1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của chính phủ tại huyện quỳnh lưu, tỉnh nghệ an

121 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để bảo hiểm cây lúa được phát triển cần thực hiện phối hợp các khuyến nghị sau đây: - Quản lý rủi ro bảo hiểm - Về hình thức bảo hiểm - Tuyên truyền lợi ích của bảo hiểm cây lúa - Về hoà

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Chủ tịch Hội Đồng:

PGS.TS ĐỖ THỊ THANH VINH

Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan mọi kết quả của luận văn “Đánh giá chương trình thí điểm Bảo

hiểm Nông nghiệp của Chính phủ tại Huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An” là công

trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, tháng 01 năm 2018

Đinh Sỹ Khánh Vinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Là một học viên cao học lớp Cao học Nghệ An1, thuộc chương trình đào tạo Thạc sĩ ngành Kinh tế phát triển do Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Nha Trang tổ chức, trong suốt thời gian khóa học (2014 - 2016) tôi đã được các giảng viên truyền đạt một lượng lớn kiến thức cả lý thuyết, thực tế và các kỹ năng về lĩnh vực kinh tế phát triển, phục vụ rất hữu ích cho quá trình công tác của tôi hiện nay cũng như sau này

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến các thầy cô giáo giúp

đỡ và hướng dẫn tôi trong thời gian học tập tại Trường, đặc biệt là giáo viên hướng

dẫn PGS.TS Nguyễn Thị Kim Anh đã trực tiếp hướng dẫn, góp ý và giúp đỡ tôi hoàn

thành bản Luận văn của mình

Tôi xin được cảm ơn UBND huyện Quỳnh Lưu, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nghệ An, Cục thống kê tỉnh Nghệ An, các bạn đồng nghiệp đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Cuối cùng, xin được bày tỏ lời cảm ơn đến toàn thể anh, chị em học viên lớp cao học KTPTNA1 đã chia sẽ ý kiến, đóng góp cho bản luận văn của tôi

Bản luận văn này có thể còn chưa được hoàn thiện do hạn chế về thời gian, trình độ và phương thức thực hiện, rất mong nhận được những đóng góp ý kiến của các thầy cô, của các anh chị và các bạn, để giúp tôi hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn

Đinh Sỹ Khánh Vinh

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 4

1.5.1 Về khoa học 4

1.5.2 Về thực tiễn 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU VỀ BHNN 5

2.1 Lý thuyết về bảo hiểm 5

2.1.1 Khái niệm về Bảo hiểm 6

2.1.2 Phân loại Bảo hiểm 7

2.1.3 Vai trò của Bảo hiểm 8

2.2 Lý thuyết về BHNN 10

2.2.1 Sự phát triển của BHNN 10

Trang 6

2.2.2 Phân loại BHNN 10

2.2.3 Bảo hiểm cây trồng 12

2.2.4 Vai trò của BHNN 17

2.3 Lý thuyết về mô hình các yếu tổ ảnh hưởng đến khả năng tham gia và mức sẵn lòng chi trả BHNN của hộ 18

2.3.1 Mô hình các yếu tổ ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHNN 18

2.3.2 Mô hình các yếu tổ ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả BHNN (WTP) 19

2.4 Tổng quan nghiên cứu về BHNN 21

2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài 21

2.4.2 Các nghiên cứu trong nước 23

Tóm tắt chương 2 28

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Quy trình nghiên cứu 29

3.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 30

3.2.1 Phương pháp định tính 30

3.2.2 Phương pháp định lượng 31

3.3 Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu 33

3.3.1 Phương pháp chọn mẫu 33

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 33

3.4 Công cụ phân tích dữ liệu 37

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH THÍ ĐIỂM BHNN TẠI HUYỆN QUỲNH LƯU 38

4.1 Đặc điểm và rủi ro trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 38

4.1.1 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp 38

4.1.2 Các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam 39

4.2 Chương trình BHNN tại Việt Nam 40

4.3 Đánh giá chương trình thí điểm BHNN tại huyện Quỳnh Lưu 44

4.3.1 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp huyện Quỳnh Lưu 44

Trang 7

4.3.2 Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tại huyện 49

4.3.3 Triển khai chương trình thí điểm BHNN tại huyện 54

4.4 Đánh giá về chương trình 68

4.4.1 Đánh giá chung 68

4.4.2 Đánh giá về nhu cầu tham gia của người dân 74

4.5 Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia và mức sẵn lòng chi trả BHNN của các hộ gia đình trên địa bạn huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An 79

4.5.1 Mô hình và phương pháp ước lượng 79

4.5.2 Mô tả số liệu và các biến số 80

4.5.3 Kết quả ước lượng 81

CHƯƠNG 5 KHUYẾN NGHỊ 86

5.1 Khuyến nghị chung 86

5.1.1 Quản lý rủi ro bảo hiểm 86

5.1.2 Về hình thức bảo hiểm 87

5.1.3 Tuyên truyền lợi ích của bảo hiểm cây lúa 88

5.1.4 Về hoàn thiện chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm cây lúa 89

5.1.5 Nâng cao năng lực cho các cơ quan bảo hiểm cây lúa 92

5.1.6 Phối hợp các ban ngành địa phương và các cơ quan 93

5.2 Khuyến nghị từ kết quả mô hình nghiên cứu 94

5.2.1 Điều chỉnh mức phí bảo hiểm để khuyến khích nông dân tham gia 94

5.2.2 Xem xét mở rộng quy mô trồng lúa có tác động khả năng tham gia BHNN của hộ 94

5.2.3 Chính phủ cần hỗ trợ vốn vay cho các hộ nông dân 94

5.2.4 Xem xét ổn định thị trường cũng như giá cả đầu ra tạo điều kiện cho hộ nông dân tăng thêm thu nhập 95

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

ABIC Agriculture Bank Insurance Joint – Stock Corporation

Công ty cổ phần bảo hiểm ngân hàng nông nghiệp

BHNN Bảo hiểm nông nghiệp

BHTN Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH Bảo hiểm xã hội

BHYT Bảo hiểm y tế

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations,

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

IPSARD Institute of Policy and Strategy for Agriculture and Rural Development

Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn

KHCN Khoa học công nghệ

MPCI Bảo hiểm cây trồng đa thảm họa

PDE Thực nghiệm nhu cầu sản phẩm

PGG thực nghiệm lợi ích công

PTNT Phát triển nông thôn

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Cách thức chọn mẫu nghiên cứu 13

Bảng 3.1: Cách thức chọn mẫu nghiên cứu 33

Bảng 4.1: Diện tích và sản lượng lúa huyện Quỳnh Lưu năm 2011 - 2013 46

Bảng 4.2: Tình hình sản xuất lúa ở 3 xã chọn điểm 48

Bảng 4.3: Những hộ gặp rủi ro do thiên tai và ứng xử khi gặp phải rủi ro 50

Bảng 4.4: Tỷ lệ hộ gặp rủi ro dịch bệnh và ứng xử khi gặp rủi ro 51

Bảng 4.5: Rủi ro do các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất nông nghiệp 52

Bảng 4.6: Bảng tính phí bảo hiểm cây lúa 57

Bảng 4.7: Bảng phí phải nộp của hộ dân theo biểu phí quy định 57

Bảng 4.8: Bảng xác định giá trị bồi thường khi gặp rủi ro theo quy định 58

Bảng 4.9: Diện tích và mức phí tham gia bảo hiểm cây lúa ở 3 xã nghiên cứu 60

Bảng 4.10: Phí tham gia bảo hiểm cây lúa của 3 xã nghiên cứu 61

Bảng 4.11: Giá trị bồi thường thiệt hại bảo hiểm cây lúa ở 3 xã nghiên cứu 62

Bảng 4.12: Tình hình tham gia bảo hiểm cây lúa của huyện Quỳnh Lưu 67

Bảng 4.13: Nhu cầu tham gia bảo hiểm theo quy mô sản xuất 75

Bảng 4.14: Nhu cầu tham gia bảo hiểm theo độ tuổi 77

Bảng 4.15: Nhu cầu tham gia bảo hiểm theo trình độ học vấn 78

Bảng 4.16: Đặc điểm của hộ nông dân trong huyện Quỳnh Lưu được sử dụng trong mẫu điều tra 81

Bảng 4.17: Kết quả mô hình logit 82

Bảng 4.18: Kết quả mô hình hồi quy OLS 84

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 2.1: Tổng mức sẵn lòng chi trả 20

Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 29

Hình 4.1: Nhu cầu tham gia bảo hiểm 74

Sơ đồ 1: Quy trình tham gia thực hiện bảo hiểm cây lúa 55

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Quá trình phát triển của BHNN tại Việt Nam còn chậm phát triển và non trẻ, BHNN được triển khai thí điểm từ năm 1982 tại hai huyện Nam Ninh và Vụ Bản (tỉnh Nam Định) với sự tham gia của Công ty bảo hiểm Bảo Việt Sau 28 năm (từ năm 1982 đến 2010), Bảo Việt đã triển khai nhiều loại hình bảo hiểm như: bảo hiểm cây lúa, bảo hiểm cây công nghiệp và bảo hiểm cháy rừng Chương trình thí điểm BHNN với mục đích thực hiện thí điểm BHNN nhằm hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp

Từ số liệu điều tra của phòng Nông nghiệp huyện Quỳnh Lưu cho thấy, trong

137 hộ được điều tra có 55 hộ cho biết có gặp thiên tai bão, lốc trong quá trình sản xuất lúa gây ảnh hưởng đến năng suất lúa và chiếm tỷ lệ 40,15%, có 58 hộ gặp lũ, lụt chiếm 42,34%, hạn hán có 15 hộ chiếm 10,50%, rét đậm, rét hại có 9 hộ chiếm 6,57% Như vậy, có thể thấy thiên tai lũ lụt, bão lốc thường xuyên gây ảnh hưởng trên địa bàn (tỷ lệ khảo sát là 82,49% số hộ được hỏi gặp phải những rủi ro này) Hạn hán và rét đậm, rét hại cũng diễn ra nhưng gây ảnh hưởng ít hơn trên địa bàn (17,51%)

Về tình hình thực hiện bảo hiểm cây lúa ở huyện Quỳnh Lưu, bảo hiểm cây lúa

ở Huyện Quỳnh Lưu lần đầu tiên được triển khai từ năm 2011 theo quyết định 315 của Thủ tướng chính phủ Tuy nhiên, đến năm 2012 bảo hiểm cây lúa mới chính thức được các hộ nông dân tham gia, và cho đến thời điểm năm 2013 đã có 33/33 xã và thị trấn (gồm 32 xã và một thị trấn) trong huyện tham gia bảo hiểm cây lúa Bảo hiểm cây lúa đang được thực hiện ở 2 vụ chính là vụ đông xuân và vụ hè thu Năm 2012, tổng số hộ tham gia là 17.308 hộ, trong đó số hộ tham gia vụ xuân là 7414 hộ, vụ hè thu là 9894

hộ Năm 2013, tổng số hộ tham gia là 27637 hộ, trong đó số hộ tham gia vụ xuân là 9.180 hộ, vụ hè thu là 18.457 hộ Như vậy, qua số liệu có thể thấy, số hộ tham gia bảo hiểm cây lúa năm 2013 tăng mạnh so với năm 2012, và điều dễ nhận thấy đó là số hộ tham gia vụ hè thu lớn hơn hẳn so với vụ xuân điều này có thể giải thích là do sản xuất vụ

hè thu vào khoảng tháng 08, 09,10, ở giai đoạn này thường xuyên có nhiều bão lụt nhất trong năm gây nhiều tổn thất cho sản xuất lúa Chính vì vậy, người nông dân quyết định mua bảo hiểm cho cây lúa ở vụ này nhằm hạn chế tổn thất do thiên tai gây ra

