện pháp nhằm phát triển KNS cho trẻ Nguyễn Hữu Long (2010) đã tổng hợp các vấn đề lý luận về KNS, khái quát thực trạng và biện pháp rèn luyện và tác động

về mặt tâm lý nhằm hình thành và phát triển KNS cho HS trung học cơ sở, Phan Thanh Vân (2010) nghiên cứu GDKNS cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với mục đích nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả GDKNS cho học sinh, Huỳnh Văn Sơn đã xây dựng cơ sở lý luận về KNS và GDKNS cho học sinh phổ thông các cấp, từ năm 2009 đến nay

Sách “Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh tiểu học” của Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Bùi Thị Thúy Hằng (2010) cung cấp cho giáo viên tiểu học những kiến thức về tâm lý học sinh tiểu học, nội dung, hình thức và phương pháp GDKNS, cung cấp các ví dụ cụ thể cho giáo viên thực hiện các nội dung GDKNS, Sách “ Nhập môn kĩ năng sống” và sách “Phát triển kĩ năng mềm cho sinh viên sư phạm” của Huỳnh Văn Sơn đều đề cập đế những vấn đề tổng quát của GDKNS như: khái niệm, phân loại KNS, phương pháp GDKNS, những KNS cơ bản của tuổi vị thành niên, GDKNS ở trường học tại Việt Nam (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

Trang 24

1.1.2.2 Lịch sử nghiên cứu mạng xã hội và giáo dục KNS thông qua mạng

xã hội

Mạng xã hội được các nhà xã hội học đã đặt ra với ba chủ đề riêng biệt để đánh giá và đo lường các vấn đề liên quan Thứ nhất, xác định những vấn đề chung đang diễn ra Thứ hai, miêu tả những ảnh hưởng của mạng xã hội đến lối sống của giới trẻ hiện nay, thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, mục đích và các hình thức sử dụng mạng

xã hội Thứ ba, đưa ra những đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng mạng xã hội của giới trẻ Hiện ở Việt Nam, việc tìm kiếm một nghiên cứu khoa học về nghiện mạng xã hội mang tính chính thống khá khó khăn Dù vậy cũng đã tồn tại không ít các bài viết đã có nhắc tới và xây dựng lên những vấn đề đáng được quan tâm hiện nay và trước đó về mạng xã hội

Tác giả Nguyễn Minh Hòa (2010) với bài viết “Mạng xã hội ảo, đặc điểm và

khuynh hướng” đã nêu lên những quan niệm truyền thống về mạng xã hội: đó là cách

liên kết các cá nhân và cộng đồng lại dưới một kiểu nào đó để thể hiện một vài chức năng xã hội và mạng xã hội ảo - một xu hướng mới của xã hội công nghệ thông tin Cùng năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Hậu, với bài viết “Mạng xã hội với lối sống

của giới trẻ TP.HCM” đã giải thích: “Sự xuất hiện với những tính năng đa dạng, nguồn thông tin phong phú, mạng xã hội đã cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ

và chọn lọc thông tin một cách có hiệu quả, vượt qua trở ngại về không gian và thời gian Nó giúp nâng cao vai trò của mỗi người công dân trong việc tạo lập quan hệ và

tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung trong những cộng đồng thúc đẩy

sự liên kết các tổ chức xã hội” Tác giả cũng nêu rõ ảnh hưởng của mạng xã hội đến lối sống giới trẻ TP.HCM hiện nay, thông qua việc tìm hiểu nhu cầu, mục đích và hình thức sử dụng mạng xã hội, Đồng thời có những đề xuất, phải góp phần nâng cao hiệu quả việc sử dụng mạng xã hội của giới trẻ

Nguyễn Phi Long - sinh viên Trường Đại học Mở TP,HCM, đã thực hiện đề tài nghiên cứu năm 2013: “Ảnh hưởng của trang mạng FB đến việc hình thành nhân cách giới trẻ tại TP,HCM” Tác giả Đỗ Công Anh “Nghiên cứu xu hướng phát triển mạng

xã hội và đề xuất chính sách định hướng phát triển mạng xã hội tại Việt Nam” Nhóm nghiên cứu đã tập trung vào các vấn đề: Nghiên cứu tổng quan hiện trạng phát triển

Trang 25

mạng xã hội tại Việt Nam và dự báo xu hướng phát triển của mạng xã hội trong thời gian tới, bài học kinh nghiệm trong quản lý mạng xã hội của các quốc gia, đưa ra các yếu tố then chốt phục vụ công tác quản lý mạng xã hội đối với cả nhà nước và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, đề ra các chính sách, giải pháp, phương án và công cụ để quản lý mạng xã hội tại Việt Nam Nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 20 mạng xã hội nổi tiếng và được truy cập nhiều trên thế giới và 10 mạng xã hội được truy cập nhiều tại Việt Nam để thu thập và tổng hợp số liệu, qua đó đưa ra được cái nhìn toàn cảnh và hiện trang chi tiết của mạng xã hội trên thế giới cũng như tại Việt Nam Qua việc nghiên cứu đặc điểm, bản chất của mạng xã hội, đề tài đã đề ra các nhóm các giải pháp bao gồm nhóm giải pháp về chính sách và nhóm giải pháp về kỹ thuật (Nguyễn Phi Long, 2013)

