Nghiên cứu về cấu trúc bệnh án điện tử đa phương tiện trong xử lý thông tin y tế Nghiên cứu về cấu trúc bệnh án điện tử đa phương tiện trong xử lý thông tin y tế Nghiên cứu về cấu trúc bệnh án điện tử đa phương tiện trong xử lý thông tin y tế luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
************
PHẠM NGUYỄN MỸ LỘC
NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG
TIỆN VÀ ỨNG DỤNG TRONG XỬ LÝ THÔNG TIN Y TẾ
RESEARCH ON INTEGRATED ELECTRONIC MEDICAL
RECORDS (IEMR) AND APPLY IN PROCESSING HEALTH
INFORMATION
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT Y SINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS VŨ DUY HẢI
Hà Nội, 12-2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Vũ Duy Hải người đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong Bộ môn Công nghệ điện
tử và Kỹ thuật Y sinh, Viện Điện tử Viễn thông đã giảng dạy và truyền thụ kiến thức cho tôi trong quá trình học tập tại Viện Đào tạo Sau Đại học – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Trương Xuân Thành phòng Công nghệ thông tin bệnh viện Hữu Nghị đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong việc áp dụng mô hình vào thiết bị thực tế để tôi hoàn thành nghiên cứu này
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn./
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Phạm Nguyễn Mỹ Lộc Lớp: Kỹ thuật Y sinh 2014B
Giáo viên hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Vũ Duy Hải
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung được trình bày trong bản luận văn này là kết quả tìm hiểu và nghiên cứu của riên g tôi dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của thầy giáo PGS.TS.Vũ Duy Hải, trong quá trình nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu về cấu trúc bệnh án điện tử đa phương tiện và ứng dụng trong xử
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với những nội dung được viết trong luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Học viên
Phạm Nguyễn Mỹ Lộc
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 2
LỜI CAM ĐOAN 3
MỤC LỤC 4
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 7
GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ 8
DANH MỤC BẢNG BIỂU 11
DANH MỤC HÌNH VẼ 12
MỞ ĐẦU 14
1 Giới thiệu: 14
2 Lý do chọn đề tài: 14
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 16
1.1 Hiện trạng ứng dụng CNTT trong y tế 16
1.2 Các hệ thống ứng dụng CNTT trong bệnh viện 17
1.2.1 Hệ thống thông tin quản lý bệnh viện (Hospital Information S stem-HIS) 17 1.2.2 Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (RIS): 17
1.2.3 Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (PACS): 18
1.2.4 Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm (Laboratory Information System – LIS) 18
1.3 Vấn đề trao đổi dữ liệu Bệnh án điện tử 19
1.3.1 Các chuẩn quốc tế đang sử dụng trong y tế: 20
1.3.2 Chuẩn sử dụng biểu diễn EMR dùng trong trao đổi dữ liệu 27
1.3.3 Vấn đề xây dựng bệnh án điện tử dùng chung 28
CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN I-EMR TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ BỆNH VIỆN 31
2.1 Kiến trúc tổng thể của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện kết hợp I-EMR 31
2.1.1 Mô hình hệ thống 31
2.1.2 Mô hình I-EMR: 32
2.2 Các chức năng chính của I-EMR 34
2.3 Các module chính của I-EMR 36
Trang 52.4 Chức năng của HL7 CORE SYSTEM tại Bệnh viện: 37
2.5 Chức năng của HL7 GATEWAY SYSTEM tại Sở Y tế 42
2.6 Chức năng và mô hình HL7 Interface Engine (HL7 IE) 48
2.6.1 Mô hình tổng thể HL7 IE 48
2.6.2 Các Module chính của HL7 IE 49
2.6.3 Chức năng của HL7 INTERFACE ENGINE 50
2.7 Mô hình hệ thống lưu trữ và truyền thông hình ảnh y tế PACS 55
2.8 Mô hình Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm 57
CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU CHUẨN KẾT NỐI DICOM VỚI HỆ THỐNG I-EMR 58
3.1 Giới thiệu chuẩn DICOM 58
3.2 Định nghĩa thông tin và dịch vụ trong DICOM 59
3.2.1 Tổng quan 59
3.2.2 Định nghĩa thông tin đối tượng 60
3.2.3 Các lớp dịch vụ DICOM 61
3.3 Mã hóa và cấu trúc dữ liệu DICOM 62
3.3.1 Bộ ký tự mã hóa 62
3.3.2 Bộ Dữ liệu 63
3.4 Trao đổi bản tin DICOM 63
3.4.1 Hỗ trợ chuyển đổi thông mạng cho trao đổi bản tin 63
3.4.2 Cổng kết nối thông tin 64
3.5 Truyền tin DICOM 65
3.5.1 Mô hình tổng quát truyền tin DICOM tổng quát 65
3.5.2 DICOM và mô hình tham chiếu cơ bản OSI 66
3.6 Mô hình lưu trữ trung gian DICOM 73
3.6.1 Lớp trung gian vật lý 73
3.6.2 Lớp khuôn dạng trung gian 73
3.6.3 Lớp khuôn dạng dữ liệu DICOM 74
3.6.4 Khuôn dạng file DICOM 74
3.7 Các Dịch vụ File DICOM 76
3.7.1 Bộ File 76
Trang 63.7.2 Các chỉ số File 76
3.7.3 Các dịch vụ và chức năng quản lý File 76
3.7.4 Truy nhập nội dung File 77
3.7.5 Bộ Kí tự 78
3.7.6 Chỉ số File DICOMDIR 78
3.7.7 Ví dụ nội dung file DICOMDIR 78
3.8 Thu nhận và truyền thông dữ liệu ảnh DICOM 82
3.8.1 Gửi và thu nhận file DICOM 82
3.8.2 Lưu trữ file DICOM tại Server 86
3.8.3 Lấy file ảnh DICOM từ Server 88
3.9 Xử lý dữ liệu ảnh DICOM 94
3.9.1 Hiển thị ảnh và thông tin ảnh DICOM 94
3.9.2 Chèn thông tin chẩn đoán vào ảnh 101
3.9.3 Các công cụ xử lý ảnh 102
CHƯƠNG 4 – NGHIÊN CỨU PHẦN MỀM VÀ ỨNG DỤNG THỰC TẾ 106
4.1 Giới thiệu phần mềm quản lý bệnh viện E Hospital của FPT 106
4.2 Giới thiệu tổng quan thiết bị và ứng dụng phần mềm tại bệnh viện Hữu Nghị 106 4.2.1 Tổng quan thiết bị: 106
4.2.2 Mô hình triển khai ứng dụng phần mềm: 108
4.3 Những hình ảnh thực tế tại bệnh viện Hữu Nghị 109
4.3.1 Thu nhận ảnh từ các máy chuẩn đoán hình ảnh thông dụng: 109
4.4 Đánh giá kết quả thu được: 113
4.4.1 Ưu điểm: 113
4.4.2 Nhược điểm: 113
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
1 Tài liệu tiếng Việt 115
2 Website: 115
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
ACR American College of Radiology
ASCII American Standard Code for Information Interchange
EHR Electronic Health Record
HIS Health Information System
ICD 10 International Classification Diseases 10
I-EHR Integrated Electronic Health Record
I-EMR Integrated Electronic Medical Record
ISO International Organization for Standardization
LIS Laboratory Information System
NEMA National Electrical Manufacturers Association
OSI Open Systems Interconnect
PACS Picture Archiving and Communication System
RIS Radiology Information System
Trang 8GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ
1 Chuẩn HL7 (Health Level 7): Là tiêu chuẩn quốc tế cung cấp giao thức
chuẩn về quản lý, trao đổi và tích hợp dữ liệu y tế giữa các hệ thống thông tin y tế nhằm hỗ trợ các hoạt động y tế (HL7 có khoảng 500 tổ chức thành viên và chiếm tới 65% lượng thông tin trong bệnh viện) HL7 tạo ra “khả năng tương thích giữa các hệ thống quản lý bệnh nhân điện tử, hệ thống quản lý phòng khám, hệ thống thông tin của phòng xét nghiệm, nhà ăn, nhà thuốc, phòng kế toán cũng như hồ sơ y tế điện tử
2 Telemedicine: Telemedicine là một từ ghép với từ “tele” trong tiếng Hy Lạp
có nghĩa là “từ xa” và “medicine” nghĩa là “điều trị” Khái niệm Telemedicine được dùng nhằm mô tả việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các bệnh nhân từ xa thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin Dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở đây có thể bao gồm cả chẩn đoán và điều trị, cung cấp thuốc men, tư vấn, dự phòng và phục hồi, bảo hiểm y tế, giảng dạy, nghiên cứu
3 HL7 CDA (Health Level 7 Clinical Document Architecture): Là một tài liệu
tiêu chuẩn quy định cấu trúc và ngữ nghĩa các dữ liệu lâm sàng phục vụ mục tiêu trao đổi dữ liệu giữa các bên liên quan
