Khảo sát tác dụng và lựa chọn phụ liệu sản xuất thuốc lá điếu làm giảm hàm lượng tar và nicotin trong khói thuốc lá điếu cao cấp của tổng công ty thuốc lá Việt Nam Khảo sát tác dụng và lựa chọn phụ liệu sản xuất thuốc lá điếu làm giảm hàm lượng tar và nicotin trong khói thuốc lá điếu cao cấp của tổng công ty thuốc lá Việt Nam luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học Bách khoa Hà nội
Luận văn thạc sĩ khoa học
Ngành: Công nghệ thực phẩm
Khảo sát tác dụng và lựa chọn phụ liệu sản xuất thuốc lá
điếu làm giảm hàm lượng Tar và Nicotin trong khói thuốc lá điếu cao cấp của Tổng công ty thuốc lá việt nam
Đào anh tuyên
Hà Nội 2006
Trang 2Mở đầu
Ngành sản xuất thuốc lá ở nước ta đã hình thành từ đầu thế kỷ XX, nhưng chỉ thực sự phát triển và không ngừng lớn mạnh, từ sau ngày hoà bình lập lại năm 1954, với sự ra đời của các nhà máy thuốc lá điếu, cùng với việc phát triển các vùng trồng nguyên liệu
Sản xuất thuốc lá là một ngành kinh tế đưa lại lợi nhuận cao nên được nhiều quốc gia trên thế giới hết sức quan tâm Ngành sản xuất thuốc lá đầu tư
ít so với một số ngành khác, nhưng thu hồi vốn nhanh, đóng góp quan trọng vào ngân sách quốc gia Sản xuất thuốc lá thu hút một lực lượng lao động
đông đảo, góp phần điều hòa mức sống của các vùng dân cư, tăng thu nhập cho người nông dân, nhất là ở vùng miền núi và trung du Phát triển thuốc lá vùng miền núi còn hạn chế tập quán trồng cây thuốc phiện của đồng bào các dân tộc thiểu số, góp phần tăng mức sống của đồng bào, thực hiện Chương trình "Xoá đói, giảm nghèo" theo tinh thần Nghị quyết T.W 5 về chính sách nông nghiệp và nông thôn của Đảng
Trong những năm gần đây, sức ép của luật pháp quốc tế yêu cầu các nhà sản xuất thuốc lá điếu giảm hàm lượng Tar, Nicotin, CO và các chất độc hại khác trong thuốc lá ngày càng lớn Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (FCTC) đã có hiệu lực 27/2/2005, trong đó có Điều 11 nêu rõ trên mỗi bao thuốc lá phải có thông điệp cảnh báo về sức khỏe rõ ràng, dễ nhìn thấy, dễ đọc chiếm diện tích 50% diện tích hoặc hơn, nhưng không nhỏ hơn 30% diện tích
bề mặt chính của mỗi bao thuốc và Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia Công
ước này ngày 17/12/2004 Mặt khác, trong nhiều năm qua, Chính phủ của nhiều khu vực đã có những qui định kiểm soát và giới hạn nghiêm ngặt hàm lượng những chất độc hại chính trong khói thuốc lá, như Hội đồng Châu Âu (EC) đã có hướng dẫn qui định các mức tối đa hàm lượng những chất độc hại trong thuốc lá điếu áp dụng cho các quốc gia thành viên Theo đó, bắt đầu từ
Trang 301/01/2004, Tar không lớn hơn 10mg/điếu, Nicotin không lớn hơn 1mg/điếu
và CO không lớn hơn 10mg/điếu
Trong những năm gần đây nhiều tập đoàn thuốc lá lớn trên thế giới đã tung ra thị trường những dòng sản phẩm thuốc lá điếu có hàm lượng Tar, Nicotin và CO thấp để đáp ứng các yêu cầu của luật pháp và đòi hỏi của thị trường Ví dụ các dòng sản phẩm Malboro, Mildseven, Salem…
Những sản phẩm thuốc lá điếu cao cấp của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam hiện nay có hàm lượng Tar, Nicotin và CO còn khá cao so với mặt bằng chung của quốc tế và khu vực Do vậy, Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam đang thực hiện lộ trình giảm Tar, Nicotin trong khói thuốc đến tiêu chuẩn quốc tế (Tar ≤ 10mg/điếu, Nicotin ≤ 1,0 mg/điếu);
Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam đang có nhu cầu phát triển đa dạng các dòng thuốc lá điếu cao cấp có hàm lượng Tar và Nicotin thấp đáp ứng đòi hỏi của thị trường trong nước và xuất khẩu
Để đáp ứng nhu cầu tư vấn cho các nhà máy thuốc lá trong việc lựa chọn và sử dụng phụ liệu phù hợp nhằm mục đích giảm Tar, Nicotin trong khói thuốc và nâng cao chất lượng thuốc lá điếu của Tổng Công ty thuốc lá Việt Nam, vì vậy tôi xin chọn đề tài:
“Khảo sát tác dụng và lựa chọn phụ liệu sản xuất thuốc lá điếu làm giảm hàm lượng Tar và Nicotin trong khói thuốc lá điếu cao
cấp của Tổng công ty thuốc lá việt nam”
Kết cấu của luận văn gồm:
- Mở đầu
- Chương 1: Tổng quan
- Chương 2: Mục tiêu - đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Kết luận
Trang 4Chương I Tổng Quan
1.1 Tình hình sản xuất thuốc lá trên thế giới
1.1.1 Nguồn gốc cây thuốc lá
Thuốc lá là cây thuộc bộ Nicotinana thuộc họ cà Solanaceae Trên 60 loài Nicotinana được công nhận lại được chia ra thành các chi phụ Tabacum, Rustica và Petunioides Tất cả các dạng thuốc lá trồng mang tính thương mại ngày nay thuộc chi Nicotiana tabacum và Nicotinana rustica Do không tìm thấy N.tabacum ở dạng hoang dại nên có những giả thuyết rằng N tabacum
được tạo ra từ sự lai khác loài ngẫu nhiên giữa N.sylvestris và N.tomentosiformis hoặc N.otophora Từ thực tế tìm thấy các loài hoang dại này ở Nam Mỹ có thể tin tưởng rằng sự lai ngẫu nhiên này xảy ra ở miền bắc Achentina hoặc ở tây nam Bolivia
