1. Trang chủ
  2. » Địa lý lớp 12

Thiết kế các bài tập Toán theo hướng lồng ghép giáo dục ...

36 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 7,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toán học có mối quan hệ mật thiết với các môn khoa học khác; có liên hệ mật thiết với thực tiễn và có ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học, công nghệ cũng nh[r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH

=====    =====

BÁO CÁO TÓM TẮT GIẢI PHÁP SÁNG KIẾN

Thiết kế các bài tập Toán theo hướng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

trong thực tiễn cho học sinh THPT

MÔN: TOÁN

NĂM 2020

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ TĨNH

=====    =====

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

Thiết kế các bài tập Toán theo hướng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề

trong thực tiễn cho học sinh THPT

MÔN: TOÁN

NĂM 2020DANH MỤC KÍ TỰ VIẾT TẮT

Trang 3

Kí tự viết tắt Chú thích

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

Trang 5

I Bối cảnh 1

III Phạm vi nghiên cứu và Đối tượng nghiên cứu 2

2 Vai trò của việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức

3 Nguyên tắc và quy trình xây dựng các bài toán liên hệ thực tiễn 7

3.2 Phương pháp xây dựng bài toán thực tiễn 7

4 Một số khái niệm liên quan đến môi trường 7

4.2 Môi trường có những chức năng cơ bản nào? 8

2 Thực trạng của vấn đề giáo dục cho học sinh khả năng vận dụng

III Thiết kế các bài toán gắn với thực tiễn lồng ghép giáo dục bảo vệ môi

Trang 6

5 Thiết kế bài toán thực tiễn lồng ghép giáo dục tuyên truyền về thảm hoạ

6 Thiết kế bài toán thực tiễn lồng ghép giáo dục tuyên truyền về làm sạch

7 Thiết kế bài toán thực tiễn lồng ghép giáo dục tuyên truyền về tiết kiệm

8 Thiết kế bài toán lồng ghép giáo dục tuyên truyền về ô nhiễm chất

Trang 7

MỞ ĐẦU

I Bối cảnh của đề tài

Môi trường được xem như là những yếu tố bao quanh và tác động lên conngười cũng như mọi sinh vật Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sựsống và chất lượng cuộc sống của con người Chính vì vậy mà môi trường là một vấn

đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thế giới Tuy nhiên môi trường ngày nayđang bị ô nhiễm nặng nề do nền sản xuất phát triển và ý thức của con người Do vậy,việc giáo dục về vấn đề bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng, nhằm giúp nângcao ý thức của mỗi người, đồng thời trang bị cho mọi người những kỹ năng và hànhđộng bảo vệ môi trường một cách hiệu quả

Trong các hình thức giáo dục bảo vệ môi trường thì giáo dục ở phổ thông chiếm

vị trí đặc biệt quan trọng Ở trường THPT, việc truyền thụ kiến thức giáo dục bảo vệmôi trường đến học sinh thuận lợi và hiệu quả nhất vẫn là hình thức tích hợp và lồngghép vào các môn học Bên cạnh những kiến thức từ nội dung bài học, các em còn cóthể tích lũy được các kiến thức về môi trường từ đó hình thành ý thức bảo vệ, giữ gìnmôi trường Hiện nay, nội dung này đã và đang được triển khai, phổ biến rộng rãitrong giờ học kể cả chính khóa lẫn ngoại khóa, đặc biệt là lồng ghép, tích hợp trongcác môn học như: Toán học, Hóa học, Vật lí, Sinh học, Địa lý, Giáo dục công dân,Lịch sử,…

II Lý do chọn đề tài

Toán học có mối quan hệ mật thiết với các môn khoa học khác; có liên hệ mậtthiết với thực tiễn và có ứng dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau củakhoa học, công nghệ cũng như trong sản xuất và đời sống Việc rèn luyện cho họcsinh năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn có vai trò quan trọng trongdạy học bộ môn toán Giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường thông qua dạyhọc tích hợp, lồng ghép là điều cần thiết đối với sự phát triển của xã hội và phù hợpvới mục tiêu của giáo dục

Những ứng dụng của toán học vào thực tiễn, giáo dục bảo vệ môi trường trongchương trình và sách giáo khoa, cũng như trong thực tế dạy học toán chưa được quantâm một cách đúng mức và thường xuyên

Vấn đề lồng ghép dạy học toán với giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh

Trang 8

còn khá mới mẻ đối với giáo viên nên chưa được quan tâm, khai thác

Vì những lí do trên đây tôi chọn đề tài nghiên cứu: ''Thiết kế các bài tập Toán

theo hướng lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn cho học sinh THPT".

III Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.

1 Đối tượng nghiên cứu

- Các phương pháp và kỹ thuật dạy học dạy học tích hợp, lồng ghép Kiến thức

về môi trường và vai trò của việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn

- Hệ thống bài tập Toán trong chương trình giáo dục THPT

2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài vận dụng trong giảng dạy toán lớp 12 THPT, áp dụng cho học sinh khối

12 nơi tác giả đang giảng dạy bắt đầu từ học kỳ II, năm học 2018-2019

IV Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề tích hợp, lồng ghép giáo dụcbảo vệ môi trường vào dạy học bài tập Toán và vận dụng kiến thức toán học để giảiquyết một số bài toán có nội dung thực tiễn trong chương trình THPT

Xác định những đơn vị kiến thức trong chương THPT có tiềm năng khai tháclồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường

Đề xuất xây dựng hệ thống bài tập liên hệ thực tiễn, lồng ghép nội dung giáodục bảo vệ môi trường

V Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu, tìm hiểu một số vấn đề về môi trường có liên hệ với kiến thứcToán học Đề xuất được một số nội dung kiến thức toán có tiềm năng tích hợp, lồngghép giáo dục bảo vệ môi trường

Thiết kế được hệ thống bài tập có nội dung thực tiễn, lồng ghép giáo dục bảo vệmôi trường trong dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn toán, phát triểnnăng lực giải quyết vấn đề trong thực tiễn cho học sinh

Trang 9

NỘI DUNG

I Cơ sở lí luận

1 Cơ sở lý luận về dạy học tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường

1.1 Khái niệm về tích hợp và dạy học tích hợp

- Khái niệm về tích hợp: Tích hợp là sự hợp nhất, sự hài hòa, sự kết hợp Đó là

sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới

- Khái niệm về dạy học tích hợp: Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúphọc sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng…thuộc nhiều lĩnhvực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống,được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng; phát triểnđược năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề Tính tích hợp thể hiện qua

sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để

giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau

1.2 Các hình thức và các mức độ tích hợp nội dung môn học

Theo tích hợp môn học có các mức độ từ đơn giản đến phức tạp và theo cáchình thức khác nhau Có bốn mức độ và hình thức tích hợp:

+ Tích hợp trong nội bộ môn học: Là tích hợp trong nội dung các phân môn

thuộc môn học Tích hợp trong phạm vi hẹp sẽ xử lí các nội dung có liên quan của cácphân môn trong môn học

+ Tích hợp đa môn: Là tích hợp vào môn học những vấn đề mang tính toàn cầu

theo đặc trưng của mỗi môn học cho phép

+ Tích hợp liên môn: Là tích hợp nội dung, kĩ năng của các môn học, lĩnh vực

học tập khác nhau trong cùng một chủ đề, trong khi các môn học vẫn độc lập tươngđối nhau

+ Tích hợp xuyên môn: là số môn học, lĩnh vực học tập được kết hợp với nhau

thành những chủ đề trong một môn học mới Như vậy không còn tên các môn họctruyền thống

Các mức độ và hình thức tích hợp trên thường được sử dụng đan xen với nhautrong cấu trúc các môn học, hoạt động giáo dục phổ thông

Với các mức độ tích hợp trên, cách tích hợp ở phạm vi hẹp cho phép giữ môn

Trang 10

học truyền thống, đồng thời vẫn có thể xây dựng các chủ đề có tích chất liên môn làphù hợp vơi điều kiện hiện nay của Việt Nam, Chương trình giáo dục phổ thông mới

sẽ tích hợp theo cách này Có ba mức độ tích hợp trong dạy học các môn khoa học tựnhiên như sau:

- Lồng ghép: Đó là đưa ra các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn với xã hội,

gắn với các môn học khác vào dòng chảy chủ đạo của nội dung bài học của một mônhọc Ở mức độ lồng ghép, các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên, giáo viên có thểtìm thấy mối quan hệ giữ kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của cácmôn học khác và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thíchhợp

- Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động hoạt diễn ra xung

quanh các chủ đề, người học cần đến các kiến thức của nhiều môn học để giải quyếtvấn đề đặt ra Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ

- Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp ở mức độ này, tiến trình dạy học là tiến trình “Không môn học”, có nghĩa là nội dung kiến thức trong bài

học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau, do đó,các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ Mức độtích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học

1.3 Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường.

Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình thông qua hoạt động giáo dụcnhằm giúp con người có được sự hiểu biết, các kĩ năng và giá trị tạo điều kiện cho họtham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái

Như vậy, dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường là sự kết hợp chặt chẽ có

hệ thống kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức các môn học thành một nội dungthống nhất, gắn bó chặt chẽ

Hình thức và mức độ tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua bộ mônToán phù hợp và thuận lợi nhất đó là tích hợp ở mức độ lồng ghép, liên hệ

Mức độ liên hệ được thể hiện ở một số phần của bài học có mục tiêu nội dungphù hợp với nội dung giáo dục bảo vệ môi trường

2 Vai trò của việc rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn

Trang 11

- Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới và thực tiễn Việt Nam

Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, người lao động buộc phảichủ động dám nghĩ, dám làm, linh hoạt trong lao động, hòa nhập với cộng đồng xãhội; đặc biệt phải luôn học tập, học để có hành và qua hành phát hiện những điều cầnphải học tập tiếp Chính vì thế, trong giáo dục cần hình thành và phát triển cho họcsinh năng lực thích ứng, năng lực hành động, năng lực cùng sống và làm việc với tậpthể, cộng đồng cũng như năng lực tự học

Trong những quan điểm được đưa ra làm căn cứ xác định mục tiêu môn toán, cónêu: "Phải lựa chọn những nội dung kiến thức toán học cốt lõi, giàu tính ứng dụng,đặc biệt là ứng dụng vào thực tiễn "

Rõ ràng rằng, việc rèn luyện kỹ năng vận dụng toán học vào thực tiễn hoàn toànphù hợp và có tác dụng tích cực trong hoàn cảnh giáo dục của nước ta

- Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn là một yêu

cầu có tính nguyên tắc góp phần phản ánh được tinh thần và sự phát triển theo hướng ứng dụng của toán học hiện đại

Môn Toán trong nhà trường phổ thông bao gồm những nội dung quan trọng, cơbản, cần thiết nhất được lựa chọn trong khoa học toán học xuất phát từ mục tiêu đàotạo của nhà trường và phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh; đồng thờiphù hợp với thực tiễn giáo dục - xã hội của đất nước Những nội dung đó khôngnhững phải phản ánh được tinh thần, quan điểm, phương pháp mà còn phải phản ánhđược xu thế phát triển của khoa học toán học hiện nay, mà một trong những hướngchủ yếu của nó là ứng dụng

Một trong những nguyên tắc quan trọng trong giáo dục học môn Toán là Nguyêntắc "kết hợp lí luận với thực tiễn"

+) Đảm bảo cho học sinh nắm vững kiến thức Toán học để có thể vận dụng chúng vàothực tiễn;

+) Chú trọng nêu các ứng dụng của Toán học vào thực tiễn;

+) Chú trọng đến các kiến thức Toán học có nhiều ứng dụng trong thực tiễn;

+) Chú trọng rèn luyện cho học sinh có những kỹ năng toán học vững chắc;

+) Chú trọng công tác thực hành toán học trong nội khóa cũng như ngoại khóa

Trang 12

- Rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng Toán học vào thực tiễn đáp ứng yêu cầu mục tiêu bộ môn toán và có tác dụng tích cực trong việc dạy học toán

Vấn đề rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng toán học vào thực tiễn có vaitrò quan trọng và góp phần phát triển cho học sinh những năng lực trí tuệ, nhữngphẩm chất tính cách, thái độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáidục và đào tạo theo Nghị quyết TW 8 (khoá XI) Điều đó cần phải được nhấn mạnhvới yêu cầu cao hơn đối với học sinh THPT, bởi vì họ đang ở giai đoạn sắp sửa thamgia trực tiếp vào guồng máy sản xuất của xã hội, hoặc tham gia vào các quá trình đàotạo có tính chuyên môn hóa cao hơn

