1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa

92 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang.. TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Mục tiêu của đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề khai thác lư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THỊ HIỂN Chủ tịch Hội Đồng:

PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH

Phòng Đào tạo Sau Đại học:

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là kết quả của quá trình nghiên cứu tài liệu, thực hiện điều tra khảo sát thực tế tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà thời điểm năm 2017 Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy và không trùng lặp với bất kỳ luận văn nghiên cứu đã có trước đây

Khánh Hòa, tháng 10 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Oanh

Trang 6

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô của Trường Đại học Nha Trang đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức, kỹ năng cần thiết trong suốt khóa học để hoàn thành nội dung chương trình học tại trường Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến ban lãnh đạo, các anh chị trong Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quý Thầy,

Cô của Viện KH&CN KTTS đã cho tôi những thông tin quý báu và những góp ý giúp tôi hoàn thành đề tài này Bên cạnh đó, tôi cũng muốn cảm ơn đến những ngư dân và các anh chị làm việc tại Ban quản lý cảng cá đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc điều tra khảo sát Nếu không có sự giúp đỡ đó tôi không thể nào hoàn thành công việc của mình

Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã ủng hộ và động viên tôi trong suốt quá trình học và hoàn thành đề tài

Khánh Hòa, tháng 10 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Oanh

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ xi

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xii

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 3

1.6 Kết cấu của đề tài 3

Tóm tắt chương 1 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 5

2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế 5

2.1.1 Khái niệm và các quan điểm về hiệu quả kinh tế 5

2.1.2 Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế 7

2.2 Khái niệm lưới vây và đánh bắt xa bờ 11

2.2.1 Khái niệm lưới vây 11

2.2.2 Khái niệm đánh bắt xa bờ 12

Trang 8

2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng 13

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang, Khánh Hòa 15

2.5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 16

2.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 16

2.5.2 Các nghiên cứu trong nước những năm gần đây 17

Tóm tắt chương 2 19

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Nha Trang, Khánh Hòa 20

3.1.1 Giới thiệu khái quát 20

3.2 Khái quát tình hình phát triển ngành khai thác thủy sản ở Khánh Hòa và nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng trên địa bàn thành phố Nha Trang 27

3.2.1 Tình hình phát triển ngành khai thác thuỷ sản ở Khánh Hoà 27

3.2.2 Khái quát nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng trên địa bàn thành phố Nha Trang 30

3.2.3 Ngư trường khai thác của nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng 32

3.3 Phương pháp nghiên cứu 33

3.3.1 Phương pháp chọn mẫu 33

3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 34

3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 36

Tóm tắt chương 3 36

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật và xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 37

4.1.1 Kích thước tàu lưới vây 37

4.1.2 Tuổi của tàu 38

Trang 9

4.1.3 Cơ cấu lao động 38

4.1.4 Trình độ học vấn và kinh nghiệm đi biển của thuyền trưởng 40

4.1.5 Nguồn sáng sử dụng 43

4.2 Kết quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 44

4.2.1 Vốn đầu tư 44

4.2.2 Vốn chủ sở hữu 47

4.2.3 Chi phí khấu hao 48

4.2.4 Chi phí hoạt động cố định 50

4.2.5 Chi phí biến đổi 55

4.2.6 Phân phối tiền lương 58

4.2.7 Doanh thu và lợi nhuận của đội tàu khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang 61

4.2.8 Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang .63

Tóm tắt chương 4 66

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Gợi ý chính sách 67

5.2.1 Cơ cấu, định hướng cho ngư dân đóng mới và nâng cấp tàu thuyền theo công suất, đầu tư trang thiết bị cho tàu hoạt động khai thác xa bờ 67

5.2.2 Nâng cao kiến thức, trình độ cho thuyền viên và thuyền trưởng 68

5.2.3 Hoạt động theo tổ đội tàu khai thác đi thu gom mua cá 68

5.2.4 Tạo thêm việc làm cho các hộ ngư dân 69

5.3 Hạn chế và hướng mở của đề tài 69

5.3.1 Hạn chế của đề tài 69

5.3.2 Hướng mở của đề tài 70

Tóm tắt chương 5 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BQSP Bảo quản sản phẩm

Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

CV (Cheval Vapeur) - Sức ngựa hoặc Mã lực: Công suất

CPbd Chi phí biến đổi

CPcd Chi phí cố định

DTcb Doanh thu chuyến biển

ĐBSCL Đồng bằng Sông Cửu Long

GDP (Gross Domestic Product) - Tổng sản phẩm quốc nội

ROA (Return on Assets) - Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản

ROE (Return On Equity) – Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TB Giá trị trung bình

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Sản lượng thủy sản khai thác tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 - 2017 27 Bảng 3.2: Số lượng tàu cá phân bố theo nghề tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 - 2017 28 Bảng 3.3: Số lượng tàu cá phân theo công suất của tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 -

2017 29 Bảng 3.4: Cơ cấu tàu thuyền phân bố theo phuường, xã ở Nha Trang năm 2017 31 Bảng 3.5: Cơ cấu tàu thuyền phân bố theo nhóm công suất ở Nha Trang năm 2017 31 Bảng 3.6: Sản lượng khai khác thủy sản của Nha Trang giai đoạn 2010 – 2017 32 Bảng 3.7: Phân bố phiếu điều tra tại các địa phương thành phố Nha Trang 35 Bảng 4.1: Chiều dài tàu lưới vây phân bố theo nhóm công suất tại Nha Trang năm

2017 37 Bảng 4.2: Tuổi của nhóm tàu khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang năm 2017 38 Bảng 4.3: Số lao động trên tàu khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm 2017 38 Bảng 4.4: Cơ cấu độ tuổi lao động của ngư dân khai thác nghề lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ở Nha Trang năm 2017 39 Bảng 4.5: Cơ cấu độ tuổi chủ tàu nghề khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm

2017 39 Bảng 4.6: Thống kê trình độ học vấn của chủ tàu 40 Bảng 4.7: Thống kê trình độ học vấn và thu nhập của thuyền trưởng tại Nha Trang năm 2017 41 Bảng 4.8: Thống kê số năm kinh nghiệm của chủ tàu tại Nha Trang năm 2017 42 Bảng 4.9: Loại bóng đèn sử dụng 43 Bảng 4.10: Cơ cấu vốn đầu tư, mua sắm thiết bị của tàu khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm 2017 45 Bảng 4.11: Vốn chủ sở hữu của tàu khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang năm 2017 47 Bảng 4.12: Chi phí khấu hao của nghề khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm

2017 48 Bảng 4.13: Chi phí sửa chữa lớn và bảo dưỡng trong năm của tàu khai thác lưới vây xa

bờ tại Nha Trang năm 2017 51

Trang 12

Bảng 4.14: Chi phí bảo hiểm, thuế, phí của đội tàu lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm

2017 52 Bảng 4.15: Chi phí lãi vay của đội tàu khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm

2017 53 Bảng 4.16: Tổng hợp chi phí cố định của tàu lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm 2017 54 Bảng 4.17: Chi phí biến đổi (chưa bao gồm chi phí nhân công)của tàu khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang năm 2017 55 Bảng 4.18: Số tàu đã sử dụng hầm bảo quản sản phẩm 58 Bảng 4.19: Chi phí nhân công của tàu khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang năm 2017 59 Bảng 4.20: Tổng hợp chi phí của tàu khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang năm 2017 60 Bảng 4.21: Doanh thu của nhóm tàu lưới vây tại Nha Trang năm 2017 61 Bảng 4.22: Kết quả của đội tàu khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang năm 2017 62 Bảng 4.23: Hiệu quả của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang năm 2017 63 Bảng 4.24: Thu nhập khác của các hộ ngư dân 65 Bảng 4.25: Số người phụ thuộc trong gia đình 65

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1: Bản đồ phân vùng khai thác (Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010) 13

Hình 3.1: Bản đồ địa chính thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 21

Hình 3.2: Thông tin về nhiệt độ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 23

Hình 4.1: Tàu cá làm bằng vật liệu compisite 46

Biểu đồ 3.1: Số lượng tàu cá phân bố theo nghề khai thác thủy sản tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 - 2017 28

Biểu đồ 3.2: Số lượng tàu cá phân theo công suất giai đoạn 2010 - 2017 29

Biểu đồ 4.1: Cơ cấu độ tuổi chủ tàu nghề khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm 2017 40

Biểu đồ 4.2: Kinh nghiệm đi biển của chủ tàu tại Nha Trang năm 2017 42

Biểu đồ 4.3: Cơ cấu chi phí khấu hao tàu khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm 2017 50

Biểu đồ 4.4: Cơ cấu chi phí biển đổi trung bình của tàu khai thác lưới vây xa bờ tại Nha Trang năm 2017 57

Trang 14

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Mục tiêu của đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề khai thác lưới vây xa bờ

kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là điều tra, đánh giá

thực trạng của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng Phân tích kết quả, hiệu quả của nghề khai thác lưới vây xa bờ, từ đó có cơ sở lý luận để gợi ý những chính sách nhằm phát triển bền vững nghề trong tương lai

Nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp thống kê mô tả: thu thập từ số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp, chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, số mẫu đi thu được là 53 hộ ngư dân nghề khai thác lưới vây xa bờ Số liệu điều tra được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel để phân tích, tính toán kết quả, tìm và tìm số trung bình, số nhỏ nhất, số lớn nhất , các chỉ tiêu: lợi nhuận, sản lượng, doanh thu, chi phí… Đồng thời phân tích những thông tin thu được để đánh giá thực trạng cơ cấu tàu thuyền, trang thiết bị khai thác của tàu cá của các hộ ngư dân nghề lưới vây xa bờ : kích thước tàu , số lao động trên tàu, cơ cấu độ tuổi, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm… Kết quả nghiên cứu cho thấy, với 53 hộ ngư dân khai thác nghề lưới vây xa bờ ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa như sau:

Về độ tuổi lao động: Trong các tàu được khảo sát nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất

là lao động có độ tuổi từ 35 đến 50 tuổi chiếm trên 65%

Về trình độ học vấn của chủ tàu: Đa số là học hết cấp I và cấp II chiếm 94,33% ,

và tàu gỗ thì thấy rằng doanh thu, lợi nhuận, các chỉ số hiệu quả của nhóm tàu composite cao hơn nhóm tàu gỗ

Từ khóa: Lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng, hiệu quả kinh tế, thành phố Nha Trang

Trang 15

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam nằm bên bờ Tây của Biển Đông, là một biển lớn của Thái Bình Dương,

có diện tích khoảng 3.448.000 km2, có bờ biển dài 3260 km Vùng nội thuỷ và lãnh hải rộng 226.000km2, vùng biển đặc quyền kinh tế rộng hơn 1 triệu km2 với hơn 4.000 hòn đảo, tạo nên 12 vịnh, đầm phá với tổng diện tích 1.160km2 được che chắn tốt dễ trú đậu tàu thuyền Biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng là nơi phát sinh

và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới ấn Độ - Thái Bình Dương với chừng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện

Với hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản Sản lượng thủy sản Việt Nam đã duy trì tăng trưởng liên tục trong 17 năm qua với mức tăng bình quân là 9,07%/năm Với chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, hoạt động nuôi trồng thủy sản đã có những bước phát triển mạnh, sản lượng liên tục tăng cao trong các năm qua, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, sản lượng thuỷ sản cả năm 2017 ước tính đạt 7.225,0 nghìn tấn, tăng 5,2% so với năm 2016 Trong đó sản lượng thủy sản khai thác của cả nước ước tính đạt 3.389,3 nghìn tấn, tăng 5,1% so với năm 2016, trong đó cá đạt 2.498,1 nghìn tấn, tăng 5,4%, tôm đạt 163,7 nghìn tấn, tăng 2,6% Sản lượng thủy sản khai thác biển ước tính đạt 3.191,2 nghìn tấn, tăng 5,1%, trong đó cá đạt 2.363,8

nghìn tấn, tăng 5,4%, tôm đạt 150,2 nghìn tấn, tăng 2,8% (Tổng cục thống kê, 2017)

Khánh Hòa là tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, có rất nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển và tài nguyên rừng Với thế mạnh

385 km bờ biển kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối Cam Ranh cùng với sáu đầm và vịnh lớn là một trong những địa phương phát triển các ngành nghề khai thác trên biển Theo ước tính, vùng biển Khánh Hòa có tổng trữ lượng hải sản khoảng 150 nghìn tấn, cho phép khai thác khoảng 70 nghìn tấn/ năm bao gồm các vùng xa bờ và gần bờ Thế nhưng hơn 80% sản lượng hải sản được khai thác đánh bắt chủ yếu ở gần bờ Những năm gần đây, nguồn lợi thủy sản Khánh Hòa gần bờ đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt bởi ngư dân khai thác chưa đúng hướng, đánh bắt hải sản tập trung gần bờ tại các đầm, vịnh dẫn đến hậu quả các sinh vật biển đang tiến đến bờ vực tuyệt chủng Hiện nay, trên địa bàn thành phố Nha Trang hiện có khoảng 3.104 tàu cá với tổng công suất

Trang 16

381.998 CV Trong đó, tàu có công suất từ 90 CV trở lên khoảng 956 chiếc, chiếm 31% chủ yếu khai thác xa bờ, còn lại tàu có công suất dưới 90 CV khoảng 2.148 chiếc, chiếm 69% chủ yếu khai thác vùng ven bờ

Nghề lưới vây kết hợp ánh sáng trên địa bàn thành phố Nha Trang có quy mô sản xuất nhỏ, tàu thuyền và ngư cụ đánh bắt được đóng mới theo kinh nghiệm dân gian Hiện nay Nhà nước có dự án phát triển nghề cá xa bờ, tạo điều kiện cho ngư dân đóng mới tàu thuyền theo bản vẽ thiết kế, đóng tàu bằng vỏ thép, vỏ composite, trang thiết

bị máy móc hàng hải ngày càng được hiện đại hóa để đánh bắt ở ngư trường xa bờ, đội ngũ thuyền viên trên tàu được bồi dưỡng cấp chứng chỉ thuyền trưởng, máy trưởng, thuyền viên nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng tay nghề để đảm bảo an toàn hàng hải

Tuy nhiên, có một thực tế đáng quan tâm, đó là vấn đề nhận thức của ngư dân

về trang bị nguồn sáng tập trung cá với công nghệ chiếu sáng mới trên tàu lưới vây chậm được đổi mới để theo kịp tiến độ phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại Trong khi

đó, việc trang bị ngư cụ như thế nào để phù hợp với việc tăng công suất nguồn sáng, thì ngư dân chưa quan tâm, dẫn đến chi phí cho việc thắp sáng ngày càng cao và hiệu quả đánh bắt chưa đạt mức cao nhất về yếu tố sản lượng Hướng giảm dần khai thác gần bờ, phát triển khai thác xa bờ là một tất yếu để phát triển bền vững cho nên việc hoạt động điều tra và đánh giá các thông tin kinh tế cho các nghề khai thác thủy sản là quan trọng cho tỉnh Khánh Hòa nói chung và Nha Trang nói riêng, góp phần cho sự

tăng trưởng của cả nước Chính vì vậy, đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế nghề khai

thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa”

với hy vọng sẽ có biện pháp hợp lý để khuyến khích ngư dân tập trung đánh bắt xa bờ nhằm giúp nghề lưới vây của địa phương phát triển bền vững và có hiệu quả cao

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 17

- Phân tích những khó khăn, thuận lợi của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang

- Cơ sở cho cơ quan quản lý có định hướng cho nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng phát triển bền vững

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây

xa bờ kết hợp ánh sáng trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng hoạt động nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại Nha Trang, Khánh Hòa?

- Hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang?

- Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang?

1.5 Ý nghĩa nghiên cứu

Kết quả của đề tài là căn cứ khoa học cho các nhà quản lý nghề cá của tỉnh tham khảo nhằm phát triển khai thác thủy sản bền vững vùng biển xa bờ Đóng góp cho bộ dữ liệu thống kê về hoạt động khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng của tỉnh Khánh Hoà

Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo có liên quan đến kinh tế thủy sản ở Việt Nam nói chung và Khánh Hòa nói riêng

1.6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm

5 chương:

Trang 18

Chương 1: Mở đầu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu liên quan

Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế, bản chất và tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế; các quan điểm đánh giá hiệu quả và phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, chương này cũng trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước và ngoài nước Các khái niệm về nghề khai thác lưới vây và đánh bắt xa bờ

Chương 3: Đặc điểm đối tượng, địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương này nêu thực trạng tình hình nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Bên cạnh đó, giới thiệu về địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Từ kết quả đánh giá thực trạng, đánh giá hiệu quả của nghề khai thác lưới vây xa

bờ kết hợp ánh sáng, xác định thuận lợi và khó khăn của các hộ ngư dân khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng để từ đó làm cơ sở cho kiến nghị giải pháp để nâng cao hiệu quả nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng trên địa bàn nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Tóm tắt chương 1

Nội dung của chương này trình bày lý do chọn đề tài của tác giả, mục tiêu chung

và mục tiêu cụ thể mà đề tài hướng tới là điều tra, khảo sát để đánh giá thực trạng của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng Trên cơ sở số liệu đi điều tra được sẽ

đi đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng Từ đó đưa ra những thuận lợi và khó khăn hiện nay là cơ sở cho các cơ quan quản lý định hướng cho sự phát triển của nghề

Chương này nêu ra đối tượng nghiên cứu chính là hiệu quả kinh tế của các hộ ngư dân hoạt động nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa Thông qua các số liệu thu thập từ các Sở ban ngành, các đề tài,

dự án liên quan đến đề tài nghiên cứu và số liệu đi điều tra, khảo sát của tác giả

