1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao chỉ số phát triển con người tỉnh tiền giang

90 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu Đánh giá thực trạng tăng trưởng chỉ số phát triển con người ở tỉnh Tiền Giang, và phân tích các yếu tố, những khó khăn bất cập ảnh hưởng đến sự tăng trưởng này đ

Trang 1

KHÁNH HÒA - 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THANH GIANG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TỈNH TIỀN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Trang 2

KHÁNH HÒA - 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN THANH GIANG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TỈNH TIỀN GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài: “Giải pháp nâng cao chỉ số phát triển con người tỉnh

Tiền Giang” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và các kết quả của chưa từng

được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Tiền Giang, ngày 07 tháng 7 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Giang

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban trường Đại học Nha Trang đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Đỗ Thị Thanh Vinh đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Tôi xin chân thành cảm ơn Cục Thống kê, Sở Y tế tỉnh Tiền Giang, đã nhiệt tình cung cấp thông tin trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Tiền Giang, ngày 07 tháng 7 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Giang

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THI ̣ x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Các khái niệm liên quan 5

1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa nghiên cứu của HDI 5

1.1.1.1 Khái niệm về HDI 5

1.1.1.2 Các quan điểm về HDI 6

1.1.1.3 Mục đích và ý nghĩa của HDI 9

1.1.2 Cấu thành tính chỉ số HDI 11

1.1.2.1 Quan điểm 1 11

1.1.2.2 Quan điểm 2 12

1.1.2.3 Quan điểm 3 13

1.2 Phương pháp tính chỉ số HDI hiện nay 14

1.2.1 Cách tính HDI 14

1.2.2 Một số đặc điểm của chỉ số HDI 14

1.3 Phương pháp tính các chỉ số thành phần 14

1 3.1 Chỉ số tuổi thọ trung bình (T) 16

1 3.2 Chỉ số phát triển giáo dục (E) 17

1.3.3 Chỉ số thu nhập (K) 19

1.4 Mối tương quan giữa các chỉ số 21

1.4.1 Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển con người 21

1.4.2 Mối liên hệ giữa phát triển giáo dục và phát triển con người 21

1.4.3 Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển giáo dục 21

1.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan 22

Trang 6

1.5.1 Phương pháp tính chỉ số HDI ở các nước trên thế giới 22

1.5.2 Một số công trình nghiên cứu HDI ở Việt Nam 23

1.6 Khung phân tích của nghiên cứu 24

Tóm tắt chương 1 25

CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đặc điểm địa bàn tỉnh Tiền Giang 26

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 26

2.1.2.Điều kiện kinh tế, xã hội : 27

2.1.3 Tình hình phát triển các ngành, lĩnh vực 29

2.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp chọn mẫu 30

2.4 Loại dữ liệu cần thu thập 31

2.5 Phương pháp và Công cụ phân tích dữ liệu 31

Tóm tắt chương 2 32

CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ 33

3.1 Thực trạng về chỉ số phát triển con người của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011 – 2015 33

3.1.1 Thực trạng chỉ số tuổi thọ 33

3.1.2 Thực trạng chỉ số giáo dục 34

3.1.3 Thực trạng chỉ số thu nhập 36

3.1.4 Tính Chỉ số phát triển con người HDI 40

3.2 Phân tích các chỉ số thành phần ảnh hưởng đến biến động của Chỉ số HDI tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2015 40

3.2.1 Chỉ số tuổi thọ 40

3.2.2 Chỉ số giáo dục 43

3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số thu nhập 46

3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng khác 52

3.3 Khảo sát tình hình chất lượng sống của các hộ gia đình tỉnh Tiền Giang 53

3.4 Phân tích mối quan hệ tương quan giữa các chỉ số thành phần và chỉ số phát triển con người 55

Tóm tắt chương 3 56

Trang 7

CHƯƠNG 4 : ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO CHỈ SỐ HDI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ

XUẤT 57

4.1 Mục tiêu và dự báo phát triển kinh tế-xã hội và con người 57

4.1.1 Các mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế 57

4.1.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh Tiền Giang 57

4.1.1.2 Mục tiêu và định hướng về phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe: 57

4.1.1.3 Mục tiêu và định hướng phát triển nhân lực và giáo dục : 58

4.1.2 Dự báo các chỉ số thành phần và chỉ số HDI 60

4.1.2.1 Dự báo chỉ số tuổi thọ (T) 60

4.1.2.2 Dự báo chỉ số giáo dục (E) 61

4.1.2.3 Dự báo chỉ số thu nhập (K) 61

4.1.2.4 Dự báo chỉ số phát triển con người giai đoạn 2016-2020 61

4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chỉ số HDI 63

4.2.1 Các giải pháp nhằm tăng chỉ số tuổi thọ 63

4.2.2 Các giải pháp nhằm nâng cao chỉ số giáo dục 64

4.2.3 Các giải pháp nhằm tăng chỉ số thu nhập 65

4.3 Một số kiến nghị 66

Tóm tắt chương 4 67

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC

Trang 8

G : Tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên

GDP : Tổng sản phẩm Quốc nội (Gross Dometic Products)

IMR : Tỷ lệ chết của trẻ dưới 1 tuổi

K : GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương

KCN : Khu công nghiệp

KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình

NTM : Nông thôn mới

PPP : GDP thực tế bình quân đầu người theo sức mua tương đương

T : Tuổi thọ

TCTK : Hệ thống tài khoản quốc gia

THCS : Trung học cơ sở

THPT : Trung học phổ thông

UBND : Ủy ban nhân dân

UNDP : Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 : Mô hình phát triển qua các giai đoạn 8

Bảng 1.2 : Giá trị biên của các thành phần tuổi thọ, giáo dục và thu nhập 16

Bảng 3.1 Số tuổi thọ của Việt Nam, ĐBSCL và tỉnh Tiền Giang 33

giai đoạn 2011-2015 33

Bảng 3.2 Chỉ số giáo dục tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2015 35

Bảng 3.3 Chỉ số giáo dục của Việt Nam, ĐBSCL và Tiền Giang, giai đoạn 36

2011-2015 36

Bảng 3.4 Tính GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011 – 2015 (Tính theo giá so sánh 2010 - tỷ giá sức mua tương đương) 38

Bảng 3.5 Tính GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011 – 2015 (Tính theo hệ số trượt giá) 39

Bảng 3.6 Chỉ số Thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương 39

Bảng 3.7 Chỉ số HDI của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2015 40

Bảng 3.8 Mức tăng trưởng tuổi thọ bình quân và chỉ số tuổi thọ của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2015 41

Bảng 3.9 Mức tăng trưởng chỉ số giáo dục giai đoạn 2011-2015 43

Bảng 3.10 : Một số chỉ tiêu về trường, lớp, số học sinh học các cấp năm học 44

2011- 2012 đến năm 2015-2016 của tỉnh Tiền Giang 44

Bảng 3.11 Mức tăng trưởng chỉ số thu nhập tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2015 46

Bảng 3.12 Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đọan 2011-2015 47

Bảng 3.13 Tốc độ tăng GDP bình quân đầu người tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2015 50

Bảng 3.14 Bảng thu nhập bình quân một nhân khẩu, một tháng 51

Bảng 3.15 : Tình hình tham gia BHYT của các hộ gia đình 53

Bảng 3.16 Tương quan giữa các chỉ số thành phần và chỉ số HDI tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011-2015 55

Bảng 4.1 Chỉ số giáo dục tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2016-2020 61

Bảng 4.2 Chỉ số thu nhập tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2016-2020 61

Bảng 4.3 Chỉ số phát triển con người và tương quan giữa các chỉ số thành phần trong giai đoạn 2016-2020 62

Trang 10

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, ĐỒ THI ̣

Hình1.1 Xác định chỉ số HDI bằng trung bình cộng của 3 chỉ số 11

Hình 1.2 Xác định chỉ số HDI bằng trung bình cộng của 4 chỉ số 13

Hình 1.3: Xác định chỉ số HDI bằng trung bình cộng của 5 chỉ số 13

Sơ đồ 1.1 : Khung phân tích của đề tài nghiên cứu 24

Đồ thị 3.1 So sánh xu hướng thay đổi của chỉ số tuổi thọ của tỉnh Tiền Giang 34

Đồ thị 3.2 So sánh xu hướng thay đổi của chỉ số giáo dục tỉnh Tiền Giang 36

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

1 Giới thiệu chủ đề và mục tiêu của nghiên cứu

1.1 Chủ đề nghiên cứu

Theo Quyết định 43/2010/Qđ-TTg ngày 02/6/2010, Thủ tướng Chính phủ, ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia với 350 chỉ tiêu quốc gia được tính toán và công bố hàng năm Trong hệ thống chỉ tiêu này có chỉ tiêu số 300, mã số