Trang 12

Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHNN của các

hộ ở huyện Quỳnh Lưu cho thấy, nhân tố rủi ro thiên tai khi trồng lúa có tác động theo chiều thuận với mong muốn tham gia BHNN cho cây lúa và phù hợp với kỳ vọng dấu

Có nghĩa những hộ nông dân gặp rủi ro thiên tai trong trồng lúa, họ hiểu rõ những thiệt hại mà nó mang lại Để yên tâm sản xuất và đề phòng rủi ro thiên tai trong trồng lúa năm tới, họ có xác suất tham gia BHNN cao hơn những hộ không gặp rủi ro về thiên tai là 14,8% (Tỷ số dy/dx=0,148) Những người có nhận thức cao về các rủi ro ảnh hưởng đến năng suất có xu hướng mua bảo hiểm nhiều hơn

Kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy, nhân tố quan tâm tới hỗ trợ phí BHNN có thể coi là phát hiện mới phù hợp với điều kiện kinh tế hộ gia đình ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Có thề nhìn nhận, kết quả khi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN và mức sẵn lòng chi trả phí BHNN giữa các nghiên cứu không phải khi nào cũng đồng nhất Có những nhân tố phù hợp, nhưng cũng có những đi ngược lại với kết quả nghiên cứu trước

Để bảo hiểm cây lúa được phát triển cần thực hiện phối hợp các khuyến nghị sau đây:

- Quản lý rủi ro bảo hiểm

- Về hình thức bảo hiểm

- Tuyên truyền lợi ích của bảo hiểm cây lúa

- Về hoàn thiện chính sách của Nhà nước đối với bảo hiểm cây lúa

- Nâng cao năng lực cho các cơ quan bảo hiểm cây lúa

- Phối hợp các ban ngành địa phương và các cơ quan

Từ kết quả nghiên cứu từ mô hình ước lượng, luận văn đưa ra một số khuyến nghị nhằm xây dựng hoàn thiện bảo hiểm nông nghiệp ở địa phương trong thời gian tới như sau:

- Điều chỉnh mức phí bảo hiểm để khuyến khích nông dân tham gia

- Xem xét mở rộng quy mô trồng lúa có tác động khả năng tham gia BHNN của hộ

- Chính phủ cần hỗ trợ vốn vay cho các hộ nông dân

- Xem xét ổn định thị trường cũng như giá cả đầu ra tạo điều kiện cho hộ nông dân tăng thêm thu nhập

Từ khoá: Bảo hiểm cây lúa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Trang 13

CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp với hơn 70% dân số sống bằng nghề nông Mặc dù nền nông nghiệp Việt Nam có vai trò vị trí chiến lược trong việc phát triển kinh tế, xã hội, ổn định chính trị, nâng cao đời sống nhân dân và là một ngành sản xuất chính nhưng thu nhập của người nông dân từ lĩnh vực này lại không đáng kể Hơn nữa, ở Việt Nam lại chưa có một nền nông nghiệp sản xuất lớn theo đúng nghĩa, vẫn duy trì nền sản xuất nhỏ lẻ theo quy mô hộ gia đình, chủ yếu dựa vào sức lao động, không sản xuất theo kế hoạch mà chủ yếu lại theo tập quán

Mặt khác, Việt Nam lại là một trong những nước chịu nhiều ảnh hưởng và hậu quả do thiên tai gây ra, là một trong năm ổ bão của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương

Vì vậy, tất yếu sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam phải chịu những rủi ro lớn về thiên tai, dịch bệnh… Bên cạnh đó, do nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới, vì vậy cần thay đổi Pháp luật, chủ trương, chính sách điều tiết

vĩ mô để đáp ứng các yêu cầu khi tham gia các liên kết kinh tế, khu vực kinh tế, nên sản xuất nông nghiệp cũng chịu những rủi ro từ nền kinh tế vĩ mô, về chính trị Do đó, BHNN là một trong những giải pháp tối ưu cho ngành nông nghiệp của đất nước Trên góc độ kinh tế - xã hội, việc triển khai BHNN ở Việt Nam có tác dụng rất lớn BHNN góp phần bảo vệ thành quả của người lao động trong quá trình sản xuất nông nghiệp,

ổn định giá cả trên thị trường tự do, đặc biệt là giá cả của các mặt hàng thiết yếu nhất như lương thực và thực phẩm, đảm bảo an sinh xã hội

Trên thực tế, BHNN được triển khai ở Việt Nam từ khá sớm Mặc dù được khởi động từ rất sớm, cách đây hơn 30 năm, song cho đến nay phí BHNN của toàn thị trường mới chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ (năm

2004 chiếm khoảng 0,069%; 2005 chiếm 0,008%; 2006 chiếm 0,012%; từ 2007 đến

2011 chiếm 0,01%/năm) Ngay từ đầu những năm 1980, Tập đoàn Bảo Việt đã thí điểm nhận bảo hiểm cây lúa ở hai huyện Vụ Bản và Nam Ninh tỉnh Nam Định Đến năm 1997, Bảo Việt tiếp tục mở rộng tại 16 tỉnh, thành đối với cây lúa Sau 15 năm triển khai BHNN (từ năm 1983 - 1998), Bảo Việt đã mở rộng dịch vụ tới 26 tỉnh, thành, nhận bảo hiểm cho 200.000 ha lúa Song đến năm 1999, Bảo Việt phải bỏ cuộc

vì không có lãi, các dịch vụ BHNN khác như vật nuôi, cây trồng cũng bị ngưng trệ Bên cạnh bảo hiểm cây lúa, Bảo Việt cũng đã xúc tiến bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm

Trang 14

cho một số loại cây công nghiệp như cao su, cây bạch đàn làm nguyên liệu giấy Tuy nhiên, các sản phẩm này mới chỉ được triển khai ở quy mô nhỏ, hiệu quả còn hạn chế

và cũng đã chấm dứt từ lâu Công ty TNHH bảo hiểm tổng hợp Groupama Việt Nam cũng triển khai BHNN từ năm 2002 Công ty cung cấp một số sản phẩm bảo hiểm trong nông nghiệp nhưng doanh thu mang lại thấp, bồi thường cao, thậm chí bị lỗ sau một số vụ thiên tai Ngoài ra, có thêm công ty Bảo Minh (bảo hiểm cây cà phê) và ABIC (bảo hiểm bò sữa tại Nghệ An) bắt đầu từ năm 2010

Thấu hiểu được nhu cầu cấp bách đó của nông dân và doanh nghiệp, xuất phát

từ những yêu cầu phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, là tiền đề để xây dựng nông thôn mới Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 315/QÐ-TTg ngày 01/3/2011 (gọi tắt là Quyết định 315) về việc thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011-2013 Việc triển khai thí điểm BHNN trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết góp phần tạo điều kiện cho người dân tiếp cận được với bảo hiểm theo nguyên tắc

tự nguyện, đảm bảo an sinh xã hội, ổn định nguồn vốn trong sản xuất thông qua việc đền bù cho người dân khi có tổn thất xảy ra Đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bảo hiểm triển khai sản phẩm kinh doanh mới nhằm đa dạng hóa các hoạt động bảo hiểm trong nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước

Nghệ An là một trong 20 địa phương trong cả nước được thí điểm triển khai chương trình BHNN Theo Quyết định số 315 của Chính phủ và Thông tư 47 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Nghệ An có 3 huyện tham gia thí điểm BHNN với cây trồng là: huyện Quỳnh Lưu, huyện Diễn Châu và huyện Yên Thành và 3 huyện tham gia thí điểm BHNN với vật nuôi là Đô Lương, Quỳnh Lưu và Tương Dương

Là một huyện được thí điểm BHNN, ngành nông nghiệp huyện Quỳnh Lưu có rất nhiều sản phẩm đặc trưng, hội tụ đầy đủ lợi thế để phát triển Tuy nhiên, hầu hết các sản phẩm còn sản xuất manh mún, lạc hậu về kỹ thuật, công nghệ, mối liên kết giữa người nông dân với doanh nghiệp lỏng lẻo, chưa xây dựng được thương hiệu Vì vậy, sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường thấp, giá trị gia tăng chưa cao Với mục đích tổng kết đánh giá toàn diện chương trình thí điểm BHNN để tìm ra những điểm mạnh (tích cực) cũng như những điểm yếu (tiêu cực, thách thức) để

từ đó bổ sung, hoàn thiện chính sách, làm cơ sở cho việc nhân rộng, đưa Chương trình thiết thực này vào sản xuất nông nghiệp, nhằm chia sẻ rủi ro, góp phần triển khai chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới trong bối cảnh hội

Trang 15

nhập kinh tế quốc tế và biến đổi khí hậu hiện nay trên địa tỉnh Nghệ An nói chung và

huyện Quỳnh Lưu nói riêng là rất cần thiết Với mục đích đó tôi lựa chọn đề tài “Đánh

giá chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2013” làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Luận văn nghiên cứu, đánh giá chương trình BHNN tại huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2013 để cải thiện chương trình BHNN trong tương lai và hướng tới một nền nông nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả, quản lý được rủi ro trong sản xuất nông nghiệp

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của Luận văn:

 Phân tích và đánh giá thực trạng về tình hình triển khai thí điểm BHNN trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An theo chương trình Bảo hiểm Nông nghiệp của Chính Phủ

 Xác định cá nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia Bảo hiểm Nông nghiệp của người dân

 Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả Bảo hiểm Nông nghiệp của người dân

 Đánh giá hiệu quả của việc phòng chống rủi ro của người dân với chương trình Bảo hiểm Nông nghiệp

 Đề xuất phương hướng và khuyến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình Bảo hiểm Nông nghiệp của Chính phủ

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã nêu ra trong mục tiêu nghiên cứu, đề tài tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Các rủi ro trong sản xuất nông nghiệp tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An?

- Việc thí điểm BHNN của Chính phủ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã được tiến hành như thế nào?

- Các khuyến nghị nào để hoàn thiện việc triển khai BHNN tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An?

