PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phát thanh là một trong những phương tiện truyền thông năng động, có tính tương tác cao, thiết thực, gần gũi với cuộc sống, không chỉ cung cấp thông tin, mà còn là kênh văn hóa giải trí phục vụ rộng rãi công chúng. Người làm báo phát thanh ngày nay rất quan tâm đến những thói quen và sở thích của từng nhóm công chúng nghe Đài, không ngừng cải tiến về hình thức để các chương trình phát thanh ngày càng gần gũi hơn với thính giả, phù hợp vớ i từng đối tượng nghe Đài, đáp ứng thị hiếu ở từng độ tuổi... Từ thực tế trong đời sống hiện đại con người vốn bận rộn và căng thẳng thì các chương trình văn nghệ ngày càng được quan tâm, có vị thế quan trọng, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của con người. Văn nghệ còn là một hình thức để phản ánh hiện thực đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm của con người đối với môi trường xã hội. Nếu như báo truyền hình mạnh về các chương trình vui chơi, giao lưu; báo in mạnh về truyện cười, câu đố vui, tranh biếm họa thì báo phát thanh có thế mạnh trong việc đem lời thoại và âm nhạc đến với con người, mang lại sự thư giãn, đẩy lùi căng thẳng, tái tạo sức lao động, làm giàu đời sống tinh thần của công chúng. Trong nhiều năm qua, đời sống văn hóa, văn nghệ ĐBSCL có nhiều khởi sắc. Người dân đã có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận, tham gia và thưởng thức các loại hình văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí thông qua nhiều hình thức, trong đó có các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh. Với tư cách là một kênh thông tin văn hóa, giải trí lành mạnh, trong thời gian qua, sóng phát thanh của các Đài PTTH trong khu vực đã mang đến công chúng ĐBSCL nhiều món ăn tinh thần bổ ích, đa dạng, phong phú về nội dung và hình thức thể hiện. Công chúng có nhiều cơ hội tham gia các chương trình âm nhạc tương tác trực tiếp như: Quà tặng âm nhạc, Ca cổ theo yêu cầu, Tiểu phẩm, Câu chuyện truyền thanh, Đọc truyện đêm khuya, ĐCTT, Sân khấu cải lương... mang nhiều sắc thái riêng, đáp ứng đời sống tinh thần, nhu cầu giải trí của đông đảo công chúng khu vực. Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, một chương trình phát thanh, để ra đời, trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng. Việc thiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanh cũng đều cần phải căn cứ vào nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, sở thích của công chúng. Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhất định. Công chúng là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình. Công chúng còn là người tiếp nhận và đánh giá, thẩm định chất lượng của các chương trình phát thanh. Công chúng là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình. Tuy nhiên, tại khu vực Tây Nam bộ chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về thói quen, sở thích, mối quan tâm của công chúng nghe Đài đối với các chương trình văn nghệ trên các Đài địa phương. Các chương trình PTVN được sản xuất hầu hết chưa dựa trên nghiên cứu công chúng nên chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng cũng như những nhận xét, đánh giá của công chúng về chất lượng nội dung và hình thức thể hiện. Đặc biệt, công chúng hiện nay được tiếp cận nhiều nội dung văn nghệ tràn ngập trên không gian mạng và các hoạt động văn nghệ, giải trí trên thực tế cũng diễn ra với tần suất lớn, họ có nhiều sự lựa chọn cùng với các thiết bị nghe nhìn hiện đại. Cùng với đó là sự phát triển nhanh như vũ bão về công nghệ và sự cạnh tranh để thu hút công chúng giữa các loại hình báo chí, những tác phẩm PTVN sản xuất theo truyền thống không còn thu hút sự theo dõi và tham gia của người nghe. Thực tế này đòi hỏi chương trình PTVN cần xác định đối tượng công chúng và mục đích của chương trình để từ đó định hướng những công việc phải làm, sản xuất ra những chương trình văn nghệ thu hút đông đảo thính giả, đi vào lòng người nghe. Vì vậy việc nghiên cứu công chúng và những giải pháp phát triển, thu hút công chúng đang là một vấn đề cấp bách để làm căn cứ, hoạch định hoạt động của các chương trình PTVN trên nguyên tắc xác định rõ công chúng của mình là ai, họ mong muốn gì, hy vọng gì và chờ đợi điều gì từ phía các Đài PTTH. Từ đó có phương án, kế hoạch, phục vụ công chúng của mình một cách hữu hiệu nhất. Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài “Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PTTH địa phương” làm luận văn thạc sĩ của mình.
Trang 1Phát thanh là một trong những phương tiện truyền thông năng động, có tínhtương tác cao, thiết thực, gần gũi với cuộc sống, không chỉ cung cấp thông tin, màcòn là kênh văn hóa giải trí phục vụ rộng rãi công chúng Người làm báo phát thanhngày nay rất quan tâm đến những thói quen và sở thích của từng nhóm công chúngnghe Đài, không ngừng cải tiến về hình thức để các chương trình phát thanh ngàycàng gần gũi hơn với thính giả, phù hợp vớ i từng đối tượng nghe Đài, đáp ứng thịhiếu ở từng độ tuổi
Từ thực tế trong đời sống hiện đại con người vốn bận rộn và căng thẳng thì cácchương trình văn nghệ ngày càng được quan tâm, có vị thế quan trọng, trở thànhnhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa, tinh thần của con người Văn nghệcòn là một hình thức để phản ánh hiện thực đời sống xã hội, tư tưởng, tình cảm củacon người đối với môi trường xã hội Nếu như báo truyền hình mạnh về các chươngtrình vui chơi, giao lưu; báo in mạnh về truyện cười, câu đố vui, tranh biếm họa thìbáo phát thanh có thế mạnh trong việc đem lời thoại và âm nhạc đến với con người,mang lại sự thư giãn, đẩy lùi căng thẳng, tái tạo sức lao động, làm giàu đời sống tinhthần của công chúng
Trong nhiều năm qua, đời sống văn hóa, văn nghệ ĐBSCL có nhiều khởi sắc.Người dân đã có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận, tham gia và thưởng thức các loại hìnhvăn học nghệ thuật, vui chơi giải trí thông qua nhiều hình thức, trong đó có cácchương trình văn nghệ trên sóng phát thanh Với tư cách là một kênh thông tin văn
Trang 2nhu cầu giải trí của đông đảo công chúng khu vực.
Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, một chương trìnhphát thanh, để ra đời, trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng Việc thiết lập nộidung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanh cũngđều cần phải căn cứ vào nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, sở thích của công chúng.Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhất định.Công chúng là yếu tố quyết định đối với thành công của các chương trình Côngchúng còn là người tiếp nhận và đánh giá, thẩm định chất lượng của các chươngtrình phát thanh Công chúng là yếu tố quyết định đối với thành công của cácchương trình Tuy nhiên, tại khu vực Tây Nam bộ chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu
về thói quen, sở thích, mối quan tâm của công chúng nghe Đài đối với các chươngtrình văn nghệ trên các Đài địa phương Các chương trình PTVN được sản xuất hầuhết chưa dựa trên nghiên cứu công chúng nên chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu,nguyện vọng cũng như những nhận xét, đánh giá của công chúng về chất lượng nộidung và hình thức thể hiện Đặc biệt, công chúng hiện nay được tiếp cận nhiều nộidung văn nghệ tràn ngập trên không gian mạng và các hoạt động văn nghệ, giải trítrên thực tế cũng diễn ra với tần suất lớn, họ có nhiều sự lựa chọn cùng với các thiết
bị nghe nhìn hiện đại Cùng với đó là sự phát triển nhanh như vũ bão về công nghệ
và sự cạnh tranh để thu hút công chúng giữa các loại hình báo chí, những tác phẩmPTVN sản xuất theo truyền thống không còn thu hút sự theo dõi và tham gia củangười nghe Thực tế này đòi hỏi chương trình PTVN cần xác định đối tượng côngchúng và mục đích của chương trình để từ đó định hướng những công việc phải làm,sản xuất ra những chương trình văn nghệ thu hút đông đảo thính giả, đi vào lòngngười nghe Vì vậy việc nghiên cứu công chúng và những giải pháp phát triển, thu
22
Trang 3họ mong muốn gì, hy vọng gì và chờ đợi điều gì từ phía các Đài PT-TH Từ đó cóphương án, kế hoạch, phục vụ công chúng của mình một cách hữu hiệu nhất.