1901, Chỉ số phát triển con người phân theo tỉnh, thành phố được tổng hợp và công

bố hàng năm Việc nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao Chỉ số HDI là một việc làm cần thiết nhằm mang lại hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực không chỉ ở cấp vĩ mô mà còn có ý nghĩa ở cấp vi mô (cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)

Là một tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam với phần lớn diện tích của Tỉnh thuộc địa bàn thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình Tuổi thọ bình quân của tỉnh Tiền Giang đạt mức cao, nhưng trình độ giáo dục y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng vẫn còn nhiều hạn chế thiếu thốn … Điều này đang đặt ra rất nhiều đòi hỏi cho việc cải thiện mức sống, chăm lo sức khỏe con người của Nhà nước và Chính quyền địa phương

Với tầm quan trọng như vậy và xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực

tiễn nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao Chỉ số phát triển con

người tỉnh Tiền Giang” để làm luận văn tốt nghiệp cao học, với mong muốn góp phần

cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và chất lượng cuộc sống nói riêng của Tỉnh nhà

Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề liên quan đến chỉ số HDI và các giải pháp để nâng cao chỉ số này

1.2 Mục tiêu của nghiên cứu

Đánh giá thực trạng tăng trưởng chỉ số phát triển con người ở tỉnh Tiền Giang,

và phân tích các yếu tố, những khó khăn bất cập ảnh hưởng đến sự tăng trưởng này đềxuất một số giải pháp nâng cao Chỉ số HDI góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở tỉnh Tiền Giang trong những năm tới

2 Phương pháp sử dụng trong nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu trên, trong quá trình thực hiện luận văn sử dụng các

Trang 12

phương pháp truyền thống:

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp thống kê mô tả

- Phương pháp đối chiếu so sánh

- Phương pháp dự báo xu hướng

- Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Thu thập và xử lý những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia

3 Kết quả nghiên cứu của luận văn

Luận văn được thực hiện góp phần hệ thống hoá được cơ sở lý luận và thực tiễn

về Chỉ số HDI Làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng về Chỉ số phát triển con người tỉnh Tiền Giang Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới Chỉ số phát triển con người của tỉnh Tiền Giang Đề xuất các giải pháp nâng cao Chỉ số phát triển con người trong giai đoạn từ đây đến năm 2020

4 Kết luận và kiến nghị

Việc nghiên cứu xác định Chỉ số HDI tỉnh Tiền Giang là công cụ hỗ trợ hữu ích giúp các cấp lãnh đạo tỉnh trong quản lý và điều hành xã hội, xây dựng các cơ chế chính sách, đề ra các dự báo, định hướng phát triển trong tương lai và các giải pháp thực hiện phù hợp

Tính toán các chỉ số thành phần và chỉ số HDI cho thấy tỉnh đã có sự cải thiện đáng kể chỉ số phát triển con người từ năm 2011 đến nay

Các kết quả dự báo đến năm 2020 cho thấy rằng tỉnh Tiền Giang sẽ tiếp tục duy trì và cải thiện hơn nữa các chỉ số thành phần: chỉ số tuổi thọ, chỉ số giáo dục, chỉ số thu nhập và chỉ số tổng hợp HDI

Mặc dù những thành tựu phát triển này của tỉnh sẽ tiếp tục được duy trì và cải thiện thêm, nhưng phân tích tương quan cho thấy rằng để phát triển hài hòa hơn thì tăng trưởng kinh tế vẫn là điều kiện quan trọng trước hết, bên cạnh sự nghiệp chăm lo con người và phát triển giáo dục là những yếu tố đóng góp lớn vào sự nghiệp phát triển vì con người của Tiền Giang Muốn thế, Chính quyền địa phương cần:

Tiếp tục đẩy nhanh công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang Từng bước nâng cao đời sống và thu nhập của người dân

Thực hiện tốt chiến lược phát triển dân số.Tăng chi đầu tư cho lĩnh vực y tế để xây dựng mới các bệnh viện, phòng khám đa khoa, nâng cao chất lượng công tác

Trang 13

khám chữa bệnh, nhằm giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên Thực hiện xã hội hóa lĩnh vực y tế Đổi mới hệ thống y tế chăm sóc sức khỏe theo hướng công bằng- hiệu quả-phát triển để giảm thiểu mức độ bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư có thu nhập khác biệt và các tầng lớp khác nhau

Tập trung công tác đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo nghề cho lực lượng lao động trẻ, lao động nông thôn, nhằm giải quyết việc làm cho các lực lượng này để

ổn định xã hội, tạo điều kiện phát triển bền vững thực hiện đúng phương châm là ly nông bất ly hương

Từ khóa : Chỉ số phát triển con người, HDI, tuổi thọ, giáo dục, thu nhập,

tỉnh Tiền Giang

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Tài sản thật sự của một quốc gia là con người và mục đích của phát triển con người là tạo môi trường cho người dân được hưởng thụ một cuộc sống trường thọ, mạnh khỏe và kinh tế Con người là vốn quý nhất, là mục tiêu hướng tới của mọi hoạt động

Để đo lường thành tựu phát triển con người, từ năm 1990 chương trình phát triển của Liên hiệp quốc đã đưa ra phương pháp tính Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) và hiện có hơn 177 nước đã thực hiện tính HDI cho mình, nhiều nước tính cả cho cấp tỉnh trên cơ sở phương pháp luận của Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP), trong đó có hầu hết các quốc gia Đông nam châu Á (ASEAN) Mục đích của việc tính toán HDI là tìm ra một số chỉ tiêu tổng hợp phản ánh một cách toàn diện sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia

và vùng lãnh thổ bên cạnh một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp vĩ mô khác như tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP), GDP bình quân đầu người Đồng thời thông qua cấu thành của HDI để phân tích chính sách phát triển kinh tế - xã hội và đề

ra các khuyến cáo góp phần khắc phục tình trạng bất cập giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội

Ở nước ta, quan điểm phát triển con người đã được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) đã đề ra một trong những mục tiêu cụ thể của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là “Nâng lên đáng kể chỉ số phát triển con người ở nước ta” Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục đề ra đường lối chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là:

“Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau” Mục tiêu chủ yếu

về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, đó là: Về kinh tế “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7-8%/năm GDP năm 2020 theo giá so sánh bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010; GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD (đô la Mỹ)”; Về văn hóa xã hội “Xây dựng xã hội dân chủ, kỷ

Trang 15

cương, đồng thuận, công bằng, văn minh Đến năm 2020, Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao của thế giới; tốc độ tăng dân số ổn định ở mức khoảng 1%; tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi; đạt 9 bác sỹ và 26 giường bệnh trên một vạn dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng số lao động xã hội, tỷ lệ nghèo giảm bình quân 1,5-2%/năm; phúc lợi

xã hội, an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cộng đồng được bảo đảm Thu nhập thực

tế của dân cư gấp khoảng 3,5 lần so năm 2010” (Văn kiện Đại hội Đảng, 2011)

Ngày 02/3/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 312/Qđ- TTg,

về việc phê duyệt đề án đổi mới đồng bộ các hệ thống chỉ tiêu thống kê; Ngày 02/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 43/2010/Qđ- TTg, về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, theo Quyết định này có 350 chỉ tiêu quốc gia được tính toán và công bố hàng năm Trong hệ thống chỉ tiêu này có chỉ tiêu số 300, mã số 1901, Chỉ số phát triển con người phân theo tỉnh, thành phố được tổng hợp và công bố hàng năm Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao Chỉ số HDI là một việc làm cần thiết nhằm mang lại hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực không chỉ ở cấp vĩ mô mà còn có ý nghĩa ở cấp vi mô (cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)

Là một tỉnh ven biển thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam với phần lớn diện tích của Tỉnh thuộc địa bàn thành phố Mỹ Tho, Tiền Giang có chất lượng cuộc sống ở mức trung bình Tuổi thọ bình quân của tỉnh Tiền Giang đạt mức cao, nhưng trình độ giáo dục y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng vẫn còn nhiều hạn chế thiếu thốn … Điều này đang đặt ra rất nhiều đòi hỏi cho việc cải thiện mức sống, chăm lo sức khỏe con người của Nhà nước và Chính quyền địa phương

Với tầm quan trọng như vậy và xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực

tiễn nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Giải pháp nâng cao Chỉ số phát triển con người

tỉnh Tiền Giang” để làm luận văn tốt nghiệp cao học, với mong muốn góp phần cho sự

phát triển kinh tế xã hội nói chung và chất lượng cuộc sống nói riêng của Tỉnh nhà

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng kinh tế xã hội và các yếu tố có ảnh hưởng đến Chỉ số HDI,

từ đó đề xuất một số gợi ý chính sách nâng cao chỉ số HDI góp phần phát triển kinh tế

- xã hội bền vững ở tỉnh Tiền Giang trong những năm tới

Trang 16

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao Chỉ số HDI trong giai đoạn từ đây đến năm 2020

3 Câu hỏi nghiên cứu

Luận văn hướng đến việc trả lời cho 3 câu hỏi nghiên cứu sau :

- Đặc điểm dân số, giáo dục, tuổi thọ ở tỉnh Tiền Giang thời gian qua phát triển như thế nào ?

