Điều này đập ngay vào mắt người đi lễ vào dịp đầu xuân bằng số lượng hàng quán bán hàng mã suốt từ Bắc Ninh đến đền Bà Chúa Kho..[r]
Trang 1PGS LE HONG LY
Trang 2sự TÁC ĐỘNG CỦA ■ ■
Trang 3PGS.TS LÊ HỔNG LÝ
N HÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN
VIỆN VĂN HOÁ
Trang 4BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIÊT TẮT
M T T Q T Ư Mặt trận Tổ quốc Trung ương
UBMTTQ ủ y ban mặt trận Tổ quốc
Trang 5LỜI M ỏ
Sau bao năm dài chiến tranh giữ nước, người Việt Nam kết thúc cuộc chiến ác liệt vào mùa xuân 1975 Đất nước được độc lập, toàn vẹn trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn với hậu quả lâu dài và khắc nghiệt của m ột cuộc chiến tranh chưa từng có cho đến thời điểm bấy giờ Có thệ nói, chiến tranh Việt N am là m ột cuộc thử nghiệm vũ khí lớn nhất, sự huỷ diệt cao nhất của tất cả các tập đoàn sản xuất vũ khí trên thế giới Bom đạn, chất độc hoá học, chiến tranh tâm
lý, cân não, sự chia rẽ v.v đã dội lên đầu người Việt Đất nước hoang tàn, kinh tế kiệt quệ, hậu quả nặng nề của cuộc chiến có thể nhìn thấy bất cứ ở đâu trên đất nước cho đến tận bây giờ Tuy nhiên, lòng khát khao độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ, ý chí không chịu làm nô lệ đã làm cho người Việt
N am vượt qua tất cả để đạt được sự thống nhất đất nước
Tưởng chừng mọi sự sẽ yên ổn sau ngày 30.4.1975, đất nước sẽ không còn phải chịu đựng sự chết chóc của bom đạn, không ngờ không bao lâu sau, hai cuộc chiến ở biên giới phía
N am và Bắc lại m ột lần nữa làm người Việt phải đổ máu Thêm 15 năm nữa, có lẽ phải tính đến 1985 hoà bình mới thật
sự có được trên dải đất nhỏ bé này, tuy rằng đến năm 1979 sự đụng độ biên giới phía Bấc kết thúc, nhưng sự căng thẳng còn kéo dài cho đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷxx.
Trang 6Cũng như tất cả các giai đoạn lịch sử trước đó, người Việt không chỉ biết đau buồn, than khóc sau mỗi cuộc chiến,
mà họ vươn dậy đối mặt với những thử thách mới như sự mất mát đau thương, nghèo đói do sự kiệt quệ của nền kinh tế Cùng với sự hàn gắn những vết thương chiến tranh, phục hồi nền kinh tế, cải thiện đời sống, thì một sự hàn gắn hết sức to lón được đòi hỏi hơn bao giờ hết đó là sự hàn gắn tình cảm của con người cùng với những di sản văn hoá mà từ đó họ đã lớn lên, rồi cũng từ đó họ đã ra đi biền biệt, đằng đẵng một chặng đường dài tưỏmg như không bao giờ trở lại
Chiến tranh loạn lạc bao giờ cũng kèm theo biết bao nhiêu sự ly tán của con người Chín năm kháng chiến đã một lần xáo trộn, hoà bình lập lại 1954 một lần nữa diễn ra một cuộc chia cắt lón N am — Bắc Người miền Nam tập kết, người miền Bắc di cư Mỗi con người ra đi đều mang trong mình hình ảnh những người thân thuộc, hình ảnh quê hương với những bờ ao, mái đình, luỹ tre, bến nước, ngôi chùa, dòng sông với bao niềm khắc khoải, khôn nguôi Những hình ảnh
ấy không bao giờ m ờ phai trong kí ức của tất cả những người
ra đi và ai cũng vậy, dù phải chết cũng m uốn ít nhất một lần trong đời được trở lại với những nơi thân thương ấy
Ngày hoà bình trở lại, đất nước thanh bình, nhưng kinh
tế vẫn còn eo hẹp nên thật đau lòng khi trở lại những cảnh xưa người cũ đã thay đổi, đã mất m át quá nhiều Những người rời quê hương khi làng xóm còn trù phú, nay trở về trong cảnh bị tàn phá nặng nề, gác súng lại bắt tay vào công cuộc khôi phục, nhưng trước hết vì miếng cơm manh áo, đâu đã có thì giờ để
lo chuyện đình, chùa, đền, miếu hay nhà thờ tổ tiên Người
Trang 7dời Ung đi nơi khác sinh sống nay vé trước hết cũng mới là để gặp íỡ lại người thân họ hàng, mừng mùng tủi tủi biết người này :òn, kẻ kia mất, thế đã là hạnh phúc lắm rồi Vào những năm 70 — 80 thực tế ớ nước ta là như vậy, người ta biết phải giữ cái này, sửa cái kia cho quê hương, họ hàng, song lực bất tòng tâm không phải chỗ nào và ai cũng làm được.
Cho đến khi đổi mới, đời sống càng ngày càng khấm khá lên, kinh tế phát triển với tốc độ tâng trưởne tốt hàng năm, đời sống văn hoá cũng dần dần được cải thiện Từ chỗ có của ăn, của để cộng vói cuộc sống có đôi chút dư giả cũng là lúc nhu cầu vãn hoá tăng lên, không lẽ cứ để những đền, chùa điêu tàn như trước Con người không thể chỉ sống vì miếng ăn, đó là chưi nói đến chuyện tâm linh theo truyền thống của người Việt, sự yên ấm mồ mả tổ tiên, thần thánh cũng là sự đóng góp vào cuộc sống yên bình, ổn định của người đang sống, nếu không kể đến sự phù hộ độ trì của tổ tiên, thần thánh ta mới có được cuộc sống hôm nay
Một phong trào khôi phục lại các đền, chùa, đình, miếu, nhà thờ diễn ra ở khắp các làng quê đến phố phường Hàng loạt các di tích văn hoá được khôi phục bởi chủ trương và kinh phí của nhà nước, từ nguồn đóng góp của nhân dân địa phương, của những người con xa quê gửi về, của những người có lòng công đức Lật các trang báo của những năm
90 cũng như các chương trình quảng cáo nhắn tin vào thời
kì ấy, ta sẽ thấy gần như ngày nào cũng có những lời mời của các địa phương về dự tiệc khánh thành chùa, đền, đình,
m iếu mới được tu bổ, tôn tạo thậm chí là xây mới lại Qui
mô, kiến trúc,nghệ thuật và tính chất lịch sử, vãn hoá của
Trang 8các đình, chùa ấy không phải ở đâu cũng bảo đảm được nhi xưa, song điều đáng nói là gần như những di sản tír ngưỡng, tôn giáo ấy đã được khôi phục lại Ở m ột góc đệ nào đó có thể nói đây là m ột công cuộc khôi phục các di sản văn hoá vô cùng to lớn của nhân dân cả nước.
Cùng với việc xây dựng lại đền, chùa, đình, miếu là việc khôi phục các lễ hội của làng vốn đã bao lâu nay bị quên lãng do chiến tranh, do không còn di tích vật thể làm nơi mở hội Lễ hội tổ chức vừa để xác định lại vị trí của di tích, để trở lại với những hình bóng xưa của truyền thống văn hoá làng, để cảm ơn, ghi nhận công lao đóng góp của tất cả những người
đã tham gia phục hồi lại di sản văn hoá và cũng để khoe với các làng khác nét văn hoá của làng mình Sau này, đương nhiên còn có chuyện thu hút kinh phí vào quỹ chung của dân làng để bảo tồn di tích và lễ hội Cho đến nay, có lẽ không còn một lễ hội quan trọng nào đối với các làng của người miền xuôi cũng như miền núi chưa được khôi phục lại Thậm chí cả những lễ hội mới được du nhập vào Việt Nam nhưng trở thành một hiện tượng văn hoá phổ biến cũng được kể đến Con số thống kê từ nguồn của Cục Văn hoá thông tin cơ sở (Ban nếp sống mới TƯ) m à chúng tôi có được cho biết, toàn Việt Nam có: 8902 lễ hội Trong đó:
- 25 lễ hội du nhập từ nước ngoài
- 7005 lễ hội dân gian
- 1399 lễ hội tôn giáo
- 409 lễ hội lịch sử cách mạng
- 64 lễ hội k h á c 1
1 N guồn từ Cục Văn hoá thông tin cơ sở, Bộ Vãn hoá thông tin năm 2(X)4.
Trang 9Một tác giá khác cũng dưa ra một con số thống kê mà theo tác giả cũng cho ià “chắc chắn là chưa đầy đủ” thì trong một năm ớ nước ta có 7K50 lễ hội, trong đó có 24 tỉnh có 10Ơ
lễ hội trớ lên Tỉnh có số lượng lễ hội nhiều nhất ờ miền Bắc là Hải Dương với 566 lễ hội, và tính nhiều lễ hội nhất ở miền Nam là Kiên Giang với 392 lễ hội”2 Một thống kê từ 2001 chỉ tính riêng trong phạm vi huyện Gia Lâm (Hà Nội) đã thống kê được 139 địa danh có lễ hội Năm 2000 huyện có 79 nơi làm đơn xin m ở hội và được chính quyền chấp thuận, tạo điều kiện giúp đỡ tổ chức3 Vấn đề ở đây không nói đến sự chính xác của các số liệu, mà là sự “bùng nổ” một thời hết sức mạnh mẽ của các lễ hội cổ truyền trong đời sống hiện nay, với sự đóng góp của toàn xã hội để có sự bùng nổ ấy Đó cũng là nhu cầu
to lớn của nhân dân vói các giá trị vãn hoá truyền thống của dân tộc
Cần phải khẳng định neay một điều về vai trò của Nhà nước trong sự phục hồi này là hết sức to lớn Nếu không có sự thay đổi trong các chủ trương đường lối lãnh đạo thì sẽ không
có những sự thay đổi mà chúng ta đã thấy trong văn hoá và cụ thể ở đây là lễ hội v ề vai trò này của Đảng và Nhà nước, các nhả lý luận đã chỉ ra có ba bước đột phá để đẫn đến đường lối đổi mới toàn diện đất nước mà nó đang được tiếp tục hiện nay
Ba bước đột phá ấy là:
: L<ê Thị Minh Lý, “Lễ hội — nhìn nhận lừ góc độ vãn hoá phi vật the" Trong:
Mộ>t con dường tiếp cận di sân văn lìoá Bộ VHTT — Cục Di sản, H 2 0 0 5 ,
11.272.
3 C h í Tín, Đ ể lề hội bền gốc trong Ìỏììg dàn, Hà Nội mới cuối tuần, số 308,
Ị7/'2/2()OLtr 6
Trang 101- Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (tháng 8 nãm 1979) với chủ trương và quyết tâm làm cho sản xuất “ bung ra” là bước đầu tiên của quá trình đổi mới à nước ta.
2- Hội nghị Trung ương 8 khoá V (tháng 6 năm 1985) đánh dấu bước đột phá thứ hai bằng chủ trương dứt khoát xoá
bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất — kinh doanh sang cơ chế hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa; chuyển ngân hàng sang nguyên tắc kinh doanh Điểm quan trọng là Hội nghị này đã thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật của sản xuất hàng hoá
3- Bước thứ ba là Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội VI,
Bộ Chính trị đã đưa ra kết luận đối với một số vấn đề thuộc về quan điểm kinh tế:
a) Trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ; công nghiệp nặng được phát triển có chọn lọc
b) Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xác định cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta
c) Trong cơ chế quản lý kinh tế, lấy kế hoạch làm trung tâm, nhưng đồng thời phải sử dụng đúng quan hệ hàng hoá - tiền tệ, dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, baơ cấp; chính sách giá phải vận dụng quy luật giá trị, tiến tới thực hiện cơ chế một giá4
4 Báo cáo tống kết m ột sô' vân d ẻ lý luận thực tiền qua 20 năm đổi mới ( Il^86 -
2006) Nxh Chính trị Quốc gia H 2005 tr 39, 46 48.
Trang 11Tất cả những đột phá đó dẫn đến Đại hội VI của Đảng (12-'; 986) đánh dấu một bước ngoặt rất cơ bản trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, với việc đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước Đưa đất nước đi vào đúng quĩ đạo của sự phát triển tạo nên những tiến bộ rõ rệt trong đời sống và nền kinh tế của cả nước Sự đổi mới toàn diện và đúng hướng ấy được khẳng định ở Cương lĩnh (năm 1991): “ Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hưởng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nưóc”5 và khái niệm “kinh tế thị trường” chính thức được văn kiện Đại hội IX đưa ra khẳng định phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là
mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta Đây là một sự thay đổi đúng đắn và hợp với quy luật phát triển Chính vì vậy mà nó đã đưa đến những kết quả đáng
kể mà ta thấy như: “Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5% một năm Cơ cấu kinh tế ngành, vùng có sự chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP năm 1988 chiếm 21,6% đến năm 2005 tăng lên 41%; tỷ trọng nông nghiệp năm 1988 chiếm 46,3% đến năm 2005 còn 20,5%, tỷ trọng dịch vụ năm
1988 chiếm 33,1% đến năm 2005 tăng lên 38,5% Năm 1988 còn phải nhập hơn 60 vạn tấn lương thực, mà năm 1989 đã xuất khẩu được hơn 1 triệu tấn gạo và đến năm 2005 xuất khẩu 4,2 triêu tấn gạo Thu nhập bình quân đầu người năm
1990 là 200USD tăng lên 600USD năm 20056
5- h N guyẻn Phú Trọng, Công cuộc dổi m ới: Nhìn lại d ể tiếp tục tiến lên, Nhân
dân 1 2 /1 0 /2 0 0 5 , số 18329, tr.3.
Trang 12Trình bày tất cả những vấn đề đường lối trên đây, ehún£ tôi muốn chứng minh rằng để đi đến nhìn nhận nền kinh tế thị trường trong giai đoạn vừa qua ở nước ta là cả m ột bước đường gian nan, vất vả Đ ó cũng là điều dễ hiểu khi m à chúng
ta đang từ một thế giới hoàn toàn khác chuyển qua thế giới mới mẻ này vừa chưa có kinh nghiệm, vừa chưa hiểu biết bao nhiêu Do đó không thể tránh khỏi những bỡ ngỡ, sai lầm, thất bại Hơn thế nữa, sự thay đổi về kinh tế đã tác động đến toàn
xã hội ở mọi lĩnh vực, mọi khía cạnh trong đời sống của con người, trong đó có văn hoá Vì thế, ở công trình này chúng tôi muốn xem xét sự tác động của kinh tế thị trường đến một khía cạnh hết sức nhạy cảm của văn hoá, đó là lễ hội tín ngưỡng trong nền kinh tế thị trường hiện nay Bằng những nghiên cứu trên thực địa, chúng tôi sẽ xem xét sự tác động của kinh tế thị trường đối với lễ hội tín ngưỡng Sự tác động ấy đã đem lại những mặt tích cực và hạn chế ra sao đối với các lễ hội này?
Sự tác độn g'ấy có ý nghĩa thế nào trong cuộc sống của mỗi con người hiện đại, cũng như có vai trò gì trong việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở hiện nay v.v Trên cơ sở đó, công trình cũng thử nhìn nhận từ nhiều góc độ vai trò của các tổ chức xã hội, chính quyền, các tầng lớp xã hội có liên quan đến các lễ hội tín ngưỡng hiện nay Từ đó có thể góp thêm một cách nhìn, một tiếng nói và có thể những gợi ý cho các nhà quản lý trong việc xử lý, ứng xử với các lễ hội ấy trong hiện tại và tương lai Đó là toàn bộ ý đồ m à công trình của chúng tôi có tham vọng đạt được
Trang 13CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐÊ CỦA LỄ HỘI TÍN NGƯỠNG • ■
TRONG NÉN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG■
I - PHẠM VI VÀ MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG TRÌNH
Do điều kiện nghiên cứu cũng như khả năng của bản thân, chúng tôi khônc có tham vọng nghiên cứu toàn bộ các lễ hội tín ngưỡrm đang diễn ra tronc cả nước Vì thế địa bàn nghiên cứu mà chúng tôi lựa chọn là hai khu vực cư trú của người Việt ở Bắc Bộ và Nam Bộ Cách làm của chúng tôi là lựa chọn hai trường hợp điển hình là lẽ hội Bà Chúa Kho ở Bắc Bộ và lễ hội Bà Chúa Xứ ớ Nam Bộ
Tại sao chúng tôi lại chọn hai lễ hội này mà không phải
là những lễ hội khác Điều này được giải thích bởi những nguyên nhân sau đây;
a) Đây là hai lễ hội có khá nhiều tiếng tăm trong thời gian qua Có rất nhiều ý kiến khác nhau về nó, là đề tài mà báo chí trong suốt một thời gian dài quan tâm đến, chủ yếu ở khía cạnh phê phán, chỉ trích
b) Từ chỗ bị báo chí để ý tói nên các cấp chính quyền của địa phương cũng phải quan tâm, lo lắng Một phần họ sợ
Trang 14báo chí phê phán, phần khác lo cấp trên nhắc nhở nên chính quyền các địa phương này đã có lúc dùng những biện pháp hành chính để dẹp bỏ Tuy không dẹp được nhưng đã có lúc
sự nhiệt tình dẹp bỏ này được sử dụng khá triệt để Điều đó cũng phản ánh phần nào tư duy nhận thức trong quản lý văn hóa chung của cả nước ta: từ chỗ cấm đoán, dẹp bỏ đến nương nhẹ, lờ đi, để tồn tại trong một xu thế thay đổi của tình hình
xã hội
c) Hai lễ hội ở hai đầu của đất nước nhưng lại khá giống nhau về nhiều phương diện, mà đặc biệt nhất là sự biến chuyển của hai vị thần được thờ từ tín ngưỡng nông nghiệp thành vị thần của thương nghiệp
d) Hai cách tổ chức khác nhau của một hiện tượng lể hội gần giống nhau, tuy ở những qui mô khác nhau, cấp độ khác nhau nhưng mục đích và kết quả lại có nhiều điểm giống nhau như vấn đề xã hội hóa văn hoá, kinh tế vãn hoá, du lịch văn hoá v.v
Từ hai lễ hội cụ thể, chúng tôi thử nhìn nhận sự phát triển của nó trong quá trình chuyển đổi của đất nước Từ đó phần nào cũng tìm hiểu sự phát triển chung của các lễ hội tương tự ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, với tất cả những mặt mạnh, mặt yếu của nó Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng cố gắng so sánh hai trường hợp cụ thể này với các lễ hội khác trong chừng mực tư liệu đã in ấn và tài liệu điền dã của chúng tôi Ngõ hầu để thấy được những nét chung cũng như riêng của những hiện tượng văn hoá
Trang 15khá: nhau trong điều kiện kinh tc chính trị xã hội mà nó đarg tồn tại.
