TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Đề tài “Đánh giá hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá biển, động vật thân mềm bằng lồng bè tại Cát Bà, Hải Phòng” được thực hiện từ tháng 10/2013 đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGÔ ANH TUẤN
Chủ tịch hội đồng:
Khoa sau đại học:
KHÁNH HÒA - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Đánh giá hiện trạng và giải pháp
phát triển bền vững nghề nuôi cá biển, động vật thân mềm bằng lồng bè tại Cát Bà, Hải Phòng” là kết kết quả nghiên cứu thực sự nghiêm túc của tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học tận tình của TS Ngô Anh Tuấn
Tôi cũng xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luân văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Khánh Hòa, ngày 29 tháng 9 năm 2016
Tác giả
Phan Ngọc Thụ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được nhiều kiến thức bổ ích về chuyên môn cũng như nhiều sự giúp đỡ từ quý thầy cô Viện Nuôi trồng Thủy Sản, Khoa Sau đại học – Trường Đại học Nha Trang, Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, UBND huyện Cát Hải, Ban quản lý Vịnh Cát Bà, đã giúp tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngày Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy TS Ngô Anh Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn tới Ban giám đốc, cán bộ, viên chức Ban Quản lý Vịnh Cát Bà, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi học tập cũng như thực hiên luận văn Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và các bạn đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Khánh Hòa, ngày 29 tháng 9 năm 2016
Tác giả
Phan Ngọc Thụ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình nuôi cá biển và ĐVTM trên thế giới 4
1.1.1 Tình hình nuôi cá biển 4
1.1.2 Tình hình nuôi ĐVTM 7
1.1.2.1 Nuôi hầu Thái Bình Dương (TBD) 7
1.1.2.2 Nuôi tu hài 8
1.2 Tình hình nuôi cá biển và ĐVTM ở Việt Nam 10
1.2.1 Tình hình nuôi cá biển 10
1.2.2 Tình hình nuôi ĐVTM 13
1.2.2.1 Nuôi thương phẩm hầu TBD 14
1.2.2.2 Nuôi thương phẩm tu hài 17
1.3 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu 18
1.3.1 Vị trí địa lý của quần đảo Cát Bà 18
1.3.2 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn quần đảo Cát Bà 18
1.3.2.1 Khí hậu 18
1.3.2.2 Thuỷ văn 19
1.3.2.3 Quá trình trao đổi nước 19
1.3.3 Đặc điểm thuỷ hoá và chất lượng nước ở khu vực Cát Bà 20
1.3.3.1 Nhiệt độ nước 20
1.3.3.2 Độ đục 20
1.3.3.3 Độ mặn 20
1.3.3.4 pH 20
Trang 61.3.3.5 Hàm lượng một số muối dinh dưỡng 21
1.3.3.6 Hàm lượng oxy hoà tan trong nước biển 21
1.3.3.7 Một số kim loại nặng 21
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.1.1 Khu vực Cảng Cát Bà 23
2.1.2 Khu vực Vịnh Bến Bèo 24
2.1.3 Khu vực Vịnh Lan Hạ 24
2.1.4 Khu vực Vụng Trà Báu 24
2.1.5 Khu vực Bến Gia Luận 24
2.2 Đối tượng nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và điều tra 25
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
3.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của người dân nuôi cá biển và ĐVTM tại Cát Bà – Hải Phòng 28
3.1.1 Độ tuổi 28
3.1.2 Trình độ văn hóa 28
3.1.3 Tập huấn, đào tạo nghề 29
3.1.4 Kinh nghiệm nuôi 29
3.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi 30
3.2.1 Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá biển 30
3.2.1.1 Hình thức và kích cỡ lồng nuôi 30
3.2.1.2 Kích cỡ lồng nuôi 31
3.2.1.3 Đối tượng và mùa vụ nuôi 31
3.2.1.4 Mùa vụ thả giống 32
3.2.1.5 Nguồn gốc, kích cỡ và mật độ nuôi 32
3.2.1.6 Kỹ thuật quản lý và chăm sóc 33
3.2.1.7 Tỷ lệ sống cá nuôi 35
3.2.1.8 Một số bệnh thường gặp trên cá nuôi 35
Trang 73.2.1.9 Hiệu quả kinh tế 37
3.2.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi ĐVTM 38
3.2.2.1 Ví trí nuôi 39
3.2.2.2 Kỹ thuật xây dựng và chuẩn bị lồng bè nuôi 39
3.2.2.3 Kỹ thuật chọn giống và thả giống 40
3.2.2.4 Mùa vụ nuôi 41
3.2.2.5 Kỹ thuật quản lý chăm sóc 42
3.2.2.6 Kết quả nuôi 42
3.2.2.7 Hiệu quả kinh tế 44
3.3 Những tồn tại, khó khăn của nghề nuôi cá biển và ĐVTM tại Cát Bà – Hải Phòng 44 3.3.1 Đối với nghề nuôi cá lồng bè 44
3.3.2 Đối với nghề nuôi ĐVTM 46
3.4 Một số giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá biển và ĐVTM tại Cát Bà 48
3.4.1 Nhóm giải pháp về quy hoạch vùng nuôi 48
3.4.2 Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ và khuyến ngư 48
3.4.3 Nhóm giải pháp về dịch vụ, hậu cần 49
3.4.4 Nhóm giải pháp về chính sách vốn 49
3.4.5 Nhóm giải pháp về thị trường 50
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 52
4.1 Kết luận 52
4.2 Đề xuất 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: So sánh sản lượng nuôi thuỷ sản khu vực châu Á với thế giới năm 2010 4
Bảng 1.2: Một số loài cá biển có giá trị kinh tề nuôi trong lồng bè 5
Bảng 1.3: Một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi lồng bè ở Indonesia 6
Bảng 1.4: Ương cá biển từ hương lên cá giống ở các loại hình nuôi khác nhau 6
Bảng 1.5: Một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi ở Thái Lan 7
Bảng 1.6: Các dạng lồng nuôi truyền thống hiện nay 11
Bảng 3.1: Cơ cấu tuổi của người dân nuôi cá biển và ĐVTM 28
Bảng 3.2: Nguồn gốc, kích cỡ và mật độ cá nuôi trong lồng 32
Bảng 3.3: Năng suất và hiệu quả kinh tế của các loài cá nuôi 38
Bảng 3.4: Kích cỡ và mật độ thả giống 41
Bảng 3.5: Kết quả nuôi tu hài và hầu TBD 43
Bảng 3.6: Hiệu quả kinh tế của tu hài và hầu TBD 44
Bảng 3.7: Những khó khăn trong nuôi cá biển và ĐVTM 45
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu 23
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 25
Hình 3.1: Trình độ văn hóa của người nuôi cá lồng 29
Hình 3.2: Kinh nghiệm của người nuôi cá lồng bè 30
Hình 3.3: Tỷ lệ các loài cá biển nuôi tại Cát Bà 31
Hình 3.4: Bệnh lở loét trên cá hồng bạc 35
Hình 3.5: Ký sinh trùng trên cá mú và cá bớp 36
Hình 3.6: Cá hồng bạc nuôi bị bệnh nổ mắt 37
Hình 3.7: Mô hình nuôi tu hài bằng lồng nhựa treo trên bè 40
Trang 11
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài “Đánh giá hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá biển, động vật thân mềm bằng lồng bè tại Cát Bà, Hải Phòng” được thực hiện từ tháng 10/2013 đến tháng 12/2014 với mục tiêu đánh giá hiện trạng kỹ thuật và đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi lồng bè một số đối tượng cá biển và động vật thân mềm (ĐVTM) có giá trị kinh tế ở Cát Bà, Hải Phòng Nghiên cứu được thực hiện ở 5 khu vực nuôi lồng bè của vùng biển Cát Bà dựa trên phương pháp điều tra phỏng vấn người dân nuôi cá, từ đó, đề xuất một số giải pháp quản lý mang tính khả thi để hướng nghề nuôi biển tại đây phát triển theo hướng bền vững