Bài viết “Nghiên cứu về hành vi sử dụng FB của con người - một thách thức mới cho Tâm lý học hiện đại” của tác giả Đào Lê Hòa An đề cập một số công trình nghiên cứu về mạng xã hội FB trên thế giới, đồng thời trình bày những nghiên cứu

về vấn đề hành vi sử dụng internet nói chung và FB nói riêng tại Việt Nam từ đó đặt

ra yêu cầu cấp thiết đối với Tâm lý học: cần sớm tiếp cận vấn đề và kiến giải bằng những cơ sở khoa học chuyên ngành và liên ngành hệ thống và chính thức (Đào Lê Hòa An, 2013)

Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM đã xuất bản “Mạng xã hội với giới trẻ TP.HCM” (2013) – tuyển tập những bài viết, những công trình nghiên cứu về mạng

xã hội của quốc tế, Việt Nam và những ảnh hưởng của mạng xã hội đối với giới trẻ hiện nay Trong bài viết của Nguyễn Hải Nguyên có đề cập đến lý do của sự phát triển mạng xã hội ở giới trẻ hiện nay: Thứ nhất là do tính mới của dịch vụ mạng xã hội và xu hướng thích khám phá cái mới của giới trẻ; Thứ hai là do ưu điểm của mạng

xã hội so với các phương tiện truyền thông trước đây Thứ ba, mạng xã hội đáp ứng được nhu cầu đa dạng của con người một cách dễ dàng và nhanh chóng Trong bài viết “Mạng xã hội – vỏ ốc của một bộ phận giới trẻ” của Lưu Đình Vinh, tác giả có

đề cập đến những ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội cụ thể là giới trẻ sống thu mình với thế giới ảo, không dám thể hiện mình hoặc phô diễn thái quá, sử dụng mạng xã hội để làm những việc mà trong thế giới thực họ không thể và không dám làm

Trang 26

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Mạng xã hội

“Mạng xã hội” là khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực đã định nghĩa với nhiều góc nhìn và cách diễn giải khác nhau nhưng chưa có một định nghĩa chung chính thức

Quan tâm đến khái niệm mạng lưới xã hội trong Tâm lý học xã hội của Fischer (1957), “mạng lưới xã hội (social network) gồm nhiều mối quan hệ đôi Mỗi người trong mạng lưới có liên hệ với ít nhất 2 người khác nhưng không ai có liên hệ với tất

cả các thành viên khác” Dựa trên định nghĩa đó, Barry Wellman định nghĩa: “Khi

mạng máy tính kết nối con người, nó là một mạng xã hội” (Nguyễn Thị Hậu, 2013)

Dưới góc nhìn Xã hội học, tác giả Nguyễn Hải Nguyên đưa ra khái niệm về mạng xã hội: “Mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian.” Mạng xã hội được hình thành khi một nhóm người khởi xướng gửi đi thông điệp mời những người chưa quen gia nhập và thành bạn bè trong trang web của mình Các thành viên mới sẽ lặp lại quá trình trên và tạo nên một mạng liên kết rộng lớn không phân biệt không gian địa lý của các thành viên (Nguyễn Thị Hậu, 2013), Tại điều 3, chương 1, Nghị định 97/2008/NĐ-CP của Chính phủ đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ mạng xã hội: “Dịch vụ mạng xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat) và các hình thức tương tự khác”

Còn theo tác giả Lê Minh Tiến thì “Mạng xã hội ảo là một trang mạng mà nơi

Trang 27

đó một người có thể kết nối với nhiều người thông qua chia sẻ những sở thích cá nhân, nơi ở, đặc điểm học vấn…” (Lê Minh Tiến, 2006)

Từ định nghĩa của các tác giả và các đặc điểm chung của mạng xã hội, có thể

định nghĩa như sau về mạng xã hội: Mạng xã hội (social network) là một “website”

mở mà người dùng có thể xây dựng nội dung của trang, được kết nối và tương tác với nhau thông qua nhiều tính năng riêng biệt, bất kể không gian và thời gian, Trong giáo dục mạng xã hội là phương tiện, công cụ, để giáo dục học sinh

Như vậy có thể hiểu mạng xã hội đó là một “xã hội ảo” với hai thành tố chính tạo nên đó là các thành viên và liên kết giữa các thành viên đó Mạng xã hội là dịch

vụ Internet cho phép kết nối các thành viên cùng sở thích không phân biệt không gian

và thời gian

1.2.2 Kĩ năng sống

1.2.2.1 Khái niệm kĩ năng

Theo từ điển tiếng Việt, kĩ năng là “thói quen áp dụng vào thực tiễn những kiến

thức đã học hoặc là những kết quả của quá trình luyện tập”

Theo từ điển Giáo dục học, kĩ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù

đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ”

Theo tác giả Vũ Dũng, kĩ năng là “năng lực vận dụng có kết quả những tri thức

về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kĩ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, Kĩ năng được hình thành qua luyện tập”

Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh quan niệm kĩ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả Các tác giả Đức Minh, Phạm Cốc, Đỗ Thị Xuân cho rằng kĩ năng là cách vận dụng tri thức vào thực tiễn, kĩ xảo là kĩ năng được củng cố và tự động hóa

Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép

Trang 28

Trên cơ sở những quan niệm của các tác giả về kĩ năng ở cả hai góc độ, chúng

tôi quan niệm rằng: kĩ năng là cách thức con người thực hiện một hành động dựa trên

sự hiểu biết và kinh nghiệm của cá nhân trong những hoàn cảnh nhất định

1.2.2.2 Kĩ năng sống

Theo WHO, kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống

hàng ngày Trong quan niệm này, hai mức độ mỗi cá nhân cần thực hiện là: thích ứng

và tích cực Các vấn đề mỗi cá nhân phải đối diện là: tương tác với người khác, sự thay đổi của điều kiện sống và môi trường, các vấn đề của bản thân, các vấn đề về học tập và làm việc

Theo UNICEF, kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành

vi mới Quan niệm này nhấn mạnh cấu trúc và quá trình hình thành KNS, Kĩ năng sống không đồng nhất với kiến thức về cuộc sống mà nó được cấu thành từ kiến thức

về cuộc sống, thái độ đối với cuộc sống và việc làm cụ thể của cá nhân Vì vậy, KNS cần phải được hình thành trong suốt quá trình sinh trưởng của mỗi người Quá trình hình thành KNS của mỗi cá nhân không chỉ diễn ra ở gia đình, nhà trường mà còn ở ngoài xã hội; không chỉ chịu ảnh hưởng của tính chất lịch sử của từng thời đại mà còn chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hóa của gia đình và xã hội mà mỗi cá nhân sinh sống (Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn, 2003)

Theo UNESCO, kĩ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết gồm các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả, …; Học làm người gồm các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,…; Học để sống với người khác gồm các kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông, …; Học để làm gồm các kĩ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,… Quan niệm này chỉ ra hệ thống KNS cần thiết cho mỗi cá nhân trong mối tương quan mật thiết với các trụ cột của giáo dục thế giới, Hệ thống KNS này mang tính khoa học và thiết thực cho việc xây dựng chương trình GDKNS cho HS của các quốc gia

Trang 29

trên thế giới, (Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn, 2003)

Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây đã có nhiều quan niệm về kĩ năng sống

Kĩ năng sống là năng lực tâm lý - xã hội của mỗi cá nhân, giúp con người có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống Kĩ năng sống là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hằng ngày, mà đặc biệt tuổi học sinh rất cần để vào đời, (Nguyễn Thanh Bình, 2017), (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2015)

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa: Kĩ năng sống là khả năng để có

hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày

1.2.3 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống

Hoạt động giáo dục kĩ năng sống là một hoạt động giáo dục cụ thể, giúp người học hình thành và phát triển những thói quen, hành vi, thái độ tích cực, lành mạnh trong việc ứng xử các tình huống của cuộc sống cá nhân và tham gia đời sống xã hội, qua đó hoàn thiện nhân cách và định hướng bản thân phát triển tốt hơn dựa trên nền tảng các giá trị sống (Huỳnh Lâm Anh Chương, 2015)

Từ đó có thể định nghĩa: Hoạt động giáo dục KNS cho HS là hoạt động, trong

đó, dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục, học sinh chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những khả năng, hành vi thích hợp và tích cực để ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống

1.2.4 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua mạng xã hội

Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận về mạng xã hội, về hoạt động giáo dục KNS

cho HS, ta có thể định nghĩa: Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh thông qua mạng

xã hội là hoạt động, trong đó, dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục thông qua một

“website” mở được kết nối và tương tác với giữa nhà giáo dục với học sinh, giữa học sinh với nhau, học sinh chủ động tự giáo dục nhằm hình thành và phát triển những khả năng, hành vi thích hợp và tích cực để ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và

thách thức của cuộc

Trang 30

1.3 Mạng xã hội và sự phát triển nhân cách học sinh trung học cơ sở

1.3.1 Đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

1.3.1.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh trung học cơ sở

Lứa tuổi THCS (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là một giai đoạn phát triển tâm

lý đầy biến động của một đời người Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở là những em

có độ tuổi từ 11 -15 tuổi Lứa tuổi này còn gọi là tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình phát triển của trẻ em, thể hiện ở những điểm sau:

- Sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất: Trong suốt thời kỳ tuổi thiếu niên đều diễn

ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lý, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi Các em sẽ có những thay đổi như phát triển chiều cao, cân nặng, ngôn ngữ Ở thiếu niên có sự mất cân đối giữa hệ thống tín hiệu thứ nhất và hệ thống tín hiệu thứ hai Đây cũng là giai đoạn các em bước vào dậy thì, Giai đoạn này bắt đầu từ tuổi 12 và kết thúc ở tuổi 15 – 16