Tài liệu phục vụ cho công trình này chủ yếu là tài liệu thự: địa được chúng tôi thực hiện trong hai năm vừa qua Đưíng nhicn, nhũnu tài liệu đã có ne bố của các tác giả đi trước luôi là nquồn lư liệu quí báu mà chúng tôi phải tìm hiểu và than khảo Mối quan tâm chính của công trình là xem xét hiện tưẹng văn hoá cổ truyền đã và đanẹ tồn tại trong đời sốns xã
hộ đươim đại như thế nào? Sự tồn tại của nó đã góp phần vào cuóc sống hiện nay ra sao đối với những con người và cộng đồig tham gia trực tiếp vào nó? Từ đó thử tìm hiểu xem tác độig của nó như thế nào đối với sự phát triển ở nhữnc địa phương đó nói rièng và xu thế phát triển của cả nước nói chung
II - M Ộ T SỐ Q U I ƯỚC V Ể KHÁI NIỆM
Đổ thống nhất cách hiểu tron 2, quá trình nghiên cứu, chúng tôi xin dừng lụi ở một số khái niệm như nhữnq công cụ làm việc Điều này hoàn toàn mang tính chất qui ước riêng cho công trình chứ khôn? có tham vọng tìm ra một khái niệm hay một thuật ngữ khoa học mới
I Lễ hội tín ngưỡng
Trước hết nói về Ihuật ngữ L ễ hội. Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có một sự ihống nhất trong việc sử dụng khái niệm này Tùy theo góc độ tiếp cận và quan điểm nhìn nhận mà mỗi người có cách sử dụng riêng Công trinh này không chú trọng vào việc xein xct các khái niệm ấy, cho nên chúng tôi chỉ xin điểm lại những nét chính
Trang 16Các nhà nghiên cứu từ những năm 90 của thế kỷ 20 trở
về trước thường dùng thuật ngữ hội, hội lễ. Điều này phù hợp với cách gọi của dân gian Người dân ở các làng quê xưa thường gọi đi hội, chơi hội. Làng có hội thì người ta thường nói làng m ở hội, vào đám. Từ năm 1938 học giả Nguyễn Văn
H uyên1 khi viết về hiện tượng văn hoá này bằng tiếng Pháp ông cũng dùng như vậy, dù rằng ỉừ /ề te tiếng Pháp chắc chắn không trùng nghĩa với từ hội trong tiếng Việt Bởi vì cũng như các từ /estiv a l trong tiếng Anh, Praidnic trong tiếng N ga và Slavơ, thì fête chỉ có nghĩa là hội thuần tuý theo kiểu vui vẻ, chứ không bao hàm ý nghĩa nghi lễ như trong từ hội của tiếng Việt khi dùng để chỉ các lễ hội dân gian
Toan Ánh là người sử dụng thuật ngữ hội hè đình đám
khá triệt để Trong hai cuốn sách do ông xuất bản năm 1960
và 1974 ở Sài Gòn trong bộ “Nếp cũ ” của mình ông đều dùng thuật ngữ này, nhưng khi gọi vắn tắt thì ông chỉ gọi là hội,
Theo ông: “Trong hội thưòng có nhiều trò vui gọi là bách hí Tuy nhiên, để dân chúng m ua vui, nhưng mục đích của hội hè đình đám không phải chỉ có thế, và mua vui cho dân chúng cũng không phải mục đích đầu tiên của hội hè Có thể nói được rằng mục đích đầu tiên của hội hè đình đám là để dân làng bày tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với Đức Thành Hoàng, Thần linh coi sóc che chở cho dân làng”2
1 N guyễn Văn H uyên, Les Ịê te s d e Phù Đ ổng (une bataille céleste dan s la
tradiĩion annarnỉte), XXXIV* Cahier de la s,cde Geographie de Hà N ội, 1938.
2 Toan Ánh, N ếp cũ - hội hè đình đám (Q uyển hạ) Nxb Tp Hổ Chí Minh,
1992, tr 11.
Trang 17Giáo sư Đ inh Gia Khánh, người trung thành với quan điển văn hoá dân gian là một chỉnh thể nguyên hợp và dày côm khám phá tính thẩm mĩ của nó, thì dùng thuật ngữ “/ỉội
lễ cân gian, thời điểm mạnh trong đời sống của cộng đổng” Thto ông: “ Danh từ hội lễ nên được dùng như một thuật ngữ vănhoá Có Ihể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố là hội và lễ Hội là tập hợp đông rmười trong một sinh hoạt cộng đổng L ễ là các nghi thức đặc thù gắn với sinh hoít ấy”3 Trong suốt cuộc đời nghiên cứu của mình ông đã hết sức dày công tìm hiểu và klìẳnc định tính thẩm mĩ trong các hiện tượng văn hóa dân gian Việt Nam Một tác giả cùng thòi khác đã triển khai quan điểm chỉnh thể nguyên hợp của văr hóa dân gian rất thành công là nhà nghiên cứu Caơ Huy Đỉnh với tác phẩm “ Người anh hùng làng Dóng”4 Trơng tác phim này, tác giả Cao Huy Đính cũng dùng thuật ngữ hội để chi lễ hội Dóng Đ ây có lẽ là tác phẩm đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu một hiện tượng văn hoá dàn gian trong mối quan
hệ với nghệ thuật trình diễn (perfomance), một phương pháp nghiên cứu đã gặt hái nhiều thành công ở Phương Tây
Từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, xu thế sử dụng thuật ngừ lễ hội được phổ biến hơn Có thể nói chính thức bắt đầu bằng công trình lễ hội cổ truyền Việt Nam của Viện Nghiên cứu vãn hóa dân gian do tác giả Lè Trung Vũ chủ biên cùng các tác giả khác là Phan Đăng Nhật, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính, Lê Vãn Kỳ và các cộng tác viên Công
3 Đinh Gia Khánh, Trên đường tìm lìiểu vân hóa dân gian Nxh KHXH H 1989,
tr 172.
4 Cao Huy Đính N gười anh hùng lừng Dóng Nxb KHXH, H 1969
Trang 18trình như một sự xác nhận chính thức của Viện Nghiên cứu vãn hoá dân gian về m ột thành tố văn hoá dân gian cũng như một bộ phận nghiên cứu quan trọng của Viện5 Cũng cần phải nói rằng, trước đó cũng đã có m ột số người sử dụng thuật ngữ
lễ hội trong các bài viết của mình nhưng còn rải rác Có một công trình xuất bản vào năm 1984 của hai tác giả Thu Linh và Đặng Văn Lung6 cũns đã sử dụng thuật ngữ này, song có thể nói mục đích của các tác giả này khác so với các nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian và các nơi khác Từ nhữns; kinh nghiệm và kiến thức tiếp thu của hoạt động văn hoá quần chúng ở Liên Xô phổ biến tại nước ta trong thời kỳ
đó, hai tác giả này đã áp dụng vào lễ hội cổ truyền Việt Nam
để tách bạch phần lễ và phần hội với những “hành động hội”,
“kịch bản hội” theo mô hình của các lẻ hội quần chúng được giảng dạy ở các trường Đại học văn hóa thuộc Liên Xô (cũ) Cách nhìn nhận như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đối với giới hoạt động văn hoá một thời gian dài cho đến tận bây giờ Nó khác với quan niệm lễ hội với ý nghĩa là một chỉnh thể nguyên hợp, đan quện vào nhau trong lễ có hội, trong hội có lễ với “ý nghĩa lớn lao của lễ hội ỉà nhầm “đưa quá khứ hội nhập vào hiện tại, qui tụ toàn bộ năng lượng của vũ trụ, của không gian
và thời gian đậm đặc năng lượng thiêng mà con người đi dự hội C.Ó nguyện vọng tắm mình trong đó, để sau đó họ là một con người khác đáp ứng cho năm mới, mùa mới”7
' Lè Trung Vũ (chủ biên), L ề hội c ổ truyền Nxb KHXH, H 1992.
6 Thu Linh - Đặng Vãn Lung, L ễ hội - truyền tliống và hiện đại Nxb Văn hóa,
H 1984
7 Tô N gọc Thanh, D i sừn văn h oá trung c ơ c h ế thị trường, Nguồn sáng dân gian,
số 3-2003, tr 6.