Kết quả nghiên cứu cho thấy, độ tuổi trung bình của các chủ hộ nuôi tại Cát Bà – Hải Phòng là 34,6 ± 0,7 tuổi Trình độ văn hóa của người dân nuôi cá biển và ĐVTM chủ yếu là cấp 1 và cấp 2 chiếm 60,2% Tất cả các hộ dân đều nuôi theo hình thức bè nổi, với kích cỡ lồng nuôi cá biển là 4x4x4 m và bè nuôi ĐVTM có diện tích
tỷ lệ 48,4 ± 3,5%, cá mú (Epinephelus spp) tỷ lệ 27, 4 ± 1,2%, cá chim vây vàng (T
blochii) tỷ lệ 15,7 ± 1,8% và cá hồng bạc (L argentimaculatus) tỷ lệ 8,5 ± 0,6% Các
loài ĐVTM gồm có tu hài (L ryhnceana) và hầu TBD (C gigas)
Mùa vụ thả giống chính của cá biển từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm Đối với ĐVTM là từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm Tất cả các hộ nuôi đều không xét nghiệm con giống cả cá biển và ĐVTM trước khi thả Nguồn giống cá biển chủ yếu từ Trung Quốc, chỉ có cá chim vây vàng là từ trong nước (66,5±0,3%) Riêng nguồn giống tu hài
và hầu TBD thì hoàn toàn từ nội địa
Thức ăn sử dụng cho cá biển chủ yếu là cá tạp được khai thác tại chỗ Số lần cho
ăn 3-4 lần/ngày khi cá còn nhỏ (1-2 tháng) và 1 lần/ngày khi cá lớn
Đa số các hộ nuôi không theo dõi điều kiện môi trường trong quá trình nuôi (70%) Số hộ thay lưới lồng sau 01 tháng nuôi chiếm 85,2 ± 1,5% Phương pháp thay lưới hoàn toàn bằng thủ công
Cá mú có tỷ lệ sống thấp nhất (60 ± 1,1%), hồng bạc (64,2 ± 1,7%), cá bớp (69,6 ± 2,3%) và cá chim vây vàng có tỷ lệ sống cao nhất (86,2 ± 0,7%) Tỷ lệ sống của tu hài là 75,6 ± 2,2% và hầu TBD là 61,6 ± 1,4%
Trang 12Tất cả các hộ dân nuôi cá biển và ĐVTM đều có lãi, giúp tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dân Lợi nhuận biên khi nuôi cá mú là cao nhất (58,2 ± 2,9%)
và thấp nhất là nuôi cá bớp (17,6 ± 0,4%) Lợi nhuận biên khi nuôi hầu TBD là 89,4% và tu hài là 84,0%
Năm nhóm giải pháp đã được đề xuất nhằm phát triển ổn định nghề nuôi lồng
bè cá biển và ĐVTM theo hướng bền vững tại khu vực Cát Bà, Hải Phòng gồm: Nhóm giải pháp về quy hoạch vùng nuôi; Nhóm giải pháp về khoa học công nghệ và khuyến ngư; Nhóm giải pháp về dịch vụ, hậu cần; Nhóm giải pháp về chính sách vốn; Nhóm giải pháp về thị trường
Trang 13MỞ ĐẦU
Nuôi trồng thủy sản đặc biệt là nuôi biển là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho thị trường nội địa và xuất khẩu Năm 2014 tổng sản lượng nuôi cá biển và động vật thân mềm (ĐVTM) của nước ta đạt 265.000 tấn, trị giá gần 3,8 triệu USD (FAO, 2016) Nghề nuôi cá biển và động vật thân mềm bằng lồng trên biển ở nước ta trong những năm gần đây phát triền mạnh ở một số tỉnh ven biển như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Khành Hoà, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiên Giang Hình thức nuôi hiện nay ở qui mô nhỏ trong các eo biển, vịnh, cửa sông,
và chỉ tập trung nuôi một số đối tượng có giá trị kinh tế như: cá giò, cá song, cá chim vây vàng, cá hồng, hầu Thái Bình Dương, tu hài
Cát Hải là huyện đảo nằm phía Đông Nam thành phố Hải Phòng, có tổng diện
Với điều kiện tự nhiên là đảo núi đá vôi, có 366 hòn đảo lớn nhỏ, nằm trong quần thể vịnh Hạ Long, có nhiều dãy núi che chắn tạo ra các vùng vịnh êm sóng, kín gió, nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, đảo Cát Bà có nhiều thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản Do đó, những năm qua, nghề nuôi lồng bè trên biển của huyện Cát Hải đã phát triển nhanh chóng, nhất là từ khi huyện triển khai Quyết định số 126/2005/QĐ-TTg ngày 01/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ, hải sản trên biển và hải đảo Các hộ nuôi lồng bè đã kết hợp phát triển nuôi trồng thủy sản với tổ chức các dịch vụ du lịch, do đó hiệu quả kinh tế đem lại khá cao Nhìn chung, nghề nuôi lồng bè phát triển đã phát huy được tiềm năng, lợi thế của huyện đảo, đồng thời giải quyết được việc làm, thu nhập cho hàng ngàn lao động trong và ngoài huyện
Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả mà nghề nuôi lồng bè mang lại thì những tác động từ mặt trái của nghề này đang là vấn đề hết sức nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái biển và tiềm năng, cảnh quan du lịch biển Cát Bà, đó là: số lượng bè nuôi phát triển nhanh, không theo quy hoạch; tàu, thuyền neo đậu nhiều, do
đó lượng thức ăn dư thừa từ các bè nuôi và rác thải, chất thải sinh hoạt là những tác nhân chủ yếu gây nên tình trạng môi trường nước bị ô nhiễm Trong khi đó, công tác
Trang 14điều hành, quản lý nhà nước vùng mặt nước trên Vịnh còn hạn chế Tình trạng chưa kiên quyết, kém hiệu quả trong quản lý, quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản đã làm nghiêm trọng hơn những hệ lụy về mặt môi trường, cảnh quan du lịch trên các vịnh thuộc quần đảo Cát Bà
Trước thực trạng trên, ngày 27/9/2010, UBND thành phố đã ban hành Quyết định
số 1572/QĐ-UBND về “Quy hoạch chi tiết phát triển nuôi trồng hải sản trên vùng biển Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020” để tổ chức, sắp xếp lại khu vực nuôi trồng thủy sản trên vùng biển Hải Phòng theo hướng phát triển bền vững Trước hiện trạng đó, việc khảo sát, điều tra, đánh giá thực trạng nghề nuôi lồng cá biển và động vật thân mềm trên Vịnh Cát Bà từ đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững là rất cần thiết Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá biển, động vật thân mềm bằng
lồng bè tại Cát Bà, Hải Phòng”
Các nội dung chính của đề tài:
- Tìm hiểu tình hình kinh tế - xã hội nghề nuôi lồng cá biển và ĐVTM tại Cát Bà – Hải Phòng
- Điều tra hiện trạng kỹ thuật nuôi lồng bè một số loài cá biển và ĐVTM tại Cát
Bà – Hải Phòng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ổn định nghề nuôi lồng bè cá biển và ĐVTM tại Cát Bà – Hải Phòng
Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá được hiện trạng kỹ thuật và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển và ĐVTM tại Cát Bà – Hải Phòng
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở cho các