- Thực trạng về chỉ số HDI ở tỉnh Tiền Giang trong thời gian qua như thế nào?

Những thuận lợi, khó khăn, cơ hội thách thức cho việc phát triển con người trong giai đoạn hiện nay của Tỉnh ?

- Các giải pháp nào là chủ yếu nhằm nâng cao chỉ số HDI ở tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn từ đây đến năm 2020 ?

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề liên quan đến chỉ số HDI và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chỉ số này

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng Chỉ số HDI của tỉnh Tiền Giang trong thời gian qua, các nhân tố có ảnh hưởng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao Chỉ số HDI của tỉnh trong giai đoạn từ đây đến năm 2020

- Về không gian: Đề tài tiến hành triển khai nghiên cứu trên phạm vi địa bàn tỉnh Tiền Giang

- Về thời gian: Tìm hiểu thực trạng Chỉ số HDI tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2011- 2015 Các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chỉ số HDI tỉnh được đề xuất cho giai đoạn 2016-2020

Việc điều tra khảo sát các hộ gia đình nhằm có thêm thông tin đánh giá chất lượng cuộc sống người dân được thực hiện từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2016

Trang 17

5 Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

- Về mặt lý luận, sẽ góp phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về Chỉ số phát triển con người và các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số HDI

- Về mặt thực tiễn, sẽ góp phần định hướng các giải pháp nâng cao chỉ số phát triển con người cho Tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2016-2020 Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho địa phương nhằm nâng cao chỉ số HDI trong thời gian tới

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 4 chương :

Chương 1 : Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết

Chương 2 : Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 : Phân tích và thảo luận kết quả

Chương 4 : Định hướng nâng cao chỉ số HDI và một số giải pháp đề xuất

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Khái niệm và ý nghĩa nghiên cứu của HDI

1.1.1.1 Khái niệm về HDI

Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số so

sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của

một quốc gia (hoặc một địa phương) (UNPD, 1990)

HDI được Văn phòng báo cáo phát triển con người (HDRO) của Liên hiệp quốc nghiên cứu từ những năm thuộc thập kỷ 80 và bắt đầu đưa vào tính toán từ năm 1990 Mục đích của việc tính toán HDI là tìm ra một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh một cách toàn diện sự phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ thay thế cho chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương trước đây

Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương tuy khắc phục được vấn đề khác biệt về mệnh giá “đích thực” của chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo giá thực tế Song chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương cũng chỉ phản ánh một yếu tố kinh tế, còn các yếu tố khác như giáo dục,

y tế, môi trường, an toàn xã hội chưa được thể hiện Vì vậy, khi so sánh sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và lãnh thổ với nhau, nếu chỉ sử dụng chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương vẫn hết sức phiến diện Để khắc phục tình trạng trên, Văn phòng báo cáo phát triển con người của Liên hợp quốc đã nghiên cứu chỉ số HDI như một thước đo khá toàn diện làm phương tiện để so sánh sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và vùng lãnh thổ

Từ năm 1990 trở lại đây, hàng năm cơ quan HDRO của Liên hợp quốc đều tiến hành tính toán HDI cho các quốc gia và vùng lãnh thổ làm căn cứ để sắp xếp và đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội (Báo cáo hàng năm của HDRO) Các nước trên thế giới đều có chương trình tính vận dụng chỉ tiêu HDI vào thực tiễn của đất nước mình

Ở Việt Nam, từ năm 1991 trở lại đây trên các cuốn Tạp chí Con số và Sự kiện,

Tờ Thông tin khoa học thống kê và nhiều báo chí trung ương và địa phương đã giới thiệu chỉ tiêu HDI Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia cũng đã phối hợp với một số cơ quan khác tiến hành nghiên cứu tính toán chỉ tiêu HDI Đặc biệt gần

Trang 19

đây, nhằm thống nhất phương pháp, quy trình tính HDI cấp quốc gia, cấp tỉnh thành,

thành phố trực thuộc trung ương Viện Khoa học Thống kê xuất bản cuốn “Phương

pháp và quy trình tính chỉ số phát triển con người cấp quốc gia, cấp tỉnh, thành phố

của Việt Nam” Cuốn tài liệu này được biên soạn dựa trên các kết quả nghiên cứu của

đề tài khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp tính và xây dựng quy trình tính chỉ số phát triển con người ở Việt Nam” do TS Đỗ Thức, Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê làm chủ nhiệm đề tài

1.1.1.2 Các quan điểm về HDI

- Quan điểm của thế giới về HDI

Thực hiện đo lường thành tựu phát triển con người, từ năm 1990, chương trình phát triển của Liên hợp quốc đã đưa ra phương pháp tính Chỉ số phát triển con người Đây là chỉ số tổng hợp phản ánh trình độ phát triển con người, đồng thời phản ảnh mức độ đạt được những khát vọng của loài người về một thế giới mới

Từ các kết quả nghiên cứu thế giới đã thừa nhận rằng tăng trưởng kinh tế chưa hoàn toàn đồng nghĩa với phát triển, mà chỉ là một yếu tố của phát triển, mặc dù đó

là yếu tố quan trọng Phát triển phải là mở rộng phạm vi lựa chọn của con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khoẻ mạnh, có ý nghĩa và xứng đáng với con người Quan điểm này được gọi là phát triển con người, nó bao hàm hai khía cạnh chính là mở rộng các cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực lựa chọn của con người nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, bền vững

Mở rộng cơ hội lựa chọn: Chọn thu nhập cao hơn, nhưng đó chưa phải là duy

nhất, mà còn muốn chọn dịch vụ y tế, giáo dục tốt hơn, điều kiện sống và môi trường

dễ chịu hơn, tham gia và hoà nhập vào cộng đồng Trong số rất nhiều cơ hội lựa chọn thì người dân, đặc biệt là dân nghèo, người lao động phổ thông luôn có quan điểm lựa chọn là sống lâu, khoẻ mạnh, hạnh phúc, được học hành, có việc làm, được hoà nhập và cống hiến cho cộng đồng

Tăng cường năng lực lựa chọn: Năng lực ở đây được hiểu là khả năng đạt đến

các mục tiêu đã chọn Năng lực chính là điều kiện cần thiết để biến các cơ hội trở thành hiện thực, thậm chí còn tạo ra cơ hội mới Tăng cường năng lực con người là trau dồi kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, hay nói rộng hơn là trình độ học thức, học vấn và vận dụng chúng vào cuộc sống

Trang 20

Quan niệm mới về phát triển con người còn bao hàm nhiều khía cạnh (Đặng Quốc Bảo và Trương Thị Thuý Hằng, 2005):

Thứ nhất, Quan niệm này nhấn mạnh mục tiêu của phát triển là vì con người,

vì việc cải thiện chất lượng cuộc sống con người một cách bền vững

Thứ hai, Phát triển con người phải do chính con người thực hiện, có nghĩa là

mọi người dân phải có cơ hội được tham gia tích cực và sáng tạo vào quá trình phát triển Đây cũng chính là một khía cạnh của dân chủ Chính sách Nhà nước phải nhằm vào hướng tạo mọi điều kiện khuyến khích toàn dân tham gia vào quá trình phát triển, khuyến khích các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân đã đi theo hướng này

Cơ chế thị trường có ưu điểm là thúc đẩy nền sản xuất có hiệu quả, mọi người đều có

cơ hội hoạt động, sản xuất kinh doanh, song cũng có nhược điểm đó là sự cạnh tranh khốc liệt, thất nghiệp, bất bình đẳng, suy thoái môi trường, Do vậy cần có sự quản lý của Nhà nước và đường lối phát triển dựa vào thị trường có sự quản lý của Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn và có sự sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta

