1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình nguyên lý kế toán

293 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 293
Dung lượng 14,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được thôi thúc bởi phương châm học tập đinh hư ớ ng vào k ế t qủa đầu ra outcom e-based learnmg, giáo trình m ỏ đầu bằng việc mô tả đối tượng nghiên cứu của k ế toán và m inh họa sơ bộ

Trang 1

T Ế C Á C T R Ư Ờ N G K Ỹ T H U Ậ T )

Trang 2

PGS.TS NGHIÊM sĩ THƯƠNG (Chủ biên)

ThS NGUYỄN THỊ MAI CHI - ThS NGUYỄN MINH Đức - ThS DƯƠNG VẨN h à ThS NGUYỄN THỊ LẼ HÀ - ThS THÁI MINH HẠNH - ThS NGUYỄN HOÀNG LAN

ThS NGUYỄN VĂN NGHIỆP

Giáo trình

(DÀNH CHO KHỐI KINH TẾ CÁC TRƯỜNG KỸ THUẬT)

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

Trang 3

TÁC GIẢ THAM GIA BIÊN SOẠN: PGS.TS NGHIÊM s ĩ THƯƠNG (Chủ biên)

Biên soạn chương 1:

PGS.TS NGHIÊM s ĩ THƯƠNG

Biên soạn chương 2:

ThS NGUYỄN THỊ LÊ HÀ

Biên soạn chương 3:

ThS NGUYỄN VĂN NGHIỆP

Biên soạn chương 4 và 6:

ThS NGUYỄN THỊ MAI CHI

Biên soạn chương 5:

ThS NGUYỄN HOÀNG LAN

Biên soạn chương 7:

Trang 4

LỜI NÓI ĐẢU

G iáo trìn h N g u yên lý K ế toán được biên soạn để làm tài liệu học tập

cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng thuộc khối ngành kinh tế và

qu ản lý Mục tiêu của giáo trình là cung cấp những kiến thức cơ sở ban đầu

đ ể từ đó sinh viên có thể nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu của k ế toán doanh nghiệp.

Giáo trình bao gồm 9 chương và phụ lục Được thôi thúc bởi phương

châm học tập đinh hư ớ ng vào k ế t qủa đầu ra (outcom e-based learnmg), giáo

trình m ỏ đầu bằng việc mô tả đối tượng nghiên cứu của k ế toán và m inh họa sơ bộ nội dung các công việc mà k ế toán phải làm đ ể đ ạt được mục tiêu cuối cùng là hình thành hệ thống các báo cáo tài chính của doanh nghiệp Tiếp theo trong chương 2 và chương 3, giáo trình cung câp cho bạn đọc các phương pháp và công cụ mà k ế toán sử dụng để phản ánh và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế p hát sinh trong hoạt động thường nh ật của doanh nghiệp với tiêu điểm là hệ thống tài khoản k ế toán và kỹ th u ật định khoản các nghiệp v ụ kinh tế p hát sinh Nội dung chương 2 và 3 cũng đồng thời đề cập đến các chứng từ, sổ k ế toán, và các hình thức k ế toán thường được áp

d ụ n g bởi các doanh nghiệp hoặc tổ chức khác nhau Trên cơ sở ph ân chia chu kỳ sản xuất kinh doanh thành 3 quá trình cung cấp, sản xuất và bán hàng, giáo trình từng bước giới thiệu cho sinh viên các tài khoản sử dụng, chứng từ liên quan và phương ph áp hạch toán từng quá trình này trong các chương 4, 5 và 6.

Chương 7 sẽ giới thiệu chi tiết các khái niệm ban đầu về báo cáo tài chính và cách thức xây dựng các báo cáo này Sau khi giới thiệu m ột số nội

d u n g chính của tổ chức công tác k ế toán trong chương 8, giáo trình dành chương cuối cùng cho việc cung cấp các khái niệm ban đầu đ ể v ận dụng tin học vào k ế toán thông qua các p h ần m ềm k ế toán.

N h ân dịp này, các tác giả xin chân thành cảm ơn Ban C hủ nhiệm Khoa Kinh tế và Q uản lý, các bạn đồng nghiệp thuộc trường Đại học Bách khoa

3

Trang 5

H à N ội v à Ban biên tậ p sách D ạy nghề, N hà x u ẫt b ản G iáo dục Việt

N am đ ã tạo đ iều kiện đ ộ n g v iên và đ ó n g góp ý kiến cho việc hoàn

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về :

- C ông ty cổ p h ần sách Đại học - D ạy nghề, 25 H à n Thuyên, H à Nội.

- PGS TS N ghiêm S ĩ Thương, Khoa Kinh tế và Q uản lý, trư ờng Đại học Bách khoa H à N ội, số 1 đư ờ n g Đại c ồ Việt, H à Nội.

Xin trân h ọ n g cảm ơn!

{'’ác tác giả

Trang 6

N H Ậ P M ÔN NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN

Kế toán dưới hình thức này hay hình thức khác đều liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mỗi chúng ta, mỗi doanh nghiệp, cũng như các cộng đồng và quốc gia Nội dung của chưong này giúp bạn đọc bước đầu trả lời các câu hỏi: Ke toán là gì? Vì sao chủng ta cần nghiên cứu kế toán? Nói cách khác chương này sẽ giới thiệu sơ bộ về nghề kế toán, công việc mà kế toán viên làm hàng ngày, các báo cáo tài chính định kỳ mà họ xây dựng, các nguyên tắc mà kế toán viên phải tuân thủ trong quá trình xây dựng báo cáo đó Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ tìm hiếu về một số tổ chức chi phối hoặc ảnh hưởng đến việc thực hành kế toán.

1.1 KHÁI NIỆM KẾ TOÁN

1.1.1 Nội dung và đối tượng của kế toán

Trong quá trình tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp, cơ quan Chính phủ, tổ chức từ thiện và tổ chức phi lợi nhuận, các hộ gia đình và các cá nhân đều tham gia vào vô số các hoạt động kinh tể dưới nhiều hình thức Vậy hoạt động kinh tế là gì? Đó là các hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho rất nhiều nhu cầu và ham muốn khác nhau trong quá trình đạt tới mục tiêu cuối cùng của tổ chức hoặc cá nhân Việc mua sắm máy móc, thiết bị, vật tư nguyên liệu; bán hàng hóa hoặc dịch vụ cho một khách hàng; chi trả tiền công lao động là những ví

bởi các nghiệp vụ hay còn gọi là các giao dịch (transaction) Để phản ánh các

nghiệp vụ đó và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến các nguồn lực hữu hạn của mình, các tổ chức và cá nhân đều cần đến kế toán

Theo Điều lệ Tổ chức Kế toán Nhà nước Việt Nam thỉ: “Kế toán là công việc ghi chép tính toán bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,

sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước cũng như của từng tổ chức xí nghiệp”

5

Trang 7

Theo Luật Kế toán Việt Nam: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.

Từ các định nghĩa trên, kế toán có thể được hiểu là một tiến trình nhận dạng, đo lường, ghi chép các thông tin kinh tế khi chúng phát sinh và truyền tải chúng đến những người sử dụng có liên quan để cỏ thể đưa ra các quyết định cần thiết Tiến trình kế toán sẽ bao gồm bốn giai đoạn kế tiếp nhau, có

liên quan chặt chẽ với nhau, được trình bày trên hình 1-1

Hình 1-1 Minh họa tiến trình kế toán

Các nghiệp

Xác định giá trị của đoi tượng

Nhận dạng là việc quan sát các sự kiện kinh tế (nghiệp vụ) xảy ra - và

xác định xem sự kiện nào có liên quan đến hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp hoặc tổ chức Các nghiệp vụ có thể bao gồm hai loại: nghiệp

vụ đối ngoại và nghiệp vụ đối nội Nghiệp vụ đổi ngoại (thường được gọi là

các nghiệp vụ trao đổi) bao gồm các sự kiện kinh tể giữa một doanh nghiệp hoặc tổ chức này với một thực thể khác, chẳng hạn như mua vật tư, vay vốn

từ ngân hàng, bán hàng cho người tiêu dùng Các nghiệp vụ đối nội xảy ra hoàn toàn trong lòng doanh nghiệp hoặc tổ chức Việc chuyển đổi nguyên vật liệu thành sản phẩm, sử dụng máy móc thiết bị theo thời gian là những ví dụ

về nghiệp vụ đối nội Khi không cần phải lưu ý đặc biệt, thuật ngữ nghiệp vụ

được sử dụng chơ cả nghiệp vụ đối nội và đối ngoại Đối với một hệ thống

thông tin kế toán nghiệp vụ là đầu vào của hệ thống.