Trang 19Đ úng như giáo sư Trần Quốc Vượng viết: “ Lễ hội gồm hai phán vừa tách rời vừa không tách rời nhau: Lễ (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật, Mẫu ) và Hội (tụ hội của dân một làng hay liên làng (vùn?)”8 “Trên thực tế và về lý thuyết Lễ - Hội xoắn xuýt hữu cơ vào nhau, không thể tách rời” Do đó nếu không xcm xét lễ hội ở góc độ đó sẽ rất dễ làm thô thiển
nó và mất đi những ý nghĩa đích thực của nó Phải chăng việc dùng thuật ngữ lễ hội của các nhà nghiên cứu chính là muốn nhấn đến ý nchĩa thiêng liêng của lễ hội cổ truyền của nhân dân ta trong quá khứ, khi mà trong rất nhiều trò chơi của các
lễ hội ấy cũng nhuốm màu thiêng liêng một cách có ý thức của nhữníĩ ncười tổ chức Điều này có thể nói hoàn toàn có sự thốnc nhất của cả những người dùng thuật ngữ hội / / v à những người dùng lễ hội. Dù rằng, ở mỗi cách dùnẹ đều có các độ nhấn khác nhau nhưng họ đều muốn khẳng định cách dùng của mình là đúng thậm chí đã có lúc cuộc tranh luận bất phân thắng bại Đ ó là khi Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn
tổ chức hội thảo khoa học quốc tế tại Hà Nội với chủ đổ “Lễ hội truyền thống trong đời sốnơ xã hội hiện đại” từ ngày 8 đến
13 tháng 3 năm 1993 Cuộc tranh luận diễn ra trong buổi họp trù bị giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam để thống nhất một số vấn đề thuật ngữ và quan điểm Khi đó một nhà nghiên cứu đùa rằng: để vừa lòng cả hai phái hội lễ và lé hội tôi đề nghị đặt tcn là Le Hoi theo kiểu tiếng Pháp Cuối cùng thì Hội thảo
K Trần Quốc Vượng, Mùa xuân và lề hội Việt N am , Xưa và nay, số 3-1994, tr 9 Trần Quốc Vượng L ễ hội bàn sác và vân lioá các vùng quê Việt Nam Diễn
đàn văn nghệ Việt Nam sỗ 3-2002, tr 31.
Trang 20cũng thành công tốt đẹp và kết quả của nó là một tập kỷ yếu
ra đời vào năm 19949
Qua tìm hiểu của chúng tôi ý kiến của các nhà nghiên cứu về tên gọi có thể khác nhau tùy thuộc vào sự nhấn vào lễ hay hội, nhưng về cơ bản nội dung thì gần như thống nhất với nhau Đó là lễ hội bao hàm cả lỗ và hội, hai phần này gắn bó chặt chẽ với nhau, đan quện vào nhau Tách bạch ra để nghiên cứu, xem xét nhưng luôn luôn phải đặt nó là một chỉnh thể Đặc biệt là trorm quá khứ, hầu hết tất cả nhữrm hoạt động trong phần hội đều chứa đựng những niềm tin, những phong tục nhằm đạt được những ước vọng, khao khát và niềm tin mà
ở phần ỉễ được thực hiện bằng các nghi lễ hết sức trang nghiêm, thành kính Để cuối cùng đạt được mục đích của lễ hội đó là tính thiêng liêng, cao cả của niềm tin m à mỗi cá nhân, cộng đồng gửi gắm vào đó Tuy nhiên, cũng cần phải công nhận rằng, trong quá trình phát triển của xã hội, khá nhiều trò chơi phong tục đã phai nhạt và dần chuyển thành những trò giải trí thuần túy, kết hợp với các hoạt động vãn hoá văn nghệ mới nên làm cho phần hội có vẻ bị tách biệt ra khỏi phần lễ Song một điều rõ ràng là cái còn bảo lưu được của lễ hội cổ truyền và vẫn luôn thu hút được người hiện đại đến dự, chính là tính thiêng của các nghi lễ tại các đền, chùa, đình, miếu nơi diễn ra lễ hội ấy Đó là hạt nhân căn bản nhất mà chúng ta cần phát huy
9 Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (chủ biên), L ề lìôĩ truyền thống trong dời sổng
x ã hội hiện đại Nxb KHXH, H 1994.
Trang 21Thuật ngữ mà chúng tôi sử dụng trong công trình này là
lễ hội và chúng tôi cũng đổng ý rằng việc gọi phần lễ và phần hội chi có tính chất để nghiên cứu hay tổ chức, còn thực tế lễ hội là một chỉnh thc nguyên hợp Cũng như vậy, chúng tôi cho rằng xu thế biến đổi của lễ hội qua mỗi thời đại là sự tất yếu, nhất là trong điều kiện hiện nay, bên cạnh rất nhiều phong tục được tchôi phục thì tính du lịch của hội hè càng ngày càng tăng; đó là chưa kể đến vai trò kinh tế mà các lễ hội ấy đem lại Gần đây, giáo sư Kiều Thu Hoạch (dưới bút danh Kiều Thạch) đã công bố một bài tổng thuật rất đặc sắc về lễ hội ở
Đ ô n g Á cho thấy tình hình cũng tương tự “ Các nhà íolklore H;àn - Nhật - Trung đều có cùng nhận xét rằng, mặc dầu hội
x u ấ t phát từ lễ, song càng về giai đoạn muộn thì lễ hội càng
n h ạ t nhòa hạt nhân tín ngưỡng, mà yếu tố “vui thần, vui người'’ ngày càng có xu thế phát triển phong phú, đa dạng hơn
đ ể hòa nhịp với nhu cầu văn hóa - xã hội của thời đại” 10 Theo
ô n g cho biết ba yếu lố được xem như một chỉnh thể cấu thành
lễ hội đổng thời thực hiện ba chức năng lớn của lễ hội, đó là:
1 - Chức năng tín ngưỡng: Mọi người dự hội được an ủi timh thần, thỏa mãn tâm linh cầu người an, vật thịnh
2 - Chức năng mua vui: Công chúng được hưởng thụ văn hcoá nghệ thuật, được thỏa mãn sức hoan tiếu cuồng nhiệt
3 - Chức nâng kinh tế: Lễ hội là nơi thu hút hoạt động giiao thương, trao đổi hàng hóa, sản vật địa phương, xúc tiến giiao lưu hàng hóa giữa các địa phương, các thôn làng với các
10 K iểi Thạch, L é hội nliìn từ triết thuyết F olklore Đ ông Á, Vãn hóa nghệ thuật,
.-số 6 ,2 0 0 5 , tr 23.
Trang 22thị trấn, làm phồn vinh kinh tế thành thị Cần hiểu thêm rằng, chợ hội / hội chợ lúc nguyên sơ chỉ đơn giản như một dịch vụ
để phục vụ thiện nam tín nữ, thí chủ mười phương, nông dân thôn quê tới thành thị dự lề hội tiện mua đồ ãn thức uống, mua sắm những vật dụng cần thiết, rẻ tiền” 11
Đối với các nước châu Âu, khi nói về các lễ hội truyền thống ở nước ta các nhà nghiên cứu thường kèm theo một tính
từ thuộc tính bên cạnh danh từ hội ựestivaì). Thực ra từ
/ 'estival (tiếng Anh), fê te (tiếng Pháp), Prazdnic (tiếng Nga hay khối ngôn ngữ Slavơ) có nghĩa là một cuộc liên hoan, hội họp vui vẻ Cái m à ngày nay ta thường dùng để chỉ liên hoan tiếng hát truyền hình, liên hoan sinh viên thanh niên thế giới
Vì thế khi dịch từ lễ hội (với nghĩa là lễ hội truyền thống) của chúng ta mà dùng íestival nhiều khi sẽ gây ra sự lầm lẫn về nội dung và ý nghĩa của hiện tượng này Ngược lại khi chuyển sang tiếng Việt cũng gây ra sự hiểu biết không đầy đủ với nhiều người, nhất là ngoài giới nghiên cứu chuyên môn Nó làm mất đi tính nghi lễ, tính thiêng liêng của các lễ hội cổ truyền đã và đang tồn tại ở nước ta Do vậy, ngay cả các nhà nghiên cứu châu Âu khi nói đến hiện tượng văn hóa này ở chúng ta thường kèm theo các từ như Ritual ceremony hay Religion íestival (lễ hội tôn giáo, lễ hội (mang tính) nghi lễ, lễ hội phong tục) Chẳng hạn như một ngưòi Pháp được nhiều người nghiên cứu lễ hội Việt Nam trích dẫn, đó là Gustave Dumoutier trong tiểu luận nghiên cứu về hội Dóng ở nước ta
" Kiều Thạch, L ễ hội nhìn lừ triết thuyết F olklore Đ ông Á, Vãn hóa nghệ thuật,
số 6, 2005, tr 23
Trang 23đã gọi nó là “một lễ hội tôn ỹ á o A nnam ” 12 Theo quan sát của chúng tôi đây là cách Jihìn nhận khá phổ biến trong giới học giả phương Tây Một bằng chứng gần đây nhất là chuyên đề hội thảo thường niên Cập nhật Việt Nam 2005: “Không chỉ là
m iếng cơm manh áo, mà hình như còn có cả chuyện tâm linh trong kỷ nguyên đổi mới ở Việt Nam ” 13 Troníĩ hai ngày 11 và
12 tháng 8 năm 2005 tại Đại học Tổng hợp quốc gia Canbera, các nhà nghiên cứu bàn bạc sôi nổi đến các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay mà không hề có sự tách bạch tín ngưỡng với tôn giáo Hay nói như GS Đặng
N ghiêm Vạn: “Tín ngưỡng chỉ niềm tin tôn giáo Nhưng phổ biến một quan niệm coi tín ngưỡng là một cái gì thấp hơn tôn giáo Vậy nên, thuật ngữ tín ngưỡng được hiểu một cách thông thường như hiện nay cần được xem lại, vì nó bao hàm trong cả những hành vi, những nghi thức tôn giáo, các lễ hội trong đó có cả hành vi thế tục Thuật ngữ tín ngưỡng dân gian càng cần được bàn lại” 14
Ở công trình này, chúng tôi không dám bàn sâu vào vấn
đề ấy, đó là cả m ột sự phức tạp đòi hỏi có sự nghiên cứu lâu
d ài của các nhà chuyên môn Nó đòi hỏi ngoài trình độ hiểu
b iết là thời gian, công sức, sự tập hợp và khái quát tư liệu thực đị;a trên địa bàn Việt Nam, trên cơ sở tham khảo của thế giới
T ừ đó mới có thể đưa ra những nhận định mang tính thuyết
G.Dumoutier Une f ê te reỉigiense annam ite à Phù Dổng, Revue d ’histoire dé
religions — N l , t XXVIII (Juin — Aout 1893), Paris, 1893.