Trang 19

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế

2.1.1 Khái niệm và các quan điểm về hiệu quả kinh tế

Mục đích của sản xuất là thoả mãn tốt nhất các nhu cầu vật chất và tinh thần cho con người và cho xã hội Mục đích đó được thực hiện khi nền sản xuất xã hội tạo

ra những kết quả hữu ích ngày càng cao cho xã hội, sản xuất đạt mục tiêu về kết quả kinh tế khi có một khối lượng nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng hữu ích ngày càng lớn Từ kết quả đó chúng ta đánh giá được hiệu quả của hoạt động kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình kinh tế) phản ánh trình

độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, tiền vốn, vật lực) để đạt được những mục tiêu xác

định” là quan điểm của Nguyễn Thị Thu (1989)

Để xem xét hiệu quả của một lĩnh vực nào đó, người ta thường xem xét vấn đề hiệu quả trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị và xã hội

Hiệu quả kinh tế: Nếu xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố, từng ngành thì chúng ta có phạm trù hiệu quả kinh tế Có thể hiểu, hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả thu về đề cập trong khái niệm này có thể là doanh thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm công nghiệp… Hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh

Hiệu quả chính trị: Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì ta có hai phạm trù hiệu quả chính trị Hai phạm trù này phản ánh ảnh hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Hai loại hiệu quả này có vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và theo hướng bền vững Thêm vào đó, hiệu quả chính trị phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội ở các mặt như trình độ, tổ chức sản xuất, trình độ quản lý và mức sống bình quân

Sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị là một nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cách ổn định và theo hướng bền vững Bất

kỳ một sự mất cân đối nào sẽ dẫn tới một hậu quả nghiêm trọng như ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế, ảnh hưởng tới tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đời sống nhân dân gặp khó khăn và môi trường bị ô nhiễm

Trang 20

Kết quả kinh tế của hoạt động khai thác hải sản là sự khác biệt giữa kết quả thu được là doanh thu và những chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó như: chi phí khấu hao của giá trị đầu tư (đầu tư cho tàu, ngư cụ và trang thiết bị), chi phí nhiên liệu, chi phí tiền lương thủy thủ, chi phí bảo quản, chi phí lương thực thực phẩm, chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí sửa chữa lớn, chi phí bảo hiểm, chi phí thuế, chi phí lãi vay Hiệu quả kinh tế sẽ vận dụng những tương quan so sánh giữa giá trị kết quả đạt được và chi phí yếu tố đầu vào (Duy Nguyen Ngoc, 2010) Chi phí các yếu tố đầu vào cụ thể của hoạt động khai thác có thể là: vốn đầu tư cho tàu (bao gồm vỏ tàu và máy tàu), vốn đầu tư cho ngư cụ, vốn đầu tư trang thiết bị trên tàu, nhiên liệu, các chất bảo quản sản phẩm sau khai thác (đá cây, muối), lương thực thực phẩm phục vụ ăn uống và sinh hoạt của thủy thủ, lương của thủy thủ và vốn bằng tiền khác (dùng để sửa chữa tàu, đóng bảo hiểm, nộp thuế nhà nước, trả lãi vay và các chi phí khác)

Các quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế - xã hội:

Hiệu quả là kết quả đạt được trong nền kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa” (Tạ Duy Bộ, 2003) Theo quan điểm này thì hiệu quả là tốc độ tăng của kết

quả đạt được như: Tốc độ tăng của doanh thu và lợi nhuận Vì thế hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả và nhịp độ tăng của các chỉ tiêu Quan điểm này thực sự không còn phù hợp với điều kiện ngày nay Kết quả sản xuất có thể tăng lên do chi phívà mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất) Nếu hai doanh nghiệp có cùng một kết quả sản xuất nhưng có hai mức chi phí khác nhau, theo quan điểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là như nhau

Đặng Đình Hào và Hoàng Đức Thân (2002) lại cho rằng “Hiệu quả kinh tế

được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” Quan điểm này cho rằng: nói đến hiệu quả kinh tế tức là nói đến phần còn lại của

kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi

Quan điểm truyền thống chưa thật sự toàn diện khi xem xét hiệu quả kinh tế Sự thiếu toàn diện được thể hiện:

- Thứ nhất, hiệu quả kinh tế được xem xét với quá trình sản xuất kinh doanh

trong trạng thái tĩnh, hiệu quả kinh tế chỉ được phân tích sau khi đã kết thúc chu kỳ sản xuất Trong khi đó, hiệu quả kinh tế không những cho chúng ta biết được kết quả của quá trình sản xuất mà còn giúp xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư

Trang 21

hay không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ

- Thứ hai, quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán

các khoản thu và chi cho một hoạt động kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh doanh chưa đầy đủ và chính xác Đặc biệt những hoạt động có chu kỳ sản xuất dài thì việc tính đến yếu tố thời gian trong phân tích hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quan trọng

- Thứ ba, hiệu quả kinh tế được xác định bằng cách so sánh giữa kết quả đạt được

và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Tuy nhiên, chỉ tiêu này trong một số trường hợp không phản ánh chính xác hiệu quả kinh tế

Các quan điểm mới về hiệu quả kinh tế:

Theo Hoàng Hùng (2001) thì hiệu quả kinh tế căn cứ vào tổ hợp các yếu tố:

Thứ nhất, trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Có ba phạm

trù cần phân biệt rõ: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm Tỷ số dO/dI được gọi là sản phẩm biên Hiệu quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm Hiệu quả kinh tế là phần thu thêm trên một đơn vị đầu tư thêm

Thứ hai, yếu tố thời gian: các nhà kinh tế hiện nay coi thời gian là yếu tố trong

tính toán hiệu quả Cùng đầu tư một lượng vốn như nhau và tổng doanh thu bằng nhau nhưng hai dự án có thể có hiệu quả khác nhau

Thứ ba, Hiệu quả tài chính, xã hội và môi trường: hiệu quả về tài chính phải phù

hợp với xu thế thời đại, phù hợp với chiến lược tăng trưởng và phát triển bền vững của các quốc gia Hiệu quả tài chính trước đây thường thể hiện bằng những chỉ tiêu: lợi nhuận, giá thành, tỷ lệ hoàn vốn, thời gian hoàn vốn,…Hiệu quả xã hội của một dự án gồm lợi ích xã hội mà dự án mang lại như: việc làm, mức tăng về GDP do tác động của dự án, sự công bằng xã hội, sự tự lập của cộng đồng và sự được bảo vệ hoặc sự hoàn thiện hơn của môi trường sinh thái

2.1.2 Bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế

2.1.2.1 Bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị, máy móc, tiền, nguyên vật liệu) để đạt được mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp Bản chất của hiệu

Trang 22

quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là sự thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian

Các Mác đã cho rằng quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt Mọi hoạt động của con người đều phải tuân theo quản lý đó Con người tạo ra của cải vật chất bằng sức lao động Lao động được đo lường bằng thời gian Với một mục tiêu nhất định con người phải thực hiện trong một thời gian lao động ít nhất, hay nói một cách khác thì trong một thời gian lao động nhất định kết quả đạt được phải cao nhất

Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu (thời gian hao phí lao động thấp nhất) Điều này có nghĩa là với mức chi phí nhất định thì doanh nghiệp phải đạt kết quả tối đa hoặc ngược lại, đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu

Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Trước đây trong lý luận cũng như thực tiễn đã tồn tại sự nhầm lẫn giữa hai phạm trù hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, khi đó đã coi kết quả là mục đích và coi hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là mục tiêu Từ quan niệm nhầm lẫn đó dẫn đến sự hạn chế trong phương pháp luận giải quyết vấn đề, đôi khi người ta hay coi đạt được kết quả là đạt được hiệu quả

và rõ ràng điều đó có nghĩa là không cần chú ý đến hiệu quả sản xuất kinh doanh Đây

là quan niệm sai lầm và cần phải được thay đổi

+ Hiện nay, chúng ta có thể hiểu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp

có thể là những đại lượng có thể cân, đo, đong đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận… và cũng có thể là các đại lượng chỉ phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của hãng, chất lượng sản phẩm… Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của doanh nghiệp Trong khi đó trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh, người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu là kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản kinh doanh Trong lý thuyết và thực tế quản trị kinh doanh cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều có thể được xác định bằng đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị Tuy nhiên, sử dụng đơn vị hiện vật để xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ vấp phải khó khăn là giữa “đầu

Trang 23

vào” và “đầu ra” không có cùng một đơn vị đo lường, còn việc sử dụng đơn vị giá trị luôn luôn đưa các đại lượng khác nhau về cùng một đơn vị đo lường tiền tệ Vấn đề được đặt ra là hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trước tiên, hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp đạt được ở trình độ nào Nhưng xem xét hiệu quả kinh tế không chỉ dừng ở đó mà thông qua đó có thể phân tích, tìm ra các nhân tố cho phép nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Từ đó có thể có các giải pháp nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp ở mức độ cao hơn với chi phí về nhân tài, vật lực và tiền vốn ít hơn Như vậy, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như mục tiêu cần đạt và trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết khả năng tiến tới mục tiêu cần đạt là kết quả