Giai đoạn tiếp theo của tiến trình kế toán chính là đo lường Đo lường là

việc phân tích và lượng hóa quy mô hoặc kích cỡ của các đối tượng kế toán khác nhau thông qua một đon vị đo chung là tiền Tiền vừa là phương tiện trao đổi vừa là phương tiện đo lường giá trị nhờ đó cho phép so sánh giá trị hay mức độ hữu ích của các đối tượng kế toán và tiến hành lượng hóa (cộng hoặc trừ) các tác động về mặt kinh tế của các nghiệp vụ khác nhau

Giai đoạn ghi chép được tiến hành để cung cấp lịch sử hình thành và diễn

biến của các sự kiện kinh tế theo thời gian Tuy nhiên để thực sự hữu ích quá trinh ghi chép phải được tiến hành trên cơ sở phân loại một cách khoa học các dữ liệu và sau đó tổng hợp lại để giúp cho quá trình ra quyết định Việc

Trang 8

phân loại cho phép chúng ta có thể sắp xếp rất nghiều các nghiệp vụ khác nhau vào một số nhóm để việc theo dõi được thuận tiện Chẳng hạn, tất cả các nghiệp vụ liên quan trực tiểp đến việc bán hàng có thể được đưa vào một nhóm doanh thu và các nghiệp vụ liên quan trực tiếp đến tiền mặt được ghi chép vào nhóm tiền mặt Công tác tiếp theo chính là việc tổng hợp các dữ liệu kế toán thành các báo cáo tài chính để cung cấp cho những người sử dụng bên trong và bên ngoài Các báo cáo tài chính này là bức tranh tổng hợp cuối cùng về tất cả các nghiệp vụ xảy ra trong một thời gian nhất định chẳng hạn một tháng, một quý hay một năm.

Truyền thông (communication) là phần cuối cùng của tiến trình kế toán

Việc nhận dạng, đo lường và ghi chép các hoạt động kinh tế sẽ là vô nghĩa nếu như thông tin chứa đựng trong các ghi chép kế toán đó không được chuyển tải

tin cần phải thấu hiểu thông điệp mà người gửi có ý định, chuyển tải Vi vậy, truyền thông có thể được hiểu là quá trình chuẩn bị và phân phối các báo cáo

kế toán đến với những người sử dụng thông tin kế toán Một khi nhận được các báo cáo thích hợp với nhu cầu của mình, người sử dụng có thể đưa ra các quyết định kinh tế tương ứng trên cơ sở phân tích và giải thích các báo cáo đó

Đổi tượng nghiên cứu của kế toán: Từ các kết quả trên, chúng ta thấy

đối tượng nghiên cứu của kế toán bao gồm các tài sản thuộc quyền quản lý và

sử dụng của doanh nghiệp hoặc tổ chức, các nguồn vốn mà họ huy động để tài trợ cho các tài sản, cũng như sự vận động và thay đổi của tài sản và nguồn vốn trọng quá trinh hoạt động Đồng thời, đối tượng của kế tọán cũng bao gồm doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp hoặc tổ chức do kết quả hoạt động của họ Mặc dù các thủ tục và phương pháp kế toán đều có thể

áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp và tổ chức, nhưng trong giáo trình này chúng ta sẽ chỉ tập trung vào kế toán dành cho các doanh nghiệp do số lượng của các thực thể kinh doanh này là rất lớn và mức độ phức tạp của các sự kiện kinh tế của họ cũng rất cao

1.1.2 Những người sử dụng thông tin kế toán

Trong thực tiễn, các kế toán viên cũng có thể tham gia vào việc phân tích

và giải thích các dữ liệu kế toán với tư cách là cố vấn cho người sứ dụng thông tin kế toán nhưng mục tiêu cuối cùng cùa kế toán vẫn là cung cấp thông tin dưới dạng các báo cáo cho những người sử dụng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Hình 1-2 minh họa các báo cáo kế toán và người sử dụng Tiến trình thông tin kế toán mở đầu bằng các nghiệp vụ được hệ thống

7

Trang 9

thông tin kế toán tiếp nhận, xử lý để hình thành nên hai loại báo cáo đó là báo cáo vì mục đích chuyên biệt và báo cáo vì mục đích chung.

Báo cáo vì mục đích chuyên biệt được xây dựng cho những người sử

dụng có nhu cầu chuyên biệt về thông tin và có quyền được nhận các thông tin chuyên biệt này Chẳng hạn, nhà quản lý, với tư cách người sử dụng bên trong, cần có dữ liệu kế toán để lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp Để làm điều này họ cần biết thông tin về các loại và giá trị của nguồn lực hiện có, trình độ công nghệ và quản lý sản xuất, các nguồn vốn và cách thức huy động vốn, khả năng sinh lợi hiện tại và mức độ rủi ro, ảnh hường của doanh số và giá bán đển lợi nhuận và rủi ro của doanh nghiệp Việc cung cấp các loại thông tin này là một chức năng quan trọng của kế toán, đó là kế toán quản trị Báo cáo vì mục đích chuyên biệt còn được cung cấp cho người sử dụng bên ngoài có quyền được tiếp cận một số thông tin riêng, chẳng hạn báo cáo thuế cho tổ n g cục Thuế, báo cáo về khả năng thanh toán cho ngân hàng

Hình 1-2 Oác báo cáo kế toán và người sử dụng

Báo cáo vì mục đích chung, tức là các báo cáo tài chính được xây dựng

theo biểu mẫu quy định chung của Bộ Tài chính, có tính chất bắt buộc và do

đó có tính pháp lý cao Người sử dụng các báo cáo này là các nhóm khác nhau với rihững mục đích khác nhau, bao gồm:

Trang 10

- Nhà quản lý, Hội đồng quản trị và Hội đồng giám đốc: Nghiên cứu báo

cáo tài chính giúp họ đánh giá được khả năng sinh lời, mức độ rủi ro về tài chính, tìm hiểu nguyên nhân để trên cơ sở đó định hướng phát triển cho doanh nghiệp trong tương lai

- Cổ đông, chủ nợ và chủ nguồn lực khác: cổ đông là người chấp nhận rủi

ro đầu tư vào doanh nghiệp để sinh lời, thu nhập của họ là lợi tức được chia và giá trị gia tăng thêm của đồng vốn đầu tư Các chủ nợ quan tâm chủ yếu tới khả năng trả nợ của doanh nghiệp, họ đặc biệt chú ý tới lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi nhanh chóng thành tiền để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ đúng hạn Ngoài ra, các chủ nợ cũng quan tâm đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp, vì đó là cơ sở của việc tạo ra lãi để hoàn trả vốn và lãi vay Các nhà cung cấp nguồn lực khác quan tâm tới khả năng chi trả của doanh nghiệp để quyết định có cho phép doanh nghiệp được mua chịu hàng hóa và thanh toán chậm hay không, có nên tiếp tục hợp tác với doanh nghiệp nữa hay không

- Cơ quan quàn lý của Nhà nước, các đoàn thể và người lao động: Phân

tích thông tin kế toán giúp đánh giá, kiểm tra mức độ tuân thù của doanh nghiệp đối với các đòi hỏi pháp lý trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, trong đó có nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và các nghĩa vụ xã hội khác Việc giám sát này giúp cho các cơ quan thẩm quyền có thể hoạch định chính sách một cách phù hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả, giúp nhà nước đưa ra những kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở tầm vĩ mô Người lao động quan tâm đến các thông tin và

số liệu tài chính để đánh giá, xem xét triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai để dự báo cơ hội thăng tiến và lương bổng của họ

- Khách hàng và người tiêu dùng quan tâm đến chất lượng và giá thành

sản xuất thể hiện qua giá bán để đưa ra các quyết định mua sắm hàng hóa và dịch vụ của họ Trong khi đó các đối thủ cạnh tranh tỉm hiểu thông tin liên quan để có các động thái cạnh tranh thích hợp

Khi các thông tin kế toán được phân tích, người sử dụng báo cáo tài chính

sẽ đưa ra các quyết định tương ứng và các quyết định này sẽ được thể hiện một lần nữa trong các nghiệp vụ của doanh nghiệp Cứ như vậy, tiến trình thông tin kế toán diễn ra một các liên tục để phản ánh kịp thời các hoạt động kinh tế diễn tiến không ngừng của doanh nghiệp trong quá trình đạt được các mục tiêu của họ

9

Trang 11

1.1.3 Cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực kế toán

Sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán thường làm việc trong ba khu vực chính: kế toán công chúng (public accounting), kế toán doanh nghiệp (commercial accounting), kế toán công (kế toán chính phủ) và kế toán các hoạt động phi lợi nhuận (not-for-profit accounting)

a) Kế toán công chúng

Kế toán công chúng cung cấp dịch vụ kế toán cho công chúng nói chung, các dịch vụ này có thể bao gồm kiểm toán, tư vấn thuế và tư vấn quản lý

Kiểm toán: Đây là dịch vụ truyền thống của các doanh nghiệp kế toán

công chúng Kiểm toán là việc xem xét một cách độc lập các báo cáo tài chính của một thực thế kinh doanh, cùng các tài liệu và ghi chép hỗ trợ đi kèm để từ đó hình thành ý kiến về việc tuân thủ chuẩn mực kế toán của các báo cáo này, bên cạnh đó kiểm toán viên sẽ trình bày quan điểm trung thực

và hợp lý về kết quả và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp được kiểm toán Ngân hàng và các định chế cho vay thưởng đòi hỏi báo cáo tài chính của bên đi vay phải được xác nhận bởi một tổ chức kiểm toán độc lập Một trong những điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán là các báo cáo tài chính phải được kiểm toán