Thứ ba, Quan niệm mới về phát triển con người dựa trên cách tiếp cận toàn

thể, cụ thể là đề cập đến sự mở rộng không gian lựa chọn bao trùm tất cả các khía cạnh của đời sống xã hội: lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế, môi trường, trong mối liên hệ và tác động qua lại chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi kinh tế Cách tiếp cận toàn thể còn bao hàm nghĩa khác là tính đến tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, tầng lớp, giới tính, quốc tịch hay các thế hệ con người Quan niệm toàn thể còn có nghĩa: phát triển phải là quá trình bền vững, được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác và không được làm tổn hại tới môi trường

Thứ tư, Ở đây đã tách biệt khái niệm phát triển con người và khái niệm phát

triển nguồn nhân lực (hay còn gọi là nguồn vốn con người), mặc dù con người là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy chi tiêu cho con người không phải là tiêu dùng đơn thuần, mà là một khoản đầu tư để hình thành một loại nguồn vốn quan trọng, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai - đó là nguồn vốn con người thông qua việc tạo lập

kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo Đầu tư vào vốn con người được thông qua các hoạt động giáo dục, y tế, bảo đảm việc làm, cuộc sống là cách đầu

tư thiết thực nhất, hiệu quả nhất đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của

Trang 21

mỗi quốc gia Cái khác biệt căn bản giữa phát triển con người và phát triển nguồn nhân lực là ở chỗ trong phát triển con người thì con người là mục tiêu có quyền và có nhu cầu được hưởng thụ, còn trong phát triển nguồn nhân lực thì con người được nhìn nhận như một nguồn vốn cũng như các nguồn vốn khác, dù rằng là quan trọng

Lịch sử loài người đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, song đều hướng tới mục đích chung đó là: "nâng cao giá trị của con người" Gắn liền với từng giai đoạn đó, nền kinh tế thế giới đã trải qua rất nhiều các mô hình phát triển Có thể tóm tắt sự tiến hoá của các mẫu hình phát triển qua các thời kỳ lịch sử như sau:

Bảng 1.1 : Mô hình phát triển qua các giai đoạn

Phó mặc cho phát triển tự do, bỏ qua các nhu cầu thiết yếu

Mở rộng phạm vi lựa chọn và năng lực lựa chọn, nâng cao mức sống tử tế

Cải thiện được nguồn vốn con người, giảm nghèo đói

(Báo cáo phát triển con người Việt Nam, 2001)

Kết quả, về mặt xã hội của quá trình phát triển như vậy là làm nâng cao nguồn vốn con người và giảm tỷ lệ nghèo đói trong dân chúng Nâng cao nguồn vốn con người là ám chỉ nâng cao tuổi thọ của họ, nâng cao sức khoẻ và đặc biệt là nâng cao trình độ dân trí để có khả năng tiếp cận tới mục tiêu mình lựa chọn Về mặt kinh tế của phát triển con người là tạo điều kiện để xã hội phát triển một cách bền vững, môi trường được bảo vệ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn bảo toàn được cho các thế hệ mai sau

Từ những nhận thức ấy, trên góc độ thống kê, để phản ánh phát triển con

Trang 22

người phải có thước đo chuẩn về nâng cao năng lực lựa chọn và mở rộng phạm vi lựa chọ cho con người (thu nhập, tuổi thọ và trình độ tri thức cũng như các khía cạnh liên quan khác) Thước đo chuẩn đó được chương trình phát triển của Liên hợp quốc sử dụng chính là Chỉ số phát triển con người

- Quan điểm của Việt Nam về chỉ số HDI:

Trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn khẳng định: con người là trung tâm của phát triển, con người là mục tiêu và đồng thời cũng là động lực của sự phát triển

1.1.1.3 Mục đích và ý nghĩa của HDI

* Mục đích của việc tính toán chỉ số HDI:

+ Để so sánh một cách tổng hợp tình hình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới Hằng năm, dựa vào kết quả tính toán chỉ số HDI cho vùng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ, cơ quan HDRO tiến hành xếp hạng trình độ phát triển kinh tế

xã hội Theo các báo cáo của HDRO trong năm 2015, chỉ số HDI mới tính toán cho

188 quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trong số hơn 200 nước trên thế giới Tại Việt Nam, chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương xếp vào nhóm 25 quốc gia nghèo nhưng chỉ số HDI ở mức trung bình (trên 100).(Báo cáo phát triển con người Việt Nam, 2001)

+ Để phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội

Công thức tính HDI trên cơ sở lấy số bình quân của ba chỉ số thành phần Tuổi thọ (T); Tri thức (E) và GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương (K) sẽ cho nhận xét cụ thể về các mặt sau:

Nếu 2 nước có cùng một chỉ số HDI như nhau, nhưng các chỉ số thành phần (T, E

và K) khác nhau sẽ có những nhận xét như sau:

Trang 23

+ Nếu T1

> T2 và K1 = K

2 kéo theo E1 < E2 thì chúng ta dễ dàng rút ra nhận xét: Tuy hai nước có mức độ phát triển như nhau, nhưng nước thứ nhất chú trọng nhiều đến các vấn đề môi trường, xã hội, còn nước thứ hai chú trọng đến vấn

đề giáo dục

Với cách làm tương tự, có thể đi sâu phân tích nhiều ngữ cảnh khác nhau và đưa ra những khuyến cáo có giá trị về chính sách, kinh tế, xã hội, môi trường và văn hoá

* Ý nghĩa của chỉ số HDI

+ HDI là thước đo tổng hợp đo lường trình độ phát triển của thế giới, của một khu vực, một quốc gia, hay là một vùng, một tỉnh, một địa phương, thay thế cho tiêu chí phát triển chỉ thuần tuý sử dụng tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua GDP;

+ Vì là thước đo tổng hợp sự phát triển, nên HDI được sử dụng để làm công cụ quản lý và đề ra chính sách Trên cơ sở tính toán HDI và các chỉ số thành phần, các nhà quản lý và những người đề ra chính sách dễ dàng phát hiện những khía cạnh non yếu để từ đó có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao năng lực lựa chọn cho

người dân và mở rộng phạm vi lựa chọn cho người dân; (Báo cáo phát triển con người Việt Nam, 2001)

+ HDI được sử dụng làm một trong những chỉ tiêu thống kê quan trọng của các

hệ thống chỉ tiêu phát triển của thế giới, của các khu vực, các hiệp hội, như của Liên hợp quốc, ASEAN, vv

+ HDI được đưa vào mục tiêu phấn đấu trong các Chiến lược phát triển ngắn hạn, trung hạn cũng như dài hạn của các quốc gia;

+ HDI được sử dụng trong các công trình phân tích kinh tế - xã hội;

+ HDI được sử dụng để so sánh quốc tế trình độ phát triển giữa các khu vực, các nhóm nước, các quốc gia, hay thậm chí giữa các vùng và các tỉnh, thành phố trong một quốc gia

Như vậy, việc tính toán HDI ở nước ta hiện nay đã trở thành vấn đề cấp thiết để theo dõi quá trình thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng và Chính phủ đề ra, để so sánh quốc tế trình độ phát triển ở nước ta với các nước khác, để hội nhập với cộng đồng quốc tế, nhất là ở giai đoạn hiện nay của quá trình

Trang 24

công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước trong bối cảnh toàn cầu hoá

1.1.2 Cấu thành tính chỉ số HDI

Hiện nay, trên thế giới đã và đang sử dụng một số mô hình sau để tính HDI:

1.1.2.1 Quan điểm 1

Xác định chỉ số HDI theo mô hình 3 nhân tố - Mô hình tam giác: phản ánh

cấu thành gồm: Sức khoẻ (Tuổi thọ) - Giáo dục - Thu nhập

- Về sức khoẻ: nói chung nếu con người khoẻ mạnh thì cuộc sống sẽ trường

thọ Ngược lại, trường thọ là một biểu hiện của một cơ thể khoẻ mạnh Vì vậy, sức khoẻ được “lượng hoá” bằng chỉ tiêu tuổi thọ trung bình hay còn gọi là kỳ vọng sống trung bình được tính từ khi sinh ra

- Về giáo dục: được đánh giá bằng kiến thức, hay còn gọi là trình độ tri thức, là

sự tổng hợp theo tỷ lệ biết chữ của người lớn (với quyền số 2/3) và tỷ lệ nhập học của tất cả các cấp (tiểu học, trung học và sau trung học với quyền số tổng cộng chung

là 1/3);