nhà khoa học và các nhà quản lý thủy sản giúp cho việc xây dựng chiến lược quy hoạch, cải tiến kỹ thuật nuôi phù hợp đối với nghề nuôi lồng bè cá biển và ĐVTM
Trang 15- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Kết quả của đề tài giúp cho cán bộ kỹ thuật và
được hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội mà nghề nuôi lồng bè các đối tượng cá biển và ĐVTM mang lại Từ đó có những giải pháp cụ thể giúp cho nghề nuôi cá biển và ĐVTM phát triển bền vững
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nuôi cá biển và ĐVTM trên thế giới
1.1.1 Tình hình nuôi cá biển
Tổng sản lượng nuôi thuỷ sản dao động từ 47,3 đến 63,6 triệu tấn, tăng khoảng 16,3 triệu tấn trong vòng 6 năm qua, tăng bình quân 2,72 triệu tấn/năm Sản lượng cá biển nuôi chiếm từ 30-34% trong tổng sản lượng nuôi thuỷ sản thế giới (FAO, 2012)[18]
Trong 10 nước hàng đầu thế giới và châu Á thì Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới (chiếm 61,35%) về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản Ở châu Á, Việt Nam là
Bảng 1.1: So sánh sản lượng nuôi thuỷ sản khu vực châu Á với thế giới năm 2010
cá cam, chim và thu chiếm sản lượng chủ yếu (gần 200 ngàn tấn), tiếp theo là nhóm cá
đù, cá tráp, cá song, cá bớp, dao động từ khoảng 50 đến 170 ngàn tấn[18]
Trang 17Nghề nuôi cá biển trong lồng bè ở châu Á đạt 394.580 tấn, trị giá gần 512 triệu USD, trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng cá biển nuôi lồng bè cao nhất: 358,495 tấn Quy mô nuôi nhỏ (8-20 ô lồng) chiếm trên 80% tổng số các hộ nuôi, có rất ít các hộ nuôi có số lượng lồng nuôi từ 20-100 ô lồng (kích cỡ lồng 3x3x3 m)
Ở Trung Quốc nghề nuôi cá biển lồng bè bắt đầu phát triển từ thập niên 80 với trên 1 triệu ô lồng được phân bố ở các tỉnh ven biển như: Fujian (54%); Guangdong (15%), Zhejiang (10%), Shandong (7%), Hainan (5%) các vùng khác chiếm khoảng (5%) Các lồng nuôi truyền thống có kích thước thường nhỏ (3-5 m x 3-5 m và chiều sâu lưới 4-5 m Vật liệu làm bè thường bằng tre, gỗ, ống thép, lồng được đặt trên các phao nhựa[17] Hiện nay ở Trung Quốc có trên 65 loài cá biển đang được nuôi trong lồng bè và ao đất, như cá mú, cá bớp, cá bơn Nhật Bản, cá tráp … Thức ăn sử dụng cho nuôi cá lồng
bè chủ yếu vẫn là cá tạp, được băm nhỏ hoặc xay nhuyễn trộn với vitamine, cho ăn hằng ngày từ 3-5% khối lượng thân, giá cá tạp dao động trong khoảng từ 0,2- 0,53 USD/kg Trung Quốc đã chủ động ương được một số các loài cá có giá trị kinh tế, việc này
đã giúp cho người nuôi chủ động được nguồn giống đưa vào nuôi đại trà (Bảng 1.2)
Bảng 1.2: Một số loài cá biển có giá trị kinh tề nuôi trong lồng bè
độ/m 3
Nguồi giống
Thời gian nuôi (tháng)
Kích cỡ thu hoạch (kg)
Tỷ lệ sống (%)
Sản lượng (Kg/m 3 )
Giá bán tại bè (USD/kg)
Nhân tạo,
tự nhiên và nhập
Trang 18Bảng 1.3: Một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi lồng bè ở Indonesia
(con/m 3 )
Nguồn giống
Thời gian nuôi (tháng)
Kích cỡ thu hoạch (kg)
Tỷ lệ sống (%)
Sản lượng (Kg/m 3 )
Giá bán (USD/kg)
một thời gian nuôi, cá giống đạt cỡ trên 10 cm thì sẽ chuyển sang nuôi ở lồng lớn hơn
Thời gian nuôi (ngày)
Kích cỡ thu (cm)
Trang 19Bảng 1.5: Một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi ở Thái Lan
Thời gian nuôi (tháng)
Kích cỡ thu hoạch (kg)
Tỷ lệ sống (%)
Sản lượng (kg/m 3 )
Giá bán tại bè (USD/kg)
1.1.2.1 Nuôi hầu Thái Bình Dương (TBD)
Nuôi hầu ở vùng triều:
Nhìn chung, hiện nay trên thế giới có hai hình thức nuôi hầu thương phẩm: nuôi
ở vùng trung triều và dưới triều
- Nuôi đáy: chỉ áp dụng ở những địa điểm mà tốc độ lắng đọng bùn thấp và nền đáy cứng Hầu giống thu được trong sản xuất nhân tạo hoặc lấy giống ngoài tự nhiên đưa vào các lồng lưới đặt trên nền đáy ở vùng trung triều, hoặc dưới triều, mật độ nuôi
lượng thu hoạch cho hình thức này 20 tấn/ha, hầu đạt kích thước thương phẩm ( >70 g con), trong thời gian nuôi khoảng 2 năm [21] Phương pháp này hiện nay rất ít được các nước áp dụng, vì tốc độ sinh trưởng chậm và tỷ lệ tử vong cao, thao tác thu hoạch khó Ở những nơi có đáy mềm cũng có thể nuôi được bằng cách tạo ra các nền đáy ổn định như sử dụng các tấm phên tre đan đặt dưới nền đáy, sau đó đưa hầu giống vào các lồng lưới và đặt trên tấm phên để nuôi cho đến khi thu hoạch
- Nuôi cách đáy ở vùng trung triều: Bao gồm nuôi trên giàn đỡ, nuôi cọc, nuôi dây, các mô hình này hiện nay có nhiều nước trên thế giới đang nuôi đem lại hiệu quả Nuôi cọc: trụ xi măng, ống nhựa, tre, gỗ có gắn thêm vật bám vào Đến mùa lấy giống nuôi người ta cắm cọc ở vùng có hầu giống xuất hiện hàng năm, chiều dài của cọc phụ thuộc vào mực nước thủy triều cao nhất khu vực nuôi, sản lượng thu hoạch phương pháp này khoảng 2-3 kg/cọc trong thời gian 15-18 tháng, hầu có kích thước 70-80 mm, khối lượng tương ứng 40-50 g/con [13]
Trang 20Nuôi trên giàn đỡ: Cọc tre hoặc gỗ được sử dụng để làm khung giàn đặt cách đáy khoảng 0,5 m, các khung giàn được sắp xếp song song với nhau trong vùng trung triều Hầu giống thu được trong sản xuất giống, hoặc giống tự nhiên cho vào các túi lưới (0,5 x 1 m) và buộc vào khung giàn để nuôi, tùy thuộc vào kích thước hầu giống, nuôi trong thời gian từ 1-3 năm, tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng Hình thức nuôi này cho tốc độ sinh trưởng khá nhanh và tỷ lệ chết thấp, cũng như khả năng thu hoạch
dễ, nhưng hạn chế là có nhiều sinh vật bám, làm bẩn khung giàn nuôi, khó xử lý, cũng như hạn chế về số lượng khung giàn trong vùng triều [21]
Nuôi ở vùng dưới triều, vùng nước sâu
Nuôi hầu ở vùng dưới triều, vùng nước sâu là hình thức nuôi hầu bằng lồng treo, dây treo lên bè Nuôi lồng treo có nhiều lợi thế hơn nuôi hầu ở vùng trung triều vì ít địch hại, dễ kiểm tra con giống và quản lý mật độ nuôi và thu hoạch dễ dàng, tốc độ sinh trưởng của hầu TBD trong một năm hầu đạt chiều dài vỏ từ 8-10 cm ở Trung Quốc [21], nhanh hơn các hình thức nuôi khác Tuy nhiên, chi phí đầu tư cao hơn nuôi hầu ở vùng trung triều Trong phương pháp này giống được cung cấp bởi các nguồn: giống tự nhiên (thu giống bằng đặt giá thể bám), giống sản xuất nhân tạo Nuôi hầu ở vùng dưới triều được áp dụng cho những vùng nước sâu, làm tăng thêm diện tích nuôi truyền thống ở vùng trung triều Sản lượng thu hoạch từ hình thức này là 5-7 tấn cho một bè nuôi có