Dịch vụ tư vẩn thuế: Các cá nhân và doanh nghiệp cần phải chi trả nhiều

loại thuế khác nhau bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức, thuế VAT, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất nhập khẩu Các kế toán viên thường tham gia vào việc trợ giúp lập kế hoạch thuế để tối thiểu hóa nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trên cơ sở tuân thủ các điều lệ và quy định chung Cùng với việc thu nhập của doanh nghiệp và người dân ngày càng tăng, mức độ quan tâm đến các nghĩa vụ thuế ngày càng cao, do đó một nhiệm vụ của kế toán công chúng là chuẩn bị các báo cáo thuế Điều này đòi hỏi các kế toán viên phải thông thạo các vấn đề pháp lý về thuế và thường xuyên cập nhật những thay đổi trong các luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành của cơ quan thuế

Dịch vụ tư vấn quản lý: Bên cạnh các dịch vụ truyền thống là kiểm toán

và tư vấn thuế, thời gian gần đây nhu cầu đối với dịch vụ tư vấn quản lý đang ngày càng tăng lên nhanh chóng không chỉ ở các nước trên thế giới mà ngay tại Việt Nam Trong quá trình tiến hành kiểm toárt doanh nghiệp, các kiểm toán viên thường phát hiện ra những thiếu sót hoặc vấn đề trong hệ thống kể toán của khách hàng Vì vậy, họ có thể cung cấp lời khuyên hoặc các ý kiến

tư vân vê biện pháp và phương tiện sửa lỗi để cải thiện tình hình Nội dung

Trang 12

dịch vụ tư vấn rất rộng trong đó có cả những công việc rất ít liên quan đến kế toán, chẳng hạn, lắp đặt hệ thống máy tính, hệ thống sản xuất và kiểm soát chất lượng, xây dựng hoặc cài tiến hệ thống thông tin kế toán, dự báo và hoạch định tài chính, thiết kế các kế hoạch kinh doanh dài hạn, sáp nhập hoặc mua lại doanh nghiệp.

b) Kế toán doanh nghiệp

Nhiều sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành kế toán thường làm việc tại các doanh nghiệp Từ lúc ban đầu là các nhân viên kế toán họ trưởng thành và trở thành chuyên viên kế toán cấp cao nhất, chính là kế toán trường, chịu trách nhiệm chỉ đạo hoạt động của đội ngũ kế toán viên Những công việc chính

mà nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp đảm nhận bao gồm:

Kể toán chi phí: Kế toán chi phí liên quan đến việc thu thập, phân bổ và

kiểm soát chi phí sản xuất các sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể Hiểu biết sâu sắc về chi phí của từng nguyên công và của cả quá trình sản xuất là một nhân

tố quan trọng giúp cho việc đưa ra các quyết định được đúng đắn Không thể trả lời câu hỏi sản xuất và bán một sản phẩm nào đó là có lợi nhuận nếu như không kiểm soát được chi phí sản xuất sản phẩm đó Vì vậy, các công ty lớn thường sử dụng một số lượng lớn nhân Viên kế toán chi phí Kế toán chi phí cũng là nơi mà nhân viên kế toán thường bắt đẩu sự nghiệp của mình

Kế toán tổng hợp: Một chức năng khác có tính tổng quát của kể toán

doanh nghiệp là ghi chép các nghiệp vụ được thực hiện bời doanh nghiệp và xây dựng các báo cáo phục vụ cho ban quản lý theo từng mục tiêu chuyên biệt Dữ liệu về các nghiệp vụ cũng được phân loại và tổng hợp để xây dựng các báo cáo tài chính cho những người sử dụng bên ngoài Do các dữ liệu kế toán được sử dụng chung cho cả mục tiêu chuyên biệt và mục tiêu chung nên rất khó và cũng không thật cần thiết phải phân biệt rạch ròi kế toán tổng hợp với các giai đoạn khác của kế toán doanh nghiệp

Hệ thống thông tin kế toán: Các kế toán viên cùng tham gia vào việc

thiết kế và vận hành hệ thống kế toán thủ công hoặc máy tinh hóa Một khi các hệ thống này đã được thiết lập trong doanh nghiệp, nhiệm vụ tiếp theo của các kế toán viên là vận hành chúng, duy trì và kiểm soát, và trên cơ sở đó tiến hành những hành động cải thiện để hệ thống ngày càng hoàn chỉnh

Dự toán ngăn sách: Dự toán ngân sách là một phần quan trọng của tiến trình kế toán liên quan đến việc lập kế hoạch cho tương lai Chức năng chính

của dự toán ngân sách là cung cấp cho người lãnh đạo một bàn kế hoạch dự kiến về các hành động cần thiết để đạt được các mục tiêu đã định trên cơ sờ

11

Trang 13

cân nhắc các nguồn lục hiện có và có thể huy động được của doanh nghiệp

Dự toán ngân sách thường được xây dựng cho toàn doanh nghiệp và cho các

bộ phận chính của nó Đây cũng là công cụ để kiểm soát quá trình hoạt động trên thực tế và cũng là phương tiện để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh

Kế toán thuế: Mặc dù trong một số doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh

nghiệp nhỏ, nhờ cậy vào dịch vụ tư vấn thuế từ bên ngoài (kế toán công chúng), nhưng thực tế hầu hết các doanh nghiệp vẫn tự mình duy trì bộ phận

kế toán thuế để xử lý các vấn đề kế toán thuế nảy sinh hàng ngày, và trên cơ

sở đó xây dựng báo cáo thuế cho các loại thuế khác nhau

Kiểm toán nội bộ: Để hỗ trợ cho kiểm toán bên ngoài, đồng thời chủ động

phát hiện các vấn đề nảy sinh trong hệ thống kế toán của mình, nhiều doanh nghiệp thường duy trì bộ phận kiểm toán nội bộ Chức năng chính của kiểm toán nội bộ là tiến hành rà soát liên tục tiến trình kế toán để đảm bảo các thủ tục và chính sách được tuân thủ nghiêm ngặt nhằm phòng ngừa các sai sót

Và trên cơ sở đó giảm thiểu chi phí sản xuất góp phần nâpg cao hiệu quả kinh doanh

c) Kế toán Chính phủ và kế toán khu vực phì lợi nhuận

Một khu vực cần đến rất nhiều kế toán viên là Chính phủ và các tổ chức phi lợi nhuận Các ủy ban tinh, hội đồng thành phố và Chính phủ thường chi tiêu một khối lượng lớn tiền và quản lý rất nhiều tài sản quốc gia Chính vì vậy, các hoạt động kể toán ở đây còn được gọi là kế toán công (kế toán chính phủ) Những vấn đề phải đối mặt và các quyết định tương ứng mà quan chức chính phủ phải chịu trách nhiệm tại đây cũng tương tự như tại các doanh nghiệp Điểm khác biệt của kế toán chính phủ chính là làm sao tận dụng hữu hiệu các nguồn lực hữu hạn để đạt được các mục tiêu đã định chứ không theo đuổi mục tiêu lợi nhuận như tại các doanh nghiệp

1.2 CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP

Nếu xét về bản chất tài chính và phấp lý, có thể chia ra làm ba loại hình doanh nghiệp chính: doanh nghiệp tư nhân (sole proprietorship), công ty hợp danh (partnership) và công ty cổ phần (corporation) Ngoài ra, còn có doanh nghiệp nhà nước (State Corporation) là một trường hợp đặc biệt Hiểu rõ đặc điểm chính và sự khác biệt của các loại hình doanh nghiệp là điều quan trọng đổi với kế toán viên Vì vậy, chủng ta sẽ lần lượt nghiên cứu về đặc điểm của từng loại hình doanh nghiệp trên

Trang 14

1.2.1 Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là hình thức tổ chức kinh doanh lâu đời và đơn giản nhất của một thực thể kinh doanh, do một cá nhân làm chủ sở hữu Đặc trưng nổi bật của doanh nghiệp tư nhân là người chủ của nó phải chịu trách nhiệm toàn diện đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cả về mặt tài chính, cũng như các mặt khác và chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa

vụ tài chính của doanh nghiệp Điều đó có nghĩa là người chủ phải chịu trách nhiệm đối với doanh nghiệp về mặt tài chính không chỉ trên phần vốn đầu tư ban đầu mà khi cần còn phải đem cả tài sản cá nhân để trang trải cho các khoản nợ của doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân có một số lợi thế như sau: (1) Việc thành lập rất đơn giản và chi phí thành lập thấp; (2) ít chịu các kiểm soát cùa Chính phủ Ngoài ra, doanh nghiệp tư nhân không phải nộp thuế thu nhập, lợi nhuận hay thua lỗ sẽ được cộng vào tổng thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người chủ Điều này có nghĩa là, trên phương diện tài chính, không có sự phân biệt giữa người chủ và doanh nghiệp về nghĩa vụ thuế

Tuy nhiên, loại doanh nghiệp này cũng gặp phải một số hạn chế nhất định như: (1) Người chủ phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của doanh nghiệp; (2) Quy mô của doanh nghiệp bị hạn chế vì phụ thuộc vào khả năng tài chính của người chủ, do đó đa số các doanh nghiệp tư nhân đều là doanh nghiệp nhỏ; (3) Đời sống của doanh nghiệp tư nhân phụ thuộc vào cuộc đời của người chủ doanh nghiệp Khi người chủ chết, doanh nghiệp trở thành một phần di sản của người đó và được phân chia cho những người thừa kế