4 Chuẩn DICOM (Digital Imaging Communication in Medicine): Là chuẩn
hình ảnh số trong truyền thông y tế, xác định giao thức trao đổi, lưu trữ, xử lý và chia
sẻ dữ liệu hình ảnh giữa các thiết bị y tế và các hệ thống thông tin y tế
5 Bệnh án điện tử EMR (Electronic Medical Record): Là phiên bản số của
bệnh án bằng giấy được tạo ra bởi các bác sỹ, điều dưỡng và nhân viên y tế trong một
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Hệ thống bệnh án điện tử là một hệ thống độc lập cho phép lưu trữ, thu thập, sửa đổi và bổ sung các thông tin chăm sóc sức khỏe
6 Bệnh án điện tử đa phương tiện I-EMR (Integrated Electronic Medical Record): Là phiên bản nâng cấp của EMR, bổ sung các tính năng lưu trữ, khai thác,
truyền tải dự liệu về quá trình khám và điều trị của bệnh nhân như: hình ảnh chụp Quang, CT, MRI, Siêu âm, Điện tim …
X-7 Đơn thuốc điện tử: Là phiên bản số của đơn thuốc được tạo ra và xác thực
bằng chữ ký số bởi bác sỹ kê đơn
Trang 98 Hồ sơ y tế: Là hồ sơ ghi lại thông tin tóm tắt của một hay nhiều quá trình
khám chữa bệnh và sử dụng dịch vụ y tế của một người bệnh tại các cơ cở y tế
9 Hồ sơ y tế điện tử EHR (Electronic Health Record): Là phiên bản số của hồ
sơ y tế bao gồm thông tin hành chính người bệnh, tóm tắt quá trình điều trị, các kết quả cận lâm sàng
10 Hệ thống thông tin bệnh viện HIS (Health Information System): Là hệ thống
quản lí các loại công việc trong môi trường bệnh viện, sử dụng hệ thống mạng các máy tính để thu thập, xử lí và khôi phục lại thông tin quản lí và chăm sóc bệnh nhân từ các khoa trong toàn bệnh viện, thỏa mãn các chức năng cần thiết của tất cả người dùng Nó cũng là một hệ thống hỗ trợ người điều hành bệnh viện đưa ra các quyết định về việc cải thiện các chế độ chăm sóc sức khỏe, tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả
11 Hệ thống RIS (Radiology Information System): Là hệ thống thông tin chẩn
đoán bằng hình ảnh Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh là hệ thống phần mềm được triển khai tại Khoa chẩn đoán hình ảnh RIS bao gồm các thành phần và có tổ chức gần giống với HIS nhưng ở qui mô nhỏ hơn với các chức năng: quản lý thông tin bệnh nhân, quản lý danh sách bệnh nhân đến chụp - chiếu tại khoa, số liệu chụp - chiếu và kết quả chẩn đoán Thông tin dữ liệu của RIS gồm dạng Text và dạng ảnh theo tiêu chuẩn DICOM được lấy từ các thiết bị chiếu chụp: X-quang, cắt lớp, siêu
âm, cộng hưởng từ…
12 Hệ thống LIS (Laboratory Information System): Là hệ thống thông tin quản
lý phòng xét nghiệm, có chức năng nhận các kết quả xét nghiệm, số hóa một cách tự động bằng việc tạo kết nối với các thiết bị y tế khác nhau và truyền đưa các thông tin hoàn toàn tự động
13 Hệ thống PACS (Picture Archiving and Communication System): Là hệ
thống lưu trữ, xử lý, khai thác cơ sở dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, truyền hình ảnh động
và các dữ liệu khác từ những thiết bị chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, Xquang, CT scanner, cộng hưởng từ hạt nhân…
14 ICD10 (International Classification Diseases): Phân loại quốc tế về bệnh
tật ICD cung cấp mã hóa các bệnh thành những mã ngắn gọn, làm chuẩn cho công tác
Trang 10nghiên cứu và thực hành y học Không những giúp ích khi bệnh nhân được chuyển từ nước này sang nước khác (tránh lỗi dịch), ở trong cùng một nước ICD cũng giúp tránh
sự hiểu sai do cách dùng từ khác nhau giữa nhân viên y tế do đào tạo bởi các trường khác nhau, hoặc được đào tạo trong các thời kỳ khác nhau
15 Y bạ điện tử: Là phiên bản số của sổ khám bệnh bao gồm thông tin hành
chính, tiêm chủng, dị ứng và nhóm máu; Thông tin tóm tắt quá trình điều trị, tiền sử bệnh, các triệu chứng lâm sàng, kết quả cận lâm sàng, các chẩn đoán, đơn thuốc và hướng dẫn điều trị
16 Mô hình OSI (Open Systems Interconnect Reference Model): Là một cấu
trúc có 7 tầng được hiểu là mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở Mô hình được thiết kế dựa vào nguyên lý tầng cấp, lý giải một cách trừu tượng kỹ thuật kết nối truyền thông giữa các máy vi tính và thiết kế giao thức mạng giữa chúng
17 ASCII (American Standard Code for Information Interchange): Là chuẩn
mã trao đổi thông tin Hoa Kỳ bao gồm bộ ký tự và bộ mã ký tự dựa trên bảng chữ cái Latinh được dùng trong tiếng Anh hiện đại và các ngôn ngữ Tây Âu khác Nó thường được dùng để hiển thị văn bản trong máy tính và các thiết bị thông tin khác
18 Tiêu chuẩn SDMX là tiêu chuẩn quốc tế ISO/TS 17369:2005 hỗ trợ trao đổi
và chia sẻ dữ liệu, siêu dữ liệu thống kê giữa các đơn vị, tổ chức
19 Tiêu chuẩn SDMX-HD là tiêu chuẩn do Tổ chức Y tế thế giới xây dựng dựa
trên tiêu chuẩn SDMX hỗ trợ các cơ sở y tế trao đổi và chia sẻ các chỉ số, siêu dữ liệu thống kê trong lĩnh vực y tế
Trang 11
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Các chức năng chính của I-EMR 35
Bảng 2 2 Các chức năng của hệ thống HL7 CORE 38
Bảng 2 3 Các chức năng của HL7 Gateway tại Sở Y tế 45
Bảng 2 4.Các chức năng của hệ thống HL7 Interface Engine 50
Bảng 2 5 Các chức năng chính của PACS 55
Bảng 2 6 Các chức năng chính của LIS 57
Bảng 3 1 Bảng định nghĩa thông tin đối tượng (IOD) 60
Bảng 3 2 Các chân RJ-45 65
Bảng 3 3 Dòng thông báo và thao tác 71
Bảng 3 4 Thao tác trung gian 77
Bảng 3 5 Sơ đồ bộ file DICOM 79
Bảng 3 6 Bảng trạng thái đáp ứng của C-STORE response 83
Bảng 3 7 Bảng thông tin ảnh hiển thị 87
Bảng 3 8 Thông tin hiển thị 99
Trang 12DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2 1 Mô hình hệ thống thông tin quản lý bệnh viện kết hợp với EMR và kết nối
toàn hệ thống 31
Hình 2 2 Kiến trúc tổng thể hệ thống EMR 33
Hình 2 3 Mô hình trao đổi thông tin giữa các HL7 Core tại Bệnh viện 37
Hình 2 4 Mô hình trao đổi thông tin giữa HL7 CORE và HL7 Gateway 43
Hình 3 1 Mô hình SOP 59
Hình 3 2 Cấu trúc thành phần dữ liệu và bộ dữ liệu 63
Hình 3 3 Cổng RJ45 64
Hình 3 4 Mô hình truyền tin tổng quát 65
Hình 3 5 DICOM và mô hình OSI 66
Hình 3 6 Cấu trúc tầng ứng dụng DICOM 67
Hình 3 7 Cấu trúc Bản tin DICOM 67
Hình 3 8 Dịch vụ nguyên thủy của DIMSE 69
Hình 3 9 Dòng thông báo và thao tác 70
Hình 3 10 Mô hình lưu trữ trung gian DICOM 73
Hình 3 11 Khuôn dạng File DICOM 74
Hình 3 12 Sơ đồ đặt tên bộ file 79
Hình 3 13 Minh hoạc quá trình gửi ảnh 84
Hình 3 14 Cơ sở dữ liệu DICOM 87
Hình 3 15 Chất vấn và truy vấn ảnh 89
Hình 3 16 Minh họa dữ liệu điểm ảnh 95
Hình 3 17 Mô tả một ảnh 96
Hình 3 18 Mã hóa dữ liệu Overlay 97
Hình 3 19 Hiển thị ảnh và thông tin ảnh DICOM 98
Hình 3 20 Minh họa hình ảnh hiển thị 100
Hình 3 21 Chèn thông tin vào ảnh 101
Hình 3 22 Các bước cân bằng mức xám đồ 103
Hình 3 23 Thay đổi độ sang tối, tương phản gián tiếp 104
Hình 3 24 Đo các thông số trong ảnh DICOM 104
Hình 4 1 Mô tả giao diện CHƯƠNG trình chẩn đoán hình ảnh DICOM từ xa 109
Hình 4 2 Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân chụp mạch não trên máy cộng hưởng từ hãng GE 109
Hình 4 3 Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân chụp sọ não trên máy cộng hưởng từ hãng GE 110
Hình 4 4 Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân chụp cắt lớp ổ bụng trên máy CT của hãng GE 110
Hình 4 5 Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân đang đặt Stend mạch vành từ máy chụp mạch của hãng Phillip 111
Trang 13Hình 4 6 Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân siêu âm tim từ máy siêu âm
Doppler màu của hãng eSaote 111 Hình 4 7 Hình ảnh hiển thị dữ liệu ảnh bệnh nhân siêu âm ổ bụng từ máy siêu âm Doppler màu của hãng Philips 112 Hình 4 8.Hình ảnh hiển thị dữ liệu hình ảnh bệnh nhân chụp X quang phổi từ số hoá