Trang 16

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là Chương trình thí điểm BHNN trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An

- Khách thể nghiên cứu trong luận văn là những hộ nông dân được lựa chọn tham gia chương trình thí điểm BHNN tại huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu chương trình thí điểm BHNN trên những

hộ gia đình trồng cây lúa nước tham gia bảo hiểm

- Về mặt không gian, luận văn nghiên cứu sản phẩm BH cây lúa đang được thí điểm trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Về mặt thời gian: luận văn nghiên cứu cho giai đoạn thí điểm từ năm 2011 đến năm 2013

1.5 Ý nghĩa của nghiên cứu

Trang 17

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ

BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP

2.1 Lý thuyết về bảo hiểm

Trong cuộc sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, con người dù dã luôn chú ý ngăn ngừa và đề phòng nhưng vẫn

có nguy cơ gặp phải những rủi ro bất ngờ xảy ra Các rủi ro đó do nhiều nguyên nhân:

 Các rủi ro do thiên nhiên gây ra như bão, lụt, hạn hán, động đất, sét, sương muối, dịch bệnh

 Các rủi ro do biến động của khoa học và công nghệ

 Các rủi ro do chủ trương chính sách thay đổi

 Rủi ro do biến động kinh tế, biến động thị trường

Dù nguyên nhân gì đi nữa, khi rủi ro xảy ra thương gây cho con người những khó khăn trong cuộc sống như: mất hoặc giảm thu nhập, phá hoại nhiều tài sản làm ngưng trệ sản xuất và kinh doanh của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và làm ảnh hưởng đến đời sống kinh tế - xã hội nói chung

Đế đối phó vói các rủi ro, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như khắc phục hậu quả của rủi ro gây ra Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro có hai nhóm biện pháp đối phó vối rủi ro và hậu quả do rủi ro gây

ra – đó là nhóm các biện pháp kiếm soát rủi ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro

+ Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro Các biện pháp này thường được sử dụng để ngăn chặn hoặc giảm thiếu khả năng xảy ra rủi ro

Giảm thiểu tổn thất: người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các biện pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất xảy ra

Mặc dù biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiện quả trong việc ngăn chặn hoặc giảm thiển rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết được hậu quả

+ Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm Đây là các biện pháp được sử dụng trước khi rủi ro xảy ra với mục đích khắc phục các hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra nếu có

Bảo hiểm đây là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của các tổ chức cũng như cá nhân Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm là

Trang 18

sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm không chỉ

là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán vể tổn thất khi chúng xảy ra Bảo hiểm là công cụ đối phó vối hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra có hiệu quả nhất Như vậy, bảo hiểm ra đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt dộng sản xuất kinh doanh

2.1.1 Khái niệm về Bảo hiểm

Mặc dù ra đời từ rất sớm, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về bảo hiểm Do người ta nhìn nhận và đưa ra khái niệm bảo hiểm theo các góc nhìn khác nhau

- Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng “Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi”

- Dưới góc độ pháp lý Hemard đưa ra khái niệm: “Bảo hiểm là một nghiệp vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoản tiền (chi phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm), cho chính mình hoặc cho một người thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được một khoản tiền bồi thường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro, đền bù thiệt hại theo pháp luật”

- Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, các tập đoàn bảo hiểm thương mại trên thế giới đưa ra khái niệm “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”

Ta thấy rằng, các khái niệm về bảo hiểm được đều bao hàm các khía cạnh về rủi

ro, về sự chuyển giao rủi ro giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm thông qua phí bảo hiểm và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểm gặp phải rủi

ro tổn thất Trong luận văn này khái niệm bảo hiểm được hiểu như sau:

“Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đó một cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba Khoản tiền bồi thường hoặc chi trả này do một tổ chức đảm nhận, tổ chức này có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bảo hiểm và bù chúng theo quy luật thống kê”

Trang 19

2.1.2 Phân loại Bảo hiểm

Trên thế giới hiện nay tồn tại 4 loại hình bảo hiểm là: Bảo hiểm thương mại; Bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp Tùy theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và mô hình tổ chức ngành bảo hiểm mà mỗi nước có thể triển khai tất

cả hay chỉ một số loại hình bảo hiểm trong 4 loại hình bảo hiểm như trên

2.1.2.1 Bảo hiểm thương mại

Là loại hình bảo hiểm kinh doanh nhằm mục tiêu chính là lợi nhuận Hoạt động kinh doanh của BHTM chịu sự chi phối chủ yếu của luật Kinh doanh bảo hiểm, các điều ước và thông lệ quốc tế Phạm vi hoạt động kinh doanh BHTM rất rộng do đối tượng chi phối BHTM là loại hình bảo hiểm chủ yếu và rất phát triển BHTM được thể hiện ở những loại hình bảo hiểm chủ yếu sau:

 Bảo hiểm hàng hải: Bảo hiểm mà chúng ta biết đến hôm này bắt nguồn từ Bảo hiểm hàng hải Nó xuất hiện do lịch sử phát triển rất sớm của ngành hàng hải với những rủi ro tiềm ẩn rất lớn Bảo hiểm hàng hải ra đời nhằm bảo hiểm cho những tổn thất của hàng hóa và tàu thuyền do nguyên nhân bất khả kháng, tai nạn trên biển, hỏa hoạn, hàng hóa bị vứt bỏ xuống biển, bị chính quyền hoặc các cá nhân tịch thu, bị trả đũa hay gặp phải bất kỳ rủi ro nào…

 Bảo hiểm nhân thọ: Là loại hình bảo hiểm thông dụng và phát triển nhanh trên thế giới Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ đầu tiên được ký tại Anh năm 1583 Các công ty bảo hiểm nhân thọ xuất hiện tại Anh vào giữa thế kỷ 17 Ngày nay, bảo hiểm nhân thọ đã được triển khai ở hầu hết các nước trên thế giới

 Bảo hiểm hỏa hoạn: Xuất hiện lần đầu tại Hamburg (CHLB Đức) Tuy nhiên điều thúc đẩy Bảo hiểm hỏa hoạn phát triển nhanh chóng cho đến nay là vụ cháy tại Luân Đôn năm 1666

 Bảo hiểm tai nạn: Loại hình này chính thức ra đời vào đầu thế kỷ 19 Nó xuất phát do vào năm 1848, tờ Thời báo nước Anh đưa tin rằng, hầu như ngày nào cũng xảy

ra tai nạn đường sắt Những tai nạn này thường dẫn đến thương tật hoặc tử vong Năm

1849 công ty bảo hiểm hành khách đường sắt đã được thành lập tại Anh để bảo hiểm cho hành khách đi trên tàu hỏa

Từ đầu thế kỷ 19 đến nay, còn rất nhiều loại hình BHTM khác ra đời như: Bảo hiểm kỹ thuật; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm hàng không… và cũng từ cuối thế kỷ 19 đến nay, BHTM đã thực sự trở thành một ngành kinh doanh phát triển không thể thiếu được với mỗi quốc gia

Trang 20

2.1.2.2 Bảo hiểm xã hội

BHXH là loại hình bảo hiểm đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi nó liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động Hoạt động BHXH không nhằm mục đích kiếm lời và nó chịu sự chi phối của Luật BHXH cũng như định hướng chính sách kinh tế - xã hội của từng quốc gia BHXH có tính cộng đồng xã hội, tính nhân đạo

và nhân văn sâu sắc và là trụ cột chính của chính sách an sinh xã hội của mỗi nước

2.1.2.3 Bảo hiểm y tế

BHYT có thể được triển khai độc lập với các loại hình bảo hiểm khác và cũng

có thể chỉ là một chế độ trong hệ thống các chế độ BHXH Về cơ bản loại hình bảo hiểm này mang đầy đủ tính chất của BHXH Xã hội càng phát triển văn minh thì loại hình này càng phát triển, bởi nhu cầu được bảo vệ được chăm sóc sức khỏe, được khám chữa bệnh một cách bình đẳng là nhu cầu chính đáng và có tính chất xã hội rất cao đối với mọi tầng lớp dân cư

2.1.2.4 Bảo hiểm thất nghiệp

BHTN cũng được triển khai độc lập với các loại hình bảo hiểm khác và cũng có thể triển khai kết hợp với BHXH Khi triển khai kết hợp, nó chỉ là một chế độ trong các chế độ BHXH Vì thế mục đích, đối tượng, tính chất của BHTN cũng tương tự như BHXH Có thể nói, Châu Âu là cái nôi của tất cả các loại hình bảo hiểm, trong đó có BHTN Theo số liệu của ILO năm 2005 trên thế giới đã có 72 nước triển khai BHTN

và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động

2.1.3 Vai trò của Bảo hiểm

Bảo hiểm nói chung và từng loại hình bảo hiểm nói riêng đều mang lại những lợi ích hết sức to lớn về kinh tế và xã hội

2.1.3.1 Vai trò kinh tế

 Góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư

Từ khi các loại hình bảo hiểm ra đời cho đến nay đã minh chứng rằng, bảo hiểm góp phần to lớn trong việc ổn định tài chính cho các cá nhân và tổ chức tham gia bảo hiểm Người ta có thể ổn định được về thu nhập nếu tham gia BHXH và BHTN Có thể ổn định về tài chính nếu tham gia BHYT và BHTN Bởi một lẽ khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm, nếu bị tổn thất các

cơ quan, doanh nghiệp sẽ được trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời để người tham gia bảo hiểm nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và hoạt động sản xuất

Trang 21

kinh doanh, qua đó làm cho việc kinh doanh phát triển bình thường Vai trò này đáp ứng được mục tiêu kinh tế của người tham gia nên đối tượng tham gia bảo hiểm này ngày càng đông đảo

Trong các nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm đã trực tiếp đảm bảo cho các khoản đầu tư Bởi chỉ có những nhà bảo hiểm mới dám đảm bảo, giảm thiểu rủi ro nhờ cơ chế bảo hiểm Đối với hầu hết các loại hình đầu tư như: Đầu tư xây dựng các giàn khoan giàu khí; đầu tư thiết kế và sản xuất các loại vệ tinh; xây dựng siêu thị… chủ đầu tư không thể mạo hiểm nhìn số tiền đầu tư khổng lồ của mình “tan thành mây khói” một khi không có bảo hiểm Do vậy, hầu hết các dự án đầu tư hiện nay đòi hỏi phải có bảo hiểm Không có sự đảm bảo của bảo hiểm thì các chủ đầu tư, nhất là các ngân hàng liên quan sẽ không dám mạo hiểm đầu tư vốn cho dự án

- Bảo hiểm là một trong những kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

Các cơ quan và DNBH thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sự kiện bảo hiểm xảy

ra đối với đối tượng bảo hiểm Điều đó, cho phép họ có một số tiền rất lớn và cần phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm Ngoài ra, giữa thời điểm xảy ra tổn thất và thời điểm chi trả tiền bảo hiểm thường có một “khoảng trễ” thời gian này thường kéo dài nhiều năm, nhất là với một số loại hình bảo hiểm đặc thù như: BHTN; BHXH Bởi vậy, số phí thu được phải đem vào dự trữ, dự phòng và đem vào đầu

tư để thu lãi Hơn nữa, các loại hình BHTN, BHXH lại ngày càng phát triển nhanh chóng

và số phí tồn tích lại ngày càng lớn Điều đó cho thấy vai trò huy động vốn để đầu tư của toàn ngành bảo hiểm là vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế

Trang 22

doanh nghiệp có thể tiết kiệm được thông qua loại hình BHTN, hay với BHXH thì tiết kiệm hôm nay là để đảm bảo cuộc sống sau này khi người lao đồng nghỉ hưu…