Như đã đề cập trên, bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh là hiệu quả của lao động xã hội, được so sánh giữa chất lượng kết quả lợi ích thu được với lượng hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả hoạt động kinh doanh là tối đa hóa kết quả hoặc tối thiểu hóa chi phí trên nguồn vốn sẵn có Hiệu quả kinh doanh chỉ có thể đạt được trên cơ sở nâng cao năng suất lao động và chất lượng công tác Để đạt hiệu quả ngày càng cao và vững chắc, đòi hỏi các nhà kinh doanh không những nắm chắc các tiềm năng tiềm ẩn về lao động, vốn, kỹ thuật… mà còn phải nắm vững tình hình cung cầu hàng hóa trên thị trường, đối thủ cạnh tranh…hiểu được thế mạnh thế yếu của doanh nghiệp để khai thác hết mọi tiềm năng hiện có, tận dụng được những cơ hội vàng của thị trường, ngoài ra phải nghiên cứu và nhận thức một cách đầy đủ bản chất

và các quan điểm đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh Từ việc đánh giá đúng hiệu quả, cho phép doanh nghiệp phát hiện khả năng và tìm đúng biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Theo quan điểm của Nguyễn Đình Phan & iNguyễn Kế Tuấn (2007) Hiệu quả

kinh tế là tiền đề vật chất của hiệu quả xã hội Nếu hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp giảm, tức là doanh nghiệp đó mất đi khả năng cạnh tranh, thiếu sức sống và trở thành gánh nặng cho đất nước Vì thế doanh nghiệp không thể đạt được mục tiêu xã hội Hiệu quả kinh tế có hai mặt định lượng và định tính:

+ Về mặt định lượng: Biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

+ Về mặt định tính: Mức độ hiệu quả kinh tế cao thu được phản ánh sự cố gắng,

nỗ lực, trình độ và năng lực quản lý ở các khâu, các cấp quản lý và gắn bó của việc

Trang 24

giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị

xã hội

Khi xem xét bản chất hiệu quả kinh tế, không được phép đồng nhất giữa kết quả

và hiệu quả Vì kết quả chỉ mới làm cơ sở để tính toán hiệu quả

2.1.2.2 Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế

Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội

chủ nghĩa, đối với mọi tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, việc tạo ra và không ngừng làm tăng lợi nhuận là hết sức cần thiết Nhưng không được đơn giản coi lợi nhuận như là tiêu chuẩn duy nhất đánh giá hiệu quả kinh tế Điều quan trọng là phải xem xét lợi nhuận đạt được bằng cách nào và được phân phối sử dụng như thế nào Mọi tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh là một tế bào của hệ thống kinh tế quốc dân,

sự vận động của nó phải nằm trong quỹ đạo chung và góp phần thực hiện mục tiêu chung của cả hệ thống Do đó, lợi nhuận mà mọi tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thu được phải thể hiện sự gắn bó của họ đối với sự vận động của thị trường, vừa phải thể hiện sự tuân thủ pháp luật Nhà nước, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đồng thời, lợi nhuận cũng phải được phân phối theo hướng kết hợp hài hòa các loại lợi ích khác nhau: lợi ích cá nhân người lao động, lợi ích người chủ sở hữu, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội (Nguyễn Đình Phan & Nguyễn Kế Tuấn, 2007)

Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là cơ sở để đánh giá mức độ hiệu quả của các phương án khác nhau và chọn phương án có hiệu quả kinh tế cao Tiêu chuẩn hiệu quả

kinh tế phải đảm bảo tính toàn diện

Thứ nhất, là sự gắn bó và ước định lẫn nhau giữa giá trị và giá trị sử dụng Một

mặt, giảm chi phí lao động xã hội sản xuất hàng hóa Mặt khác, đảm bảo chất lượng sản phẩm, không ngừng mở rộng mặt hàng và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội

Thứ hai, tính toàn diện của tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế đòi hỏi phải cùng lúc vừa

giải quyết những vấn đề kinh tế, kinh doanh, vừa giải quyết những vấn đề xã hội của đất nước

Thứ ba, tính toàn diện của hiệu quả kinh tế yêu cầu phải xem xét mỗi giải pháp,

mỗi phương án một cách toàn diện về không gian và thời gian, để hiệu quả của từng phần tử, từng phân hệ có tác động tích cực đến nâng cao hiệu quả của toàn bộ hệ thống, nâng cao hiệu quả hiện tại và lâu dài cả nền kinh tế quốc dân

Trang 25

2.2 Khái niệm lưới vây và đánh bắt xa bờ

2.2.1 Khái niệm lưới vây

Lưới vây (hay còn gọi là lưới bao, lưới rút, lưới rút chì) cũng là một trong những ngư cụ phổ biến hiện nay ở các vùng ven biển nước ta Tuy mới phát triển sau 1975 ở ĐBSCL, nhưng sản lượng khai thác do nghề này mang lại đứng hàng thứ ba sau lưới kéo và lưới rê Lưới vây khác lưới lưới kéo, lưới rê ở chổ ngư cụ này chỉ chuyên khai thác các loài cá , tôm đi thành đàn lớn với kích thước cá tương đối đồng đều và thuần loài Do vậy sản phẩm do lưới vây mang lại rất thuận lợi cho công nghiệp chế biến cá Lưới vây là một trong những loại ngư cụ đánh bắt có năng suất cao và được sử dụng rộng rãi ở các nước có nghề cá trên thế giới Sự hình thành nghề lưới vây được bắt nguồn từ những yêu cầu đánh bắt các đàn cá nổi (Ví dụ: cá nục, cá thu, cá ngừ,…)

ở những vùng nước khác nhau, mà ở đó các loại ngư cụ khác không thể thực hiện được hoặc thực hiện với hiệu quả thấp Ở Việt Nam, lưới vây cũng được sử dụng để tiến hành khai thác các đàn cá nổi trên phạm vi cả nước Có thể nói, nghề lưới vây có một

vị trí hết sức quan trọng cả hiện tại và tương lai đối với ngành công nghiệp cá của nước ta, đặc biệt khi thực hiện phát triển nghề cá xa bờ

Lưới vây rút chì là một trong những kiểu lưới tiên tiến nhất của nghề cá Lưới vây rút chì đánh bắt những đàn cá tập trung có giá trị kinh tế như: cá thu, cá ngừ, cá nục Lưới vây rút chì được cấu tạo từ những tấm lưới hình chữ nhật, phần trên liên kết với giềng phao, phao, phần dưới liên kết với giềng chì, chì, vòng khuyên và hệ thống dây giềng rút biên, giềng rút chì Điểm nổi bật của lưới vây là đàn cá được bao vây không thể trốn thoát được ở phía dưới nhờ hệ thống giềng rút, giềng biên và vòng khuyên hoạt động thực hiện quá trình cuộn rút thu hẹp phần dưới đáy Lưới vây rút chì khởi đầu từ lưới rùng và đã phát triển cải tiến đánh bắt những đàn cá nổi ở độ sâu lớn Hình dạng, kích thước lưới vây tạo ra những nét nổi bật của chúng Phương pháp đánh bắt bằng nghề vây rút chì tiên tiến hiện đại Ngày nay hầu hết các tàu đánh cá bằng nghề vây rút chì trang bị máy dò cá, định vị, radar, tời thu giềng rút, máy thu lưới, hệ thống chiếu sáng tập trung cá, thiết bị đo dòng chảy

Cấu tạo lưới vây bao gồm 2 phần cơ bản là: Cấu tạo vàng lưới vây và phụ tùng cho lưới vây Vàng lưới vây bào gồm cánh lưới, thân lưới, tùng lưới Cánh lưới vây có tác dụng bao vây, lùa cá vào thân và tùng Với chức năng như vậy nên người ta thường thiết kế cánh lưới chiếm chiều dài rất lớn so với thân và tùng Thân lưới có nhiệm vụ

Trang 26

tiếp tục bao vây và lùa cá vào tùng lưới Chiều dài thân lưới thường chiếm 1/5 - 2/5 chiều dài vàng lưới Tùng lưới là phần giữ cá và bắt cá Phụ tùng lưới vây gồm dây cáp rút chính và giềng rút Dây cáp rút chính trong vàng lưới vây là dây quan trọng nhất,

nó quyết định hiệu quả đánh bắt của lưới vây rút chì Nhiệm vụ chính của dây cáp rút chính là cuộn rút giúp thu gom các đoạn giềng chì lại với nhau thành một mối (điểm), nhằm không cho cá có thể lặn chui thoát ra ở phía dưới vàng lưới Các giềng rút biên đầu cánh và đầu tùng có chức năng giúp thu ngắn hai đầu biên lưới ở cánh và tùng nhằm tạo thuận lợi cho quá trình cuộn rút lưới vây

