1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh của các đơn vị quân đội trên địa bàn tây nguyên giai đoạn hiện nay

182 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

V.I.Lênin đã đặt nền móng lý luận về hoạt động tham gia xây dựng đấtnước của quân đội kiểu mới của Nhà nước vô sản.Trong giáo trình công tác đảng - công tác chính trị trong các lực lượng

Trang 2

nguyễn tiến dũng

hoạt động tham gia xây dựng cơ sở địa phơng vững mạnh của các đơn vị quân đội trên địa bàn

tây nguyên giai đoạn hiện nay

Chuyờn ngành: Xõy dựng Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng!

Tác giả

Nguyễn Tiến Dũng

Trang 4

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

HOẠT ĐỘNG THAM GIA XÂY DỰNG CƠ SỞ ĐỊA PHƯƠNG VỮNG MẠNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI

1.1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài 9

1.2 Những công trình nghiên cứu ở trong nước 11

Chương 2 HOẠT ĐỘNG THAM GIA XÂY DỰNG CƠ SỞ ĐỊA

PHƯƠNG VỮNG MẠNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM HOẠT

ĐỘNG THAM GIA XÂY DỰNG CƠ SỞ ĐỊA PHƯƠNG VỮNG MẠNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA

3.1 Thực trạng hoạt động tham gia xây dựng cơ sở địa

phương vững mạnh của các đơn vị quân đội trên địa

3.2 Nguyên nhân và một số kinh nghiệm hoạt động tham gia

xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh của các đơn vị

Chương 4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN TĂNG CƯỜNG HOẠT

ĐỘNG THAM GIA XÂY DỰNG CƠ SỞ ĐỊA PHƯƠNG VỮNG MẠNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA

4.1 Những yếu tố tác động và yêu cầu đối với hoạt động tham gia

xây dựng CSĐP vững mạnh của các đợn vị quân đội trên địa

4.2 Những giải pháp cơ bản tăng cường hoạt động tham gia

xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh của các đơn vịquân đội trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn hiện nay 135

Kết luận và kiến nghị 174Danh mục các công trình của tác giả đã được công bố liên quan đến đề tài 179

Phụ lục 195

Trang 5

TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt

03 Cơ sở chính trị - xã hội CSCT - XH

05 Cơ sở kinh tế - xã hội CSKT - XH

08 Front Unifie de Lutte de Races Opprimees FULRO

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh là một nhiệm vụchính trị, một nội dung quan trọng trong công tác dân vận của Quân độinhân dân Việt Nam Đây là quan điểm cơ bản - vấn đề thuộc về nguyêntắc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng và Chủ tịch Hồ ChíMinh Trải qua gần 70 năm xây dựng, trưởng thành, Quân đội ta đã hoànthành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ chiến đấu, sản xuất, công tác cả trongchiến tranh giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổquốc Việt Nam XHCN Tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh đã trực tiếpgóp phần củng cố nền tảng chính trị - xã hội vững chắc, tăng cường mốiquan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân, tạo nên nguồn sức mạnh tolớn để Quân đội ta chiến đấu và chiến thắng Quân đội ta luôn nhận được

sự giúp đỡ quý báu của nhân dân, thực sự là lực lượng chiến đấu, lựclượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân

Tây Nguyên nằm ở phía tây nam của Trung bộ, có vị trí chiến lượcđặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, QP- AN của Tổ quốc Trong lịch

sử, các thế lực thù địch xâm lược và thống trị nước ta đều tìm mọi cáchtách Tây Nguyên ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, chiếm giữ địa bàn chiến lượcquan trọng này nhằm thực hiện mưu đồ xâm lược, thôn tính ba nước trênbán đảo Đông Dương Hiện nay, chúng đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược

“DBHB”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nước ta Địa bàn TâyNguyên là một trong những trọng điểm chống phá của chúng Lợi dụngnhững vấn đề về dân tộc, tôn giáo do lịch sử để lại, chúng kích động tư tưởng

ly khai, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số chống lại chínhquyền, gây mất ổn định chính trị Chúng tìm mọi thủ đoạn tuyên truyền, lừabịp, mị dân, xuyên tạc quan điểm chủ trương chính sách dân tộc, tôn giáo của