- Về thu nhập: được đo bằng giá trị GDP bình quân đầu người thực tế theo sức mua

tương đương (PPP và thường đưa về USD)

HDI được xác định bằng trung bình cộng của 3 chỉ số thành phần: Chỉ số tuổi thọ, Chỉ số giáo dục và Chỉ số thu nhập

Mô hình 3 nhân tố

Hình1.1 Xác định chỉ số HDI bằng trung bình cộng của 3 chỉ số

(Nguyễn Thị Đông Mai, 2010 )

Chỉ số Tuổi thọ

HD

Chỉ số

Thu nhập

Trang 25

1.1.2.2 Quan điểm 2

Xác định chỉ số HDI theo mô hình 4 nhân tố - Mô hình hình thoi: bao gồm Sức

khoẻ - Giáo dục - Thu nhập và Lành mạnh xã hội

Trong quá trình tính chỉ số HDI của các nước trên thế giới, hàng loạt câu hỏi đã được đặt ra: phải chăng học vấn, sức khoẻ và mức sống đã đo lường chính xác và đầy

đủ sự phát triển của con người Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới vấn đề an toàn

xã hội hay còn gọi là lành mạnh xã hội đang đặt ra nhiều thách thức với nhiều loại tệ nạn xã hội như: tội phạm các loại, gái mại dâm, tệ nạn nghiện hút ma tuý, tình hình nhiễm HIV … Điều này cho thấy, phát triển con người không những cần làm cho kinh

tế, giáo dục, y tế phát triển, môi trường tự nhiên trong lành mà còn phải đẩy lùi tội phạm và tệ nạn xã hội, tạo sự lành mạnh cho xã hội

Xét từ quan điểm con người, tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn nghiện hút ma tuý có tác động trực tiếp làm giảm tất cả các chỉ số kinh tế, giáo dục và tuổi thọ

Với chỉ số thu nhập (kinh tế), một người nghiện hút không thể làm việc với cường độ và năng suất cao mà còn dẫn tới bỏ bê rồi nghỉ việc, lang thang, không tham gia lao động Bản thân người đó đã không tham gia phát triển kinh tế cho gia đình và

để có tiền mua ma tuý đã sinh ra trộm cắp, thậm chí giết người, cướp của cá nhân, tập thể, cộng đồng…

Với chỉ số giáo dục, nếu người nghiện hút là học sinh thì sẽ dẫn đến bỏ học, nếu đối tượng nghiện hút là cha mẹ thì con cái trong gia đình không được quan tâm đến học hành và cũng dẫn đến bỏ học

Với chỉ số tuổi thọ (sức khoẻ), điều hiển nhiên mọi người đều biết là những người nghiện hút thường có tuổi thọ thấp do sức khoẻ suy kiệt Bên cạnh đó, do tiêm chích và sinh hoạt bừa bãi, những người nghiện hút rất dễ lây nhiễm HIV/AIDS cho cộng đồng Như vậy, những cái chết từ các căn bệnh này đã làm giảm chỉ số tuổi thọ của xã hội

Cũng từ những phân tích trên, nhiều nước trên thế giới đã tính thêm chỉ số Lành mạnh xã hội nhằm phản ánh khả năng phòng ngừa tệ nạn của cộng đồng

Chỉ số HDI theo quan điểm này được xác định bằng trung bình cộng của 4 chỉ số: Chỉ số tuổi thọ, Chỉ số giáo dục, Chỉ số thu nhập và Chỉ số lành mạnh xã hội

Trang 26

Mô hình 4 nhân tố

Hình 1.2 Xác định chỉ số HDI bằng trung bình cộng của 4 chỉ số

(Nguyễn Thị Đông Mai, 2010)

1.1.2.3 Quan điểm 3

Xác định chỉ số HDI theo 5 nhân tố - Mô hình hình sao Bao gồm: Tuổi thọ - Giáo dục - Thu nhập - Lành mạnh xã hội và Phát triển văn hoá cộng đồng

Mô hình 5 nhân tố

Hình 1.3: Xác định chỉ số HDI bằng trung bình cộng của 5 chỉ số

(Nguyễn Thị Đông Mai, 2010)

Chỉ số tuổi thọ

Chỉ số Phát triển VH

Chỉ số Lành mạnh xã hội

Chỉ số tuổi thọ

Chỉ số thu nhập

Chỉ số giáo dục HDI

Chỉ số Lành mạnh

xã hội

Trang 27

1.2 Phương pháp tính chỉ số HDI hiện nay

1.2.1 Cách tính HDI

Từ năm 2009 trở về trước, Liên hợp quốc tính HDI theo công thức Bình quân cộng giản đơn từ 3 chỉ số thành phần: thu nhập (GDP), tri thức (giáo dục), sức khoẻ (tuổi thọ) Công thức tính như sau:

HDI = (T + E + K)/3 (1.1)

Từ năm 2010, HDRO đã thay đổi nội dung trong việc tính toán HDI đó là: HDI không tính theo công thức bình quân cộng giản đơn, mà tính theo công thức bình quân nhân giản đơn với lý do: Việc chuyển từ bình quân cộng giản đơn sang bình quân nhân giản đơn, nhằm khuyến khích sự phát triển đồng đều giữa các lĩnh vực kinh tế, giáo dục và nâng cao tuổi thọ Về mặt toán học có thể thấy, khi một quốc gia

có cùng trị số HDI nếu tính theo bình quân số học giản đơn của 3 chỉ số thành phần giống nhau, thì quốc gia nào có trị số các chỉ số thành phần đồng đều nhau hơn sẽ nhận được chỉ số HDI tính theo bình quân nhân giản đơn cao hơn

Công thức tính như sau:

HDI = (T + E + K) 1/3 (1.2)

Ở Việt Nam hiện nay đang dùng phương pháp tính chỉ số phát triển con người theo 3 nhân tố (tính HDI theo công thức Bình quân cộng giản đơn từ 3 chỉ số thành phần)

1.2.2 Một số đặc điểm của chỉ số HDI

Các chỉ số thành phần tức chỉ số tuổi thọ, chỉ số giáo dục, chỉ số GDP, chỉ số lành mạnh xã hội và chỉ số phát triển văn hoá cộng đồng đều đóng góp như nhau vào trị giá của Chỉ số phát triển con người HDI; 0 < HDI < 1; HDI càng gần 1 thì trình độ phát triển con người càng cao và ngược lại

1.3 Phương pháp tính các chỉ số thành phần

Chỉ số phát triển con người là chỉ số tổng hợp phản ánh sự phát triển của con người trên các phương diện sức khoẻ (thể hiện qua tuổi thọ bình quân tính từ lúc sinh), tri thức (thể hiện qua chỉ số học vấn) và thu nhập (thể hiện qua tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người) Chỉ số HDI đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo

ba tiêu chí sau:

Trang 28

1 Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, được đo bằng Tuổi thọ trung bình (đơn vị tính: năm)

2 Học vấn: được đo bằng Tỷ lệ người lớn biết chữ (đơn vị tính: %) và Tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học, đại học (đơn vị tính: %)

3 Mức sống: được đo bằng GDP thực tế bình quân đầu người (GDP tính theo sức mua ngang giá) (đơn vị tính: PPP/USD)

Chỉ số HDI là một thước đo tương đối tổng hợp, vượt ra khỏi khía cạnh kinh tế thuần tuý về sự phát triển, bổ sung cho thước đo GDP Chỉ số HDI không chỉ phản ánh trạng thái và những tiến bộ về phát triển con người, mà còn là một căn cứ để xác định

và lựa chọn các mục tiêu và chính sách phát triển Chỉ số HDI là một chỉ số trung bình,

do đó, cũng như GDP, nó có thể che lấp các quá trình phân phối, tình trạng bất bình đẳng, hay sự khác biệt về phát triển con người giữa các vùng và các nhóm dân cư Các khía cạnh chất lượng của các yếu tố cấu thành HDI cũng khó có thể phản ánh đầy đủ: trình độ giáo dục thật ra không chỉ thể hiện bằng tỷ lệ biết chữ hay số năm đi học mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chất lượng giáo dục, khả năng và cơ hội lựa chọn của người học, đặc biệt với giáo dục bậc cao Nhận xét này cũng có thể áp dụng cho các yếu tố khác của HDI

