1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ thực trạng hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học quận 1 thành phố hồ chí minh

112 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

M ục đích nghiên cứu Luận văn nhằm tìm hiểu hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh ở hai môn nghệ thuật là Hát -Nhạc và Mỹ thuật trong thờ

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN

Chúng tôi xin bày t ỏ lòng biết ơn chân thành đến

 Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và các quý thầy cô

giáo đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên

c ứu chương trình đào tạo Thạc sĩ Quản lí và Tổ chức công tác giáo dục

 S ở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh

 Phòng Giáo d ục và Đào tạo Quận 1

 Ban giám hi ệu các trường tiểu học Quận 1

 Đã tận tình giúp đỡ chúng tôi hoàn thành luận văn

Đặc biệt, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Bùi Ngọc

Oá nh, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình

hoàn thành lu ận văn

Xin c ảm ơn bạn bè, các đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, động viên cổ

vũ, tạo điều kiện cho chúng tôi hoàn thành luận văn

Lu ận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được sự chỉ dẫn,

góp ý c ủa các Thầy, Cô, đồng nghiệp và các bạn

Tác gi ả

Trang 5

3.4 Nguyên tắc quản lí giáo dục 24

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC GIÁO DỤC THẨM

3 Th ực trạng hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học tại

Qu ận 1 thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua 45

Trang 6

3.1 Thực trạng về việc chỉ đạo các hoạt động chuyên môn ở hai bộ môn Hát -

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG

1.5 Căn cứ vào thực trạng của hoạt động tể chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

tiểu học ở một số trường Quận 11 74

Trang 7

2.4 Cải thiện điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học các môn nghệ thuật trong trường tiểu học1 77

1

2.5 Tăng cường công tác quản lí chuyên môn, kiểm tra và đánh giá1 78

1

2.6 Thực hiện tốt mối liên kết chặt chẽ giữa các trường tiểu học trong và ngoài

quận để cùng thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục thẩm mỹ1 79

Trang 8

Để đạt đến sự phát triển con người toàn diện, giáo dục phải hướng con người đến

ba loại giá trị cơ bản nhất của cuộc sống con người là cái chân, cái thiện và cái mỹ Ba

loại giá trị này chính là thể hiện tinh hoa của văn hóa và văn minh trong mỗi cộng đồng người Trong giáo dục, nếu để thiếu hụt đi một trong ba giá trị trên thì tất yếu sẽ

dẫn đến sự mất cân đối, sự méo mó trong phát triển nhân cách con người

Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục con người nói chung

Nó góp phần tạo dựng nhân cách của cá nhân và của xã hội Nói cách khác, giáo dục

thẩm mỹ là một trong ba nội dung cơ bản của sự nghiệp giáo dục con người: CHÂN THIỆN - MỸ, là một bộ phận hợp thành sự nghiệp giáo dục trí, đức, thể, mỹ của Đảng

-ta trong quá trình hình thành nhân cách con người Việt Nam trong thời kì mới Sự nghiệp giáo đục thẩm mỹ cho thanh thiếu niên và các tầng lớp xã hội khác được Đảng

ta khẳng định là có một ý nghĩa quan trọng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

mở rộng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong hệ thống giáo dục phổ thông, tiểu học là bậc học nền tảng Nhiệm vụ của trường tiểu học là cung cấp cho học sinh những kiến thức về thế giới tự nhiên, cuộc

sống xã hội, đặc biệt là môi trường sống xung quanh nhằm bồi dưỡng cho các em thái

độ, tình cảm và có hành vi tốt đẹp trong cuộc sống Đứng từ góc độ tâm lí, học sinh

tiểu học là lứa tuổi bắt đầu được bồi dưỡng tình cảm thẩm mỹ trên cơ sở kết hợp các phương pháp về mặt cảm giác, cảm xúc với các năng lực tinh thần, lí trí gắn liền với

hoạt động nhận thức của con người Chính vì thế, học sinh tiểu học tuy ở bậc đầu tiên

Trang 9

của bậc học phổ thông nhưng tất cả những gì mà giáo dục trang bị cho các em ở thời kì này có ý nghĩa cực kì quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này Nói cách khác, ở giáo dục tiểu học nếu không quan tâm đến giáo dục toàn

diện thì khó có thể thu được kết quả khả quan ở các bậc học kế tiếp Giáo dục thẩm mỹ cũng như các nội dung giáo dục khác cần phải được quan tâm và đầu tư đúng mức

Với ý nghĩa đó, chúng tôi chọn đề tài : "Thực trạng hoạt động tổ chức giáo dục

Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này

2 M ục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm tìm hiểu hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu

học Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh ở hai môn nghệ thuật là Hát -Nhạc và Mỹ thuật trong thời gian qua, nguyên nhân của thực trạng, đồng thời đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng của công tác này

3 Nhi ệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung vào ba nhiệm vụ chính:

❖ Nghiên cứu cơ sở lí luận của công tác tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

tiểu học

❖ Thực trạng của công tác tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học tại

Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua ở hai bộ môn nghệ thuật là Hát - Nhạc

và Mỹ thuật Cụ thể như sau:

 Thực trạng về việc chỉ đạo các hoạt động chuyên môn ở hai bộ môn Hát - Nhạc

và Mỹ thuật

 Thực trạng về công tác tổ chức đội ngũ giáo viên

 Thực trạng về quản lí cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy

 Thực trạng về quản lí kết quả và thái độ học tập của học sinh

 Thực trạng về thu hút, vận động các lực lượng giáo dục tham gia công tác giáo

dục thẩm mỹ

Trang 10

 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả tổ chức giáo dục thẩm mỹ ở hai môn Hát - Nhạc và Mỹ thuật cho học sinh tiểu học tại Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh

4 Khách th ể và đối tượng cứu

 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ qua hai môn học Hát - Nhạc và Mỹ thuật tại một số trường tiểu học Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh :

1 Trường Tiểu học Hòa Bình

2 Trường Tiểu học Trần Khánh Dư

3 Trường Tiểu học Chương Dương

4 Trường Tiểu học Trần Hưng Đạo

5 Trường Tiểu học Lê Ngọc Hân

6 Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng

7 Trường Tiểu học Nguyễn Thái học

8 Trường Tiểu học Trần Quang Khải

9 Trường Tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm

10 Trường Tiểu học Khai Minh

11 Trường Tiểu học Đuốc Sống

12 Trường Tiểu học Phan Văn Trị

 Đối tượng nghiên cứu : Thực trạng của hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ qua hai môn học Hát - Nhạc và Mỹ thuật cho học sinh tiểu học

5 Gi ả thuyết khoa học

Hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết Nếu có được các giải pháp đúng đắn thì sẽ tăng cường được hiệu quả của công tác này, góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo ở Quận 1 nói riêng và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói chung

Trang 11

6 Gi ới hạn đề tài

Do hạn chế về trình độ và thời gian nghiên cứu, chúng tôi xin được giới hạn đề tài của mình như sau:

 Về nội dung: Chúng tôi chỉ nghiên cứu thực trạng về hoạt động tổ chức giáo

dục thẩm mỹ ở hai môn học nghệ thuật là Hát - Nhạc và Mỹ thuật

 Về thời gian: Thực trạng hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ trong khoảng

thời gian từ năm học 1997 - 1998 đến năm học 2001 - 2002

7 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng của hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ qua hai bộ môn Hát - Nhạc và Mỹ thuật cho học sinh tiểu học Quận 1, chúng tôi sử dụng

một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Chúng tôi thu thập các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu từ sách, báo, các bài bài báo cáo, tham luận trong các hội thảo khoa học

7.2 Ph ương pháp phỏng vấn

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã gặp gỡ để trò chuyện, trao đổi ý kiến về các vấn đề có liên quan đến giáo dục thẩm mỹ với các đối tượng:

- Cán bộ Phòng tiểu học Sở giáo dục- Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh

- Cán bộ phụ trách mảng công tác giáo dục thẩm mỹ và thể dục thể thao của Phòng Giáo dục và Đào tạo Quận 1

- Ban giám hiệu các trường tiểu học Quận 1 và các quận khác

- Một số nhà nghiên cứu giáo dục về vấn đề giáo dục thẩm mỹ

7.3 Phương pháp quan sát qua dự giờ

Chúng tôi đã xin phép được dự một số giờ giảng môn Hát - Nhạc và Mỹ thuật tại

một số trường tiểu học Quận 1; Dự buổi tập huấn cho giáo viền Hát - Nhạc về giảng

dạy Hát - Nhạc bằng công nghệ thông tin

Trang 12

7.4 Phương pháp điều tra bằng phiếu thăm dò ý kiến

Để thực hiện việc nghiên cứu này, chúng tôi đã đưa ra 3 mẫu phiếu thăm dò ý

kiến :

Phi ếu 1 gồm 23 câu hỏi dành cho Ban giám hiệu 12 trường tiểu học Quận 1,

giáo viên có tham gia giảng dạy nghệ thuật (kể cả giáo viên chuyên và giáo viên không chuyên), số phiếu thu về là 130