Trang 7

Đảng, Nhà nước; tìm mọi cách vô hiệu hóa, tiến tới lật đổ chính quyền cơ sở.Thực tiễn các vụ bạo loạn chính trị ở một số tỉnh Tây Nguyên năm 2001,

2004 đã đặt ra yêu cầu bức thiết phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựngcủng cố CSĐP trên ĐBTN vững mạnh, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùngdân tộc thiểu số, biên giới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổquốc trong thời kỳ mới Những năm qua thực hiện thực hiện chủ trương,chính sách của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên, CSĐPtrên ĐBTN có bước chuyển biến quan trọng Nhưng nhìn chung tình hìnhchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, QP -AN ở CSĐP còn nhiều vấn đề bức xúc

Quán triệt và thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, dưới sựlãnh đạo của các cấp uỷ đảng, quản lý điều hành của chính quyền, hoạtđộng tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN đãđược đổi mới về nội dung, phương thức và đạt được những thành tựu quantrọng, góp phần xây dựng CSĐP của các tỉnh trên ĐBTN vững mạnh vàđúc rút được những kinh nghiệm quý báu Tuy nhiên, bên cạnh những ưuđiểm, kết quả tham gia xây dựng CSĐP vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cả

về nhận thức trách nhiệm, cả về lãnh đạo, chỉ đạo, cơ chế, chính sách vàcách thức tổ chức thực hiện

Trong những năm tới, hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vữngmạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN có nhiều thuận lợi, song tiếp tục phải đốimặt với những khó khăn thách thức Cùng với những khó khăn về đờisống kinh tế, VH - XH, những tác động tiêu cực từ mặt trái kinh tế thịtrường là sự phá hoại của các thế lực thù địch trên ĐBTN Thực tế đó đòihỏi hoạt động tham gia xây dựng CSĐP của CĐVQĐ trên ĐBTN phải

được tăng cường Vì vậy, nghiên cứu sinh lựa chọn vấn đề: “Hoạt động

tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh của các đơn vị quân đội trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn hiện nay ” làm đề tài luận án tiến

Trang 8

sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng sản Việt Namkhông chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn to lớn.

2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận án

* Mục đích: Trên cơ sở làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực

tiễn, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường hoạt động tham giaxây dựng CSĐP vững mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN giai đoạn hiện nay

- Xác định yêu cầu, đề xuất những giải pháp cơ bản tăng cường hoạtđộng tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN tronggiai đoạn hiện nay

* Đối tượng nghiên cứu: Hoat động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh

của CĐVQĐ trên ĐBTN

* Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững

mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN Phạm vi khảo sát bao gồm CĐVQĐ đóngquân trên năm tỉnh Tây Nguyên (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương,đơn vịlàm kinh tế ) Các số liệu, tài liệu giới hạn từ 2001 đến nay

3 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận án

* Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường

lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hiến pháp, chính sách, phápluật của Nhà nước về xây dựng CSĐP, về chức năng, nhiệm vụ của quân đội;

về mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng, giữa quân đội với nhân dân; vềcông tác vận động quần chúng của Đảng; về công tác dân vận của Quân độinhân dân Việt Nam

Trang 9

* Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững

mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN; các tổng kết, đánh giá của Ban Chỉ đạo TâyNguyên, của cấp uỷ, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên, củaCĐVQĐ về hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh; số liệu, tài liệu,kết quả điều tra khảo sát nghiên cứu của tác giả luận án

* Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp của khoa họcchuyên ngành và liên ngành, trong đó chú trọng phương pháp phân tích -tổng hợp, tổng kết thực tiễn, điều tra, thống kê, khảo sát thực tiễn, so sánh vàphương pháp chuyên gia

4 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án

- Đưa ra quan niệm về CSĐP vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên và hoạtđộng của CĐVQĐ tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh trên ĐBTN

- Tổng kết những kinh nghiệm hoạt động tham gia xây dựng CSĐPvững mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN

- Đề xuất giải pháp đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt các hình thức,biện pháp hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh của CĐVQĐ hiện nay

5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung, phát triển làm rõnhững vấn đề cơ bản về hoạt động tham gia xây dựng CSĐP của quân đội nóichung và của CĐVQĐ trên ĐBTN nói riêng; cung cấp cơ sở khoa học choviệc xác định các giải pháp tăng cường hoạt động tham gia xây dựng CSĐPvững mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN giai đoạn hiện Luận án có thể dùng làmtài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy môn CTĐ, CTCT trong các họcviện, nhà trường quân đội