 Bảo hiểm là chỗ dựa cho người dân và mọi tổ chức kinh tế- xã hội

Điều này, được thể hiện ở chỗ với một mức đóng bảo hiểm rất khiêm tốn mà các cơ quan các DNBH thu được, họ vẫn có thể giúp đỡ các cá nhân, các gia đình và các cơ quan doanh nghiệp khác khắc phục được hậu quả rủi ro, cho dù đó là những rủi

ro không lường trong cuộc sống và sản xuất Đó cũng là chỗ dựa để họ yên tâm, tin tưởng hơn vào cuộc sống và tương lai Điều này lý giải vì sao ông Wisston Clurcholl – một chính khách đã nói:

“Nếu có thể tôi sẽ viết từ “Bảo hiểm” trong mỗi nhà và trên trán mỗi người Càng ngày, tôi càng tin chắc rằng, với một giá khiêm tốn, bảo hiểm có thể giải phóng các gia đình ra khỏi thảm họa khôn lường trước được”

2.2 Lý thuyết về Bảo hiểm Nông nghiệp

2.2.1 Sự phát triển của Bảo hiểm Nông nghiệp

Năm 1898 đánh dấu sự ra đời của BHNN Nước Phổ (giờ là tỉnh Masuria của Ba Lan) đã tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng thông qua hoạt động của các công ty bảo hiểm Nhưng các công ty này không tồn tại và phát triển được trước các thảm họa lớn Ở Mỹ, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số công ty bảo hiểm tư nhân tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cây trồng nhưng đều thất bại vì thiếu thông tin, phí bảo hiểm quá thấp, địa bàn hẹp nên việc phân tán rủi ro

Warmia-bị hạn chế Năm 1993, cả Nhật Bản và Mỹ đều thực hiện chương trình bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng Chương trình này có hai đặc trưng cơ bản: chính phủ tài trợ và do các công ty nhà nước đảm trách Nhờ đó, hoạt động bảo hiểm có thuận lợi Song chiến tranh Thế giới thứ II đã ảnh hưởng đến chương trình này Từ năm 1949 đến nay, nhiều nước trên thế giới tiến hành bảo hiểm cây trồng theo hướng bảo hiểm mọi rủi ro hoặc một số loại rủi ro, có nước bảo hiểm một loại cây trồng, có nước bảo hiểm nhiều loại cây khác nhau Hình thức bảo hiểm bao gồm tự nguyện và bắt buộc do các công ty tư nhân hoặc công ty nhà nước tiến hành

2.2.2 Phân loại Bảo hiểm Nông nghiệp

2.2.2.1 Phân loại theo phương pháp tiến hành

 Bảo hiểm truyền thống là bảo hiểm theo nguyên tắc bồi thường Đặc trưng

cơ bản nhất của bảo hiểm bồi thường là lấy thiệt hại, tổn thất của từng cá nhân, tổ chức làm căn cứ để xét bồi thường Điều đó đòi hái phải tiến hành giám định để xác định

Trang 23

mức độ thiệt hại của từng đối tượng, tiến hành bồi thường trên cơ sở và trong phạm vi tổn thất của từng cá nhân, tổ chức (Hazell và cộng sự, 1986)

 Bảo hiểm chỉ số là loại hình bảo hiểm căn cứ vào một chỉ số độc lập, khách quan để đánh giá mức độ thiệt hại và xác định mức bồi thường cho người tham gia bảo hiểm Các chỉ số để đánh giá mức độ thiệt hại của sản xuất có thể là lượng mưa, mực nước sông, nhiệt độ trung bình… Việc bồi thường được thực hiện khi các chỉ số này vượt quá một ngưỡng đã định trước Phương pháp xác định thiệt hại này không cần phải chứng thực thiệt hại của người mua bảo hiểm, không cần phải phân loại rủi ro của từng

cá nhân mua bảo hiểm, giảm thiểu lựa chọn đối nghịch hoặc rủi ro đạo đức (IPSARD, 2009)

2.2.2.2 Phân loại theo mức trách nhiệm

Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp nông thôn (IPSARD) đã phân loại bảo hiểm thảm họa định danh và bảo hiểm đa thảm họa như sau:

 Bảo hiểm thảm họa cây trồng chỉ số là loại bảo hiểm một loại rủi ro cụ thể Thông thường, rủi ro này dẫn tới những tổn thất độc lập (nó chỉ ảnh hưởng đến một số khách hàng bảo hiểm cùng một lúc) Bảo hiểm thiên tai đòi hỏi những người tính toán tổn thất phải đánh giá thiệt hại đối với từng nông hộ Bảo hiểm mưa đá là phương thức bảo hiểm phổ biến nhất của bảo hiểm cây trồng cho hiểm họa định danh

 Bảo hiểm cây trồng đa thảm họa (MPCI) là bảo hiểm tổng hợp giúp bảo vệ

vụ mùa khá tổn thất từ nhiều loại rủi ro Một số rủi ro này dẫn tới tổn thất tương quan (ảnh hưởng đến nhiều khách hàng bảo hiểm cùng một lúc) Các chương trình bảo hiểm MPCI rất khó quản lý vì chi phí cao, một phần vì MPCI làm giảm động lực quản lý rủi

ro hiệu quả của các nông dân Các nước phát triển dùng các khoản trợ cấp chính phủ to lớn để khắc phục khoản chi phí ngất ngưởng này MPCI hoàn toàn không phù hợp cho những nước mà các nông hộ chiếm đa số vì chi phí phân phối rất cao và vấn đề kép về lựa chọn đối nghịch và hiểm họa đạo đức

2.2.2.3 Phân loại theo đối tượng

Dựa vào đối tượng bảo hiểm, BHNN gồm các loại:

 Bảo hiểm cây trồng (Chính là đối tượng nghiên cứu của luận văn, sẽ được giới thiệu cụ thể ở phần dưới)

Trang 24

 Bảo hiểm vật nuôi

 Bảo hiểm thủy sản

2.2.3 Bảo hiểm cây trồng

Cây trồng rất đa dạng và phong phú vể chủng loại Tuỳ theo quá trình sinh trưởng, mục đích sử dụng và biện pháp canh tác, có thể phân loại cây trồng theo nhiều tiêu chí khác nhau Tuy nhiên, để tạo điểu kiện thuận lợi cho người tham gia bảo hiểm khi ký kết hợp đồng, giúp công tác tính phí bảo hiểm, đánh giá và quản lý rủi ro được

dễ dàng thuận lợi, cản cứ vào đặc điểm sinh trưởng, cây trồng được chia ra:

 Cây hàng năm: Là những loại cây trồng có chu kỳ sinh trưỏng và cho sản phẩm trong vòng dưới 1 năm Cây hàng năm bao gồm rất nhiều loại như: Lúa, ngô, khoai sắn, đậu đỗ các loại Đặc điểm của nhóm cây này là thời gian sính trưởng ngắn, gieo trồng mang tính thời vụ, mỗi loại cây thích ứng vối một thời kỳ nhất định Trong năm đầu tư gieo trồng không lớn, nhưng việc kiểm soát và quản lý rủi ro rất khó

 Cây lâu năm: Là loại cây trồng có chu kỳ sinh trưỏng và cho sản phẩm từ 1 năm trở lên như: Cà phê, cao su, hồ tiêu Đặc điểm của cây lâu năm là chu kỳ sinh trưỏng kéo dài, có loại 20 đến 30 năm như cà fê; cũng có loại từ 50 đến 80 năm như cây cao su Việc gieo trồng các loại cây lâu năm đòi hỏi phải có kỹ thuật cao, chi phí đầu tư rất lớn Cây lâu năm là một trong những loại tài sản cố định có giá trị ban đầu thường rất lớn so vối các loại tài sản cố định khác trong nông nghiệp

 Vườn ươm (cây giống): Là loại cây trồng có chu kỳ sinh trưỏng rất ngắn, sản phẩm của chúng được coi là chi phí sản xuất cho những quá trình sản xuất tiếp theo Đặc điếm của vườn ươm là giá trị thường rất thấp, nhưng kỹ thuật đòi hỏi rất cao và rất nhạy cảm với thời tiết khí hậu

Căn cứ vào cách phân loại trên khi tiến hành lập phương án triển khai bảo hiểm, cần giải quyết các vấn đề cơ bản sau:

2.2.3.1 Đối tượng và phạm vi bảo hiểm

a Đối tượng bảo hiểm

Đối tượng bảo hiểm cây trồng có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển hoặc có thể là sản phẩm cuối cùng do cây trồng đem lại, tùy theo mục đích trồng trọt

Trang 25

Bảng 2.1 Cách thức chọn mẫu nghiên cứu

1 Cây hàng năm Sản lượng thu hoạch

Giá trị các loại cây đó

2 Cây lâu năm

Sản lượng hàng năm của mỗi loại cây

3 Vườn ươm Giá trị cây giống (suốt thời gian ươm giống-nhổ đi trồng nơi khác)

(Nguồn: Theo Thông tư số 47/2011/TT-BNNPTNT)

Nhưng do thời gian sinh trưởng khác nhau, nên mỗi loại đối tượng cây trồng trên có thời gian bảo hiểm khác nhau

 Thời gian bảo hiểm cây hàng năm thường tính từ lúc mới gieo trồng đến khi thu hoạch xong sản phẩm

 Đối với cây lâu năm: thời gian bảo hiểm có thể kéo dài 1 năm sau đó tái tạo qua các năm

 Thời gian bảo hiểm vườn ươm được tính từ lúc gieo trồng cho đến khi cây

đủ tuổi nhổ đi trồng tại nơi khác

Đơn vị bảo hiểm thường là đơn vị diện tích tự nhiên để tính năng suất cây trồng như: Ha, mẫu, sào… Tuy nhiên, với cây lâu năm do giá trị lớn và chu kỳ sinh trưởng kéo dài nên có thể bảo hiểm đến từng cây, từng theo lô cây

 Là hiện tượng bất ngờ mà con người chưa lương trước được hoặc hoàn toàn chưa khống chế và loại trừ được

 Dù đã áp dụng các biện pháp để phòng và hạn chế tổn thất nhưng không có kết quả hoặc không thể tránh khỏi tổn thất

 Là hiện tượng bất ngờ đối với nơi xảy ra, có cường độ phá hoại, hủy hoại lớn hơn hoặc xảy ra sớm hay muộn hơn bình thường hằng năm

Trang 26

2.2.3.2 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm

a Giá trị bảo hiểm

Bảo hiểm cây trồng cũng là một loại hình bảo hiểm tài sản, vì thế để xác định được phí bảo hiểm và số tiền bồi thường nếu gặp phải rủi ro gây thiệt hại phải xác định chính xác giá trị bảo hiểm hay số tiền bồi thường

Giá trị bồi thường cây trồng là giá trị bản thân cây trồng hoặc giá trị sản lượng cây trồng trên một đơn vị diện tích bảo hiểm Tuy nhiên, nếu bảo hiểm theo sản lượng thu hoạch thì phải căn cứ vào giá trị sản lượng lương thực thực thu của những năm trước để xác định số tiền bồi thường của năm báo cáo Cụ thể như sau:

b Số tiền bồi thường

 Số tiền bồi thường vườn ươm được tính bằng cách lấy giá cả của 1 cây nhân với số cây trên một đơn vị bảo hiểm Hoặc giá trị của 1 m2 cây giống nhân với số m2trên một đơn vị bảo hiểm Giá cả cây giống hoặc 1m2 cây giống được xác định căn cứ vào giá bình quân 1 sô năm trước đó