1.1.2 Lịch sử phát triển cây thuốc lá
Những dấu tích lịch sử về cây thuốc lá được tìm thấy ở Trung Mỹ có từ trước công nguyên Những người thổ dân đã để lại những hình ảnh khắc trên
đá về những thầy tu đang hút thuốc như một phần của sự tôn thờ thần Mặt trời Mùi vị đặc trưng của thuốc lá đã được biết đến ở Trung Mỹ hai nghìn năm qua
Lịch sử viết về cây thuốc lá bắt đầu từ ngày 12 tháng 10 năm 1492 khi Christopher Columbus đặt chân lên bãi biển San Salvador Ông đã phát hiện người bản xứ vừa nhảy múa vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos Không có một ghi nhận rõ ràng nào nói về lịch sử trồng trọt thuốc lá ở các vùng khác nhau trên thế giới Một số tác giả như Myrick, Garneretal, Mackenzie, Akehurst đã đưa ra những thông tin về sự phân bố rất sớm của thuốc lá trồng ở các vùng khác nhau Người Tây Ba Nha bắt đầu trồng thuốc ở
Trang 5Haiti năm 1531 với hạt giống từ Mêhicô Thuốc lá được trồng ở Cuba năm
1580 và nhanh chóng mở rộng sang Guyana và Braxin Thuốc lá được đưa vào châu Âu, châu á, Châu Phi vào nửa cuối thế kỷ 16
1.1.3 Các dạng thuốc lá hiện trồng trên thế giới
Cho đến nay có rất nhiều kiểu phân loại các dạng thuốc lá trồng theo các nguyên tắc khác nhau như: đặc điểm sinh học, vùng sinh thái, phương thức sử dụng, phương thức sấy, mầu sắc lá sau khi sấy Tuy nhiên không có nguyên tắc phân loại nào trong các nguyên tắc kể trên bao hàm hết sự đa dạng của các loại thuốc lá trồng Thực tế cho thấy chỉ một số dạng thuốc lá đạt yêu cầu về khía cạnh kinh tế và kỹ thuật Trên thế giới có khoảng 10 - 12 dạng thuốc lá khác nhau theo nghĩa thương mại, kỹ thuật Một số dạng chính là:
1.1.3.1 Thuốc lá vàng sấy (Flue-cured hay Virginia)
Là dạng thuốc lá phổ biến nhất trên thế giới Được trồng nhiều ở các nước: Trung quốc, Mỹ, Braxin, ấn độ, Zimbabuê, Nhật, Canada, Hàn quốc Thuốc lá Virginia thuộc nhóm lá lớn, độ dài trung bình đạt hơn 50 cm ở những vùng trồng khác nhau lá thay đổi hình dạng ở vùng có điều kiện tương
đối khô, hình dạng lá hẹp và kích thước lá trung bình ở vùng có khí hậu nóng
ẩm, kích thước lá lớn và có dạng hình trứng hoặc elip Cuống lá có tai và thường dính sát vào thân chính Gân chính thường dày và thô Điều kiện trồng thích hợp là: nhiệt độ 25-270C, ẩm độ không khí khoảng 70%, đất có thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng mùn < 2% Thuốc lá Virginia được sấy gián tiếp bằng hơi nóng trong lò Phẩm chất lá thuốc trên cùng một cây khác nhau rõ rệt và được xắp xếp theo trình tự: lá giữa > lá nách trên > lá nách dưới > lá ngọn > lá gốc Thuốc lá vàng Virginia là thành phần chính của thuốc lá điếu, thường có mầu vàng chanh, vàng nhẫn, vàng cam Độ cháy tốt, vị ngọt đặc trưng, khói có phản ứng axit, độ nặng sinh lý vừa phải, hàm lượng Nicotin 1,2
- 3%
1.1.3.2 Thuốc lá Burley
Trang 6Thuốc lá Burley là một loại được phát hiện tại vùng Brown, Ohio (Mỹ) vào năm 1864 Burley thuộc nhóm lá lớn trung bình (chiều dài 40 - 60 cm) Thích hợp với những vùng có ẩm độ không khí cao, đất tốt, tơi, xốp, ải, có hàm lượng mùn cao (> 2,5%) và cung cấp nước tốt Burley được trồng nhiều ở các nước Châu Mỹ: Braxin, Mêhicô, Kentucky và Tenness ở Mỹ, Achentina, Châu á, Châu Phi Thuốc lá nguyên liệu Burley có khả năng hấp phụ hương liệu rất tốt và giữ hương liệu được lâu do cấu trúc xốp của mô lá Vì thế dạng thuốc lá này đang được sử dụng nhiều để sản xuất các mác thuốc điếu khẩu vị hỗn hợp (gu Mỹ) Thuốc lá Burley được sấy theo kiểu hong gió trong bóng mát Có thể thu hoạch và hong phơi từng lá một hay cả cây Lá thuốc sấy khô
có mầu cà phê sáng đến màu sôcôla
1.1.3.3 Thuốc lá Oriental
Thuốc lá oriental là một trong những loài thuốc lá chính thuộc chị phụ Nicotiana tabacum hay còn gọi là thuốc lá thơm là loại thuốc lá đặc sản của vùng Bancăng Ngày nay việc sản xuất đã mở rộng ở dọc bờ biển Địa Trung Hải và Hắc Hải Thuốc lá oriental thích nghi với vùng khí hậu á nhiệt đới của
Địa Trung Hải: lượng mưa thấp (500 - 600 mm/năm), nhiệt độ thấp ở giai
đoạn đầu và tăng dần ở các giai đoạn sau, biên độ nhiệt độ ngày đêm lớn, ẩm
độ không khí thấp: 60 - 65% Thuốc lá oriental thường được trồng trên đất có
độ phì thấp Dạng thuốc lá oriental có lá bé (< 30 cm), lá mịn, gân chính nhỏ Thuốc lá oriental được sấy khô bằng cách phơi nắng, lá thuốc sấy có mầu vàng chanh đến vàng cam hoặc vàng có ánh đỏ Thuốc lá nguyên liệu oriental
có vị ngọt dễ chịu, hương thơm mạnh và thanh, khói thuốc có phản ứng axit
Do có hương vị độc đáo nên người ta dùng làm nguyên liệu phối trộn cho thuốc lá điếu gu hỗn hợp của Mỹ, Đức Người vùng Địa Trung Hải dùng để sản xuất thuốc điếu khẩu vị oriental hay còn gọi là gu Thổ Nhĩ Kỳ (Turkish