CR của hãng AGFA 112
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Giới thiệu:
Trước đây ở Việt Nam mỗi khi đi khám bệnh, nằm viện điều trị thường thì đều
có một cuốn sổ ghi chép và lưu trữ dữ liệu, thông tin về quá trình khám chữa bệnh bằng văn bản viết tay hay đánh máy, hình ảnh siêu âm, X-quang đơn thuốc gọi chung là bệnh án được ghi chép trên giấy, lưu giữ trong sổ, trong kho
Hiện nay bệnh án điện tử đã được sử dụng nhiều ở các nước phát triển và cũng đang được từng bước thực hiện tại nước ta, đây là cách dẫn tới sự thay đổi lớn trong khám chữa bệnh và nghiên cứu y học
Tại các nước Châu Âu, Nga, Mỹ, Nhật v v trước khi có bệnh án điện tử đã có một hệ thống theo dõi khám chữa bệnh của bệnh nhân từ khi mới lọt lòng đến khi trưởng thành, ở đó hình thành một phân cấp bác sĩ khám chữa bệnh tại nhà gọi là “bác
sĩ gia đình” hoạt động đa dạng và năng động trong các hoạt động khám chữa bệnh thông thường, xác định và tiếp cận bệnh nhân nhanh chóng và áp dụng được chính xác vào tình trạng thực tiễn của bệnh nhân, do nắm được tiền sử bệnh án, chuẩn đoán lâm sàng…cùng với những nhu cầu chăm sóc sức khỏe của xã hội, sự phát triển của công nghệ thông tin, ứng dụng điện tử, tin học, thông tin liên lạc …đã hình thành nên việc buộc phải phát triển bệnh án điện tử
Bệnh án điện tử không chỉ đơn thuần là một sự tự động hóa đơn giản cho các bệnh án giấy hiện nay Xa hơn nữa, bệnh án điện tử cho phép chúng ta tiến lên phương thức tiếp cận mới của người bệnh và bác sỹ dựa trên khoa học công nghệ từng bước tiến lên Bệnh viện điện tử
2 Lý do chọn đề tài:
Trong thực tế cuộc sống, bản thân và gia đình ai cũng có lúc ốm đau bệnh tật, khi đi khám bệnh và đưa người thân đi khám bệnh bản thân tôi và gia đình không tránh khỏi những lúc mệt mỏi và thấy phiền phức vì quá trình khám bệnh phải đi lại nhiều lần, mỗi lần khám chữa bệnh là một lần xét nghiệm khác nhau, bác sĩ có thể là một người hoặc mỗi lần khám là một người khác, các kết quả xét nghiệm, khám chữa bệnh nhiều lần phải làm đi làm lại, lại mỗi bệnh viện là một lần khám, một lần xét nghiệm, chiếu, chụp lại và các bệnh viện có thể không chấp nhận kết quả xét nghiệm,
Trang 15phim ảnh chiếu, chụp của bệnh viện khác gây mất rất nhiều thời gian, tiền bạc ảnh hưởng đến chất lượng sống của người đi khám chữa bệnh
Thực trạng chung hiện nay là sự phát triển và ứng dụng tin học trong y tế của nước ta vẫn còn ở mức thấp so với mặt bằng chung trong khu vực và trên thế giới Việc ứng dụng tin học tại các đơn vị, cơ sở trong ngành y tế nói chung vẫn mang tính
tự phát, manh mún, chưa có tính hệ thống, tính đồng bộ, đặc biệt là trong khối đơn vị bệnh viện Số lượng các đơn vị bệnh viện ứng dụng tin học thành công trong công tác quản lý và khám chữa bệnh là rất ít, thường chỉ tập trung ở một số bệnh viện lớn hoặc bệnh viện tư nhân Bên cạnh đó, do sự phát triển thiếu đồng bộ và thiếu sự quan tâm đến các tiêu chuẩn, nên hệ thống phần mềm của các bệnh viện vẫn chưa thể kết nối và chia sẻ dữ liệu/thông tin được với nhau
Trong những năm qua, công tác ứng dụng CNTT trong hệ thống bệnh viện nói riêng và các đơn vị trong ngành y tế nói chung đã nhận được chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo Chính phủ và Bộ Y tế Các chính sách đã và đang được xây dựng để tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh để đẩy mạnh lĩnh vực này
Trước những nhu cầu thực tế của xã hội, những khó khăn và thách thức về ứng dụng CNTT trong y tế, tôi đã lựa chọn đề tài:
“Nghiên cứu về cấu trúc bệnh án điện tử đa phương tiện và ứng dụng trong xử lý
thông tin y tế”
(Research on Integrated Electronic Medical Records (IEMR) and apply in processing health information”
để có thể góp phần công sức nhỏ bé của mình làm điều có ích cho xã hội, giúp người
bệnh giảm bớt những khó khăn mệt mỏi trong việc khám chữa bệnh, nâng cao giá trị cuộc sống của người bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao vai trò của bác sĩ trong việc cứu người; Qua đó giúp bệnh viện và những người làm việc trong ngành y tế hạn chế những rủi ro do nhầm lẫn, giảm bớt sự quá tải của công việc, việc
quản lý bệnh viện tốt hơn
Trang 16CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.1 Hiện trạng ứng dụng CNTT trong y tế
Được sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ và lãnh đạo ngành y tế, trong những năm gần đây, ứng dụng CNTT trong y tế đã có nhiều khởi sắc Ứng dụng CNTT trong
y tế nói chung và trong quản lý bệnh viện nói riêng đã làm thay đổi cách phục vụ nhân dân theo hướng nhanh, gọn, tiết kiệm thời gian và tiền bạc của bệnh nhân Người đến khám, chữa bệnh chỉ cần khai báo thông tin hành chính một lần Khi đến những khoa, phòng khác nhau, bệnh nhân không cần phải khai báo lại vì các thông tin của bệnh nhân đã được lưu trữ trên hệ thống, quản lý thông suốt giữa các khoa phòng Việc thanh toán viện phí cũng nhanh và chính xác hơn Các chi phí của bệnh nhân khi phát sinh sẽ được cập nhật ngay vào hệ thống, có thể biết chính xác chi tiết số tiền bệnh nhân đã sử dụng ở bất kỳ thời điểm nào Khi bệnh nhân xuất viện mọi chi phí sẽ được hiển thị ngay trên bảng kê thanh toán ra viện Ứng dụng CNTT trong quy trình khám, chữa bệnh làm giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân, đây là thành quả lớn trong việc nâng cao chất lượng phục vụ Đó là chưa nói đến hiệu quả chuyên môn cũng được cải thiện, các bác sĩ có nhiều thời gian để tư vấn cho người bệnh, có thể hội chẩn trực tiếp trên mạng và đưa ra kết quả, hướng điều trị nhanh nhất Một hệ thống công nghệ thông tin trong bệnh viện đáp ứng các yêu cầu nêu trên bao gồm các thành phần cơ bản sau:
- Hệ thống thông tin bệnh viện (Hospital Information System - HIS);
- Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (Radiology Information System - RIS);
- Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (Picture Archiving and Communication System - PACS);
- Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm (Laboratory Information System – LIS)
Có thể thấy ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện đã đem lại hiệu quả rõ rệt, rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, từ đây đã dần hình thành nguồn cơ sở dữ liệu y tế của bệnh nhân đặt nền móng cho hệ thống bệnh án điện tử
Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong quản lý bệnh viện mới chỉ dừng lại ở quy mô riêng lẻ mỗi bệnh viện, để xây dựng được hệ thống bệnh án điện tử dùng
Trang 17chung giữa các bệnh viện còn rất nhiều khó khăn Việc lưu trữ, tra cứu, khai thác hình ảnh y tế (X-Quang, MRI, CT-Scanner…) cũng là một bài toán khó giải, đòi hỏi không gian bộ nhớ rất lỡn và thiết kế cơ sở dữ liệu phức tạp, do vậy phần lớn các bệnh viện hiện nay chưa ứng dụng hệ thống lưu trữ và truyền hình ảnh (PACS) mà vẫn duy trì lưu trữ hình ảnh y tế bằng phương pháp truyền thống (ảnh chụp, phim âm bản…)
Năm 2006, Bộ Y tế đã ban hành bộ tiêu chí khung phần mềm quản lý bệnh viện, bước đầu ngành y tế đã định hình một bộ khung phần mềm theo các module, nhưng quy định này vẫn chưa đưa ra được chuẩn thiết kế xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu
Chính vì vậy, việc cơ quan quản lý sớm ban hành một chuẩn chung về phần mềm quản lý bệnh viện, cấu trúc bệnh án điện tử là một nhu cầu cấp thiết, để các đơn
vị xây dựng phần mềm quản lý bệnh viện nghiên cứu thiết kế hệ thống của mình theo hướng dùng chung được trong toàn ngành y tế
1.2 Các hệ thống ứng dụng CNTT trong bệnh viện
1.2.1 Hệ thống thông tin quản lý bệnh viện (Hospital Information S stem-HIS)