13 Vietnam Ưpdate 2005 — N ot b y R ice A ỉone M aking Sence o f Spirituaìity in
R eỊonn-era V ietnam 11-12 Ausgust, A NU — Australia.
14 Đặng Nghicm Vạn (chủ biên) V ề tôn giáo tín ngưởng V iệt N am hiện nay Nxb
KHXH, H 1996, tr 23.
Trang 24phục Còn ở đây, khi dùng lễ hội tín ngưỡng chúng tôi coi như một qui ước để làm việc trên thực tiễn.
L ễ hội tín ngưỡng m à chúng tôi quan niệm ở đày là những lễ hội m à trong đó những người đi lễ thể hiện những tín ngưỡng rất đa dạng của mình để cầu mong, để bày tỏ những nguyện vọng hết sức thực tiễn nhằm phục vụ cho cuộc sống của họ Chính tính thực tiễn trong nguyện vọng của những người đi lễ đã tạo ra sự thay đổi trong những giai đoạn nhất định khi đời sống xã hội thay đổi Chẳng hạn, khi sống trong một xã hội nông nghiệp thuần túy với những mất mùa, nắng hạn và lụt bão, bệnh dịch thì người ta cầu nước, cầu được mùa, cầu khô tạnh và sinh sôi nảy nở đầy đàn cho cả con người và gia súc Nhưng khi xã hội phát triển như hiện nay, người ta lại có những nguyện vọng khác phù hợp với thời đại họ đang sống
Gọi là ìễ hội tín ngưỡỉĩg, chúng tôi cũng muốn tách những lễ hội tôn giáo thuần túy của Thiên chúa giáo, Phật giáo, Cao đài, Hòa hảo như Giáng sinh, Phật đản v.v Dù rằng, thực tế ở Việt Nam cho thấy ngay cả trong một số lễ hội tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo thì vẫn có nhiều hình thức của tín ngưỡng dân gian được chứa đựng trong đó Đó có lẽ cũng
là những nét riêng của Phật giáo Việt Nam Những cuộc hành hương hội chùa như chùa Hương, chùa Thầy, Yên Tử bên cạnh việc cầu mong sự phù hộ của Phật thì người hành hương còn lễ bái, cầu cúng ở nhiều nơi khác trong khu vực chùa, với
đủ loại nguyên vọng, mục đích khác nhau
Trang 25Cũng như vậy đối với mảng lễ hội tín ngưỡng liên quan đến những anh hùng lịch sử có thật như Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Phùng Hưng, Hai Bà Trưng v.v hay những anh hùng truyền thuyết đã được lịch sử hóa và được chấp nhận như những nhân vật lịch sử của dân tộc như Thánh Dóng, vua Hùng không phải là những lễ hội thuộc phạm vi xem xét của
đề iài M ặc dù, tín ngưỡng thờ các nhân vật lịch sử ở nước ta
là một tín ngưỡng rất phổ biến và lễ hội tôn vinh họ đều là những lễ hội nổi tiếng trong cả nước Trong quá trình triển khai, chúng tôi cũng không bỏ qua nếu có những cơ hội xem xét, so sánh
Đương nhiên việc tách bạch ra như vậy chỉ để công trình tập trung vào mảng tín ngưỡng đa thần mà cụ thể ở đây là các
vị nữ thần chúng tôi chọn làm trường hợp nghiên cứu Hơn thế, công trình cũng không tập trung vào nghiên cứu tín ngưỡng thờ các vị thần đó là chính, mà xem xét sự tác động của nền kinh tế thị trường hiện nay vào việc thờ cúng họ như
th ế nào Sự thờ cúng họ, các nghi lễ thực hiện trong lễ hội về
họ giải quyết những vấn đề gì và dẫn đến cái gì trong cuộc sống hiện nay Đó là mục đích cao nhất m à công trình đặt ra
Ở góc độ nào đó, những lễ hội tín ngưỡng này là bối cảnh để chúng tôi tiến hành những nghiên cứu của mình Bởi vì thực tiễn lễ hội hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề xung quanh các hiện tượng văn hoá cần được xem xét, phân tích một cách kỹ lưỡng Từ đó, một măt để chúng ta hiểu biết, cập nhật được tìnih hình, nắm bắt được xu thế xã hội, mặt khác có thể giúp chio các nhà quản lý có những ứng xử thích hợp với các hiện tượng vãn hoá nảy sinh
Trang 262 Kinh tế thị trường và những thách thức của nó ở Việt Nam
Từ một nền kinh tế tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu cùa xã hội nông nghiệp truyền thống, qua thời quan liêu bao cấp người Việt Nam bước vào nền kinh tế thị trường còn khá nhiều bỡ ngỡ Một thời gian dài trong quá khứ, trong khuôn viên của các làng, nền kinh tế của người Việt dựa vào nguồn
tự cung tự cấp Lúa gạo trồng được phục vụ cho nhu cầu ăn uống, gia súc trong nhà, rau trổng ngoài ruộng vườn, cá ở dưới
ao hay bắt được ở đầm hồ, sông ngòi phục vụ cho bữa ăn hàng ngày Trồng dâu, nuôi tằm dệt vải phục vụ cho chuyện mặc, cây cối trên rừng, trong nhà dùng để xây dựng nhà cửa Năng suất thấp, cho nên sản xuất và tiêu thụ gần như chỉ vừa để nuôi sống con người Sự sinh sôi nảy nở nhanh, thiếu khoa học cùng với những bất trắc của thiên nhiên tạo ra một cuộc sống cơ bản là thiếu Do vậy, đôi lúc có dư dật một chút thứ này, thứ kia, thậm chí là không dư dật mà phải “nhịn mồm nhịn m iệng” để đem đi trao đổi lấy thứ khác mà mình không làm ra như muối, vải, và một số vật dụng khác Vai trò điều tiết quan trọng nhất trong quá khứ là những chợ làng, chợ vùng m à ngày họp cũng chỉ theo phiên vào các ngày chẵn (1,
2, 6, 8) hay ngay lẻ (1, 3, 5, 7) theo âm lịch Chợ quê cũng chỉ lèo tèo, ồn ã trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đầu giờ sáng (chợ hôm) hay cuối giờ chiều (chợ chiều) Hàng hóa trao đổi chủ yếu là sản vật nông nghiệp theo giá trị hàng đổi hàng,
có các cuộc trao đổi lớn
Trang 27Sau này, khi xã hội phát triển dần lên thì người Việt vẫn không bao giờ coi trọng thương nghiệp mà chủ yếu vẫn là “đĩ nônể vi b ản” Một số người buôn bán chuyên nghiệp xuất hiện thì ca số là người Hoa với tư cách chỉ là các trú khách tạm đến
cư t 'ú làm ăn buôn bán vào những thời gian nhất định mà thôi Mộ: số người làm nghề như rèn, dột từ các làng nghề đến các chợ mở lều hay xin trọ để làm nghề cũng chủ yếu để phục vụ
bà con quanh vùng rèn con dao, cái liềm, cái cuốc Số khác thường xuyên hơn thì cũng chỉ là lái trâu, buôn muối, chạy hàng xáo theo lối chuyển từ vùng này qua vùng kia, theo thời theo vụ vào những lúc nông nhàn Không ai nghĩ đến chuyện trở thành những người buôn chuyên nghiệp, mặc dù họ biết rằng “phi thương bất phú” nhưng lại sợ “vi phú bất nhân” Ý thức dịch vụ và lấy lãi theo lối cung cầu của kinh tế thị trường ngày nay chưa có mà chỉ thấy sự lươn lẹo, nói thách, nâng giá theo kiểu “miệng lưỡi con buôn” như một sự vi phạm đạo đức đáng kính của cái nghèo truyền kiếp Vì thế người Việt không
có những thương thuyền buôn bán ven biển hay m ở ra đại dương với nước ngoài, không có những người buôn bán chuyên nghiệp, v ề sau, có số người tách ra khỏi nghề nông để
đi buôn nhưng vẫn không quên nguồn cội, do đó tiền buôn bán được lại chuyển thành tài sản như nhà cửa, ruộng đất, ao vườn, phòng khi sa cơ lỡ vận có chỗ mà trú chân Như vậy đầu óc phiêu lưu không thể có cơ mà phát triển
Người phương Tây vào đem theo một luồng sinh khí mới cho nền kinh tế bản địa, sau một thời gian đô hộ của người Pháp, đã xuất hiện một số người buôn bán chuyên nghiệp và
Trang 28sau đó là một số đại lý, tư sản mại bản Với bản tính cần cù, thông minh, cộng thêm một chút láu cá vặt của những cuộc chạy chợ từ các chợ làng xưa đã nhen nhóm một nền kinh tẽ thị trường trong thời thuộc Pháp.