Trang 7cigarette) Hiện nay gu thuốc lá này bị hạn chế do sự xuất hiện của gu thuốc lá hỗn hợp của Mỹ
1.1.3.4 Thuốc lá nâu
Được trồng ở rất nhiều nước và có rất nhiều loại giống Thuốc lá nâu thích hợp với đất có độ phì cao, ẩm độ đất và không khí cao Được sản xuất nhiều ở Trung và Nam Mỹ, ấn độ, Pakistan, Nhật, Châu Phi ở nước ta thuốc lá nâu được trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung Thuốc lá nâu thuộc nhóm lá lớn trung bình, được sấy khô bằng cách phơi nắng hoặc hong trong bóng mát Thuốc lá sau khi sấy khá chắc, có mầu nâu sáng nếu phơi nắng hoặc mầu nâu tối nếu phơi trong bóng mát Thuốc lá nâu có hàm lượng Nicotin cao, hàm lượng gluxit hoà tan rất thấp và độ nặng sinh lý cao, được dùng để sản xuất một số loại thuốc lá điếu sợi đen hoặc tham gia vào một số mác thuốc hỗn hợp hoặc để hút tẩu
Ngoài ra còn một số dạng thuốc lá khác như Maryland, là giống thuốc lá hong gió sáng màu có nguồn gốc từ Mỹ (Maryland là bang của Mỹ) được trồng tại một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Italia loại thuốc lá này có đặc trưng Nicôtin tương đối thấp, tính chất hút tốt đặc biệt về vị Được sử dụng chủ yếu trong gu thuốc lá Mỹ
1.1.4 Tình hình sản xuất thuốc lá nguyên liệu
Thuốc lá được xếp vào nhóm cây nhiệt đới, chủ yếu được sản xuất ở các vùng từ 40 vĩ độ Nam đến 60 vĩ độ Bắc Diện tích trồng thuốc lá của thế giới
từ năm 1980 đến nay biến động từ 4 - 4,5 triệu ha Các nước sản xuất thuốc lá nguyên liệu hàng đầu của thế giới là: Trung Quốc, Mỹ, Ân Độ, Brasil, Thổ Nhĩ Kỳ, Zimbabuê, Indonesia, HyLạp… với diện tích và sản lượng chiếm gần 3/4 của toàn cầu Những nước có trình độ thâm canh tiên tiến như: Mỹ, Zimbabuê trồng thuốc lá có năng suất cao hơn các nước khác và đạt bình quân 2,5 tấn/ha Theo số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp Mỹ USDA (Tobaco World Markets and trade june - 2005) hàng năm toàn thế giới sản
Trang 8xuất khoảng 6 - 7 triệu tấn thuốc lá nguyên liệu với cơ cấu chủng loại: Virgina chiếm khoảng 66,6 %, Burley chiếm khoảng 13,7%, Oriental chiếm khoảng 6,3%, còn lại là các loại xì gà, Maryland
Bảng 1.1 Sản lượng thuốc lá nguyên liệu trên thế giới từ năm 2001- 2005
“Nguồn: Tobacco World Markets and trade june – 2005–
1.1.5 Tình hình sản xuất thuốc lá điếu
Sản lượng thuốc lá điếu trên toàn thế giới năm 2004 là 5.824,9 tỷ điếu tăng 93 tỷ điếu so với năm 2003 Sản lượng thuốc lá điếu đạt mức tăng trưởng
Trang 9Sản lượng tiêu thụ thuốc lá điếu và mức độ tăng
–Nguồn: SUPLY & DEMAN REPORT–
Theo số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp Mỹ, Trung Quốc đứng đầu
về sản lượng thuốc lá điếu (chiếm 32,2 %), tiếp đến là Mỹ (8,5%), Nga (6,65%) Sản lượng thuốc lá điếu của Việt Nam (1,4%) xếp thứ 16 trên thế giới và xếp thứ 3 trong khu vực sau Indonesia (3,6%), Philippines (1,5%)
1.2 Tình hình sản xuất của ngành thuốc lá Việt nam 1.2.1 Quá trình hình thành ngành thuốc lá Việt Nam
Có một số tài liệu cho rằng thuốc lá được trồng ở nước ta từ thời vua Lê Thần Tông (1660) với nguồn giống từ các thương nhân Tây Ban Nha Nghề trồng thuốc lá chính thức phát triển vào năm 1876 tại Gia định, 1899 tại Tuyên Quang Thuốc lá vàng sấy lò (Virginia) được trồng ở nước ta tương đối muộn: năm 1935 trồng thử ở An khê, năm 1940 trồng ở các tỉnh miền Bắc với giống ban đầu là Virginia Blond Cash
Sản xuất thuốc lá ở Việt nam thực sự hình thành và phát triển theo quy mô công nghiệp sau ngày hoà bình lập lại (1954) Đảng và Nhà nước ta đã
Trang 10nhận rõ vị trí quan trọng của ngành sản xuất thuốc lá trong nền kinh tế quốc dân, nên ngay từ ngày đầu công cuộc xây dựng đất nước, mặc dù phải giải quyết nhiều vấn đề kinh tế khó khăn, nhưng Nhà nước ta đã có những quan tâm thích đáng về định hướng xây dựng ngành thuốc lá Việt nam
Công tác nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất thuốc lá đã được chú trọng Phòng nghiên cứu trung tâm thuốc lá được thành lập năm 1972 đã tập trung nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực nông nghiệp (chọn giống, kỹ thuật canh tác, hái sấy) lĩnh vực công nghiệp (nghiên cứu hương liệu, phối chế các mác thuốc mới, kỹ thuật lên men nhân tạo )
Sau khi đất nước được thống nhất, ngành thuốc lá Việt nam đã tiếp thu
2 Nhà máy thuốc điếu ở Thành phố Hồ Chí Minh: Hãng thuốc lá MIC (nay là Nhà máy thuốc lá Sài gòn), Bastos (nay là nhà máy thuốc lá Vĩnh hội) Để khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, Nhà nước đã quyết định thành lập Liên hợp thuốc lá I và II ( Liên hợp I ở phía Bắc, Liên hợp II ở phía Nam) do
Bộ công nghiệp thực phẩm quản lý bao gồm 4 Nhà máy thuốc lá điếu (Thăng long, Bắc sơn, Sài gòn, Vĩnh hội) và một số xí nghiệp nguyên liệu trực thuộc Liên hợp