Nghề đánh cá bằng lưới vây thường được phân loại như sau:

Dựa vào đối tượng đánh bắt:

+ Lưới vây cá cơm (vây mùng)

+ Lưới vây cá trích, nục

+ Lưới vây thu, ngừ

Dựa vào phương tiện đánh bắt:

+ Kiểu vây rút chì 1 tàu

+ Kiểu vây rút chì 2 tàu

Dựa vào cấu trúc lưới:

+ Lưới vây 1 cánh (Không đối xứng)

+ Lưới vây 2 cánh (Đối xứng, tùng ở giữa lưới)

Hoạt động đánh cá của vây rút chì 1 tàu thì thì 1 đầu của lưới liên kết với 1 xuồng nhỏ hay phao tiêu, bè đèn, lưới được thả ra ngoài bao vây đàn cá Kết thúc bao vây thực hiện quá trình cuộn rút giềng rút chính Sau khi giềng rút, vòng khuyên, chì

và giềng chì đưa lên bong tàu, tiến hành thu lưới, dồn cá tùng lưới để lấy cá:

Chiều dài và chiều cao lưới vây rút chì phụ thuộc vào kích thước tàu đánh cá, phương pháp đánh bắt và phương pháp tìm kiếm đàn cá Nếu dùng phương pháp tập trung đàn cá, lưới không quá dài; kích thước mắt lưới phụ thuộc vào đối tượng đánh bắt Hình dạng, cấu trúc và hình dạng của lưới đã sử dụng đánh bắt cá kết hợp chà nhân tạo, ánh sáng hay tìm kiếm cá vào ban ngày là chủ yếu

2.2.2 Khái niệm đánh bắt xa bờ

Trước đây, có nhiều khái niệm khác nhau về tàu xa bờ, và hiện nay mọi người vẫn thường sử dụng khái niệm về công suất máy trên 90 mã lực được coi là tàu có khả năng đánh bắt xa bờ Ngoài việc thực hiện đăng ký, đăng kiểm như những phương tiện khác thì tàu xa bờ phải được đăng ký riêng và được cấp giấy phép khai thác xa bờ

Trang 27

Theo Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/03/2010 của Chính phủ quy định về quản lý hoạt động khai thác thủy sản, chia vùng biển Việt Nam thành các vùng khai thác thủy sản nhằm mục tiêu phân bố hợp lý năng lực khai thác thủy sản trên các vùng biển Quy định vùng biển Việt Nam được phân thành ba vùng khai thác thủy sản:

- Vùng biển ven bờ: được giới hạn bởi mép nước biển tại bờ biển và tuyến bờ;

- Vùng lộng: là vùng biển được giới hạn bởi tuyến bờ và tuyến lộng;

- Vùng xa bờ (vùng khơi): là vùng biển được giới hạn bởi tuyến lộng và ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền kinh tế của vùng biển Việt Nam

Hình 2.1: Bản đồ phân vùng khai thác (Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày

31/3/2010) 2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng

Phương pháp tính toán các chỉ số kết quả kinh tế của tàu trong nghiên cứu này được tham khảo từ Lê Kim Long và ctv (2008) và Duy Nguyen Ngoc và ctv (2012) được tính toán như sau:

- Tổng doanh thu khai thác của tàu (TDT) tổng là giá trị của tàu thu được

trong năm hoạt động: được xác định bằng doanh thu trung bình chuyến biển (DTcb) nhân với số chuyến biển (t) thực hiện trong năm

TDT= DT cb * t

Trang 28

- Chi phí biến đổi CP bd (không bao gồm chí phí nhân công): là những khoản chi phí thay đổi tỷ lệ thuận với sự thay đổi về số chuyến đánh bắt, là tổng chi phí cho tất

cả các chuyến đi khai thác cá trong năm Bao gồm:

+ Chi phí nhiên liệu: bao gồm tiền mua dầu diesel, nhớt phục vụ cho hoạt động

của tàu

+ Chi phí lương thực, thực phẩm: bao gồm tiền mua lương thực, thực phẩm phục

vụ ăn uống cho thủy thủ trong quá trình khai thác trên biển

+ Chi phí bảo quản sản phẩm: bao gồm tiền mua đá, muối, hầm dùng đề bảo

quản sản phẩm

- Chi phí hoạt động cố định (CP cd ): là những khoản chi phí thường không biến đổi hoặc biến đổi rất ít khi số chuyến biển thay đổi

+ Chi phí sửa chữa lớn: là toàn bộ chi phí sửa chữa và bảo dưỡng hàng năm của

thân tàu, các thiết bị trên tàu, bảo hiểm cho tàu và tất cả các thuyền viên Trong đó chi phí sửa chữa là những khoản chi phí sửa chữa phục hồi, thay thế những bộ phận bị hao mòn, hư hỏng trong quá trình sử dụng tài sản cố định Những khoản chi phí này chủ yếu phát sinh trong khi tàu ngưng hoạt động và bao gồm: chi phí sửa chữa vỏ tàu, sửa chữa lớn máy tàu và trang thiết bị trên tàu

+ Chi phí khấu hao: được tính là tổn thất thực tế về giá trị của tài sản cố định

thông qua việc sử dụng các tài sản, mà không được bù đắp bằng bảo trì và sửa chữa trong giai đoạn do hao mòn Trong nghiên cứu này, chi phí khấu hao được tính dựa trên giá trị ước tính của tài sản cố định tại thời điểm điểu tra và thời gian sử dụng còn lại còn lại của tài sản cố định đó (theo ước lượng của chủ tàu)

+ Chi phí lãi vay: là chi phí trả lãi cho các khoản vay trong năm Tỷ lệ lãi suất

trên các khoản vay có sự khác biệt giữa các chủ tàu Đặc điểm này được tạo ra bởi một chủ tàu có thể có các nguồn vay khác nhau, từ gia đình, ngân hàng hay các chủ thể trung gian với những mức lãi suất phát sinh khác nhau

- Tổng thu nhập (TTN): được tính bằng tổng doanh thu trừ đi chi phí cố định

trừ chi phí biển đổi (chưa có chi phí nhân công)

TTN= TDT - CP cd – CP bd (trừ chi phí nhân công)

- Chi phí nhân công (CPNC): là chi phí chia cho các thành viên trên tàu bao

gồm cả thuyền trưởng

CPNC = Tỷ lệ chia % x TTN

Trang 29

- Tổng chi phí (TCP): bao gồm chi phí cố định, chi phí biến đổi, chi phí nhân công

TCP = CP cd + CP bd + CPNC

- Lợi nhuận (LN): được tính bằng tổng thu nhập trừ đi chi phí nhân công

LN = TTN - CPNC

- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu: được định nghĩa là tỷ suất lợi nhuận

trên tổng doanh thu Tỷ lệ này thể hiện là lợi nhuận mà chủ tàu đạt được so với tổng doanh thu

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu = LN/TDT

- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí: là lợi nhuận chia cho tổng chi phí Tỷ suất

này cho biết để đạt được lợi nhuận thì tổng chi phí phải bỏ ra là bao nhiêu

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí = LN/TCP

- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn đầu tư (ROA): được định nghĩa là tỷ lệ lợi

nhuận trên vốn đầu tư của tàu Qua chỉ tiêu này cho thấy, bỏ ra một đồng vốn vào sản xuất thì sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận

ROA= LN/ Tổng vốn đầu tư

- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE): được định nghĩa là tỷ lệ lợi

nhuận trên vốn chủ sở hữu (VCSH) của chủ tàu Đây là chỉ tiêu phổ biến dùng để đánh giá kết quả hoạt động đánh bắt của chủ tàu, thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của ngư dân khai thác thuỷ sản Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra

và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ chủ tàu sử dụng hiệu quả đồng vốn

ROE = LN/VCSH 2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng tại thành phố Nha Trang, Khánh Hòa

Với điều kiện mẫu thu thập được, nghiên cứu lấy các nhân tố về đặc điểm kỹ thuật của tàu, các nhân tố tác động đến kết quả kinh tế của đội tàu khai thác lưới vây

xa bờ kết hợp ánh sáng, tác giả đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng như sau:

- Công suất tàu, chiều dài của tàu lưới vây xa bờ: ảnh hưởng như thế nào tới việc

đánh bắt của ngư dân, tàu đóng ở mức công suất bao nhiêu thì phù hợp với

điều kiện của ngư dân và ngư trường đánh bắt

Trang 30

- Tuổi của tàu: Xác định được tuổi của tàu lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng ở Nha