Tuy nhiên, m ọi thứ chưa kịp hình thành và ổn định thì xuất hiện một giai đoạn mới là Cách mạng tháng Tám 1945
và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Sau cuộc chiến trường kỳ chín năm với m ột Điện Biên Phủ oanh liệt, đất nước chia làm hai nửa Phía Nam tiếp tục hướng đi của nền kinh tế đã hình thành thời Pháp thuộc với sự tiếp xúc với kinh tế tư bản, còn miền Bắc vừa chiến tranh vừa xây dựng một xã hội hoàn toàn mới - xã hội xã hội chủ nghĩa Một nền kinh tế chỉ huy dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước theo
k ế hoạch sản xuất và phân phối lưu thông tới từng thành viên của xã hội Tất cả mọi người đều sống trong chế độ bao cấp, sản xuất kinh doanh theo k ế hoạch Đã có lúc những qui luật kinh tế bị đảo ngược hoặc bị kiềm chế bởi hệ thống này Phải nói rằng, nền kinh tế tập trung, bao cấp này đã có những tích cực lớn trong hoàn cảnh chiến tranh Chỉ đến khi bước sang thời bình nó mới bộc lộ hết những điểm yếu của nó Nhưng cần phải thấy rằng song song với hệ thống kinh tế Nhà nước, luôn luôn tồn tại m ột hệ thống hoạt động ngầm bị Nhà nước ngăn cấm, đó là nền kinh tế tự do trong dân mà trước kia quen gọi là thị trường tự do hoặc chợ đen Tuy không chính thức và bị chèn ép, nhưng nó đã giải quyết được khá nhiều vấn đề cho toàn thể xã hội Và cũng chính hệ Ihống đó đã góp phần rèn luyện cho người Việt sự linh hoạt, nhạy bén,
Trang 29nănc động Đó có thể coi là một sô vốn liếng kha khá khi bưới' vào kinh tế thị trường Cái lối “chân ngoài dài hơn chân troru” , “ nứa nạc nửa m ỡ ” , “đến cơ quan lo việc nhà” một thời xa vắng của cán bộ Nhà nước đã tạo ra không ít cái tiền
đề sau này khi chuyển sang nền kinh tế tự do Tuy nhiên, những thói láu cá vặt của “phe phẩy” , của “con buôn” , của chợ làng sẽ là những thách thức rất lớn trong công cuộc làm
ãn lớn và buôn bán lớn của thời công nghiệp hóa,hiện đại hóa hôm nay Khác với các nước cùng phe ở Đông Âu khi phái triển lên CNXH thì tất cả các thành phần này bị xóa sổ,
do đó, họ bước vào kinh tế thị trường vừa chậm chạp, vừa khó khãn hơn ta rất nhiều Còn chúng ta với kinh tế nhiều thành phần sẩn có nên chuyển đổi rất nhanh lúc ban đầu, nhưng những thói hư tât xấu còn tồn đọng cũng góp phần cản trở không nhỏ khi bước vào sự phát triển chung của toàn cầu hóa, hiện đại hóa hiện nay Sự lộn xộn, không bài bản, thiếu khoa học, làm ăn nhỏ lẻ v.v thể hiện rất rõ trong sự phát triển của ta khi vào kinh tế thị trường Đó là chưa kể đến tầm nhìn xa trông rộng về những hướng đi lâu dài hay sự phát triển bền vững, ở góc độ nào đó chúng ta ngã không đau nhưng lại đi tập tễnh, còn các nước Đông Âu ngã có vẻ đau hơn nhưng đứng dậy và bước đi có phần vững chãi hơn Trình bày một cách khái quát như vậy, chúng tôi không có ý bàn sâu vào lĩnh vực kinh tế chính trị thời gian qua, mà chỉ lấy đó làm tiền đề cho phần tiếp sau đáy khi xem xét kinh tế thị trường ở nước ta nhằm phục vụ cho mục đích đật ra của
đề tài
Trang 30Theo các nhà nghiên cứu phương Tây thì một nền kinh tế thị trường là sự đối lập của nền kinh tế chỉ huy Trong nền kinh tế thị trường các vấn đề kinh tế cơ bản đều do các cá nhân, gia đình và doanh nghiệp giải quyết thông qua một hệ thống các thị trường điều hành tự do Trong thực tế, một thị trường lại có thể được xác định bởi sự sắp xếp m à thông qua
đó những người mua và bán có tiềm năng gặp nhau để trao đổi hàng hóa và dịch vụ Một thị trường là một địa điểm cụ thể, ví
dụ như một chợ của các nông dân địa phương, nhưng thị trường thường được đề cập đến với nghĩa một khu vực địa lý rộng hơn Khu vực một thị trường cụ thể, có thể là cộng đồng địa phương, có thể là cả m ột dân tộc; hoặc đối với trường hợp một số hàng hóa như vàng, bạc thì thị trường của chúng là thị trường cả thế giới
Trong các nền kinh tế thị trường, tài nguyên thiên nhiên
và hàng hóa vốn thường là sở hữu tư nhân Trong các nền kinh
tế như vậy, người mua và người bán đều có sự tự do kinh tế rất lớn Và họ sẽ cho nhau tín hiệu để giao dịch thông qua hệ thống này Ví dụ: Nếu muốn mua nhiều hơn bình thường về một hàng nào đó, người mua gửi tín hiệu để nhà sản xuất tăng sản lượng mặt hàng đó Tương tự như vậy, nếu giảm mua một mặt hàng nào đó, người mua lại ra tín hiệu cho nhà sản xuất để
họ giảm sản xuất mật hàng đó Tóm lại, các nền kinh tế thấy ở các nước Mỹ, Canada, Nhật Bản và nhiều nước ở Tây Âu, mà ở
đó phần lớn các vấn đề kinh tế được giải quyết bởi một hệ thống các thị trường tự do là các nền kinh tế thị trư ờ n g '\
15 Theo A.VV.Smith GS kinh tế thuộc Đại học tổng hợp Bắc Illinoise Trong:
ư tĩderstan din g economics, G lenco (M C Graw - Hill), USA 1991, tr 9, 10,11.
Trang 31Nền kinh tế thị trường được xác định bởi các thị trường
tự do Đ ó là những thị trường không có sự can thiệp của chính phủ Ở đấy, mỗi cá nhân đều tự do theo đuổi lợi ích của chính mình Họ nghĩ ra hàng hóa, sản xuất hàng hóa Họ sẽ giàu lên nhưng cũng làm xã hội giầu lên bằng việc tạo cơ hội và việc làm cho xã hội
Để xác định m ột nền kinh tế phải thông qua thị trường,
m à thị trường là sự thể hiện vắn tắt của một quá trình m à qua đó các quvết định của các hộ gia đình về việc tiêu thụ hàng hóa gì, có thể thay đổi hàng hóa gì, cùng vói các quyết định của các nhà sản xuất, các hãng sản xuất cái gì, sản xuất như th ế nào, kết hợp cùng yếu tố thứ ba là quyết định của người lao động sản xuất trực tiếp làm bao nhiêu, làm cho ai đều được điều hòa thông qua điều chỉnh giá cả Có tất cả các thị trường cho mọi thứ hàng hóa Vì vậy thị trường là sự sắp xếp mà thông qua đó giá cả sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố nguồn lực khan hiếm gồm lao động, đất đai
và v ố n 16 Hoặc nói như tác giả Decorse: “ Một nền kinh tế thị trường là một mô hình trao đổi kinh tế dựa trên giá trị của hàn g hóa và dịch vụ được xác định bởi cung và cầu của những hàng hóa đ ó 17
Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn các nền kinh tế ngày nay đều là nền kinh tế hỗn hợp Ở đó chính phủ và khối tư nhân cùng tương tác trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế
16 St J Christopher, Economics, Cassell Publishers Ltd ƯK, Yates, 1989.
17 R Scupin Ch.R.Decorse, A nthropology - the w o r ld ’s p ro sp ective (Nhân học -
m ộ t cái nhìn toàn cầu) Printice Hall, Nevv Jersey, USA, 1998.