HIS có thể quản lý thông tin về: nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất, nhưng quan trọng hơn cả là HIS quản lý thông tin về bệnh nhân, lấy bệnh nhân làm trung tâm, các thông tin hành chính của người bệnh, quá trình điều trị, các y lệnh, các kết quả lâm sang, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh… Tất cả những thông tin này sẽ được chứa đựng trong HIS Khi cơ sở dữ liệu của HIS tuân thủ đúng chuẩn chung thì có thể dùng HIS để trao đổi thông tin hai chiều giữa các khoa/phòng trong bệnh viện và giữa các bệnh viện với nhau
Cho đến nay, HIS chỉ cho phép quản lý các thông tin y tế dạng text nhưng HIS
đã phát huy hiệu quả rất tốt, đặc biệt đối với đặc điểm ngành y tế Việt Nam, do vậy hầu hết các bệnh viện quy mô vừa và lớn đã triển khai hệ thống này
1.2.2 Hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh (RIS):
RIS hỗ trợ các công việc quản trị dữ liệu kết quả lâm sàng trong chẩn đoán hình ảnh, chia sẻ thông tin phục vụ chẩn đoán và điều trị Dữ liệu chẩn đoán hình ảnh vừa nhiều lại vừa có tính đặc thù cao (mỗi thiết bị chẩn đoán hình ảnh lại có chuẩn lưu trữ
Trang 18khác nhau), nên RIS ra đời để hỗ trợ công tác quản lý dữ liệu bệnh viện trong tin chẩn đoán hình ảnh
RIS quản lý cả dữ liệu về hình ảnh và văn bản chứ không đơn thuần là quản lý văn bản dạng text như trong HIS Dữ liệu ảnh thu nhận được từ các thiết bị như X-quang, CT-Scan, MRI, siêu âm sẽ được lưu giữ lại dưới dạng tập các ảnh số hóa Đây chính là tập cơ sở dữ liệu mà RIS quản lý
Nhiệm vụ chính của RIS là:
- Tạo định dạng và lưu trữ kết quả chẩn đoán hình ảnh theo ID bệnh nhân;
- Thao tác với các bản ghi tương ứng với ID bệnh nhân;
- Hồi cứu các kết quả chẩn đoán hình ảnh của bệnh nhân;
- Hỗ trợ chẩn đoán và điều trị
1.2.3 Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (PACS):
Việc tra cứu, khai thác kết quả chẩn đoán hình ảnh trong quy mô nội bộ bệnh viện thì RIS cơ bản đáp ứng được Tuy nhiên, khi phát sinh nhu cầu lớn hơn về lưu trữ, phân phối và truyền hình ảnh thì RIS trở nên khó đáp ứng được Do vậy cần phải
có Hệ thống lưu trữ và truyền ảnh (Picture archiving and Communication System - PACS) để đáp ứng yêu cầu lưu trữ, xử lý, truyền tải thông tin một cách có hệ thống, nhanh chóng, chính xác, nâng cao chất lượng chẩn đoán và truyền hình ảnh để chẩn đoán hình ảnh từ xa
1.2.4 Hệ thống thông tin quản lý phòng xét nghiệm (Laboratory Information
System – LIS)
LIS nhận các kết quả xét nghiệm số hóa một cách tự động bằng việc tạo kết nối với các thiết bị y tế khác nhau và truyền đưa các thông tin hoàn toàn tự động
Khi bác sĩ đưa ra yêu cầu kiểm tra, bệnh học lâm sàng hướng dẫn các kiểm tra
y tế theo các yêu cầu của bác sĩ và sau đó sẽ chuyển các kết quả kiểm tra lại cho bác sĩ bằng cách nhập dữ liệu vào hồ sơ bệnh án Bởi vì các kết quả xét nghiệm được kiểm tra bằng mắt thường và sau đó được ghi chép lại trong hồ sơ kết quả bằng phương pháp thủ công, vì thế tỷ lệ sai sót thường là rất cao Bên cạnh đó, các kết quả xét nghiệm thường được chuyển liên tục đến bộ phận điều trị và điều dưỡng cho nên mất rất nhiều thời gian
Trang 19Khi LIS được đưa vào sử dụng, các kết quả xét nghiệm từ mạng của phòng xét nghiệm tự động gửi dữ liệu và lưu vào mục xét nghiệm trong hệ thống đăng ký bệnh nhân Trong khoảng thời gian này, bác sĩ có thể kiểm tra ngay lập tức kết quả xét nghiệm thông qua các thiết bị đầu cuối Trong hầu hết các bệnh viện, các mục cần xét nghiệm sẽ được đưa ra theo yêu cầu của bác sĩ, các khoa không trực tiếp điều trị cho bệnh nhân như bệnh học lâm sàng và phân tích X-Quang sẽ không biết được các vấn
đề của bệnh nhân
Như vậy, cứ mỗi phòng xét nghiệm, các bác sĩ có thể đọc hồ sơ bệnh nhân thông qua thiết bị kết nối đầu cuối và xem xét các yêu cầu của kết quả để chẩn đoán
1.3 Vấn đề trao đổi dữ liệu Bệnh án điện tử
Dễ nhận thấy, việc trao đổi thông tin bệnh án giữa các cơ sở khám, chữa bệnh giúp nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh bởi lẽ, thông tin về sức khỏe, lịch sử điều trị và các thông tin trong quá trình khám, chữa bệnh của bệnh nhân được chia sẻ, trợ giúp tích cực cho bác sỹ điều trị có thể chẩn đoán chính xác, kịp thời và từ đó tăng khả năng điều trị khỏi bệnh cho bệnh nhân Dưới góc độ hệ thống, để có thể trao đổi được các dữ liệu này, tất cả các bệnh nhân cần có một định danh duy nhất, từ đó, các bệnh viện và các cơ sở khámchữa bệnh có thể xác định chính xác các thông tin về người bệnh Đi kèm với hệ thống định danh dùng chung cho tất cả người bệnh, hệ thống các danh mục tham chiếu dùng chung, như ICD-10, NDC trợ giúp cho việc diễn giải các EMR một cách thuận tiện cũng góp phần vào việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Tuy nhiên, hiện nay việc trao đổi thông tin hồ sơ bệnh án điện tử chưa thực hiện được do các nguyên nhân chủ yếu sau:
- Vấn đề pháp lý: luật khám, chữa bệnh không cho phép các bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh cung cấp toàn bộ thông tin về sức khỏe của mình cho bên thứ ba
- Việc sử dụng hệ thống ID dùng chung trên toàn quốc hiện không thể thực hiện do chưa được tổ chức một cách thống nhất
- Vấn đề chuẩn hóa trong việc sử dụng các danh mục tham chiếu dùng chung tại các bệnh viện và các cơ sở khám, chữa bệnh hiện chưa có Các đơn vị
Trang 20vẫn tổ chức, sử dụng hệ thống mã hóa cho các danh mục tham chiếu một cách tự phát
- Các cơ sở khám chữa bệnh không muốn “mở cửa” hệ thống do lo ngại về an ninh và các yếu tố về quyền bí mật các thông tin cá nhân Để thực hiện việc trao đổi thông tin hồ sơ bệnh án, theo kinh nghiệm của các nước phát triển trong các hệ thống thông tin y tế, khi có yêu cầu của bệnh nhân, các đơn vị
có thể cung cấp hồ sơ bệnh án giấy hoặc điện tử để bệnh nhân tự bảo quản
và cung cấp cho bên thứ ba khi có nhu cầu Dĩ nhiên, cách tiếp cận này không linh hoạt, kịp thời, và thường thì bệnh nhân không muốn luôn luôn mang theo hồ sơ bệnh án bên người
Như vậy, việc bảo quản hồ sơ bệnh án, theo luật định, vẫn do các cơ sở khám, chữa bệnh thực hiện Khi đó, để có thể thực hiện trao đổi hồ sơ bệnh án, các vấn đề chính cần giải quyết như sau:
- Cần có bộ dữ liệu y tế tiêu chuẩn (hồ sơ bệnh án) xây dựng dựa trên HL7, DICOM dùng trong trao đổi dữ liệu
- Các bệnh viện cần cam kết tham gia và hỗ trợ tích cực trong quá trình xây dựng hệ thống
- Chuẩn hóa hệ thống các danh mục tham chiếu dùng chung, sử dụng thống nhất tại các bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh tham gia hệ thống
- Xây dựng cơ chế và tiến tới áp dụng trong việc xây dựng hệ thống ID bệnh nhân dùng chung toàn quốc, sử dụng công nghệ smartcard hoặc tương đương (trong thời điểm hiện tại, khi chưa có hệ thống ID dùng chung, hệ thống khi xây dựng cần tính toán để hỗ trợ sau này)
1.3.1 Các chuẩn quốc tế đang sử dụng trong y tế:
1.3.1.1 Chuẩn HL7:
Health Level 7: Chuẩn dữ liệu HL7 ra đời vào những năm 1980 với mục đích thống nhất một chuẩn chung cho khuân dạng dữ liệu text (không phải hình ảnh) để thuận tiện cho việc chia sẻ thông tin giữa các phân hệ phần mềm trong bệnh viện và giữa hệ thống của các bệnh viện
Health Level Seven (HL7) là một tổ chức các tình nguyện viên, không lợi
Trang 21nhuận được công nhận bởi một tổ chức phát triển và xây dựng tiêu chuẩn "HL7" cũng được sử dụng như là một cái tên gọi chung cho một số các tiêu chuẩn cụ thể được tạo
ra bởi tổ chức này (tức là HL7 v2.x, v3.0, HL7 RIM, v.v) HL7 và các thành viên cung cấp một khung tiêu chuẩn thông dụng nhất thế giới (và liên quan đến tiêu chuẩn) cho việc trao đổi, chia sẻ, hội nhập và tìm kiếm các thông tin y tế điện tử Các tiêu chuẩn
