KẾT QUẢ NGHIấN CỨU VÀ THẢO LUẬN Theo dừi nuụi sinh học 942 mẫu sõu non đục quả thu được trên các giống đậu đỗ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 ở các địa điểm nghiên cứu nói trên, c
Trang 1Sự xuất hiện và hoạt động của ong ký sinh
Bassus javanus (Bhat & Gupta) (Braconidae) Trên sâu đục quả đậu đỗ
Maruca vitrata (Fabricius) ở khu vực phụ cận Hà Nội
THE APPEARANCE AND ACTIVITY OF BRACONID WASP
Bassus javanus (Bhat & Gupta) (Braconidae), A PARASITOID OF BEAN BORER
Maruca vitrata (Fabricius) IN HA NOI VICINITY
Khuất Đăng Long, Đặng Thị Hoa
Viện Sinh thỏi và Tài nguyờn sinh vật
Abstract
The paper presents a survey of larval parasitoids reared from bean borers Maruca vitrata and Etiella zinckenella, that infected on different bean crops in Hanoi vicinity There were six prasitoids found: two species of the family Ichneumonidae: Trathala flavo-orbitalis (Cameron) and Sinophorus sp., four other species of the family Braconidae: Agathis fabiae (Nixon), Bassus javanus (Bhat & Gupta), Bassus sp.A and Bracon sp., in which B javanus is the dominant wasp that occures on
different bean crops in Ha Noi vicinity from March to August Maximal percentage of bean borer larvae were parasitized up from 30 to 40%, and the lowest percentage of parasitism is 3% One pesticide treatment made before beans flowered may lightly decrease the activity of parasotoids
I Đặt vấn đề
Ở khu vực phụ cận Hà Nội, hầu hết các giống
đậu đỗ đều bị hai loài đục quả Maruca vitrata và
Etiella zinckenella gây hại, trong đó loài đục quả
M vitrata thường chiếm ưu thế Loài sâu hại này
xuất hiện trên tất cả các giống đậu trạch, đậu đũa,
đậu xanh, đậu đen và đậu tương, thời gian hoạt
động mạnh nhất từ tháng 3 đến tháng 8
Cụng trỡnh gần đây nhất (Khuất Đăng Long,
2004) đó thống kờ 4 loài ong ký sinh sõu non đục
quả đậu đỗ, trong số đó có 2 loài chưa được xác
định tên Trong bài này, chúng tôi đưa ra kết quả
nghiờn cứu về nhúm ong ký sinh ở sõu non sõu
đục quả đậu đỗ ở khu vực phụ cận Hà Nội, sự
xuất hiện và hoạt động của 1 loài ong ký sinh
chuyờn hoỏ ở sõu non đục quả M vitrata.
Cụng trỡnh này là kết quả của đề tài NCCB 6
017 06 do Bộ Khoa học và Công nghệ tài trợ.
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm điều tra, khu vực trồng màu thuộc
các huyện Từ Liêm (Phú Diễn), Long Biên (Tư
Đỡnh), Súc Sơn (Hiền Ninh) và huyện Hoài Đức
(Vân Côn) thuộc Hà Tây Điều tra thu sâu đục
quả gặp trên hoa và quả ở tất cả các giống đậu đỗ
như đậu trạch, đậu đũa, đậu xanh, đậu đen và đậu tương Thời gian nghiên cứu tập trung từ tháng 3 đến tháng 8 trong hai năm 2006-2007
Nuôi sinh học riêng rẽ sâu non đục quả thu được từ hoa và từ quả của từng giống đậu, sâu non thu từ ruộng không phun thuốc và ruộng có phun thuốc So sánh tỷ lệ sâu non đục quả bị chết