Trang, qua đó để nắm bắt được số lượng tàu mới đóng hay tàu đã sử dụng lâu

năm ảnh hưởng như thế nào tới kết quả của tàu đánh bắt

- Trang thiết bị trên tàu: với tàu lưới vây xa bờ hiện nay một số tàu được trang bị

các thiết bị hiện đại phục vụ cho việc đánh bắt, từ đó so sánh được tàu có

trang bị thiết bị đánh bắt và tàu không được trang bị, thiết bị đánh bắt

- Trình độ học vấn của lao động, kinh nghiệm của thuyền trưởng: qua số liệu này

có thể tính toán xem số lao động và thuyền trưởng trên tàu có học vấn cao sẽ

mang lại hiệu quả gì cho việc khai thác

- Nguồn sáng sử dụng: việc sử dụng nguồn sáng như thế nào để vừa tiết kiệm và

vừa mang lại hiệu quả cao trong việc đánh bắt

2.5 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.5.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài

Lưới vây lần đầu tiên được người Mỹ sử dụng để tiến hành đánh bắt các đàn cá

nổi ven bờ Đại Tây Dương vào năm 1860 và ở ven bờ Thái Bình Dương năm l866 Nghề vây cũng được phát triển sớm ở các nước Châu Âu Năm 1881, nghề vây đã có

mặt ở Thụy Điển và đến năm 1903 phát triển lên đến 300 vàng Ở Nauy năm 1914 có

200 vàng, Đan Mạch 100 vàng Một số nước có nghề lưới vây công nghiệp phát triển như Tây Ban Nha, Nga, Pháp, đội tàu lưới vây chuyên khai thác cá ngừ xa bờ được trang bị đầy đủ máy móc, thiết bị hàng hải phục vụ khai thác dài ngày (từ 1,5-2 tháng); kích thước lưới lớn, thiết bị hiện đại, có thể chủ động dò tìm đàn cá đang di chuyển để đánh bắt Ở Châu Á, nghề vây phát triển mạnh ở Trung Quốc, Thái Lan, Philippines, Nhật Bản ,v.v (Thái Văn Ngạn, 2002)

Nhật Bản là nước sớm sử dụng rộng rãi phương pháp đánh cá kết hợp ánh sáng điện từ những năm 1900 Nhật Bản có khoảng 20.000 chiếc tàu đánh cá kết hợp ánh sáng, đặc biệt là ở vùng Nagasaki, người ta đã dùng ánh sáng điện chiếu trên và dưới mặt nước để đánh bắt cá thu, cá trích, cá sòng, mực, Các nghề đánh cá kết hợp ánh sáng ở Nhật Bản chiếm khoảng 25% tổng sản lượng khai thác hàng năm 1976 Riêng nghề lưới vây kết hợp ánh sáng ở Nhật Bản chiếm ưu thế từ thập niên 1930 Trên một đơn vị thuyền đánh cá bằng lưới vây hai tàu của Nhật Bản có 3 xuồng đèn, mỗi xuồng

có công suất từ 40 - 50cv Còn một trong hai tàu chính có công suất 500 - 850cv, trọng tải từ 90 - 110 tấn, có trang bị máy dò cá Ngày nay, ở Nhật Bản công suất nguồn sáng

Trang 31

cực đại trên một xuồng đèn là 10 kW và xuồng thăm dò cá là 7,5 kW Mỗi xuồng đèn dùng 4 - 5 bóng 1 kW chiếu sáng trên mặt nước và 2 bóng 2 kW chiếu sáng trong nước

và độ rọi sáng có thể đạt đến 100m

Ola Flaaten và cộng sự đã so sánh sự khác biệt lợi nhuận của đội tàu khai thác lưới vây sử dụng giấy phép miễn phí và đội tàu khai thác lưới vây mua giấy phép theo giá thị trường tại Nauy Các tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy OLS để phân tích những nhân tố tác động đến doanh thu và chi phí của 2 đội tàu khai thác lưới vây nhằm chỉ ra những khác biệt về doanh thu và chi phí của 2 đội tàu, từ đó xác định sự khác biệt về lợi nhuận, làm cơ sở tìm ra giá trị thật của giấy phép trên thị trường chuyển nhượng Các ông nhận thấy rằng: các tàu vây được cấp hạn ngạch quota có lợi nhuận cao hơn so với các nhóm tàu vây khác Nguyên nhân chính là do chủ tàu đã phải tốn chi phí vốn quá cao (Ola Flaaten, Knut Heen và Kjell G Salvanes, 1995)

Theo Tim Coelli (2005), nhân tố kỹ thuật ảnh hưởng đến doanh thu, thu nhập biểu diễn là hàm số tuyến tính và được Cobb-Douglas viết lại dưới dạng logarit Các yếu tố kỹ thuật gồm về tàu thuyền, ngư cụ, lao động,

Nghề lưới vây kết hợp ánh sáng của Nam Tư (cũ) đã sử dụng 3 xuồng đèn, mỗi xuồng bố trí 6 - 9 bóng đèn 500 W/bóng với tổng công suất từ 9,0-13,5 kW để đánh bắt cá trích

2.52 Các nghiên cứu trong nước những năm gần đây

Hiện nay trong nước đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học của các cơ quan tổ chức như Trường Đại học Nha Trang, Đại học Cần Thơ, các Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản … đã đề cập đến một số vấn đề có liên quan đến đến nội dung đề tài này Một số đề tài có liên quan đến nội dung đề tài của tác giả như sau:

- Đề tài “Nghiên cứu ứng dụng điện mặt trời trên tàu lưới vây tỉnh Quảng Nam”

do Tiến sĩ Nguyễn Đức Sĩ - Trường Đại học Nha Trang làm chủ nhiệm, được thực hiện 2 năm 2015 – 2016, đã được hội đồng khoa học các cấp đánh giá, nghiệm thu cho kết quả sau: Thứ nhất, tàu lưới vây xa bờ ở các vùng biển Bắc Trung Bộ, Nam Trung

Bộ và Đông - Tây Nam Bộ sử dụng nguồn sáng dùng trong khai thác cá còn tuỳ tiện, kém hiệu quả, chưa sử dụng hết công suất máy điện, hiệu suất sử dụng máy phát điện thấp Thứ hai, các yếu tố ảnh hưởng mạnh đến sản lượng khai thác cá nục sồ trên tàu lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng theo phương pháp phân tích lôgic thông tin là tổng

Trang 32

công suất nguồn sáng, độ cao và góc treo đèn Các yếu tố ảnh hưởng không đáng kể đến sản lượng khai thác cá nục sồ là công suất tàu, tỷ lệ công suất bóng cao áp, tỷ lệ công suất bóng huỳnh quang, chiều dài lưới vây, chiều cao lưới vây và thời gian chiếu sáng (Nguyễn Đức Sĩ, 2016)

- Đoàn Văn Phụ (2010), đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sử dụng ánh sáng đèn ngầm trong nước và đèn màu cho nghề lưới vây xa bờ biển miền Trung và miền Nam” Đề tài đã nghiên cứu được tập tính của một số loài cá nổi nhỏ đối với ánh sáng màu (đỏ, vàng và xanh) thắp sáng trên mặt nước và ánh sáng trắng ngầm trong nước; nghiên cứu được việc sử dụng ánh sáng màu (đỏ, vàng và xanh) thắp sáng trên mặt nước và ánh sáng trắng ngầm trong nước cho nghề lưới vây xa bờ biển miền Trung và miền Nam; xây dựng được tiêu chuẩn công suất ánh sáng cho phép sử dụng trong nghề lưới vây ánh sáng

- Nguyễn Trọng Lương (2009), đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra được kết quả: doanh thu của đội tàu lưới vây tăng dần theo công suất máy tàu và doanh thu trung bình đội tàu lưới vây ở Cam Ranh cao hơn so với đội tàu lưới vây tại Nha Trang Nhóm tàu công suất từ 75-<90cv, doanh thu đạt cao nhất và thấp nhấp là nhóm tàu công suất <20cv Lợi nhuận trung bình một năm của tàu lưới vây đạt từ 23,8 – 109,8 triệu đồng Nghiên cứu chỉ ra yếu tố tác động mạnh nhất đến doanh thu nghề lưới vây

ở Cam Ranh và Nha Trang là chiều dài vàng lưới

Phạm Thị Thanh Thủy (2007) dùng phương pháp phân tích thống kê để đưa ra các chỉ số dùng để mô tả các đặc trưng kinh tế, các thông số kỹ thuật của các tàu lưới vây, đồng thời phân tích hiệu quả tài chính của nghề, dựa trên tiêu chí khác nhau về công suất giữa 2 nhóm tàu lưới vây rút thưa và lưới vây trũ rút tại Nha Trang

và Cam Ranh, để từ đó xác định cơ cấu đầu tư hợp lý cho nghề này Nghiên cứu chỉ ra

ở Cam Ranh, theo dữ liệu điều tra đuợc với nghề lưới vây rút thưa, nhóm công suất 75– 90 CV mang lại hiệu quả tài chính cao nhất; với nghề vây trũ rút, nhóm công suất 45-74 CV mang lại hiệu quả tài chính cao nhất Riêng nghề vây trũ rút tại Nha Trang,

do dặc thù phương pháp đánh bắt, dải công suất có hiệu quả tài chính khá cao là 75 -