- Giao tiếp là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi thiếu niên và là một hoạt động đặc

biệt Trong giai đoạn này, có những thay đổi rất cơ bản trong giao tiếp của các em với người lớn và bạn bè Trong giao tiếp với người lớn và bạn bè, các em đòi hỏi được bình đằng, tôn trọng cao, muốn được khẳng định bản thân, không thích được sự can thiệp, giám sát chặt chẽ ở người lớn Do sự phát triển mạnh mẽ về thể chất và tâm

lý nên trong quan hệ với người lớn, trẻ muốn thoát khỏi sự quan tâm, giám sát của người lớn nhưng do các em còn phụ thuộc, chưa có nhiều kinh nghiệm ứng xử và giải quyết vấn đề nên vẫn có nhu cầu được người lớn hướng dẫn, chia sẻ, định hướng cho mình Đồng thời sự phát triển nhanh, bất ổn định về thể chất, tâm lý và vị thế xã hội

của trẻ em

1.3.1.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh trung học cơ sở

Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát triển nhân cách của con người Chính tên gọi thời kỳ “quá độ", “tuổi khó khăn", “tuổi khủng hoảng" đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên Trong giai đoạn này, não của thiếu

Trang 31

niên cũng có sự phát triển mới giúp các chức năng trí tuệ phát triển mạnh mẽ tạo nên

sự hưng phấn ở lứa tuổi này Do các quá trình hưng phấn mạnh, chiếm ưu thế và các quá trình ức chế có điều kiện bị suy giảm nên thiếu niên không làm chủ được cảm xúc, không kiềm chế được xúc động mạnh Bởi vậy, học sinh THCS dễ nổi nóng, có phản ứng vô cớ, dễ bị kích động, mất bình tĩnh Đây là một đặc điểm nhân cách quan trọng mà các nhà giáo dục cần quan tâm chú ý để có thể giáo dục trẻ một cách tốt nhất

Đặc biệt trong giai đoạn này, vị thế của trẻ cũng thay đổi:

- Trong gia đình: Thiếu niên mong muốn được thừa nhận là một thành viên tích cực trong gia đình, được giao một số nhiệm vụ như: chăm sóc em nhỏ, nấu ăn, dọn dẹp Các em quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ uy tín gia đình Nhìn chung, các

em ý thức được vị thế mới của mình trong gia đình và thực hiện một cách tích cực, Tuy nhiên, đa số thiếu niên vẫn còn đi học, các em vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về kinh

tế, giáo dục Điều này tạo ra hoàn cảnh có tính hai mặt trong đời sống của thiếu niên trong gia đình Cha mẹ vẫn cho thiếu niên là một đứa trẻ còn các em luôn muốn được thừa nhận và tôn trọng, có ý kiến cá nhân, được tôn trọng được tự quyết định hành vi của mình Tuy nhiên phần lớn các bậc phụ huynh không yên tâm để trẻ với những mối quan hệ ngoài xã hội Chính sự khác nhau trong suy nghĩ người lớn và mong muốn các em nên giữa cha mẹ và các em lứa tuổi THCS thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng trong giao tiếp Điều quan trọng và thực sự có ý nghĩa với các em là cha mẹ cho phép các em tham gia bàn bạc một số công việc quan trọng trong gia đình, quan tâm và lắng nghe những ý kiến của các em

- Trong nhà trường: Vị thế của học sinh THCS hơn hẳn vị thế của HS tiểu học, Học sinh THCS ít phụ thuộc vào giáo viên hơn so với nhi đồng Các em học tập theo phân môn Mỗi môn học do một giáo viên đảm nhiệm Mỗi giáo viên có yêu cầu khác nhau đối với học sinh, có trình độ, tay nghề, phẩm chất sư phạm và có phong cách giảng dạy riêng đòi hỏi học sinh THCS phải thích ứng với những yêu cầu mới của các giáo viên Sự thay đổi này có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho học sinh nhưng lại là yếu tố khách quan để các em dần có được phương thức nhận thức người khác

Trang 32

- Ngoài xã hội: Thiếu niên có những quyền hạn và trách nhiệm xã hội lớn hơn

so với HS tiểu học: 14 tuổi các em được làm chứng minh thư, cùng với học tập, học sinh THCS tham gia nhiều hoạt động xã hội phong phú: Giáo dục các em nhỏ; giúp

đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng; tham gia các hoạt động tập thể chống tệ nạn xã hội; làm tình nguyện viên; vệ sinh trường lớp, đường phố… Điều này giúp cho học sinh THCS mở rộng các quan hệ xã hội, kinh nghiệm sống thêm phong phú, ý thức xã hội được nâng cao Các em mong muốn thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và những kế hoạch hành động

mà cư dân trong cộng đồng quan tâm và thường lui tới (nhà hàng, siêu thị…), Hoặc tripadviser,com là cộng đồng dành cho những người thích du lịch

- Mục đích chia sẻ từ chuyên gia: Điển hình là LinkedIn,com của Mỹ, XING,com của Đức và CyVee,com của Việt Nam

- Mục đích tìm sự hỗ trợ và hỗ trợ cộng đồng: Thường nhắm đến những nhóm đối tượng cụ thể, ví dụ webtretho,com, otosaigon,com