Tuy nhiên, cho đến nay, chỉ số phát triển con người HDI vẫn là một chỉ số tốt nhất được dùng để đánh giá sự phát triển con người Chỉ số này dù chỉ được biểu diễn bởi một con số nhưng nó phản ánh tổng hợp thành tựu kinh tế - xã hội cả về số lượng

và chất lượng, là một thước đo mang tính nhân văn có ý nghĩa thời đại để quản lý phát triển kinh tế - xã hội cộng đồng

Quy tắc chung để tính các chỉ số thành phần là sử dụng các giá trị tối thiểu và tối

đa (còn gọi là các giới hạn mục đích hay các giá trị trên) cho từng chỉ số và áp dụng công thức sau:

Các giá trị tối đa và tối thiểu (giá trị biên) được đặt ra với từng chỉ tiêu thành phần Các giá trị tối đa phản ánh các mục tiêu phát triển và các giá trị tối thiểu là những cận dưới của sự phát triển (Đặng Quốc Bảo và Trương Thị Thuý Hằng, 2005)

Trang 29

Bảng 1.2 : Giá trị biên của các thành phần tuổi thọ, giáo dục và thu nhập

Chỉ tiêu ĐVT Giá trị tối đa Giá trị tối thiểu

GDP bình quân đầu người USD/người 40.000 100

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người Việt Nam, 2001)

Những con số này là những giá trị tối đa và tối thiểu của các chỉ tiêu thành phần, được rút ra từ các thống kê thực tế được theo dõi nhiều năm của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

1 3.1 Chỉ số tuổi thọ trung bình (T)

Tuổi thọ trung bình của dân số là số năm trung bình mà một đứa trẻ khi sinh ra

có thể sống được nếu như trong cuộc đời của mình, đứa trẻ đó có mức độ chết (nguy

cơ chết) theo độ tuổi như mức độ chết theo tuổi (tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi) của thời kỳ lập bảng sống Bảng sống là một biểu thống kê bao gồm những chỉ tiêu mô tả một cách hoàn thiện nhất mức độ chết của dân số Nhờ bảng sống ta có thể mô tả “trật

tự chết” của một tập hợp dân số trong cuộc đời kể từ khi sinh ra Tuổi thọ trung bình của dân số là một trong những chỉ tiêu cơ bản của bảng sống, được tính bằng cách lấy tổng số năm mà toàn bộ thế hệ sống được chia cho tổng số sinh ban đầu của thế hệ đó (Đặng Quốc Bảo và Trương Thị Thuý Hằng, 2005)

Chỉ số tuổi thọ trung bình đo thành tựu tương đối về tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh của một quốc gia hay địa phương Công thức tính chỉ số tuổi thọ trung bình như sau:

T = (1.4)

Để tính được tuổi thọ bình quân người ta đã sử dụng phương pháp sau:

- Phương pháp ước lượng gián tiếp qua số liệu về tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi

và tỷ lệ dân số trên 65 tuổi

Công thức tính tuổi thọ trung bình:

Tuổi thọ trung bình = 73,1 -194 x IMR + 70G (1.5) Trong đó: IMR là tỷ lệ chết của trẻ dưới 1 tuổi (tính bằng ‰); G là tỷ lệ dân số từ

Trang 30

- Phương pháp dựa vào tuổi trung vị

1 3.2 Chỉ số phát triển giáo dục (E)

Chỉ số phát triển giáo dục của một cộng đồng phản ánh trạng thái phát triển giáo dục cộng đồng trong mối quan hệ với các khía cạnh của phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế học giáo dục xuất phát từ quan điểm “Giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực cho sự phát triển” nên coi chỉ số phát triển giáo dục vừa biểu thị tình trạng phúc lợi giáo dục – một phúc lợi quan trọng mà cư dân cộng đồng được thụ hưởng vừa biểu thị tiềm năng của giáo dục có thể tác động vào sự gia tăng của thu nhập kinh tế

Công thức tính chỉ số tri thức phản ánh thành tựu giáo dục là:

E = (2/3) Ibiết chữ + (1/3) Inhập học (1.6)

Trong đó:

I biết chữ : Chỉ số biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên);

I đi học : Chỉ số đi học các cấp giáo dục

Chỉ số giáo dục được tính từ 2 chỉ số thành phần: chỉ số biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên); và chỉ số đi học các cấp giáo dục (từ tiểu học đến đại học) theo phương pháp bình quân số học gia quyền Chỉ số biết chữ của người lớn có quyền số

là 2, chỉ số đi học các cấp giáo dục có quyền số là 1, vì HDI chủ yếu xem xét đánh giá trình độ phát triển mà trong đó trình độ dân trí đóng vai trò quan trọng

+ Chỉ số biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên), tính theo công thức

Trang 31

:Tỷ lệ người lớn biết chữ ti thiểu (0)

Trong đó:

X biết chữ : Dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ;

X dân số : Dân số từ 15 tuổi trở lên

+ Chỉ số đi học các cấp giáo dục (từ tiểu học đến đại học), tính theo công thức

X đi học : Số người đi học từ cấp tiểu học đến đại học;

X khung tuổi : Dân số từ 6 đến 24 tuổi

Với cách tính này thì E có Max = 1 và Min = 0

Phân loại chỉ số phát triển giáo dục thành 3 mức sau:

E ≥ 0,75: mức cao

0,5 < E < 0,75: mức trung bình

E < 0,5: mức thấp

Theo lý luận về chỉ số HDI: việc tính tỷ lệ nhập học sau trung học chỉ tính cho

số người là nhân khẩu thực tế thường trú trên địa bàn tỉnh (tức là tính số học sinh, sinh viên đang theo học các trường trung học chuyên nghiệp trở lên đóng trên địa bàn tỉnh) Nếu theo cách tính này, thì các thành phố lớn có tỷ lệ nhập học sau trung học rất lớn, còn các tỉnh nhỏ và các tỉnh miền núi thì tỷ lệ nhập học sau trung học là rất nhỏ, điều này không phản ánh đúng thực trạng giáo dục đào tạo sau trung học của các tỉnh, thành phố

Trang 32

1.3.3 Chỉ số thu nhập (K)

Để so sánh các các giá trị thực tế về thu nhập giữa các nước, các số liệu trước hết phải được chuyển về cùng một đơn vị tiền tệ Do đó, GDP thực tế tính trên đầu người được tính theo tỷ giá trao đổi theo sức mua tương đương (PPP) Việc chuyển đổi GDP thực tế của các nước theo tỷ giá PPP loại trừ được sự khác biệt về mức giá giữa các nước, qua đó cho phép so sánh các giá trị thực tế về thu nhập giữa các nước

Để tính được chỉ số trên chúng ta cần làm sáng tỏ một số khái niệm sau:

- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là toàn bộ sản phẩm vật chất và dịch vụ do tất

cả các ngành kinh tế mới sáng tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Nói cách khác GDP bằng tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế và thành phần kinh tế cộng với thuế nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài Hiện nay chỉ tiêu GDP của các tỉnh, thành phố được tính theo 2 loại giá: giá so sánh và giá hiện hành (Đặng Quốc Bảo và Trương Thị Thuý Hằng, 2005)

Các phương pháp tính GDP: Hiện nay, người ta thường tính GDP theo ba phương pháp sau:

- Tính GDP theo phương pháp sản xuất:

GDP = Tổng giá trị sản xuất - Tổng chi phí trung gian +Thuế nhập khẩu

- Tính GDP theo phương pháp thu nhập (còn gọi là phương pháp phân phối): GDP=Tổng các yếu tố trong giá trị tăng thêm của các ngành kinh tế+Thuế nhập khẩu

- Tính GDP theo phương pháp tiêu dùng cuối cùng: GDP = C+I+E-M

Trong đó: C là tiêu dùng cuối cùng;

Trang 33

Nhằm phản ánh thành tựu trung bình của mỗi quốc gia trên phương diện mức sống của sự phát triển con người, Báo cáo phát triển con người của UNDP từ năm

1990 đến nay đã sử dụng chỉ tiêu GDP thực tế bình quân đầu người theo sức mua tương đương (PPP$) để tính chỉ số GDP, một trong những chỉ số thành phần của HDI

Sức mua tương đương là khả năng mua được một “rổ” hàng hoá và dịch vụ xác định của các loại đồng tiền Các loại nội tệ nhân với sức mua tương đương này sẽ được chuyển thành USD-PPP GDP các nước tính theo nội tệ nhân với sức mua PPP này sẽ được chuyển thành GDP theo USD-PPP Khi tính HDI người ta sử dụng số liệu này

- GDP thực tế bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương của một nước được chuyển đổi sang Đôla Mỹ trên cơ sở tỷ giá sức mua ngang bằng