Xuất phát từ thực tế trên tôi chọn đề tài “Công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu
* Nhóm các công trình nghiên cứu về công chúng báo chí
- Năm 1998, Trần Hữu Quang tiến hành bảo vệ Luận án Tiến sĩ Xã hội học
"Truyền thông đại chúng và công chúng - trường hợp thành phố Hồ Chí Minh ” Luận án là công trình mang tính đại diện và nghiên cứu công chúng
truyền thông, mức độ và cách thức tiếp cận các phương tiện truyền thông đạichúng của người dân thành phố Hồ Chí Minh, phân tích tương quan giữa đọcbáo, xem truyền hình và nghe Đài phát thanh, "các trục nội dung thườngđược theo dõi", "các mô thức tiếp nhận truyền thông đại chúng", "sự tác độngcủa một số nhân tố", những luận giải khoa học từ kết quả điều tra xã hội học
Ở công trình “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” năm 2006, tácgiả Nguyễn Văn Dững chủ biên, với phương pháp tiếp cận hệ thống, các tác giả đề cập vấn đề nghiên cứu công chúng - nhómđối tượng trong mối quan hệ một chu trình truyền thông, phân tích nội dung của nghiên cứu ban đầu về công chúng, gồm ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu
Trang 4mô thức tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội, đồng thời, chỉ ranhững nhân tố tác động, ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp nhận này.Trên cơ sở kếtquả nghiên cứu, luận án dự báo một số xu hướng vận động của nhu cầu vàđưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động báo chí.
- Bàn luận về công chúng báo chí - truyền thông trên bình diện lý thuyết xãhội học công chúng, tác giả Mai Quỳnh Nam có nhiều bài viết về lý luận vàtác động của truyền thông đại chúng đối với đời sống xã hội Cụ thể là các
bài nghiên cứu: “Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội” - Tạp chí Xã hội học số 1 năm 1996, “Về đặc điểm và tính chất của giao tiếp đại chúng' - Tạp chí Xã hội học số 2 năm 2000, “Về vấn đề nghiên cứu hiệu quả của truyền thông đại chúng" - Tạp chí Xã hội học số 4 năm 2001, “Xã hội hóa và truyền thông đại chúng" - Tạp chí nghiên cứu con người số 6 năm 2010.
* Nhóm công trình nghiên cứu về phát thanh và công chúng phát thanh:
- Sách chuyên luận “Nghề báo nói ” của tác giả Nguyễn Đình Lương do Nhà
xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993 Nội dung sách gồm bảyphần, trong đó đã đề cập một cách tổng quát về đặc trưng, phương pháp, thểtài và những vấn đề thuộc về nguyên lý, kỹ năng và quy trình nghề báo phátthanh; phát thanh với thính giả v.v
- Giáo trình “Báo chí phát thanh ” do 13 tác giả ở Phân viện Báo chí và
Tuyên truyền và Đài TNVN viết (Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hànhnăm 2002) có tổng cộng 20 chương, đề cập một cách khá toàn diện về nhữngvấn đề của phát thanh Việt Nam hiện đại
44
Trang 5đề của đặc trưng loại hình và các thể loại báo phát thanh.
- Cuốn Báo phát thanh -lý thuyết và kỹ năng cơ bản của TS Đinh Thị Thu
Hằng bàn về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp trongtương quan so sánh với phương thức sản xuất chương trình phát thanh truyềnthống, đồng thời chỉ ra những yêu cầu của phương thức này
- Cuộc điều tra xã hội học của Đài TNVN và Ban Tư tưởng- Văn hoá Trungương (2001), tiến hành trên 30 tỉnh, thành phố trong cả nước, cho thấy, mức
độ, cách thức nghe Đài của thính giả, thay đổi theo giới tính, độ tuổi, mứcsống, nơi sống, học vấn Tại mỗi tỉnh, thành phố điều tra những lý do thínhgiả không nghe Đài, những đánh giá chất lượng, nguyện vọng và đề xuất củathính giả
- Sách “Phương pháp điều tra thính giả” năm 2003 của Đài TNVN tập hợp
một số chuyên luận của Nguyễn Đình Lương, Nguyễn Văn Dững, DươngXuân Sơn, Phạm Chiến Khu vừa nêu rõ vai trò của điều tra dư luận xã hội,
dư luận thính giả, vừa đề cập một số vấn đề về công chúng, lý luận vềphương pháp và ngôn ngữ điều tra thính giả
- Sách “Báo Phát thanh ” năm 2002 và sách “Công chúng phát thanh ” của
tác giả Nguyễn Văn Dững có định nghĩa khái niệm công chúng, các loại côngchúng báo chí, vai trò công chúng, các nội dung và phương pháp nghiên cứucông chúng
Trang 6vườn ” của Sơn Nam, 1998, NXB Trẻ;
- Sách “ĐBSCL qua vài nét văn hóa miệt vườn” của tác giả Nguyễn Văn Trần,
2000, NXB Văn hóa- Văn nghệ;
- Công trình nghiên cứu “Dân ca Cửu Long” của các tác giả Lư Nhất
Vũ-Nguyễn Văn Hòa- Lê Giang- Thạch An, Sở VHTT Cửu Long ấn hành năm1986;
- Sách “Ca nhạc cổ truyền ”, Lê Văn Ngưu biên soạn, NXB Văn nghệ
TPHCM, 1995;
Các sách và công trình trên nghiên cứu một cách toàn diện về ĐBSCL quanét sinh hoạt truyền thống và nền văn minh sông nước, những giá trị văn hóa tinhthần của một bộ phận người đã tạo nên diện mạo của một vùng đất này; Các giảipháp khắc phục thực trạng đời sống văn hóa, văn nghệ trong hiện tại, từng bướccủng cố, xây dựng chiến lược phát triển con người trên cơ sở xây
dựng lối sống văn hóa mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triểnvăn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
* Nhóm các công trình nghiên cứu về phát thanh địa phương và PTVN địa phương:
- Luận văn thạc sĩ của Trần Hoàng Kiệm chuyên ngành báo chí học, Học viện
Báo chí tuyên truyền Hà Nội (2015), “Đổi mới phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp của Đài Phát thanh -Truyền hình Vĩnh Long hiện nay” Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan, luận văn khảo sát một cách
có hệ thống về phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp củaĐài PT-TH Vĩnh Long
66
Trang 7chương trình phát thanh cấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL” Đây là đề
tài khảo sát một cách có hệ thống về chất lượng các chương trình phát thanhcấp tỉnh khu vực Bắc Sông Hậu, ĐBSCL, là bức tranh thực tế sinh động vềcác chương trình phát thanh Đài tỉnh Bắc Sông Hậu có thể tạo ra những sosánh cần thiết cho các Đài ở khu vực này có cơ sở tham khảo, đối chiếu vàvận dụng để nâng cao chất lượng chương trình của mình
- Luận văn thạc sĩ báo chí học của Bùi Trọng Điển, Học viện Báo chí và
tuyên truyền (2015), “Nghiên cứu nâng cao đặc trưng văn hóa miệt vườn sông nước Cửu Long trong các chương trình phát thanh của cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL” Luận văn đã chỉ rõ những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa miệt
vườn sông nước Cửu Long để xây dựng các sản phẩm phát thanh, chương trình phátthanh tương thích, phù hợp hơn với văn hóa đặc trưng của người dân Nam Bộ của
cơ quan thường trú khu vực ĐBSCL nói riêng và Đài TNVN nói chung
Các tài liệu, công trình nghiên cứu được tác giả luận văn tham khảo đã nêu ranhững vấn đề nghiên cứu công chúng trong mối quan hệ một chu trình truyền thông,
đi sâu phân tích, tìm hiểu về đặc điểm, nhu cầu, mối quan hệ, thói quen, cách thứctiếp cận thông tin của công chúng đối với báo chí và đề xuất giải pháp nâng cao chấtlượng chương trình, đáp ứng nhu cầu xem truyền hình, nghe phát thanh và đọc báocủa công chúng Tuy nhiên, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về công chúngĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh, đây vẫn còn là một đề tài
Trang 83 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến công chúng, vaitrò, đặc điểm, cách thức tìm hiểu về thói quen, nhu cầu, sở thích, cách thức tiếp cậncông chúng và thu hút công chúng, luận văn tiến hành khảo sát công chúng cácchương trình PTVN ở ĐBSCL để từ đó đề xuất những giải pháp, kiến nghị mangtính khả thi cho việc đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình nhằm đáp ứng tốthơn nhu cầu thưởng thức văn nghệ và phát triển, mở rộng công chúng văn nghệ ởkhu vực ĐBSCL
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn thực hiện một số nhiệm vụsau đây:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về công chúng phát thanh, xây dựngkhung lý thuyết để làm cơ sở cho việc khảo sát;
- Mô tả, khảo sát và phân tích làm rõ được thực trạng tiếp nhận chương trìnhvăn nghệ trên sóng phát thanh của công chúng khu vực ĐBSCL; Cách thứccác Đài PT-TH tiếp cận, thu hút công chúng;
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm thu hút, phát triển công chúngvới các chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địaphương khu vực Tây Nam bộ
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công chúng ĐBSCL, các chương trình văn nghệ trênsóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương
88
Trang 9việc tại khu vực thành thị và nông thôn các tỉnh trong diện khảo sát; Các chươngtrình văn nghệ trên sóng phát thanh được nhiều người yêu thích của các Đài PT-THVĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu (Quà tặng âm nhạc, ca cổ theo yêu cầu, Đờn catài tử Nam bộ, Câu lạc bộ sân khấu, Câu chuyện truyền thanh, Đọc truyện đêmkhuya).