90 CV Vậy, hiệu quả hoạt động chịu tác động của yếu tố công suất tàu đối với nghề lưới vây ở 2 địa phương trên

Nguyễn Thị Kim Anh và Nguyễn Văn Điền (2009) Các tác giả phân tích các tỷ

số tài chính và phương pháp hồi qui để xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả

Trang 33

kinh tế, cụ thể là doanh thu của đội tàu đánh bắt xa ờ tỉnh Bến Tre gồm 3 nghề chủ lực: cào đơn, cào đôi và lưới vây ánh sáng

Nguyễn Ngọc Duy (2010) nghiên cứu hiệu quả kinh tế của đội tàu lưới rê tại Nha Trang, trong đó các yếu tố được quan tâm như công suất tàu, lưới cụ, thời gian hoạt động được tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu để phân tích và đánh giá hiệu quả kinh

tế của nghề này Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi nhuận trung bình của một tàu lưới rê là17,3% Nghiên cứu cũng chứng minh rằng công suất máy, ngư cụ, số ngày đánh bắt trên một chuyến biển là những yếu tố phản ánh nhiều nhất

Tóm tắt chương 2

Nội dung của chương này trình bày cơ sở lý thuyết về hiệu quả kinh tế, các khái niệm về hiệu quả, bản chất và tiêu chuẩn của hiệu quả, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, các quan điểm đánh giá hiệu quả kinh tế giúp người đọc hiểu được những kiến thức cơ bản về hiệu quả kinh tế

Chương này cũng giới thiệu một số nghiên cứu nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng có liên quan đến đề tài

Từ những kiến thức trên, đề tài mà tác giả muốn hướng đến để nghiên cứu là tập trung đánh giá thực trạng nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng hiện nay trên địa bàn thành phố Nha Trang Thông qua điều tra, khảo sát sẽ thu được các thông tin,

số liệu về các chỉ tiêu như số lượng, doanh thu, chi phí, lợi nhuận của từng chuyến đánh bắt, từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế và rút ra những mặt thuận lợi và khó khăn của nghề khai thác lưới vây xa bờ kết hợp ánh sáng hiện nay

Trang 34

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Nha Trang, Khánh Hòa

3.1.1 Giới thiệu khái quát

Vị trí địa lý

Thành phố Nha Trang là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Khánh Hòa Tổng diện tích tự nhiên toàn thành phố là 252,6 km2, dân số trung bình năm 2010 có 394.455 người, mật độ dân số 1.562 người/km2, chiếm 4,84% tổng diện tích tự nhiên và 33,7% dân số toàn tỉnh Thành phố được chia thành 27 đơn vị hành chính cấp xã, phường, trong đó có 19 phường nội thành và 8 xã ngoại thành

- 19 phường nội thành bao gồm: phường Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ, Xương Huân, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phương Sơn, Ngọc Hiệp, Phước Hòa, Phước Tân, Phước Tiến, Phước Hải, Lộc Thọ, Tân Lập, Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phước Long, Vĩnh Hoà

- 8 xã ngoại thành là: xã Vĩnh Phương, Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Thái, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Lương và Phước Đồng

Cùng với phần đất liền, Nha Trang có thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn với 19 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác trên biển, trong đó đảo lớn Hòn Tre có diện tích trên 36 km2

Thành phố Nha Trang nằm ở vị trí trung tâm khu vực Nam Trung Bộ, có tọa độ địa lý từ 1208’33’’ đến 12025’18’’ vĩ độ Bắc và từ 109007’16’’ đến 109014’30’’ độ kinh Đông Phía Bắc giáp huyện Ninh Hòa, phía Nam giáp huyện Cam Lâm và Diên Khánh, phía Đông giáp biển Đông và phía Tây giáp huyện Diên Khánh

Nha Trang nằm trên các trục giao thông quan trọng của cả nước: tuyến quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam nối liền Nha Trang với các tỉnh phía Bắc và phía Nam; cách không xa sân bay quốc tế Cam Ranh khoảng 30 km về phía Nam; có cảng Nha Trang là cảng du lịch và vận chuyển hàng hóa tạo nên một mạng lưới giao thông khá hoàn chỉnh

Nha trang nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 400 km về phía Nam, cách không

xa các đô thị lớn như Đà Lạt, Buôn Ma Thuột là các trọng điểm kinh tế lớn của cả nước Yếu tố này là lợi thế trong giao lưu, hợp tác kinh tế, thu hút vốn đầu tư, mở rộng thị trường v.v

Với lợi thế về vị trí địa lý và có tiềm lực kinh tế phát triển, Nha Trang được xác định là một trong những trung tâm kinh tế, du lịch lớn, có vai trò quan trọng tạo động lực thúc đẩy phát triển chung của cả nước, đặc biệt là Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

Trang 35

Hình 3.1: Bản đồ địa chính thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nha_Trang)

Địa hình

Địa hình Nha Trang khá phức tạp, có vùng đồng bằng trũng là khu vực nội thành; vùng đồi núi chủ yếu nằm ở hai đầu Bắc - Nam và phía Tây thành phố, vùng ngoài biển phía Đông thành phố có nhiều đảo lớn nhỏ Nha Trang có độ cao từ 0 m đến 900

m so với mặt nước biển, trong đó có những đỉnh núi cao như Hòn Rớ cao 338 m, Hòn Ngang cao 320 m, Hòn Thơm cao 224 m v.v

Trang 36

Vùng địa hình bằng thấp, độ dốc dưới 3o: phân bố ở khu vực trung tâm thành phố, có diện tích 8.130,37 ha, chiếm 32,33 % tổng diện tích tự nhiên Đây là vùng tập trung đông dân cư, có cơ sở hạ tầng phát triển, đất đai chủ yếu sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản v.v

Vùng địa hình có độ dốc 3 –> 8o: đây là khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng và đồi núi, có diện tích 2.322 ha, chiếm 9,23% tổng diện tích tự nhiên Vùng địa hình này tập trung ở phía Tây và Đông Nam, là địa bàn trồng cây lâu năm, cây lâm nghiệp và khai thác đất, đá xây dựng

Vùng địa hình có độ dốc 8 –> 15o: là vùng đồi thấp, có diện tích 6.791,43 ha, chiếm 27,01% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía Tây thành phố Trên dạng địa hình này người dân trồng cây nông nghiệp lâu năm và trồng rừng

Vùng địa hình có độ dốc trên 15 –> 20o: là núi thấp, có diện tích 4.622 ha, chiếm 18,38% tổng diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở phía Tây và Đông Nam thành phố Vùng địa hình có độ dốc trên 20o: loại địa hình này chủ yếu là núi cao, có diện tích 3.282 ha, chiếm 13,05% tổng diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở phía Tây và Đông Nam thành phố

Khí hậu, thời tiết

Nha Trang chịu sự chi phối chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng của khí hậu đại dương Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa; so với các tỉnh phía Bắc thì mùa đông ít lạnh và mùa khô nóng kéo dài hơn; so với các tỉnh phía Nam, Nha Trang có mùa mưa lệch về mùa đông và xuất hiện một mùa mưa ngắn giữa mùa đông;

so với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để khai thác du lịch hầu như quanh năm Những đặc trưng chủ yếu của khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ cao đều quanh năm (25 oC – 26 oC), tổng tích ôn lớn (> 9.500 oC), sự phân mùa khá rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão

- Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình năm là 26,6 oC, nhiệt độ trung bình cao nhất vào các tháng 5, 6, 7 ,8 và 9 Nhiệt độ cao tuyệt đối năm là 37,4 oC, nhiệt độ tối thấp vào các tháng 12, tháng 1 và 2 năm sau (14,6 oC) Tổng nhiệt độ năm khoảng 9.600 - 9.700

o

C và ít biển đổi

- Nắng Tổng số giờ nắng trung bình năm là 2.540 giờ, trung bình tháng có 211

giờ nắng Về mùa khô, số giờ nắng cao hơn mùa mưa, trung bình tháng từ 220- 280 giờ, mỗi ngày trung bình có từ 7- 9 giờ Vào mùa mưa, trung bình tháng có từ 150-

210 giờ nắng, mỗi ngày có trung bình 5- 7 giờ

Trang 37

- Độ ẩm Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng 79,5% Tháng có độ ẩm cao

nhất là tháng 10 với 83,2%, độ ẩm thấp nhất trong năm là 33 %

- Lượng mưa Lượng mưa trung bình năm 1.280 mm Mùa mưa bắt đầu từ tháng

9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm) Khoảng 10 – 20 % số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 hoặc kết thúc sớm vào tháng 11

Hình 3.2: Thông tin về nhiệt độ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Nha_Trang)

Thủy văn

a Sông, suối

- Sông Cái Nha Trang Là sông lớn nhất tỉnh Khánh Hoà có diện tích lưu vực

2.000 km2 Sông có chiều dài 75 km, bắt nguồn từ đỉnh Chư Tgo cao 1.475 m Đoạn

hạ lưu thuộc địa phận TP Nha Trang có chiều dài khoảng 10 km, chảy qua các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp, phường Ngọc Hiệp, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vĩnh Thọ, Xương Huân, Vĩnh Phước và đổ ra biển Lưu lượng nước bình quân: Q0=55,70 m3/s; lưu lượng nước mùa kiệt: Qk=7,32 m3/s