có hỗ trợ thực hành lâm sàng và quản lý, phân phối, và đánh giá các dịch vụ y tế, là thông dụng nhất trên thế giới HL7 phát triển khái niệm tiêu chuẩn (tức là HL7 RIM), tài liệu tiêu chuẩn (tức là HL7 CDA), ứng dụng tiêu chuẩn (tức là HL7 CCOW) và bản tin tiêu chuẩn (tức là HL7 v2.x và v3.0) Bản tin tiêu chuẩn được đặc biệt quan trọng bởi vì chúng xác định cách thức các thông tin được đóng gói và truyền đi từ nơi này sang nơi khác Tiêu chuẩn như thiết lập các ngôn ngữ, cấu trúc và các loại dữ liệu cần thiết cho việc tích hợp liền mạch từ một hệ thống này sang hệ thống khác
HL7 phiên bản 2.x đã cho phép cho khả năng tương tác tự động giữa hệ thống Quản lý bệnh nhân điện tử (PAS), hệ thống Quản Lý Thực Hành (EPM) điện tử, hệ thống thông tin phòng thí nghiệm (LIS), chế độ dinh dưỡng, Dược phẩm và các hệ thống thanh toán cũng như hệ thống EMR hoặc EHR Hiện nay, chuẩn bản tin HL7 phiên bản 2.x được hỗ trợ bởi mỗi nhà cung cấp hệ thống thông tin y tế lớn tại Hoa
Kỳ
HL7 là một trong những chuẩn dữ liệu được sử dụng cho các ứng dụng trongngành lĩnh vực CNTT y tế HL7 bao gồm các tập định nghĩa các định dạng logic nhằm để đóng gói các thông tin y tế dưới dạng 1 bản tin và truyền đi hay chia sẻ giữa các hệ thống thông tin
Bệnh viện và các tổ chức y tế thường có những hệ thống máy tính khác nhau được sử dụng cho tất cả mọi thứ từ các hồ sơ thanh toán để theo dõi bệnh nhân Tất cả các hệ thống này nên liên lạc và chia sẻ thông tin với nhau bất cứ khi nào nhận được thông tin mới
HL7 quy định cụ thể một số tiêu chuẩn linh hoạt, các hướng dẫn, và các phương pháp mà theo đó hệ thống y tế khác nhau có thể giao tiếp với nhau Theo những tài liệu hướng dẫn thực thi giao thức chuẩn HL7, dữ liệu tiêu chuẩn là một tập hợp các quy tắc cho phép thông tin được chia sẻ và xử lý một cách thống nhất và nhất
Trang 22quán (về mặt ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa) Những tiêu chuẩn dữ liệu này tạo điều kiện thuận lợi cho phép các tổ chức y tế dễ dàng chia sẻ thông tin lâm sàng Xây dựng và phát triển các mô hình khái niệm thông tin HL7 (ví dụ, HL7 RIM), tài liệu tiêu chuẩn (ví dụ, HL7 CDA), và các tiêu chuẩn tin nhắn (ví dụ, HL7 v2.x và v3.0) Nhắn tin tiêu chuẩn rất quan trọng bởi vì việc xác định cách các thông tin được đóng gói và truyền đạt nội dung giữa các bên liên quan HL7 phiên bản 2.x định nghĩa một loạt các thư điện tử để hỗ trợ các quy trình hành chính, hậu cần, tài chính cũng như lâm sàng Kể
từ năm 1987, chuẩn HL7 đã được cập nhật thường xuyên, bao gồm phiên bản 2.1, 2.2, 2.3, 2.3.1, 2.4, 2.5, 2.5.1 và 2.6 Các tiêu chuẩn v2.x đều có khả năng tương thích ngược (tức là ứng dụng có hỗ trợ phiên bản 2.6 thì có thể xử lý được các phiên bản trước đó như 2.1, 2.2 …) HL7 v2.x chủ yếu là sử dụng cú pháp mã hóa văn bản dựa trên các dấu phân cách
HL7 phiên bản 2.x tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng tương tác giữa Hệ thống Quản lý bệnh nhân (PAS), hệ thống thông tin phòng thí nghiệm (LIS), hệ thống theo dõi chế độ ăn uống, Dược phẩm và các hệ thống Thanh toán điện tử cũng như hệ thống bệnh án điện tử (EMR) hoặc hệ thống y bạ điện tử (EHR) Hiện nay, tiêu chuẩn của HL7 v2.x tin nhắn được hỗ trợ bởi mỗi nhà cung cấp hệ thống thông tin y tế lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới
Các bản tin HL7 ADT là các bản tin chứa đựng thông tin của bệnh nhân tương ứng với các sự kiện xuất hiện như: A01 – bệnh nhân đến bệnh viện khám bệnh, A02 - bệnh nhân chuyển viện, A03 – bệnh nhân xuất viện Những sự kiện này chính là nguyên nhân thúc đẩy các tiến trình trao đổi và chia sẻ thông tin trên các hệ thống thông tin trong bệnh viện
Cũng giống như bất kỳ những đề xuất khác, đề xuất sử dụng chuẩn HL7 trong
hệ thống thông tin y tế sẽ mang lại những lợi ích trực tiếp và gián tiếp không những cho bệnh nhân mà còn cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách trong các tổ chức hay cơ quan cung cấp dịch vụ y tế:
- Tăng cường khả năng truy cập vào dữ liệu bệnh nhân (có nghĩa là truy xuất thông tin nhanh hơn và đầy đủ hơn giúp nâng cao hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe bệnh nhân)
Trang 23- Thông tin chính xác, ở đúng nơi, đúng lúc, giúp hỗ trợ trong việc ra quyết định nhằm cải thiện an toàn bệnh nhân
- Tăng cường khả năng bảo mật và độ an toàn thông tin, nâng cao độ tin cậy của thông tin trong quá trình trao đổi thông tin điện tử
- Cải thiện chất lượng thông tin bởi vì thông tin được truyền đi một lúc, đúng nơi đúng lúc, và giảm thiểu các sai sót không đáng có
- Cải thiện hiệu quả công việc thông qua sắp xếp hợp lý các quy trình và cung cấp thông tin nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực nhân lực trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
- Giảm thiểu chi phí tùy chỉnh các cổng kết nối dữ liệu trong các ứng dụng
- Tăng cường khả năng liên lạc và chia sẻ thông tin giữa các ứng dụng máy tính khác nhau bất kể chúng được xây dựng hay phát triển bởi nhà sản xuất phần mềm thương mại nào Giúp quản lý hiệu quả hơn thông qua việc có đầy đủ thông tin đúng lúc, đúng nơi
Giao thức ứng dụng tin nhắn chuẩn HL7 đã được xác định cho lĩnh vực truyền thông y tế, đặc biệt là giữa các hệ thống lâm sàng HL7 hỗ trợ truyền thông tin nhắn trong các loại sau:
- Quản lý bệnh nhân (nhập viện, xuất viện, chuyển viện)
- Nhập các chỉ thị, chỉ định (chỉ định dinh dưỡng, chỉ định thuốc, chỉ định xét nghiệm lâm sàng)
- Quản lý tài chính (chẩn đoán, thủ thuật, người bảo đảm, bảo hiểm y tế)
- Báo cáo theo dõi lâm sàng (báo cáo tường thuật, báo cáo điện tim, điện não)
- Tập hồ sơ chính chia sẻ từ điển (cập nhật thư mục xét nghiệm lâm sàng, cập nhật công thức thuốc)
- Hồ sơ bệnh án / quản lý thông tin (theo dõi tài liệu hoặc dữ liệu đầu vào đã
và sẽ được sao chép)
- Lịch hẹn (tạo các cuộc hẹn, và yêu cầu về hoạt động dự kiến)
- Chuyển bệnh nhân (xác định giới thiệu và chuyển bệnh nhân từ một tổ chức
y tế này sang tổ chức y tế khác)
- Chăm sóc bệnh nhân (theo dõi các vấn đề y tế hoặc các mục tiêu liên quan,
Trang 24vai trò, đường lối lâm sàng và phương sai cấp tính hoặc mãn tính)
1.3.1.2 Chuẩn hình ảnh DICOM (the Digital Imaging Communication in
Medicine)
Nhiều phương pháp tạo ảnh y tế sử dụng ngày nay chủ yếu dựa vào các tiến trình xử lý trên máy tính Máy tính được sử dụng không chỉ để lưu trữ hoặc hiển thị hình ảnh mà còn có thể tạo dựng các mô hình 3D từ một tập các dữ liệu đầu vào Dữ liệu thu được từ các thiết bị hình ảnh có sử dụng các phương pháp phức tạp, ví dụ: CT, MRI, SPECT, PET Bởi vì có quá nhiều hướng phát triển của các thiết bị hình ảnh y
tế, do đó một vấn đề rất quan trọng là phải có một tiêu chuẩn cho các kết nối và trao đổi thông tin giữa các thiết bị y tế Và cũng vì có nhiều nhà sản xuất trên thị trường cung cấp các thiết bị hình ảnh y tế với phương pháp tiếp cận và công nghệ khác nhau, nên nhu cầu cấp thiết là phải có một tiêu chuẩn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi của các hình ảnh và dữ liệu y tế dễ dàng hơn DICOM (Digital Imaging and Communiation in Medicine) là một tiêu chuẩn xác định giao thức trao đổi dữ liệu hình ảnh không những giữa các thiết bị y tế mà còn hỗ trợ cho những hệ thống thông tin y
tế trong việc lưu trữ, xử lý, và chia sẻ hình ảnh
DICOM được phát triển nhằm tiêu chuẩn hóa dữ liệu hình ảnh y tế và các thông tin liên quan khiến cho việc trao đổi thông tin dễ dàng hơn Bên cạnh đó, DICOM còn được xác định theo định hướng dịch vụ mạng hoặc phương tiện truyền thông để truyền hoặc in những hình ảnh y tế DICOM cũng qui định các định dạng trao đổi dữ liệu, cách thức quản lý dòng chảy công việc, tính nhất quán và chất lượng khi xem hình ảnh cũng như yêu cầu về sự phù hợp của thiết bị và chương trình ứng dụng khi áp dụng DICOM