Trang 32Một mặt chính phủ kiểm tra tỉ lệ đầu ra (thông qua việc đánh thuế, chuyển giao phúc lợi, cung cấp các dịch vụ công cộng
— như cảnh sát chẳng hạn) Cùng lúc đó, dù có một chút ít hạn chế nhưng các cá nhân vẫn tự do theo đuổi lợi ích của mình Đây là dạng phổ biến vì nó là trung gian của hai dạng kinh tế chỉ huy và kinh tế tự do hoàn toàn
Có thể nói rằng, để rút ra được những điều như trên, người Âu - Mỹ đã phải trải qua một thời gian dài vài thế kỷ và trả một giá không nhỏ bàng những thất bại, khủng hoảng thừa, khủng hoảng thiếu, lạm phát, trì trệ và mất mát Thực tế lịch
sử các nước Âu - Mỹ đã cho thấy m ột con đường gian nan để đạt được những nền kinh tế hùng m ạnh như hiện nay, nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều thách thức mới Điều đó đòi hỏi những
sự ứng phó liên tục của tất cả các nước trong quá trình phát triển của mỗi nước và của toàn cầu
Qua kinh nghiệm quốc tế chúng ta thấy rằng Việt Nam đứng trước nhiều thời cơ và những thách thức Chúng ta có gương của các nước đi trước có thể giúp tránh khỏi những mầy mò không cần thiết, song lại chuyển từ m ột nền kinh tế nông nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu Sự kéo dài quá lâu của nền kinh tế này, cộng với tâm lý được đẻ ra từ nền kinh tế tiểu nông và một thời gian dài trì trệ của nền kinh tế chỉ huy, làm
ăn nhỏ Cái sự nhanh nhạy theo kiểu láu cá hay khôn vặt như
đã nói ở trên chỉ phù hợp ở những lối làm ăn nhỏ, lẻ, vụn vặt, còn nếu đem vào áp dụng ở một cung cách làm ăn lớn sẽ là
m ột tai hại Do vậy khi bước vào nền kinh tế thị trường chúng ta không tránh khỏi nhiều bỡ ngỡ và vấp ngã, dó cũng
Trang 33là điầu dễ hiểu G ần đây, khi tham gia hiệp định thương mại Việt - M ỹ cũng như chuẩn bị vào Tổ chức thương mại quốc
tế (WTO), các tiêu chí để xác định nền kinh tế thị trường được đòi hỏi là: M ột nền kinh tế thị trường cần có:
1) Khả năng chuyển đổi của đổng tiền
2) Tự do thỏa thuận mức lương
3) Đầu tư nước ngoài
4) Sở hfru hoặc quản lý của Nhà nước đến với các ngành sản xuất
5) Quản lý của Nhà nước đối với sự phân bố các nguồn lực6) Các yếu tố thích hợp khác
Trong khuôn khổ của công trình, không phải bàn về kinh
tế thị trường mà chỉ nhìn nhận ở sự tác động của nó vào kinh
tế xã hội, văn hoá, nên chúng tôi chỉ xem xét ở một số khía cạnh văn hoá xã hội m à thôi Nhưng trước khi xem xét sự tác động của nó đến văn hoá xã hội, chỉ xin trình bày một vài nét liên quan đến tác động tích cực và tiêu cực của nó trong kinh
tế Về những tích cực của nó thì như những con số đã thống kê
ở trên không ai có thể phủ nhận được Đất nước thay da đổi thịt, đời sống được nâng cao, lạm phát bị loại trừ, thoát khỏi khủng hoảng v.v “Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi năm 1990 tăng lên 71,5 tuổi vào năm 2005 Chỉ số phát triển con người (HDI) từ mức dưới trung bình (0,498) năm
1991 tâng lên mức trung bình (0,688) năm 2002 Đến năm
2005 Việt Nam được xếp thứ 108 trong tổng số 177 nước” 18
18 N guyển Phú Trọng, Bài đ õ dẩn.
Trang 34Sự thay đổi của chúng ta khả quan làm thán phục nhiều người phương Tây vốn không có cảm tình và không tin ở chúng ta
Đ ó là m ột sự thực hùng hồn hoàn toàn không phải chúng ta tự nhìn nhận Song mặt trái của tấm huân chương cũng là điều đặt ra cho chúng ta phải suy nghĩ
Từ chỗ mong làm cho ra được sản phẩm, ra bao nhiêu hết bấy nhiêu vì sự khan hiếm hàng hóa, đến chỗ sản xuất ra bây giờ bị tồn đọng, lãng phí, ế ẩm Bởi vì đi vào thị trường quốc tế người ta không chấp nhận theo cung cách của ta, mà phải theo chuẩn mực chung của thế giới Kinh tế thị trường không có chỗ để xin xỏ đối tác thông cảm, bỏ qua mà là theo chất lượng và luật định chung Những vụ tranh chấp như cá basa, dệt may, tôm, chuyện bóng đá hay hợp đồng của
V ietnam Airline đã cho chúng ta những bài học đắt giá của lối làm ăn cũ Nhất là trong cung cách mua bán, đàm phán và quản lý kinh tế m à chúng ta phải trả giá bằng những Epco -
M inh Phụng, Tameco, Lã Kim O anh, Việt - Xô Petro, Cota xuất khẩu v.v Những năm gần đây, những vụ án được phanh phui ngày càng nhiều, mức độ của vụ này lại lớn hơn vụ trước
đã bộc lộ những khiếm khuyết trong tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế trong quá trình đi vào nền kinh tế thị trường ở nước ta Lối làm ăn chụp giật, cạnh tranh không lành mạnh, kiếm tiền bằng bất cứ giá nào v.v và v.v Báo chí đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để đăng tải những hiện tượng này, m à ở đây không thể kể hết được
Tuy nhiên, tiền của mất đi có thể làm ra được, máy móc
m ua nhầm có thể thay đổi, còn những tác động của kinh tế thị
Trang 35trường vào văn hoá xã hội mới là những điều đáng lo ngại và cần được quan tâm, nếu không nó sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, ơ đây chúng tôi chí xin điểm qua một số tác độna lớn mà thỏi.
Trước hết đó là sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận cán bộ và nhân dân trong xã hội, đặc biệt là những người nắm giữ những cương vị liên quan đến kinh tế như ngân hàng, doanh nghiệp Tinh trạng tham nhũng những khoản tiền khổng lồ của đất nước của một số cán bộ, quan chức đã gây ra
sự phẫn uất và hủy hoại niềm tin của nhân dân vào chế độ Từ chỗ yên phận với cảnh nghèo chung của cả xã hội trong hoàn cảnh chiến tranh, đến chỗ ma lực của đồng tiền đã làm lu mờ tình cảm, đạo đức và những phẩm chất tốt đẹp mà chính những người tham nhũng đã từng có Cơn lốc của cuộc sống vật chất đã cuốn theo tất cả những gì tốt đẹp và sự trân trọng kính phục của những người vừa mới hôm qua còn được coi như những anh hùng
Sự xuống cấp về đạo đức còn nguy hiểm hơn đó là rơi vàơ thế hệ trẻ, tiềm nãng chính để xây dựng và bảo vệ đất nước sau này Từ những cuộc dua xe coi thường trật tự xã hội cũng như mạng sống của người khác trên đường đến những chuyến “bay đêm ” trong các dộng lắc của những cô cậu trẻ tuổi vẫn được bố mẹ tin tưởng
Chưa dừng ở đó, còn có những động “ lắc ngày” ngang nhiên như trường hợp ở quán karaoke số nhà 10Ơ Cửa Bắc, Hà Nội với hàng chục thanh thiếu niên nam nữ tóc vàng hoe, mặt
Trang 36phờ phạc quay cuồng “ lắc” 14 Tệ nạn mại dâm với những tụ điểm múa sexy như kiểu Hoàng Mai, số 287 Nguyễn Văn Đậu, phường 11, quận Bình Thạnh mà công an thành phổ' Hồ Chí Minh triệt phá lúc 15 giờ ngày 2 tháng 6 năm 2005 hay những đường dây gái gọi từ mạt hạng đến cao cấp từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh Đến mức cả những người mẫu và diễn viên được nhiều người hâm mộ cũng sẵn sàng đạp trên đầu dư luận và lòng m ến mộ của công chúng Đó là chưa kể đến sự nhức nhối của những đường dây buôn bán phụ nữ từ trong nước xuyên sang các quốc gia khác20 Qui luật cung — cầu của nền kinh tế thị trường được triệt để khai thác phục vụ cho những kẻ có tiền bất chấp mọi thuần phong m ĩ tục cũng như những hành vi đạo đức xã hội.