6 Kết cấu của luận án

Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương (8 tiết), kết luận, danh mục cáccông trình khoa học của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 10

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG THAM GIA XÂY DỰNG XÂY DỰNG CƠ SỞ ĐỊA PHƯƠNG VỮNG MẠNH

CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN

1 1 Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Ở Liên Xô đã có một số công trình nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụcủa quân đội kiểu mới - quân đội của Nhà nước XHCN Đáng chú ý là cáccông trình: Học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh quân đội, Nxb Quân độinhân dân, 1975; Công tác đảng - chính trị trong các lực lượng vũ trang XôViết, Nxb Quân đội nhân dân 1981 [59] Dựa vào tư tưởng của các nhà kinhđiển của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới của giaicấp vô sản, công trình Học thuyết Mác – Lênin về chiến tranh và quân độicủa nhà xuất bản Bộ Quốc phòng Liên Xô đã khẳng định, quân đội cácnước XHCN là tổ chức quân sự của Nhà nước, do Đảng Cộng sản lãnh đạo,mang bản chất giai cấp công nhân, gắn bó máu thịt với nhân dân Bản chấtcủa chế độ và chức năng của Nhà nước XHCN quy định quân đội khôngchỉ có chức năng chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốcXHCN mà còn có nhiệm vụ tham gia xây dựng đất nước Công trình này đãnêu tư tưởng của V.I.Lênin về vai trò của quân đội đối với phát triển kinh

tế, xây dựng đất nước Khi nước Nga Xô viết kết thúc cuộc nội chiến 1918– 1920, V.I.Lênin đã đề xuất chuyển một số đơn vị quân đội chính quysang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế Theo tư tưởng đó, Chínhphủ Xô viết đã quyết định chuyển một bộ phận lực lượng quân đội sanglàm nhiệm vụ khôi phục giao thông vận tải; một số nhà máy quốc phòngsang sản xuất các dụng cụ, máy móc nông nghiệp Với việc chuyển một sốđơn vị chính quy của Hồng quân thành những đội quân lao động, giải quyếtnhững nhiệm vụ kinh tế, xây dựng xã hội mới của Nhà nước Xô viết,

Trang 11

V.I.Lênin đã đặt nền móng lý luận về hoạt động tham gia xây dựng đấtnước của quân đội kiểu mới của Nhà nước vô sản.

Trong giáo trình công tác đảng - công tác chính trị trong các lực lượng vũtrang Xô Viết, tuy không có chủ đề riêng về công tác dân vận của quân đội,nhưng khi luận bàn về nhiệm vụ của công tác đảng - công tác chính trị đã đề cậpđến trách nhiệm của quân đội trong việc xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn bóvới nhân dân, tôn trọng giúp đỡ chính quyền cách mạng, chấp hành Hiến pháp,pháp luật Nhà nước, tranh thủ sự giúp đỡ ủng hộ của chính quyền, của nhân dân

về mọi mặt Do đó, việc giáo dục cho mỗi quân nhân Xô Viết nhận thức được sứmệnh giải phóng cao cả của Hồng quân, nghĩa vụ của mình, trên cơ sở đó màxây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân là một nhiệm vụ, nội dung củacông tác đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang Xô Viết

Ở Trung Quốc có Giáo trình công tác chính trị của Quân Giải phóngTrung Quốc, Nxb Đại học Quốc phòng Quân Giải phóng nhân dân TrungQuốc, 1986 [126] Giáo trình này xác định công tác dân vận là một mặt quantrọng trong công tác chính trị của quân đội Quân đội và nhân dân cùng xâydựng nền văn minh tinh thần XHCN, là công tác chính trị của quân đội trong

sự phát triển của thời kỳ mới, là sự vật mới trong toàn bộ hoạt động xây dựngnền văn minh tinh thần XHCN Đồng thời công tác dân vận là cả một quátrình từ trọng điểm đến toàn diện, từ nông thôn tới thành thị, từ trong nội địatới ngoài biên cương, từ bộ đội dã chiến đến các cơ quan, trường học Tiếp tụcphát triển lâu dài hoạt động quân dân cùng xây dựng nền văn minh tinh thần

xã hội chủ nghĩa được xem là có một tác dụng to lớn đối với sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc hiện nay