Phi ếu 2: Là bảng câu hỏi dành cho 400 phụ huynh học sinh các trường tiểu học

trong địa bàn Quận l

Phiếu 3: là bảng Tìm hiếu về tính cấp thiết và tính khả thi cửa các giải pháp

Bảng này được đưa ra lấy ý kiến sau khi chúng tôi đã đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục thẩm mỹ Bảng thăm dò này dành cho các đối tượng là cán bộ quản lí giáo dục, cán bộ nghiên cứu giáo dục, giáo viên có tham gia

dạy nghệ thuật, phụ huynh học sinh các trường tiểu học Số phiếu thu về là 90

7.5 V ận dụng một số công thức của toán thống kê

Để phân tích và xử lí các số liệu điều tra nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng phẫn mềm Mystat để thống kê tần số, tính tỉ lệ phần trăm, trị số trung bình M, độ lệch chuẩn S

Số liệu được quy ước như sau:

 Đối với câu hỏi có 4 khả năng trả lời:

a = 4, b = 3, c = 2, d = Ì

 Đối với câu hỏi có 3 khả năng trả lời :

a = 3, b = 2, c = 1

 Đối với những câu hỏi có nhiều lựa chọn:

+ Khả năng nào được chọn = 1

+ Khả năng nào không được chọn = 0

Trang 13

8 C ấu trúc của luận văn

7 Phương pháp nghiên cứu

8 Cấu trúc luận văn

❖ N ội dung nghiên cứu

Chương 1: Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Chương 2 : Cơ sở lí luận của đề tài

1 Quan điểm của mỹ học Mác Lênin về giáo dục thẩm mỹ

2 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thẩm mỹ

3 Một số vấn đề lí luận về quản lí giáo dục

4 Một số vấn đề lí luận về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học

5 Hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ ở hai bộ môn Hát - Nhạc và Mỹ thuật trong trường tiểu học

Chương 3: Thực trạng cổng tác tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu

h ọc tại Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây (1997 - 2002)

1 Khái quát về Quận 1

2 Tình hình giáo dục tiểu học Quận 1 trong những năm gần đây

3 Thực trạng hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học tại

Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh từ năm học 1997 - 1998 đến năm học 2001 – 2002

Trang 14

3.1 Th ực trạng về việc chỉ đạo các hoạt động chuyên môn theo chương trình và giáo dục của Bộ ở hai bộ môn Hái - Nhạc và Mỹ thu ật

3.2 Th ực trạng về công tác tổ chức đội ngũ giáo viên 3.3 Th ực trạng về quản lí cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy 3.4 Th ực trạng về quản lí kết quả và thái độ học tập của học sinh 3.5 Th ực trạng về thu hút, vận động các lực lượng giáo dục khác

4 Nguyên nhân của thực trạng

4.1 Nguyên nhân khách quan

5 Kết luận chương 3

Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức giáo dục

th ẩm mỹ cho học sinh tiểu học tại Quận 1 thành phố Hồ Chí Minh

1 Cơ sở đề xuất giải pháp

Trang 15

PH ẦN NỘI DUNG

Chương 1: LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Giáo dục thẩm mỹ không phải là vấn đề mới mẻ Chúng ta đã bắt gặp nó từ trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng cổ đại, trong cả các luận văn triết học, xã hội học và giáo dục học ở thời Phục hưng và thời Khai sáng Tiêu biểu là tác phẩm "Những lá thư

v ề giáo dục thẩm mỹ" của Ph Sinle, đặc biệt giáo dục thẩm mỹ được chú ý nhiều ở các

công trình mỹ học -triết học của các nhà duy tâm chủ nghĩa Đức là Kant và Hegel Các nhà mỹ học Mác xít đã kế thừa các giá trị tinh hoa của tư tưởng mỹ học nhân

loại, nhấn mạnh ý nghĩa xã hội và tính tích cực của mỹ học Mác - Lê nin trong việc xây dựng con người hoàn thiện

Trước hết, phải kể đến công trình Nguyên lí mỹ học Mác - Lênin của tác giả I U

A Lukin và V C Xcacherơsiccốp (Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác Lênin, Hà Nội, 1984) Công trình này đã khảo sát bản chất của giáo dục thẩm mỹ, coi giáo dục thẩm

mỹ là một phương tiện quan trọng để xây dựng, phát triển nhân cách con người, khẳng định vai trò to lớn của nghệ thuật với việc giáo dục thẩm mỹ Nghệ thuật, với tư cách

là phương tiện giáo dục thẩm mỹ, sẽ làm phát triển các nhu cầu thẩm mỹ và thị hiếu

thẩm mỹ của con người, làm nhạy bén thêm sự hiểu biết và rung cảm cái đẹp

Một tác phẩm khác liên quan đến vấn đề giáo dục thẩm mỹ là Giáo dục thẩm mỹ trong gia đình (Đỗ Văn thản d., Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 1975) Cuốn sách này

đã giới thiệu ý kiến của các nhà giáo dục Liên Xô như N C Cờrupskaia, A Macarencô, V A Xukhơlinski và nhiều nhà giáo dục khác về tác dụng của giáo dục

thẩm mỹ, đồng thời hướng dẫn cho các em cách học nhạc, học văn thơ, xem phim, xem kịch theo từng môn và từng lứa tuổi Cuốn sách đưa ra một thông điệp hết sức quan trọng về nhiệm vụ của chúng ta - các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục - là không nên bỏ rơi, không nên bỏ mặc các em ngay từ tuổi ấu thơ, đồng thời cũng không được

bỏ qua những cái mới, những cái sinh động mà chúng ta đã biết, để truyền lại cho các

em những kinh nghiệm sống, sự say mê đối với nghệ thuật, sự tôn trọng đối với tất cả

mọi cái gọi là tài năng và sáng tạo Giáo dục thẩm mỹ là cơ sở vững chắc giúp phát triển nhân cách ở trẻ em

Trang 16

Tác giả Lê Anh Trà với "Giáo dục thẩm mỹ và xây dựng con người mới Việt

nhận định sâu sắc và toàn diện khi đề cập đến việc giáo dục thẩm mỹ qua lĩnh vực nghệ thuật Theo tác giả, giáo dục thẩm mỹ bằng nghệ thuật xen lồng vào tất cả các

biện pháp giáo dục thẩm mỹ khác Giáo dục thẩm mỹ bằng nghệ thuật phải được thực

hiện ở nhiều loại hình nghệ thuật vì "Sự phong phú của thế giới và sự đa dạng của ngh ệ thuật biểu hiện ở nhiều loại hình, loại thể, mà mỗi loại hình, loại thể đó có những đặc điểm riêng, những mặt mạnh riêng về tác dụng giáo dục, nhất là giáo dục thẩm

m ỹ " (trang 129) Tác giả cũng đặc biệt lưu ý đến giáo dục thẩm mỹ thông qua các loại

hình nghệ thuật dân gian như truyện cổ Việt Nam, Tuồng, Chèo, Rối nước, các điệu múa dân tộc, tranh dân gian

Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Huy có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Một

số tác phẩm của ông là:

- Mỹ học Mác - Lênin (Viết cùng tác giả Đỗ Văn Khang) (Nhà xuất bản Đại học

và trung học chuyên nghiệp - Hà Nội - 1985)

- Giáo dục thẩm mỹ một số vấn đề lí luận và thực tiễn (Nhà xuất bản Thông tin lí

Trong những tác phẩm của mình, tác giả đã trình bày những quan niệm tổng quát

về giáo dục thẩm mỹ Tập trung nhiều nhất là xoay quanh các vấn đề về bản chất, nhiệm vụ, các hình thức giáo dục thẩm mỹ cho con người mới Tác phẩm Mỹ học,

đề cơ bản của mỹ học Mác Lênin Tác giả đã đi sâu phân tích về bản chất của giáo dục

thẩm mỹ, quan điểm toàn diện và các nguyên tắc của mỹ học Mác - Lênin trong giáo

dục thẩm mỹ Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật cũng như bản chất xã hội của nghệ thuật

Trang 17

Tác phẩm "Thẩm mỹ học của văn hóa Việt Nam hiện đại" của tác giả Hà Chuyên

(Nxb Tư tưởng và Văn hóa, Hà Nội, 1992) dành một chương để nói về giáo dục thẩm

mỹ ở Việt Nam Tác giả đã đưa ra quan điểm về giáo dục thẩm mỹ hết sức tiến bộ Ông cho rằng "Giáo dục hài hòa trí lực, lao động, thể lực, đạo đức - thẩm mỹ là sự

lũy văn hóa thẩm mỹ của học sinh " [tr 171 ]

Tập sách "Mỹ học" của tác giả Lâm Vinh ( Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí

Minh, 1997) là tập hợp những bài viết về các vấn đề mỹ học và cái đẹp, mỹ học và nghệ thuật, mỹ học và con người Đặc biệt, tác giả đã nêu ra một số vấn đề mà cho đến

giờ vẫn đang là vấn đề mang tính thời sự như vị trí - mục tiêu của giáo dục thẩm mỹ, giáo dục ý thức và tình cảm thẩm mỹ dân tộc trong thời kì đổi mới

Một công trình khác liên quan đến vấn đề này là luận án Phó Tiến sĩ khoa học triết học "Vai trò của văn học trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay" của tác giả

Lê Quang Vinh (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999) Xuất phát từ quan

niệm cho rằng văn học và nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của giáo dục thẩm mỹ, là hình thái ý thức đặc thù, nhạy bén nhất của giáo dục thẩm mỹ, tác giả đã trình bày một

số cơ sở lí luận về đặc trưng của giáo dục thẩm mỹ liên quan đến vấn đề xây dựng con người mới ở nước ta Nội dung trọng tâm của công trình là vai trò của văn học trong giáo dục thẩm mỹ