1.2.2 Công ty hợp danh

Khác với doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh không phải chỉ có một người chủ mà có thể có hai hoặc ba người chủ Điểm thuận lợi của công ty hợp danh bao gồm: (1) Dễ thành lập và có chi phí thành lập thấp; (2) Việc huy động vốn cùa công ty hợp danh thuận lợi hơn so với doanh nghiệp tư nhân.Những bất lợi của công ty hợp danh chủ yếu là: (1) Chịu trách nhiệm vô hạn đổi với các nghĩa vụ tài chính của công ty; (2) Đời sống của doanh nghiệp là hữu hạn tuỳ thuộc vào sự tại vị của các thành viên; (3) Khó chuyển giao quyền sở hữu; (4) Khó huy động vốn để phát triển khi cần, đặc biệt đối với các doanh nghiệp có cơ hội và tiềm năng phát triển tốt

Cũng như doanh nghiệp tư nhân, công ty họp danh không chịu thuế lợi tức mà lợi nhuận hay thua lỗ của công ty được cộng vào thuế thu nhập cá nhân của các chủ sờ hữu

13

Trang 15

1.2.3 Công ty cổ phần

Loại hình công ty cổ phần chiếm phần khá lớn trong tổng doanh số hoạt động của các doanh nghiệp tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển vì quy mô vốn đầu tư và quy mô hoạt động cùa chúng cũng lớn hơn rất nhiều so với các công ty hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân Giữa công ty

cổ phần và các loại hình doanh nghiệp khác có rất nhiều điểm khác biệt quan trọng, đó là:

- Công ty cổ phần là một thực thể pháp lý tại đây có sự tách biệt rõ ràng

giữa chủ sở hữu và người quản lý

- Công ty cổ phần có đời sổng vô hạn Công ty là một pháp nhân độc lập,

nên đời sống của nó không phụ thuộc vào sự tại vị của một chủ sở hữu nhất định Do đó về lý thuyết, trừ trường hợp bị phá sản, công ty cổ phần sẽ tồn tại vĩnh viễn

- Quyền sở hữu được chuyến đổi dễ dàng Quyền sở hữu được phân chia thành

các cổ phiếu và được chuyển giao cho người khác thuận lợi hơn so với công

ty tư nhân và công ty hợp doanh Quyền sở hữu đối với công ty thể hiện qúa quyền được hưởng lợi tức cổ phần, quyền biểu quyết, bầu Hội đồng quản trị

- Công ty cổ phần là một công ty trách nhiệm hữu hạn Chù sở hữu của

công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn trên cơ sở phần vốn đã đầu tư vào công ty

Tuy nhiên, công ty cổ phần cũng gặp một sổ bất lợi bao gồm: (1) Thu nhập của công ty cổ phần là đối tượng chịu thuế hai lần, lần thứ nhất là khi công ty phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trước khi chia lợi nhuận cho các cổ đông, lần thứ hai là khi cổ đông nộp thuế thu nhập cá nhân; (2) Việc thành lập công ty cổ phần phức tạp và tốn kém hơn

1.2.4 Doanh nghiệp nhà nước

Bên cạnh các loại hình trên, doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp

thuộc quyền sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện nắm quyền sở hữu nhằm phục vụ cho những mục tiêu chung của nền kinh tế và xã hội Các doanh nghiệp nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nhất là trong các nền kinh tế thị trường, bởi bên cạnh những chức năng thông thường, các doanh nghiệp này còn là một công cụ giúp Chính phủ điều tiết nền kinh tế Chính phủ thường đầu tư thành lập những doanh nghiệp nhà nước trong những ngành chậm thu hồi vốn có tính công ích như viễn thông và điện lực phục

vụ các vùng nông thôn, núi cao hẻo lánh mà khu vực tư nhân thường không

Trang 16

muốn đầu tư Chính phủ cũng có thể đầu tư vào những ngành dễ có thể mang lại sự độc quyền cho các chù đầu tư, nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường của nền kinh tế, chống lại sự độc quyền; hoặc đầu tư vào những ngành kinh

tế mũi nhọn, có tác dụng thúc đẩy những ngành khác phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, cung cấp năng lượng, hay các ngành công nghệ cao

Để có thể đảm đương trách nhiệm công ích, doanh nghiệp nhà nước thường nhận được sự trợ cấp thông qua giá bán, ưu đãi về thuế, về nguồn vốn Vì thế, đây chính là một trong các lý do khiến hiệu quả kinh doanh thuần túy của các doanh nghiệp nhà nước thường thấp hơn khu vực tư nhân

1.3 CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Kết quả cuối cùng của tiến trinh ké toán chính là các báo cáo tài chính được xây dựng cho những người sử dụng khác nhau bên trong và bên ngoài doanh nghiệp Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn về các báo cáo tài chính trong các chương sau của giáo trình, đặc biệt là trong chương 7 Tuy nhiên, sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu các khái niệm cơ sở cũng như nội dung cùa các báo cáo tài chính và thông tin mà các báo cáo này cung cấp cho người đọc

Các báo cáo tài chính chủ yếu bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh (gọi tắt là báo cáo thu nhập hoặc báo cáo lãi lồ), báo cáo vổn chù sở hữu và báo cáo lưu chuyển tiền tệ Chúng ta sẽ nghiên cứu các khái

niệm cơ bần nhất về bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập thông qua ví

dụ minh họa về công ty Bình Minh Hiểu biết về các báo cáo này là cơ sở để nghiên cứu các khái niệm và nguyên tắc được thừa nhận của kế toán, đồng thời tìm hiểu về tiến trình kế toán thông qua ví dụ minh họa về Công ty Thành Công tại mục 1.5

1.3.1 Bảng cân đối kế toán

Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có các tài sản Các tài sản chính của doanh nghiệp bao gồm đất đai, nhà xưởng, máy- móc và thiết bị, công cụ và dụng cụ, vật tư và nguyên liệu, tiền mặt Để tài trợ (mua sắm) cho các tài sản này, doanh nghiệp cần có tiền, tiền đó được gọi

là nguồn vốn Nguồn vốn cùa doanh nghiệp thường bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Nợ phải trả chủ yếu bao gồm: (1) vốn vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng, (2) phần nguồn vốn chiếm dụng của bạn hàng do kết quả của việc mua chịu vật tư, hàng hóa Đặc điểm cơ bản của nợ phải trả được thể hiện qua tên gọi cùa nguồn vốn này: doanh nghiệp phải trả lãi cố

15

Trang 17

định và gốc đúng hạn cho chủ nợ Nguồn vốn chù sở hữu được hình thành thông qua việc cổ đông đóng góp trực tiếp, mua cổ phiếu của doanh nghiệp

và trích lại lợi nhuận hàng năm Đặc điểm nổi bật nhất của vốn chủ sở hữu là lãi hàng năm được chi trả dựa vào kết quả kinh doanh thực tế chứ không được quy định trước và cổ định như lãi vay ngân hàng

Để quản lý các tài sản và nguồn vốn của mình doanh nghiệp xây dựng bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểm cụ thể trong quá trình hoạt động kinh doanh Báo cáo này bao gồm hai phân là tài sản và nguồn vốn: Phẩn tài sản cho biết cơ cấu và giá trị của các tài sản cùa doanh nghiệp tại thời điểm xem xét; Phần nguồn vốn cho biết cơ cấu và giá trị của các nguồn vốn tài trợ cho các tài sản đó Điều này giải thích vì sao bảng cân đổi kế toán luôn tuân thủ đẳng thức kế toán của doanh nghiệp:

Bảng 1-1 giới thiệu bảng cân đối kế toán của Công ty Bình Minh tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 201X Tại thời điểm này tổng tài sản của công ty trị giá 33 tỷ VND bao gồm 18 tỷ tài sản ngắn hạn và 15 tỷ VND tài sản dài hạn mà chủ yếu là thiết bị Tài sản ngắn hạn của công ty gồm tiền mặt 1,5 tỷ VND, khoản phải thu 4,125 tỷ, và vật tư hàng hóa trị giá 12,372 tỷ VND

Bảng 1-1 Bảng cân đối kế toán của Công ty Bình Minh

ngày 31 tháng 12 năm 201X

(Đơn vị tính: Triệu VND)

Trang 18

Tài sản ngắn hạn là các tài sản mà giá trị và hình thái tồn tại cùa chúng

thường xuyên thay đổi trong kỳ kể toán, thậm chí thay đổi trong từng ngày hoặc giờ Trong sổ tài sản ngắn hạn, khoản phải thu là mộl tài sán thể hiện quyền được thu tiền từ khách hàng khi doanh nghiệp đồng ý bán chịu cho

khách hàng Tài săn dài hạn, chủ yếu ỉà nhà xưởng và thiết bị, là các tài sản

mà giá trị và hình thái tồn tại hầu như không thay đổi trong kỳ kể toán khi tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên chúng có thế thay dổi do kết quả của việc mua sắm thêm hoặc thanh lý tài sân cố định

Đe tài trợ cho các tài sán của mình, công ty sử dụng vốn từ hai nguồn

3,659 tỷ VND Nợ dài hạn lậ các khoản nợ mà trên I năm doanh nghiệp mới phải thanh toán, nợ tỊgẳn hạn là các khoản nợ phái thanh toán ngay trong

năm nay Loại nguồn vốn phải thanh toán sớm này của Bình Minh bao gồm

2,669 tỷ vay ngắn hạn từ ngân hàng và 990 triệu VND khoản phải trả do kết quả của việc mua chịu vật tư hàng hóa từ bạn hàng