- Mục đích giải trí, tạo và quản lý nội dung: Không thể không nhắc đến YouTube, Flickr, WordPress, hay vnphoto,net của Việt Nam

Việc phân loại các mạng xã dựa trên mục đích, công dụng của mỗi mạng xã hội giúp nhà giáo dục nhìn nhận tổng quát về những mạng xã hội hiện nay Để từ đó sử dụng mạng xã hội vào việc giáo dục nhân cách cho các em học sinh lứa tuổi THCS Lựa chọn những trang thông tin phù hợp với nhu cầu nguyện vọng của các em Từ

Trang 33

mạng xã hội tìm được sợi dây kết nối giữa nhà trường và học sinh, thầy cô giáo và các em học sinh

1.3.3 Đặc điểm của mạng xã hội

1.3.3.1 Đặc điểm chung

Mạng xã hội có những đặc điểm cơ bản sau :

- Tính liên kết cộng đồng: Đây là đặc điểm nổi bật của mạng xã hội cho phép

mở rộng phạm vi kết nối giữa người với người trong không gian đa chiều Người sử dụng có thể trở thành bạn của nhau thông qua việc gửi liên kết mời kết bạn mà không cần những cuộc gặp gỡ trực tiếp Việc gửi liên kết này tạo ra một cộng đồng mạng, cộng đồng bạn bè ảo với số lượng thành viên lớn

- Tính đa phương tiện: Hoạt động theo nguyên lý của web, mạng xã hội có rất

nhiều tiện ích nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố chữ viết, âm thanh, hình ảnh Sau khi đăng kí mở một tài khoản, người sử dụng có thể tự do xây dựng một không gian riêng cho bản thân Nhờ các tiện ích và dịch vụ mà mạng xã hội cung cấp, người dùng có thể chia sẻ mọi thứ xung quanh cuộc sống Không những vậy họ còn có thể tham gia vào rất nhiều trò chơi trực tuyến mà yêu cầu số lượng người tham gia lớn từ đó tạo dựng các mối quan hệ trong xã hội ảo

- Tính tương tác: Thể hiện không chỉ ở chỗ thông tin được truyền đi và sau đó

được phản hồi từ phía người nhận, mà còn phụ thuộc vào cách người dùng sử dụng ứng dụng của mạng xã hội Thông qua mạng xã hội, người dùng có thể dễ dàng đơn giản tương tác với nhau Cùng với sự phát triển toàn diện của mạng xã hội thì tương tác ngày một gần gũi hơn và thực tế hơn Cho phép người dùng có thể quan sát người khác từ khoảng cách địa lý xa

- Khả năng truyền tải và lưu trữ thông tin: Tất cả các mạng xã hội đều có những

ứng dụng tương tự nhau như đăng trạng thái, đăng nhạc hoặc video clip, nhưng được phân bổ dung lượng khác nhau Các trang mạng xã hội lưu trữ thông tin và nhóm chúng theo trình tự thời gian, nhờ đó người sử dụng có thể truy cập lại lượng thông tin khổng lồ đã từng đăng tải

1.3.3.2 Đặc điểm của các mạng xã hội

- Mạng xã hội Zing me

Trang 34

Zing.vn bao gồm một loạt các dịch vụ tích hợp cao như: tin nhắn, âm nhạc trực tuyến, mạng xã hội, tìm kiếm, nhắn tin trò chuyện phần mềm, phim ảnh, karaoke, video và hình ảnh Số liệu thống kê lưu lượng truy cập đã tăng lên đáng kể từ các giới thiệu tới công chúng Điểm nổi bật tại Zing Me là sự kết hợp về game xã hội vốn là

“món khoái khẩu” của cộng đồng game thủ hiện tại của VNG, Điểm nổi bật nhất là Zing Me đưa Blog ra thành một mục riêng, tương tự Note của Facebook nhưng hỗ trợ viết thuận tiện hơn nhiều: thanh công cụ chỉnh cỡ chữ, kiểu chữ, tải ảnh ngay từ máy hoặc URL được đặt ngay trên đầu trang, chứ không mang phức tạp “soạn HTML” như Facebook Tại đây, người dùng cũng có thể nghe nhạc trực tiếp, đăng ảnh, gửi thiệp

cá nhân cho đến những cập nhật thời sự tại chỗ kịp thời và nhanh chóng hơn cả truyền thông chính thống

- Facebook

Facebook là nơi người dùng có thể tham gia các mạng lưới được tổ chức theo thành phố, nơi làm việc, trường học và khu vực để liên kết và giao tiếp với người khác Mọi người cũng có thể kết bạn và gửi tin nhắn cho họ, và cập nhật trang hồ sơ

cá nhân của mình để thông báo cho bạn bè biết về chúng.Đây là trang mạng xã hội

Trang 35

phát triển nhanh nhất, Facebook đã phát triển từ một mạng lưới các sinh viên học đại học đến nay nó đã phát triên trên toàn cầu, một mạng lưới đa sắc tộc và mọi lứa tuổi Đây là một trong những mạng xã hội tốt nhất với nhiều tính năng vượt trội và lợi ích khổng lồ mà nó mang lại