dưới triều đang phát triển ở một nước như New Zealand, Úc, Mỹ [20]
1.1.2.2 Nuôi tu hài
Các nghiên cứu về phân loại tu hài trên thế giới đã bắt đầu từ những năm giữa thế
kỷ XX và tập trung theo hướng mô tả đặc điểm phân loại, kích thước, sinh thái, phân
bố địa lý và giá trị sử dụng Điển hình nghiên cứu của Trương Tỷ và ctv (1960) đã mô
tả loài Lutraria philippinarum như sau: Vỏ lớn, dài hình bầu dục; Chiều dài vỏ gấp hai
lần chiều rộng, đỉnh vỏ lồi cao ở cạnh lưng Từ đỉnh vỏ tới mép trước vỏ hơi xiên và tới mép sau vỏ hơi lõm, không có gờ phóng xạ, đường sinh trưởng rõ thô không đều nhau; Mặt trong vỏ có màu trắng; Vỏ phải có 2 răng chủ dạng phiến, vỏ trái có 1 răng chủ chẻ đôi; Vết màng áo không rõ ràng, vịnh màng áo rất rộng, mở rộng hướng từ mép trước đến mép sau; là loài sống ở vùng nước ấm, phân bố ở Australia, Philippine
và đảo Hải Nam (Trung Quốc) Ngoài tự nhiên tu hài sống trong cát bùn ở vùng triều
và ở vùng nước nông ven bờ [3], [4], [12], [13]
Trang 21Các nghiên cứu khác về tu hài rất ít được công bố Theo thông tin từ khoa Sinh thái Trường Đại học Puget Sound (Mỹ), tu hài (có tên tiếng Anh là Geoduck) sống tới
40 năm và nặng tới 9 kg, trung bình từ 3 – 4 kg và vùng Puget Sound có trữ lượng khoảng 109 triệu con Đây là vùng có trữ lượng tu hài cao nhất nước Mỹ và được coi
là một loài đặc sản Ở Mỹ người ta gọi loài này là “King Clam”, chúng ta còn gọi tên khác là “Vòi voi”; Từ đây tu hài thương phẩm được xuất sang Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông [15]
Nghiên cứu về sản xuất giống tu hài, năm 1999 Viện Nghiên cứu Hải sản Sơn Đông (Trung Quốc) bắt đầu nghiên cứu và cho đẻ nhân tạo tu hài nhập từ Mỹ Đến năm 2001, Công ty Hải sản Diễm Đài Bách Lợi của Mỹ hợp tác với Trung Quốc đã sản xuất ra 3 triệu tu hài giống Hiện họ đang làm chủ công nghệ sản xuất giống đối tượng này [17]
Hiện nay có rất ít nghiên cứu về bệnh ở động vật thân mền Một số nghiên cứu
đã chỉ ra rằng, bệnh và địch hại đối với động vật thân mềm (ĐVTM) được quan tâm ở hai giai đoạn, giai đoạn ấu trùng và trưởng thành trong quá trình ươm, nuôi trong đó
ký sinh trùng và vi khuẩn là hai đối tượng gây nguy hiểm nhất [22] Nghiên cứu của
Davis (1954) phát hiện vi khuẩn Sirolpidium zoophhorum là tác nhân gây hại cho giai
đoạn ấu trùng động vật thân mềm Nghiên cứu của Gaillo (1954) cho thấy, hai loại vi khuẩn Vibrio và Pseudomonas trong quá trình đồng hoá và dị hoá chúng tiết ra chất độc, khi hàm lượng chất độc đạt tới nồng độ cao nhất sẽ làm ấu trùng động vật thân mềm hai mảnh vỏ ngừng sinh trưởng, thậm chí làm ấu trùng chết hàng loạt Trong sản xuất giống nhân tạo, giai đoạn ấu trùng, tu hài thường gặp một số bệnh do nguyên sinh động vật và nấm; Nguyên sinh động vật tấn công vào trong cơ thể ấu trùng và gây chết hàng loạt, nhất là giai đoạn ấu trùng Spat, nhiều bể ương không thay nước thường xuyên và kịp thời, nấm phát triển rất nhanh, môi trường nước bị bẩn làm ấu trùng chết hàng loạt [21]
Ở Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu tu hài với trị giá hàng tỷ nhân dân tệ, hiện nay tu hài thương phẩm có giá hàng trăm nhân dân tệ/kg (khoảng 200.000 VND) Năm
1999, Viện nghiên cứu Hải sản Sơn Đông - Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu và cho đẻ nhân tạo giồng tu hài Năm 2001, Công ty hải sản Diễn Đài Bách Lợi của Mỹ hợp tác với Trung Quốc đã sản xuất được 3,0 triệu con giống Hiện tại, Trung Quốc là nước đứng đầu thế giới về sản xuất giống tu hài nhân tạo
Trang 221.2 Tình hình nuôi cá biển và ĐVTM ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình nuôi cá biển
Nuôi trồng thủy sản là nghề truyền thống ở Việt Nam nhưng đến những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau năm 2000 nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam mới phát triển nhanh chóng Năm 2012, diện tích NTTS đạt 1,2 triệu ha, sản lượng đạt 3,2 triệu tấn, đóng góp quan trọng vào giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 6,6 tỷ USD Trong đó nuôi cá biển diện tích 7.436 ha và 86.066 lồng, sản lượng 86.000 tấn Nhìn chung, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tốc độ NTTS phát triển nhanh nhất thế giới Theo Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015, định hướng đến 2020 (Quyết định 1523/QĐ-BNN-TCTS ngày 08/7/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT), mục tiêu đặt ra là đến năm 2015: Tổng sản lượng cá biển nuôi năm
2015 đạt 160.000 tấn, giá trị tương đương 1,04 tỷ USD, trong đó nuôi cá biển trong hệ thống lồng nhỏ đạt 44.000 tấn, nuôi công nghiệp tập trung 55.000 tấn Dự kiến đến năm 2020 tổng sản lượng cá biển đạt 200.000 - 260.000 tấn, giá trị 1,8 tỷ USD: Nuôi
cá biển trong ao đạt khoảng 98.000 tấn, nuôi hệ thống lồng nhỏ 51.000 tấn, nuôi công nghiệp tập trung 111.000 tấn
Mặc dù nước ta có tiềm năng to lớn để phát triển nuôi biển nhưng cho đến nay, công nghệ nuôi cá biển nước ta mới được quan tâm phát triển Hiện nay hầu hết các trang trại nuôi biển tại khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh, Kiên Giang đều sử dụng lồng
gỗ, quy mô kiểu nông hộ, lắp đặt tại các vùng biển kín gió Các lồng này thường có dung tích nhỏ, kích thước 3x3x3 m kết lại thành cụm lồng hết sức đơn giản (Tuan và
ctv, 2000) [Error! Reference source not found.] Kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên
cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 về thử nghiệm nuôi cá biển bằng lồng tròn nổi làm bằng vật
vững chắc, mềm dẻo, dễ vận hành, thích hợp cho nuôi nhiều loài cá biển, tương đối phù hợp với điều kiện vùng biển Việt Nam Tuy nhiên chúng có nhược điểm là giá thành cao
và có bộ phận khung cơ khí được làm từ sắt mạ kẽm không chịu được điều kiện khí hậu nắng nóng và ẩm của nước ta nên có tuổi thọ thấp (không quá 5 năm)
Năm 2002, đã có nhiều nghiên cứu để cải tiến phần khung lồng là sắt mạ kẽm thay thế bằng vật liệu thép không gỉ (inox), tuy đảm bảo độ bền nhưng giá thành vẫn còn cao và cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu chính thức đánh giá chất lượng và khả
Trang 23năng chịu sóng của các mô hình này nên chưa có đủ cơ sở để khẳng định khả năng lắp đặt loại lồng tại những vùng biển mở Bên cạnh mô hình lồng HDPE, một số mô hình lồng chi phí thấp, lồng gỗ cải tiến có khả năng chịu sóng được nghiên cứu thử nghiệm thành công từ năm 2002 nhưng khả năng ứng dụng thấp vì chưa thuận tiện trong vận hành (Như Văn Cẩn và ctv, 2003) [1]