Tiêu chuẩn DICOM gắn liền với lĩnh vực thông tin hình ảnh y tế Trong lĩnh vực đó, nó chỉ trao đổi thông tin kỹ thuật số giữa các thiết bị hình ảnh y tế và các hệ thống thông tin khác
1.3.1.3 Chuẩn CDA (Clinical Document Architecture)
Clinical Document Architecture (CDA) khởi đầu từ kiến trúc hồ sơ bệnh nhân (Patient Record Architecture - PRA); hồ sơ được tạo ra để cung cấp một mô hình trao đổi các thông tin lâm sàng như: tóm lược xuất viện, chuyển bệnh nhân và ghi chú bệnh trình; nhằm cung cấp đầy đủ thông tin chăm sóc sức khỏe, và hướng tới đạt được hồ
Trang 25sơ bệnh án điện tử
CDA là một tiêu chuẩn HL7 qui định cho các tài liệu lâm sàng như bản tóm tắt
và ghi chú, tham vấn sử dụng kiến trúc XML Mỗi tài liệu XML sẽ có một kiến trúc gồm ba phần: (1) tiêu đề, (2) một cấu trúc DTD của tài liệu, (3) nội dung XML
Tiêu đề bao gồm các thông tin về loại tài liệu, chi tiết xác thực, những vấn đề gặp phải, bệnh nhân, và người thực hiện DTD quy định cấu trúc riêng biệt cho mỗi chuyên ngành / lĩnh vực / hồ sơ CDA chú trọng đến nội dung hơn là cách thức trình bày dữ liệu trên các thiết bị (ví dụ, màn hình máy tính, màn hình máy PDA, hoặc điện thoại) Các mô hình tham chiếu thông tin HL7 (Reference Information Model - RIM)
là mô hình tham chiếu thông tin cho lĩnh vực y tế Tất cả các đặc tính kỹ thuật của bản tin HL7 và tài liệu trong tương lai sẽ được lấy từ đây
Khi sử dụng CDA để trao đổi, chuyển thông tin, nội dung của một tài liệu lâm sàng sẽ được ghi lại và sau đó được gửi theo khuôn dạng HL7 đến một tổ chức chăm sóc sức khỏe (Dolin et al 2001) có trách nhiệm điều trị cho bệnh nhân Dữ liệu trong các tài liệu CDA được xác định dựa trên RIM, và dựa trên các tiêu chuẩn khác (ví dụ, LOINC, mã số cho các quan sát trong phòng thí nghiệm lâm sàng), hoặc dựa trên các tiêu chuẩn địa phương
Chuẩn CCD (Continuity of Care Document)
HL7 CCD là kết quả của nỗ lực hợp tác giữa tổ chức HL7 và ASTM nhằm hòa hợp các định dạng dữ liệu và kiến trúc hồ sơ giữa ASTM Continuity of Care Record (CCR) và HL7 Clinical Document Architecture (CDA) Hồ sơ CCD sẽ cho phép khả năng tương tác cao hơn, hoặc tích hợp dữ liệu lâm sàng y tế và cho phép các bác sĩ gửi thông tin y tế điện tử cho các bác sĩ hay các tổ chức y tế khác mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa và thông tin y tế CCD đã trở thành một trong những tiêu chuẩn quốc tế đáng giá
để ứng dụng vào trong các hệ thống tích hợp EMR/EHR
Trang 26CCR chính là một tập dữ liệu chính (core data set) bao gồm các sự kiện thông tin liên quan đến hành chính, nhân khẩu học, và lâm sàng về chăm sóc sức khỏe của bệnh nhân, bao gồm một hoặc nhiều sự kiện gặp phải trong y tế CCR cung cấp một phương tiện cho điều dưỡng viên, nhà quản trị hệ thống, hoặc thiết lập các tập hợp tất
cả các dữ liệu cần thiết về bệnh nhân và chuyển tiếp nó đến một hệ thống khác, và do
đó, thông tin trong CCR hỗ trợ việc chăm sóc sức khỏe liên tục cho bệnh nhân Trường hợp sử dụng chính của CCR là cung cấp một bản sao có chứa các dữ liệu như lâm sàng, nhân khẩu học, và hành chính của một bệnh nhân cụ thể trong khoảng thời gian thích hợp cho các đối tác yêu cầu
1.3.1.4 Chuẩn SDM -HD
Chuẩn SDMX-HD (Statistical Data and Metadata Exchange – Health Domain)
là một chuẩn quốc tế hỗ trợ trao đổi các dữ liệu/thông tin thống kê và siêu dữ liệu giữa các hệ thống thông tin y tế SDMX mô tả siêu dữ liệu thống kê thông qua việc định nghĩa các cấu trúc dữ liệu; bao gồm các khái niệm, khía cạnh, thuộc tính, danh mục
mã hóa …
Chuẩn SDMX-HD thường được sử dụng trong các phần mềm y tế nhằm kết xuất ra các bảng báo cáo tổng hợp Chuẩn còn cho phép tạo ra các bảng ánh xạ giữa các chỉ số và các lĩnh vực liên quan hỗ trợ cho phần DataSetDefinition trong SDMX-
HD Bên cạnh đó, SDMX-HD còn cho phép người dùng xác định mô hình thông tin nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc trình bày dữ liệu Để đạt được mục đích trên, người dùng cần có những thành phần cơ bản sau:
- Mô tả khái niệm: nhằm hiểu được ý nghĩa dữ liệu thống kê, chúng ta cần phải biết các khái niệm liên quan đến nó (ví dụ, chỉ riêng con số 1,2953 là vô nghĩa, nhưng nếu chúng ta biết rằng đây là một tỷ giá hối đoái cho đồng đô la Mỹ so với euro, các yếu tố bổ trợ làm cho chỉ số bắt đầu có ý nghĩa)
- Cấu trúc nhóm dữ liệu: Dữ liệu thống kê có thể được nhóm lại với nhau Các mức được định nghĩa sau đây:
Mức độ quan sát (đo lường của hiện tượng một số)
Các cấp độ (đo theo thời gian của hiện tượng một số người, thường là sau một khoảng thời thường xuyên)
Trang 27Cấp độ nhóm (nhóm của loạt bài Một ví dụ nổi tiếng là nhóm anh chị em, trong
đó có một tập của loạt bài này là giống nhau ngoại trừ việc họ được đo với tần số khác nhau)
Thiết lập các bộ/tập dữ liệu hoặc phân cấp dòng dữ liệu (tạo thành nhiều nhóm,
ví dụ để trang trải một tên miền cụ thể thống kê) Các khái niệm mô tả nêu tại điểm 1
có thể được gắn ở các cấp độ khác nhau trong hệ thống phân cấp này Khía cạnh và thuộc tính: Có hai loại: những yếu tố người có thể xác định và mô tả được dữ liệu được gọi là khía cạnh hay lĩnh vực dữ liệu, và những yếu tố nào mang tính mô tả thì được gọi là các thuộc tính
- Từ khóa: lĩnh vực dữ liệu được nhóm vào thành những khóa, cho phép việc xác định một tập hợp các dữ liệu Các giá trị từ khóa được gắn ở cấp độ, và được đưa ra theo một trình tự cố định
- Danh sách mã: Mỗi giá trị trong một lĩnh vực được định nghĩa trong một danh sách mã Mỗi giá trị trên danh sách đó được đưa ra một chữ viết tắt (một mã) và mô tả một ngôn ngữ cụ thể Các thuộc tính đôi khi được đại diện bằng mã số, nhưng đôi khi đại diện bởi các giá trị văn bản tự do Điều này cho chúng ta thấy rằng mục đích của một thuộc tính chỉ là để mô tả và không xác định được dữ liệu
- Xác định cấu trúc dữ liệu: Xác định cấu trúc dữ liệu là xác định một tập hợp các khái niệm trong đó mô tả và xác định một tập hợp các dữ liệu Các khái niệm trong các lĩnh vực (nhận dạng và mô tả), và các thuộc tính đi kèm, và
nó mang lại cho mỗi cấp độ của các khái niệm này, dựa trên cấu trúc nhóm (Data Set, Group, Series, Observation) cũng như tình trạng của chúng (so với điều kiện bắt buộc)
Chúng cũng quy định cụ thể trong đó liệt kê giá trị có thể đang cung cấp cho các lĩnh vực liên quan, cũng như các giá trị các thuộc tính nếu có, hoặc như là danh sách mã hoặc các lĩnh vực văn bản tự do
1.3.2 Chuẩn sử dụng biểu diễn EMR dùng trong trao đổi dữ liệu
Các dữ liệu hồ sơ bệnh án khi lưu tại CSDL hệ thống theo các khuôn dạng khác nhau qui định bởi các nhà phát triển phần mềm Do mỗi nhà cung cấp giải pháp phần
Trang 28mềm thiết kế hệ thống CSDL theo các công nghệ, kiểu dữ liệu khác nhau dẫn đến việc khó khăn trong việc trao đổi dữ liệu hồ sơ bệnh án
Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học đã đề xuất nhiều phương pháp cũng như cách tiếp cận sử dụng SNOMED, CDA… tuy nhiên, các cách tiếp cận thường vấp phải các vấn đề: thiếu tham chiếu miền hay không có khả năng thể hiện các thay đổi
bổ sung cũng như các tham chiếu liên quan đến thời gian Có thể nhận thấy vấn đề chính trong việc trao đổi dữ liệu hồ sơ bệnh án giữa các bệnh viện và các cơ sở khám chữa bệnh đó là việc:
- Không sử dụng chung một hệ thống danh mục chuẩn tham chiếu
- Dữ liệu được lưu ở các định dạng khác nhau