Để tập trung nguồn vốn đầu tư, đổi mới trang thiết bị và quản lý theo cơ chế mới, Nhà nước đã thành lập Liên hiệp thuốc lá Việt nam (1986).Việc thành lập Tổng công ty thuốc lá Việt nam (Quyết định số 254/ TTg ngày 28 tháng 4 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ ) đã có tác dụng thúc đẩy mạnh
mẽ sản xuất thuốc lá trong nước, tập trung vốn, đổi mới trang thiết bị ở một số Nhà máy thuốc lá như: Sài gòn, Thăng long, Vĩnh hội, Bắc sơn., Thanh Hoá Ngoài các sản phẩm truyền thống, Tổng công ty thuốc lá Việt nam đã mạnh dạn hợp tác với các hãng thuốc lá quốc tế nổi tiếng như: Philipmorris, B.A.T, Rothmans để sản xuất một số mác thuốc lá nhượng quyền như :555; Marlboro, Dunhill, góp phần hạn chế thuốc lá nhập lậu
Trang 11Công tác nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất đã được quan tâm
đúng mức: Việc thành lập Viện nghiên cứu thuốc lá (1986) đã tạo điều kiện thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, nhất là về mặt sinh học và nông nghiệp phục vụ sản xuất thuốc lá nguyên liệu
Hiệp hội thuốc lá Việt nam bao gồm những nhà máy sản xuất thuốc
điếu trong Tổng công ty thuốc lá Việt nam, còn có khoảng 20 nhà máy thuốc lá địa phương, và các công ty trách nhiệm hữu hạn kinh doanh, sản xuất nguyên liệu, phụ liệu thuốc lá
1.2.2 Sản lượng thuốc lá và nộp ngân sách của ngành thuốc lá Việt nam
Ngành sản xuất thuốc lá trực thuộc Bộ Công nghiệp, là một Tổng công
ty mạnh trong các doanh nghiệp của nền kinh tế quốc dân Việt Nam Hàng năm ngành sản xuất thuốc lá đóng góp trên nghìn tỷ đồng cho Ngân sách Nhà nước
–Nguồn: Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam–
Từ năm 2001 sản xuất được 3.126 triệu bao, đến 2005 đã sản xuất được trên 4.497 triệu bao tăng 27,9%, mức tăng trưởng bình quân 8,7%/năm Sản lượng tăng là do những năm gần đây Ngành thuốc lá đẩy mạnh xuất khẩu
Trang 12khoảng 10% năm (năm 2005 xuất khẩu 450 triệu bao) Trong đó tỷ lệ thuốc lá đầu lọc tăng 33,6%, chiếm tỷ lệ 98% cơ cấu sản phảm
1.3 Xu hướng phát triển công nghệ sản xuất thuốc lá 1.3.1 Xu hướng chuyển đổi công nghệ trong sản xuất thuốc lá điếu
Nhìn chung, các sản phẩm thuốc lá điếu thế giới ngày càng bị sức ép nặng nề của luật pháp quốc tế, khu vực và quốc gia Điểm cốt lõi là các rủi ro
đối với sức khỏe người hút thuốc lá Hầu hết các quốc gia đều có những quy
định pháp luật cho các sản phẩm thuốc lá điếu ở các mức độ khác nhau
Theo Hiệp hội Thuốc lá thế giới, xu hướng công nghệ sản xuất thuốc lá
đồng thời giảm thiểu các chất độc hại khác trong khói thuốc
Hầu hết các quốc gia đều đã có những qui định pháp luật cho các sản phẩm thuốc lá điếu ở các mức độ khác nhau Ví dụ ở khu vực các quốc gia
thuộc Liên hiệp châu Âu, những giới hạn về thành phần khói được ấn định là hàm lượng Tar không vượt quá 10mg/điếu, nicôtin không quá 1mg/điếu và CO không quá 10mg/điếu, áp dụng cho tất cả các mác thuốc Tất cả các sản phẩm thuốc lá điếu phải điều chỉnh để đạt được các mức qui định này vào ngày 31/12/2003
Với những qui định ngặt nghèo này, đòi hỏi các nhà sản xuất thuốc lá
điếu phải thay đổi rất nhiều cho việc thiết kế mác thuốc Nhiều mác thuốc truyền thống gần như phải thay đổi toàn bộ công thức phối chế Độ thông khí của điếu thuốc cũng phải tăng lên Các loại đầu lọc phải có độ giảm áp cao
Trang 13hơn Hiện nay, giải pháp này chỉ mới đáp ứng được yêu cầu giảm hàm lượng
lý qua công nghệ trương nở sợi cao (công nghệ DIET) với tỷ lệ cao
- Thuốc lá điếu có gắn đầu lọc kết hợp sử dụng các loại phụ liệu khác nhau
- Sử dụng cọng thái thành sợi (CRS - Cut rolled stem)
- Sử dụng thuốc lá tấm (Thuốc lá tái chế - Sheet tobacco)
- Tăng độ điền đầy của sợi thuốc lá
- Sử dụng thuốc lá đã được trương nở, thuốc lá đã qua tách cọng (Expanded tobaccos, Stemmed)
Đa dạng hóa các sản phẩm thuốc điếu:
Mặt khác, để chuẩn bị cho việc thực hiện Hiệp định khung về kiểm soát thuốc lá thế giới (FCTC) do tổ chức Y tế thế giới - WHO phát động, nhiều hãng sản xuất thuốc lá đã và đang nghiên cứu để đa dạng hoá các sản phẩm thuốc lá
- Sản xuất thuốc lá không khói: Với sức ép ngày càng tăng của luật pháp và các vụ kiện về ảnh hưởng của khói thuốc lá đến những người không hút thuốc ngày càng nhiều, buộc các nhà sản xuất thuốc lá phải xúc tiến công nghệ sản xuất các loại sản phẩm thuốc lá không sản sinh ra khói như thuốc lá ngửi, thuốc lá nhai Xu hướng này đang phát triển mạnh ở một số quốc gia có nền công nghiệp thuốc lá phát triển như Hoa Kỳ, Anh, CHLB Đức, Pháp và Nhật Bản Thuốc lá không khói, hoặc hạn chế khói toả ra xung quanh môi trường, mục đích nhằm hạn chế ảnh hưởng hút thụ động cho người xung quanh
Trang 14- Thuốc lá điếu loại ngửi, thuốc lá nhai, thuốc lá điếu nhỏ (Slim) hoặc cực nhỏ (Super Slim)