Một số kiểu lồng nuôi truyền thống
Lồng được thiết kế theo nhiều kiểu, nhiều kích cỡ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của vùng nước và khả năng tài chính của người nuôi
- Lồng nổi: Túi của lồng nổi thường được hỗ trợ bởi một khung có phao Dạng
lồng này thường được bố trí ở những eo, vịnh có độ sâu khoảng 10 m trở lên Kích cỡ lồng phổ biến là 3x3x3 m và 4x4x3 m, 6x6x3 m Các dạng lồng theo kiểu truyền thống này vẫn đang được sử dụng phổ biến ở những vùng nuôi của khu vực Miền Trung nước ta như Nghệ An, Khánh Hòa
- Lồng tre cố định: Đây là dạng lồng được sử dụng phổ biến ở vùng đầm phá Tam Giang, tỉnh Thừa Thiên - Huế Lồng được cấu tạo từ các thanh tre dày 1 cm, rộng 3-4 cm và dài 1,5-2,0 m được buộc bằng dây nylon có đường kính 0,18 cm Khoảng cách giữa hai dây buộc là 20 cm và giữa hai thanh tre là 1,2 cm Các thanh tre được đan lại với nhau tạo thành đáy lồng Bề mặt phía trên của lồng có một ô trống cỡ 60x60 cm để kiểm tra (Bảng 1.6) [1]
Bảng 1.6: Các dạng lồng nuôi truyền thống hiện nay Kiểu
15 cm
Lưới 2a=2-4
mm
Có độ sâu 10-20
m, trong Vịnh kín gió
Trang 24 Một số kiểu lồng biển mở hiện nay
- Kiểu lồng chìm có khung cố định
Đây là dạng lồng chìm hoàn toàn trong nước, có cấu trúc khung thép hình cầu hoặc hình trụ cố định vững chắc làm điểm tựa cho túi lưới Dung tích lồng có thể 500
Farm Ocean do Thụy Sỹ thiết kế và mô hình lồng PDW do Trung Quốc thiết kế
Về ưu điểm, kiểu lồng này được thả chìm dưới nước, tránh được tất cả các tương tác bề mặt như sóng biển, các vật thể trôi nổi, có thể tránh bão hoàn toàn Do lồng có thể đặt chìm nên không cần phải có cấu trúc thật vững chắc như loại lồng nổi Do cấu trúc khung, túi lưới luôn có dung tích ổn định, tránh làm thương tổn cho cá nuôi trong mọi điều kiện thời tiết Về nhược điểm, hệ thống lồng này bộc lộ nhược điểm ở tất cả các khâu còn lại, tức là giá thành rất đắt, sử dụng những loại vật tư đặc biệt, không thể quan sát bằng mắt thường các sự cố, rất khó vận hành, phải sử dụng thiết bịcho ăn tự động và không thích hợp với điều kiện nước ta [17]
Hệ thống neo được buộc cố định trong khi phần lồng lưới có thể được tháo rời nhằm thực hiện các thao tác trong nuôi cá hoặc kéo di chuyển bằng tàu như các lồng nổi khác Về nguyên lý vận hành, lồng bán chìm vận hành theo nguyên tắc có thể tự chìm khi có sóng mạnh nhờ hệ thống neo buộc thẳng đứng kết nối trực tiếp với đáy lồng Phần lồng nổi trên mặt nước có diện tích nhỏ nên có thể giảm thiểu sức công phá của sóng bề mặt Phần túi lưới được cố định với hệ thống neo đáy nên ít bị biến dạng
và có khả năng ổn định dung tích lồng (đạt trên 75 %) Trong trường hợp thu cá, thay lưới, cần sử dụng khung lồng nổi và kết nối với phần túi lưới trước khi tháo bỏ neo buộc đáy Lúc đó các thao tác sẽ thực hiện như với kiểu hệ thống lồng nổi bình
Trang 25thường Việc chăm sóc và cho cá ăn hàng ngày được thực hiện bằng hệ thống thiết bị quan sát và cho ăn tự động (FAO, 2007) [17].
- Kiểu lồng nổi có khung sắt mạ:
Kiểu lồng này có cấu tạo gồm 3 phần chính: Phần khung lồng, phần túi lưới và
hệ thống neo buộc Phần khung lồng có cấu trúc thép mạ vững chắc được kết nối nhờ những khớp mềm dẻo, có lối đi lại để tiện thao tác, vận hành Hệ thống này được làm nổi nhờ các phao, có kích thước phù hợp Khung lồng có thể làm theo hình vuông, hình chữ nhật, hình lục giác hoặc bát giác tuỳ theo mục đích sử dụng Túi lưới được buộc vào khung và được định hình nhờ hệ thống chì đáy Toàn bộ lồng được kết nối với phao chịu lực và neo (FAO, 2007) [17]
Ưu điểm chính của kiều lồng này có cấu tạo đơn giản, vững chắc, có thể kết nối thành giàn lồng, có lối đi trên bề mặt nên rất thuận thiện cho vận hành hàng ngày Toàn bộ khung lồng, phao nổi trên mặt nước nên có thể quan sát dễ dàng, tu sửa kịp thời khi xảy ra sự cố
Nhược điểm của kiều lồng này là có cấu trúc cứng, hệ thống ít mềm dẻo, khả năng chịu sóng kém Mô hình này chỉ nên lắp đặt tại những vùng biển ít sóng do khả năng tránh bão kém Ngoài ra, do phần nổi chiếm không gian lớn nên đòi hỏi hệ thống neo phải đủ lớn để đảm bảo sức giữ (holding capacity)
- Kiểu lồng tròn HDPE:
Kiểu lồng tròn nổi có khung làm bằng ống nhựa HDPE cấu tạo khá đơn giản, có
độ mềm dẻo cao, có khả năng chịu sóng tốt, hiện đang được ứng dụng rất rộng rãi Kiểu lồng này có thể thiết kế dung tích từ vài trăm đến hàng chục ngàn mét khối và được sản xuất bởi một số công ty nổi tiếng như Aqualine, Bridgestone Hi-Seas, Dunlop tempest … Đây cũng chính là kiểu lồng đã được nhập nội và thử nghiệm thành công tại Nghệ An từ năm 1999 (Như Văn Cẩn, 2010) [1]
1.2.2 Tình hình nuôi ĐVTM
Các loài ĐVTM hiện nay đang được nuôi tại khu vực Cát Bà, Hải Phòng gồm có hầu Thái Bình Dương (TBD) và tu hài
Trang 261.2.2.1 Nuôi thương phẩm hầu TBD
Nghiên cứu và nuôi thử nghiệm hầu sớm nhất là ở Quảng Ninh Bắt đầu từ năm
1967, các chuyên gia Trung Quốc đã nuôi thử nghiệm hầu cửa sông tại Sông Chanh, Yên Hưng, Quảng Ninh Đến năm 1972, trong chương trình hỗ trợ phi chính phủ, một
tổ chức của Nhật Bản đã cử chuyên gia sang giúp Việt Nam cũng nuôi hầu cửa sông theo phương pháp vớt giống ngoài tự nhiên ở vùng nước Quảng Yên, Yên Hưng, Quảng Ninh Các dự án nuôi hầu tiến hành trong hoàn cảnh chiến tranh lúc bấy giờ nên tạm dừng và không đạt được kết quả như dự định (Nguyễn Chính, 2001; Vũ Công Tâm, 2009)[10] Sau khi nước nhà thống nhất (1975), nuôi hầu vẫn chưa được chú trọng mà chỉ tập trung vào khai thác phục vụ tiêu dùng nội địa Từ những năm đầu của thập niên 90 nghề nuôi hầu dân gian xuất hiện tại nhiều nơi như Long Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), Quảng Ninh, Huế….nhằm thoát khỏi khổ nghèo (Lê Minh Viễn và Phạm Cao Vinh, 2007) [12]
Nghề nuôi hầu thực sự phát triển từ những năm đầu thế kỷ XXI với sự đầu tư mạnh của nhà nước cho các đề tài nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài hầu bản địa và nhập nội Năm 2006, Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I phối hợp với Công ty Đầu tư và phát triển Hạ Long - Quảng Ninh đã nhập giống hầu Thái Bình Dương từ Đài Loan về nuôi thăm dò tại vịnh Bái Tử Long Hầu Thái Bình Dương nuôi tại vịnh có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, trong thời gian 8 - 10 tháng nuôi hầu đã đạt kích cỡ thương phẩm trung bình từ 65- 75mm/con, Khối lượng từ 70-80g/con và tỷ lệ sống đạt từ 54-63% Đến nay hầu Thái Bình Dương đã thay thế gần như toàn bộ hầu cửa sông trong nuôi tại Quảng Ninh