Tác phẩm "Văn hóa thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế kỉ

xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001) đã đề cao vai trò của nghệ thuật trong

việc giáo dục thẩm mỹ đối với con người Tác giả khẳng định: "Giáo dục thẩm mỹ

người ta hoàn toàn tự nguyện đi theo định hướng gợi mở của nó Nếu nghệ thuật là

hoàn thi ện mình một cách hiệu nghiệm" [tr 501]

Trang 18

Gần đây nhất là công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông qua các môn nghệ thuật" của Giáo sư Tiến sĩ Khoa học

Lê Ngọc Trà và Tiến sĩ Lâm Vinh Xem giáo dục thẩm mỹ qua các môn văn học nghệ thuật là vấn đề mấu chốt của mỹ dục đối với tuổi học sinh nên đề tài tập trung nghiên

cứu những tư tưởng cơ bản, quan điểm cơ bản về giáo dục và giáo dục thẩm mỹ đã được nhận thức và thực hành như thế nào trong việc điều hành giáo dục ở tầm vĩ mô, ở

cơ sở địa phương, trường học trong 40 năm qua, nhất là những năm đổi mới gần đây

Đề tài đã đưa ra bốn vấn đề có ý nghĩa chiến lược cần nghiên cứu và giải quyết, được tìm hiểu từ lịch sử mấy chục năm đồng thời từ thực tiễn đang diễn ra Đó là các vấn đề

nhận thức - quan điển giáo dục toàn diện, xác định môn học (định vị và đặt tên các môn nghệ thuật nhằm mục tiêu giáo dục thẩm mỹ, mục tiêu giáo dục thẩm mỹ của các môn nghệ thuật), mục tiêu -phương thức - quy mô - nhịp độ đào tạo giáo viên nghệ thuật, đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục thẩm mỹ - nghệ thuật trong nhà trường Ngoài

ra, công trình còn tập hợp được rất nhiều ý kiến đánh giá của các chuyên viên trong ngành giáo dục, các nhạc sĩ, họa sĩ, nhà phê bình nghệ thuật có tên tuổi như Tiến sĩ Nguyễn Trí (Vụ phó vụ Giáo viên Bộ GD và ĐT), nhạc sĩ Hoàng Long, Giáo sư nhạc

sĩ Tô Vũ, Nhạc sĩ Ca Lê Thuần, Nhạc sĩ Dương Thụ, Họa sĩ Trịnh Cung, nhà phê bình nghệ thuật Nguyễn Quân

Ngoài các công trình nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ đã nêu trên, từ trước đến nay đã có nhiều bài viết trên các báo hoặc được trình bày trong các cuộc hội thảo khoa

học đề cập đến vấn đề này

Một số bài báo tiêu biểu là:

- "Giáo viên nh ạc, họa: Người ở đâu bây giờ "(Hà Thạch Hãn, Báo Tuổi trẻ chủ

nhật, số 537, ra ngày 19.09 1993)

- "M ỹ dục trong bức tranh giáo dục toàn diện" (Lâm Vinh, Báo Nhân dân chủ

nhật, số 36/ 1999)

- "Nâng cao hi ệu quả giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường bắt đầu từ đâu?"

(Hồng Quân, Báo Sài Gòn giải phóng, số 8812, ra ngày 12.01.2002)

Trang 19

- "Giáo d ục thẩm mỹ - nghệ thuật trong nhà trường cần một chuyển biến mạnh

m ẽ" (Thuận Thiên, Báo Lao động, số 18/2002, ra ngày 21.01.2002)

Hội thảo khoa học "Thực trạng giáo dục tiểu học và những giải pháp nâng cao

2002 có một số bài viết đáng lưu ý như:

Thành phố Hồ Chí Minh)

- M ột số vấn đề giảng dạy âm nhạc ở trường tiểu học (Đỗ Tân Việt, Trường

CĐSP Thành phố Hồ Chí Minh)

- Th ực trạng dạy và học mỹ thuật và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học mỹ

Hội thảo "Những vấn đề giáo dục và tâm lí của học sinh và sinh viên" tổ chức tại

Hà Nội tháng 12 năm 2002 có bài viết "Giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường phổ thông" của tác giả Giang Nguyệt Ánh, Đại học Mỹ thuật Hà Nội

Hội thảo "Trao đổi về chương trình và sách giáo khoa Âm nhạc trong nhà trường

Chí Minh, ngày 21 tháng 06 năm 2003, có một số bài viết đề cập đến vấn đề giáo dục nghệ thuật trong trường phổ thông như:

- M ột vài suy nghĩ về chương trình giảng dạy âm nhạc trong nhà trường phổ

nhà trường phổ thông (Nguyễn Mỹ Hạnh, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh)

Nghiên cứu Giáo dục, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh)

Nhìn chung, những bài viết này đều nêu lên một thực trạng chung về giáo dục

thẩm mỹ trong nhà trường của chúng ta hiện nay Đó là tình trạng thiếu giáo viên dạy

nhạc- họa, chất lượng của giáo viên nghệ thuật, vấn đề dạy nghệ thuật trong nhà

Trang 20

trường còn bị xem nhẹ, sự bất cập về chương trình, sách giáo khoa, phương pháp

giảng dạy, cơ sở vật chất, phương tiện dạy nghệ thuật còn chưa đáp ứng được yêu cầu môn học , những biện pháp cần thực hiện để thay đổi tình hình hiện nay

Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học Quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh

Cái mới của luận văn là bước đầu nêu lên ra những thành tựu cũng như những

tồn tại trong việc tổ chức hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học ở hai bộ môn Hát - Nhạc và Mỹ thuật trong thời gian qua Đồng thời, luận văn còn đề xuất một

số biện pháp nhằm khắc phục những tồn tại để phát triển công tác này trong hoạt động giáo dục học sinh tiểu học

Trang 21

Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường là sự ứng dụng những nguyên lí của mỹ học

và giáo dục học Nó liên quan đến cả hai ngành mỹ học và giáo dục học Chính vì lẽ

đó, để giải quyết các vấn đề về giáo dục thẩm mỹ người ta cần nắm vững và xem xét

vấn đề từ cả hai ngành khoa học trên

1 Quan điểm của mỹ học Mác – Lê Nin về giáo dục thẩm mỹ

1.1 Khái ni ệm:

Trong các nền mỹ học mác xít, khái niệm giáo dục thẩm mỹ có hai nghĩa:

Nghĩa hẹp: Giáo dục thẩm mỹ là giáo dục có tính trường quy về cái đẹp, giáo

dục để hình thành cho con người năng lực nhận thức, đánh giá, sáng tạo và hành động theo cái đẹp

Nghĩa rộng: Giáo dục thẩm mỹ là sự giáo dục và tự giáo dục, phát huy mọi

năng lực bản chất của con người theo quy luật của cái đẹp Vì thế, giáo dục thẩm mỹ

tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống

Tuy nhiên, dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì bản chất thật sự của giáo dục thẩm mỹ cũng nhằm hình thành một chủ thể thẩm mỹ biết hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo mọi mặt của cuộc sống theo quy luật của cái đẹp Giáo dục thẩm mỹ là

một mặt quan trọng, cơ bản làm cho con người phát triển phong phú, hài hòa

1.2 Tính dân t ộc, tính giai cấp, tính thời đại của giáo dục thẩm mỹ

 Tính dân t ộc: Đó là giáo dục cái đẹp của dân tộc, tình cảm thẩm mỹ của dân

tộc và các quan hệ thẩm mỹ đã hình thành và phát triển lâu dài ở mỗi dân tộc

 Tính giai c ấp: Giáo dục thẩm mỹ không thể không mang tính giai cấp vì các

chủ thể thẩm mỹ không ở giai cấp này thì ở giai cấp khác Tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu

thẩm mỹ, lí tưởng thẩm mỹ phụ thuộc vào các mục tiêu giáo dục của các giai cấp đó

 Tính th ời đại Tính thời đại thể hiện rất rõ ở mục tiêu, hình thức, biện pháp

giáo dục thẩm mỹ Chế độ xã hội khác nhau thì các nội dung giáo dục thẩm mỹ cũng khác nhau

Trang 22

1.3 Nhi ệm vụ của giáo dục thẩm mỹ

 Giáo d ục thẩm mỹ tạo cho người được giáo dục những tri thức thẩm mỹ

c ần thiết: Những tri thức thẩm mỹ này bao gồm tri thức về cái đẹp của tự nhiên, của

xã hội, của lịch sử, của nghệ thuật Nhờ hệ thống tri thức thẩm mỹ, con người nảy sinh tình cảm thẩm mỹ, trí tưởng tượng, thị hiếu, lí tưởng thẩm mỹ

❖ Giáo d ục thẩm mỹ tham gia phát triển lĩnh vực xúc cảm và xúc cảm thẩm

m ỹ ở con người: Nó bồi dưỡng xúc cảm lành mạnh, hướng tri giác của chủ thể thẩm

mỹ vào các quan hệ thẩm mỹ đang vận động trong hiện thực Từ đó, tạo nên các năng

lực thẩm mỹ

1.4 Tính t ổng hợp của giáo dục thẩm mỹ

Giáo dục thẩm mỹ tham gia hoàn thiện các lĩnh vực giáo dục khác Giáo dục trí

tuệ và giáo dục đạo đức không thể tách rời với giáo dục thẩm mỹ Cái đúng (chân)

phải gắn với cái tốt (thiện), cũng phải gắn với cái đẹp (mỹ) Nhà toán học Nga N I