- Sản xuất các loại thuốc lá không có Nicotin: Nicotin đã và đang được coi là thủ phạm gây nghiện và các chứng bệnh phổi, tim mạch và các bệnh
đường hô hấp, nên các nhà sản xuất thuốc lá điếu thế giới đang thử nghiệm sản xuất các loại thuốc lá, mà nguồn nguyên liệu không phải là lá thuốc truyền thống, mà là các loại lá dược liệu không chứa Nicôtin nhằm thay đổi dần tính chất hút, để hướng người tiêu dùng từ bỏ sản phẩm thuốc lá có hại, để dùng các sản phẩm thuốc hút có lợi từ các nguồn thảo dược liệu sẵn có trong
tự nhiên, trong khi vẫn làm thoả mãn được người hút Hiện nay, loại sản phẩm này đang được sản xuất thử nghiệm và bán nhiều ở Hoa Kỳ
- Sản xuất các loại sản phẩm thuốc lá điếu có độ an toàn cao về hỏa hoạn: Trong nhiều thập kỷ qua, do sơ ý của người hút, mà các đầu mẩu sau khi hút không được dập tắt lửa triệt để đã gây không ít hoả hoạn Điều này thúc ép nhiều quốc gia phải ban hành một số điều luật qui định các sản phẩm thuốc lá điếu phải có độ an toàn cao về nguy cơ gây hoả hoạn Vì thế, các nhà sản xuất thuốc lá điếu phải chú đến việc nghiên cứu ứng dụng các vật liệu mới
có tác dụng làm giảm khả năng bắt lửa ở đoạn cuối điếu thuốc và đầu lọc
Một số tập đoàn thuốc lá nổi tiếng trên thế giới như Philip Morris, Rosthman, Reynol đang chuyển dịch sản xuất thuốc điếu sang các nước
đang phát triển, đặc biệt là các nước chậm phát triển Chính sách toàn cầu hoá trong kinh tế được các tập đoàn thuốc lá lớn trên thế giới quan tâm
- Đa dạng hoá bao bì: bao tám cạnh, bao dẹt, bao dài (100) bao 10 điếu
1.3.2 Xu hướng phát triển công nghệ trong sản xuất nguyên liệu
Trang 15 Nghiên cứu chọn tạo giống thuốc lá ưu thế lai;
Nghiên cứu chọn giống nhập nội; đa dạng các nguồn giống;
- Nghiên cứu các quy trình kỹ thuật: Nâng cao năng suất, chất lượng, giảm giá thành sản xuất nguyên liệu thuốc lá
- Nghiên cứu cải tiến lò sấy thuốc lá sử dụng các dạng nhiên liệu: than, dầu DO, Gas nhằm tiết kiệm năng lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm sau khi sấy
Lĩnh vực bảo vệ thực vật:
Chủ yếu dùng phương pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) cho cây thuốc lá bằng cách dùng giống có khả năng kháng sâu bệnh, luân canh với cây trồng khác, vệ sinh đồng ruộng, dùng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc từ thảo mộc, dùng phương pháp thiên địch để phòng trừ sâu bệnh
Sản phẩm thuốc lá nguyên liệu:
Để đáp ứng yêu cầu phối chế thuốc điếu, thuốc lá nguyên liệu phải đáp ứng một số yêu cầu theo xu hướng sau:
- Nguyên liệu có hàm lượng Nicotin giảm để hạn chế độc hại
- Nguyên liệu phải được được phân cấp theo tiêu chuẩn quốc tế thống nhất
- Chủng loại nguyên liệu cần phong phú, đã qua chế biến và có giá bán cạnh tranh
- Thuốc lá nguyên liệu phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, có cấu trúc mô lá và thành phần hóa học thích hợp để sản xuất thuốc điếu có hàm lượng Nicotin
& Tar
1.3.3 Xu hướng phát triển công nghệ máy móc thiết bị
Chế biến nguyên liệu:
Trang 16Xu hướng về công nghệ chế biến nguyên liệu trong thời gian tới, về cơ bản vẫn dựa trên nguyên lý về công nghệ chế biến thuốc lá nguyên liệu truyền thống Nhưng theo nguyên lý này, các hãng chế tạo dây chuyền thiết bị chế biến thuốc lá nguyên liệu sẽ nâng cấp bổ sung theo hướng: tự động và đồng bộ hoá, công suất lớn, cấu hình gọn, có các thiết bị kiểm tra, phân loại tự động trên dây chuyền, tỷ lệ thu hồi thành phẩm cao
Những Công ty sản xuất thiết bị chế biến nguyên liệu nổi tiếng là: GBE LEGG Ltd - Anh ở châu âu, KUNMING SHIPBUIDING INSTITUTE (KSDI)
- Trung Quốc ở Châu á và MAC TAVISH - Mỹ ở Châu Mỹ
Chế biến sợi:
Xu hướng chế tạo máy móc thiết bị đều có đặc điểm hướng tới: công suất từ 4.000 - 12.000 Kg/h, độ loại tạp chất cao, độ tin cậy tốt, bảo trì và vệ sinh dễ dàng, chi phí ít, cấu hình máy tùy chọn, mặt bằng lắp đặt máy nhỏ, huấn luyện sử dụng nhanh và dễ, thiết kế theo tiêu chuẩn công nghiệp nghiêm ngặt, sử dụng thép không gỉ và các chất liệu được chấp nhận khác, đặc biệt là
sử dụng công nghệ trương nở sợi cao G13, DIET, HXD
Máy thái sợi Hauni công suất: 12.000 kg/giờ
Thiết bị hấp chân không
Trang 17Hệ thống trương nở sợi, cọng
Các hãng nổi tiếng gồm: HAUNI - Cộng hòa liên bang Đức; ITM - Hà lan; MACTAVISH (Mactavisha Machine Manufacturing Company) - Mỹ; GBE-LEGG Ltd (GBE), DICKINSON - Anh; COMAS - ý; KSDI (Kunming Shipbuilding Designing Institute ) - Trung Quốc
Sản xuất thuốc điếu:
Xu hướng chế tạo máy cuốn điếu và đóng bao theo hướng: tăng công suất vận hành, chất lượng, giảm tiêu hao vật tư, nguyên liệu,…
Máy cuốn điếu có công suất từ 7.000 -10.000 điếu/phút và hiện nay công suất đạt 20.000 điếu/phút Chất lượng cực cao, mức độ lãng phí nguyên liệu, sinh bụi thấp