do ký sinh từ mỗi giống đậu theo phương pháp vẽ
đồ thị trong Excel thông thường
III KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
VÀ THẢO LUẬN Theo dừi nuụi sinh học 942 mẫu sõu non đục quả thu được trên các giống đậu đỗ trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 8 ở các địa điểm nghiên cứu nói trên, chúng tôi thu được 68 trường hợp sâu non bị nhiễm 5 loài ong ký sinh khác nhau Trong số đó có 25 trường hợp bị
(Cameron), hai loài ký sinh chỉ gặp 1 trường hợp
là loài ong cự Sinophorus sp và 1 loài ong vàng
(Braconidae: Braconinae), cũn lại 41 trường hợp gặp ba loài khác thuộc phân họ Agathidinae (họ
Braconidae): Agathis fabiae (Nixon), Bassus javanus (Bhat & Gupta) và Bassus sp.A
Trang 2Khuất Đăng Long, 2004, đó cú cụng trỡnh đề
cập đến 4 loài ong ký sinh ở pha sâu non đục quả
đậu đỗ ở Việt Nam, trong đó 2 loài đó được xác
định tên gồm A fabiae và B javanus (=
Baeognatha javana), cũn 2 loài chưa xác định
được tên khoa học đều thuộc giống Agathis
(Agathis sp.A và Agathis sp.B) So với tài liệu đó
được công bố trong nước, loài Trathala
flavo-orbitalis lần đầu tiên được ghi nhận ký sinh ở
nhóm sâu đục quả đậu đỗ, cũn loài Agathis sp.B
được chúng tôi xác định là Bassus gossypiella
(Bhat & Gupta), loài cũn lại Bassus sp.A
(=Agathis sp.A) sẽ được đề cập đến trong một
công trỡnh hệ thống phõn loại học gần đây
Theo tài liệu [5], A fabiae có phân bố ở Ấn
Độ, Trung Quốc, Malaixia và là loài ong ký sinh
ở sõu loang Earias vittella, sõu xanh Helicoverpa armigera và sõu hồng Pectinophora gossypiella, loài B javanus có phân bố ở Malaixia và
Inđônêxia, loài này gặp ký sinh trờn hai loài sõu
đục quả Etiella zinckenella và Maruca vitrata, cũn loài B gossypiella ký sinh ở sõu hồng Pectinophora gossypiella ở Ấn Độ và Xrilanca.
Hỡnh 1 Bassus javanus (Bhat & Gupta)
a Ong cái, b Biến thái của ô submarginal cánh trước, c Đốt trung gian
d Các đốt bàn 3+4+5 và móng+đệm móng chân sau, e Đỉnh máng đẻ trứng,
c Mặt lưng bụng
Như vậy, ở khu vực phụ cận của Hà Nội,
trên sâu đục quả đậu đỗ có 6 loài ong ký sinh,
2 loài thuộc họ Ichneumonidae và 4 loài thuộc
họ Braconidae Trong số 6 loài ong ký sinh ở
pha sõu non, loài B gossypiella chưa gặp lại,
cũn ong đen ngực đỏ Bassus javanus là loài
chiếm ưu thế (hỡnh 1) Loài này gần như có
mặt liên tục trên nhiều giống đậu đỗ từ tháng
3 đến tháng 8 cùng với sự có mặt của hai loài
sâu đục quả
Trong hai loài sâu đục quả đậu đỗ ở khu vực
phụ cận Hà Nội, loài M vitrata chiếm ưu thế
hơn so với E zinckenella Kết quả phân tích số
liệu điều tra trên tất cả các giống đậu đỗ như
đậu trạch, đậu đũa, đậu xanh, đậu đen và đậu tương, trong số 942 mẫu sâu non thu thập
được, có 885 mẫu là loài M vitrata, cũn lại chỉ
cú 57 mẫu là loài E zinckenella.