Bảng 1-1 cũng cho thấy, vốn chủ sở hữu của Bỉnh Minh bao gồm 10 tỷ VND do chủ sở hữu của công ty đóng góp bằng tiền, phần còn lại 1,841 tỷ VND được hình thành từ lợi nhuận giữ lại hàng năm cùa chính chủ sở hữu

1.3.2 Báo cáo thu nhập (Báo cáo kết quả kinh doanh)

Báo cáo thu nhập của công ty Bình Minh được trình bày trên bảng 1-2 Báo

thu nhập của doanh nghiệp trong suốt một kỳ kế toán (thường là một năm),

và cho biết sự phân phối thu nhập này cho các chủ thể liên quan của doanh nghiệp là chủ nợ, nhà nước, cổ đông đại chúng và các chù nguồn lực khác

Bảng 1-2 Báo cáo thu nhập của Công ty Binh Minh

Trang 19

Bảng 1-2 cho thấy, doanh thu trong năm của công ty là 49,5 tỷ, sau khi trừ đi chi phí hoạt động là 45,1 tỷ công ty còn lại 4,4 tỷ VND lợi nhuận trước lãi vay và thuế, EBIT Lợi nhuận EBIT sau khi trừ đi lãi vay phải trà cho ngân hàng thì còn lại 2,4 tỷ lợi nhuận trước thuế EBT (còn gọi là thu nhập chịu thuế) Với thuế thu nhập phải nộp là 600 triệu VND, chủ sở hữu cùa Bình Minh có được một khoản lãi ròng là 1,8 tỷ VND.

Doanh thu là các dòng thu của lợi ích kinh tế hoặc các khoản tiết kiệm từ

dòng chi của các lợi ích này mà nhờ đó vốn chủ sở hữu sẽ tăng lên trong kỳ

kế toán Doanh thu thường là kết quả của việc bán hàng hoặc cung cấp dịch

vụ, và thường được đo lường bằng lượng tiền hoặc giá trị của các tài sản khác được nhận về, chẳng hạn như khoản phải thu hay hiện vật Chú ý rằng, tài sản nhận được do sự đóng góp của chủ sở hữu không được coi là doanh thu mà chi là sự gia tăng của vốn chủ sở hữu

Chi p h í là sự suy giảm của vốn chù sở hữu biểu thị một sự tiêu hao hàng

hóa hoặc tổn thất về lợi ích kinh tế dưới hình thức suy giảm của tài sản hoặc gia tăng của nợ phải trả Chi phí được đo lường bằng lượng tài sản được sử dụng hoặc lượng nợ phải trả bị gánh chịu trong kỳ Ví dụ về chi phí là các khoản chi trả bằng tiền như tiền lương và tiền công lao động, điện nước, viễn thông hay lượng vật tư đã sử dụng trong kỳ

1.4 NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC KÉ TOÁN ĐƯỢC THỪA NHẬN

Để có thể cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định, tiến trình kế toán phải thỏa mãn các yêu cầu về tính đầy đủ và chính xác, khách quan và trung thực, minh bạch và dễ hiểu, liên tục và hệ thống Các yêu cầu này đòi hỏi kế toán viên phải thấu hiểu một số khái niệm và nguyên tắc được thừa nhận chung như sau:

1.4.1 Những khái niệm kế toán được thừa nhận

Khái niệm thực thể kinh doanh (Business entity concept): Với nhiệm vụ

nhận dạng, đo lường, ghi chép và tổng hợp các nghiệp vụ thành báo cáo tài chính, các kế toán viên cần nhận dạng được một cách rõ ràng giới hạn của thực thể đang được nghiên cứu Theo giả thiết này, một thực thể kinh doanh tồn tại một cách tách biệt với chủ sở hữu và với các thực thể khác, mỗi thực thể kinh doanh kiểm soát các tài sàn của mình và gánh chịu nghĩa vụ đối với các chủ nợ Các hoạt động và tài sản của các thực thể khác hay của riêng chủ

sờ hữu cần phải được loại ra khỏi các nghiệp vụ và báo cáo tài chính của thực

Trang 20

thế kinh doanh do chủ sở hữu đó kiểm soát để không bóp méo vị thế tài chính

và kết quả kinh doanh của thực thể

Khái niệm đồng tiền ổn định (Stable-dollar concept): Các nghiệp vụ

được đo lường bằng đơn vị tiền tệ, các dữ liệu kế toán trên các báo cáo tài chính được thể hiện qua tiền Tuy nhiên, sức mua của tiền tệ, tức là giá trị của đồng tiền thường thay đổi khi các nhân tổ kinh tế thay đổi chẳng hạn chính sách của Chính phủ, hay lạm phát Mặc dù vậy, các kế toán viên vẫn phải tiếp tục ghi chép các dữ liệu kế toán, cộng và trừ các khoản mục trong các năm khác nhau với giả thiết là đồng tiền ổn định

Khái niệm kỳ kế toán (Time-period concept): Việc phân chia đời sổng

của doanh nghiệp thành những khoảng thời gian băng nhau để có thể tách bạch thông tin kế toán của từng kỳ là một đòi hỏi có tính chất bắt buộc nhằm đảm bảo xác định đúng các số liệu có tính chất thời kỳ như doanh thu, chi phí, lợi nhuận và mức thuế phải nộp Kỳ kế toán thông thường là một tháng, một quý và một năm Do khái niệm kỳ kế toán, việc xác định lợi nhuận nhiều khi được xem như một tiến trình so sánh giữa thu nhập được thừa nhận trong

kỳ với chi phí phải gánh chịu trong kỳ đó

1.4.2 Những nguyên tắc kế toán được thừa nhận

Nguyên tắc giá gốc (Cost principle): Đây là một trong những nguyên tắc

nền tảng của kế toán Theo nguyên tắc này, tất cả các hàng hóa và dịch vụ mua sắm được ghi chép theo giá gốc Chẳng hạn, một thiết bị được mua với giá là 1,5 tỷ VND thì sẽ được ghi sổ với giá trị đó cho dù trên thực tế giá trị của thiết bị này có thể là 1,8 tỷ hay chỉ là 1,1 tỷ VND Tương tự như khái niệm đồng tiền ổn định, giá trị của tài sàn có thể thay đổi theo thời gian, vì vậy khi nghiên cứu bảng cân đối kể toán cần nhớ rằng giá trị ghi sổ của tài sản không nhất thiết biểu thị giá trị của tài sản này nếu nó được bán đi tại thời điểm đó mà chỉ là giá trị của tài sản này tại thời điểm nó được mua sắm Ngoài ra, do giá gốc được thiết lập giữa các bên mua và bán trên cơ sở thương lượng tự nguyện nên có thể đảm bảo tính khách quan

Mặc dù nguyên tắc này vẫn được tôn trọng nhưng trên thực tế doanh nghiệp

cỏ thể định kỳ đánh giá lại một số tài sản nhất định để phù hợp với giá trị thị trường thực tế

Nguyên tắc hoạt động liên tục (Continuing-concern concept): Vì một số

tài sản không thể được bán đi mà không làm gián đoạn quá trình kinh doanh nên cần phải giả thiết rằng các thực thể kinh doanh sẽ không được bán trong tương lai gần mà tiếp tục hoạt động liên tục Vì vậy, giá trị thị trường cùa tài

19

Trang 21

sản thường không được ghi chép mà là giá gốc lịch sử của nó Đây là một lý

do nữa khẳng định nguyên tắc giá gốc, tuy nhiên cũng cần lưu ý trường hợp khi lập kế hoạch bán doanh nghiệp thì giả thiết hoạt động liên tục sẽ không còn tồn tại và giá thị trường mới là thông tin chính được báo cáo Khi điều này xảy ra, các căn cứ để xác định giá trị mới cùa tài sản phải được trình bày một cách thuyết phục

Nguyên tẳc khách quan (Objectivity principle): Nguyên tắc này đảm bảo

không để các phán xét chủ quan can thiệp vào vỉệc ghi chép giá trị của tài sản nhờ đó đảm bảo tính chính xác Theo nguyên tắc này, khi tiến hành ghi chép các nghiệp vụ kế toán, kế toán viên cần dựa trên các dữ liệu khách quan Điều này cùng giúp cho việc thẩm tra dữ liệu được thuận lợi vì đã có một căn

cứ có tính thuyết phục cao

Nguyên tắc ghi nhận doanh thu và chi p h ỉ (Revenue and expenses

recognition principle): Theo nguyên tấc này, doanh thu được ghi nhận khi có

sự thay đôi quyền sở' hữu từ người bán sang người mua, tức là khi dòng tiền vào đã dược chấp thuận bởi người mua và có thể được đo lường một cách tin cậy, không nhất thiết là việc thanh toán bằng tiền đã xảy ra Tương tự như vậy, chi phí được ghi nhận khí lợi ích mà công ty nhận được hoặc tài sản mà

họ sở hữu đã được sử dụng và có thể đo lường một cách tin cậy, chẳng hạn như trả công lao động hoặc kiểm kê số lượng vật tư đã dùng trong kỳ