Máy đóng bao có công suất từ 250 - 600 bao/phút và trên 600 bao/phút Các thiết bị đồng bộ đi theo: Hệ thống thiết bị trữ điếu, vận chuyển
điếu, các computer kiểm tra, hiển thị các sai hỏng, sự cố nhằm đảm bảo tối ưu cho quy cách sản phẩm
Một số thiết bị cuốn điếu hiện đại được sản xuất trong những năm gần
đây được đánh giá theo một số tiêu chí chính: Công suất thiết bị, mức độ tự
động, mức độ điều khiển và kết nối các modun trong tổ hợp máy
Trang 18Bảng 1.3 Đặc tính kỹ thuật của hệ thống máy cuốn điếu hiện đại
Protos 2-2 Protos 90 E Protos 1-8
Công suất:
8.500 điếu/ phút Phát triển dựa trên nguyên lý của máy Protos 90S
hệ thống Siemens
S7-400 PLC
Tự động hoá
Tất cả các hệ thống điều khiển và kiểm soát chất lượng được nối đến từng modun thiết bị, sử dụng
Nhiều lựa chọn cho cấu hình máy
Ưu thế các thiết bị Nhanh, an toàn, và vận hành đơn giản sử dụng thông qua 1 máy tính công nghiệp 12” TFT và
hệ thống kiểm soát vận hành máy
Nhiều lựa chọn cho cấu hình máy
Trang 19HÖ thèng m¸y cuèn ®iÕu Protos 2-2 (16.000 ®iÕu/phót)
Trang 201.4 Phụ liệu chính trong sản xuất thuốc lá điếu
1.4.1 Giấy cuốn điếu
Hiện nay, nhiều nhà sản xuất thuốc lá điếu đang cố gắng tiêu chuẩn hoá các loại giấy cuốn thuốc lá mà họ sử dụng trên toàn thế thế giới Nhưng điều này rất khó, bởi sở thích của người tiêu dùng mỗi nơi trên thế giới rất khác nhau
Tuy chỉ chiếm ≤ 5% trọng lượng điếu thuốc nhưng giấy cuốn thuốc lá
có ảnh hưởng đáng kể đến hình thức và độ cháy của thuốc lá
Chỉ tiêu vật lý đặc trưng của giấy cuốn thuốc lá có ảnh hưởng đến thành phần khói thuốc, chất lượng thuốc lá điếu là độ xốp, loại và hàm lượng phụ gia
Độ xốp (độ thấu khí) (CU): Lưu lượng khí (cm3.min.-1) đi qua một diện tích (cm2) mẫu thử tại độ chênh lệch áp suất 2 mặt mẫu thử là 1 kPa
- Độ xốp của giấy cuốn ảnh hưởng rất lớn đến độ cháy của giấy Tốc độ cháy của giấy tỷ lệ thuận với độ xốp của giấy
Hình 1.1 Quan hệ giữa tốc độ cháy tĩnh và độ xốp tự nhiên
Giấy cuốn thương phẩm
Trang 21Hình 1.2 Quan hệ giữa độ xốp tự nhiên và số hơi hút
Số hơi hút giảm khi độ xốp của giấy tăng, sẽ là điều kiện để làm giảm hàm lượng Tar và Nicotin trong khói thuốc
Có 3 phương pháp đục lỗ giấy cuốn:
Trang 22Hình 1.3 cho thấy có thể giảm hàm lượng Tar trong khói bằng cách sử dụng giấy sáp đục lỗ để pha loãng khói thuốc
Để làm tăng độ thông thoáng của đầu lọc, trên thế giới chủ yếu sử dụng loại giấy sáp đục lỗ sẵn Hiện nay có 2 công nghệ chính để đục lỗ đầu lọc, đó là:
+ Đục lỗ điện tử (EP), độ thấu khí của loại sáp đục lỗ điện tử từ 680CU
50-+ Đục lỗ microlaze, độ thấu khí của loại sáp đục lỗ microlaze từ 1700CU
100-Sáp được đục lỗ bằng công nghệ EP cho lỗ nhỏ hơn và phân bố ngẫu nhiên còn đục lỗ bằng công nghệ microlaze thì các lỗ được phân bố chính xác
ở cùng độ thấu khí, EP cho độ thông thoáng cao hơn 20% so với microlaze ở
độ thấu khí thấp, EP ít biến động hơn (có nhiều lỗ hơn), trên 300CU, microlaze ổn định hơn Chiều rộng vùng đục lỗ EP tăng theo độ thấu khí (tới 400-500CU, chiều rộng vùng đục lỗ trong khoảng 2,5mm) Chiều rộng vùng đục lỗ microlaze phụ thuộc vào độ thấu khí (tới 3000CU, chiều rộng vùng đục lỗ trong khoảng 2,5mm)
1.4.3 Đầu lọc thuốc lá
Đầu lọc là loại vật liệu có thể tách các thành phần khỏi một tập hợp bằng hấp thụ hoặc hấp phụ Ngoài tác dụng hấp thụ một phần các chất độc hại trong sản phẩm cháy của thuốc lá, đầu lọc còn làm tăng tính thẩm mỹ của
điếu thuốc
Hiện nay, vật liệu đầu lọc chủ yếu là Xenlulo Axetat (XA) Ngoài ra còn một số loại vật liệu khác như giấy xốp và một số loại sợi tổng hợp như Polypropylen, acrylat Ưu điểm của XA là có khả năng hấp phụ cao, không
độc hại cho người sử dụng, nhẹ, dễ chế tạo và biến tính
Đầu lọc XA được chế tạo từ dải băng sợi đàu lọc thuốc lá (Cigarette Tow) gồm vài ngàn sợi Xenlulo Acetat được ép thành băng và làm nhăn cơ
Trang 23học Băng sợi (tow items) được mô tả bằng trọng lượng sợi (denier per filament-dpf), tiết diện và trọng lượng tổng (total denier - td) Ví dụ: băng 3.0
Y 35 là băng có trọng lượng sợi (dpf) 3.0 với tiết diện ngang Y và trọng lượng tổng là 35.000
Mật độ sợi, tiết diện ngang của sợi ảnh hưởng đến độ giảm áp, biến dạng nhiệt của đầu lọc Ví dụ: độ giảm áp của mẩu đầu lọc 27 mm sản xuất từ các băng sợi có cùng dpf 3.3 và các td khác nhau : 3.3/39, 3.3/46, and 3.3/53
sẽ có độ giảm áp tương ứng là: 90, 110 và 130 mm Wg
Hình 1.4 Phương pháp thông thoáng đầu lọc
Đục lỗ on-line Kết hợp giấy sáp đục lỗ
với giấy cuốn đầu lọc xốp
Trang 24Chương II Mục tiêu - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu đề tài
- Nghiên cứu sử dụng một số phụ liệu nhằm giảm hàm lượng Tar và Nicotin trong khói thuốc lá, giảm độc hại cho người hút thuốc lá, theo xu hướng quốc tế
2.2 Nội dung đề tài