Tóm lại, dưới ánh sáng học thuyết Mác - Lênin về quân đội kiểu mớicủa giai cấp vô sản, bằng việc luận giải về bản chất, chức năng, nhiệm vụcủa Quân đội Xô viết, quân đội Trung Quốc, các công trình nghiên cứu đó

Trang 12

đã gợi ra cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu hoạt động tham giaxây dựng Tổ quốc XHCN của quân đội kiểu mới Tuy nhiên, hoạt động thamgia xây dựng đất nước của quân đội Xô Viết, nhiệm vụ dân vận của quângiải phóng nhân dân Trung Quốc hiện nay cũng như nội dung, phương thứctiến hành chưa được các công trình này luận bàn một cách trực tiếp, cụ thể

có hệ thống với tính chất là một công trình khoa học chuyên biệt

Gần đây trong một số tạp chí và sách báo nước ngoài đưa tin về quânđội của một số nước trên thế giới tham gia vào việc tìm kiếm cứu nạn, phòngchống thiên tai Tuy nhiên, xét về bản chất, quân đội các nước này chỉ là công

cụ bạo lực vũ trang bảo vệ nhà nước của giai cấp cầm quyền Việc các quânđội ấy tham gia vào các hoạt động cứu hộ, cứu nạn là do nhà nước giao đểgiải quyết các tình huống bất thường, cấp bách do yếu tố tự nhiên gây ra Đốivới quân đội kiểu mới của nhà nước xã hội chủ nghĩa, hoạt động tham gia laođộng sản xuất, xây dựng đất nước không phải là nhất thời mà mang tínhthường xuyên, liên tục phản ánh bản chất của quân đội cách mạng

1 2 Những công trình nghiên cứu ở trong nước

Quân đội có nhiệm vụ tham gia xây dựng đất nước là quan điểm nhấtquán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong mọi thời kỳ cách mạng, cảtrong chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN Quán triệt các quan điểm củaĐảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhiệm vụ tham gia xây dựng đấtnước, đã có nhiều cơ quan và cán bộ khoa học nghiên cứu về hoạt độngtham gia xây dựng CSĐP vững mạnh của CĐVQĐ Đó là các vấn đềquân đội tham gia xây dựng kinh tế, xây dựng nền tảng chính trị - xãhội, xây dựng CSCT - XH trên các địa bàn của đất nước Đặc biệt,trong những năm đất nước đổi mới, đã có nhiều công trình của các cơquan, đơn vị, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy quản lý và cán bộ khoa học,

Trang 13

nghiên cứu về nhiệm vụ tham gia xây dựng đất nước, xây dựng địaphương của CĐVQĐ trên các địa bàn của cả nước nói chung và ở cáctỉnh Tây Nguyên nói riêng với nội dung và phạm vi khác nhau.

Những công trình trong nước nghiên cứu về nhiệm vụ tham gia xây dựng

CSĐP của quân đội bao gồm: Một là, nhóm những công trình nghiên cứu về

công tác dân vận, nhiệm vụ tham gia xây dựng đất nước, xây dựng CSĐP của

CĐVQĐ; Hai là, nhóm những công trình trực tiếp nghiên cứu hoạt động tham

gia xây dựng CSĐP của CĐVQĐ trên ĐBTN

1.2.1 Nhóm những công trình nghiên cứu về công tác dân vận, nhiệm vụ tham gia xây dựng đất nước, xây dựng cơ sở địa phương của các đơn vị quân đội

Thuộc nhóm này có các công trình tiêu biểu: Giáo trình công tác dân

vận của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Lý luận chính trị,

2004 Giáo trình đã phân tích luận giải sâu sắc quan điểm của chủ nghĩaMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về công tác dânvận của các tổ chức đảng, chính quyền Nhà nước các cấp; xác định rõ tiếnhành công tác dân vận là trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, chínhquyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị đất nước, nhưng chưa đề cậpmột cách trực tiếp, cụ thể quân đội tiến hành công tác dân vận, tham giaxây dựng CSĐP Những luận giải về vai trò của công tác vận động quầnchúng, công tác dân vận của Đảng; về nội dung, hình thức, biện pháp côngtác dân vận của tổ chức đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội lànhững tư liệu có giá trị lý luận, thực tiễn để tác giả kế thừa phục vụ cho nộidung nghiên cứu của để tài luận án