Xột về sự lựa chọn thức ăn của loài sâu đục quả theo giai đoạn sinh trưởng và phát triển của đậu đỗ, sâu non thường gặp tập trung trên hoa
và quả non, tỷ lệ sâu đục quả đậu đỗ gặp trên hoa và trên quả non gần như nhau (hỡnh 2) Chớnh đặc điểm gây hại của sâu đục quả đậu
đỗ ngay từ noón hoa cũng làm tăng khả năng
sâu non bị nhiễm loài ong ký sinh Bassus javanus
Trang 3Hỡnh 2 So sỏnh sự cú mặt của sõu non M vitrata trên hoa và quả đậu đũa
và tỷ lệ nhiễm ký sinh (Phỳ Diễn, Từ Liờm 2007)
Hỡnh 3 Hiệu quả hoạt động của ong ký sinh B javanus trên 2 sâu đục quả M vitrata
hại đậu Trạch và đậu đũa (Phú Diễn, Từ Liêm, 2007)
Kết quả nuôi sinh học riêng rẽ sâu đục quả
đậu đũa thu được từ hoa và quả cho thấy, tỷ lệ
sâu non bị nhiễm ký sinh trên hoa đạt cao hơn so
với tỷ lệ ký sinh ở sâu non thu từ quả Điều này
cũng đó được chúng tôi kết luận khi nghiên cứu
tập tính hoạt động ký sinh ở hai loài A fabiae và
B javanus, trong đó chúng tôi nhận thấy rằng hai
loài ong ký sinh này cú tập tớnh đẻ trứng vào sâu
non tuổi nhỏ khi chúng chuẩn bị đục vào noón
quả khi bờn ngoài vẫn cũn cỏnh hoa chưa rụng
(Khuất Đăng Long, 2004) Dựa vào đặc điểm
này, việc khuyến cáo phun thuốc trừ sâu trước
thời điểm đậu đỗ ra hoa hoặc khi đậu đó vào quả
cú thể giảm được tác động có hại của thuốc trừ
sâu đến hiệu quả của nhóm ong ký sinh này
Trong cùng một thời điểm có nhiều giống đậu
đỗ khác nhau trên đồng, sâu đục quả thường gặp
nhiều trên đậu trạch, đậu đũa, sau đó đến đậu xanh và đậu đen, gặp ít hơn trên đậu tương Cũng chính do sự lựa chọn thức ăn khá rừ rệt ở sõu đục
quả đậu đỗ, hai loài ong ký sinh A fabiae và B javanus cũng xuất hiện khá sớm trên đậu trạch và
đậu đũa (tháng 3 đến tháng 4), cũn vào thời điểm trên cánh đồng chỉ cũn lại đậu xanh + đậu đen và đậu tương, sự xuất hiện của 2 loài ong ký sinh này tập trung nhiều hơn trên đậu xanh + đậu đen (tháng 5 đến tháng 7)
Trên những cánh đồng trồng đậu đỗ ở Từ Liêm Hà Nội trong thời gian từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 5, sự xuất hiện và hoạt động liên tục
của sâu đục quả M vitrata trên đậu trạch và đậu đũa đó làm tăng cơ hội cho loài ong ký sinh B javanus, tỷ lệ sâu non bị chết bởi ký sinh đạt đỉnh
cao trên đậu trạch vào giữa tháng 4 và trên đậu
Trang 4đũa vào đầu tháng 6 (hỡnh 3) Cũn trong khoảng
thời gian từ sau tháng 6 trở đi, sâu đục quả
chuyển sang gây hại cho đậu xanh, đậu đen và
đậu tương vụ hè thu, khi đó sự xuất hiện nhiều và
hoạt động mạnh rừ rệt của ong ký sinh cú thể quan sỏt thấy vào cuối thỏng 6 đầu tháng 7 trên đậu xanh và đậu đen
Hỡnh 4 So sánh hiệu quả hoạt động của ong ký sinh B javanus trên sâu đục quả M vitrata trong điều kiện phun thuốc trừ sâu
So sánh hiệu quả hoạt động của ong ký sinh
B javanus đối với sâu đục quả đậu đũa M.