Lôbasepxki đã nói rằng: "Việc giáo dục con người sẽ là vô nghĩa nếu thiếu đi sự thống

nh ất của văn hóa thẩm mỹ, văn hóa đạo đức và văn hoá trí tuệ" [27;336 - 337]

Trong nhà trường, giáo dục thẩm mỹ phải thâm nhập hữu cơ vào việc giảng dạy

mọi môn học Cho dù đó là văn học hay toán học, vật lí, địa lí hay sinh vật đều có thể tìm ra cách để gieo trồng một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh

1.5 Vai trò c ủa giáo dục nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ

 Giáo dục nghệ thuật nâng cao năng lực lựa chọn thẩm mỹ của con người vì nó làm cho con người hiểu biết nhiều hơn về cuộc sống thẩm mỹ và các mô hình thẩm mỹ

đã được sáng tạo

 Giáo dục nghệ thuật nhằm phát triển cho được ở con người khả năng hiểu và đánh giá đúng các tác phẩm nghệ thuật, cảm thụ được những cái đẹp của chúng, phát triển các khả năng sáng tạo nghệ thuật ở con người

 Nghệ thuật có khả năng giáo dục năng lực tưởng tượng của con người, vẻ đẹp

của hiện thực không phải được người ta hiểu ngay khi trực tiếp quan sát Nghệ thuật

Trang 23

làm nổi bật lên giá trị thẩm mỹ của nó, dạy người ta hiểu được vẻ đẹp của nó Nghệ thuật có sức mạnh hư cấu to lớn

 Giáo dục nghệ thuật có tác dụng nâng cao tình cảm, khoái cảm, niềm vui, tình yêu, hy vọng chuẩn bị tích cực cho con người hoạt động đúng đắn

1.6 Giáo d ục thẩm mỹ và việc hình thành nhân cách

Sự phát triển của nhân cách phụ thuộc vào sự phát triển của năng lực thẩm mỹ Năng lực thẩm mỹ là một bộ phận, một thành tố hữu cơ cấu thành nhân cách Giáo dục

thẩm mỹ giúp con người nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp Nói cách khác, giáo dục con người là quá trình chiếm lĩnh và đồng hoa thế giới, biết nhận thức và sang tạo theo quy luật của cái đẹp Nó giúp cho con người tự biến mình thành con người xã hội, xóa bỏ con người "phi xã hội", trở thành những chủ thể thẩm mỹ góp

phần tạo ra cái đẹp cho cuộc sống Như vậy, chỉ khi nào con người hoạt động một cách

có ý thức và chịu sự chi phối của ý thức thẩm mỹ thì nó xứng đáng với danh hiệu con người

1.7 Quan điểm toàn diện về giáo dục thẩm mỹ

1.7.1 M ối quan hệ giữa giáo dục thẩm mỹ với các ngành khoa học khác

- V ới logic học: Giáo dục thẩm mỹ một mặt vừa là độc lập như một hệ thống các

nguyên tắc, biện pháp giáo dục hoàn chỉnh; song mặt khác, lại phụ thuộc bởi lối giáo

dục tổng hợp Giáo dục thẩm mỹ là một hệ thống, nhưng là hệ thống của hệ thống khác - hệ thống giáo dục tổng hợp

- V ới đạo đức học: Giáo dục thẩm mỹ cho con người, trước hết phải giáo dục

những giá trị đạo đức phổ biến được cộng đồng và xã hội thừa nhận như dũng cảm, vị tha, nhân đạo, công bằng, bác ái Những chuẩn mực hành vi của đạo đức luôn được giáo dục thẩm mỹ coi là chuẩn mực của mình Đến lượt mình, giáo dục đạo đức đòi

hỏi phải được đẩy mạnh nâng lên trình độ mới với sự giúp đỡ của giáo dục thẩm mỹ Khi những nguyên tắc đạo đức đã được nâng lên trình độ thẩm mỹ, khi cái thiện đã hòa vào trong cái đẹp, thì con người không làm điều ác vì cảm thấy điều đó là đáng ghê tởm Hành động đạo đức nhờ giáo dục thẩm mỹ, đã trở thành hành động tự do, nghĩa là hành động theo cảm hứng tự nhiên như cảm hứng về cái đẹp Xã hội càng

Trang 24

phát triển thì những giá trị đạo đức và giá trị thẩm mỹ càng được con người tôn trọng Giáo dục đạo đức phải đi đôi, phải gắn chặt với giáo dục thẩm mỹ Con người vi phạm đạo đức tức là vi phạm những giá trị thẩm mỹ Ở đây sự gắn bó và tác dụng tương hỗ

giữa đạo đức và cái đẹp không thể tách biệt M Gorki nói: "Đạo đức học là mỹ học

có nghĩa là cái thiện đã hòa trong cái đẹp Và trong thực tế, giáo dục đạo đức thông qua cái đẹp trong nghệ thuật là một hình thức giáo dục đạo đức lí tưởng Chắc chúng

ta cũng nhất trí rằng người yêu cái đẹp nghệ thuật thực sự, tức là người rung cảm thực

sự trước các tác phẩm nghệ thuật đích thực, thì khó mà làm điều ác Vai trò của giáo

dục nghệ thuật trong giáo dục đạo đức là không thể phủ nhận

- V ới tâm lí học: Tâm lí học đóng vai trò quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ

Muốn giáo dục thẩm mỹ tốt phải nghiên cứu những thuộc tính, phẩm chất tâm lí như

cảm xúc, tình cảm, thị hiếu, lí tưởng, quan điểm, xu hướng, năng lực, nhu cầu của

từng thế hệ Qua đó, nhà giáo dục thẩm mỹ có thể chọn lựa những phương thức giáo

dục nào hiệu quả nhất để đem áp dụng Quá trình này hình thành nên những giá trị của văn hóa thẩm mỹ của từng thế hệ Mỗi thế hệ có nhu cầu thẩm mỹ riêng Giáo dục

thẩm mỹ cần định hướng những nhu cầu thị hiếu đó Từ góc độ tâm lí, việc bồi dưỡng năng lực nhận thức thẩm mỹ đang chiếm vị trí quan trọng trong giáo dục thẩm mỹ

- V ới xã hội học: Xã hội học cung cấp nhiều tư liệu quý cho công tác giáo dục

thẩm mỹ Những con số cụ thể qua các cuộc điều tra xã hội học về nhu cầu, thị hiếu nghệ thuật của các tầng lớp công chúng, đặc biệt là thanh thiếu niên sẽ giúp cho việc

đề xuất các biện pháp thiết thực để giáo dục nghệ thuật cho mọi người - một bộ phận quan trọng của giáo dục thẩm mỹ Những con số này cũng gợi mở cho việc giải đáp

một số vấn đề về quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục nghệ thuật, vấn

đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho cho thanh thiếu niên trong thời đại hiện đại

1.7.2 Giáo d ục thẩm mỹ theo lứa tuổi

Quan điểm toàn diện trong giáo dục thẩm mỹ của mỹ học Mác - Lênin còn thể

hiện ở sự quan tâm đến các lứa tuổi Muốn giáo dục thẩm mỹ ở tuổi thanh niên tốt thì trước hết ở tuổi thiếu niên và nhi đồng phải được giáo dục tốt Cứ như vậy, giáo dục

Trang 25

thẩm mỹ phải được quan tâm từ khi con người còn nhỏ và việc giáo dục này phải được

tiến hành thường xuyên, liên tục

1.7.3 Giáo d ục thẩm mỹ phải có sự tham gia của các lực lượng giáo dục

Nhà trường, gia đình, các đoàn thể có trách nhiệm rất cơ bản Ngoài ra, cần kể đến cả các môi trường xã hội Điều kiện xã hội với sự phát triển của nó có ảnh hưởng

rất to lớn đến việc hình thành cách sống và các năng lực sáng tạo của con người Môi trường địa lí mà con người hoạt động và giao tiếp cũng tham gia vào quá trình giáo

dục thẩm mỹ

1.7.4 Giáo d ục thẩm mỹ vừa có hệ thống vừa phải rộng rãi

Nó chiếm một phạm vi rất rộng lớn Bao gồm các quan hệ của con người với truyền thống, với lịch sử, với tự nhiên, với lao động, với học tập, với hành vi, với gia đình vì thế, để giáo dục một cách hệ thống, người ta đưa vào chương trình học tập

cả cảnh đẹp của tự nhiên, những danh lam thắng cảnh, các viện bảo tàng lịch sử, viện

bảo tàng nghệ thuật, các kiểu lao động, các giá trị thẩm mỹ của sản phẩm lao động, các