Thời gian khảo sát từ tháng 06 đến 12/2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiến hành thực hiện luận văn sẽ sử dụng tổng hợp các phươngpháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích, khảo sát tài liệu: được sử dụng để tiếpcận các giáo trình và các sách chuyên khảo, các tài liệu, các công trìnhnghiên cứu có liên quan đến đề tài và một số tài liệu liên quan đến báo chíphát thanh, từ đó rút ra những vấn đề lý luận cần thiết
- Phương pháp điều tra bằng bằng hỏi: được thực hiện với 300 phiếu phát đếnthính giả chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh ở một số địa phươngĐBSCL thuộc 3 tỉnh Vĩnh Long, Kiên Giang và Bạc Liêu nhằm thu thập,phân tích một cách có định lượng ý kiến của thính giả thuộc các tầng lớpnhân dân đối với chương trình PTVN
- Phương pháp PV sâu: tác giả PV 9 đối tượng là lãnh đạo các Đài PT- TH,lãnh đạo phòng phát thanh (văn nghệ - giải trí) và các BTV văn nghệ, nhằm
Trang 106 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm sâu sắc thêm mảng lý luận về công chúng văn nghệ phát thanh và góp
phần bổ sung, làm phong phú hơn những luận điểm khoa họccho hệ thống lý luận báo chí truyền thông ở Việt Nam, đặc biệt là các nghiên cứu vềcông chúng truyền thông mang tính chất vùng miền với đặc trưng tâm lý, văn hóariêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đem lại cái nhìn khách quan, chân thực về công chúng các chươngtrình PTVN ở ĐBSCL để từ đó có những điều chỉnh thích hợp về chất lượng nộidung và hình thức chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-THkhu vực ĐBSCL Với những cứ liệu thực tế phong phú, luận văn có thể cung cấpcác dữ liệu cần thiết cho cơ quan quản lý báo chí, Ban Giám đốc, BBT các Đài cóthêm cơ sở khoa học để đầu tư đúng mức cho chương trình văn nghệ thực hiện trênsóng phát thanh Các nhà báo có thể tham khảo để nhìn nhận sâu hơn về thực trạngcông chúng ĐBSCL và các chương trình văn nghệ đồng thời tiếp cận cách đổi mới,nâng cao chất lượng chương trình phù hợp cho báo phát thanh trong thời gian tới.Việc nghiên cứu đề tài này cũng là cơ hội để tác giả luận văn có thể nâng cao kiếnthức sau thời gian học cao học Báo chí tại Trường Đại học KHXHNV Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luậnvăn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới công chúng củacác chương trình phát thanh văn nghệ
1010
Trang 11Chương 3 Một số giải pháp, kiến nghị nhằm thu hút, phát triển công chúng với các chương trình văn nghệ trên sóng phátthanh của các Đài PT-TH địa phương khu vực Tây Nam bộ.
Trang 12Tác giả E.P.Prôkhôrốp, Cơ sở lý luận báo chí (tập 1, tập 2, NXB Thông Tấn,
Hà Nội 2004) nêu khái niệm: “Công chúng tiếng Latinh- auditorium; audire có nghĩa là nghe; audiotor là người nghe, đó là cộng đồng người, những người mà phương tiện thông tin đại chúng hướng tới và là những ai cảm thụ những thông tin được hướng tới họ.
Trong truyền thông: “Công chúng nói chung có thể được hiểu là những người tiếp nhận và được các sản phẩm báo chí tác động, hoặc hướng vào để tác động” [13, tr.397].
Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững tác giả quyển Báo chí và Dư luận xã hội (2012) thì: Công chúng là đông đảo người trong mối quan hệ với “người diễn thuyết”, người biễu diễn, với tác giả, tác phẩm báo chF [13, tr.398].
Còn trong quyển Cơ sở lý luận báo chí (NXB Lao động 2015), tác giả Nguyễn Văn Dững cho rằng: “Công chúng là quần thể cư dân hay nhóm đối tượng trực tiếp hay gián tiếp tiếp nhận thông tin hoặc chịu ảnh hưởng từ tác động của thông tin báo chí” [12, tr.57].
1.1.1.2 Công chúng báo chí
Tác giả Mai Quỳnh Nam đưa ra khái niệm về công chúng báo chí như sau: “Công
chúng báo chí thuộc mọi tầng lớp xã hội, tuổi tác, giới tính,trình
1212
Trang 13điều đó có nghĩa là truyền thông đại chúng có thể đến với bất kỳ ai, không riêng một cá nhân nào ”.
PGS.TS Nguyễn Văn Dững trong quyển Cơ sở Lý luận Báo chí (Nhà xuất bản Lao động 2012) cho rằng: “Công chúng báo chí là quần thể dân cư hay nhóm đối tượng mà báo chí hướng tác động của mình vào để cung cấp, trao đổi và chia
sẻ thông tin, thuyết phục gây ảnh hưởng có thể làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của họ theo mục đích thông tin nhất định Vế khía cạnh kinh tế, công chúng báo chí là khách hàng của báo chí; trên khía cạnh xã hội, là lực lượng quan trọng, quyết định vai trò, vị thế xã hội của cơ quan báo chí”[14, tr.35].
Còn tác giả Trần Bá Dung trong nghiên cứu Nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của công chúng Hà Nội nêu: “Công chúng báo chí là nhóm lớn dân cư, không đồng nhất trong xã hội, được báo chí hướng vào để tác động hoặc chịu ảnh hưởng tác động của báo chí và có tác động trở lại, giám sát, đánh giá, quyết định hiệu quả hoạt động của cơ quan báo chí”[6, tr.78].
Từ những góc nhìn trên cho thấy, công chúng báo chí truyền thông là mộtthực thể rất phức tạp Công chúng báo chí là khái niệm dùng để chỉ những ngườitiếp nhận sản phẩm báo chí Công chúng báo chí được xem xét trong mối quan hệvới tác phẩm báo chí, với cơ quan báo chí và với nhà báo Việc nghiên cứu côngchúng đòi hỏi phải có cái nhìn tổng hợp, toàn diện và đặt đối tượng nghiên cứutrong môi trường văn hóa - xã hội cụ thể Bên cạnh đó, tùy theo đặc điểm của mỗi
Trang 141.1.2 Báo phát thanh và công chúng phát thanh
1.1.2.1 Báo phát thanh
Có nhiều khái niệm về báo phát thanh khác nhau, nhưng thông thường nhấtngười ta dựa vào phương thức truyền thông tin và đặc điểm của loại hình để đưa rakhái niệm về phát thanh
Theo TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả quyển sách “ Báo phát thanh- Lý thuyết
và kỹ năng cơ bản" (Nhà xuất bản Chính trị- Hành chính, 2013) thì: Báo phát thanh
là tờ báo bằng âm thanh (nhìn từ góc độ phương tiện chuyển tải); Phát thanh là tiếp nhận thông tin bằng tai (nhìn từ góc độ tiếp nhận); Phát thanh là sử dụng âm thanh
để chuyển tải thông tin (nhìn từ góc độ sáng tạo) [22, tr.31].
Theo Lois Baird, tác giả cuốn Hướng dẫn sản xuất chương trình phát thanh
của Trường PT-TH điện ảnh Australia đã nêu ra và phân tích đặc tính
sau đây của phát thanh: Radio là hình ảnh; Radio là thân mật riêng tư; Radio dễ tiếp cận và dễ mang; Radio là trực tiếp; Radio có ngôn ngữ riêng của mình; Radio
có tính tức thời; Radio không đắt tiền; Radio có tính lựa chọn; Radio gợi lên cảm xúc; Radio làm công việc thông tin giáo dục; Radio là âm nhạc [3, tr.13].
Còn hai tác giả Paul Chantler và Peter Stewart viết: “Radio là phương tiện truyền thông tốt nhất để kích thích trí tưởng tượng; Phát thanh là phương tiện truyền thông mang tính riêng tư ”.
Trên cơ sở xem xét những cách hiểu khác nhau, có thể hiểu: Báo phát thanh
là một loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh,truyền đi ngôn ngữ âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác của đối tượng tiếpnhận
1414
Trang 15cơ bản ” khái niệm về chương trình phát thanh như sau: “Chương trình phát thanh
là một chỉnh thể trong đó các phần tin bài, âm nhạc, lời dẫn được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của
cơ quan truyền thông và mang lại hiệu quả ca nhất đối với người nghe ”[22, tr.153].
Theo PGS TS Tạ Ngọc Tấn: “Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể Thông thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình" [43, tr.92].