vitrata trong điều kiện có phun thuốc trừ sâu
trước khi đậu ra hoa và sau khi đậu quả cho
thấy, trong cả hai trường hợp đối với sâu non
đục quả thu trên hoa và thu từ quả đậu đũa, tỷ
lệ ký sinh ở ruộng phun thuốc đều có xu hướng
thấp hơn so với ruộng không phun (hỡnh 4)
IV KẾT LUẬN
- Ở khu vực phụ cận Hà Nội, sâu đục quả
đậu Maruca vitrata chiếm ưu thế hơn so với
loài đục quả khác là Etiella zinckenella, cú 6
loài ong ký sinh ở pha sõu non của chỳng được
phát hiện, trong số đó, họ Ichneumonidae cú 2
loài: cự Trathala flavo-orbitalis (Cameron) và
Sinophorus sp., họ Braconidae cú 4 loài:
Agathis fabiae (Nixon), Bassus javanus (Bhat
& Gupta), Bassus sp.A và Bracon sp., cũn loài
Bassus gossypiella (Bhat & Gupta) chưa thấy
xuất hiện trở lại
- Trong số 6 loài ong ký sinh ở sõu đục quả,
loài B javanus chiếm ưu thế, loài này hoạt
động ký sinh ở sâu non sâu đục quả tuổi nhỏ
ngay từ khi sâu non cũn trong quả noón Loài
ong ký sinh này xuất hiện trờn đậu đỗ từ tháng
3 đến tháng 8, hoạt động mạnh nhất từ tháng 3 đến tháng 6 Trong thời gian này, tỷ lệ sâu non sâu đục quả bị nhiễm ký sinh đạt cao nhất tới 40%, thấp nhất trờn 3%
Trên cánh đồng có trồng nhiều giống đậu
khác nhau, ong ký sinh B javanus thường hoạt
động tích cực và có tỷ lệ ký sinh cao nhất ở sõu non trờn đậu trạch, sau đó đến đậu đũa, đậu xanh+đậu đen, ít hơn trên đậu tương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bhat S., Gupta V.K, 1977 Oriental Insects Monograph 6:1-353
2 Khuat Dang Long, Belokobylskij S A.,
2003 Russian Entomogical Journal, 12(4): 385-398
3 Khuất Đăng Long, 2004 Tạp chớ Sinh học, t 26(3A): 8-14
4 Khuất Đăng Long, 2004 Tạp chí BVTV,
s 5(197): 30-35
5 Yu D S., Achterberg K van & Horstmann K., 2005: Biological and taxonomical information: Ichneumonoidea
2004 Taxapad Interactive Catalogue, Vancouver
Trang 5ảnh hưởng của một số thuốc trừ nhện đỏ hại bông
đến loài nhện nhỏ bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans (Mesostigmata: Phytoseiidae)
Side effect of some pesticides for controlling the red
spider mite on the predator mite, Neoseiulus longispinosus Evans (Mesostigmata: Phytoseiidae)
Mai Văn Hào (1) , Hoàng Thị Mỹ Lệ (1)
Nguyễn Viết Tựng (2)
Abstract
The study was carried out at the Research Institute for Cotton and Agricultural Development of Vietnam Eight pesticides (Petis 24,5EC, VINEEM 1500EC, PolytrinP 440EC, Pegasus 500SC, Comite 73EC, Bifentox 30ND, Secure 10EC, Sokupi 0.36AS) were evaluated their side effect on the
predator mite, Neoseiulus longispinosus Evans
The result show that Sokupi 0.36AS (Matrine), Vineem 1500EC (Azadirachtin), Comite 73EC (Propargite), Petis 24EC (Abamectin + Petroleum oil), Bifentox 30ND (Dimethoate + fenvalerate)
harmless to the predator mite, N longispinosus These chemicals are expected to be promising pesticides on IPM for cotton in Vietnam, where N longispinosus is major natural enemy of red spider
mite Besides, Pegasus 500SC (Diafenthiuron), Secure 10EC (Chlorfenapyr) and PolytrinP 440EC
(Profenofos+Cypermethrin) are harmful to N longispinosus.
Key words: Neoseiulus longispinosus Evans, predator mite, Phytoseiidae, pesticide, cotton.
I ĐẶT VẤN ĐỀ Các loài nhện nhỏ bắt mồi thuộc họ
Phytoseiidae là những kẻ thù tự nhiên chủ yếu
của nhện nhỏ hại thực vật Rất nhiều loài thuộc
họ này được nhân nuôi hàng loạt và ứng dụng
như tác nhân sinh học quan trọng trong phũng
chống nhện nhỏ hại thực vật (Nguyễn Văn Đĩnh,
2004) Loài nhện nhỏ bắt mồi Neoseiulus
longispinosus Evans được xem là loài thiên địch
quan trọng của nhện đỏ Tetranychus urticae
Koch tại Thỏi Lan, Úc, Trung Quốc, Ai Cập,
Ấn Độ, Malaysia, Triều Tiên, Đài Loan
(Manita Kongchuensin và Akio Takafuji, 2006;
longispinosus cũng là loài bắt mồi quan trọng
của nhện đỏ T urticae hại bông ở Việt Nam
(Mai Văn Hào và cộng sự, 2006)
Tại Việt Nam, để phũng chống nhện đỏ hại
bông hiện vẫn dựa vào thuốc hóa học là chủ yếu
Việc phun thuốc trừ nhện đỏ không những diệt trừ được nhện đỏ mà cũn cú thể ảnh hưởng đến các loài thiên địch, trong đó có loài nhện nhỏ bắt
mồi N longispinosus Để có cơ sở khuyến cáo sử
dụng thuốc trừ nhện đỏ hại bông hợp lý nhằm giảm đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng của
thuốc đến loài nhện nhỏ bắt mồi N Longispinosus, chúng tôi đánh giá ảnh hưởng của
một số loại thuốc trừ nhện đến loài nhện nhỏ bắt
mồi Neoseiulus longispinosus.