Qua nghiên cứu các tài liệu và các kinh nghiệm trên thế giới, chúng tôi nhận thấy, việc áp dụng một kiến trúc linh hoạt trong việc biểu diễn dữ liệu y tế cần giải quyết được các vấn đề:
- Linh hoạt trong khai báo và biểu diễn các cấu trúc dữ liệu khác nhau
- Có khả năng mở rộng, đáp ứng các miền giá trị có thể không nằm trong các
mô hình tham chiếu
Khi đã có kiến trúc qui định chung cho các hệ thống thông tin y tế, việc trao đổi
dữ liệu sẽ dễ dàng hơn rất nhiều
Về mặt công nghệ, để có thể đáp ứng các vấn đề nói trên, SNOMED thiếu khả năng biểu diễn nhiều loại dữ liệu và chỉ được sử dụng như một từ điển tham chiếu Trong khi đó, CDA được phát triển dựa trên HL7, có khả năng bao quát cả SNOMED
và LOINC, hệ thống mã hóa các thuật ngữ y tế, biểu diễn dữ liệu sử dụng XML cho phép biểu diễn nhiều kiểu dữ liệu khác nhau
Trong đồ án đề xuất sử dụng CDA như một chuẩn chính thức áp dụng cho việc trao đổi thông tin y tế giữa các cơ sở khám, chữa bệnh
1.3.3 Vấn đề xây dựng bệnh án điện tử dùng chung
Hệ thống quản lý bệnh án điện tử (EMR) được tổ chức nhằm mục tiêu lưu trữ, ghi nhận và quản lý thông tin lưu chuyển trong bệnh viện và các cơ sở khám, chữa bệnh Đối với mỗi chuyên khoa, chuyên khoa sâu lại cần các chỉ tiêu khác nhau áp dụng cho từng bệnh án cụ thể Chính vì vậy, việc xây dựng một bệnh án điện tử dung
Trang 29chung cho tất cả các chuyên khoa gần như là một nhiệm vụ không thể thực hiện trong thời gian trước đây do các nhà cung cấp tổ chức CSDL của hệ thống theo khuôn dạng khác nhau không tuân theo một tiêu chuẩn chung Hệ thống bệnh án điện tử, như một
hệ thống độc lập đóng vai trò lưu trữ dữ liệu hồ sơ bệnh án dưới dạng điện tử tại các bệnh viện là nhằm mục tiêu chuẩn hóa được việc lưu trữ các dạng hồ sơ bệnh án khác nhau Hệ thống này được cung cấp dữ liệu bởi hệ thống quản lý bệnh viện
Với cách tiếp cận này, các bệnh viện vẫn sẽ an tâm về tính bảo mật thông tin của các hồ sơ bệnh án, đồng thời, đảm bảo tuân theo chuẩn dùng chung trong trao đổi
dữ liệu bệnh án
Kiến trúc dữ liệu lưu trữ trong hệ thống bệnh án điện tử tại bệnh viện sẽ dần từng bước được phát triển để có thể mở rộng cho các dạng bệnh án sử dụng riêng cho các chuyên khoa sâu tuân theo kiến trúc tài liệu lâm sàng CDA Theo đó, trong thời gian trước mắt, sẽ thực hiện xây dựng kiến trúc dữ liệu bệnh án cho các bệnh viện nằm trong danh sách địa điểm đầu tư Đúc kết kinh nghiệm và phát triển dần mô hình CDA
áp dụng cho nhiều bệnh viện khác trong hệ thống bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh tại Việt Nam
Về vấn đề pháp lý liên quan đến cung cấp thông tin hồ sơ bệnh án điện tử, hồ
sơ bệnh án điện tử cần được coi có giá trị pháp lý tương đương với hình thức truyền thống Đương nhiên, việc xác định thông tin nào được phép cung cấp, trao đổi sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành tại Việt Nam
Như vậy, với cách tiếp cận nâng cấp hệ thống quản lý bệnh viện có sẵn tại các bệnh viện với tư cách là hệ thống nguồn cung cấp dữ liệu cho hệ thống bệnh án điện tử
sẽ tránh được lãng phí khi phải xây dựng lại toàn bộ hệ thống mà đã và đang phục vụ tốt trong công tác quản lý của các đơn vị Đồng thời, hệ thống lưu trữ bệnh án điện tử được xây dựng như một hệ thống riêng có tương tác với hệ thống HIS giúp cho việc chuyên môn hóa cũng như chuẩn hóa dữ liệu lưu trữ, từ hồ sơ bệnh án cho đến các danh mục tham chiếu dùng chung trên toàn bộ các bệnh viện trong dự án sẽ giúp cho việc tăng cường hiêu quả khi trao đổi dữ liệu hồ sơ bệnh án giữa các đơn vị
Trang 30Việc giảm thiểu các tác động tiêu cực đến hệ thống HIS đang hoạt động tại các bệnh viện sẽ tránh được ảnh hưởng đến điều hành công việc hàng ngày của hệ thống
Hệ thống lưu trữ bệnh án điện tử hoạt động như một hệ thống độc lập, trợ giúp cho việc trao đổi thông tin một cách thuận tiện và nhanh chóng Trong tương lai, các hệ thống này hoàn toàn có thể tiếp tục được nâng cấp để bổ sung và thay thế dần cho các
hệ thống HIS vốn không được xây dựng dựa trên nền các chuẩn được quốc tế công nhận và áp dụng nhiều năm nay
Trang 31CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH BỆNH ÁN ĐIỆN TỬ ĐA PHƯƠNG TIỆN I-EMR TRONG HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ
BỆNH VIỆN
Bệnh án điện tử nói chung và bệnh án điện tử đa phương tiện nói riêng là một thánh phần của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện, do vậy để triển khai được I-EMR cần phải tương thích và là một thành phần cấu thành của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện tổng thể từ các bệnh viện đến Sở Y tế hoặc Bộ Y tế
2.1 Kiến trúc tổng thể của hệ thống thông tin quản lý bệnh viện kết hợp I-EMR
2.1.1 Mô hình hệ thống
Để thực hiện trao đổi thông tin giữa các hệ thống cần sử dụng chuẩn trao đổi thông tin dùng chung Hiện nay, việc sử dụng HL7 cho các hệ thống trong nội bộ một đơn vị, bệnh viện có thể trao đổi thông tin, dữ liệu với nhau đã trở thành khuôn mẫu Thông tin, dữ liệu thực hiện trao đổi giữa các bệnh viện được thực hiện thông qua hệ thống bệnh án điện tử với nguồn dữ liệu tác nghiệp là từ hệ thống HIS Để có thể thực hiện điều này, các hệ thống HIS tại các bệnh viện cần được chỉnh sửa để đáp ứng các
Hình 2 1 Mô hình hệ thống thông tin quản lý bệnh viện kết hợp với EMR và
kết nối toàn hệ thống
Trang 32yêu cầu:
- Hỗ trợ đầy đủ hệ thống EMR
- Có khả năng kết xuất thông tin dạng HL7
- Có khả năng nhận thông tin dạng HL7 từ nơi khác chuyển đến (có thể cả từ nước ngoài) thông qua hệ thống HL7 CORE SYSTEM
- Việc kết xuất được thực hiện từ HIS vào hệ thống HL7 CORE BỆNH VIỆN
dữ liệu danh mục hệ thống phục vụ cho việc trao đổi này được cung cấp bởi HL7 CORE BỆNH VIỆN (nằm trong hệ thống bệnh án điện tử) HL7 CORE BỆNH VIỆN sẽ cung cấp các danh mục phổ biến phục vụ chuyên môn, báo cáo: ICD10, Địa bàn hành chính, thuốc và dược phẩm, thư viện phác đồ
Giữa các hệ thống HL7CORE Bệnh viện tồn tại điểm trung gian được đặt tại
Sở Y tế, đảm bảo chức năng điều hành, điều phối khi thực hiện triển khai mở rộng
Hệ thống HL7 CORE GATEWAY đóng vai trò quản lý trung tâm đối với mọi hoạt động trao đổi dữ liệu bệnh án điện tử giữa các điểm và là một phần quan trọng của hệ thống
2.1.2 Mô hình I-EMR:
Hệ thống I-EMR bao gồm các chức năng cơ sở dữ liệu cốt lõi của EMR, phần mềm trung gian HL7 hỗ trợ trao đổi các bản tin HL7, phần mềm trung gian DICOM cho trao đổi hình ảnh y khoa, dịch vụ web, và máy chủ ứng dụng
Hệ thống EMR cài đặt ở bệnh viện phục vụ như một hệ thống quản lý thực tiễn,
ví dụ như kê đơn thuốc, và ứng dụng thanh toán y tế Hệ thống EMR cung cấp giao diện hỗ trợ người dùng tương tác với dữ liệu được lưu trữ tại một cơ sở dữ liệu tập trung Các máy chủ cơ sở dữ liệu tập trung được thiết kế và triển khai tuân theo các chức năng lưu trữ và lấy dữ liệu bệnh nhân, lâm sàng từ Các máy chủ cơ sở dữ liệu tập trung bao gồm các máy chủ chính và máy chủ dự phòng Trong trường hợp máy chủ chính bị lỗi hay không hoạt động, các máy chủ dự phòng sẽ được chuyển sang chế
độ máy chủ chính để đảm bảo kết nối và hoạt động liên tục
Những người sử dụng (bác sĩ hoặc y tá) có thể sử dụng máy tính cá nhân (laptop or notebook), hoặc các máy trạm, hoặc thiết bị cầm tay kết nối vào hệ thống
Trang 33EMR qua mạng nội bộ hoặc internet Trong thiết kế, các máy trạm được cài đặt các trình duyệt web hay là phần mềm máy con, tất cả phụ thuộc chủ yếu vào các máy chủ trung tâm đảm bảo chocác tiến trình hoạt động, và chủ yếu tập trung vào dữ liệu đầu vào và đầu ra giữa người dùng và máy chủ từ xa
Hệ thống EMR có các
phần mềm hay module trung
gian để giao tiếp và trao đổi
thông tin lâm sàng khi có nhu