 Số tiền bồi thường đối với cây hằng năm được tính căn cứ vòa sản lượng thu hoạch thực tế của từng loại cây trong 1 số năm trước đó và giá cả 1 đơn vị sản phẩm trong những năm đó Sở dĩ phải căn cứ vào một số năm để xác định vì sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, do vậy sản lượng thu hoạch thực

tế luôn có sự biến động (do năm được mùa, năm mất mùa) Căn cứ vào số năm để xác định nhằm loại trừ những nhân tố chủ quan như: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn và lao động …Đồng thời còn làm cho xác suất mà thiên tai xuất hiện đủ rõ

để xác định chi phí bảo hiểm Thông thường số năm lựa chọn để xác định giá trị bồi thường là từ 3-5 năm là tương đối phù hợp với thực tế

Số tiền bồi thường với cây lâu năm là giá trị của từng cây hoặc từng lô cây hoặc từng đơn vị bảo hiểm… Nhưng cây lâu năm là tài sản cố định, giá trị ban đầu của loại tài sản này được xác định tại thời điểm vườn cây đưa vào kinh doanh Vì thế, giá trị bảo hiểm chính là giá trị ban đầu của cây trừ đi khấu hao cơ bản

2.2.3.3 Chế độ bảo hiểm cây trồng

Trong sản xuất nông nghiệp, năng suất, chất lượng sản phẩm và ngay cả giá trị của bản thân cây trồng phụ thuộc rất lâu vào sự cố gắng chủ quan của ngươi trồng trọt

Sự cố gắng chủ quan này bao gồm cả việc đầu tư thâm canh, trình độ áp dụng các biện

Trang 27

pháp kỹ thuật canh tác và cả ý thức bảo vệ cây khi gặp rủi ro Vì thế, các công ty bảo hiểm thương áp dụng một số chế độ bảo hiểm sau đây:

 Chế độ bảo hiểm bồi thương theo tỷ tệ Có nghĩa là khi tổn thất xảy ra, người bảo hiểm chỉ bồi thương cho ngươi trồng trọt theo một tỷ lệ nhất định so với toàn bộ giá trị tổn thất Mục đích áp dụng chế độ này là nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm của người tham gia bảo hiếm Tỷ lệ được bồi thường do các bên thoả thuận, nhưng tỷ

lệ này cao hay thấp phụ thuộc vào:

+ Trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp

+ Trình độ thâm canh tăng năng suất cây trồng

+ Khả năng tổ chức và quản lý của công ty bảo hiểm

+ Khả năng tài chinh của người tham gia bảo hiểm

+ Trình độ dân trí và sự tiến bộ của xã hội

Thông thương ở nhiều nước, tỷ lệ được bồi thường trong khoảng 60-80% so với tổn thất trong phạm vi bảo hiểm

 Chế độ bảo hiểm bồi thường trên mức miễn thường: có nghĩa là ký kết hợp đồng bảo hiểm, các bên tham gia thoả thuận với nhau về mức miễn thường (mức không được bồi thường) Nếu tôn thất xảy ra bằng mức miễn thường trở xuống, người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường, mà người trồng trọt sẽ phải tự gánh chịu phần tổn thất đó Nếu tốn thất xảy ra lớn hơn mức miễn thường, người bảo hiểm sẽ bồi thường phần vượt quá hoặc bồi thường toàn bộ tổn thất Chế độ này thường áp dụng cho cây hàng năm và mức miễn thường có thể bằng 10% đên 15% giá trị bảo hiểm Áp dụng chế độ này nhằm:

+ Nâng cao tinh thần trách nhiệm của người trồng trọt

+ Làm phí bảo hiểm giảm đi để phù hợp với khả năng tài chính của người trồng trọt + Đáp ứng được yêu cầu tổ chức và quản lý của các công ty bảo hiểm

+ Mức miễn thưòng cao hay thấp cũng do các bên tham gia thỏa thuận để đáp ứng được những mục đích đặt ra ở trên

2.2.3.4 Phương pháp xác định phí bảo hiểm cây trồng

Phí bảo hiểm cây trồng bao gồm: phí bồi thường tổn thất (phí thuần) và phần phụ phí Công thức tính như sau:

P = f+d

Trang 28

Để xác định được tổng mức phí, điều quan trọng là phải xác định được mức phí thuần (f) Đối với vườn ươm và câv lâu năm, muốn xác định được mức phí thuần (f), trước hết phải căn cứ vào giá trị thực tế thu được hoặc giá trị ban đầu còn lại của vườn cây và giá trị tổn thất thực tế bình quân một số năm để tính toán tỷ lệ phí bồi thường bình quân Sau đó, lấy số tiền bảo hiểm năm nghiệp vụ nhân với tỷ lệ phí bồi thường bình quân đã tính được

Nhưng đối với cây hàng năm, việc xác định tỷ lệ phí bồi thường bình quân khá phức tạp, do tính chất mùa vụ và do tính bất ổn định của loại cây này cao hơn Chính

vì vậy, để xác định được tỷ lệ phí bồi thường bình quân phải tính toán qua các bước:

+ Bước 1 Xác định sản lượng thu hoạch thực tế bình quân trên một đơn vị diện tích bảo hiểm (thường căn cứ vào tài liệu thống kê 5 năm trước đó)

n i i

s

q w

1 1

Trong đó:

w: Sản lượng thu hoạch thực tế bình quân tính trên 1 đơn vị bảo hiểm

qi : Sản lượng thu hoạch thực tế năm thứ i

si: Diện tích gieo trồng năm thứ i

i: Thứ tự các năm lấy số liệu tính toán

+ Bước 2: Xác định sản lượng tổn thất bình quân trên một đơn vị bảo hiểm

t t

s

s w w q

1

)(

(điều kiện w tw)

Trang 29

t: Năm có tổn thất

q: Sản lượng tổn thất bình quân tính trên 1 đơn vị diện tích bảo hiểm

St: Diện tích gieo trồng năm t

w: Sản lượng thu hoạch thực tế năm t tính trên một đơn vị diện tích bảo hiểm + Bước 3: Xác định tỷ lệ phí bồi thường bình quân (tỷ lệ phí thuần)

Trong đó: S b Là số tiền bảo hiểm bình quân trên một đơn vị diện tích bảo hiểm Ghi chú: Thông thường để xác định được số tiền bảo hiểm bình quân tính trên một đơn vị bảo hiểm phải căn cứ vào giá trị sản lượng thu hoạch thực tế bình quân một

số năm trước đó để loại trừ một số trường hợp ngẫu nhiên tác động Tuy nhiên, theo xu hướng chung là năng suất cây trồng ngày một tăng lên, cho nên người ta có thể tham gia với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị sản lượng thu hoạch thực tế bình quân Giá trị sản lượng thu hoạch thực tế bình quân được xác định căn cứ vào năng suất thu hoạch thực tế bình quân và giá cả bình quân một đơn vị sản phẩm Nếu gọi P là giá cả bình

quân một đơn vị sản phẩm, thì P được tính theo một trong hai công thức sau đây tùy

theo nguồn tài liệu thu thập được

n

P P

n i i

n i i i

Q

P Q P

1 1

Trong đó: +Pi: Là giá cả thực tế của sản phẩm năm thứ i

2.2.4 Vai trò của Bảo hiểm Nông nghiệp

Rủi ro là nhân tố không thể tránh khỏi nhưng lại là một yếu tố có khả năng quản

lý được trong sản xuất và kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp.Tuy nhiên việc phòng ngừa và quản lý rủi ro trong nông nghiệp vẫn còn chưa chặt chẽ Một khi rủi ro xảy ra, thu nhập của nông dân sẽ sụt giảm đáng kể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của nông dân Điều này sẽ tác động làm cho người nông dân không có điều kiện tái đầu tư sản xuất, nghiêm trọng hơn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền nông nghiệp của đất nước Chính vì vậy BHNN có vai trò vô cùng quan trọng, giúp bà con không bị

Trang 30

động trong sản xuất, có vốn để tái sản xuất khi gặp phải những rủi ro BHNN thực hiện những vai trò sau:

 Đem lại lợi ích cho xã hội, làm giảm những rủi ro liên quan đến sản xuất đảm bảo ổn định thu nhập của người nông dân từ đó tác động tích cực đến nền kinh tế đặc biệt ở các nước nông nghiệp

 Đảm bảo an sinh xã hội ở khu vực nông thôn Nhờ có bảo hiểm, nông dân yên tâm duy trì sản xuất mà không phải lo về nợ vay ngày càng tăng

sẵn lòng chi trả Bảo hiểm Nông nghiệp của hộ gia đình

2.3.1 Mô hình các yếu tổ ảnh hưởng đến khả năng tham gia BHNN

Trong hồi quy Logic, biến phụ thuộc Y hoặc bằng 0 hoặc bằng 1 Y = 1 khi

hộ gia đình tham gia BHNN; Y = 0 khi hộ gia đình không tham gia BHNN, với các

xác suất tương ứng p và (1-p)

xacsuat p Y

- Xác suất xảy ra: Pr(Y = 1) = p

- Xác suất không xảy ra: Pr(Y = 0) = 1 – p

Theo Gujarati và Porter (2009), hàm được thể hiện như sau:

Pi = E(Y = 1| Zi = B1 + B2Xi)

Pi: Khả năng xảy ra hiện tượng/sự việc; Zi = B1+B2Xi;

Zi là yếu tố tác động tới khả năng tham gia BHNN của hộ, nhận giá trị từ âm vô cùng tới dương vô cùng và được thể hiện bởi phương trình:

Trong mô hình ước lượng khả năng hộ gia đình tham gia BHNN, biến phụ thuộc là biến nhị phân Y - câu trả lời về việc có khả năng hộ gia đình tham gia BHNN hay không Khi đó hàm logic được thể hiện trực tiếp dưới dạng

Y = b0 + b1X1 + b2X2 + b3X3 + b4X4 + b5X5 + ….+ bnXn + u

Trang 31

Trong đó:

Y: Là biến nhị phân phụ thuộc khả năng hộ gia đình tham gia BHNN hay không, với 1 là “có”, 0 là “không”;

X1 –Xn: Các biến giải thích;

b0-bn: Hệ số tương ứng của các biến giải thích;

u: Sai số (error term)

Mô hình này tác giả dùng để phân tích các nhân ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp hay không của các hộ gia đình trồng lúa trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

2.3.2 Mô hình các yếu tổ ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả BHNN (WTP)

Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết marketing, Breidert (2005) cho rằng khi mua sắm một sản phẩm, khách hàng sẵn sàng chi trả bao nhiêu phụ thuộc vào giá trị kinh tế nhận được và mức độ hữu dụng của sản phẩm Hai giá trị xác định mức giá của một người sẵn lòng chấp nhận là mức giá tối đa và mức giá hạn chế Tùy thuộc vào nhận định của khách hàng khi mua sản phẩm là dự định mua không có sản phẩm thay thế thì để có được độ hữu dụng của sản phẩm, khách hàng sẵn sàng chi trả khoản tiền cao nhất là mức giá hạn chế; hoặc sản phẩm thay thế của sản phẩm dự định mua có giá trị kinh tế thấp hơn mức hữu dụng thì mức giá cao nhất khách hàng chấp nhận chi trả bằng với giá trị kinh tế của sản phẩm thay thế là mức giá tối đa Mức sẵn lòng chi trả được định nghĩa là mức giá cao nhất của một cá nhân sẵn sàng chấp nhận chi trả cho một hàng hóa hoặc dịch vụ