II VẬT LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Vật liệu nghiờn cứu
-Nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus được thu
thập trên cây bông và nhân nuôi tại Viện Nghiên cứu bông và Phát triển Nông nghiệp Nha Hố, giống bụng lai VN15
- 08 loại thuốc gồm Petis 24,5EC (Abamectin + Petroleum oil), VINEEM 1500EC
(Profenofos+Cypermethrin), Pegasus 500SC (Diafenthiuron), Comite 73EC (Propargite), Bifentox 30ND (Dimethoate + fenvalerate),
( 1) Viện Nghiờn cứu Bụng và Phỏt triển Nụng
nghiệp Nha Hố
Trang 6Secure 10EC (Chlorfenapyr) và Sokupi 0.36AS
(Matrine) và một số vật liệu chuyờn dụng khỏc
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được thực hiện theo phương pháp
của FAO (1984), Overmeer (1985), Manita
Kongchuensin và Akio Takafuji (2006), có điều
chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tế
Nhện nhỏ bắt mồi trưởng thành của loài N.
longispinosus được thu ngoài đồng về cho đẻ
trứng và nuôi trong phũng thớ nghiệm Khi cú
pha trưởng thành xuất hiện, cho ghép đôi rồi sau
đó 2-3 ngày tiến hành khảo nghiệm Đĩa lá bông
(diện tích 25cm2) có trưởng thành cái hoặc trứng
của nhện nhỏ bắt mồi (NNBM) N longispinosus
được nhúng vào dung dịch thuốc trong thời gian
5 giây Mỗi đĩa lá có 10 trứng (các trứng từ 8 giờ
– 1 ngày tuổi) hoặc 10 cá thể cái trưởng thành
(2-3 ngày tuổi) của loài NNBM N longispinosus.
Sau khi nhỳng mẫu lá vào dung dịch nước thuốc,
dùng panh nhấc đĩa lá đặt lên giấy thấm trong
thời gian 15 phút để bay hết hơi nước rồi đếm
tổng số nhện hoặc trứng nhện cũn trờn đĩa lá Sau
đó chuyển lên đĩa petri có bông ẩm Sau 24, 48
giờ đếm số nhện nhỏ bắt mồi trưởng thành sống
và sau 24, 48, 72 giờ đếm số trứng nở Các thao
tác đếm nhện được thực hiện dưới kính lúp Những cá thể NNBM không phản ứng khi dùng bút lông chạm vào cả 2 chân được coi là chết Thí nghiệm gồm 9 công thức với 3 lần lặp lại Tính độ hữu hiệu của thuốc theo cụng thức của Abbott (1925)
Đánh giá ảnh hưởng độc của mỗi loại thuốc
đến NNBM N longispinosus theo bảng phân
hạng độ độc của IOBC (Hassan, 1994) gồm 4 cấp: cấp 1, không độc (tỷ lệ nhện trưởng thành cái chết <30%); cấp 2, độc nhẹ (tỷ lệ nhện trưởng thành cái chết từ 30% đến 79%); cấp 3, độc vừa (tỷ lệ nhện trưởng thành cái chết từ 80 đến 99%); cấp 4: độc cao (tỷ lệ nhện trưởng thành cái chết >99%)
III KẾT QUẢ NGHIấN CỨU
VÀ THẢO LUẬN Kết quả thớ nghiệm cho thấy trong 8 loại thuốc trừ nhện đỏ hại bông (Petis 24,5EC, Vineem 1500EC, PolytrinP 440EC, Pegasus 500SC, Comite 73EC, Bifentox 30ND, Secure 10EC và Sokupi 0.36AS) có hai loại thuốc PolytrinP 440EC và Secure 10EC gây ảnh hưởng lớn đến pha trứng của loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus (bảng 1)
Bảng 1 Ảnh hưởng của thuốc trừ nhện đỏ hại bông đến trứng nhện nhỏ bắt mồi
Neoseiulus longispinosus Evans trong phũng thớ nghiệm (Nha Hố - Ninh Thuận, 2006)
nở sau 72 giờ (%)
Đối chiếu với kết quả nghiên cứu của
(Nguyễn Thị Hai, Mai Văn Hào và ctv, 2005),
chúng tôi thấy, mặt dù PolytrinP 440EC là loại
thuốc ít độc đối với trứng nhện đỏ nhưng lại rất
độc đối với trứng NNBM loài N longispinosus.