Trong thực tế, tùy theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh có đốitượng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thức thực hiện riêng
Thính giả dễ dàng phân biệt chương trình phát thanh Thanh niên với Câu lạc bộ những người cao tuổi, chương trình Thời sự với Diễn đàn các vấn đề xã hội Sự
phân công và chuyên môn hóa trong quá trình lao động tạo ra cho các chương trìnhphát thanh có sự phân định rõ ràng Quá trình tiếp nhận của công chúng gắn liền vớicác chương trình phát thanh Người nghe có thể nắm bắt được thông tin thời sự mộtcách nhanh nhất qua chương trình thời sự và họ chờ đợi những hướng dẫn cụ thểqua chương trình chuyên đề
Trang 161.1.2.3 Công chúng phát thanh
Công chúng phát thanh còn gọi là thính giả hoặc bạn nghe Đài "Khái niệm công chúng, bạn đọc, bạn nghe và xem Đài nói chung được dùng để chỉ một nhóm lớn trong xã hội, nhưng thường ngày, người ta có thể dùng để chỉ cụ thể một người hay một nhóm nhỏ nào đó" [36, tr.95].
Theo tác giả Nguyễn Đình Lương tác giả cuốn chuyên luận Nghề báo nói do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin ấn hành năm 1993, thì: “Công chúng của phát thanh được gọi là thính giả hay người nghe Là những người, những nhóm người tiếp nhận thông tin từ Đài phát thanh, là đối tượng tác động của các chương trình phát thanh”[32, tr.40].
PGS.TS Nguyễn Đức Dũng cho rằng: “Công chúng phát thanh còn gọi là thính giả, bạn nghe Đài, là những người tiếp nhận sản phẩm báo phát thanh ”.
“Công chúng phát thanh được sử dụng ở đây là để chỉ người nghe radio nói chung trong xã hội, nhưng cũng có thể dùng để chỉ một người hay những nhóm nhỏ nào đó mà chương trình phát thanh hướng vào để tác động, lôi kéo, thuyết phục Các chương trình truyền thống trên sóng phát thanh vừa nhằm vào quảng đại quần chúng, đồng thời cũng nhằm tới những nhóm đối tượng cụ thể ”[11, tr.60]
Các khái niệm trên đã chỉ rõ, công chúng phát thanh có thể được hiểu lànhóm lớn xã hội được chương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm lớn mà chươngtrình phát thanh hướng tới để tác động Có công chúng tiềm năng và công chúngthực tế, công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp Công chúng tiềm năng lànhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào, tác động lôi kéo Nhưng trong thực tế,không phải tất cả các thành viên nhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào đềutiếp nhận được các chương trình phát thanh Hay nói cách khác, chỉ một phần trong
1616
Trang 17gián tiếp Công chúng trực tiếp là những người trực tiếp tiếp nhận các chương trìnhphát thanh Còn công chúng gián tiếp là những người được công chúng trực tiếp kểlại những thông điệp mà họ tiếp nhận qua các chương trình phát thanh Do đó, cácchương trình trên radio vừa nhắm vào những đối tượng cụ thể vừa nhắm vào quảngđại quần chúng Chương trình phát thanh phụ nữ nhằm vào nhóm công chúng phụ
nữ, nhưng kể cả nam giới cũng không phải vô tình nghe được mà nghe theo sở thích
và nhu cầu
Do vậy, công chúng phát thanh có thể được hiểu là nhóm lớn xã hội đượcchương trình phát thanh tác động, hoặc nhóm người mà phát thanh hướng vào để tácđộng Công chúng phát thanh là người đầu tiên quyết định việc hình thành cácchương trình phát thanh, một chương trình phát thanh ra đời trước hết phải dựa trênnhu cầu của công chúng Việc thiết lập nội dung, hình thức, thời lượng, thời điểmphát sóng của chương trình phát thanh cũng đều căn cứ trên nhu cầu, mong muốn,đặc điểm, sở thích của công chúng Mỗi chương trình phát thanh nhằm phục vụ mộtnhóm đối tượng thính giả nhất định Chương trình nào công chúng ấy và ngược lạicông chúng nào chương trình ấy
Công chúng là một nguồn đề tài phong phú của các chương trình phát thanh.Cuộc sống, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của họ luôn là đều được các nhà báo,các chương trình phát thanh quan tâm phản ánh Trong các chương trình giao lưu,tương tác công chúng còn tham gia với tư cách là khách mời, là người nêu câu hỏi,
Trang 18Thuyết “sử dụng và hài lòng" là lý thuyết giả định rằng con người chủ độngtiếp cận phương tiện truyền thông để thỏa mãn những nhu cầu cụ thể của họ Thuyết
“sử dụng và hài lòng" là một hướng tiếp cận lấy người dùng làm trung tâm và tìmhiểu về hoạt động của truyền thông đại chúng Khác với những lý thuyết khác thuyết
“sử dụng và hài lòng" nói về "phương tiện truyền thông ảnh hưởng gì đến conngười?", lại tập trung vào "con người sử dụng phương tiện truyền thông để làm gì".Thuyết này cho rằng phương tiện truyền thông là một sản phẩm có tính truy cập cao
và con người là những người sử dụng chúng
Các phương tiện truyền thông ngày nay rất nhiều và ngày càng đa dạng,thuyết “sử dụng và hài lòng" giải quyết hai câu hỏi mà các nhà truyền thông thườnggặp: "Con người sử dụng phương tiện truyền thông nào?" và "Tại sao con người lạichọn phương tiện truyền thông đó?" Thuyết còn tìm hiểu về cách người dùng chọnphương tiện truyền thông nào để thỏa mãn nhu cầu, cụ thể hơn là để nâng cao kiếnthức, thư giãn, tương tác xã hội, tìm sự đồng hành, đa dạng hóa hoặc trốn thoát Vìvậy, lý thuyết này đòi hỏi độ sẵn sàng cung cấp thông tin cao của các phương tiệntruyền thông về data, đánh giá trải nghiệm, thời lượng sử dụng, thời điểm sử dụng, của khách hàng.Thuyết “sử dụng và hài lòng" cho rằng người dùng không bị động
so với phương tiện truyền thông mà ngược lại có quyền lực và chủ động về việc sửdụng chúng và từ đó kết hợp chúng vào đời sống của họ Không giống như những lýthuyết khác, thuyết “sử dụng và hài lòng" cho rằng người dùng chịu trách nhiệmchọn ra phương tiện truyền thông để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ để đạtđược sự hài lòng Thuyết này còn ngụ ý rằng các phương tiện truyền thông đangcạnh tranh với các nguồn thông tin khác để mang đến sự hài lòng cho khách hàng
1.2.2 Đặc điểm của công chúng phát thanh
1818
Trang 19tiếp nhận thông tin của công chúng và có ảnh hưởng nhất định tới tâm lý tiếp nhậncủa công chúng Cũng chính từ đặc điểm này mà hình thành nên các lớp công chôngchúng, các đối tượng công chúng khác nhau [22, tr.46].
Trong cuốn “Handbook for the URN Advanced Radio Journalism Course in Political Reporting” các tác giả chỉ ra rằng:
“ Công chúng cần điều gì?
- Thông tin có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ
- Thông tin mà bạn biết là họ cần
- Tin tức về địa phương, bộ tộc mà họ sống trong đó
- Không gian để thảo luận rộng rãi
- Được giải trí ”
Xét theo thang nhu cầu của Abraham Maslow, công chúng quan tâm trướchết đến các nhu cầu sinh lý cơ bản như ăn, uống, thở, ngủ, chỗ ở Tiếp theo đó, họquan tâm tới nhu cầu an toàn cả về thể chất, tinh thần và của cải Thứ ba, côngchúng mong muốn được giao tiếp và tham gia vào các mối quan hệ xã hội Thứ tư,công chúng muốn được tôn trọng, ngưỡng mộ, yêu quí Và thang nhu cầu cuối cùng
là được phát huy năng lực, các tố chất cá nhân và thành công
Công chúng phát thanh tiếp nhận theo qui luật nghe và phát huy trí tưởngtượng Nhà báo phát thanh phải làm sao để thông qua chuỗi âm thanh của mình giúpthính giả tạo dựng hình ảnh về sự kiện trong đầu Công chúng phát thanh còn tiếp
Trang 20Các nghiên cứu về công chúng cho thấy, báo phát thanh có công chúng đadạng, phong phú Tuy mỗi chương trình khác nhau có một nhóm đối tượng riêngnhưng nhìn chung công chúng phát thanh là đông đảo người dân, cả những đốitượng có trình độ học vấn cao và thấp.