Ở Miền Nam, công ty Nuôi trồng thủy sản và Thương mại Viễn Thành thực hiện sản xuất giống hầu bám đơn cung cấp cho người dân và cho hoạt động nuôi của công ty Từ
đó, con giống nhân tạo dần được thay thế một phần con giống khai thác từ tự nhiên Cũng trong thời gian này, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III đã sản xuất hầu bám đơn và nuôi thử nghiệm tại nhiều địa phương như đầm Nha Phu (Khánh Hòa), đầm Nại (Ninh Thuận), Sông Cầu (Phú Yên), đầm Thị Nại (Bình Định) Kết quả ban đầu cho thấy hầu sinh trưởng và phát triển tốt ở các địa phương này, tuy nhiên chưa có báo cáo nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, tỷ lệ sống, mật độ nuôi phục vụ cho việc phát triển bền vững nghề nuôi hầu TBD ở Việt Nam
Trang 27Việt Nam có 29 tỉnh ven biển từ Bắc tới Nam, nhưng nghề nuôi hầu chỉ diễn ra
và phát triển ở một số tỉnh như: Cà Mau, Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Định, Thừa Thiên Huế và Quảng Ninh với sản lượng lớn Sản lượng Hầu của các tỉnh này tăng khá nhanh từ 792 tấn năm 2002 lên 2.743 tấn năm 2007 Trong
đó hầu được nuôi chủ yếu tại các tỉnh Quảng Ninh và Bà Rịa -Vũng Tàu với sản lượng lần lượt là 900 tấn và 1.364 tấn năm 2007, chiếm tới 88,9% tổng sản lượng hầu nuôi toàn quốc Năng suất bình quân giai đoạn 2002-2007 đạt 7,1 tấn/ha, trong đó nuôi đáy năng suất 10-12 tấn/ha; nuôi giàn bè 3-5 tấn/giàn, nuôi khay 6-8 kg/khay
Trong số 21 loài bản địa thì 4 loài được nuôi chủ yếu Hầu cửa sông Crassostrea
rivularis, loài bản địa ở các tỉnh phía bắc đang được nuôi ở các tỉnh phía bắc và bắc
miền Trung Loài hàu C lugubris được nuôi phổ biến tại các tỉnh miền Trung, trong khi các loài hầu C belcheri và C iredalei được nuôi phổ biến tại các tỉnh phía nam,
đặc biệt nuôi rất nhiều tại Long Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), và Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) Vào năm 2006, công ty đầu tư và phát triển Hạ Long phối hợp với Công ty Khoa học Kỹ thuật Pauchen (Đài Loan) đã khảo sát một số vực nước tại Vịnh Bái Tử Long và đi đến kết luận nhập khẩu loài hầu Thái Bình Dương từ Đài Loan và loài hầu này đã thay thế phần lớn hầu cửa sông (giá trị thấp) tại hai tỉnh Quảng Ninh và Hải Phòng Cơ cấu sản lượng hàu nuôi rất ít so với sản lượng của những động vật thân mềm nuôi khác, khoảng 2% Theo thời gian thì cơ cấu này cũng tăng theo nhưng với
tỷ lệ thấp hơn so với tăng sản lượng Điều đó chứng tỏ sản lượng hầu nuôi ở nước ta cũng chưa cao so với những loài động vật thân mềm nuôi khác
Về diện tích có sự tăng rất lớn, từ 94,5 ha năm 2002 nhưng khoảng 501,1 ha năm
2007, trong đó diện tích nuôi lớn nhất là hai khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu và Quảng Ninh Tại Quảng Ninh, diện tích nuôi hàu tăng mạnh từ 100 ha (2006) đến 220 ha (2009) và đang xây dựng 700 ha để đưa vào nuôi trong thời gian tới Có được việc tăng diện tích nhanh như thế là vì ngày càng có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nuôi hầu như Công ty Đầu tư Phát triển Hạ Long, Xí nghiệp Hải Minh, Công ty tài năng trẻ (Vũ Công Tâm, 2009)[10] Cũng giống như sản lượng, vào những năm 2006, 2007 vì
lý do nguồn nước ô nhiễm, dịch bệnh xảy ra tại các vực nước khu vực phía nam nên diện tích có xu hướng tăng rất ít
Trang 28Ở giai đoạn còn nhỏ, hầu có nhiều loại địch hại khác nhau: ốc lông, cua và ghẹ, một số loại cá, lý do trong khoảng thời gian này vỏ hàu mềm nên dễ bị các loại địch hại tấn công ăn thịt Nền công nghiệp nuôi hàu tại Mỹ xác định địch hại lớn nhất là các loại ĐVTM chân bụng như: ốc lông và ốc xoắn Những bọn địch hại này thường dùng răng hàm khoan lỗ hay bào mòn vỏ hàu rồi đưa vòi hút thức ăn vào đó để giết chết hầu nuôi Ngoài ra, ở giai đoạn con giống, các loại cua cũng là những địch hại gây tỷ lệ chết rất lớn cho hầu nuôi Chúng dùng những càng khỏe mạnh kẹp nát vỏ những cá thể hầu còn non và ăn thịt Điểm đặc biệt ở đây là những bọn địch hại này cũng là bọn thích nghi rộng với những biến đổi môi trường nên chúng có thể xuất hiện quanh năm[22]
Ngoài địch hại là các sinh vật thì các yếu tố vô sinh như: nhiệt độ, độ mặn, độ trong, độ sâu, chất đáy, dòng chảy cũng là địch hại nguy hiểm cho hầu nuôi Bên cạnh
đó, động vật nguyên sinh cũng gây các hội chứng chết hàng loạt các loài hầu nuôi Ngoài ra, virus và vi khuẩn cũng là những tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên một số loài hầu như Vibrio, Pseudomonas, Alteromonas [23]
Biện pháp phòng trị hiệu quả đối với địch hại của hầu nuôi là dùng cỡ lưới thích hợp để giữ hầu và ngăn chặn địch hại từ bên ngoài lồng; ngoài ra nhiều tác giả còn đưa
ra cách phòng trị là dùng nước ngọt ngâm hầu hay để hàu ra ngoài ánh sáng một thời gian thích hợp sẽ tiêu diệt được bọn ký sinh trùng giun dẹp Đối với các yếu tố vô sinh thì biện pháp hữu hiệu là chọn địa điểm hay mùa vụ nuôi, dựa vào đặc điểm sinh học của từng loài hàu nhằm tạo điều kiện tốt nhất có thể cho hàu sinh trưởng và pháp triển Việc xuất hiện một số bệnh hay triệu chứng chết hàng loạt ở hầu nuôi thường đi kèm với sự biến đổi bất thường của một số yếu môi trường như nhiệt độ, nồng độ muối, thức ăn ví dụ triệu chứng hầu chết hàng loạt về mùa hè thường đi kèm với nồng độ mặn cao, nhiệt độ cao, trong khi đó triệu chứng chết về mùa đông đi cùng với nồng độ mặn giảm, virus gây bệnh cho ấu trùng hầu khi nhiệt độ quá cao, thức ăn thiếu, mật độ
ấu trùng cao Do đó trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm hầu, việc đảm bảo các yếu tố môi trường tối ưu cho mỗi loài là vô cùng quan trọng, làm cho hầu nuôi khỏe mạnh, sức kháng bệnh tốt, tỉ lệ sống cao, ngoài ra chọn địa điểm và mùa vụ thả hầu là nhân tố quyết định sự thành công trong nuôi thương phẩm
Trang 291.2.2.2 Nuôi thương phẩm tu hài
Năm 2003, Dự án Hợp phần SUMA - Bộ Thủy sản đã tiến hành nuôi thử nghiệm nuôi tu hài bằng hình thức nuôi thả trực tiếp xuống bãi ở vùng biển Quảng Ninh, đây
là nghiên cứu về nuôi thương phẩm tu hài đầu tiên được triển khai tại nước ta