Nguyên tắc tương xứng - phù hợp (Matching principle): Nguyên tắc này

đòi hoi sự phù hop giữa chi phí vạ doanh thu, theo đó, chi phí được trình bày trên báo cáo thu nhập phải trong cùng một kỳ với doanh thụ nhận được và phải do kết quả của chi phí đó Đây cũng là một nguyên tắc phản ánh khái niệm kỳ kể toán và nguyên tắc minh bạch trong kế toán

Nguyên tắc công khai - minh hạch (Full-diclosure principle): Theo

nguyên tắc này, tất cả các dữ liệu kế toán về vị thế tài chính cần phải được chuyển tải đầy đủ tới người sử dụng nhằrrí làm tăng mức độ dễ hiểu và tính chính xác Báo tài chính phải kèm theo các chỉ dẫn hoậc phụ lục cần thiết về nguồn gốc dữ liệu cũng như căn cứ xác định giá trị Ví dụ về các tài liệu bổ sung như các chứng từ vay nợ hay thế chấp tài sản, chế độ bảo hành sản phẩm, và các hồ sơ khác có liên quan

Nguyên tắc trọng yếu (Materiality principle): Nhìn chung các nguyên tắc

kê toán đêu phải được tuân thủ, tuy nhiên nêu việc bỏ qua một sô yêu câu nào

đó mà không ảnh hưởng lớn đến tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính thì điều này cũng có thể chấp nhận được Đây chính là nội dung của

Trang 22

nguyên tắc trọng yếu, một nguyên tắc cho phép chấp nhận một mức độ sai sót nhất định nhưng đây là sai sót có tính thứ yếu.

Nguyên tắc nhất quán (Consistency principle): Nguyên tấc này đòi hỏi

tiên trình kế toán từ kỳ này sang kỳ khác phải được tiến hành trên cơ sở áp dụng cùng các khái niệm, tiêu chuẩn, nguyên tẳc và phương pháp tính toán

đe các số liệu nhận được tại các thời kỳ khác nhau có thể so sánh được Một khi có sự thav đổi về khái niệm, tiêu chuần hav phương pháp thì cần được giải thích kịp thời và đầy đủ để người sử dụng thông tin có thế hiểu được

Nguyên tắc thận trọng (Conservatism principle)’ Nguvên tắc này đảm bảo

giảm thiêu rùi cho chủ sở hữu khi đòi hỏi lựa chọn giải pháp ít thuận lợi nhất đổi với quyền lợi của chủ sở hữu Dôi khi nguyên tắc này còn được truyền miệng rằng “nên chấp nhận tất cả các khoản lỗ, không nên hường trước mọi khoản lãi”

Ví dụ, giá trị tồn kho không nên ghi nhận theo giá thị trường khi giá thị trường thấp hơn giá vốn, ngược lại nếu giá thị trường cao hơn giá vốn thi giá vốn vẫn được sử dụng để đám bảo tính chắc chan tin cậv của kết quả tương lai.1.5 MINH HỌA NỘI DƯNG CỬA KÉ TOÁN VÀ QUÁ TRÌNH HỈNH THÀNH BÁO CÁO TÀI CHĨNH

Để trợ giúp cho việc minh họa nàv chúng ta sẽ phán tích lại đẳng thức kế toán (1-1) Cũng giống như bất kỳ đắng thức nào, các thành phần cùa đẳng thức kế toán có thể được hoán vị cho nhau như sau:

Tài sản - Nợ phải trả = vốn chủ sờ hữu (1 - 2 )

Dưới dạng này người ta có thể nhận thấy bản chất "phần còn lại".của

vốn chủ sở hữu, tức là quyền lợi của chủ sở hữu đứng sau quyền lợi của chủ

nợ Đẳng thức (1-2) cũng cho thấy, khi doanh nghiệp thực hiện một nghiệp

vụ kinh doanh nào đó khiến cho một thành phần cua đẳng thức thay đổi thì một thành phần khác của đẳng thức cũng sẽ thay đổi theo tương ứng để duy trì tính chất cân bằng của đẳng thức Như vậy, bằng cách phản ánh ảnh hường của từng nghiệp vụ đến đẳng thức kê toán kế toán viên sẽ xãy dựng được các báo cáo tài chính của doanh nghiệp; và đây cũng chính là mục tiêu

và nội dung của kế toán Điều này sẽ được tìm hiểu thông qua ví dụ về Công

ty sửa chừa xe hơi Thành Công vừa mới được thành lập một tháng qua

1.5.1 Ảnh hưởng của các nghiệp vụ đến đẳng thức kế toán

Bảng 1-3 tóm tắt các nghiệp vụ mà công ty thực hiện trong Tháng 1 năm 20IX kể từ khi ông chủ công ty rút 3.000 triệu VND tiền riêng từ ngân hàng

21

Trang 23

để thành lập Công tv tư nhân Thành Công cho đến cuối tháng khi ông chù quyết định vay dài hạn 15.000 USD từ ngân hàng để tiếp tục mở rộng kinh doanh.

Bàng 1-3 Các nghiệp vụ kinh doanh của Công ty Thành Công

Tháng 1 năm 201X

(Đơn vị tính: Triệu VND)

10 25 thảng 1 Thanh toán tiếp một phần vật tư (khoản phải trả) cho

Quá trình ghi chép các nghiệp vụ diễn ra như sau:

Nghiệp vụ ỉ: Ngày 1/1, ông chủ công ty đóng góp vốn bằng cách ký gửi

3.000 triệu VND vào tài khoản tiền tại ngân hàng của công ty, do đó vốn chủ

sờ hữu của đẳng thức kể toán cũng sỗ có giá trị là 3.000 triệu VND Đẳng thức kế toán của công ty sẽ bao gồm một tài sản duy nhất là tiền tại ngân hàng và một nguồn vốn duy nhất là vốn chủ sở hữu, công ty hiện tại chưa có các loại tài sản khác và cũng chưa sử dụng nợ phải trả Như vậy, nghiệp vụ 1 ảnh hường cùng lúc đến 2 vế của đẳng thức kế toán

Trang 24

Nghiệp vụ 2-: Ngày 3/1, ông chủ công ty tiến hành mua một số thiết bị sửa

xe Tổng giá trị niêm yết của số thiết bị này là 1.850 triệu VND, tuy nhiên sau khi thương lượng hai bên bán và mua đã nhất trí giá bán cuối cùng là 1.800 triệu VND thanh toán ngay bằng tiền Nghiệp vụ này sẽ hình thành một loại tài sản mới là thiết bị trị giá 1.800 triệu VNP, tuy nhiên cũng đồng thời làm giảm một lượng tiền tại ngân hàng của công ty với giá trị tương ứng

Lưu ý rằng, theo nguyên tắc giá gốc, giá niêm yết của thiết bị (1.850 triệu

VND) là một tham số không liên quan khi ghi chép nghiệp vụ này Ngoài ra,

vì đây là một nghiệp vụ trao đổi một tài sản là tiền lấy một tài sản khác là thiết bị nên số dư tiền mặt của công ty chỉ còn 1.200 triệu VND, trong khi đó nguồn vốn chủ sở hữu không thay đổi Như vậy, nghiệp vụ này ảnh hưởng đến 2 khoản mục của phần tài sản Đẳng thức kế toán trước nghiệp vụ 2, ảnh hưởng của nghiệp vụ 2, và đẳng thức sau nghiệp vụ này như sau:

Tiền tại

hàng

Thiết bị

Vốn của ông chủ

Nghiệp vụ 3: Ngày 4/1, ông chủ công ty mua một số vật tư yà phụ tùng

thiết bị sửa xe trị giá 1.200 triệu VND Bên bán đồng ý cho Thành Công thanh toán trong vòng 30 ngày và công ty Thành Công đã đồng ý Như vậy,

nghiệp vụ này sẽ hình thành một loại tài sản mới là vật tư trị giá 1.200 triệu VND, đồng thời làm hình thành một nguồn vốn mới là khoản phải trả

(accounts payable) với giá trị tương ứng Việc mua sắm vật tư này không làm giảm tiền của công ty cũng như không làm giảm vốn chủ sở hữu vì công ty

được bạn hàng bán chịu Khoản phải trả được coi là một nguồn vốn tự động hình thành (spontaneous funds) mà trong thực tiễn hay gọi là nguồn vốn chiếm dụng được của bạn hàng Đây là một nghiệp vụ ảnh hưởng đến cả tài

sản và nguồn vốn của công ty, cùng lúc làm tăng tài sản và nguồn vốn lên 4.200 triệu VND Đẳng thức kế toán trước nghiệp vụ 3, ảnh hưởng của nghiệp vụ 3, và đẳng thức sau nghiệp vụ này như sau:

23

Trang 25

TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VCSH Ghi chú Tiền tại

Nghiệp vụ 4: Ngày 8/1, ông chủ của Thành Công quyết định thương lượng

với ngân hàng vay một khoản tiền 500 triệu VND, kỳ hạn 3 tháng, trả lãi và gốc khi đáo hạn Công ty dùng số tiền này để trả bớt một phần vật tư mua chịu ngày 4/1 Nghiệp vụ này sẽ hình thành một loại nguồn vốn mới là vay ngắn hạn (short-term borrowings) trị giá 500 triệu VND, đồng thời làm số dư khoản phải trả giảm xuống chỉ còn 700 triệu VND Đây là một nghiệp vụ ảnh hưởng đến 2 khoản mục của phần nguồn vốn, và do đó không làm thay đổi tổng tài sản và tổng nguồn vốn của công ty Tác động cuối cùng của nghiệp

vụ 4 đối với đẳng thức kế toán được trình bày trong bảng dưới đây

Trang 26

Nghiệp vụ 5: Ngày 15/1, Công ty Thành Công hoàn thành hợp đồng sửa

chữa thứ nhất trị giá 180 triệu VND và được khách hàng thanh toán ngay bằng chuyển khoản Nghiệp vụ này sẽ làm tăng tài sản tiền tại ngân hàng lên 1.380 triệu VND, đồng thời làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu lên 3.180 triệu VND Một lần nữa, đây là một nghiệp vụ ảnh hưởng đến cả tài sản và nguồn vốn của công ty cùng lúc làm tăng tài sản và nguồn vốn lên 3.180 triệu VND Lưu ý rằng, khác với nghiệp vụ 3, đây là rpột nghiệp vụ doanh thu, tức là một nghiệp vụ làm tăng đồng thời tài-sản và vốn chủ sở hữu Đẳng thức kể toán trước nghiệp vụ 5, ành hưởng của nó, và đẳng thức sau nghiệp vụ 5 như sau:

Nghiệp vụ 6: Ngày 20/1, Công ty Thành Công hoàn thành hợp đồng sửa

chữa thứ hai trị giá 800 triệu VND và cho phép khách hàng thanh toán trong vòng 30 ngày Nghiệp vụ này sẽ không làm tăng giá trị của tài sản tiền tại ngân hàng mà tạo ra một tài sản mới cho công ty là khoản phải thu trị gíá 800 triệu VND, đồng thời làm tăng nguồn vốn chủ sở hữu lên thêm 800 triệu VND

25

Trang 27

Khoản phải thu là một tài sản đặc biệt, nó không có hình thái vật chất mà chỉ là một quyền được thu tiền từ một khách hàng do kết quả cùa việc doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng đó Mặc dù trên thực tế công ty Thành Công chưa nhận được tiền chi trả từ khách hàng nhưng theo nguyên tắc ghi nhậndoanh thu, thì đây có thể coi là một khoản doanh thu của công ty Một lần nữa, đây là một nghiệp vụ cùng lúc làm tăng tài sản và vốn chủ sở hữu, tức là nghiệp vụ doanh thu Đẳng thức kế toán trước và sau nghiệp vụ 6 được trình bày trong bảng sau đây với tổng tài sản và nguồn vốn của công ty tăng lên đến 5.180 triệu VND.

Tiền tại

ngân

hàng

Nợ dài + hạn

Vốn của ông chù

Mua tải sản

Mua tài sản

Thanh toán

Mua tài sản

Doanh thu

Doanh thu

Nghiệp vụ 7 và 8: Ngày 22/1, Công ty Thành Công trả công đợt 1 cho

người lao động với số tiền là 250 triệu VND Nghiệp vụ này, một mặt, làm giảm tiền tại ngân hàng một lượng là 250 triệu VND, mặt khác, làm giảm

Trang 28

tương ứng vốn chủ sở hữu Trong nghiệp vụ này, theo nguyên tắc ghi nhận chi phí, lợi ích mà công ty nhận được từ người lao động - tức là sức lao động

- đã được sử dụng tính đên thời điểm việc trả lương được thực hiện Vi vậy đây là một nghiệp vụ chi phí

Tương tự như vậy, khi công ty kiểm kê và xác nhận lượng vật tư đã được

sử dụng tính đến ngày này trị giá 620 triệu VND, thì đây cũng là một nghiệp

vụ chi phí có tác động làm giảm đồng thời tài sản và vốn chù sở hữu Việc kiểm kê cho thấy tính đến thời điểm này, một lượng tài sản đã sử dụng được

đo lường một cách tin cậy Tác động của 2 nghiệp vụ 7 và 8 đối với đẳng thức kế toán được trình bày trong bảng dưới đây, trong đó tổng tài sản và nguồn vốn bị giảm xuống 4.310 triệu VND

bị

Khoản phải + trả

nf " + hạn hạn

+

Vón của ông chủ

Trang 29

Việc kết hợp cả hai nguyên tắc ghi nhận doanh thu và ghi nhận chi phí khi nguồn thu khả dĩ cũng như tài sản hoặc lợi ích được sử dụng có thể được

đo lường một cách tin cậy được gọi là kế toán dồn tích (accrual accounting)

Nghiệp vụ 9 và 10: Ngày 25/1, Công ty Thành Công thu hồi một phần

khoản phải thu từ khách hàng cùa họp đồng 2 số tiền là 380 triệu VND Nghiệp vụ này, một mặt, làm giảm khoản phải thu một lượng là 380 triệu VND, mặt khác, làm tăng tương ứng tài sản tiền tại ngân hàng Chú ý, mặc

dù tiền tại ngân hàng tăng nhưng vốn chủ sở hữu không tăng vì vậy đây không phải là nghiệp vụ doanh thu Kết quả nghiệp vụ này là tổng tài sản và nguồn vốn cùa công ty vẫn ở mức 4.310 triệu VND

Vật tư + Thiết

bị

Khoản phải + trả

Trang 30

Cũng trong ngày này, để sử dụng tiền có hiệu quá và hoàn thành nghĩa vụ với bạn hàng, Thành Công quyết định trả bót 300 triệu VND vật tư mua chịu

từ Công ty An Phú Đây là một nghiệp vụ làm giảm tài sản tiền và nguồn vốn, nhưng không phải vốn chủ sở hữu, nên không phải là một nghiệp vụ chi phí Tuy nhiên, kết quả của nghiệp vụ này là tống tài sản và nguồn vốn của công ty đã giảm xuống 4.010 triệu VND

Tác động phối hợp của 2 nghiệp vụ 9 và 10 đối với đẳng thức kế toán được trình bày trong bảng trên

Nghiệp vụ 11 và 12: Ngày 28/1, do một số việc riêng, ông chủ Thành

Công quvết định rút một phần vốn đầu tư là 750 triệu VND ra khỏi công

ty Nghiệp vụ này làm giảm đồng thời tiền tại ngân hàng và vốn chủ sở hữu một lượng là 750 triệu VND Do đó, tổng tài sản và nguồn vốn của công ty giảm xuống chỉ còn 3.260 triệu VND Tiếp theo đó, khi ông chủ của công ty , quyết định vay dài hạn từ ngân hàng 500 triệu VND, thì nghiệp vụ này sẽ làm hình thành thêm một nguồn vốn mới là vay dài hạn trên đẳng thức kế toán cùa công ty, đồng thời làm tăng tài sản tiền tại ngân hàng Kết quả là tài sản và nguồn vốn của công ty lại tăng trở lại lên 3.760 triệu VND (bảng 1-4)

29

Trang 31

Bảng 1 -4 Tác động của các nghiệp vụ đến đẳng thức kế toán

của Công ty Thành Công Tháng 1 năm 201X

Thiết bị

Khoản phái + trả

Vay ngắn + hạn

Nợ dài hạn +

Vốn của ông chú

Trang 32

1.5.2 Các báo cáo tài chính của Công ty Thành Công

Ket quả trên đây cho phép chúng ta xây dựng các báo cáo tài chính của Công ty Thành Công sau một tháng hoạt động đầu tiên Một sổ điều cần lưu

ý khi xây dựng các báo cáo:

1) Mỗi một nghiệp vụ tác động đến ít nhất 2 thành phần của đẳng thức kế toán Trong mỗi trường hợp, sau khi tác động này được ghi chép, đẳng thức kế toán vẫn phải cân bằng Hệ thống kế toán mà chúng ta bắt đầu nghiên cứu ở đây được gọi là hệ thống ghi sổ kép (double-entry accounting) Hệ thống này được đặt cơ sở trên một thực tế là mỗi nghiệp

vụ sẽ tác động đến hai hoặc hơn hai thành phần của đẳng thức kế toán,

vì vậy đòi hỏi mỗi nghiệp vụ xảy ra được ghi chép ít nhất trong hai thành phần của đẳng thức kế toán Việc đẳng thức kế toán phải cân bằng sau mỗi nghiệp vụ là một chi báo giúp phát hiện sai sót có thể có trong quá trình ghi sổ Nếu đẳng thức này không cân bằng thì tức là đã có một sai sót nào đó

2) Cũng cần lưu ý đến các nghiệp vụ tác động đến vốn chủ sở hữu Các nghiệp vụ này bao gồm đầu tư hoặc rút vốn của ông chủ, doanh thu hoặc chi phí Có thể thấy rằng, vốn chủ sở hữu sẽ tăng do kết quả của đầu tư hoặc doanh thu Ngược lại, vốn chủ sở hữu sẽ giảm khi có sự rút vốn của chính ông chủ hoặc chi phí