1.2.2.2 Phân loại công chúng
- Phân loại theo đặc điểm xã hội học
Căn cứ vào những tiêu chí khác nhau, có thể có cách phân chia thành cácnhóm công chúng khác nhau Nếu căn cứ vào độ tuổi, sẽ có nhóm công chúng trẻ
em, công chúng thanh niên, công chúng người cao tuổi, công chúng trung niên.; căn
cứ vào giới sẽ có công chúng nam giới và nữ giới; căn cứ vào địa bàn sinh sống sẽ
có công chúng đô thị, công chúng nông thôn, công chúng miền núi; căn cứ theonghề nghiệp có thể chia thành công chúng là cán bộ công chức, nông dân, học sinh -sinh viên, nội trợ [45]
+ Theo lứa tuổi
Độ tuổi của công chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc phân loại.Trước đây, với thính giả có độ tuổi càng cao, tỷ lệ nghe Đài cũng tăng theo Lý do làphát thanh dễ tiếp cận, dễ tiếp nhận với người cao tuổi do họ có nhiều thời gian, tiếpnhận thông tin qua tiếng nói dễ dàng hơn với mắt vì lý do sức khỏe Người cao tuổinghe Đài còn do thói quen vì có nhu cầu hiểu biết về tình hình thời sự trong nước,quốc tế và để giải trí Còn độ tuổi trẻ có trình độ học vấn cao hơn nhưng tỷ lệ ngheĐài thường thấp hơn người cao tuổi và ngược lại Tuy nhiên người cao tuổi có trình
độ học vấn bình quân thấp hơn nhưng thường xuyên nghe Đài hơn Điều này có thểhiểu là do tính chất của tuổi trẻ nên họ có những sở thích và quan tâm đặc thù, và
2020
Trang 21Tuy nhiên, hiện nay, do môi trường làm việc và xã hội thay đổi, người trẻcũng nghe radio nhiều hơn do đặc thù phải di chuyển nhiều Họ vẫn muốn tiếp nhậnthông tin thời sự, cập nhật trong khi di chuyển mà không có điều kiện tiếp cận cáchình thức truyền thông khác, thí dụ như lúc đang lái xe Do đó, các Đài phát thanhcũng phải thay đổi theo công chúng để xây dựng những kênh, chương trình phù hợphơn với giới trẻ, đáp ứng nhu cầu thực sự của họ Ngoài ra, cần chú ý đến thông tinchuyên biệt dành riêng cho đối tượng thính giả trung thành có tuổi như thông tin sứckhỏe, sinh hoạt tinh thần, hướng về quê hương, cội nguồn.
+ Theo nhu cầu thông tin, sở thích của công chúng Đây cũng là một góc nhìnphân loại quan trọng, từ đó góp phần các Đài phát thanh định hình nên công chúngcủa mình Thí dụ công chúng là giới trẻ có nhu cầu tìm thông tin nhiều về thông tingiải trí như âm nhạc, điện ảnh, người nổi tiếng, đời sống tình cảm Công chúngtrong độ tuổi từ 24-35 quan tâm nhiều về thông tin thị trường, kinh doanh, đời sốnggia đình hoặc sức khỏe
+ Theo vùng, miền
Yếu tố địa phương, địa lý theo vùng, miền cũng là một yếu tố quan trọngtrong phân loại công chúng Thí dụ, đối tượng công chúng phát thanh của các miềnkhác nhau ở nước ta có sự quan tâm đến các vấn đề nội dung và phong cách tiếpnhận thông tin khác nhau
+ Theo nghề nghiệp
Trang 22nghiệp thích theo dõi thông tin qua Đài phát thanh về thông tin trồng trọt, chăn nuôi,tin tức thời tiết.
+ Theo giới tính
Kết quả nhiều cuộc điều tra xã hội học ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ nữ giới tiếpnhận các phương tiện truyền thông nói chung và phát thanh nói riêng ít hơn namgiới Lý do chính là phụ nữ ít có thời gian hơn để tiếp cận thông tin của báo chí hơnnam giới, do họ phải dành nhiều thời gian làm việc nhà, chăm sóc con cái Ngoài ra,phụ nữ quan nhiều đến thông tin gần gũi với đời sống hơn như sức khỏe, gia đình,công việc Như vậy có thể thấy sự chênh lệch mức hưởng thụ và sự quan tâm đốivới Đài phát thanh giữa nữ và nam vẫn là một vấn đề xã hội lớn liên quan tới vấn đềbất bình đẳng giới trong xã hội
xã hội, giải trí như ca nhạc, giải trí, tư vấn đời sống, tâm lý tình cảm, an ninh trật tự,nghe quảng cáo và ít tiếp nhận những chương trình thời sự
Trình độ học vấn còn qui định cách tiếp nhận thông tin Nhóm thính giả trình
độ cao thường chủ động trong tìm kiếm thông tin Họ có thể tiếp nhận thông tin mọinơi, mọi lúc Người có trình độ học vấn thấp thường bị động hơn khi tiếp nhậnthông tin Họ nghe, xem, đọc những thông tin có sẵn xung quanh, không chủ độngtìm kiếm và không yêu cầu những thông tin cần thiết hoặc thông tin liên quan
2222
Trang 23trực tiếp và công chúng gián tiếp Công chúng tiềm năng là nhóm lớn xã hội màchương trình phát thanh hướng vào tác động lôi kéo, thuyết phục Nhưng trong thực
tế không phải tất cả những thành viên nhóm lớn xã hội mà chương trình nhằm vàođều tiếp nhận được các chương trình phát thanh Hay nói cách khác, chỉ một phầntrong nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng vào, tiếp nhận được sự tác động
Bộ phận ấy gọi là công chúng thực tế Ở bình diện khác, lại có công chúng trực tiếp
và công chúng gián tiếp Công chúng trực tiếp là những người trực tiếp tiếp nhậncác chương trình phát thanh Còn công chúng gián tiếp là những người được nhữngngười công chúng trực tiếp kể lại, thông tin lại những điều mà họ đã tiếp nhận quasóng phát thanh Các chương trình truyền thông trên radio vừa nhằm vào đại chúngtrên cơ sở xác định nhóm đối tượng cụ thể
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa công chúng và chương trình phát thanh
- Vai trò của phát thanh với công chúng
Phát thanh được coi là “cổng thông tin” về tất cả những vấn đề đang xảy ratrên thế giới, là khởi đầu những nội dung được đề cập trên tất cả các loại hìnhtruyền thông khác và cũng là phương thức tiếp cận dễ dàng nhất tới nhiều đối tượngcông chúng Giá trị của phát thanh chính là có thể giúp thính giả hiểu được điều gìđúng và điều gì quan trọng, chúng ta phải làm sao để thính giả có cảm nhận rằng họđang được lắng nghe Nói cách khác, các chương trình phải thật sự phản ánh đượcnhu cầu và mối quan tâm của thính giả Điều duy nhất không thay đổi chính là nhu
Trang 24phát thanh Cũng như một tờ báo hay một chương trình truyền hình, một chươngtrình phát thanh ra đời trước hết phải dựa trên nhu cầu công chúng Việc thiết lậpnội dung, hình thức, thời lượng, thời điểm phát sóng của chương trình phát thanhcũng đều căn cứ trên nhu cầu, mong muốn, đặc điểm, sở thích của công chúng Mỗichương trình phát thanh nhằm phục vụ một nhóm đối tượng thính giả nhất định Ví
dụ, chương trình thiếu nhi được thiết kế để phục vụ đối tượng thiếu nhi, chươngtrình ca khúc theo yêu cầu phục vụ nhóm các bạn trẻ yêu thích âm nhạc [21, tr.44]
Vai trò của công chúng có đóng góp to lớn cho sự phát triển của các chươngtrình phát thanh, công chúng vừa là đối tượng tiếp nhận vừa là đối tượng phản ánh.Chính công chúng là người góp phần tạo nên các tác phẩm báo chí và chương trìnhphát thanh hay, có giá trị Công chúng ngày nay không chỉ thích nghe Đài mà còn có
ý thức tham gia các chương trình phát thanh Họ luôn có sự so sánh, đánh giá, nhậnxét về những vấn đề được nêu ra
- Các hình thức tương tác truyền thống
+ Tương tác trong phát thanh không trực tiếp:
Trong chương trình phát thanh không trực tiếp, dù không xuất hiện nhiềunhưng tính tương tác cũng đã được các nhà sản xuất chương trình phát thanh ápdụng trong quy trình sản xuất hay thu thập thông tin Thông thường, các chươngtrình thu trước thường có độ chính xác cao về thông tin, tạo sự tin tưởng tuyệt đốitrong lòng thính giả Tuy nhiên, với tính chất không phát trực tiếp nên sự tương tácqua lại giữa thính giả và một chương trình phát thanh cần một thời gian nhất định
+ Tương tác trong chương trình ca nhạc:
Từ trước đến nay, âm nhạc vẫn được coi là thế mạnh của phát thanh Vì thế,việc tận dụng âm nhạc trong sản xuất chương trình phát thanh vẫn luôn được chú
2424
Trang 25đó Giữa nhóm thực hiện chương trình và thính giả sẽ có mối liên hệ với nhau,thông qua việc tương tác qua thư hay qua điện thoại Điều này chúng ta thấy khá rõ
từ một số chương trình như Ca nhạc theo yêu cầu, Quick And Snow show, Xone
FM của Đài TNVN
+ Tương tác trong chương trình tọa đàm:
Bên cạnh đó, chương trình phát thanh không trực tiếp vẫn có sự xuất hiệncủa nhiều yếu tố tương tác khác Ví dụ như đối với chương trình tọa đàm sẽ cótương tác giữa người dẫn với khách mời, trong chương trình có hai người dẫn sẽ có
sự tương tác giữa người dẫn với nhau
+ Tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp:
Tính tương tác trong chương trình phát thanh trực tiếp trước hết thể hiện ở yếu
tố tương tác giữa thính giả với ekip thực hiện chương trình Với các chương trìnhphát thanh trực tiếp được thực hiện tại studio, sự tham gia của thính giả sẽ tạo nênbầu không khí giao lưu, cởi mở, giúp chương trình sống động hơn Từ đó, chươngtrình như một bức tranh âm thanh với nhiều giai điệu sẽ thu hút nhiều người cùnglắng nghe, suy ngẫm và đồng cảm nên có thể tạo ra những hiệu ứng lan tỏa lớn hơn.Đây là ưu thế hơn hẳn của phát thanh trực tiếp mang tính tương tác so với chươngtrình phát thanh chỉ có sự xuất hiện của BTV và PTV [46]
1.2.3 Công chúng với các chương trình phát thanh văn nghệ
1.2.3.1 Khái niệm văn nghệ
Trang 26thuật, âm nhạc, điện ảnh, kiến trúc, nhiếp ảnh, múa.), là bộ phận quan trọng của vănhóa Những giá trị sáng tạo của văn học, nghệ thuật là tinh hoa cốt lõi tạo nên diệnmạo, bản sắc của một nền văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc.