Thuốc Secure 10EC có khả năng tiêu diệt trứng nhện đỏ cao, đồng thời đây cũng là loại thuốc rất
độc hại cho trứng NNBM loài N longispinosus.
Trang 7Hai loại thuốc PolytrinP 440EC và Secure 10EC
làm cho tỷ lệ nở của trứng NNBM loài N.
longispinosus giảm tương ứng đến 31,11% và
29,07% sau khi xử lý thuốc 72 giờ Đặc biệt, các
quan sát cũn cho thấy thuốc PolytrinP 40EC
khụng những tỏc động làm cho trứng không nở
mà cũn làm cho 20,69% số trứng khụ teo hẳn đi
Kết quả thí nghiệm cũn cho thấy thuốc Petis
24,5EC và Pegasus 500SC cũng có ảnh hưởng
đến tỷ lệ nở của trứng NNBM loài N.
longispinosus Bốn loại thuốc cũn lại là Sokupi
0.36AS, Vineem 1500EC, Comite 73EC và
Bifentox 30ND ít ảnh hưởng đến trứng của NNBM
loài N longispinosus Trứng của NNBM loài N.
longispinosus nở đạt 100% sau 3 ngày xử lý cỏc
loại thuốc này Từ kết quả thớ nghiệm cú thể sắp xếp độ độc của các loại thuốc đến trứng nhện nhỏ
bắt mồi N longispinosus theo thứ tự tăng dần như
sau Sokupi 0.36AS, Vineem 1500EC, Comite 73EC, Bifentox 30ND, Pegasus 500SC, Petis 24,5EC, Secure 10EC, PolytrinP 440EC
Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của 8 loại thuốc trừ nhện đỏ đến nhện trưởng thành cái của
loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus cho thấy
tất cả 8 loại thuốc đều có độ độc cao Đặc biệt, ba loại thuốc PolytrinP 440EC, Pegasus 500SC và Secure 10EC đó gõy chết 100% nhện trưởng thành cái chỉ 24 giờ sau khi xử lý thuốc (bảng 2)
Bảng 2 Ảnh hưởng của thuốc trừ nhện đỏ hại bông đến nhện cái trưởng thành
Neoseiulus longispinosus Evans trong phũng thớ nghiệm (Nha Hố - Ninh Thuận, 2006)
Nồng độ (‰)
Độ hữu hiệu của thuốc sau khi xử lý (%) Tỷ lệ nhện chếtsau 48 giờ (%)
Phõn hạng IOBC
Trang 8Vineem 1500EC là loại thuốc ít gây độc nhất trong 8 loại thuốc được nghiên cứu đối với nhện
trưởng thành cái loài N longispinosus Tỷ lệ nhện sống sút sau 48 giờ là 50% Cỏc thuốc Comite 73EC và Sokupi 0.36AS gây độc cho loài N longispinosus cao hơn so với thuốc Vineem 1500EC, nhưng vẫn ít gây độc hơn cho nhện N longispinosus so với thuốc Petis 24,5EC và
Bifentox 30ND Tỷ lệ sống sút trung bỡnh của nhện trưởng thành cái sau 48 giờ tương ứng ở cỏc cụng thức này là 46,29% và 40,65% so với 23,15% và 24,81%
Theo phân hạng của IOBC, 3 loại thuốc PolytrinP 440EC, Pegasus 500SC và Secure 10EC
thuộc nhóm thuốc gây độc cao (cấp 4) cho trưởng thành cái loài N longispinosus; 5 loại thuốc
cũn lại gồm Vineem 1500EC, Comite 73EC, Sokupi 0.36AS, Petis 24,5EC và Bifentox 30ND
thuộc nhóm độc nhẹ (cấp 2) cho trưởng thành cái loài N longispinosus.