tấm gương tốt về học tập và nghiên cứu, các gia đình truyền thống và gương mẫu

1.8 B ốn yêu cầu cơ bản của giáo dục thẩm mỹ

- Yêu c ầu về lứa tuổi: Phải căn cứ vào lứa tuổi để có những biện pháp tác động

thẩm mỹ thích hợp, có mục tiêu và nội dung tri thức khác nhau

- Tính liên t ục: Tính liên tục ở đây là những vòng xoáy ốc Mỗi vòng xoáy có hệ

thống đón nhận để chuẩn bị mở rộng khả năng sáng tạo tốt hơn, cao hơn

- Tính logic: Tính logic bảo đảm cho sự phát triển trừ giản đơn đến phức tạp, từ

chỗ chưa hoàn thiện đến chỗ hoàn thiện hơn

- Quan điểm toàn diện: Đảm bảo khả năng phát huy mọi mặt sáng tạo của con

người

1.9 Nh ững nguyên tắc của giáo dục thẩm mỹ

1.9.1 Nguyên t ắc lấy con người làm trung tâm

Trang 26

Giáo dục thẩm mỹ theo nguyên tắc con người là vốn quý nhất Vì thế, giáo dục

thẩm mỹ không đi lệch những mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện Giáo

dục thẩm mỹ phải làm cho con người đạt đến sự thụ cảm thẩm mỹ Trong khi giúp con người khẳng định những giá trị, những chuẩn mực thẩm mỹ cao đẹp, giáo dục thẩm

mỹ phải làm cho con người biết đấu tranh để loại bỏ mọi ảnh hưởng, mọi biểu hiện của

những tư tưởng, những lối sống không lành mạnh

1.9.2 Nguyên t ắc giáo dục thẩm mỹ phải mang tính dân tộc

Chỉ khi gắn với tính dân tộc, giáo dục thẩm mỹ mới thực sự có cội nguồn Xa rời tính dân tộc, giáo dục thẩm mỹ sẽ không đạt được mục đích của mình Hơn nữa, tính nhân văn của hệ thống giáo dục thẩm mỹ trong nhân dân có tác dụng rất lớn trong giáo

dục thẩm mỹ

1.9.3 Nguyên t ắc giáo dục thẩm mỹ gắn lí luận với thực tiễn

Đây là nguyên tắc bất di bất dịch của mỹ học Mác Lê nin Hiệu quả của giáo đục

thẩm mỹ tuy thuộc vào hai yếu tố Thứ nhất là xác định đúng đắn về mặt lí luận các

vấn đề bản chất, đặc trưng của các năng lực thẩm mỹ, các nguyên tắc, các hình thức, các phương thức giáo dục thẩm mỹ Thứ hai là sự liên hệ chặt chẽ đến mức nào với

cuộc sống mỗi dân tộc, với thực tiễn của nhân dân, với sự nghiệp xây dựng xã hội

thể giống nhau Những hình thức giáo dục thẩm mỹ đa dạng nhằm đáp ứng những khác biệt này

1.9.5 Nguyên t ắc giáo dục lại

Giáo dục thẩm mỹ mang tính xã hội rất sâu sắc Xã hội không ngừng vận động và phát triển Vì thế, nó đòi hỏi các tư tưởng cũ, những quan niệm lạc hậu phải được thay

Trang 27

thế trong giáo dục thẩm mỹ Các hình thức, biện pháp, nội dung giáo dục phải đáp ứng được bản chất xã hội của sự nghiệp giáo dục

Tóm lại, quan điểm của mỹ học Mác - Lênin về giáo dục thẩm mỹ là những quan điểm triết học mang tính khoa học và tiến bộ Nó cần được phổ biến, vận dụng thích

hợp vào nền giáo dục và phạm vi giáo dục thẩm mỹ của nước ta để mang được những giá trị văn hóa lành mạnh, cao quý, nhằm xây dựng lối sống đẹp mang bản sắc dân tộc

và hiện đại, phù hợp với sự phát triển văn hóa chung trên toàn thế giới

2 Quan điểm của Đảng và Nhà Nước về giáo dục thẩm mỹ

Hiểu rõ tác dụng quan trọng của việc giáo dục đến việc hình thành nhân cách cho

thế hệ trẻ, trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa V tại đại

hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tháng 12-1986, Đảng ta đã xác định "Giáo

th ế hệ trẻ " [2; 13] Đây là quan điểm chỉ đạo chung về vấn đề giáo dục Phát triển

toàn diện nhân cách cho học sinh được Đảng ta đặt ra như một vấn đề mang tính chiến lược trong đào tạo con người Toàn diện nhân cách ở đây bao gồm rất nhiều mặt, trong

đó có vấn đề giáo dục thẩm mỹ

Khi nói về nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) nêu rõ "Phát huy vai trò văn học,

dương những giá trị chân chính, bồi dưỡng cái chân, cái thiện, cái mỹ theo quan điểm

ti ến bộ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém" [2; 19] Như vậy, ở đây cái mỹ đã có

một vị trí nhất định, đã được đề cập đến cụ thể trong bộ ba giá trị chân, thiện, mỹ Nghị quyết hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, ngày 14-1-1993 về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đã đưa giáo dục thẩm mỹ vào một trong những nội dung cần quan tâm trong giáo dục "Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, thẩm mỹ, môi trường, dân số, rèn luyện thể chất cho học sinh"

Báo cáo của Ban chấp hành trung ương Đảng, khóa VII tại đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VIII của Đảng, tháng 6/1996 lẫn dẫu tiên đã đề cập trực tiếp đến việc

giảng dạy nhạc, họa và đưa nhạc, họa, thể dục thể thao vào nội dung không thể thiếu

Trang 28

trong việc giáo dục toàn diện "Thực hiện giáo dục toàn diện ở bậc tiểu học (đặc biệt

chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII số 02- NQ/HNTƯ ngày 24-12-1996 cũng đã

nhận rõ thiếu sót trong giáo dục "Nội dung giáo dục vừa thừa vừa thiếu, nhiều phần chưa gắn với cuộc sống Công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, đạo đức và nhân cách cũng như việc giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thể chất, giáo

d ục thẩm mỹ bị xem nhẹ", và chỉ ra "Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học."

Luật Giáo dục được ban hành vào tháng 12 năm 1998 đã một lần nữa khẳng định

quan điểm giáo dục toàn diện của Đảng ta "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp

và lâu dài v ề đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản để học sình tiếp

t ục học trung học cơ sở", học sinh tiểu học "có những hiểu biết ban đầu về hát, múa,

âm nh ạc, mỹ thuật" [2-94-95]

Trong chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 cũng nêu ra những chủ trương giáo dục có liên quan đến giáo dục thẩm mỹ "Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn di ện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ", "Thực hiện giáo dục toàn diện

v ề đức, trí, thể, mỹ"[30;3] Trong phần giáo dục tiểu học, chiến lược phát triển giáo

dục đề ra nhiệm vụ cụ thể "Phát triển những đặc tính tự nhiên tốt đẹp của trẻ em, hình

h ứng thú học tập và học tập tốt "[30; 5]

Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hợp thành sự nghiệp giáo dục trí, đức, thể, mỹ

của Đảng ta trong quá trình hình thành nhân cách con người Việt Nam Đây là sự nghiệp giáo dục dựa trên nền tảng tư tưởng mỹ học Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mang tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc Các quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước qua hệ thống các vãn bản đã cho thấy đường lối chỉ đạo đúng đắn và ngày càng sâu sát hơn Nó thúc đẩy việc hình thành con người phát triển hài hòa và toàn

diện ở nước ta

Trang 29

3 M ột số vấn đề lí luận vwf quản lí giáo dục

3.1 Khái ni ệm

Theo nghĩa tổng quát, quản lí giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo con người theo yêu cầu phát triển xã hội

GS Nguyễn Ngọc Quang đưa ra định nghĩa quản lí giáo dục như sau: "Quản lí

theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục

th ế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất" [17;

35]

Ngày nay, với quan điểm học thường xuyên, học suốt đời, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, nên quản lí giáo dục nói chung và

quản lí trường học nói riêng được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài

Trong nhà trường, chủ thể quản lí là Hiệu trưởng, đối tượng quản lí là đội ngũ giáo viên, cán bộ công nhân viên, học sinh cùng toàn bộ điều kiện cơ sở vật chất phục

vụ cho hoạt động của nhà trường

3.2 M ục tiêu quản lí giáo dục

Mục tiêu quản lí là trạng thái mong muốn, có thể có và cần đạt được của hệ thống

bị quản lí do tác động của chủ thể quản lí Nó cũng có thể là trạng thái đã đạt tới rồi

cần duy trì ổn định

Mục tiêu quản lí nhà trường là những chỉ tiêu cho mọi hoạt động được dự kiến trước khi triển khai những hoạt động đó Hệ thống mục tiêu trong quản lí giáo dục chính là những nhiệm vụ mà các cấp quán lí giáo dục phải thực hiện trong một thời

Trang 30

gian Đó cũng là những nhiệm vụ các cấp quản lí giáo dục phải thực hiện trong quá trình hoạt động và cũng chính là cái đạt được khi kết thúc hoạt động

Như vậy mục tiêu quản lí trong giáo dục thẩm mỹ là gì? Thực ra, đó chính là cái

mà các cấp quản lí giáo dục mong muốn, dự kiến đạt được về giáo dục thẩm mỹ Cụ

thể hơn, mục tiêu quản lí giáo dục trong giáo dục thẩm mỹ là các chỉ tiêu cho mọi hoạt động giáo dục thẩm mỹ qua các môn học được dự kiến trước khi đưa vào thực hiện