Năm 2004, Vũ Văn Toàn và Đặng Khánh Hùng với sự giúp đỡ của Hợp phần hỗ trợ nuôi trồng thủy sản biển và nước lợ, đã xuất bản tài liệu “Kỹ thuật ương giống và nuôi tu hài thương phẩm” Năm 2005, Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia đã xuất bản tài liệu “Kỹ thuật nuôi tu hài” Trong các tài liệu này có giới thiệu đặc điểm sinh học, kỹ thuật ương giống và nuôi tu hài thương phẩm, phần phụ lục có ghi hiệu quả kinh tế và những khuyến cáo [9] Từ năm 2004 – 2005, Trung tâm tư vấn, chuyển giao công nghệ nguồn lợi thủy sinh và môi trường – Hải Phòng đã thực hiện đề tài: “Điều tra hiện trạng và đề xuất một số giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi tu hài ở vùng biển Hải Phòng và Quảng Ninh”, kết quả đề tài đã xây dựng được bản đồ phân bố tu hài tự nhiên tại vùng biển Quảng Ninh, Hải Phòng và đề xuất được một số giải pháp bảo tồn, phát triển nguồn lợi hải sản quý này [10]
Năm 2008, Trung tâm Quốc gia giống hải sản Miền Bắc - Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I, đã tiến hành thử nghiệm nuôi tu hài thương phẩm theo 3 hình thức, nuôi lồng treo trên bè, lồng đặt đáy (cỡ lồng nuôi: 40 cm x 30 cm x 25 cm) và nuôi rải đáy; Mỗi hình thức thả 10.000 con giống cấp 2 Trong đó, mật độ giống thả nuôi lồng
nhất ở hình thức nuôi lồng treo với 91%, nuôi lồng đặt bãi đạt 83 % và nuôi rải đáy có
tỷ lệ sống thấp nhất với 62 %; Về kích cỡ thu hoạch đạt lần lượt theo các hình thức trên là 74 g/con, 75 g/con và 81 g/con Cũng trong phạm vi nghiên cứu này, Trung tâm
đã thử nghiệm nuôi với các mật độ 15 con/lồng (40 cm x 30 cm x 25 cm), 20 con/lồng,
25 con/lồng, 30 con/lồng ở hình thức nuôi lồng treo, lồng đặt đáy; thử nghiệm mật độ
ban đầu thích hợp đối với hình thức nuôi lồng treo bè là 20 – 25 con/lồng, nuôi lồng
Kết quả khảo sát, phân tích mẫu nước, mẫu Tu hài tại Vịnh Lan Hạ - Cát Bà – Hải Phòng đã xác định được, hiện tượng tu hài giống và thương phẩm nuôi tại Cát Bà - Hải Phòng chết hàng loạt vào dịp cuối năm 2011 có liên quan đến yếu tố môi trường nước và tác nhân vi khuẩn Vibrio [3]
Trang 30Chi cục Thú y tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở kết quả phân tích mẫu bệnh tu hài nuôi tại hai huyện Vân Đồn và Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh của Trung tâm Chuẩn đoán Thú y Trung ương đã có kết luận, hiện tượng tu hài nuôi tại 2 Huyện bị chết hàng loạt trong
thời gian từ tháng 5 đến tháng 7/2012 chủ yếu do nội ký sinh Perkinsus spp gây ra
Theo thông tin từ Chi cục Nuôi trồng thủy sản Quảng Ninh, hiện tượng tu hài nuôi ở một số tỉnh: Khánh Hòa, Phú Yên, Thừa Thiên Huế thời gian gần đây cũng có
1.3 Điều kiện tự nhiên của vùng nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý của quần đảo Cát Bà
Huyện Đảo Cát Hải thuộc Thành phố Hải Phòng phía Tây Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh Địa hình nơi đây phức tạp chủ yếu là núi đá vôi chiếm 2/3 tổng diện
bào mòn Đảo có hệ thống đê biển và các khu rừng trồng bảo vệ
Đảo Cát Bà là đảo núi đá vôi gồm có 336 hòn đảo trong đó Đảo Cát Bà là đảo
che chắn tạo ra các vùng vịnh êm sóng, kín gió, dân số trên đảo Cát Bà khoảng 18.000 người.Quần đảo Cát Bà cách trung tâm thành phố Hải Phòng 45km về phía Đông, cách
Cát Bà khoảng 9.200 ha [3]
1.3.2 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn quần đảo Cát Bà
1.3.2.1 Khí hậu
Vùng biển Cát Bà có đặc điểm khí hậu mang tính chuyển tiếp giữa khu vực vịnh
Hạ long và Cát Hải – Hòn Dáu
Gió: Có chế độ gió mùa vùng ven biển với 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc
và gió mùa Tây Nam
Mưa: Mùa mưa tập chung chủ yếu từ tháng 5 – 10, tổng lượng mưa trung bình khoảng 1.772mm, chiếm 88% tổng lượng mưa trung bình cả năm (khoảng 1.992mm) Lượng mưa cao nhất vào tháng 8, khoảng 446mm
Trang 31Độ ẩm tương đối: Trung bình năm đạt 82%, cao nhất là 88% vào tháng 3 Độ ẩm cao vào tháng có mưa phùn (tháng 2,3,4), độ ẩm thấp vào tháng 10,11, 12 là khoảng 73% Bốc hơi: Cao nhất vào các tháng trời hanh (tháng 10,11,12) và thấp nhất vào tháng mưa phùn (tháng 2,3,4) Lượng bốc hơi hàng năm khoảng 700 – 1.200mm Nắng: Số giờ nắng trung bình cả năm là 1.600 giờ, tháng 10 có số giờ nắng nhiều nhất, tháng 2 và 3 có số giờ nắng thấp nhất (42 – 47 giờ);
Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí thay đổi theo hai mùa gió, nhiệt độ cao nhất tuyệt
Bão và giông: Giông trong khu vực xuất hiện thường trong khoảng tháng 5 – 9, trung bình có khoảng 87 ngày dông trong một năm
1.3.2.2 Thuỷ văn
Thuỷ triều: Khu vực Cát Bà có tính chất Nhật triều, biên độ cực đại là 4,3 m Mỗi tháng có 2 kỳ triều cường, mỗi kỳ 11 – 13 ngày xen kẽ 2 kỳ triều kém mỗi kỳ 3-4 ngày Sóng: Có 3 hướng sóng chính là Đông Bắc, Đông và Đông Nam, sóng hướng Đông Bắc có độ cao trung bình 1 – 1,5 m, hướng sóng Đông Nam có độ cao 0,5 – 1m, sóng hướng Đông thường xuất hiện vào các tháng chuyển tiếp giữa hai mùa (tháng 4,5
và tháng 9)
Dòng chảy: Cát Bà chịu ảnh hưởng của hoàn lưu vịnh Bắc Bộ và có đặc điểm riêng của vùng biển kín ven bờ Tây Bắc vịnh Do địa hình và hình thái đường bờ phức tạp, nhiều lạch nhỏ và các đảo, phân bố độ sâu không đều làm cho dòng chảy ở đây biến đổi mạnh Dòng chảy tổng hợp chủ yếu hình thành do dòng chiều, dòng gió Mùa gió đông bắc, dòng chảy hướng tây nam đạt vận tốc trung bình 20 – 30cm/giây
1.3.2.3 Quá trình trao đổi nước
Địa điểm nghiên cứu nằm trong khu vực trao đổi nước thuộc Vịnh Lan Hạ Với đặc trưng là khu vực này cách xa lục địa nên không có sự trao đổi nước trực tiếp với các cửa sông mà thông qua cửa Vạn (phía Bắc), cửa Chính của vịnh (phía Nam) và một số lượng nhỏ từ các vụng, lạch trong vịnh
Trang 32Cửa Vạn: Có độ sâu hơn 20m chiều dài khoảng 700m, lượng nước trao đổi với
636,7 lần lượng nước chứa trong vịnh Lan Hạ
Cửa vịnh Lan Hạ: Với độ sâu trung bình 13,0m, chiều dài cửa vịnh khoảng
1.3.3 Đặc điểm thuỷ hoá và chất lượng nước ở khu vực Cát Bà
1.3.3.1 Nhiệt độ nước
Vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, nhiệt độ nước nằm trong
Vào mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ nước nằm trong khoảng
Đồng thời, sự phân bố nhiệt độ khá đồng nhất
1.3.3.2 Độ đục
Vào mùa khô, độ đục của nước nằm trong khoảng từ 8 – 12 FTU
Vào mùa mưa, độ đục của nước tăng cao và dao động từ 10 – 20 FTU
1.3.3.3 Độ mặn