Tóm lại, kết quả đánh giá ảnh hưởng của các loại thuốc đến loài nhện nhỏ bắt mồi Neoseiulus longispinosus Evans cho thấy năm loại thuốc (Vineem 1500EC, Comite 73EC, Sokupi 0.36AS, Petis 24,5EC và Bifentox 30ND) ít độc đối với NNBM loài N longispinosus Năm loại thuốc này cũng là những loại thuốc có hiệu lực trừ nhện đỏ T urticae Koch khỏ cao ngoại trừ thuốc Comite
73EC (Mai Văn Hào và ctv, 2006) Mặt dù thuốc PolytrinP 440EC hiệu lực trừ nhện đỏ hại bông
có cao hơn so với Comite 73EC nhưng lại là loại thuốc độc hại cho loài N longispinosus Riêng 2
loại thuốc Pegasus 500SC, Secure 10EC có hiệu lực cao đối với cả trứng và trưởng thành cái của
nhện đỏ T urticae hại bông nhưng lại khá độc đối với loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus Vỡ
vậy, khụng nờn sử dụng 3 loại thuốc PolytrinP 440EC, Pegasus 500SC và Secure 10EC để trừ
nhện đỏ hại bông khi có sự tồn tại của nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus
IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
Kết luận
- Hai loại thuốc PolytrinP 440EC, Secure 10EC là những loại thuốc rất độc đối với trứng và
nhện trưởng thành cái của loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus trờn cõy bụng.
- Pegasus 500SC ít độc đối với trứng nhưng lại rất độc đối với nhện trưởng thành cái của loài
nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus trờn cõy bụng.
- Năm loại thuốc ít độc với loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus tồn tại trờn cõy bụng là
Vineem 1500EC, Comite 73EC, Sokupi 0.36AS, Petis 24,5EC và Bifentox 30ND
Đề nghị
- Không sử dụng các loại thuốc Pegasus 500SC, Secure 10EC và PolytrinP 440EC để trừ nhện
hại bông và các loài sâu chích hút khi trên đồng có sự tồn tại của loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus.
- Để trừ nhện đỏ T urticae hại bông, nên sử dụng loại thuốc Sokupi 0.36AS, Vineem 1500EC, Petis 24EC và Bifentox 30ND nhằm hạn chế ảnh hưởng đến loài nhện nhỏ bắt mồi N longispinosus.
TÀI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Văn Đĩnh, 2004 Giỏo trỡnh nhện nhỏ hại cõy trồng, Nxb Nụng nghiệp.
2 Eberhard Schicha, 1987 Phytoseiidae of Australia and neighboring areas Indira
publishing house
3 FAO, 1984 Recommended methods for the detection and measurement of resistance of
agricultural pests to pesticides – Method for phytoseiid predatory mites FAO Plant Protection Bulletin, 32(1), p 25-27.
4 Nguyễn Thị Hai, Mai Văn Hào, Phan Công Kiên và ctv, 2005 Bỏo cỏo kết quả đề tài KHCN cấp
Bộ "Nghiờn cứu phũng trừ sõu chớch hỳt và bệnh cõy bụng con trồng vụ Đông xuân" Viện Nghiờn cứu và
Phỏt triển Cõy bụng
Trang 95 Mai Văn Hào, Phan Công Kiên, Nguyễn Văn Chính và ctv, 2006 Bỏo cỏo kết quả đề tài KHCN cấp Bộ “Nghiên cứu nhện hại bông và biện pháp phũng chống” Viện Nghiờn cứu và Phỏt triển Cõy
bụng
6 Hassan, 1994 Activities of the IOBC/WPRS Working Group “Pesticides and Beneficial
Organisms” In: Pesticides and Beneficial Organisms, (ed Vogt H.), IOBC/WPRS Bulletin, 17,
p.1-5
7 Manita Kongchuensin, Akia Takafuji, 2006 Effects of some pesticides on the predatory
mite, Neoseiulus longispinosus (Evans) (Gamasina: Phytoseiidae) Journal of the Acarological Society of Japan, 15(1), p 17-27.
Overmeer, W.P.J., 1985 Toxicological methods Spider mite, 1(B) (eds., Helle, W and M W
Sabelis), p 183-189, Elsevier,