Sông Cái Nha Trang là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp (của các huyện Diên Khánh và Khánh Vĩnh) và cho sản xuất công nghiệp,

du lịch, dịch vụ, nuôi trồng thuỷ sản và sinh hoạt dân cư (của thành phố Nha Trang)

- Sông Quán Trường Có chiều dài 15 km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung,

Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Phước Đồng Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía Đông có chiều dài 9 km (nhánh chính) và nhánh phía Tây (nhánh phụ) dài 6 km Lưu lượng nước bình quân Q0=20,40 m3/s; lưu lượng nước mùa kiệt: Qk=2,90 m3/s

Trang 38

b Biển và thuỷ triều

Thủy triều vùng biển Nha Trang thuộc dạng nhật triều không đều, biên độ trung bình lớn nhất từ 1,4 - 3,4 m Độ mặn biến thiên theo mùa từ 1 - 3,6% Độ pH nước vùng cửa sông và đầm thay đổi từ 7,5 - 6,6 Mức nước biển dâng trung bình 1,28 m

Tài nguyên

a Tài nguyên biển

Vịnh Nha Trang là một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới, có diện tích khoảng 507 km Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới, có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ Đặc biệt vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao với 350 loài rạn san

hô, có 40% số loài san hô trên thế giới

Tài nguyên biển Nha Trang mang nhiều giá trị kinh tế cho phép phát triển tổng hợp kinh tế biển: có tiềm năng to lớn về du lịch ven bờ, du lịch biển đảo; có tiềm năng phát triển kinh tế cảng; đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thuỷ sản và bảo tồn sinh thái biển Bãi biển Nha Trang nằm ngay trung tâm thành phố, có chiều dài trên 10 km Ngoài ra trong vịnh Nha Trang còn tập trung nhiều đảo lớn, nhỏ có tiềm năng phát triển du lịch vui chơi giải trí trên đảo, thám hiểm dưới nước Đặc biệt đảo Hòn Tre là đảo lớn, quanh đảo có nhiều bãi đẹp như Bãi Trũ, Bãi Tre, Bích Đầm, khu bảo tồn biển Hòn Mun Với cảnh quan thiên nhiên ưu đãi, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, khí hậu ôn hòa gắn với nhiều di tích lịch sử và công trình văn hoá như Tháp Bà, biệt điện Bảo Đại, chùa Long Sơn v.v là những điều kiện lý tưởng cho mùa du lịch kéo dài Nha Trang đã trở thành một trong những trung tâm du lịch lớn của cả nước, đặc biệt là loại hình du lịch biển-đảo rất hấp dẫn, lôi cuốn du khách trong và ngoài nước

Bờ biển Nha Trang có nhiều điều kiện thuận lợi hình thành các cảng hàng hoá, thương mại và quốc phòng Hiện nay trên địa bàn thành phố đang khai thác cảng Nha Trang vào vận chuyển hàng hoá, du khách, ngoài ra còn có cảng quân sự của trường Học viện Hải quân và cảng đưa đón khách du lịch Cầu Đá Sự phát triển kinh tế cảng

sẽ kéo theo một loạt các ngành dịch vụ khác

Biển Nha Trang còn có tiềm năng lớn về đánh bắt thuỷ sản với nhiều loại thủy hải sản quý như cá thu, cá mú, cá chẽm, tôm hùm, tôm sú, cua biển, cá ngựa, mực Trữ

Trang 39

lượng hải sản vùng biển Nha Trang - Khánh Hoà ước khoảng trên 100 nghìn tấn, trong

đó chủ yếu là cá nổi (70%) Khả năng khai thác cho phép hàng năm khoảng 30 nghìn tấn Ngoài các hải sản như cá, mực và các loại ốc, biển Nha Trang còn là nơi trú ngụ của loài chim yến, hàng năm cho phép khai thác khoảng 2.000 kg yến sào Đây là một đặc sản quý mà không phải tỉnh nào trong nước cũng có thể có được Nó không chỉ góp phần cho xuất khẩu, mà còn là nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp chế biến dược liệu bổ dưỡng cao cấp

Biển Nha Trang còn có ý nghĩa với việc sản xuất muối Nước biển có nồng độ muối tương đối cao, thuận lợi cho việc sản xuất muối tập trung và các sản phẩm sau muối, nhất là muối công nghiệp Tuy nhiên, do việc mở rộng phát triển đô thị nên hiện nay vùng sản xuất muối của thành phố đã bị thu hẹp, hiện nay diện tích còn không đáng kể

c Tài nguyên khoáng sản

Theo khảo sát sơ bộ, trên địa bàn Nha Trang hiện nay chủ yếu chỉ có đá xây dựng, đất sét để sản xuất gạch, cát xây dựng ở sông Cái; đá chẻ, đá dăm ở Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Phương Ngoài ra còn có nguồn khoáng sản quý là nước khoáng nóng, bùn khoáng nóng Hiện nay khu du lịch suối khoáng nóng Tháp Bà đang khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này phục vụ phát triển du lịch tắm khoáng, nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe

d Tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch biển-đảo Vịnh Nha trang được công nhận là một trong những

vịnh đẹp nhất thế giới, có hệ sinh thái biển rất đa dạng, trong đó đặc biệt nổi trội là các rạn san hô Trong vịnh Nha Trang có 19 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn sinh thái còn khá hoàn chỉnh và độc đáo của Việt Nam như đảo Hòn

Trang 40

Mun đảo là nơi có rạn san hô và quần thể sinh thái biển phong phú và đa dạng nhất Việt Nam; đảo Hòn Miễu (còn gọi đảo Bồng Nguyên) nơi có nhiều sinh vật biển kỳ lạ; đảo Hòn Tằm là một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn; đảo Hòn Tre có bãi tắm thiên nhiên đẹp vào bậc nhất Việt Nam, có quần thể các dự án du lịch cao cấp, tuyến cáp treo Vinpearl vượt biển dài nhất thế giới; đảo Hòn Chồng, Hòn Một, các đảo yến v.v

Tài nguyên du lịch văn hóa-nhân văn Bên cạnh tài nguyên du lịch biển-đảo, Nha

Trang còn có tài nguyên du lịch nhân văn phong phú, nhiều di sản văn hóa lịch sử quý giá Theo thống kê, thành phố Nha Trang hiện có 131 di tích, trong đó có 9 di tích danh lam thắng cảnh, 1 di tích khảo cổ học, 3 di tích lưu niệm danh nhân, 13 di tích lưu niệm sự kiện, còn lại là di tích kiến trúc nghệ thuật Nha trang có một số di sản văn hóa-lịch sử có giá trị như Tháp Bà Pônaga, Nhà thờ Núi, Chùa Long Sơn, Chiến khu Đồng Bò, Dinh Bảo Đại, Viện Pasteur, Viện Hải dương học, Chợ Đầm, Suối Khoáng v.v Ngoài ra, còn có một số văn hóa phi vật thể gần đây đã được khai thác như lễ hội Tháp Bà, lễ hội Cầu Ngư, lễ hội xứ Trầm hương, Festival biển v.v Tuy nhiên hiện nay một số công trình đang bị xuống cấp, chưa được trùng tu, tôn tạo nên chưa phát huy được các giá trị của di tích Trên địa bàn thành phố đã hình thành mạng lưới các cơ sở dịch vụ văn hóa ẩm thực chất lượng cao, mang nét truyền thống, góp phần tạo nên bản sắc hấp dẫn của du lịch Nha Trang Tiềm năng du lịch Nha Trang cho phép phát triển

du lịch trở thành ngành kinh tế mạnh, xây dựng được thương hiệu Nha Trang trên bản

đồ du lịch thế giới

Điều kiện kinh tế - xã hội

Nha Trang là thành phố có nền kinh tế tương đối phát triển ở khu vực miền Trung Năm 2011, GDP bình quân đầu người của thành phố đạt 3184 USD , tốc độ tăng trưởng GDP tăng bình quân hàng năm từ 13- 14% Cơ cấu kinh tế chuyển đổi tích cực theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp Năm 2011, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng chiếm 32%, du lịch-dịch vụ 63,77% và nông nghiệp là 4,23% Trong đó công nghiệp tăng 7,97%, dịch vụ tăng 7,01% so với năm 2010 Ngược lại ngành nông nghiệp tiếp tục suy giảm 12,46% do quá trình đô thị hóa khiến quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Là trung tâm kinh tế của tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang có nhiều đóng góp đáng kể, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn Khánh Hòa Tuy diện tích chỉ chiếm 4,84%, Nha Trang chiếm đến hơn 1/3 dân số và hơn 2/3 tổng sản phẩm nội địa của Khánh Hòa Ngoài ra Nha Trang cũng đóng góp 82,5%

Ngày đăng: 18/02/2021, 10:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w