Trong chỉ số HDI, chỉ số thu nhập (K) đóng vai trò là đại diện cho mọi thước đo khác về sự phát triển con người chưa được phản ánh trong các thước đo về tuổi thọ hay kiến thức GDPPPP bình quân đầu người đạt đến một mức độ nhất định là có thể thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người Vượt lên trên giới hạn đó, thì tác dụng của thu nhập không tăng lên theo tỷ lệ thuận mà sẽ hạn chế dần Do đó, thu nhập sẽ được điều chỉnh vì để đạt được một mức độ đáng kể về sự phát triển con người không nhất thiết cần tới một khoản thu nhập vô hạn

Khi tính được thu nhập bình quân đầu người ta tính chỉ số thu nhập Chỉ số thu nhập được tính theo công thức

Trang 34

1.4 Mối tương quan giữa các chỉ số

Chúng ta có thể phân tích mối tương quan giữa các chỉ số dưới nhiều góc độ khác nhau như: so sánh xếp hạng của các chỉ số; xem xét chênh lệch giá trị của các chỉ

số và so sánh với giá trị trung bình của tổng thể; tính hệ số giữa các chỉ số hay phân tích hồi quy các chỉ số dưới dạng phương trình

1.4.1 Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển con người

Hệ số giữa chỉ số phát triển kinh tế (K) và chỉ số phát triển con người HDI (H),

hệ số (K/H), phản ánh sự đóng góp của chỉ tiêu tăng trưởng/phát triển kinh tế vào phát triển con người (Nguyễn Thị Phương Mai,2009)

- Nếu một quốc gia hay địa phương nào có hệ số (K/H) ≥ 0,75 thì được xem là có đạt mức tương quan trung bình về phát triển kinh tế - phát triển con người; phần đóng góp của kinh tế vào phát triển con người đạt mức trung bình

- Nếu (K/H) < 0,75 thì tương quan này là thấp, kinh tế đóng góp, tác động còn ít vào phát triển con người

1.4.2 Mối liên hệ giữa phát triển giáo dục và phát triển con người

Mối quan hệ giữa phát triển giáo dục và phát triển con người biểu thị qua hệ số (E/H) Giá trị của hệ số này biểu đạt phần đóng góp của nhân tố giáo dục vào chỉ số phát triển con người của cộng đồng (Nguyễn Thị Phương Mai, 2009)

- Một cộng đồng có chỉ số phát triển giáo dục E ≥ 0,75 và 0,95 ≤ (E/H) ≤ 1,05 thì chứng tỏ giáo dục có sự đóng góp khá hợp lý vào thành quả HDI của cộng đồng

- Nếu (E/H) ≤ 0,95 thì cộng đồng cần lưu ý cải thiện trạng thái phát triển giáo dục để cư dân được nâng cao mức thụ hưởng giáo dục trong tương quan với các nhân

tố tham gia vào chỉ số phát triển con người

- Nếu H < 0,8 và (E/H) ≥ 1,05 thì có hiện tượng nhân tố giáo dục đã lấn phần đóng góp của nhân tố kinh tế và nhân tố tuổi thọ vào phát triển con người

1.4.3 Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển giáo dục

Hệ số giữa chỉ số phát triển kinh tế và phát triển giáo dục (K/E) phản ánh tình trạng tương quan của giáo dục so với phát triển kinh tế của cộng đồng

Trạng thái phát triển giáo dục của một cộng đồng có tính bền vững khi chỉ số phát triển giáo dục (E) ≥ 0,75 trở lên và đồng thời chỉ số E và chỉ số K luôn luôn phải xấp xỉ với nhau Khi đó giáo dục và kinh tế khớp nhịp nhau trong động thái phát triển; phát triển giáo dục không vượt quá xa hoặc không tụt hậu lại sau so với phát triển kinh

Trang 35

tế Điều đó có nghĩa là hệ số (K/E) dao động xung quanh mức “1” (Nguyễn Thị Phương Mai, 2009)

Kinh tế học giáo dục phân thành các chỉ báo sau đây:

- Khi E ≥ 0,75 và 0,9 ≤ (K/E) ≤ 1,1 thì động thái phát triển kinh tế và giáo dục có tính tương quan cao, sự phát triển giáo dục bền vững

- Khi E ≥ 0,75 và 0,75 ≤ (K/E) ≤ 0,9 thì động thái phát triển kinh tế và giáo dục

có tính tương quan trung bình, sự phát triển của giáo dục có xu thế đi vào bền vững

- Khi E ≥ 0,75 và 0,5 ≤ (K/E) ≤ 0,75 thì động thái phát triển kinh tế và giáo dục

có tính tương quan thấp, sự phát triển giáo dục tuy có giá trị cao song chưa thật bền vững

- Khi E ≥ 0,75 và 0,45 ≤ (K/E) ≤ 0,5 hoặc 0,70 ≤ E ≤ 0,75 mà (K/E) ≥ 0,5 thì động thái phát triển kinh tế và giáo dục xuất hiện dấu hiệu bước vào sự tương quan thấp

- Khi E < 0,75 hoặc (K/E) ≤ 0,45 thì phát triển kinh tế và giáo dục chưa có dấu hiệu tương quan: giáo dục phát triển còn chậm, kinh tế và giáo dục có độ lệch lớn

1.5 Các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan

1.5.1 Phương pháp tính chỉ số HDI ở các nước trên thế giới

Hàng năm UNDP soạn thảo báo cáo phát triển con người (HDR) toàn cầu nhằm tính toán, phân tích, so sánh và xếp hạng HDI và các chỉ số đồng hành khác cho 177 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có Việt Nam Trong báo cáo nêu rõ phương pháp tính cụ thể cho từng chỉ số thành phần cũng như các chỉ số tổng hợp, những thay đổi đã được áp dụng trong quá trình nghiên cứu và xem xét lại cho phù hợp với hoàn cảnh số liệu chung của các quốc gia, đồng thời có đề cập tới giải thích thống kê và nguồn số liệu mà UNDP sử dụng

Thông thường hàng năm UNDP chủ động tính toán chỉ số HDI cho các quốc gia Bên cạnh đó, các quốc gia cũng tự tính toán chỉ số HDI cho quốc gia mình Do nguồn

số liệu khác nhau khi tính toán chỉ số HDI giữa UNDP và các quốc gia, nên có sự khác nhau về độ chính xác của các kết quả tính toán Số liệu để tính toán lấy ở các thời điểm khác nhau cũng là nguyên nhân gây ra sự chênh lệch về kết quả Trình độ thống kê của các quốc gia có sự chênh lệch đã ảnh hưởng đến chất lượng số liệu thống kê

Như vậy, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong tính toán HDI trên thế giới như sau:

Trang 36

- Trong quá trình tính toán HDI không cứng nhắc mà có sự linh hoạt

- Phương pháp tính HDI do UNDP đưa ra chỉ mang tính nền tảng cho các nước chứ không bắt buộc và để các quốc gia tự quyết định cho mình một sự lựa chọn phù hợp với thực trạng thống kê hiện có

1.5.2 Một số công trình nghiên cứu HDI ở Việt Nam

Đã có khá nhiều nhà khoa học công bố các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam có liên quan đến Chỉ số HDI, có thể kể đến như :

* Đặng Quốc Bảo và Trương Thị Thuý Hằng (2005) Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI – Cách tiếp cận và một số kết quả nghiên cứu

Cuốn sách này được hình thành trên cơ sở tư liệu và kết quả nghiên cứu của đề tài KX.05.05 "Nghiên cứu, phân tích các chỉ số phát triển con người (HDI) của người Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005” với sự cộng tác của một số nhà nghiên cứu, chuyên gia, nhà quản lý và hoạt động thực tiễn Đây là tập hợp những báo cáo chuyên đề của các tác giả tham gia đề tài KX.05.05 liên quan tới khía cạnh kinh tế trong HDI

* Đặng Quốc Bảo và Trương Thị Thuý Hằng (2005) Chỉ số tuổi thọ trong HDI – Một số vấn đề thực tiễn Việt Nam

Cuốn sách này chọn lọc và giới thiệu một số kết quả thuộc các chuyên đề nghiên cứu và tính toán chỉ tiêu tuổi thọ trung bình liên quan tới HDI ở cấp toàn quốc, tỉnh, thành phố và cấp huyện, quận ở nước ta cũng như kinh nghiệm của một số nước trên thế giới liên quan tới khía cạnh tuổi thọ trong HDI với mục đích góp thêm tư liệu làm sáng tỏ hơn phương pháp luận và kỹ thuật tính toán HDI trong hoàn cảnh đặc thù Việt Nam, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phục vụ yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta

* Trần Thanh Tâm (2002) Báo cáo kết quả đề tài “Nghiên cứu, đo đạc, phân tích HDI An Giang năm 2002”

Mục tiêu của công trình: thu thập, đo đạc, tính toán HDI cho 11 huyện, thị, thành phố và toàn tỉnh An Giang năm 2002, phân tích kết quả để qua đó tìm giải pháp nâng cao HDI của tỉnh và từng địa phương, hướng sự phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, nhân bản và vì con người

* Hồ Thiệu Hùng (2003), Đề tài khoa học “Nghiên cứu một số chỉ tiêu chất lượng sống năm 2002 của Thành phố Hồ Chí Minh”

Mục tiêu chính của công trình nghiên cứu này là cung cấp luận cứ khoa học cho

Trang 37

hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của thành phố

Hồ Chí Minh và các quận, huyện, góp phần tích cực vào việc khắc phục dần tình trạng chạy theo thành tích trong lập kế hoạch tương lai, coi đây là dịp để các nhà chuyên môn thành phố, quận huyện thực tập áp dụng thước đo mà thế giới đã có trong thời hiện đại

Ngoài ra, còn có khá nhiều công trình nghiên cứu khác có liên quan đến chỉ số HDI ở Việt Nam như : bài báo khoa học của Đào Minh Hương (2014) “Phát triển con người từ gốc độ chăm sóc sức khỏe: Một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay”;

bài báo khoa học của Mai Quỳnh Nam (2013), “Các kết luận được rút ra từ chương

trình nghiên cứu: Một số vấn đề cơ bản về phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2011-2020”; bài báo khoa học của Trịnh Thị Kim Ngọc (2014) “Những cơ hội và thách thức về dân số và nguồn lực tác động đến phát triển con người Việt Nam giai đọan 2015-2020” cũng như Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Phương Mai (2009),

“Mối tương quan giữa các chỉ số phát triển con người, phát triển kinh tế và phát triển giáo dục ở Đồng bằng Sông Cửu Long”

Các công trình nêu trên đã phân tích, làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của Chỉ

số phát triển con người, các chỉ số thành phần và mối tương quan giữa chúng theo nhiều góc độ khác nhau, có những đóng góp quan trọng về cả lý luận lẫn thực tiễn Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về HDI và các giải pháp nâng cao chỉ số HDI ở tỉnh Tỉnh Tiền Giang

1.6 Khung phân tích của nghiên cứu

Luận văn được thực hiện theo khung phân tích tổng thể như sau :

Đánh giá

- Thực trạng HDI của Tiền Giang

- So sánh HDI của Tiền Giang với cả

nước và một số tỉnh lân cận

và y tế

- Phát triển văn hoá xã hội

- Giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường

- Phân tích sự biến động của chỉ số HDI (Biến động

về chỉ số tuổi thọ; chỉ số thu nhập; chỉ

số giáo dục)

- Các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ

số thành phần của HDI

Trang 38

Tóm tắt chương 1

Chương 1 làm rỏ các khái niệm liên quan đến chỉ số phát triển con người, mục tiêu và ý nghĩa của việcnghiên cứu chỉ số HDI Các quan điểm trong cấu thành, cách tính chỉ số HDI của thế giới và của Việt Nam cũng như đưa ra cách tính các chỉ số thành phần của HDI Phân tích mối tương quan giữa các chỉ số thành phần với chỉ số phát triển con người thông qua việc tính hệ số giữa các chỉ số Đồng thời chương này còn nêu lên các nghiên cứu trong và ngòai nước có liên quan đến chỉ số HDI vàkhung nghiên cứu phân tích của luận văn

Trang 39

CHƯƠNG II : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm địa bàn tỉnh Tiền Giang

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Tỉnh Tiền Giang nằm ở tả ngạn Sông Tiền, giáp với biển Đông Chiều dài Sông Tiền chảy qua địa phận Tỉnh Tiền Giang là 103 km, có chiều dài bờ biển Đông là 32 km Nằm trên trục giao thông quan trọng của cả nước, là cửa ngỏ vào Miền Tây Nam Bộ một địa bàn giao lưu khối lượng lớn nông sản, hàng hóa của miền Tây với Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Miền Đông Nam Bộ

- Ranh giới hành chính: Được xác định như sau:

+ Phía Đông giáp biển Đông

+ Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp

+ Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long

+ Phía Bắc giáp tỉnh Long An, thành phố Hồ Chí Minh

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh 250.830,33 ha (chiếm 6,17% diện tích tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long), dân số 1.677.986 người (chiếm 10,06%), gồm 10 đơn

vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 1 thị xã, 8 huyện) với 169 đơn vị cấp xã (8 thị trấn, 16 phường, 145 xã) Trong đó, thành phố Mỹ Tho là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh, đồng thời cũng là trung tâm, là hội điểm giao lưu văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch từ lâu đời của các tỉnh trong vùng, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng Nam và cách thành phố Cần Thơ 90 km về hướng Bắc

- Địa hình - địa chất: Toàn bộ diện tích tỉnh nằm trong vùng hạ lưu châu thổ sông Cửu Long, bề mặt địa hình hiện tại và đất đai được tạo nên bởi sự lắng đọng phù

sa sông Cửu Long trong quá trình phát triển châu thổ hiện đại trong giai đoạn biển thoái từ đại Holoxen trung, khoảng 5.000 - 4.500 năm trở lại đây còn được gọi là phù

sa mới Nhìn chung, do đặc điểm bề mặt nền đất là phù sa mới, giàu bùn sét và hữu cơ (trừ các giồng cát) nên về mặt địa hình cao trình tương đối thấp, về địa chất công trình khả năng chịu lực không cao, cần phải san nền và gia cố nhiều cho các công trình xây dựng Các tầng đất sâu tương đối giàu cát và có đặc tính địa chất công trình khá hơn, tuy nhiên phân bố các tầng rất phức tạp và có hiện tượng xen kẹp với các tầng đất có đặc tính địa chất công trình kém, cần khảo sát kỹ khi xây dựng các công trình có qui

mô lớn, tải trọng cao…Toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung

Trang 40

- Khí hậu: Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long với đặc điểm: Nền nhiệt cao và ổn định quanh năm Khí hậu phân hóa thành hai mùa tương phản rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông Bắc

Nhìn chung, với các điều kiện về vị trí địa lý, kinh tế và giao thông thủy bộ, Tiền Giang có nhiều lợi thế trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả năng hợp tác, giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh trong vùng…Đặc biệt là thành phố Hồ Chí Minh và địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam

2.1.2.Điều kiện kinh tế, xã hội :

- Về tăng trưởng kinh tế: Theo số liệu Tổng cục thống kê công bố cho tỉnh Tiền Giang ngày 24/7/2015 thì tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP, theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 48.693,6 tỷ đồng, tăng 9% Trong đó khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 17,1%; khu vực dịch vụ tăng 9% Bình quân 5 năm, giai đoạn 2011-2015 tăng trưởng kinh tế theo giá so sánh 2010 đat 7,6%/năm

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng: Theo số liệu Cục Thống kê tỉnh, xu hướng tăng tỷ trọng khu vực phi nông nghiệp và giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản từ 42,1% năm 2014 xống 39,9% năm 2015; tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng khá, có xu hướng tăng từ 34% năm 2014 tăng lên 24,9% năm 2015; khu vực dịch vụ tăng từ 34% năm 2014 lên 34,2% năm 2015

- Về dân số và lao động: Theo số liệu Cục Thống kê tỉnh, dân số trung bình năm

2015 của tỉnh Tiền Giang là 1.728.679 người, mật độ dân số 689 người/km2, Trong đó dân số ở khu vực nông thôn là 1.462.0007 người (chiếm tỷ lệ 84.6% dân số toàn tỉnh) Toàn tỉnh có 1.324.290 lao động; trong đó khu vực nông nghiệp là 1.122.718 người, chiếm 42,8%; khu vực công nghiệp là 210.714 người, chiếm 33%; khu vực dịch vụ 154.526 người, chiếm 24,2% Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động từng bước được nâng cao Tỷ lệ lao động được đào tạo đã tăng lên 35% năm 2010 và 45% vào năm 2015; Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ 21,4% (năm 2007) tăng lên 27% (năm 2010) tăng lên 36% năm 2015

- Về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống: Kết cấu hạ tầng được đánh

Ngày đăng: 17/02/2021, 21:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w