- Quan điểm của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh về Văn nghệ:
Quan điểm nhất quán, xuyên suốt toàn bộ tiến trình lãnh đạo văn hóa củaĐảng ta từ 1930 đến nay là luôn luôn khẳng định văn hóa, văn nghệ là bộ phậnkhăng khít của toàn bộ sự nghiệp cách mạng, phục vụ các nhiệm vụ của cách mạngtrong từng thời kỳ và gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân Luận điểm cô đúc vàsâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận Anhchị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” đã làm nên một bước ngoặt cho toàn bộ tiếntrình văn hoá Việt Nam, làm cho nền văn hóa mới và những người sáng tạo, hoạtđồng trên lĩnh vực văn hóa đó trở thành một sức mạnh to lớn, một bộ phận hữu cơ,gắn bó máu thịt với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta
Chủ tịch Hồ Chí Minh xem văn nghệ là một mặt trận đấu tranh tư tưởng, tácphẩm văn nghệ là một vũ khí sắc bén Văn học nghệ thuật là một hoạt động văn hóa,
tư tưởng Nó được xem là một bộ phận quan trọng của văn hóa, là đỉnh cao của đờisống tinh thần, hình ảnh của tâm hồn dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân vềChân - Thiện - Mỹ Văn nghệ được xét ở các khía cạnh:
Tính nghệ thuật: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng nhiều thể loại văn nghệ,
bám sát thực tế chiến đấu và sản xuất của nhân dân, tạo nên sức thuyết phục cho tácphẩm của mình
Nội dung: Quan niệm của chủ tịch Hồ Chí Minh về Văn nghệ rất rõ ràng:
“Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải
ở trong kinh tế, chính trị ” Văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú vì thế
2626
Trang 27ăn một món thôi Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người được thấy nhiều loại hoa đẹp ”.
Đối tượng: Muốn phục vụ quần chúng, Văn nghệ phải đặt ra các câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết thế nào cho phổ thông dễ hiểu, ngắn gọn, dễ đọc?
Văn nghệ xem quần chúng là đối tượng cho sáng tác, đồng thời cũng là đối tượng
để văn nghệ phục vụ Cách nói, cách viết, nội dung, đối tượng đều nhằm phục vụquần chúng lao động
Chức năng: Văn nghệ xưa nay vẫn nhấn mạnh ba chức năng cơ bản: chức
năng nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ
1.2.3.2 Chương trình phát thanh văn nghệ
TS Đinh Thị Thu Hằng tác giả cuốn “Báo phát thanh- Lý thuyết và kỹ năng
cơ bản ” đã đưa ra các dạng chương trình phát thanh như sau:
Trang 28lưu tác giả tác phẩm, Thi giọng hát hay, Sân chơi âm nhạc, Giới thiệu thơ người Ứng dụng phương thức sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp, Đài phát
-thanh còn thực hiện các chương trình giao lưu văn hóa tại hiện trường (các trườngđại học, CLB, nhà văn hóa.) Các chương trình này giúp công chúng thính giả thểhiện mình trong các mối quan hệ giao lưu, kết nối lẫn nhau, tăng cường và làm giàuđẹp các mối quan hệ [22, tr.166]
- Chương trình “Câu chuyện truyền thanh”
Theo tác giả Nguyễn Đình Lương: Thế mạnh của câu chuyện truyền thanh là
ở chỗ nó vừa sử dụng một cách có hiệu quả những ưu thế của nghệ thuật truyềnthanh vừa bám sát những đề tài sống động trong cuộc sống Câu chuyện truyềnthanh phải có âm thanh, âm thanh phải mang sức thuyết phục, lôi cuốn, hấp dẫn,phải làm cho thính giả lắng tai nghe và tò mò muốn nghe nữa [32, tr.55]
- Chương trình “Đọc truyện đêm khuya”
Đọc truyện đêm khuya thuộc thể loại chương trình văn nghệ đã trở nên quenthuộc với nhiều thính giả, với rất nhiều câu chuyện đề cập tới những chủ đề quenthuộc như tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương đất nước, chiến tranh chống Mĩ,chống Pháp, đời sống văn hóa, chuyện vợ chồng, chuyện mẹ chồng nàng dâu Tất cảđều được sưu tầm, biên soạn một cách kỹ lưỡng qua giọng đọc truyền cảm của cácPTV đã trở thành một món ăn tinh thần bổ ích cho thính giả trên sóng phát thanh
1.2.3.3 Công chúng của chương trình PTVN
Công chúng của phát thanh nói chung và văn nghệ nói riêng rất rộng lớn và
đa dạng Đó là quần thể dân cư không phân biệt trình độc học vấn Mọi đối tượng(chỉ trừ người khiếm thính) đều tiếp nhận thông tin qua radio, bởi âm thanh khôngphân biệt vào hình ảnh hoặc chữ in nên có nhiều thuận lợi trong khai thác sử dụng
2828
Trang 29nhưng lại gia tăng số người nghe Đài trên ô tô, trên mobile và các trang web Ngoàicách nghe khác, thì nhu cầu tiếp nhận thông tin trên Đài cũng khác trước rất nhiều.
Ví dụ những người đi trên ô tô, vì trong trạng thái di chuyển, nên họ cần cái gì đóngắn gọn, trực tiếp, cần những quan điểm chính thống, cần những ý kiến đa chiều.Người ta không còn nghe Đài cả ngày nữa, mà lúc nào tiện thì nghe, lên ô tô thìnghe Ở vùng nông thôn, miền núi, người ta nghe Đài địa phương qua loa truyềnthanh
1.2.3.4 Tiêu chí của chương trình PTVN đáp ứng nhu cầu công chúng
Bất cứ loại hình báo chí nào muốn đến với công chúng thì phải chú ý tới 2điều: Nội dung là cốt lõi và hình thức là quan trọng Khái niệm nội dung ngày naycũng không đơn thuần là nhanh và đúng, mà còn là độc đáo và tạo được cảm xúc vàsức hấp dẫn cho người nghe Có nghĩa là người làm phát thanh phải luôn luôn mangtới cho công chúng những thông tin mới lạ, độc đáo chỉ có trên Đài phát thanh hoặcrất hấp dẫn trên Đài phát thanh Phải tìm được góc tiếp cận mới trong những vấn đềđang được nhiều báo chí đề cập; phát thanh phải tạo điều kiện để công chúng nóilên tiếng nói của họ trên sóng
Về hình thức, phát thanh không chỉ đơn thuần là lời nói, mà còn phải làmsinh động hơn bằng âm nhạc, bằng tiếng động hiện trường Chỉ khi nào nghe phátthanh mà như được sống, được thở trong cuộc sống thực thì lúc đó phát thanh mới
có được sự chú ý, sự ủng hộ, sự đón đợi của công chúng
Trang 30xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc trong thời kỳ đổi mới Các chươngtrình PTVN không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí mà còn hướng đến nâng cao thẩm
mỹ âm nhạc, định hướng cách cảm, cách nghĩ, tăng cường giao lưu trong đời sống.Chương trình càng mang tính giao lưu càng cao thì càng có lượng người nghe đôngđảo [18, tr.64]
1.3 Đặc điểm của công chúng các chương trình PTVN tại ĐBSCL
1.3.1 Đặc trưng văn hóa ĐBSCL
Những nét đặc trưng của văn hóa khu vực ĐBSCL khá phong phú Nó đượcthể hiện rõ ở phong tục tập quán, ở lễ hội, ở tính cách con người Văn hóa là sảnphẩm do con người sáng tạo ra của một dân tộc, một vùng, một quốc gia Và baogiờ nó cũng gắn liền với những sinh hoạt của con người Con người một mặt sángtạo ra văn hoá, mặt khác con người cũng là đối tượng của văn hóa Các khái niệm vềvăn hoá, văn minh, văn hiến, văn vật
đều có những nét tác động qua lại Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền lợi cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và tín ngưỡng (theo định nghĩa của Unesco) Những giá trị vật chất
và tinh thần ấy đều do con người sáng tạo ra Nó là chìa khóa của sự phát triển xãhội
Đối chiếu với những nét chung của văn hóa dân tộc, thì văn hóa khu vựcĐBSCL có những nét khu biệt riêng ĐBSCL là vùng đất mới được hình thành hơn
300 năm nay Ở đây, con người được thiên nhiên ưu đãi “Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn ”, và từ độ cha ông “mang gươm đi mở cõi ” thì vô vàn khó khăn phải đối mặt “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp trêu ”, hoặc “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh” Với môi trường tự nhiên như vậy, tính cách con người Nam Bộ
3030
Trang 31nghệ Ở vùng đất này có sự cộng cư của các dân tộc anh em như: Kinh, Khmer,Hoa, Chăm từ các thế kỷ trước Vì thế trong phong tục, lễ hội, sinh hoạt, lao độngcũng có những nét riêng Song, có ba nét nổi bật nhất về văn hoá ĐBSCL là kiếntrúc đền chùa, văn minh ẩm thực và ĐCTT.