Trong giới hạn của đề tài, tác giả chọn giáo dục KNS cho HS THCS thông qua MXH Facebook, vì: 1, Phổ biến; 2, Số lượng thành viên lớn và nhiều nhất trên thế giới (tính đến thời điểm hiện tại); 3, Có nhiều tính năng phù hợp với đối tượng; 4, Có

sự lan toả và đo lường nhanh

1.3.4 Ảnh hưởng của mạng xã hội đến sự phát triển nhân cách học sinh THCS

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh THCS Trong đó mạng xã hội là một yếu tố có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển nhân cách của học sinh THCS Các phương tiện truyền thông hiện nay đã và đang có những tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách của con người đặc biệt là lứa tuổi ở trung học cơ sở Mạng xã hội là một phần của thế giới đa truyền thông, nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin, kết nối và chia sẻ của giới trẻ Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập hiện nay, với sự phát triển ồ ạt của rất nhiều mạng xã hội, họ có cơ hội tham gia vào thế giới thông tin và kết nối rộng lớn, cùng lúc tiếp cận với nhiều hệ tư tưởng

và giá trị sống khác nhau

Về bản chất, ảnh hưởng của mạng xã hội đến sự phát triển nhân cách của học sinh là sự tác động đến định hướng giá trị nhân cách của họ Cụ thể hơn, là sự tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội đến sự lựa chọn các giá trị cần có của một mẫu hình nhân cách đã được xác định Trên cơ sở đó, cá nhân hay nhóm điều chỉnh nhận thức, hành vi sao cho phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội Hiện tượng tiêu cực, phi giá trị trong nhận thức, hành vi của giới trẻ trên mạng xã hội và thể hiện của

họ trong thực tế, chính là sự lệch chuẩn về giá trị nhân cách

- Về mặt tích cực: Mạng xã hội đã và đang tạo ra môi trường giáo dục, chia sẻ

thông tin về các giá trị, để trong không gian đó, giới trẻ thể hiện quan điểm cá nhân, điều chỉnh hành vi nhân cách Tham gia mạng xã hội, họ có thể bày tỏ nhu cầu, tạo lập các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, cũng như tham khảo ý kiến, trải nghiệm của

Trang 36

mình về quan điểm, thái độ sống, hành vi ứng xử Có thể thấy được điều đó thông qua những chủ đề mà họ quan tâm như: bày tỏ thái độ yêu nước, bàn về chính trị, trách nhiệm của xã hội

- Về mặt tiêu cực: Ở lứa tuổi THCS, sự phát triển nhân cách của các em chưa

hoàn thiện, trong các em còn nhiều sự mâu thuẫn Các em chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc ứng xử nên các em sẽ khó khăn trong việc lựa chọn các thông tin tích cực

để học tập Các em dễ bị ảnh hưởng bởi những thông tin trên mạng xã hội, nếu như không được định hướng và hướng dẫn Sự phát triển mạnh mẽ của các trang mạng xã hội sẽ có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách của học sinh THCS Các em học sinh THCS dễ bị tác động trước những thông tin gây sốc, trước những trào lưu có tính lây lan nhanh

1.4 Hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở Trung tâm giáo dục kĩ năng sống

1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ của Trung tâm giáo dục kĩ năng sống

Hoạt động của Trung tâm giáo dục kĩ năng sống nhằm tạo ra một môi trường

mà ở đó, người học của mọi cấp học, lứa tuổi đều được trang bị những kiến thức về cuộc sống, xã hội; được rèn luyện để hình thành nên những kĩ năng phù hợp, phục vụ

có ích cho cuộc sống của họ Từ đó, cùng với hệ thống giáo dục quốc dân, Trung tâm giáo dục kĩ năng sống cũng góp phần vào công tác giáo dục, hình thành nhân cách người học và tạo điều kiện học tập suốt đời cho người học

Trung tâm giáo dục kĩ năng sống có các nhiệm vụ trọng tâm như sau:

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả các hoạt động giáo dục KNS cho người học ở mọi lứa tuổi từ mầm non, THCS, THCS cho đến THPT và người trưởng thành -Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức của cộng đồng về công tác giáo dục KNS và tầm quan trọng của KNS trong đời sống hằng ngày

- Tổ chức các hoạt động thực tiễn nhằm rèn luyện kĩ năng cho người học, đặt người học vào trong các tình huống, sự kiện thực tế như các hoạt động giao lưu văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi dã ngoại, các hoạt động thiện nguyện, nhằm

đa dạng hóa hình thức giáo dục KNS

Trang 37

- Dựa trên nhu cầu học tập của cộng đồng cũng như xu thế phát triển của xã hội

để xây dựng nội dung và hình thức học tập KNS phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng, cụ thể như ở mỗi lứa tuổi khác nhau, việc giáo dục kĩ năng sống tại trung tâm sẽ được áp dụng linh hoạt sao cho phù hợp đặc điểm tâm sinh lý của từng cấp học Đối với học sinh THCS, tiếp tục rèn luyện những kỹ năng đã được học ở tiểu học, tập trung hình thành cho học sinh kỹ năng giao tiếp với cha mẹ, thầy

cô, bạn bè; kỹ năng xây dựng tình bạn đẹp; kỹ năng kiên trì trong học tập; kỹ năng đúng giờ và làm việc theo yêu cầu, kỹ năng đồng cảm tạo tiền đề cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất, học vấn và năng lực HS