3) Mỗi cột trong bảng 1-4 biểu diễn biến động trong kỳ kế toán của một thành phần nào đó (một tài sản hoặc nguồn vốn) của đẳng thức kế toán Đây cũng chính là các đối tượng nghiên cứu của kế toán Để theo dõi đối tượng kế toán người ta sẽ sử dụng các tài khoản kế toán Điều này sẽ được tìm hiểu kỹ hơn trong chương 2, tuy nhiên ngay từ bây giờ có thể nhận thấy mỗi cột trong bảng 1-4 chính là biểu diễn của một tài khoản

và hàng cuối cùng cùa bảng này cho biết số dư của các tài khoản Các số

dư này được tập hợp lại để xây dựng bảng cân đối kế toán của công ty tại thời điểm ngày 31 tháng 1 năm 201X

Tại thời điểm này, tài sản của công ty bao gồm hai thành phần chính là tài sản ngắn hạn trị giá 1.960 triệu VND và tài sản dài hạn 1.800 triệu VND Tài sản ngắn hạn bao gồm: 960 triệu VND tiền tại ngân hàng, 420 triệu VND khoản phải thu và 580 triệu VND hàng tồn kho dưới dạng vật

tư và phụ tùng Nguồn vốn của công ty bao gồm 1.400 triệu VND nợ phải trả và 2.360 triệu VND vốn chủ sở hữu

31

Trang 33

Đơn vị tính: Triệu VND

CÔNG TY THÀNH CÕNG: BẢNG CÂN ĐỐI KÉ TOÁN

Tại ngày 31 tháng 1 nãm 201X

4) Từ bảng 1^4 chúng ta cũng có thể nhận dạng doanh thu và chi phí trong

kỳ, từ đó có thể xây dựng được báo cáo thu nhập (báo cáo lãi lỗ) hay còn gọi là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo này cho thấy, với tổng doanh thu từ hai hợp đồng sửa chừa là 980 triệu VND và chi phí sản xuất là 870 triệu VND, Thành Công đã có một khoản lãi kế toán là

Trang 34

CÔNG TY THÀNH CỒNG: BÁO CÁO VỐN CHỦ SỞ HỮU

Tại ngày 31 tháng 1 năm 201X

Điều này cũng cho thấy, ông chủ của công ty đã từng bước chuyển sang

sử dụng nợ phải trả để tận dụng những ưu thế của loại hình nguồn vốn này trong quá trình kinh doanh Đây chính là chỉnh sách huy động vốn theo hướng sử dụng đòn bẩy tài trợ mà chúng ta sẽ được tìm hiểu sau.6) Bảng 1-4 cũng cho phép nhận dạng các khoản thu chi bằng tiền trong kỳ -ủá công ty Thành Công, từ đó xây dựng báo cáo lưu chuyển tiền tệ Dây là một báo cáo cho biết các dòng tiền vào và ra trong kỳ của doanh Ighiệp theo ba nhóm hoạt động khác nhau là hoạt động kinh doanh, hoạt lộng đầu tư, và hoạt động tài chính

3 3

Trang 35

Số dư hoạt động kinh doanh

560 (250) (800)

(490) Hoạt động đầu tư

do số lượng nghiệp vụ rất lém« Để giâm thiểu khó khăn này người ta sử dụng các công cụ kế toán khác như tài khoản, nhật ký và sổ cái mà chúng ta sẽ được tỉm hiểu trong chương 2

Trang 36

1-1 Hãy nêu các giai đoạn của tiến trình kế toán và làm rõ mối liên hệ giữa các giai đoạn đố.

tắc kế toán hãy tìm một ví dụ minh họa

1-3 Báo cáo tài chính là gì? Nêu các chức năng và các thành phần chính của bảng cần đối kế toán, báo cáo thu nhập, báo cáo vốn chủ sở hữu và báo cáo lưu chuyển tiền tệ

1-4 Trong bảng sau đây, hãy xác định các thành phần chưa biết cùa đẳng thức kế toán ứng với mỗi tình huống độc lập (ĐVT: 1.000 VND)

Vốn của ông chủ

Tổng

Lãi/Lỗ ròng

Trang 37

1-6 Sau đây là các số liệu kể toán về Công ty Bạch Hưng tại ngày 31 tháng

12 năm 20IX, (ĐVT: triệu VND) Hãy xậy dựng bảng kết quả kinh doanh và bảng cân đổi kế toán của công ty này

tại ngày 1 tháng 7 năm 20IX cho thấy giá trị tài sản là 147 triệu VND

và nợ phải trả là 96 triệu VND Trong tháng 7 công ty đã tiến hành một

số nghiệp vụ sau:

- Điện năng: 345 triệu VND

- Bảo hiểm: 1.550 triệu VND

- Thuê nhà xưởng: 2.150 triệu VND

- Quảng cáo: 855 triệu VNÒ

thanh toán

Yêu cầu: Xây dựng báo cáo thu nhập và báo cáo vốn chủ sở hữu của công

ty trong tháng 7

tháng 1 năm 20IX Vào ngày 31 tháng 12 năm 20IX số liệu thống kê

Trang 38

cho thấy tình hình tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, doanh thu và^chi phí của công ty nhu sau (ĐVT: triệu VND):

Yêu cầu: Biết trong năm ông chủ rút vốn 23.400 triệu VND Hãy:

(1) Xây dựng báo cáo thu nhập của công ty cho năm 201X

(2) Xây dụng bảng cân đối kế toán cùa công ty tại ngày 31 tháng 12 năm 201X.(3) Xây dụng báo cáo vốn chủ sở hữu, và báo cáo luu chuyển tiền tệ của công ty cho năm 20IX

37

Trang 39

có được nền tảng cần thiết cho việc nghiên cứu các chủ đề có tính hệ thống trong các chương tiếp theo.

2.1 ĐÓI TƯỢNG CỦA KẾ TOÁN

Như đã trình bày trong chương 1, đối tượng nghiên cứu của kế toán bao gồm tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp, các nguồh vốn được huy động để tài trợ cho các tài sản, cũng như sự vận động và thay đổi của tài sản và nguồn vốn trong quá trình hoạt động Đồng-thời, đối tượng của kế toán cũng bao gồm doanh thu, chi phí và lợi nhuận của doanh nghiệp do kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại

Mặt khác, nếu liên hệ với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, chủng ta có

thể nhận thấy đối tượng của kế toán chính là các giai đoạn của chu kỳ này và các nghiệp vụ phát sinh trong các giai đoạn này Các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh được minh họa qua hình vẽ -sau đây

Ở giai đoạn cung cấp, tiền được sử dụng để mua sắm những tài sản cố định

và tư liệu sản xuất để chuẩn bị sản xuất Quá trình sản xuất là giai đoạn kết hợp lao động, công cụ lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động để làm ra sản phẩm Trong quá trình này doanh nghiệp bỏ ra các chi phí và nhận được kết quả từ quá trình sản xuất Cảc chi phí này bao gồm chi phí về lao động, chi phí

về vật liệu, công cụ, dụng cụ, chi phí khấu hao tài sản cố định Kết quả đạt được có thể là thành phẩm, bán thành phẩm, khối lượng công việc hoàn thành

Trang 40

Giai đoạn tiêu thụ là giai đoạn cuổi cùng của quá trình kinh doanh Trong giai đoạn này thành phẩm được bán đi để nhận về tiền mặt hoặc khoản phải thu với giá trị lớn hon Phần chênh lệch giữa giá trị thu về và giá trị bỏ ra biểu thị lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận này sẽ được phân phối trên cơ sở cân nhắc lợi ích của chủ sở hữu và nhu cầu tái đầu tư vì sự phát triển của doanh nghiệp.Như vậy, trong suốt chu kỳ kinh doanh, tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp vận động liên tục qua các giai đoạn và thay đổi cả về giá trị và hình thái tồn tại, cùng với đó chi phí, doanh thu và lợi nhuận cũng có những thay đổi tương ứng.Trên đây là minh họa đối tượng kế toán đối với các doanh nghiệp sản xuất Trong thực tiễn, bất kỳ doanh nghiệp hoặc tổ chức nào, dù là sản xuất hay cung cấp dịch vụ, hành chính sự nghiệp hay phi lợi nhuận, ngân hàng hay các hãng bảo hiểm đều là đối tượng của kế toán Điều 9, Luật KÌ toán Việt Nam, đã quy định cụ thể các đối tượng của kế toán như sau:

Ị) Đối tượng kể toán thuộc hoạt động thu, chi ngăn sách nhà nước, hành chính, sự nghiệp:

a) Tiền, vật tư và tài sản cố định;

b) Nguồn kinh phí, quỹ;

c) Các khoản thanh toán trong và ngoài đơn vị kế toán;

d) Thu, chi và xử lỷ chênh lệch thu, chi hoạt động;

e) Thu, chi và kết dư ngân sách nhà nước;

í) Đầu tư tài chính, tín dụng nhà nước;

g) Nợ và xử lý nợ củạ Nhà nước;

h) Tài sản quốc gia;

i) Các tài sản khác có liên quan đến đơn vị kế toán

2) Đổi tượng kế toán thuộc hoạt động của đom vị, tổ chức sử dụng kinh phỉ ngân sách nhà nước gồm các tài sản, nguồn hình thành tài sản theỏ quy định tại các điếm a, b, c, d và i Khoản 1 Điêu này.

3) Đối tượng kế toán thuộc hoạt động kinh doanh gồm:

a) Tài sản cố định, tài sản lưu động;

Ngày đăng: 17/02/2021, 20:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w