3.3 Nhi ệm vụ của công tác quản lí giáo dục

3.3.1 Nhi ệm vụ quản lí giáo dục ở cấp vĩ mô (quốc gia, tỉnh, huyện):

 Phát triển số lượng, quy hoạch mạng lưới trường lớp ở địa phương, thực hiện

 Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí

 Xây dựng môi trường giáo dục thống nhất

 Thực hiện nhiệm vụ xã hội hóa giáo dục

 Thực hiện dân chủ hóa giáo dục, dân chủ hóa quản lí nhà trường

 Cải tiến quản lí giáo dục

 Tăng cường hoạt động thanh tra giáo dục

3.3.2 Nhi ệm vụ quản lí giáo dục ở phạm vi nhà trường:

 Thực hiện kế hoạch phát triển về số lượng (số lớp, số học sinh), duy trì sĩ số

học sinh

 Bảo đảm chất lượng của quá trình giảng dạy - giáo dục thực hiện mục tiêu, kế

hoạch đào tạo của nhà trường

 Xây dựng tập thể sư phạm vững mạnh

Trang 31

 Xây dựng trường sở, trang thiết bị phục vụ dạy, học, lao động và rèn luyện của

học sinh

 Xây dựng môi trường giáo dục thống nhất nhà trường, gia đình, xã hội

 Cải tiến quản lí nhà trường, thực hiện dân chủ hóa trong quản lí

 Tăng cường hoạt động tự kiểm tra nội bộ, đánh giá đúng kết quả công tác giảng

dạy - giáo dục và các hoạt động khác của trường

3.4 Nguyên t ắc quản lí giáo dục

Nguyên tắc quản lí giáo dục là những tư tưởng chỉ đạo việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức quản lí giáo dục Nguyên tắc quản lí giáo dục chỉ đạo toàn bộ tiến trình quản lí giáo đục Một số nguyên tắc quản lí giáo dục có thể kể đến là nguyên tắc tính Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kết hợp quản lí theo ngành với quản lí địa phương và vùng lãnh thổ công tác giáo dục, nguyên tắc tính khoa

học

3.5 Ch ức năng quản lí giáo dục

Chức năng quản lí là một dạng hoạt động quản lí đặc biệt, thông qua đó chủ thể

quản lí tác động vào đối tượng quản lí nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Các

chức năng quản lí xác định nội dung của quá trình quản lí và trả lời câu hỏi: phải làm

gì trong h ệ thống quản lí ?

Căn cứ vào những dấu hiệu khác nhau phản ánh đối tượng quản lí cũng như phản ánh hoạt động của bản thân chủ thể quản lí, ta chia chức năng quản lí thành hai nhóm:

- Các ch ức năng quản lí riêng như quản lí giáo dục tiểu học, quản lí giáo dục

mầm non, quản lí giáo dục thường xuyên, quản lí công tác tài chính kế hoạch

phục vụ giáo dục, quản lí công tác xuất bản sách giáo khoa, tài liệu dạy học

- Các ch ức năng quản lí chung: Các chức năng quản lí chung phản ánh những

hoạt động chung giống nhau của mọi chủ thể quản lí trong mọi quá trình quản

lí Một số chức năng quản lí chung là quyết định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra

Trang 32

4 M ột số vấn đề lí luận về giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học

4.1 Khái ni ệm:

Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận hữu cơ của quá trình sư phạm Theo PGS TS

Phạm Viết Vượng "Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục để hình thành cho học sinh năng lực nhận thức, đánh giá, sáng tạo và hành động theo cái đẹp" [21; 163]

Điều đó có nghĩa là giáo dục thẩm mỹ nhằm hình thành văn hoá thẩm mỹ cho học sinh Văn hóa thẩm mỹ bao gồm:

 Tính nhạy cảm đối với cái đẹp và cái xấu, cái cao thượng và cái thấp hèn, cái anh hùng và cái hèn nhát, cái hài và cái bi có ở trong nghệ thuật, trong cuộc sống, trong thiên nhiên, trong đời thường, trong hành vi và hoạt động, và cả khả năng làm

chủ tình cảm của mình

 Biết và hiểu bản chất cái thẩm mỹ trong nghệ thuật và trong hiện thực xung quanh; có biểu tượng, đánh giá và niềm tin đúng đắn khi tri giác về thẩm mỹ các tác

phẩm nghệ thuật và hiện tượng cuộc sống

 Mức độ phát triển các khả năng sáng tạo, mức độ tham gia sáng tạo nghệ thuật,

kĩ năng xây dựng cuộc sống theo "quy luật của cái đẹp" trong quan hệ với mọi người, trong lao động và hoạt động xã hội

Các thành phần nêu trên của văn hoá thẩm mỹ được coi là các thước đo mức độ giáo dục thẩm mỹ của học sinh Chúng đồng thời cũng được coi là cơ sở để xây dựng nhiệm vụ, nội dung giáo dục thẩm mỹ cho học sinh

Hiểu đơn giản hơn thì giáo dục thẩm mỹ là giáo dục "cái đẹp" Cái đẹp đó có

trong đồ vật do con người tạo ra, cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong con người và cao hơn hết là cái đẹp trong nghệ thuật

Giáo dục thẩm mỹ ở đây được hiểu là "Giáo dục thẩm mỹ với tư cách là một hệ

trường Nội dung của giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường có trong tất cả các môn học

Trang 33

bởi theo quan điểm của mỹ học Mác -Lênin thì trong bộ ba phạm trù CHÂN THIỆN -

MỸ thì cái Mỹ hàm chứa cả nội dung hai cái kia

Phạm vi của giáo dục thẩm mỹ rất rộng Về không gian, nó có thể diễn ra ở mọi nơi (trong lớp, trong trường, ở gia đình, ngoài xã hội ) Về thời gian, nó có thể diễn ra

ở mọi lúc (trong năm học, trong kì nghỉ hè, trong các giờ nội khóa lẫn các giờ ngoại khóa )

4.2 T ầm quan trọng của giáo dục thẩm mỹ đối với học sinh tiếu học

Học sinh tiểu học là lứa tuổi bắt đầu tiếp thu, tích lũy kiến thức, kỹ năng, vốn

hiểu biết, chuẩn bị cho quá trình phát triển cho trẻ 12, 13 tuổi Sự phát triển nhân cách

của các em chủ yếu diễn ra và bị chi phối bởi hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập

Ở lứa tuổi này diễn ra một sự phát triển toàn diện về các quá trình nhận thức Trong đó, đáng kể nhất là sự phát triển tri giác, sự tập trung, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy Đời

sống xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học khá phong phú, đa dạng và cơ bản là mang tính tích cực Các em đang ở lứa tuổi ngây thơ, trong trắng, rất dễ xúc cảm trước

hiện thực, dễ hình thành những tình cảm tốt đẹp Các em dễ xúc cảm mạnh, đã có ấn tượng khá sâu sắc và khá bền vững Các em sống nhiều bằng tình cảm và bị ảnh hưởng

rất nhiều bởi tình cảm Những điều các em tiếp thu được trong giai đoạn này để lại trong các em nhiều ấn tượng sâu sắc Chúng sẽ ở lại trong tâm hồn các em và đi theo các em các suốt quãng đời còn lại

Vì vậy giáo dục thẩm mỹ, đặc biệt là giáo dục thẩm mỹ qua các môn nghệ thuật

có tầm quan trọng rất lớn

quá trình cảm thụ và lĩnh hội cái đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên, trong các quan

hệ xã hội, làm cho tâm hồn các em thêm tươi sáng, phong phú và tình cảm thêm sâu

sắc Khêu gợi hứng thú của các em đối với các khía cạnh thẩm mỹ của hiện thực Gây cho các em niềm hứng thứ tìm cái đẹp, tiến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ tốt trong

học tập, vui chơi và sinh hoạt hàng ngày

biểu hiện đa dạng để giúp học sinh cảm nhận được cái thẩm mỹ, cung cấp cho học sinh

Trang 34

những quan niệm, chuẩn mực nhằm giúp các em hình thành niềm tin thẩm mỹ, phát triển đánh giá thẩm mỹ và riến tới hình thành thị hiếu thẩm mỹ tốt trong học tập, vui chơi và sinh hoạt hàng ngày

đời sống, học tập, lao động, vui chơi Bồi dưỡng năng lực trí tuệ, óc quan sát, sự chú ý, năng lực tưởng tượng sáng tạo, đôi tay khéo léo chính xác và năng khiếu thẩm mỹ của

học sinh Từ đó, giáo dục thẩm mỹ khơi dậy và phát huy khiếu thẩm mỹ vốn có ở trẻ

em, phát hiện những tài năng nghệ thuật

Hình thành tri thức thẩm mỹ, tình cảm thẩm mỹ, khơi dậy năng khiếu thẩm mỹ, giáo dục thẩm mỹ còn xây dựng cho học sinh thái độ không khoan nhượng đối với cái

xấu xa, phản thẩm mỹ trong tâm hồn, trong hành vi, cử chỉ trong cuộc sống cũng như đối với những cái phản nghệ thuật trong các tác phẩm nghệ thuật

4.3 Các phương tiện giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học

Các phương tiện chính để giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học là:

- Thiên nhiên: Thiên nhiên chứa đựng nhiều yếu tố thẩm mỹ, vẻ đẹp của thiên nhiên là ở sự đa dạng và sự hài hòa của màu sắc, âm thanh, hình dáng, ở sự thay đổi có quy luật của các hiện tượng khác nhau, vì vậy chúng ta phải khai thác những yếu tố

này để giáo dục thẩm mỹ cho học sinh Tục ngữ Việt Nam có cân: "Trăm nghe không

b ằng một thấy", vì thế chỉ cần cho trẻ tiếp xúc với thiên nhiên một ngày cũng đủ giúp

trẻ hiểu ra rất nhiều điều mà có thể trong bài giảng của thầy cô khó mà làm được

- Ngh ệ thuật: Nghệ thuật là phương tiện quan trọng nhất để giáo dục thẩm mỹ

cho học sinh Vì nghệ thuật là lĩnh vực tập trung một cách cô đọng cái đẹp của hiện

thực Đồng thời, nó cũng là công cụ để xã hội tác động đến những khía cạnh thầm kín

và sâu xa trong tâm hồn con người Nghệ thuật chân chính thức tỉnh sự nhạy cảm về cái đẹp và lòng mong muốn đưa cái đẹp vào cuộc sống hiện thực

Ở Pháp có đến 92% phụ huynh học sinh cho rằng các môn nghệ thuật giúp học sinh phát triển toàn vẹn, hài hòa Chưa kể đến vai trò của chúng trong việc góp phần rèn luyện trí lực, bồi dưỡng trí thông minh, sáng tạo Ngày nay, chúng ta biết có nhiều

Trang 35

công trình nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ em sinh ra sẽ thông minh hơn nếu được nghe

nhạc cổ điển từ trong bụng mẹ, nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã cho biết vai trò quan

trọng của nghệ thuật trong cuộc đời nghiên cứu của họ như Georges charpak, Jean Marie Lehn, Jean Pieưe Changeux Tất cả họ đều là những người Pháp đã từng đoạt

giải Nobel Bà Marianne Grunberg Manago, Chủ tịch Viện hàn lâm khoa học Pháp, đã phát biểu: "Giáo dục nghệ thuật giúp kết hợp sự thông minh và cảm xúc, tính sáng tạo

lo ại nhạc khí giúp phát triển khả năng toán học của trẻ em" (Theo Le Pigaro magazine,

Báo Tuổi trẻ Chủ nhật 15/03/1998)

Các thể loại, loại hình nghệ thuật có khả năng tiềm tàng nhất định mà trẻ em cần được tiếp cận là văn học, âm nhạc, múa, hội họa đồ họa, điêu khắc, mỹ thuật ứng dụng, sân khấu, điện ảnh

- Quá trình nh ận thức khoa học: Bất cứ khoa học nào cũng chứa đựng giá trị

thẩm mỹ, bất kì một sự nhận thức khoa học nghiêm túc nào cũng mang lại niềm vui sáng tạo, sự tìm tòi chân lí nào cũng cũng đi kèm rung cảm thẩm mỹ Tri thức khoa

học, quá trình tư duy làm sâu sắc thêm những rung cảm thẩm mỹ Con người càng có

học thức thì càng dễ thấy cái đẹp

- Ho ạt động lao động, trò chơi: Quá trình lao động, nội dung công việc, kết quả

lao động, mối quan hệ giữa người với người trong lao động có khả năng ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển thẩm mỹ của học sinh Cũng như vậy, trò chơi cũng có khả năng giáo dục thẩm mỹ qua nội dung các trò chơi, đặc biệt là do có sự tham gia của các phương tiện nghệ thuật ttrong trò chơi

- Giao lưu: Giao lưu là một phương tiện giáo dục thẩm mỹ cụ thể, tác dụng của

nó trong giáo dục thẩm mỹ dễ dàng nhận thấy Ngôn ngữ đẹp, nét mặt tươi vui, cử chỉ

ân cần, tư thế đàng hoàng, tác phong nghiêm túc là những hình thức giao lưu đem

lại kết quả tốt trong giáo dục thẩm mỹ

Trang 36

- C ảnh quan nhà trường: Mọi cảnh quan từ cổng trường đến lớp học, từ sân

trường đến vườn trường, từ màu sắc của tường nhà đến màu sắc của cây cối nếu được chú ý đúng mức đều có thể đem lại cho học sinh những ấn tượng, tâm trạng tươi vui, lạc quan, yêu đời

4.4 Hai con đường cơ bản giáo dục thâm mỹ cho học sinh tiểu học

4.4.1 Giáo d ục thẩm mỹ cho học sinh trong quá trình dạy các môn học

Giáo dục thẩm mỹ được thực hiện trước hết trong quá trình dạy và học các môn nghệ thuật vì nghệ thuật là một biểu hiện cao nhất của các quan hệ thẩm mỹ trong đời

sống xã hội, Các môn đó đảm bảo cho học sinh có những hiểu biết thường thức về mỹ

học và nghệ thuật Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường được thực hiện thông qua

giảng dạy và thực hành các loại hình nghệ thuật: âm nhạc, hội họa, múa, điện ảnh, sân

khấu

Môn Mỹ thuật giáo dục cho các em cái đẹp của nghệ thuật tạo hình như đường nét, hình khối, màu sắc, bố cục Trong khi sáng tạo, các em gửi gắm tâm hồn, tình

cảm của mình vào tác phẩm

Môn Hát - Nhạc giúp các em cảm nhận được cái đẹp của âm thanh, của giai điệu,

của lời ca để phát triển trí tuệ và được giáo dục về đạo đức, tình cảm

Môn tiếng việt giúp học sinh nhận thức cái đẹp và sức mạnh biểu cảm của ngôn

ngữ Bên cạnh đó, các em các em còn học cách sáng tạo qua lời nói, chữ viết, kể chuyện, tập làm văn

Ngoài ra, các môn học khác như toán, tự nhiên xã hội, đạo đức cũng có khả năng phục vụ công tác giáo đục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học Môn đạo đức góp

phần giáo dục các em cái đẹp trong mối quan hệ giữa con người với nhau, giữa con người với thiên nhiên, xã hội Môn tự nhiên và xã hội giáo dục trẻ em về cái đẹp của các sự vật, hiện tượng, quá trình diễn ra trong tự nhiên Nó còn giáo dục những truyền

thống tốt đẹp của dân tộc, những tấm gương anh hùng

4.4.2 Giáo d ục thẩm mỹ cho học sinh qua hoạt động ngoài giờ lên lớp

Trang 37

Việc giáo dục thẩm mỹ trong các giờ nội khóa sẽ được củng cố, bổ sung qua các

hoạt động ngoại khóa Ở tiểu học, chúng ta có thể tổ chức hoạt động này dưới nhiều hình thức:

 Hình thức nhóm (Đội văn nghệ, nhóm vẽ, nhóm âm nhạc ): dành cho học sinh có năng khiếu hoặc thỏa mãn nhu cầu sáng tạo của trẻ

 Hình thức tham quan Viện bảo tàng (đặc biệt là Viện bảo tàng nghệ thuật), tham quan các di tích, các danh lam thắng cảnh ở địa phương hay trong nước Hình

thức này khá phổ biến, là hoạt động được tổ chức cho đông đảo học sinh

 Hình thức xem biểu diễn nghệ thuật (xiếc, phim, sân khấu, ca nhạc ) Có thể

tổ chức cho các em xem tại các nhà hát nhưng cũng có thể tổ chức ngay tại trường

bằng cách mời các đoàn nghệ thuật về biểu diễn

 Hình thức tổ chức các hoạt động theo chủ điểm (trang trí phòng học ngày lễ, làm báo tường ) : hình thức này tạo điều kiện cho các em trực tiếp tham gia sáng tạo nghệ thuật

Qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp, người giáo viên tiểu học có thể tận dụng triệt để các phương tiện giáo dục thẩm mỹ để giáo dục cho học sinh

5 Ho ạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ ở hai bộ môn hát – nhạc và mỹ thuật trong trường tiểu học

Trang 38

đích cuối cùng của hoạt động này là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để góp

phần truyền thụ, bồi dưỡng một trong ba loại hình giáo dục cơ bản là mỹ dục

Các nguồn lực giáo dục bao gồm nhân lực giáo dục (giáo viên, cán bộ quản lí),

cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, ngân sách giáo dục (nguồn tài chính từ nhà nước, từ các nguồn thu của trường ), các lực lượng giáo dục trong khác (gia đình, nhà văn hoá, tổ chức Đội )

Có nhiều cấp quản lí trường học, tuy nhiên, cấp quản lí quan trọng, trực tiếp quyết định đến chất lượng của hoạt động giáo dục thẩm mỹ là nhà trường Nhà trường

có vai trò quan trọng trong việc thành hại của công tác này Trong đó, Hiệu trưởng có

vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục Ihẩm mỹ

5.2 M ục tiêu của môn Hát - Nhạc và Mỹ thuật trong trường tiểu học

Việc xác định mục tiêu môn học rất cần thiết cho việc xây dựng chương trình, đào tạo đội ngũ giáo viên, chuẩn bị sách giáo khoa và thiết bị dạy học Chúng ta đều

biết rằng không phải học sinh nào cũng có năng khiếu về âm nhạc hay hội họa Vả lại,

việc đào tạo năng khiếu các môn học này là chức năng của các trường nghệ thuật Việc giáo dục âm nhạc, mỹ thuật ở trường tiểu học là giáo dục đại trà Chính vì thế, chúng

ta phải đặt ra vấn đề nên dạy cái gì và dạy như thế nào Không chỉ thế, việc xác định chính xác mục tiêu môn học cang cực kì cần thiết đối với nhà quản lí Hiệu trưởng, người đứng đầu tập thể nhà trường, sẽ không thể chỉ đạo tốt công tác giáo dục thẩm

mỹ cho học sinh của mình nếu ngay chính bản thân mình còn mơ hồ về mục tiêu các môn học nghệ thuật trong trường tiểu học Theo tác giả Lâm Vinh: "Mục tiêu của các

ngoài ra giúp h ọc sinh nắm được những thao tác tối thiểu về thực hành nghệ thuật."