Với lịch sử hình thành và phát triển đa dạng và phong phú, văn hóa ĐBSCLcũng song hành cùng sự phát triển của vùng đất với nhiều sắc thái, phong phú; tạonên nền tảng để cho ĐBSCL phát triển Đó là văn hoá của các tộc người, văn hoácủa lối sống, cách lao động, sản xuất sinh hoạt đến phong tục tập quán tín ngưỡng.Nói đến văn hoá ĐBSCL là nói đến sự đa dạng và là một khái niệm có nội hàm rộngbởi văn hoá ĐBSCL không thể tách rời và mang đầy đủ các giá trị của văn hoá ViệtNam trường tồn qua hàng ngàn năm; có sự pha trộn, hoà quyện với văn hoá khác;đồng thời nảy sinh trên vùng đất mới, nhiều sông rạch nên việc phân biệt văn hoáĐBSCL với không gian văn hoá Việt và văn hoá các vùng miền khác sẽ là căn cứkhoa học để làm nổi rõ nên những nét đặc trưng đặc sắc, tiêu biểu của văn hoá vùngĐBSCL Để từ đó xây dựng các sản phẩm truyền thông, chương trình phát thanh,sản phẩm phát thanh phù hợp hơn với sự phát triển của vùng ĐBSCL
1.3.2 Đặc điểm dân cư, dân trí và thói quen thưởng thức văn nghệ
1.3.2.1 Đặc điểm dân cư, dân trí:
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2019, ĐBSCL có tổngdiện tích các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lớn nhất Việt Nam (40.547,2
Trang 32tăng tự nhiên của dân số bằng mức bình quân của cả nước; GDP/người, tỉ lệ ngườilớn biết chữ, tỉ lệ dân số thành thị còn thấp hơn mức trung bình của cả nước Tuynhiên, tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn và tuổi thọ trung bình cao hơn mức trung bình của cảnước.
Phân bố dân cư chênh lệch lớn giữa thành thị - nông thôn và giữa các địaphương Khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, mật độ dân số của vùng đất phù sangọt cao hơn nhiều các vùng đất phèn và đất mặn [21]
1.3.2.2 Thói quen thưởng thức văn nghệ
Kết quả từ cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL- Đại họcCần Thơ (2007) cho thấy người dân đồng bằng đòi hỏi được đáp ứng thông tin vănhóa xã hội rất cao, chiếm 69% số người được hỏi Do đó “Văn hóa tại gia”- chủ yếuqua sóng truyền hình, phát thanh, internet, chính là đặc điểm hưởng thụ văn hóa củangười dân ĐBSCL hiện nay Điều đó thể hiện đời sống văn hóa tinh thần tại đây vẫncòn nghèo nàn, chỉ khuôn hẹp trong phạm vi gia đình Chính điều này là cơ sở đểcác chương trình văn nghệ trên sóng PT-TH có cơ hội phục vụ khán thính giả nơiđây Từ đó, các chương trình PTVN ngày càng thân thiết với công chúng và luôn làngười bạn tin cậy, gần gũi của bà con nơi đây, chương trình có điều kiện lan tỏa, hòanhập với văn hóa giải trí, làm phong phú hơn đời sống văn hóa tinh thần và nângcao nhu cầu hưởng thụ của đông đảo công chúng ĐBSCL.[51]
1.3.3 Đời sống VHVN hiện nay và ảnh hưởng của nó tới công chúng
Đời sống văn nghệ của người dân khu vực ĐBSCL rất phong phú, đặc biệtnhất được thể hiện qua các loại hình nghệ thuật tiêu biểu, là những loại hình nghệthuật đặc sắc của vùng đất phương Nam vốn cần cù, bình dị nhưng rất đổi nhân vănnhư ĐCTT, vọng cổ, cải lương, lý, hát ru, hò Nam bộ Các chương trình PTVN khu
3232
Trang 33thông có hệ thống, xã hội hóa các kinh nghiệm sống, truyền bá những tri thức về cácgiá văn hóa của các dân tộc.
Tuy nhiên, ở ĐBSCL đang diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá giữavăn hoá vùng, văn hoá dân tộc và văn hoá nước ngoài; công chúng đang hàng ngàyhàng giờ tiếp nhận các sản phẩm và nhân tố văn hoá từ nước ngoài Đảng và Nhànước ta phải nhanh chóng có chiến lược để chủ động thực hiện việc tiếp biến vănhoá, “mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trongvăn hoá các dân tộc khác”, tránh cho nhân dân và nhất là thế hệ trẻ những hụt hẫng,
“cú sốc về văn hoá” Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình đôthị hoá ngày càng phát triển Vì vậy, bên cạnh cái phức thể văn hoá nông nghiệp-nông thôn của vùng, phải hết sức chú ý đến việc xây dựng nếp sống văn minh đôthị, văn hoá đô thị, như những trung tâm văn hoá văn minh của vùng, không để đôthị bị nông thôn hoá về văn hoá, lối sống; không đối lập văn hoá đô thị và nông thôn
mà phải biết kết hợp, tiếp thu và biến đổi một cách hợp lí nhất
Do vậy với việc truyền tải lượng thông tin vô cùng phong phú và đa dạngbằng lời ca, tiếng hát, các thể loại báo chí, nhất là các chương trình văn nghệ đượcthể hiện hàng ngày qua sóng phát thanh của các Đài PTTH khu vực ĐBSCL đangthực hiện, hằng ngày, hằng giờ tác động vào đời sống xã hội vùng ĐBSCL; nếu làmtốt, hiệu quả, đặc biệt là khai thác tối đa các đặc trưng của văn hoá miệt vườn sôngnước Cửu Long sẽ có tác dụng góp phần thúc đẩy kinh tế- xã hội trong vùng phát
Trang 34có liên quan mật thiết đến đời sống tinh thần của người dân trong vùng, giúp conngười hướng tới các giá trị Chân - Thiện - Mỹ Bởi vì tiếp nhận nghệ thuật khôngchỉ để thỏa mãn nhu cầu, để giải trí, mà qua đó thu nạp những giá trị có ý nghĩa xãhội - con người, giáo dục, thu nạp tri thức, sự hiểu biết, làm phong phú đời sống tinhthần, đặt mình vào xu hướng luôn hành động sao cho có thể vừa làm đẹp bản thân,vừa góp phần làm đẹp xã hội.
Các chương trình PTVN của các Đài PT-TH địa phương không chỉ đáp ứngnhu cầu giải trí mà còn hướng đến nâng cao tính thẩm mỹ, đảm bảo chất lượng nghệthuật, định hướng cách cảm, cách nghĩ, tăng cường giao lưu tương tác trong đờisống; Phản ánh tâm tư, tình cảm, đáp ứng thị hiếu lành mạnh, lôi cuốn, hấp dẫn phùhợp với nhu cầu của công chúng văn nghệ địa phương
Chương trình đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của công chúng trên
cơ sở bám sát tiêu chí và đảm bảo định hướng, giáo dục, đặc biệt tránh sa vào thịhiếu giải trí tầm thường, không phù hợp với bản sắc văn hóa miệt vườn sông nước.Các chương trình còn có nội dung thiết thực, lành mạnh, có bản sắc riêng, hấp dẫn,mới lạ nhưng giàu bản sắc, gần gũi, thiết thực và mang tính thẩm mỹ, phù hợp vớiđịnh hướng tuyên truyền là nội dung cốt lõi của các chương trình hướng đến
Bên cạnh đó, để phát triển và thu hút công chúng hiện đại củamảng văn nghệ khu vực ĐBSCL, chương trình PTVN cần đổi mới hình thức thể hiện làm cho công chúng như được sống, được thở
3434
Trang 35tiếp cận công nghệ mới Ngoài ra, các chương trình PTVN cần nâng cao vai trò trong việc khai thác các sản phẩm âm nhạc, nghệ thuật truyền thống của người dân ĐBSCL; các giá trị văn học, nghệ thuật, âm nhạc của các dân tộc thiểu số Hoa, Khmer,Chăm.