Tăng cường rèn luyện năng lực ứng dụng toán học vào thực tiễn là một mụctiêu, một nhiệm vụ quan trọng của việc dạy học Toán ở trường phổ thông Học sinhphải nắm vững hệ thống kiến thức và phương pháp toán học cơ bản, phổ thông; phảivận dụng được những kiến thức và phương pháp toán học vào kỹ thuật, lao động,quản lí kinh tế, vào việc học các môn học khác, vào việc tự học sau khi ra trường và

có tiềm lực nghiên cứu khoa học ở mức độ phổ thông Rèn luyện năng lực vận dụngToán học vào thực tiễn góp phần tích cực hóa trong việc lĩnh hội kiến thức Trong dạyhọc toán, để học sinh tiếp thu tốt, rất cần đến sự liên hệ gần gũi bằng những tình huống,những vấn đề thực tế Những hoạt động thực tiễn đó vừa có tác dụng rèn luyện nănglực vận dụng toán học vào thực tiễn vừa giúp học sinh tích cực hóa trong học tập đểlĩnh hội kiến thức Kỹ năng toán học hóa các tình huống thực tiễn được cho trongbài toán hoặc nảy sinh từ đời sống thực tế nhằm tạo điều kiện cho học sinh biếtvận dụng những kiến thức toán học trong nhà trường vào cuộc sống, góp phần gâyhứng thú học tập, giúp học sinh nắm được thực chất vấn đề và tránh hiểu các sựkiện toán học một cách hình thức Để rèn cho học sinh kỹ năng toán học hóa cáctình huống thực tiễn, cần chú ý lựa chọn các bài toán có nội dung thực tế của khoahọc, kỹ thuật, của các môn học khác và nhất là thực tế đời sống hàng ngày quenthuộc với học sinh Đồng thời, nên phát biểu một số bài toán không phải thuần túydưới dạng toán học mà dưới dạng một vấn đề thực tế cần phải giải quyết Rènluyện năng lực vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn, giúp học sinh có kỹ năngthực hành các kỹ năng toán học và làm quen dần các tình huống thực tiễn

Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông, một vấn đề nổi lên là giáo viên chỉ

Trang 13

quan tâm, chú trọng việc hoàn thành những kiến thức lí thuyết quy định trong chươngtrình và sách giáo khoa; mà quên, sao nhãng việc thực hành, không chú tâm dạy bàitập toán cho các em, đặc biệt những bài toán có nội dung thực tiễn, dẫn đến tình trạnghọc sinh thường lúng túng, thậm chí không làm hoàn chỉnh được những bài toán thực

ra rất cơ bản và ở mức độ trung bình Để tạo điều kiện vận dụng tri thức vào thực tế,còn phải có những kỹ năng thực hành cần thiết cho đời sống, đó là các kỹ năng tínhtoán, vẽ hình, đo đạc, Trong hoạt động thực tế ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng đòi hỏi

kỹ năng tính toán: Tính đúng, tính nhanh, tính hợp lí, cùng với các đức tính cẩn thận,chu đáo kiên nhẫn

3 Nguyên tắc và quy trình xây dựng các bài toán liên hệ thực tiễn

3.1 Nguyên tắc xây dựng

Nguyên tắc 1: Bài toán thực tiễn phải đảm bảo tính mục tiêu của chương trình,

chuẩn kiến thức, kỹ năng và định hướng phát triển năng lực vận dụng kiến thức toánhọc vào thực tiễn cho học sinh

Nguyên tắc 2: Bài toán thực tiễn phải đảm bảo nội dung dạy học, đồng thời phải

đảm bảo tính chính xác, tính khoa học, tính hiện đại

Nguyên tắc 3: Bài toán thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của học sinh Nguyên tắc 4: Bài toán thực tiễn phải đảm bảo tính sư phạm

Nguyên tắc 5: Bài toán thực tiễn phải có tính hệ thống, lôgíc

3.2 Phương pháp xây dựng bài toán thực tiễn

- Thêm các yếu tố thực tiễn vào bài toán đơn thuần có sẵn

- Thay đổi một số dữ liệu của một bài toán thực tiễn có sẵn để tạo thành một bàitoán thực tiễn khác

- Xuất phát từ nhu cầu giải quyết vấn đề trong cuộc sống

4 Một số khái niệm liên quan đến môi trường

4.1 Môi trường là gì?

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ

mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn

tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường

của Việt Nam)

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:

Trang 14

- Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh

học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của conngười Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất,nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồngcấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sảnxuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp

để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

- Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những

luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên HợpQuốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổnhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạtđộng của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuậnlợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.Như vậy, môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hộicần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, khôngkhí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

4.2 Môi trường có những chức năng cơ bản nào?

- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.

- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động

sản xuất của con người

- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc

sống và hoạt động sản xuất của mình

- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người

và sinh vật trên trái đất

- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người (Cung cấp và

lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuất hiện vàphát triển văn hoá của loài người)

Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lươngthực và tái tạo môi trường Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết chomình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không giankhác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới Việc khai thác quá

Trang 15

mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng khônggian sống mất đi khả năng tự phục hồi.

4.3 Bảo vệ môi trường là việc của ai ?

Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp,cải thiện môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quảxấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý vàtiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên và môi trường, thống nhất quản

lý bảo vệ môi trường trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi trường, có tráchnhiệm tổ chức thực hiện việc giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ,phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo vệ môi trường Luật Bảo vệ Môi

trường của Việt Nam ghi rõ trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân Tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật về

bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp

luật về bảo vệ môi trường".

4.4 Phải làm gì để bảo vệ môi trường ?

Để bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam nghiêm cấm cáchành vi sau đây:

- Đốt phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi, gây huỷ hoại môitrường, làm mất cân bằng sinh thái;

- Thải khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào không khí; phát phóng xạ,bức xạ quá giới hạn cho phép vào môi trường xung quanh;

- Thải dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá giới hạn cho phép, các chấtthải, xác động vật, thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và gây dịch bệnh vàonguồn nước;

- Chôn vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới hạn cho phép;

- Khai thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý hiếm trong danh mụcquy định của Chính phủ;

- Nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, nhậpkhẩu, xuất khẩu chất thải;

- Sử dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ diệt hàng loạt trong khai

Trang 16

thác, đánh bắt các nguồn động vật, thực vật.

4.5 Khủng hoảng môi trường là gì ?

Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng hoảng lớn là: dân số, lươngthực, năng lượng, tài nguyên và sinh thái Năm cuộc khủng hoảng này đều liên quanchặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng cuộc sống của con người có nguy cơsuy giảm Nguyên nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự bùng nổ dân số và cácyếu tố phát sinh từ sự gia tăng dân số Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là khủnghoảng môi trường

"Khủng hoảng môi trường là các suy thoái về chất lượng môi trường sống trên quy mô toàn cầu, đe doạ cuộc sống của loài người trên trái đất".

Những biểu hiện của khủng hoảng môi trường:

- Ô nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2 v.v ), ô nhiễm tiếng ồn vượt tiêu chuẩncho phép tại các đô thị, khu công nghiệp

- Hiệu ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu toàn cầu

- Tầng ozon bị phá huỷ

- Sa mạc hoá đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu, mặn hoá, phèn hoá,khô hạn

- Nguồn nước bị ô nhiễm

- Ô nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng

- Rừng đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất lượng

- Số chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia tăng

- Rác thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức độ độc hại

4.6 Sự cố môi trường là gì ?

Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động

của con người hoặc biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường

nghiêm trọng".

Sự cố môi trường có thể xảy ra do:

- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa phun, mưaaxit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;

- Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản

Trang 17

xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh, quốcphòng;

- Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí,sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ

sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;

- Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất,tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ

4.7 Ô nhiễm môi trường là gì ?

Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:

"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêuchuẩn môi trường"

Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặcnăng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người,đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường Các tác nhân ônhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thảirắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt

độ, bức xạ Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàmlượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác độngxấu đến con người, sinh vật và vật liệu

Trang 18

giáo dục bảo vệ môi trường còn rất ít, thiếu sáng tạo Trên thực tế, hoạt động liên hệthực tiễn trong bài giảng của giáo viên về giáo dục môi trường còn quá chung chung,không có mục tiêu cụ thể, đề cập đến vấn đề môi trường rộng lớn, không phù hợp vớithực tế, do đó hiệu quả thường không cao Mặc dù, kế hoạch hành động quốc gia vềgiáo dục môi trường đã nhấn mạnh đến việc đưa nội dung này hệ thống giáo dục quốcdân, song việc triển khai trong thực tế còn gặp nhiều rào cản, trong đó khó khăn lớnnhất chính là năng lực và trình độ của đội ngũ giáo viên Điều này đòi hỏi phải cónhững biện pháp và sáng kiến để tháo gỡ.