Những quí tử “phiêu linh” , những cậu ấm “phá gia chi tử”, những “gái đi hoang” ở thành phố đến những lời ru buồn sau lũy tre làng, hay những cà phê đen tràn ngập trước, trong khuôn viên các trường đại học và những cuộc “sống thử” trong các khu ký túc xá sinh viên đang là nỗi lo lắng hoang mang của nhiều bậc cha mẹ và những người có trách nhiệm với nguy cơ hủy hoại truyền thống dân tộc Tất cả những hiện tượng trên đều là những mặt trái mà nền kinh tế thị trường đem lại trong xã hội hiện nay Mặc dù, đây không phải là một
bộ phận lớn trong xã hội, song nguy cơ tiềm ẩn của nó hoàn
|l)' Xem An ninh thê giới các ngày: 8/1/2004, 22/4/2Ơ04, 3/6/2Ơ04, 20/4/2005 30/3/2005, 27/4/2005, 7 /5 /2 0 0 5 , 4/6 /2 0 0 5 8/6/2005, 29 /6 /2 0 0 5 , 24/8/2005, 27/8/2005, 1/10/2005, 5 /1 0 /2 0 0 5 Hà Nội tin chiều 3/10/2005 22/6/2005 24/9/2005, 3/9/2005 Doanh nghiệp chú nhạt 17/9/2005
20 Như chú thích (19)
Trang 37toàn khóng nhỏ Mật khác, nó có nguyên nhân, nguồn gốc từ nền kinh tế thị trường song khôrm phải tất cả là do nền kinh tế
ấy đem lại Nó còn ớ khả năng “miễn dịch” của những truyền thống vãn hoá của chúng ta không được củng cố một cách liên tục và bền vững Cũng cần phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, tất
cả những hiện tượng trên đây xuất hiện trong nền kinh tế thị trường, nhưng đổ lỗi cho kinh tế thị trường thì không phải Xung quanh nó còn có rất nhiều yếu tố tác động đến, song việc nó xuất hiện trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay thì hết sức rõ ràng Vì vậy, đôi khi người ta đổ tất cả cho nền kinh tế ấy, có lẽ bời một phần nhìn thấy một số sự tác động trực tiếp mà nó đem lại đập vào mắt người ta
Chảng hạn như chuyện xây mồ xây mả một thời gian gần đây rầm rộ do người dân có tiền và do người từ nước ngoài gửi về Trường họp thôn An Bằng, xã Vinh An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên H uế có khoảng 2Ơ00 hộ Lệ thường mỗi hộ xây hai lăng vị chi khoảng 4000 lăng mộ Lăng
mộ xây ít tiền nhất được xem là bạch lăng mất hai cây vàng, lãng nhiều tiền nhất được xem là phú lăng xây mất 12 cây vàng Đổ đồng mỗi lãng chi phí hết 6 cây vàng Không ở đâu như ở nơi đây, người ta quen tính toán, nhắc đến vàng bằng chữ “cây” Nếu làm phép tính đơn giản đem 6 cây vàng nhận với 4000 lăng mộ, thì vị chi đã có 24.000 cây vàng được dùng cho việc kiến thiết “thành phố lăng”21 Ây là chưa kể đến sự lộn xộn về mặt kiến trúc, qui hoạch của cả khu nghĩa trang, tạơ ra sự hỗn độn của đủ loại kiểu cách, màu sắc, to nhỏ, cao
21 Nguyễn Hồng Dươiis;, Thành phô lâng Người Hà N ội, số 24, ngày 19/6/1994, tr 5
Trang 38thấp Rồi vấn đề diện tích đất đai bị thu hẹp và chuyển đổi đếr đâu, như thế nào? Tâm lý của những người hàng ngày sống ( đây với m ồ to, mả nhỏ v.v và v.v chẳng thế mà đã diễn n những cơn “ sốt đất nghĩa trang”22 chẳng kém gì chuyện số đất xây nhà cửa Từ đó m à cũng có cả cò mồi lẫn chuyện nân£ giá, ép giá, ăn chặn, lừa lọc quyết liệt chẳng kém gì trên thị trường địa ốc thực thụ.
Hoặc một làng bói giữa lòng Hà Nội ngay ở thời điểm những năm đầu thế kỷ XXI này, thì đến trước thời mở cửa có thấy cũng chỉ lác đác đâu đó m à thôi Vậy mà bây giờ ở ngay phường Giảng Võ, quận Ba Đình, trong một khu vực diện tích chỉ hơn 0,6krrr mà ngõ nào, ngách nào cũng có thầy cúng, thầy bói: “Ngõ 2 có đến 6, 7 thầy Ngõ 1, ngõ 3 ít hon cũng đến 4,5 thầy Hòm hòm có tới 16, 17 thầy phong tỏa trong một cái làng nhỏ mà tổng diện tích chỉ hơn 0,6km 2 i này”23 Mọi nhu cầu giải hạn đều được giải quyết khi khách lo lắng với m ột giá “m ềm m ại” từ 250.000 đ đến 500.000 đ là đủ Đã
có người nói về Hà Nội hiện nay nghề bói toán dường như trở thành “kỹ nghệ với nhiều mánh khóe biến hóa tinh vi” để dẫn tới nhiều thực tế đau lòng do hậu quả của nó gây nên “ Một số người tiền mất, tật mang, nhiều đôi trai gái yêu nhau thắm thiết, song chỉ vì một lời của thầy mà hai gia đình kiên quyết không cho lấy bởi “có lấy được thì cũng sớm tan vỡ thôi” Nhiều người sau khi đi xem bói về trở nên tiêu cực, sống trong
22 Thanh Khiết, Sốt đ ấ t nghĩa tran g, An ninh thế giới, số 291, 8/8/2002, tr 12.
21 Đ ỗ Thanh Hương, Sự thật về m ột "làng b ó i ", An ninh thế giới, số 374, 25/3/2004, tr 14.
Trang 39hoang m ans, lo âu, phiền m uộn "24 Ấy là chưa kể đến hàng loại dịch vụ xung quanh vàn đề này như đào mộ thuê, khấn vái thuê và bây giờ là khóc thuê trong các đám tang khá phổ biến ở các vùng nông thôn Bắc Bộ: \
Gần đây nhất là những chuyện đẻ thuê, đẻ theo hợp đổng; hay các dịch vụ hảo vệ các thiếu gia con nhà giàu; thuê thám tử tư để vợ chồng theo dõi nhau; thuê côn đồ để dằn mặt, cảnh cáo hay trả thù nhau do xích mích ớ cơ quan; rồi những hội chứng tự lăng xè mình thành nổi tiếng bằng các chiêu quay phim sex chẳng khác gì mấy chuyện xì căng đan của thế giới ngôi sao màn bạc phương Tây, nhưng lại còn thiếu văn hoá hơn, trái với truyền thống phưcíng Đông của chúng ta Nhữne chuyện gần đây nhất là những tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa thời mỏ cửa đã tạo ra những “cơn lốc đô thị” tràn vào vùng đ ào’6 của Nhật Tân Hà Nội; "chuyện cấm vận ở khu công nghiệp An Khánh”27 và “ Bi kịch của những người giàu xổi ở Mĩ Đ ình”28 v.v
Quả thực, rất nhiều hiện tượng do trước đây không có hoặc có thì rất hãn hữu nên không ai biết đến nhiều do hạn chế thông tin, thì ngày nay nhỡn tiền trước bàn dân thiên hạ,
24 Minh Tiến, Mê tín dị đoan ờ Hù N ộ i, An ninh thế giới, số 4 54, 25/5/2005, tr 14
25 Nguyễn Văn Vàn Vần chuyện “khóc íỊìuâ", Người Hà Nội ngày 7/8/1999, tr 10
26 Nguyẻn Việt Cường Khi "cơn loc ” dô ỉlìị tràn qua vùng đ à o , An ninh thế giới,
Trang 40được các phương tiện thônc tin đãng tải khắp nơi, vì thế người
ta chí nhìn thấy lỗi ở nền kinh tế thị trường chứ không phải do cái gì khác Hoặc giả, do chỉ thấy những tác hại của những hiện tượng tiêu cực nên người ta có xu hướng đổ hết lên đầu nền kinh tế thị trường m à quên đi nó đã đem lại không ít những ưu thế tốt đẹp cho xã hội Đó cũng là tâm lý khá phổ biến ở nước ta, dù anh có tốt đến mấy trong quá khứ, nhưng hiện tại mắc một khuyết điểm gì đó thì hầu như những thành tích của quá khứ bị quên lãng Người ta nhớ đến anh (chẳng hạn tên là A) thì câu cửa miệng sẽ là ông A tham nhũng hay ông A hủ hóa ấy chứ gì? Chẳng khác gì chuyện làng chuyện xóm xưa Cũng phải công nhận rằng, đối mặt với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự mở cửa thì chưa bao giờ những hiện tượng tiêu cực lại nhiều và đa dạng đến như vậy trong thời đại hiện nay Đây cũng là điều dễ hiểu vì chưa có khi nào sự phát triển của xã hội và kinh tế lại phong phú và đa dạng như hiện nay Với sự hòa nhập với thế giới, với thông tin hiện đại nên bên cạnh những tiêu cực vốn có ở trong nước nay còn được du nhập từ khắp nơi theo tốc độ phát triển kinh tê của đất nước Cũng cần lưu ý ở đây đó là vấn đề thông tin Nếu như trước đây kiếm được một quyển sách, tờ báo hay một cái radio là một chuyện xa xí ở những vùng xa trung tâm Chuyện của làng khép kín trong làng, dù có lan truyền cũng chỉ ra khỏi lũy tre làng không bao xa Ngược lại, ngày nay chỉ cần theo dõi báo chí, tin tức qua các phương tiện chính thức của Nhà nước thi một người bình thường cũng không thể nào
có đủ thời gian để có thể tiếp thu được một phần nhỏ Kinh tế