Trang 36Trong chương 1, tác giả làm rõ về đặc điểm của công chúng các chươngtrình PTVN khu vực ĐBSCL, đồng thời cũng đưa ra cái nhìn khái quát về đời sốngVHVN hiện nay và ảnh hưởng của nó tới công chúng địa phương Đây là nhữngyếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng đến việc nghiên cứu công chúng để phục vụ tốthơn nhu cầu thưởng thức và nâng cao chất lượng các chương trình PTVN của một
số Đài khu vực Tây Nam Bộ
Cùng với việc các Đài PT-TH khu vực ĐBSCL đang phải tự làm mới mình
để phục vụ công chúng, thì việc nghiên cứu công chúng và phân tích vai trò củacông chúng phát thanh mảng văn nghệ đang là một vấn đề rất cần thiết, làm căn cứđịnh hướng hoạt động của các Đài Trên các nguyên tắc xác định rõ công chúng củamình là ai, có đặc điểm, thói quen, nhu cầu và sở thích như thế nào thông qua việcthăm dò (khảo sát, điều tra xã hội học) nhằm đánh giá thái độ của công chúng vớinhững sản phẩm văn nghệ trên sóng phát thanh Từ đó có sự điều chỉnh một cáchphù hợp và hiệu quả nhằm phục vụ nhu cầu giáo dục, giao lưu, thưởng thức các giátrị tinh thần thông qua chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-
TH địa phương
Những kết quả lý luận và thực tiễn liên quan tới công chúng trong chương 1 này sẽ tạo ra cơ sở lý luận cho việc khảo sát công chúng ĐBSCL với chương trình văn nghệ trên sóng phát thanh của các Đài PT-TH địa phương, chúng tôi sẽ thực hiện ở chương 2 của luận văn
36
Trang 37Chương 2: KHẢO SÁT CÔNG CHÚNG ĐBSCL VỚI CHƯƠNG TRÌNH VĂN
NGHỆ TRÊN SÓNG PHÁT THANH CỦA CÁC ĐÀI
PT-TH ĐỊA PHƯƠNG
2.1 Giới thiệu về các Đài trong diện khảo sát
2.1.1 Đài PT-TH Vĩnh Long
Đài Phát thanh Vĩnh Long chính thức phát sóng ngày 22/12/1977, trên sóng
AM 950KHz Chương trình chủ yếu là thông tin thời sự Từ sau Đại hội Đảng lầnthứ VI, công tác tuyên truyền trên Đài có nhiều đổi mới: thông tin hai chiều, đadạng và phong phú nên hấp dẫn người nghe hơn Bên cạnh việc tuyên truyền chủtrương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, phản ánh phong trào cáchmạng của quần chúng, tham gia chống tiêu cực được dư luận quần chúng hoannghênh và lãnh đạo các cấp quan tâm xử lý Thông qua thông tin hai chiều, Đài thực
sự trở thành chiếc cầu nối giữa Đảng bộ với nhân dân trong tỉnh
Năm 2002, Đài tiếp nhận dự án hỗ trợ phát thanh Việt Nam của Thụy Điển,cùng với các trang thiết bị là tiếp nhận hình thức làm chương trình phát thanh mới:Chương trình phát thanh trực tiếp Từ năm 2002 đến nay, các chương trình phátthanh đã có sự phát triển nhảy vọt Từ việc xây dựng chương trình thu in sẵn, nộidung đơn điệu, nay đã vươn tới việc thực hiện nhiều chương trình phát thanh trựctiếp bằng công nghệ kỹ thuật số hiện đại với nội dung thông tin được cập nhật hàng
Trang 38giờ Từ năm 2009, Đài phát mỗi ngày 24/24 giờ trên sóng FM và 7 giờ trên sóng
AM Đồng thời phát thanh trực tuyến trên website của Đài Truyền hình Vĩnh Long,
đã góp phần tích cực trong việc tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách phápluật của nhà nước đến các tầng lớp nhân dân, mang đến cho thính giả những thôngtin bổ ích trên các lĩnh vực: thời sự chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật,những chương trình văn nghệ, giải trí hấp dẫn người nghe không chỉ giới hạn trongphạm vi tỉnh nhà mà còn thể hiện rõ nét ở vị thế khu vực ĐBSCL, cả nước và bướcchân ra thế giới
2.1.2 Đài PT-THKiên Giang
Đài PT-TH Kiên Giang là cơ quan ngôn luận của Đảng bộ và Chính quyền,đồng thời là diễn đàn của nhân dân tỉnh Kiên Giang Đài PT-TH Kiên Giang đượcthành lập ngày 2 tháng 9 năm 1977, có chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biếnchủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phản ánh kịp thời các mặt hoạt độngchính trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa xã hội, góp phần giáo dục nâng caodân trí và đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân trong tỉnh và các vùng lân cận
Trải qua quá trình hoạt động, Đài PT-TH Kiên Giang không ngừng lớn mạnh
và phát triển; thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương, đường lối củaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Cùng với việc tăng thời lượng phátsóng, Đài PT-TH Kiên Giang còn không ngừng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, luônđổi mới, nâng cao chất lượng nội dung và hình thức thể hiện chương trình, mở rộng
38
Trang 39diện phủ sóng phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh, góp phần tíchcực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đápứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin giải trí, hưởng thụ văn hoá tinh thần củacán bộ, nhân dân tỉnh nhà.
Hiện nay sóng phát thanh và truyền hình của Đài PT-TH Kiên Giang phủkhắp trong tỉnh và trong khu vực Thời lượng phát sóng phát thanh (AM và FM) củaĐài PT-TH Kiên Giang: 18 giờ /ngày Thời lượng phát sóng truyền hình (KG, KG1)của Đài PT-TH Kiên Giang: 21 giờ /ngày Phòng Kỹ thuật truyền dẫn phát sóngđược trang bị hệ thống phòng Tổng khống chế và sắp xếp chương trình tự động cókhả năng phát sóng 24/24
Đài PT-TH Kiên Giang hiện tại quản lý thống nhất 3 loại hình báo chí: phátthanh, truyền hình và báo điện tử (website www.kgtv.vn) Từ năm 2014, Đài PT-THKiên Giang đầu tư nâng cao hệ thống thiết bị để chuyển từ truyền hình analog(truyền hình tương tự) sang truyền hình kỹ thuật số Theo đề án của Chính phủ, đếnnăm 2018, Đài đã chuyển sang truyền hình kỹ thuật số
Phòng Văn nghệ & Giải trí của Đài PT-TH Kiên Giang chịu trách nhiệm tổchức, sản xuất các chương trình văn nghệ, giải trí nhằm nâng cao chất lượngchương trình trên sóng Đài PT-TH, đồng thời góp phần bảo tồn, giữ gìn các giá trịvăn hóa nghệ thuật
2.1.3 Đài PT-THBạc Liêu
Trang 40Đài PT-TH Bạc Liêu phát sóng trên tần số FM 93,8 MHz Máy phát thanh
FM 5KW, trụ ăngten cao 150 m Phủ sóng tỉnh Bạc Liêu, một phần TP.Cần Thơ vàcác tỉnh Sóc Trăng, Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Kênh 34, tần số 578 MHz,trụ ăng-ten cao 120 m Phát sóng quảng bá miễn phí trên vệ tinh Vinasat-2 (từ ngày17/04/2017) Kênh phát thanh phát sóng từ 5g đến 24g mỗi ngày, phủ sóng các tỉnhkhu vực miền Tây Nam bộ Nhiều chương trình đa dạng, phong phú từ thông tinthời sự, các chuyên đề đến văn nghệ, giải trí
Cùng với các giải pháp kỹ thuật, hơn 20 năm qua Đài PT-TH Bạc Liêu đã tậptrung cho công tác đổi mới nâng cao chất lượng các chương trình, coi đây là mụctiêu xuyên suốt, là nhiệm vụ sống còn của một Đài PT-TH Đồng thời Đài luôn trútrọng xây dựng bản sắc riêng- bản sắc văn hóa Bạc Liêu Tiêu chí này được thể hiệntrong các chương trình thời sự, chuyên đề, đến các chương trình văn nghệ, giải trí
và đã trở thành những món ăn tinh thần không thể thiếu được của người Bạc Liêunói riêng, người dân trong khu vực bán đảo Cà Mau nói chung Đài cũng luôn duytrì tổ chức Hội thi tiếng hát PT- TH tỉnh Bạc Liêu và Hội thi giọng ca cải lương giảiCao Văn Lầu đã tạo sân chơi bổ ích của giới trẻ và phát hiện những giọng hát mới
có triển vọng, để chăm bồi phát triển Tham gia Hội thao và Liên hoan nghiệp vụcác Đài PT- TH cụm Nam Sông Hậu được tổ chức luân phiên hàng năm, tổ chứcsản xuất và hòa sóng chương trình giai điệu phương Nam
40