Đối với học sinh THCS và THPT, người dạy là người dẫn dắt các em vượt qua những khó khăn, thử thách để giúp các em nhận thức sâu sắc về những việc cần thiết phải làm đối với cuộc sống của bản thân và mọi người ở lứa tuổi học sinh Giáo dục các em tự phân tích, tổng hợp và giải quyết tình huống nào đó cụ thể; luôn tạo điều kiện, động viên các em tham gia, hoạt động tốt công tác đội, đoàn và những sân chơi

bổ ích, lành mạnh như: câu lạc bộ văn học, toán học, ngoại ngữ, hùng biện… thường xuyên tổ chức hoạt động về nguồn, thực tế (gắn liền với nội dung học ở trường) ở các địa phương để giúp các em có thêm kiến thức về vốn sống và giáo dục tình yêu quê hương đất nước

1.4.2 Mục đích giáo dục kĩ năng sống thông qua mạng xã hội

Mục đích, mục tiêu giáo dục là dự kiến trước mô hình nhân cách của người được giáo dục, có vai trò định hướng cho sự vận động và phát triển của các thành tố khác của HĐGD, từ đó định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ HĐGD, Mục đích, mục tiêu giáo dục được thực hiện bằng những nhiệm vụ giáo dục cụ thể (Trần Thị Hương, 2017)

Mạng xã hội là một phương tiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học

cơ sở Mục đích giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội tực chất là rèn luyện năng lực tâm lý - xã hội cho HS, giúp HS có những thái độ, hành

vi tích cực, mang tính xây dựng; đồng thời thay đổi những hành vi và thói quen tiêu cực Nhiệm vụ của GDKNS là hình thành cho HS những KNS cụ thể/ thành phần để

họ có thể ứng dụng giải quyết hiệu quả các tình huống trong cuộc sống

Trang 38

Mục đích GDKNS cho HS THCS nhằm giúp HS thích ứng và làm chủ các tình huống trong cuộc sống hàng ngày Mục đích giáo dục KNS cho HS THCS qua mạng

xã hội cũng là hướng đến việc rèn luyện KNS, trang bị cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; giúp HS có khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử, ứng phó phù hợp, tích cực trước tình huống cuộc sống, đặc biệt thông qua công cụ hỗ trợ là mạng xã hội

Mục đích GDKNS cho HS THCS qua mạng xã hội có vai trò định hướng cho

sự vận động và phát triển của các thành tố cấu trúc khác của hoạt động GDKNS

1.4.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học cơ sở thông qua mạng xã hội

Nội dung giáo dục là hệ thống những chuẩn mực xã hội cần giáo dục cho học sinh Nội dung giáo dục chịu sự chi phối của mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục; nó tạo nên nội dung hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục

Nội dung GDKNS cho HS THCS là hệ thống những kĩ năng sống cần thiết để

HS có thể đáp ứng các yêu cầu trong học tập và sinh hoạt, xử lý được các tình huống gặp phải trong cuộc sống hàng ngày Có nhiều cách phân chia nội dung GDKNS cho

HS THCS Trong nghiên cứu này, nội dung GDKNS cho HS THCS thông qua mạng

xã hội gồm các KNS cụ thể như sau:

- Kĩ năng tìm kiếm và chọn lọc thông tin

Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin ở HS THCS là khả năng thu thập và hệ thống hóa những thông tin cần thiết để thực hiện mục đích hoạt động của mình Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin giúp HS có được những thông tin cần thiết một cách đầy đủ, chính xác, đáng tin và kịp thời; là điều kiện cần thiết để thực hiện hoạt động một cách hiệu quả Các biểu hiện của kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin ở HS THCS: biết chủ đề, thể loại thông tin cần tìm kiếm trong học tập và sinh hoạt; biết các nguồn thông tin để tìm kiếm; bước đầu biết lập kế hoạch và chuẩn bị các phương tiện để thu thập thông tin; thực hiện việc thu thập thông tin; bước đầu biết phân tích,

so sánh các thông tin thu thập được và sắp xếp thông tin theo hệ thống

- Kĩ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc

Trang 39

Kỹ năng kiểm soát cảm xúc ở HS THCS là khả năng HS nhận thức được cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đó đối với bản thân và người khác, đồng thời biết điều chỉnh và thể hiện cảm xúc của mình một cách phù hợp Kỹ năng kiểm soát cảm xúc giúp HS giải quyết các vấn đề một cách hài hòa và mang tính xây dựng, đưa ra các quyết định sáng suốt và giao tiếp hiệu quả Các biểu hiện của kỹ năng kiểm soát cảm xúc ở HS THCS: biết những cảm xúc cơ bản của mình như: vui, buồn, tức giận, lo lắng, sợ hãi, tự hào…; biết nguyên nhân gây ra cảm xúc của mình, biết cảm xúc của mình có ảnh hưởng gì đến mình và người thân: cha mẹ, anh chị em, giáo viên, bạn học; biết cách thể hiện cảm xúc phù