Theo lý thuyết kinh tế học, sự bằng lòng chi trả của mỗi cá nhân (đối với một mặt hàng) cho thấy giá trị tiền tệ mà người đó định ra cho mặt hàng đó Ngược lại, giá trị tiền tệ cũng cho thấy sức hút của mặt hàng đó với mỗi cá nhân Mức sẵn lòng chi trả có thể được đo lường thông qua thay đổi thặng dư tiêu dùng Tổng mức sẵn lòng chi trả (TWTP) chính là phần diện tích bên dưới đường cầu, được giới hạn bởi mức sản lượng tiêu dùng tương ứng với mức giá trên thị trường

Nếu chúng ta muốn ước lượng TWTP của cá nhân đối với một loại hàng hóa thì ước lượng tốt nhất ban đầu về lợi ích phải là ước lượng về sức tiêu thụ (của khách hàng) đối với loại hàng hóa đó Theo giáo trình Kinh tế môi trường thì công thức xác định tổng mức sẵn lòng chi trả là:

Tổng mức sẵn lòng chi trả = Số lượng cầu x giá thị trường + thặng dư tiêu dùng

Trang 32

Hình 2.1: Tổng mức sẵn lòng chi trả

(Nguồn: Bài giảng Kinh tế môi trường, Phùng Thanh Bình, 2006)

Phương pháp hồi quy được sử dụng để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến WTP cho chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại huyện Quỳnh Lưu như: tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, nghề nghiệp, giới tính, nhân khẩu gia đình… có ảnh hưởng như thế nào đến mức sẵn lòng chi trả của người dân địa phương Xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân nhằm nâng cao thu nhập cho người trồng lúa, đưa ra các giải pháp

để thu hút người dân tham gia chi trả bảo hiểm nông nghiệp

Mô hình được sử dụng là mô hình hồi quy tuyến tính có dạng:

WTP = bo + b1 X1 + b2X2 + b3X3+ b4 X4 + …+ Ui

Trong đó: WTP : mức sẵn lòng chi trả của người dân

bo: Hệ số tự do của mô hình

b1 – bi: Hệ số hồi quy

X1 – Xi: Các biến giải thích

Ui: Sai số ngẫu nhiên

Lý do sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bởi các vấn đề kinh tế - xã hội được nghiên cứu đều chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau, cộng với việc đề tài được nghiên cứu trong ngắn hạn nên dạng mô hình được chọn là hợp lý

Việc xem xét ảnh hưởng của các yêu tố tới WTP sẽ cho ta biết được nhân tố nào ảnh hưởng nhiều nhất, nhân tố nào ảnh hường ít nhất, nhân tố nào không ảnh hưởng Từ đó có thể phân tích, đánh giá được thực trạng vấn đề nghiên cứu và đưa ra các đề xuất trong việc thu hút người dân tham gia chương trình bảo hiểm nông nghiệp tại huyện Quỳnh Lưu

Trang 33

2.4 Tổng quan nghiên cứu về Bảo hiểm Nông nghiệp

2.4.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Cho đến nay, trên thế giới nói chung và các nước trong khu vực nói riêng, các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến lĩnh vực dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Trong hàng chục năm nay, các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Ngân hàng Thế giới và

Tổ chức lương nông của Liên Hợp Quốc đã có rất nhiều đánh giá nghiên cứu, tổ chức các dự án tài trợ cho bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở nhiều nước kém/đang phát triển

Olivier Mahul (2012), “ Bảo hiểm nông nghiệp cho các nước đang phát triển: Vai trò của các chính phủ” là một nghiên cứu sâu, khẳng định vai trò của BHNN đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo Nghiên cứu đã chỉ ra bảo hiểm nông nghiệp có thể làm giảm rủi ro của nông dân và người trồng lúa và tăng năng suất trung bình; Bảo hiểm nông nghiệp có thể tăng khả năng tiếp cận tín dụng Tuy nhiên, chỉ có hiệu quả khi kết hợp với các biện pháp quản lý rủi ro nông nghiệp khác Nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế về khả năng phát triển của hệ thống bảo hiểm nông nghiệp ở các nước đang phát triển như sau: Thiếu sự rõ ràng về vai trò của khu vực nhà nước và tư nhân; Lỗi cơ sở hạ tầng thị trường rủi ro cần thiết để thúc đẩy bảo hiểm nông nghiệp; Các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm và các nhà ra quyết định công cộng thường thiếu năng lực kỹ thuật; Không có các công cụ và chỉ số thích hợp để giám sát và đánh giá các chương trình bảo hiểm nông nghiệp (đặc biệt là bảo hiểm dựa trên chỉ số)

Pennings và Leuthold (1999) bằng cách tiếp cận đa ngành, đề xuất hai mô hình nghiên cứu về lựa chọn công cụ quản trị rủi ro của nông dân Mô hình đầu tiên chỉ ra rằng, các thuộc tính của dịch vụ bảo hiểm như: Cách thức cung cấp dịch vụ (service delivery), các điều khoản hợp đồng (contract specification) sẽ tác động đến lượng nông sản mà người dân quyết định bảo hiểm Mô hình thứ hai cho thấy quyết định tham gia bảo hiểm phụ thuộc vào các thuộc tính riêng về nhận thức rủi ro (risk perception) và thái độ rủi ro (risk attitude) của người nông dân Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu này về mặt lý thuyết là xác thực được hai yếu tố chính ảnh hưởng tới quyết định chọn mua bảo hiểm đó là nhận thức rủi ro và thuộc tính tâm lý của người đưa ra quyết định

Smith và Baquet (1996) xem xét nhu cầu sản phẩm bảo hiểm đa rủi ro của các trang trại lúa mì tại Montana (Hoa Kỳ) Với việc sử dụng lý thuyết độ thỏa dụng kỳ vọng, hai tác giả chỉ ra rằng: vốn vay, trình độ học vấn, thái độ đối với rủi ro của

Trang 34

người điều hành nông trại và nếu nông trại từng phải nhận trợ cấp do thiên tai là các yếu tố thúc đẩy nông trại tham gia bảo hiểm Điều đặc biệt trong nghiên cứu này là

mức phí bảo hiểm không ảnh hưởng đến quyết định bảo hiểm

Juan H Cabas, Akssell J Leiva và Alfons Weersink (2008) với nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây trồng của người dân Khác với các nghiên cứu trước đây là tập trung vào tổng cầu, tác giả phân tích các yếu

tố cụ thể Ngoài ra, các phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu còn phân biệt giữa các biến giá cả và năng suất hơn là tổng lợi nhuận và do đó có thể để chứng minh rằng các biến giá là đặc biệt quan trọng đối với mức sẵn lòng tham gia của người dân với bảo hiểm cây trồng

John Ulimwengu và Prabuddha Sanyal (2011) với nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả của người dân về chương trình bảo hiểm nông nghiệp “Joint Estimation of Farmers’ Stated Willingness to Pay for Agricultural Services” Bằng việc sử dụng mô hình đa biến probit, tác giả đã chỉ ra rằng tiếp cận với dịch vụ khuyến nông có xu hướng làm giảm mức độ sẵn sàng tham gia BHNN của hộ gia đình Việc tiếp cận với thị trường đóng một vai trò quan trọng, những hộ nông dân sẵn sàng tham gia nếu thị trường có sẵn hơn những hộ nông dân không được tiếp cận với thị trường Quyền sở hữu sử dụng đất cũng ảnh hưởng đến mức sẵn lòng tham gia của người dân, kích thước

sử dụng đất càng lớn thì mức độ sẵn lòng tham gia BHNN của người dân càng cao

Oyinbo và cộng sự (2013) về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHNN của người dân tại Thủ đô Negeria “Determinants of Crop Farmers Participation

in Agricultural Insurance in the Federal Capital Territory, Abuja, Nigeria” Tác giả đã

sử dụng phương pháp chọn mẫu và bảng câu hỏi cho 120 hộ nông dân, dữ liệu thu thập được phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi quy logit Kết quả chỉ ra rằng, các yếu tố như độ tuổi, trình độ học vấn, quy mô trang trại và tiếp cận tín dụng là các biến quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng tham gia của nông dân đến chương trình bảo hiểm nông nghiệp

Myong Goo KANG (2007) trong “Các sản phẩm và chương trình bảo hiểm nông nghiệp đổi mới’’ cho rằng, người nông dân luôn phải đối mặt với các nguy cơ khác nhau như biến động giá cả, thời tiết bất lợi, sâu bệnh, tác động đến thu nhập và phúc lợi của họ và về lâu dài sẽ làm suy giảm đầu tư của họ vào nông nghiệp

Trang 35

Theo World Bank (2007), “Trung Quốc: Sự cải tiến trong BHNN” Trong công trình này, các tác giả có bàn đến những đổi mới của chính phủ Trung Quốc trong việc tạo điều kiện để phát triển và duy trì sự tồn tại của thị trường BHNN

E Vávrová (2005), khi nghiên cứu “Thị trường bảo hiểm nông nghiệp Séc và

dự báo sự phát triển của nó trong bối cảnh Liên minh châu Âu” Bài viết phân tích những phương thức có thể giúp giảm những nguy cơ rủi ro mà ngành nông nghiệp có khả năng gặp phải, mô tả những phương thức tiếp cận cơ bản nhằm giảm thiểu những rủi ro gắn với hoạt động nông nghiệp

Khi nghiên cứu về cơ chế hỗ trợ rủi ro trong nông nghiệp của Pháp, Philippe Boyer (2002), đã phân tích cơ chế bồi thường của nhà nước cho người nông dân, đánh giá những hạn chế BHNN đối với các trang trại và xu hướng phát triển quản lý rủi ro trong nông nghiệp ở Pháp

Wenner (2005), phân tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn để giải thích vì sao BHNN khó thực hiện một cách hiệu quả; đồng thời phân tích tổng quan về thị trường BHNN ở một số nước Mỹ Latinh và Caribbean, so sánh với một số nước phát triển và

từ đó đưa ra những kinh nghiệm thúc đẩy và phát triển thị trường sản phẩm BHNN

Bên cạnh đó còn một số nghiên cứu khác như: Nghiên cứu của Asia Development Bank (2005) về phát triển BHNN tại Việt Nam, nghiên cứu của Skees (2005) về phản ứng sáng tạo của Chính phủ trong việc chia sẻ rủi ro trong BHNN tại các nước đang phát triển, hay nghiên cứu của Antón và Kimura đã tập trung nghiên cứu, phân tích rủi

ro, chính sách quản lý và đánh giá rủi ro trong nông nghiệp, thực tiễn triển khai quản

lý rủi ro

Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến rất nhiều các khía cạnh liên quan đến BHNN như là vai trò và sự cần thiết, cơ chế, chính sách của nhà nước đối với bảo hiểm cây trồng, vật nuôi; hình thức, mô hình triển khai dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi Tuy vậy các nghiên cứu về đánh giá các chương trình BHNN thì chưa được tìm thấy Đây chính là một khoảng trống nghiên cứu, nhưng đồng thời cũng là khó khăn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu

2.4.2 Các nghiên cứu trong nước

Đào Thị Thu Hằng (2016), “Dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi – kinh nghiệm của một số nước và bài học cho Việt Nam” đã nghiên cứu về chính sách, mô hình và các dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi của một số nước, từ đó rút ra bài học nhằm thúc đẩy việc hình thành và phát triển dịch vụ này cho Việt Nam Nghiên cứu đã

Trang 36

luận giải và chỉ rõ những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc phát triển hoạt động bảo hiểm cây trồng vật nuôi Cũng như chỉ ra các đặc điểm, phương thức hoạt động của dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi; làm rõ vai trò của dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và biến đổi khí hậu ngày càng khó khăn

Myriam Hadnes và TS Kristina Czura (2014) “Đánh giá chương trình thí điểm bảo hiểm nuôi trồng thuỷ sản của Chính phủ tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2013” Nghiên cứu này tập trung vào chương trình thí điểm bảo hiểm cho việc nuôi tôm, tiến hành tại chín xã thuộc ba huyện tại tỉnh Cà Mau, mục đích của nghiên cứu được thực hiện để đánh giá chương trình bảo hiểm sau khi giai đoạn thí điểm đã kết thúc, xác định những thuận lợi và thách thức của các chương trình hiện có đồng thời hình thành các khuyến nghị để cải thiện chương trình Nghiên cứu được thực hiện trong bốn tháng từ tháng Giêng đến tháng 4 năm 2014, với sáu trong chín xã thuộc ba huyện trong tỉnh Cà Mau Dự án bao gồm bốn giai đoạn: (1) khảo sát sơ bộ với các cuộc phỏng vấn định tính (trong tất cả chín xã), (2) khảo sát hộ gia đình để thu thập dữ liệu định lượng, (3) thực nghiệm kinh tế để điều tra về hành vi của người nông dân và (4) các cuộc phỏng vấn định tính với người nuôi tôm rừng ngập mặn Kết quả nghiên cứu cũng cố gắng để tìm

ra tầm quan trọng của các thành tố bảo hiểm khác nhau, từ đó cho phép cấu thành một chương trình bảo hiểm đảm bảo đáp ứng các nhu cầu của người nông dân

Bạch Hồng Vân (2014) với nghiên cứu “Bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bảo hiểm nông nghiệp là một giải pháp hữu hiệu để hạn chế rủi ro và mức độ ảnh hưởng phức tạp trong nông nghiệp, giúp nông dân sớm khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, đem lại nhận thức tốt hơn cho người nông dân cũng như doanh nghiệp bảo hiểm trong cơ chế thị trường, để ổn định và phát triển sản xuất Tuy nhiên chương trình bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam chưa thành công do các nguyên nhân như: do nguy cơ thua lỗ quá lớn nên doanh nghiệp chỉ chọn những trường hợp ít rủi ro để bảo hiểm, công tác quản lý rủi ro gặp khó khăn, năng lực cán bộ còn hạn chế, và cuối cùng là do chưa nhận thức được tầm quan trọng của bảo hiểm, tâm lý của người dân chưa quen, chưa tin tưởng vào chính sách mới

Phan Đình Khôi và cộng sự (2014) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm Tôm nuôi của hộ nông dân tại tỉnh Bạc Liêu” Chương trình thí điểm sau 2 năm thực hiện cho thấy số hộ nuôi tôm tham gia bảo hiểm lẫn diện

Trang 37

tích nuôi tôm được bảo hiểm còn rất thấp so với mục tiêu Nghiên cứu chỉ rõ mối tương quan thuận giữa làm việc tại địa phương, tiếp cận thông tin bảo hiểm và diện tích ao nuôi với quyết định tham gia bảo hiểm của nông hộ Kết quả phân tích hồi quy cũng cho thấy yếu tố trình độ học vấn càng cao có xu hướng ít tham gia vào loại hình bảo hiểm này Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy các đặc điểm của hộ như yếu tố giới tính, tập huấn, kinhh nghiệm, vay vốn, và chi phí sản xuất không có ý nghĩa thống kê trong quyết định tham gia bảo hiểm tôm nuôi

Hoàng Triệu Huy và Phan Ðình Khôi (2015) với nghiên cứu “Bảo hiểm nông nghiệp bền vững: Lý thuyết và thực trạng triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam.” Nghiên cứu cho thấy chương trình bảo hiểm nông nghiệp thời gian qua bước đầu đã khẳng định được vai trò của mình trong việc bù đắp thiệt hại tài chính và chủ động khắc phục hậu quả do rủi ro gây ra trong sản xuất nông nghiệp, các đánh giá

về chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đều cho thấy kết quả thực hiện vẫn chưa như mong đợi Việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn và bất cập về quy định pháp lý Thực tế cho thấy các doanh nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp báo cáo thua lỗ trong khi người nông dân vẫn chưa mặn mà với các sản phẩm bảo hiểm, và đã

có nhiều dấu hiệu trục lợi bảo hiểm Khả năng duy trì hoạt động bảo hiểm nông nghiệp

ở Việt Nam vẫn rất khó khăn và cần nhiều sự hỗ trợ từ nhà nước

Nguyễn Bá Huân (2015) đã có bài nghiên cứu về “Mức sẵn lòng chi trả bảo hiểm nông nghiệp cho trồng lúa lợn của nông dân ở huyện Chương Mỹ Hà Nội” Nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM - Contigent Valuation Method) nhằm xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP - Willingness to pay) bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) của nông dân cho trồng lúa lợn ở huyện Chương Mỹ, thành phố

Hà Nội Ngoài ra, tác giả còn sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả BHNN thông qua điều tra 300 hộ trồng lúa bằng phương pháp phỏng vấn theo bảng hỏi Tác động tích cực đến mức sẵn lòng chi trả của nông dân là các nhân tố: Loại hộ, hộ được tập huấn kỹ thuật về trồng lúa, mức độ rủi ro theo đánh giá của hộ, thông tin về BHNN và quy mô trồng lúa

Lương Thị Ngọc Hà (2015) với nghiên cứu “Đánh giá mức độ sẵn sàng chi trả bảo hiểm nông nghiệp của hộ gia đình nông thôn Việt Nam Trường hợp nghiên cứu ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh” Nghiên cứu này tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn sàng tham gia và chi trả BHNN của hộ gia đình nông thôn dựa vào mô hình hóa định lượng Kết quả cho thấy quy mô sản xuất của hộ gia đình và các chính

Trang 38

sách hỗ trợ (như tín dụng và khuyến nông) có ảnh hưởng lớn tới quyết định tham gia cũng như chi trả cho bảo hiểm cây lúa (BHCL) của hộ gia đình Như vậy, để triển khai BHNN sâu rộng thì cần nắm bắt nhu cầu của từng đối tượng hộ gia đình và có các chính sách hỗ trợ sản xuất tổng hợp

Nguyễn Duy Chinh và các cộng sự (2016) đã có bải nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa của hộ nông dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An” nghiên cứu này sử dụng hồi quy Logit cho dữ liệu phỏng vấn mặt đối mặt từ một trăm hộ nông dân tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An Một số kết quả chính rút ra từ nghiên cứu: Các nông hộ có quan tâm đến mức phí bảo hiểm, và số người phụ thuộc vào nghề lúa càng nhiều thì xu hướng tham gia bảo hiểm càng tăng Tuy nhiên, những hộ nông dân có diện tích canh tác lớn, năng suất cao và có nhiều năm kinh nghiệm ít sẵn lòng tham gia bảo hiểm Các đặc điểm khác của hộ như tuổi chủ hộ, giới tính, không ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm

Giz (2016) có tài trợ bài “Nghiên cứu về bài học kinh nghiệm từ chương trình thí điểm BHNN của chính phủ ở Việt Nam” Kết quả nghiên cứu cho thấy, trước thí điểm thị trường BHNN là rất nhỏ Trong 3 năm thí điểm có hơn 300 nghìn hộ nông dân tham gia chương trình thì có 77% là hộ nghèo, 15% là hộ cận nghèo, còn lại rất ít

hộ thường tham gia Điều này cho thấy sự tự nguyện tham gia BHNN của các hộ nông dân thấp, sở dĩ nhiều hộ nghèo và hộ cận nghèo tham gia là do được hỗ trợ 90-100% phí bảo hiểm Nghiên cứu cũng gợi ra một số chính sách để phát triển BHNN: Một là không nên thí điểm trên tất cả cây trồng vật nuôi, chỉ nên thí điểm trên một số cây thương nghiệp chính và gia súc lớn; hai là vẫn gắn với chính sách hỗ trợ phí BHNN nhưng ở mức hợp lý, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước, ưu tiên cho những hộ nông dân có quy mô lớn và có hợp đồng với doanh nghiệp

Đặng Kim Khôi và các cộng sự (2016) có bài “Phát triển BHNN, kinh nghiệm

từ chương trình thí điểm BHNN Quốc gia giai đoạn 2011-2013” Kết quả nghiên cứu cho thấy, nghiên cứu trên hai sản phẩm bảo hiểm lúa gạo tại Đồng Tháp và vật nuôi tại Vĩnh Phúc chỉ ra những tồn tại về công tác thông tin truyền thông, độ phủ rủi ro của sản phẩm, tính đa dạng của sản phẩm, các thủ tục đánh giá bồi thường và hỗ trợ phí bảo hiểm của nhà nước đã tác động đến mức độ tham gia của hộ nông dân Nghiên cứu cho rằng BHNN cần vận hành theo cơ chế thị trường, nhà nước đóng vai trò duy trì sự hỗ trợ trên cơ sở hình thành chiến lược phát triển BHNN trong dài hạn để thu hút sự tham gia của doanh nghiệp và nông dân, dần năng cao năng lực của các đơn vị thực hiện và giải quyết các vấn đề mang tính nút thắt được xác định sau quá trình thí điểm

Trang 39

Tạp chí Cộng sản điện tử, số 15 năm 2010 có bài “Về bảo hiểm cây trồng, vật nuôi cho nông dân”, cho rằng, BHNN là hết sức cần thiết ở Việt Nam, bởi là một nước

nông nghiệp, trên 70% số hộ gia đình sống bằng nghề nông, sản xuất luôn bị tiềm ẩn nhiều nguy cơ do thiên tai, dịch bệnh Nếu không có bảo hiểm nông nghiệp, mỗi khi gặp rủi ro, người nông dân sẽ bị mất trắng và họ dễ dàng rơi vào cảnh nghèo đói hoặc tái đói, tái nghèo, từ đó sẽ kéo theo nhiều vấn đề xã hội nan giải khác Trước tình hình

đó, những năm qua, Nhà nước đã ban hành một số quy định về bảo hiểm nông nghiệp

Cụ thể là:

- Điều 4, Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: "Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với các nghiệp vụ bảo hiểm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp";

- Nghị quyết số 26-NQ/TW, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn nêu: " thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, bảo đảm mức sống tối thiểu cho cư dân nông thôn";

- Chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020:

"Nghiên cứu xây dựng quỹ tự lực tài chính, quỹ bảo hiểm về thiên tai";

- Nghị quyết số 22-NQ/CP, ngày 23-9-2008, của Chính phủ về "Ban hành chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường";

- Nghị quyết số 24-NQ/CP, ngày 28-10- 2008, của Chính phủ về "Đề án thí điểm bảo hiểm nông nghiệp"

Trần Vĩnh Đức “Phát triển thị trường bảo hiểm nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 02-2007 Trong bài viết này, tác giả chỉ ra những thời cơ và thách thức cùng một số giải pháp đặt ra cho ngành bảo hiểm nước ta khi nền kinh tế Việt Nam mở cửa và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực, sau khi chỉ ra những thành tựu và nhất là những yếu kém của ngành bảo hiểm Việt Nam

Như vậy, Các nghiên cứu trong nước cũng đã đề cập đến các mảng đề tài như

nghiên cứu nước ngoài đã tổng hợp ở trên Điều đó chứng tỏ BHNN đang thu hút được

sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Ngoài những công trình, bài báo khoa học được đề cập ở trên, hiện nay trên một số báo và mạng internet cũng có ít bài viết về BHNN ở Việt Nam và của các nước Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về BHNN nói chung ở địa phương huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, cũng như chưa có nghiên cứu sâu về đánh giá chương trình bảo hiểm giai đoạn 2011-2013 của Chính phủ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Trang 40

Tóm tắt chương 2

Qua nghiên cứu tổng quan chính sách và tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề liên quan đến dịch vụ BHNN/ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi có thể rút

ra một số các kết luận như sau:

Những nghiên cứu về vai trò và sự cần thiết phải có bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, tất cả các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước đều khẳng định nông nghiệp là lĩnh vực rủi ro khi phân tích và đề cập đến các khía cạnh khác nhau về dịch

vụ BHNN/ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở mỗi nước, phân tích khung pháp lý và các hoạt động thực thi, giám sát dịch vụ này Các nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của BHNN/ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi trong phát triển kinh tế nông nghiệp và đưa

ra được các bức tranh toàn cảnh về các mô hình BHNN các nước Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, đến nay chưa có công trình nào về đánh giá chương trình bảo hiểm giai đoạn 2011-2013 của Chính phủ tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

 Nghiên cứu ở nước ngoài về bảo hiểm vật nuôi, cây trồng ở một số nước cho thấy rất cụ thể từng chính sách của chính phủ dành cho công tác này

 Về các công trình nghiên cứu trong nước: cho đến nay ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về BHNN/bảo hiểm cây trồng, vật nuôi nhưng nghiên cứu về lý luận bảo hiểm cây trồng, vật nuôi còn khá tản mạn, chủ yếu là các nghiên cứu thí điểm và được đề cập dưới dạng tài liệu tập huấn hoặc nghiên cứu thông qua các bài báo, chưa được hệ thống hóa thành lý thuyết về bảo hiểm cây trồng, vật nuôi Phân loại hình thức BHNN, phân loại rủi ro, cơ chế quản lý, vai trò của Nhà nước và của doanh nghiệp trong nghiệp vụ bảo hiểm, cũng chưa đưa ra được các đề xuất về phương hướng và giải pháp nhằm tổ chức và phát triển dịch vụ bảo hiểm cây trồng, vật nuôi ở Việt Nam Cũng như đánh giá được chương trình thí điểm

 Có thể thấy rõ, các nghiên cứu BHNN ở các nước đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau, mỗi quốc gia có những đặc thù riêng, khẳng định nhà nước không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn trực tiếp thiết lập ra các tổ chức hoạt động bảo hiểm nhằm định hướng cũng như giám sát một cách chặt chẽ các hoạt động BHNN Những kinh nghiệm trong thực tiễn triển khai BHNN ở một số nước trên thế giới sẽ là những chắt lọc quý giá trong việc đánh giá chương trình thí điểm BHNN của Chính phủ tại huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An, và đưa ra các gợi ý chính sách để nhân rộng, triển khai BHNN lâu dài và bền vững ở Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Ngày đăng: 18/02/2021, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phùng Thanh Bình (2006), Bài giảng kinh tế môi trường, Trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kinh tế môi trường
Tác giả: Phùng Thanh Bình
Nhà XB: Trường Đại học Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 2006
2. Nguyễn Duy Chinh, Nguyễn Thanh Sơn và Lại Nhất Duy (2016), Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định việc tham gia bảo hiểm trồng lúa của hộ nông dân huyện Cần Đước tỉnh Long An, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí Minh số 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định việc tham gia bảo hiểm trồng lúa của hộ nông dân huyện Cần Đước tỉnh Long An
Tác giả: Nguyễn Duy Chinh, Nguyễn Thanh Sơn, Lại Nhất Duy
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Tp.Hồ Chí Minh
Năm: 2016
4. Lương Thị Ngọc Hà (2015), Đánh giá mức độ sẵn lòng chi trả Bảo hiểm Nông nghiệp của hộ gia đình nông thôn Việt Nam – Trường hợp nghiên cứu ở huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá mức độ sẵn lòng chi trả Bảo hiểm Nông nghiệp của hộ gia đình nông thôn Việt Nam – Trường hợp nghiên cứu ở huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Lương Thị Ngọc Hà
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
5. Nguyễn Bá Huân (2015), Mức sẵn lòng chi trả Bảo hiểm Nông nghiệp cho chăn nuôi lợn của nông dân ở huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mức sẵn lòng chi trả Bảo hiểm Nông nghiệp cho chăn nuôi lợn của nông dân ở huyện Chương Mỹ thành phố Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Huân
Nhà XB: Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp
Năm: 2015
6. Đào Thị Thu Hằng (2016), Dịch vụ bảo vệ cây trồng, vật nuôi kinh nghiệm của một số nước và bài học áp dụng cho Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch vụ bảo vệ cây trồng, vật nuôi kinh nghiệm của một số nước và bài học áp dụng cho Việt Nam
Tác giả: Đào Thị Thu Hằng
Nhà XB: Học viện Khoa học Xã hội
Năm: 2016
7. Hoàng Triệu Huy và Phan Đình Khôi (2015), Bảo hiểm nông nghiệp bền vững: Lý thuyết và thực trạng triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam, Thời báo Kinh tế và Phát triển số 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm nông nghiệp bền vững: "Lý thuyết và thực trạng triển khai thí điểm bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Triệu Huy và Phan Đình Khôi
Năm: 2015
8. Phan Đình Khôi và Quách Vũ Hiệp (2014), Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm Tôm nuôi của hộ nông dân tỉnh Bạc Liêu, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm Tôm nuôi của hộ nông dân tỉnh Bạc Liêu
Tác giả: Phan Đình Khôi, Quách Vũ Hiệp
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Năm: 2014
9. Phạm Thị Thùy Linh (2009), Bảo hiểm Nông nghiệp ở các nước Mỹ La Tinh – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Ngoại Thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm Nông nghiệp ở các nước Mỹ La Tinh – Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thùy Linh
Nhà XB: Trường Đại học Ngoại Thương
Năm: 2009
11. Thái Văn Tình và cộng sự (2017), Nghiên cứu các bài học rút ra từ chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam, Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp – Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các bài học rút ra từ chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp tại Việt Nam
Tác giả: Thái Văn Tình, cộng sự
Nhà XB: Trung tâm Tư vấn Chính sách Nông nghiệp – Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn Việt Nam
Năm: 2017
12. Bạch Hồng Vân (2014), Bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Bạch Hồng Vân
Năm: 2014
14. Myriam Hadnes và TS. Kristina Czura (2014), “Đánh giá chương trình thí điểm bảo hiểm nuôi trồng thuỷ sản của Chính phủ tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2013”, GIZ chịu trách nhiệm nội dung của ấn phẩm này. Dưới sự ủy quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức và Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc (DFAT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chương trình thí điểm bảo hiểm nuôi trồng thuỷ sản của Chính phủ tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2013
Tác giả: Myriam Hadnes, TS. Kristina Czura
Nhà XB: GIZ
Năm: 2014
15. Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An (2014), Báo cáo tổng kết thực hiện thí điểm BHNN theo quyết định 315/QĐ-TTg tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện thí điểm BHNN theo quyết định 315/QĐ-TTg tỉnh Nghệ An
Tác giả: Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Nghệ An
Năm: 2014
18. Quyết định số 1042/QĐ-BTC và Quyết định số 2114/QĐ-BTC: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm Nông nghiệp, Bộ Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1042/QĐ-BTC và Quyết định số 2114/QĐ-BTC: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy tắc, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm Nông nghiệp
Tác giả: Bộ Tài Chính
20. Tham luận chương trình, Hội nghị đánh giá thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, ngày 9/5/2013, Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị đánh giá thí điểm bảo hiểm nông nghiệp
21. Breidert, C. (2005). “Estimation of Willingness-to-Pay: Theory, Measurement, and Application”. Doctoral thesis, Vienna University of Economics and Business, Vienna, Austria. Retrieved from http://epub.wu.ac.at/1934/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Estimation of Willingness-to-Pay: Theory, Measurement, and Application
Tác giả: Breidert, C
Nhà XB: Vienna University of Economics and Business
Năm: 2005
22. V. H. Smith and A. E. Baquet (1996), The demand for multiple peril crop insurance: evidence from Montana wheat farms, American Journal of Agricultural Economics, Vol.78 (1), pp.189-201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Journal of Agricultural Economics
Tác giả: V. H. Smith and A. E. Baquet
Năm: 1996
23. J. H. Cabas, A. J. Leiva and A. Weersink (2008), Modeling Exit and Entry of Farmers in a Crop Insurance Program, Agricultural and Resource Economics Review, Vol. 37 (1), p. 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural and Resource Economics Review
Tác giả: J. H. Cabas, A. J. Leiva and A. Weersink
Năm: 2008
24. John Ulimwengu và Prabuddha Sanyal (2011), Joint Estimation of Farmers Stated Willingness to Pay for Agricultural Services” IFPRI Discussion Paper Sách, tạp chí
Tiêu đề: Joint Estimation of Farmers Stated Willingness to Pay for Agricultural Services
Tác giả: John Ulimwengu, Prabuddha Sanyal
Nhà XB: IFPRI Discussion Paper
Năm: 2011
25. Oyinbo and et al. (2013), Determinants of Crop Farmers Participation in Agricultural Insurance in the Federal Capital Territory, Abuja, Nigeria, Greener Journal of Agricultural Sciences, Vol.3 (1), p.021-026 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determinants of Crop Farmers Participation in Agricultural Insurance in the Federal Capital Territory, Abuja, Nigeria
Tác giả: Oyinbo, et al
Nhà XB: Greener Journal of Agricultural Sciences
Năm: 2013
26. Juan H. Cabas, Akssell J. Leiva, and Alfons Weersink (2008), Modeling Exit and Entry of Farmers in a Crop Insurance Program, Agricultural and Resource Economics Review, Vol.37 (1), p.92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Agricultural and Resource Economics
Tác giả: Juan H. Cabas, Akssell J. Leiva, and Alfons Weersink
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w