- Tạo các mẫu thuốc lá điếu bằng các loại phụ liệu khác nhau trên nền sợi VT1 (sợi sản xuất Vinataba)
- Khảo sát mức độ giảm hàm lượng Tar và Nicotin của các mẫu thuốc lá
điếu sử dụng các loại phụ liệu khác nhau trên nền sợi VT1
- Đánh giá hiệu quả giảm hàm lượng Tar và Nicotin của một số loại phụ liệu chính (giấy cuốn điếu, giấy sáp, đầu lọc)
- Tính sơ bộ chi phí phụ liệu cho phương án sản xuất mẫu thuốc lá có hàm lượng Tar và Nicotin thấp
2.3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại phụ liệu được sử dụng để nghiên cứu:
+ Giấy cuốn có độ thấu khí: 35CU, 30 CU, 40CU, 50CU, 60CU;
+ Giấy ghép đầu lọc: Loại giấy không đục lỗ, các loại giấy đục lỗ: 200CU, 400CU, 600CU, 800CU;
+ Đầu lọc: Xenlulô Axêtát, than hoạt tính, Polypropylen;
+ Giấy bọc đầu lọc: 10CU, 6000CU và 12000CU;
- Sợi thuốc sử dụng cho nghiên cứu: Sợi thuốc lá VT1 (sợi sản xuất Vinataba)
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
2.3.2.1 Phương pháp tổng hợp tư liệu
Trang 25Tham khảo tài liệu có liên quan trong và ngoài nước: tạp chí, giáo trình,
Dự án, báo cáo khoa học, thông tin trên mạng Internet v.v
2.3.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Các thí nghiệm được thiết lập để khảo sát sự biến đổi hàm lượng Tar và Nicotin trên cơ sở cố định một hoặc hai loại phụ liệu trong khi thay đổi các loại phụ liệu khác
Các công thức tạo mẫu thuốc lá điếu thí nghiệm được thiết lập từ việc tổ hợp các loại phụ liệu khác nhau được đưa ra trong bảng 2.1
Loại
đầu lọc
Giấy ghép đầu lọc Giấy
cuốn điếu (CU)
Giấy bọc
đầu lọc (CU)
Trang 262.3.2.3 Tiêu chuẩn mẫu thí nghiệm
- Các mẫu thuốc lá điếu được gia công trên máy cuốn điếu Vinataba của nhà máy thuốc lá Thăng Long và được thay đổi các loại phụ liệu khác nhau Tiêu chuẩn của mẫu thí nghiệm phải đạt theo tiêu chuẩn Vinataba
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn sản xuất thuốc điếu Vinataba
5 Giấy vấn Độ thấu khí Chiều rộng giấy vấn mm CU 26,75 35
6 Giấy ghép đầu lọc Độ thấu khí Chiều rộng giấy sáp mm CU <10 52
Trang 27- Xác định tổng hàm lượng chất ngưng tụ:
* Các ký hiệu sau đây được sử dụng:
+ N: là số điếu thuốc của loại thuốc cần hút được lấy theo phương pháp lấy mẫu tại một thời điểm hoặc theo phương pháp lấy mẫu theo giai đoạn;
* Chuẩn bị các điếu thuốc để hút:
Nếu có N điếu thuốc của loại cần hút thì từ tổng số điếu Q sẽ phải chuẩn bị CxN điếu để bảo ôn và đánh dấu đầu mẩu thuốc Để chính xác, thông thường yêu cầu là 80 ≤ N ≤ 100
N điếu thuốc cần hút phải được hút trong n = N/q lần xác định nếu như
q điếu thuốc được hút trên cùng 1 bẫy
* Lựa chọn các phần mẫu thử từ Q điếu thuốc:
Trang 28Nếu mẫu thử ở dạng một mẫu đơn gồm Q điếu, thì CxN điếu sẽ được chọn một cách ngẫu nhiên sao cho từng điếu thuốc đều có khả năng được chọn như nhau
* Chọn các phần thử từ P bao thuốc:
Nếu mẫu thử từ P bao, việc chọn qui trình phụ thuộc vào số lượng điếu
có trong một bao (Q/P) so với q
Nếu Q/P ≥ Cxq, chọn phần tử mẫu thử này bằng cách chọn từng bao một cách ngẫu nhiên, sau đó cũng bằng cách ngẫu nhiên chọn Cxq điếu từ 1 bao
Nếu Q/P < Cxq, chọn số lượng bao ít nhất (k) là
Cxq k
* Đánh dấu chiều dài đầu mẩu:
Trên các điếu thuốc phải đánh dấu chiều dài đầu mẩu chuẩn với 3 độ dài lớn nhất như sau:
- 23mm
- chiều dài đầu lọc + 8 mm
- chiều dài sáp vàng +3 mm Chiều dài đầu lọc phải là giá trinh trung bình của 20 điếu thuốc được lấy từ mẫu phòng thí nghiệm, được đo chính xác đến 0,5mm, giá trị trung bình của 20 lần đo được tính chính xác đến 0,1 mm
Chiều dài của phần giấy sáp là giá trị trung bình của 20 mảnh giấy sáp
được lấy từ phòng thí nghiệm, đo chính xác đến 0,5mm, giá trị trung bình
được tính chính xác đến 0,1mm
Nên sử dụng dụng cụ đánh dấu có đầu mềm và nhẵn để vẽ 2 đường mảnh Vẽ đường thứ nhất cách đầu hút của điếu 9mm, với độ chính xác đến
Trang 290,5mm và vẽ đường thứ 2 theo độ dài của đầu mẩu chuẩn, kể từ đầu hút đối với 1 loại thuốc cụ thể, chính xác đến 0,5mm
* Chọn thuốc lá điếu:
Nên lựa chọn theo khối lượng hoặc theo trở lực của điếu thuốc (hoặc bất
kỳ một thông số nào khác) là cần thiêt do bản chất của vấn đề nghiên cứu, việc lựa chọn không được coi là phương pháp để giảm số lượng điếu cần hút
Bảo ôn tất cả các phần mẫu thử trong môi trường qui định ở ISO 3402 tối thiểu 48h và tối đa là 10 ngày
* Hút và thu nhận chất hạt:
- Chọn phương án hút: phương án hút sẽ chỉ rõ số lượng điếu cần hút trên mỗi bẫy khói (q) và số lượng điếu trong mẫu thử để bảo ôn (CxN)
- Chuẩn bị các bẫy khói và các ống giữ điếu thuốc
- Chuẩn bị máy hút: bật máy và để máy tự khởi động ít nhất 20 phút
- Đo thời gian hút
- Qui trình chiết: Tháo bẫy khói khỏi thiết bị hàn kín, dùng kẹp mở ra
và tháo lấy đĩa lọc Gấp đôi đĩa lọc có chứa tổng hàm lượng chất ngưng tụ ở