Độ mặn của nước biển trong khu vực nghiên cứu (Bến Bèo – Cát Bà) có sự dao động từ 17ppt đến 34ppt Độ mặn dao động mạnh vào mùa mưa do ảnh hưởng từ các của sông, mùa khô tương đối ổn định
1.3.3.4 pH
pH tại khu vực nghiên cứu có sự biến đổi trong khoảng hẹp (tương đối ổn định)
từ 7,9 – 8,3 Vào mùa khô pH dao động trong khoảng 7,8 – 8,2
Vào mùa mưa pH dao động trong khoảng 8,1 – 8,3
Trang 331.3.3.5 Hàm lượng một số muối dinh dưỡng
Nitrit (NO 2
): Kết quả nghiên cứu nhiều năm trước cho thấy hàm lượng nitrit
-trong nước biển ở Cát Bà biển đổi thấp từ 0,2 - 1,9gN/l (Đỗ Công Thung và Nguyễn Văn Tiến, 2002; Nguyễn Chu Hồi và CTV, 2001) Vào mùa khô, hàm lượng nitrit trong lớp nước mặt từ 5,0 - 8,8gN/l, lớp nước đáy là 5,7 - 8,9gN/l Vào mùa mưa, hàm lượng nitrit trong nước biển có xu hướng tăng, ở lớp nước tấng mặt là 9,1 - 23,6gN/l và lớp nước tầng đáy là 8,5 - 19,7gN/l
Nitrat (NO 3 - ): Biến đổi theo mùa và theo từng khu vực khác nhau, hàm lượng
trong vịnh Lan Hạ biến đổi từ 49,5g/l - 200g/l Vào mùa khô lớp nước tầng mặt có hàm lượng trung bình là 113,5g/l, mùa mưa là 113,3g N/l
+ ): Biến đổi mạnh theo mùa và theo không gian, dao
động trong khoảng 13 - 90g/l Mùa khô, hàm lượng amonium lớp nước mặt trung bình là 71,9g/, tầng đáy trung bình khoảng 74,9g/l Mùa mưa, lớp tầng mặt trung bình khoảng 32,8g/l, tấng đáy trung bình khoảng 36,2g/l
Phosphat (PO 4 -3 )
Kết quả nghiên cứu hàm lượng phosphat trong nước biển ở khu vực Cát Bà trước đây từ 2,8 - 5,0g P/l Nhưng đến nay, hàm lượng phosphat trong nước biển đã thay đổi đáng kể, biến đổi từ 6,3g/l - 37,8gP/l
Silicat (SiO3
-2 ): Hàm lượng silicat trong nước biển ở khu vực Cát Bà biến động
từ 590 - 1200g/l
1.3.3.6 Hàm lượng oxy hoà tan trong nước biển
Hàm lượng oxy hoà tan trong nước biển ở khu vực Cát Bà những năm trước tương đối ổn định, DO dao động trong khoảng 5,12 – 7,27 mg/l Tuy nhiên, một số năm gần đây
có những thời điểm hàm lượng oxy xuống dưới 5mg/lít Trường hợp cá biệt này xảy ở ở khu vực Bến Bèo và Tùng Gấu, nơi có mật độ bè nuôi thuỷ sản dày đặc
1.3.3.7 Một số kim loại nặng
là khoảng 8,35g/l, mùa mưa trung bình khoảng 8,10g/l Trong khi, mức nồng độ giới hạn cho phép (GHCP) trong nuôi trồng thuỷ sản ven biển theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN - 5943 – 1995) là 10g/l
Trang 34Chì (Pb2+): Nồng độ chì trong khu vực vịnh Lan Hạ trung bình mùa khô là 6,61
g/l, mùa mưa thấp hơn, trung bình khoảng 6,36g/l GHCP theo TCVN là 10g/l
11,11g/l mùa mưa là 9,85g/l Trong khi GHCP theo TCVN là 10g/l, như vậy mùa khô đã cao hơn GHCP 1,11g/l
những trong năm gần đây, mùa khô trung bình khoảng 190g/l, mùa mưa thấp hơn (160g/l) Trong khi GHCP theo TCVN là 100g/l, như vậy là nước ở khu vực nghiên cứu đã bị ô nhiễm bởi sắt
Trang 35CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ 10/2013 đến 12/2014
- Địa điểm nghiên cứu: vùng biển quần đảo Cát Bà – Hải Phòng
\
Hình 2.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu
Hiện nay trên các Vịnh Cát Bà có 5 khu vực có bè neo đậu sản xuất nuôi trồng thủy sản (khu vực Cảng cá Cát Bà, khu vực Vịnh Bến Bèo, khu vực Vịnh Lan Hạ, khu vực Trà Báu, khu vực Bến Gia Luận) với tổng số lượng các lồng bè nuôi là 468 bè với
giá hiện trạng của nghề cá lồng bè, nuôi ĐVTM trên vùng biển Cát Bà, Hải Phòng
2.1.1 Khu vực Cảng Cát Bà
Hiện tại khu vực cảng cá Cát Bà có 18 bè, 123 ô lồng, diện tích ô lồng nuôi:
thu mua các sản phẩm thủy sản do các tàu đánh bắt của thành phố Hải Phòng và của
Trang 36các tinh khác ở các ngư trường Long Chấu, Bạch Long Vĩ về neo đậu và bán sản phẩm khai thác cung cấp cho thị trường nội và ngoại thành
2.1.2 Khu vực Vịnh Bến Bèo
Khu vực Vịnh Bến Bèo là nơi neo đậu lồng bè lâu nhất của đảo Cát Bà, từ những năm 1997 Công ty Ka Thay của Hông Kong và Đài Loan đã đóng bè neo đậu và nuôi thương phẩm thành công các đối tượng cá biển như cá mú, cá bớp
Hiện tại Vịnh Bến Bèo gồm có 302 bè với 5.480 ô lồng, tổng diện tích ô nuôi
2.1.3 Khu vực Vịnh Lan Hạ
Đây là một khu vực rất đẹp về danh lam thắng cảnh, kín sóng gió, nguồn nước còn trong sạch.Hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản trên khu vực này bắt đầu phát triển mạnh vào những năm 2006, trước năm 2005 thì khu vực này chủ yếu nuôi trai lấy ngọc từ năm 2006 đến nay phát triển thêm các đối tượng nuôi như Tu Hài, Hầu đại dương Hiện tại Vịnh Lan Hạ gồm có: 120 bè nuôi với 1.868 ô lồng, tổng diện tích:
2.1.4 Khu vực Vụng Trà Báu
Khu vực Vụng Trà Báu thuộc xã Việt Hải, là khu vực nuôi mới đã được UBND thành phố Hải Phòng ký quyết định phê duyệt là điểm neo đậu bè nuôi trồng thủy sản trong quy hoạch theo Quyết định 1572 Hiện tai vùng nuôi này do mới được quy hoạch nên có ít bè nuôi vì xa bờ, điều kiện đi lại và sinh hoạt của người dân gặp nhiều khó
Lao động: 33 người
2.1.5 Khu vực Bến Gia Luận
Khu vực Bến Gia Luận thuộc xã Gia Luận từ những năm 2002 đã có bè nuôi trồng thủy sản và là một trong 5 điểm được phê duyệt quy hoạch vùng nuôi nhưng ở khu vực này lại rất gần với bến tàu khách đi Quảng Ninh và Bến tàu du lịch nên không được yên tĩnh, nguồn nước về mùa mưa có độ mặn thấp, không phù hợp cho NTTS
lượng lao động: 37 người
Trang 372.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số loài cá biển (cá song, cá hồng, cá bớp và cá chim) và động vật thân mềm (hầu Thái Bình Dương và tu hài) có giá trị kinh tế đang được nuôi bằng lồng bè tại khu vực đảo Cát Bà
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT thành phố Hải Phòng, phòng Kinh tế huyện Cát Hải
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và điều tra
Thông tin được thu thập qua quan sát thực tế, phỏng vấn trực tiếp người dân nuôi
cá biển và hàu TBD tại khu vực nghiên cứu, dựa trên mẫu phiếu điều tra để đánh giá hiện trạng nghề nuôi cá biển tại Cát Bà – Hải Phòng
Số lượng mẫu điều tra được ước lượng dựa theo phương pháp của Yamane (1967) để xác định cỡ mẫu điều tra, theo công thức:
2
N n
Đánh giá hiện trạng và giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi
cá biển, động vật thân mềm bằng lồng bè tại Cát Bà, Hải
Hệ thống
cơ sở nuôi
và phụ trợ
Hiện trạng kỹ thuật nuôi
Đề xuất giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi cá biển, động vật thân mềm bằng lồng bè tại Cát Bà, Hải Phòng
Kết luận và kiến nghị