hợp trong học tập, sinh hoạt ở nhà và ở trường THCS

- Kĩ năng giải quyết xung đột

Kỹ năng giải quyết xung đột ở HS THCS là khả năng xử lý các xung đột một cách hợp lý trong các mối quan hệ xung quanh như mối quan hệ bạn bè, mối quan hệ với cha mẹ, với thầy cô Đối với lứa tuổi HS THCS, khi các đặc điểm về mặt tâm lý

và sinh lý đều chưa ổn định, các mâu thuẫn rất dễ xảy ra và dẫn đến xung đột thì kỹ năng này giúp cho HS nhận biết được nguyên nhân làm nảy sinh mâu thuẫn, nảy sinh xung đột; HS ứng xử một cách có ý thức đối với các mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống, tránh bạo lực và những xung đột trong các mối quan hệ của cá nhân, hạn chế

những đáng tiếc xảy ra trong cuộc sống của các em Các biểu hiện của kỹ năng giải

quyết mâu thuẫn ở HS tiểu học: nhận thức được mâu thuẫn giữa mình và người khác, chủ yếu là bạn bè; nhận thức được nguyên nhân gây ra mâu thuẫn; biết chọn cách giải quyết không mang tính bạo lực; biết nhờ người lớn hỗ trợ khi cần thiết

- Kĩ năng giao tiếp và ứng xử văn minh

Kỹ năng giao tiếp ở HS THCS là khả năng bày tỏ suy nghĩ và thái độ của HS một cách phù hợp với hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp Kỹ năng giao tiếp giúp HS đánh giá đúng tình huống và đối tượng giao tiếp, biết xây dựng và giữ gìn các mối quan hệ, từ đó đạt được mục đích giao tiếp của mình Kỹ năng giao tiếp là điều kiện cần thiết cho sự thành công và hạnh phúc Các biểu hiện của kỹ năng giao tiếp ở HS THCS: có hiểu biết về vị trí, vai trò của bản thân, cha mẹ, anh chị em, ông bà và

Trang 40

những người thân trong gia đình; có hiểu biết về các mối quan hệ của mình trong trường THCS như: quan hệ thầy - trò, quan hệ bạn bè, quan hệ với thầy cô và nhân viên của trường; ý thức được mục đích giao tiếp của mình trong các tình huống thường gặp ở nhà và ở trường THCS; biết cách xây dựng tình cảm với những người thân trong gia đình và trường THCS; biết trình bày suy nghĩ, nguyện vọng, tình cảm của mình với người lớn; biết sử dụng một số phương tiện giao tiếp như: quà tặng, lời

chúc,… để xây dựng và phát triển các mối quan hệ của bản thân

- Kĩ năng quản lý thông tin cá nhân

Kỹ năng quản lý thông tin cá nhân ở HS THCS là khả năng kiểm soát được mức

độ lan truyền các thông tin về bản thân mình trên các phương tiện truyền thông công cộng, đặc biệt là các trang mạng xã hội, từ đó có khả năng tránh được bị lạm dụng thông tin cá nhân cho các mục đích thương mại, quảng cáo Kỹ năng quản lý thông tin cá nhân là kỹ năng vô cùng cần thiết cho mỗi cá nhân, đặc biệt là cho lứa tuổi HS THCS khi mà các em có nhu cầu chia sẻ và tìm hiểu về các cá thể khác, khi mà sự phát triển của các mạng xã hội là vô cùng nhanh chóng Biểu hiện của kỹ năng quản

lý thông tin cá nhân ở HS THCS như: có hiểu biết về các đặc điểm của mạng xã hội

và cách sử dụng mạng xã hội hợp lý, HS thận trọng trong việc chia sẻ các thông tin của mình như tên, tuổi, địa chỉ cá nhân trên các trang diễn đàn, HS biết cách phản

ứng phù hợp với các luồng thông tin và tình huống diễn ra trên các trang mạng ảo

- Kĩ năng kết bạn và xây dựng hiệu quả mối quan hệ

Kỹ năng kết bạn và xây dựng hiệu quả mối quan hệ chính là khả năng lựa chọn các đối tượng và cách thức giao tiếp phù hợp để tạo dựng và duy trì mối quan hệ với những người xung quanh Đây là kỹ năng quan trọng góp phần tạo nên một cuộc sống hạnh phúc cho HS ở lứa tuổi THCS, lứa tuổi mà mối quan hệ bạn bè là chủ đạo, vượt trên cả mối quan hệ với cha mẹ và thầy cô, Các biểu hiện của kỹ năng này như: biết lựa chọn bạn bè phù hợp về các đặc điểm lứa tuổi, biết quan tâm và hợp tác lẫn nhau

trong mối quan hệ bạn bè, biết cảm thông và chấp nhận người khác dù là họ khác biệt 1.4.4 Hình thức tổ chức và phương pháp, phương tiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS thông qua mạng xã hội ở Trung tâm GDKNS

1.4.4.1 Hình thức tổ chức

Ngày đăng: 18/02/2021, 17:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w