2 Thực trạng của vấn đề giáo dục cho học sinh khả năng vận dụng toán học vào thực tiễn.

Chúng ta biết rằng ứng dụng toán học vào thực tiễn được coi là một vấn đềquan trọng, cần thiết trong dạy học ở trường phổ thông Tuy nhiên, do nhiều lí dokhác nhau, vấn đề rèn luyện vận dụng toán học vào thực tiễn cho học sinh chưa đượcđặt ra đúng mức, chưa đáp ứng được những yêu cầu cần thiết Nhận định này đã đượcnêu lên trong một số tài liệu lí luận cũng như đã được thể hiện với những mức độkhác nhau trong thực tiễn dạy học toán

Sách giáo khoa là nguồn tri thức quan trọng nhất đối với học sinh, là loại sáchhọc tập phổ biến, là phương tiện mang nội dung học vấn và cũng là phương tiện dạyhọc Tuy nhiên, trong sách giáo khoa môn toán đang hiện hành các ứng dụng của toánhọc vào thực tiễn được đề cập còn ít Giảng dạy toán còn thiên về sách vở, hướngviệc dạy toán về việc giải nhiều loại bài tập mà hầu hết không có nội dung thực tiễn,lại càng ít nội dung tích hợp lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường Điều rõ rệt nhất

là, nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc lồng ghép kiến thức bài học với liên hệthực tiễn Giáo viên gặp khó khăn trong việc thiết kế các tình huống thực tiễn phùhợp nội dung kiến thức và đối tượng học sinh Vì vậy họ tỏ ra lúng túng khi thiết kếchương trình, thiết kế bài giảng và kế hoạch hoạt động cũng như thực hiện các hoạtđộng đó, thiếu kết hợp giữa lý thuyết và thực hành

Việc tích hợp, lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn học nóichung còn khó đối với giáo viên Đặc biệt khó khăn hơn đối với bộ môn Toán khi màviệc đưa các nội dung liên hệ thực tiễn đời sống còn rất ít trong chương trình sách giáokhoa Giáo viên chưa có cơ hội để tiếp cận các tài liệu tham khảo hay đề tài nghiên

Ngày đăng: 17/02/2021, 20:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Nguyễn Bá Kim, (2003), Phương pháp dạy học môn Toán, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: Nxb Đại học Sưphạm
Năm: 2003
14. Trần Kiều (1995), "Một vài suy nghĩ về đổi mới PPDH trong trường phổ thông ở nước ta", Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài suy nghĩ về đổi mới PPDH trong trường phổ thông ởnước ta
Tác giả: Trần Kiều
Năm: 1995
15. Nguyễn Bá Kim (1992), "Tính thống nhất Toàn thể của các nhiệm vụ môn Toán", Tạp chí Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính thống nhất Toàn thể của các nhiệm vụ môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Năm: 1992
16. Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình (1981), Giáo dục học môn Toán, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mônToán
Tác giả: Phạm Văn Hoàn, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1981
17. Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và dạy học toán đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam”, Nghệ An, tháng 9 năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và dạy học toán đáp ứng yêu cầu đổi mới giáodục Việt Nam
1. Sách giáo khoa Đại số và Giải tích lớp 12-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
2. Sách giáo khoa Hình học lớp 12-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
3. Sách giáo khoa Đại số và Giải tích lớp 11-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
4. Sách giáo khoa Hình học lớp 11-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
5. Sách giáo khoa Đại số lớp 10-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
6. Sách giáo khoa Hình học lớp 10-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
7. Sách bài tập Đại số và Giải tích lớp 12-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
8. Sách bài tập Hình học lớp 12-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
9. Sách bài tập Đại số và Giải tích lớp 11-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
10. Sách bài tập Hình học lớp 11-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
11. Sách bài tập Đại số lớp 10-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
12. Sách bài tập Hình học lớp 10-Cơ bản, nâng cao, Bộ GD&ĐT, Nxb Giáo dục Khác
18. Nguồn tài liệu, đề thi trên internet Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w