Trang 30bên trong Đặt đĩa lọc đã gấp vào bình nón khô, dùng pipet lấy dung môi propanol chứa các chuẩn nội về xác định Nicotin và nước) cho vào bình nón (20ml đối với đĩa 44mm và 50ml đối với đĩa 92mm)
(2 Xác định hàm lượng nước trong dịch chiết của mỗi bình nón theo ISO 10362-1
Chất ngưng tụ khô, D, đối với mỗi bẫy được biểu thị bằng mg/điếu theo công thức tính: D = T – W
trong đó:
- T: tổng hàm lượng chất ngưng tụ, mg/điếu;
- W: hàm lượng nước có trong tổng hàm lượng chất ngưng tụ, mg/điếu
Phương pháp xác định hàm lượng Nicotin trong khói theo tiêu chuẩn (ISO 10315:1991)
- Nguyên tắc:
Hoà tan trong dung môi phần khói ngưng tụ từ luồng khói chính Xác
định hàm lượng Nicotin của một phần dung dịch bằng phương pháp sắc ký khí
và tính hàm lượng Nicotin trong toàn bộ phần ngưng tụ của khói thuốc
- Cách tiến hành:
Chuẩn bị phần mẫu thử bằng cách hoà tan phần ngưng tụ của khói thu
được bằng cách cho hút bằng máy một lượng điếu thuốc đã biết trước vào 20
cm3 dung môi 2-propan đối với đĩa 44 mm hoặc 50 cm3 dung môi đối với đĩa 91mm để thu được nồng độ Nicotin nằm trong dải đồ thị hiệu chuẩn
Lắp đặt thiết bị và vận hành máy sắc ký khí Hiệu chuẩn sắc ký khí Tiến hành xác định: bơm một lượng (2μm) mẫu thử vào sắc ký khí Tính tỷ lệ diện tích (hoặc chiều cao) giữa pic của Nicotin và pic chuẩn nội Tiến hành hai lần xác định trên cùng 1 mẫu thử Tính giá trị trung bình 2 lần xác định
Trang 31 Phương pháp xác định các chỉ tiêu vật lý
- Xác định các chỉ tiêu vật lý của điếu thuốc:
+ Chiều dài điếu thuốc;
+ Đường kính danh nghĩa, TCVN 5077-90 (ISO 2971:1987)
+ Trở lực điếu thuốc, ISO 6565
+ Khối lượng trung bình của các điếu thuốc lá đã được bảo ôn, mg/điếu
2.3.2.5 Bình hút cảm quan - Xử lý số liệu
Các mẫu thuốc lá thí nghiệm được đánh giá bằng phương pháp cho
điểm theo TCN 26 – 01 - 03 Bảng điểm do đề tài xây dựng Hội đồng bình hút của Viện KTKT Thuốc lá thực hiện, các số liệu được xử lý theo phân tích
hệ 2 yếu tố có tương tác (ANOVA: ANALYSIS OF VARIANCE) và thực hiện trên chương trình phần mềm IRRISTAT Version 3.1
2.3.2.6 Các thiết bị phân tích
- Xác định hàm lượng Tar (ISO 4387:1991) và Nicotine (ISO 10315:1991) trên máy hút thuốc điếu Filtrona ASM-500 của Viện KT-KT Thuốc lá
Hình 2.1 Hệ thống hút thuốc điếu Filtrona ASM-500
Trang 32- Xác định các chỉ tiêu vật lý của điếu thuốc trên hệ thống thiết bị QTM-0357 của Viện KT-KT Thuốc lá
Hình 2.2 Hệ thống xác định các chỉ tiêu vật lý QTM-0357
Trang 33Chương III Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1 Khảo sát ảnh hưởng của độ thấu khí giấy cuốn
điếu tới hàm lượng Tar và Nicotin trong khói thuốc
Độ thấu khí của giấy cuốn điếu có ảnh hưởng khá rõ rệt tới hàm lượng Tar và Nicotine trong khói của điếu thuốc Khi độ thấu khí của giấy cuốn điếu tăng dần thì hàm lượng Tar và Nicotine trong khói có xu hướng giảm dần do
độ cháy của giấy tỷ lệ thuận với độ xốp của chúng Tuy nhiên khi độ thấu khí của giấy cuốn điếu quá cao, lượng không khí đi qua bề mặt cháy của điếu thuốc giảm do không khí bị thẩm thấu nhiều qua giấy cuốn dẫn tới số hơi hút lại tăng lên làm cho hàm lượng Tar và Nicotine không những không giảm mà
có thể còn tăng lên
Để khảo sát ảnh hưởng của độ thấu khí của giấy cuốn điếu tới hàm lượng Tar và Nicotine trong khói, chúng tôi tiến hành gia công các mẫu điếu trên cơ sở mác thuốc Vinataba nhưng có sử dụng các loại giấy cuốn điếu có
độ thấu khí 30CU, 35CU (đối chứng), 40CU, 50CU, và 60CU
Đặc trưng của các mẫu điếu:
- Loại sợi: sợi Vinataba
- Chiều dài điếu: 83mm
- Chiều dài đầu lọc: 22mm
- Loại đầu lọc: Xenlulô Axetat (XA) được sử dụng trong mác thuốc lá Vinataba (VinaPack 88)
- Giấy sáp vàng: cùng loại giấy sáp Vinataba (giấy không đục lỗ)
- Thông thoáng đầu lọc: 310 mmH2O
Trang 34- Giấy cuốn điếu: 35CU (Vinataba thương phẩm), 30CU, 40CU, 50CU, 60CU Sử dụng giấy của hãng Papeteries de Maduit (PDM) cung cấp các thông số kỹ thuật của giấy cuốn điếu được trình bày ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Các thông số kỹ thuật của giấy cuốn điếu
Chỉ tiêu kỹ
thuật
Đơn vị Tiêu chuẩn Các loại giấy cuốn
30CU 35CU 40CU 50CU 60CU
- Các đặc trưng khác của điếu tương tự mẫu Vinataba thương phẩm
Mẫu điếu được gia công trên dây chuyền sản xuất mác thuốc Vinataba của nhà máy Thuốc lá Thăng Long
Mẫu được ký hiệu như sau:
Giấy bọc đầu lọc (CU)
Trang 35Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bẳng 3.2 và 3.3
Bảng 3.2 Thông số vật lý của các mẫu sử dụng loại giấy cuốn điếu khác nhau
Mẫu Loại giấy
cuốn
Đo được (CU)
Chu vi điếu (mm)
Trở lực điếu (mmH 2 O)
Độ cứng điếu (%)
116.7
124.1 127.3
Hình 3.1 ảnh hưởng của độ thấu khí giấy cuốn điếu tới trở lực điếu
- Chu vi và độ cứng giữa các mẫu điếu khá đồng nhất cho thấy các mẫu
được gia công đúng yêu cầu thử nghiệm