5.2.1 M ục tiêu của môn Hát - Nhạc

Ở tiểu học, mục tiêu của môn Hát - Nhạc là hình thành cho học sinh những hiểu

biết sơ đẳng về cái hay, cái đẹp trong âm nhạc; về ý nghĩa của âm nhạc đối với cuộc

sống, đồng thời trang bị cho các em một số kiến thức, kĩ năng về ca hát và tập đọc

Trang 39

nhạc Mục đích cuối cùng của môn âm nhạc trong nhà trường phổ thông không nhằm đào tạo các em thành các nhạc sĩ, ca sĩ mà chủ yếu thông qua môn học để tác động vào toàn bộ thế giới tinh thần của các em, giúp cho các em có sự phát triển hài hòa, toàn

diện

Nhiệm vụ chủ yếu của môn học này là trang bị cho các em một số vốn liếng mang tính chất những kiến thức "Văn hóa âm nhạc phổ thông"

Theo Nhạc sĩ Hoàng Long thì: "Dạy những kĩ xảo âm nhạc không quan trọng

thưởng thức âm nhạc Mục tiêu trước hết của môn âm nhạc là tạo nên một trình độ văn hóa âm nhạc tối thiểu cho học sinh "

5.2.2 M ục tiêu của môn Mỹ thuật

Mục tiêu của môn Mỹ thuật ở tiểu học không nhằm đào tạo tất cả các học sinh thành hoa sĩ mà chủ yếu là thông qua những kiến thức cơ bản và sơ đẳng của mỹ thuật

để phát huy khiếu thẩm mỹ vốn có ở trẻ em, đồng thời hướng dẫn một số phương pháp

để các em tập quan sát, tập vẽ, tập nặn, tập xếp đặt, tiến tới vẽ tranh, xem tranh Nhân đó, gây cho các em niềm hứng thú tìm và nhận ra cái đẹp, hình thành thị hiếu

thẩm mỹ tốt trong học tập, vui chơi và sinh hoạt hàng ngày

Nhiệm vụ của môn Mỹ thuật ở bậc tiểu học là dạy cho học sinh tập tạo ra cái đẹp

và biết thưởng thức cái đẹp, không nặng về rèn luyện kĩ năng

Tóm lại, trong giáo dục âm nhạc và mỹ thuật, việc rèn luyện cảm quan nghệ thuật là quan trọng nhất Chỉ khi nào các em biết rung động thực sự trước một bức tranh đẹp, một bản nhạc hay thì khi đó giáo dục thẩm mỹ mới có hiệu quả Giáo dục nghệ thuật không lấy trọng tâm là rèn kĩ năng nghệ thuật Đó là việc của đào tạo nghề

5.3 Xây d ựng chương trình môn học

Việc xây dựng chương trình môn Hát - Nhạc và Mỹ thuật phải tuần theo nguyên

tắc đi từ mức độ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, được nâng dần từ lớp 1 đến lớp

5, chương trình giảng dạy các lớp trên là sự kế thừa, nối tiếp của các chương trình lớp

Trang 40

dưới Nhằm đạt được mục tiêu giáo dục thẩm mỹ nghệ thuật như trên, tác giả Lâm Vinh đã đưa ra một cấu tạo chương trình hợp lí với tỉ lệ thời lượng là:

 Kiến thức nghệ thuật (đặc trưng nghệ thuật; lịch sử, tác giả, tác phẩm) 35%

 Tiếp xúc thưởng thức nghệ thuật (nghe nhạc, xem tranh) 35%

 Kĩ năng thực hành (học kí xướng âm, thanh nhạc, học vẽ ) 30%

Hiện nay, chương trình Hát - Nhạc ở bậc tiểu học được xây dựng dựa trên 3 phân môn: Tập hát, Tập nghe nhạc (hoặc âm nhạc thường thức), Tập đọc và ghi chép nhạc Chương trình Mỹ thuật ở tiểu học được xây dựng dựa theo các phân môn: Xem tranh (hoặc Giới thiệu tác phẩm), Vẽ theo mẫu, Vẽ theo đề tài, Vẽ tự do, Tập nặn

5.4 Nguyên t ắc quản lí hoạt động giáo dục thẩm mỹ trong trường tiểu học

Để đảm bảo sự thành công của hoạt động này, công tác quản lí phải tuân theo các nguyên tắc sau:

 Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với công tác giáo dục

thẩm mỹ trong trường tiểu học Am hiểu đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước về giáo dục thẩm mỹ để vận dụng đúng đắn vào thực tiễn giáo dục

 Đảm bảo nguyên tắc tính khoa học cao trong quản lí hoạt động giáo dục thẩm

mỹ ở trường tiểu học Nghĩa là, việc quản lí công tác này phải tuân theo cơ sở nghiệp

vụ của giáo dục thẩm mỹ

 Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo công tác này: Động viên,

phối hợp các tổ chức, tập thể giáo viên, cán bộ công nhân viên cùng tham gia vào công tác quản lí hoạt động tổ chức giáo dục thẩm mỹ ; phát huy vai trò tích cực, chủ động

của các lực lượng giáo dục đối với hoạt động này; đảm bảo sự đoàn kết, nhất trí trong

tập thể sư phạm

 Đảm bảo nguyên tắc thiết thực và cụ thể trong công tác quản lí hoạt động tổ

chức giáo dục thẩm mỹ, làm sao để công tác này được hoàn thành có chất lượng Công

việc cần có mục tiêu cụ thể, được tổ chức thực hiện chu đáo, có kiểm tra uốn nắn, điều

chỉnh kịp thời Có quản lí tốt quá trình giáo dục thì các sản phẩm giáo dục mới có chất lượng cao

Ngày đăng: 18/02/2021, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
47. Các Mác, Tư bản, tập 2, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976 48. Tài li ệu từ Website: http://quan1hcm.netcenter-vn.net Link
1. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà N ội, 2001 Khác
2. Ban khoa giáo Trung ương, Giáo dục và đào tạo trong thời kì đổi mới, Nhà xu ất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Khác
3. Hà Chuyên, Th ẩm mỹ học của văn hoá Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Tư tưởng văn hoá, Hà Nội, 1992 Khác
4. GS. PTS. Đặng Vũ Hoạt - Nguyễn Hữu Hợp, Lí luận giáo dục tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Hà Nội 1994 Khác
5. Phó Đức Hoà, Giáo dục học tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, Hà N ội 1995 Khác
6. Đỗ Huy, giáo dục thẩm mỹ một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Thông Tin lí lu ận, Hà Nội, 1987 Khác
7. GS. TS. Đỗ Huy, Mỹ học - khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, Nhà xuất bản Khoa h ọc xã hội, Hà Nội, 2001 Khác
8. Đỗ Huy, Mỹ học với tư cách là một khoa học, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà N ội, 1996 Khác
9. PGS. TS. Nguy ễn Văn Huyên (chủ biên), Văn hoá thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế kỉ mới, Viện văn hoá và Nhà xuất bản Văn hoá thông tin, Hà N ội, 2001 Khác
10. Đỗ Văn Khang - Đỗ Huy, Mỹ học Mác - Lênin, Nhà xuất bản Đại học và trung h ọc chuyên nghiệp, Hà Nội, 1985 Khác
11. Hoài Lam, Tìm hi ểu mỹ học Mác - Lênin, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội, 1970 Khác
12. TS. Vĩnh Quang Lê, Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản Chính tr ị quốc gia, Hà Nội, 1999 Khác
13. Ph ạm Thanh Liêm, Bài giảng lí luận quản lí giáo dục, Trường cán bộ quản lí giáo d ục và đào tạo II, 1997 Khác
14. Th. s Tr ần Thị Tuyết Mai, Quản lí giáo dục và đào tạo, Trường cán bộ quản lí giáo d ục - đào tạo II Khác
15. Vũ Thị Nho, Tâm lí học phát triển, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1999 16. Bùi Ng ọc Oánh, Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 1993 Khác
17. Nguy ễn Ngọc Quang, Những khái niệm cơ bẳn về lí luận quản lí giáo dục, Trường cán bộ quản lí giáo dục trung ương, 1989 Khác
18. V ũ Minh Tâm, Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1998 Khác
19. Lê Anh Trà, Giáo d ục thẩm mỹ và xây dựng con người mới Việt Nam, Nhà xu ất bản Sự thật, Hà Nội, 1982 Khác
20. Lê Ng ọc Trà, Thách thức của sáng tạo thách thức của văn hoá, Nhà xuất bản Thanh niên, thành ph ố Hồ Chí Minh, 2002 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w