cầu tích hợp thông tin Những
phần mềm hay module trung
gian này hỗ trợ thu thập và
sắp xếp dữ liệu lâm sàng từ
nhiều nguồn khác nhau chẳng
hạn từ các thiết bị giám sát y
tế, thiết bị hình ảnh y tế Các
module giao tiếp chính được
xử lý bởi module trung gian HL7 Các module HL7 trung gian được phát triển dựa trên tiêu chuẩn quốc tế HL7 nhằm tạo điều kiện thuận lợi, và nâng cao khả năng tương tác cho những phiên giao tiếp và trao đổi thông tin giữa các hệ thống thông tin y tế
Hơn nữa, lớp ứng dụng của hệ thống bệnh án điện tử EMR bao gồm một số ứng dụng thành phần như quản lý dữ liệu, quy trình quản lý, giao diện hoặc module tích hợp, quản lý thông tin, dịch vụ vận tải, vv Một vài ứng dụng liên quan kết nối với EMR như hệ thống thông tin xét nghiệm, hệ thống lịch hẹn, hệ thống lưu trữ hình ảnh, v.v CDA/CCD là một tài liệu XML có thể bao gồm văn bản, hình ảnh, âm thanh, và nội dung đa phương tiện khác Sự phức tạp của một CDA/CCD có thể được kết hợp và tạo thành do sự phức tạp của vật liệu liên quan sẽ được dùng đến Điều này cho phép một sự tiến triển từ việc sử dụng các tài liệu rất đơn giản để chuyển thành nhiều tài liệu phức tạp nhằm đáp ứng được yêu cầu của các tổ chức sử dụng chúng Ngoài ra, XSL sẽ hỗ trợ việc xác định khung và dịnh dạng dữ liệu cho việc hiển thị trên màn hình máy tính hoặc xuất ra biễu mẫu để in ấn
Hình 2 2 Kiến trúc tổng thể hệ thống EMR
Trang 342.2 Các chức năng chính của I-EMR
Các chức năng chính của hệ thống EMR sẽ được mô tả chi tiết trong bảng sau:
Trang 35Bảng 2 1 Các chức năng chính của I-EMR
1 Điều trị EMR
- Hồ sơ nhập viện
- Khởi tạo hồ sơ cho bệnh nhân ngoại trú
- Hồ sơ theo dõi
- Danh sách các vấn đề
- Danh sách các tiến trình
- Hồ sơ giải phẫu/gây mê
- Hồ sơ xuất viện
- Hồ sơ tư vấn
- Hồ sơ điều trị đặc biệt, v.v
- Hồ sơ thực hiện các yêu cầu liên quan
- Lịch sử điều dưỡng
- Hồ sơ phòng xét nghiệm
2 Điều dưỡng EMR
- Quá trình điều dưỡng
- Hồ sơ xuất viện
- Hồ sơ y tá đặc biệt
- Hồ sơ thay đổi
- Hồ sơ y tá phòng giải phẫu
5 Chức năng tìm kiếm Mỗi tìm kiếm và truy xuất của EMR, hình ảnh và kiếm
kết quả từ phòng xét nghiệm.Chức năng tài liệu
6 Mẫu tài liệu, chức năng
tài liệu
Chức năng chỉnh sửa hình ảnh và tài liệu
Trang 362.3 Các module chính của I-EMR
Hệ thống EMR được thiết kế và xây dựng dựa trên mô hình các module hoạt động độc lập, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng, triển khai, nâng cấp và bảo trì hệ thống
Hệ thống module phải tuân theo các tiêu chí sau:
- Dễ dàng thêm và loại bỏ module
- Module có khả năng truy xuất hoàn toàn trên hệ thống
- Module cho phép cập nhật, chỉnh sửa và nâng cấp
- Module phải có khả năng đồng bộ với các dữ liệu/thông tin trên hệ thống
- Module phải có khả năng đồng bộ với các dữ liệu/thông tin trên hệ thống Các module chính dự kiến bao gồm:
- Module tạo mẫu
- Module các triệu chứng
- Module tích hợp theo chuẩn SDMX-HD
- Module hồ sơ bệnh nhân
- Module báo cáo
- Module thẻ từ, barcode Module Xform
- Module sao lưu dữ liệu
- Module chia sẻ siêu dữ liệu Module xem các đoạn video clip
- Module nhập/xuất (các tài liệu)
- Module viện phí
- Module quản lý ghi lại vết
- Module tích hợp dữ liệu bệnh nhân
- Module quản lý bảo hiểm
- Module quản lý thông tin xét nghiệm
Trang 37- Module danh mục các thuật ngữ
- Module in ấn
2.4 Chức năng của HL7 CORE SYSTEM tại Bệnh viện:
Dữ liệu EMR được gửi từ các hệ thống HL7CORE tại các bệnh viện thông qua
hệ thống HL7CORE GATEWAY tại Sở Y tế tới hệ thống HL7CORE tại bệnh viện Việc nhận EMR từ các hệ thống khác tuân theo qui trình sau:
(1) Dữ liệu EMR được mã hóa, áp dụng giao thức HL7 với định dạng CDA tại nơi gửi thông qua HL7CORE GATEWAY tới vùng tạm trao đổi dữ liệu trong hệ thống HL7CORE bệnh viện
(2) Quản trị hệ thống thực hiện duyệt danh sách các EMR được gửi đến qua hệ thống HL7CORE và thực hiện chuyển các EMR này vào hệ thống
(3) Chuyển các EMR đã được kiểm tra vào hệ thống HIS, phục vụ công tác khám/chữa bệnh cho bệnh nhân
(4) Ghi nhận vết trao đổi dữ liệu
Dữ liệu EMR của bệnh nhân được gửi đến hệ thống HL7CORE đích thông qua HL7CORE GATEWAY
Việc gửi EMR từ các hệ thống khác tuân theo qui trình sau:
(1) Dữ liệu EMR được mã hóa và đóng gói với định dạng CDA
(2) Bổ sung thông tin về nơi gửi, nơi nhận, thời gian tồn tại tại bệnh viện
(3) Gói dữ liệu nói trên được chuyển đến HL7CORE GATEWAY
(4) Ghi nhận vết trao đổi dữ liệu
Hình 2 3 Mô hình trao đổi thông tin giữa các HL7 Core tại Bệnh viện
Trang 38Hệ thống HL7 CORE cần đáp ứng các yêu cầu nêu trong phần trên, với các mục tiêu chính:
- Hỗ trợ quản lý các hồ sơ bệnh án điện tử
- Cung cấp công cụ diễn giải thông tin bệnh án dưới dạng HL7, hỗ trợ đưa vào lưu trữ trong CSDL hệ thống
- Cung cấp công cụ kết xuất thông tin bệnh án dưới dạng HL7
- Cung cấp công cụ với giao diện thực hiện trao đổi dữ liệu với các bệnh viện,
cơ sở khám, chữa bệnh qua mạng internet hoặc hình thức file, USB
- Cung cấp công cụ nhận dữ liệu đã được ánh xạ bởi Interface Engine từ các thông tin kết xuất bởi hệ thống HIS
- Công cụ trao đổi, quản lý danh mục chuẩn
- Xây dựng hệ thống HL7 CORE phục vụ trao đổi thông tin Bệnh án điện tử tại Bệnh Viện
Bảng 2 2 Các chức năng của hệ thống HL7 CORE
- Tổ chức dữ liệu lịch sử sao cho dễ theo dõi, sử dụng
- Cho phép lựa chọn xem lần thực hiện khám, chữa bệnh, hiển thị các thông tin:
- Thông tin hành chính bệnh nhân
- Thông tin về các thuốc đã sử dụng
Trang 39- Thông tin về thực hiện các phác đồ điều trị
- Thông tin tiền sử bệnh tật (danh sách các bệnh mắc phải) - Thông tin gia đình
- Các thông tin về chức năng sống gần nhất
- Thông tin dị ứng
- Các thông tin chủng ngừa
- Các y lệnh đã ra và kết quả
- Các kết quả chẩn đoán, hình ảnh
- Các ghi chép của điều dưỡng viên
- Thông tin thanh toán: bảo hiểm y tế, chi phí dịch vụ tự chi trả, cùng chi trả
- Cho phép xem thông tin nêu trên nếu trường hợp dữ liệu bệnh án được gửi dưới dạng file điện tử theo chuẩn HL7
- Cho phép xem lại thông tin bệnh án đã kết xuất để kiểm tra
- Cho phép xác nhận bệnh án đã đượckiểm tra trước khi gửi
đi
- Cho phép kiểm tra tính sẵn sàng của hệ thống nguồn
- Cho phép đặt lịch đồng bộ dữ liệu với hệ thống HIS
- Cho phép thực hiện đồng bộ bằng công cụ manual
- Cho phép ghi vết quá trình đồng bộ: bao nhiêu EMR thành công, bao nhiêu hồ sơ thất bại, bao nhiêu EMR đủ thông tin, bao nhiêu EMR thiếu thông tin
Trang 40xóa các hồ sơ giao diện
- Cho phép báo cáo thống kê tình trạng giao diện dữ liệu tổng hợp theo ngày, tháng, năm hoặc theo thời điểm bất kỳ
- Đóng gói và mã hóa các gói dữ liệu
- Kiểm tra thông tin quyền mở mã hóa gói dữ liệu EMR dạng HL7
- Danh mục địa bàn hành chính theo Tổng Cục Thống kê
- Danh mục mã bệnh chuẩn ICD10
- Danh mục mã dược phẩm ATC theo WHO
- Mã quản lý danh mục phòng xét nghiệm LOINC
- Mã SNOMED CT danh mục hệ thống hóa trong y tế
- ELINCS chuẩn trao đổi dữ liệu từ các máy xét nghiệm
6 Mô đun quản lý
danh mục
Các chức năng chung cho module quản lý danh mục
- Cho phép nhập thêm, cập nhật, chỉnh sửa, hỗ trợ song ngữ Anh, Việt
- Cho phép đồng bộ dữ liệu từ các nguồn dữ liệu từ HL7 CORE tại bệnh viện bất kỳ
- Cho phép kiểm duyệt nội dung danh mục mới trước khi đưa vào hệ thống tại đầu cuối
- Cho phép tìm kiếm các danh mục
- Cho phép thống kê các danh mục mới theo thời gian bắt đầu hiệu trong hệ thống địa phương; tình hình áp dụng hệ thống
mã danh mục trong toàn mạng lưới các HL7 CORE
7 Mô đun quản
trị chức năng
- Tạo lập, phân quyền người sử dụng (account) cho các bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh tham gia mạng chia sẻ thông tin