Trong quân đội có các công trình: Sức mạnh giữ nước vĩ đại của dân tộc

Việt Nam trong kỷ nguyên mới của Đại tướng Văn Tiến Dũng, Nxb Sự thật Hà

Nội, 1979 Phát huy vai trò của Quân đội nhân dân trong thực hiện chính sách

Trang 14

dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay của Tổng cục Chính trị, Nxb Quân đội

nhân dân, 2001 [161] Xây dựng nền tảng chính trị - xã hội vững chắc của lực

lượng vũ trang trong thời kỳ mới, Nxb Quân đội nhân dân, 2003 [162] Đổi mới công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, Đề tài

khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt chủ trì

nghiên cứu 1993 [84] Đổi mới công tác dân vận tham gia xây dựng nền tảng

chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng,

2001 [85] Tăng cường công tác quần chúng của Đảng trong Quân đội nhân dân

Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, Nxb Quân đội nhân dân, 2003 [86] Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của lực lượng vũ trang, Đề tài

nghiên cứu khoa học cấp Bộ Quốc phòng, Quân khu Thủ đô chủ trì nghiên cứu

2002 [137] Bộ đội Biên phòng tham gia xây dựng CSCT, phát triển KT - XH, góp

phần xây dựng, bảo vệ vững chắc địa bàn biên giới, hải đảo của Vũ Hiệp Bình, Tạp chí QPTD, số 3/2005 [147] Lực lượng vũ trang nhân dân thực hiên công tác dân vận, góp phần xây dựng cơ sở chính trị - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi của Bùi Văn Huấn, Tạp chí QPTD, số 6/ 2004 [69] Xây dựng thế trận QPTD kết hợp với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ở khu vực biên giới Quân khu II

của Nguyễn Kim Khoa, Tạp chí QPTD, số 5/ 2006 [120] Xóa đói giảm nghèo

trên một địa bàn đơn vị làm kinh tế - quốc phòng của Vũ Thăng, Tạp chí QPTD,

11/2004 [148] Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế trong tiến trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa của Nguyễn Văn Rinh, Nxb Quân đội nhân dân Hà Nội,

2003 [138] Quân đội đẩy mạnh xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của

khu kinh tế - quốc phòng trên địa bàn chiến lược, biên giới, Tạp chí QPTD, số 11/

2004 [139] Công tác dân vận của các đơn vị quân đội ở vùng đồng bào dân tộc

thiểu số của Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự, 2005

Nhìn tổng quát, các công trình trên đã phân tích làm sáng tỏ lý luậnMác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 15

về nhiệm vụ công tác dân vận của quân đội Tất cả các công trình trên đềukhẳng định rằng, việc quân đội tiến hành công tác dân vận là vấn đề thuộc bảnchất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam - quân đội của dân, do dân,

vì dân Những hoạt động của CĐVQĐ tham gia xây dựng địa phương về kinh

tế, chính trị, văn hóa xã hội, và về quốc phòng - an ninh được các công trìnhtrên xác định là những nội dung của công tác dân vận Như vậy các công trìnhnày mới đề cập đến nội dung công tác dân vận của quân đội tham gia xâydựng địa phương nói chung mà chưa đề cập đến hoạt động của CĐVQĐ thamgia xây dựng CSĐP

Năm 2006 Tổng cục Chính trị có công trình Tổng kết công tác đảng,

công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam (1975 - 2005) và Phương hướng, nhiệm vụ công tác đảng, công tác chính trị trong Lực lượng vũ trang

(2006 - 2010), Nxb Quân đội nhân dân, 2006 [164] Một trong những bài học

kinh nghiệm về công tác dân vận của quân đội được đúc kết trong thời kỳnày là phải quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ của quân đội, nhận thức

và giải quyết đúng mối quan hệ quân dân trong thời kỳ mới, coi đó là vấn

đề cơ bản trong củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữaquân đội với nhân dân, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh

về chính trị Để tăng cường công tác dân vận, thực hiện tốt nhiệm vụ tham

gia xây dựng CSĐP, quân đội phải quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách và những bài học về kinhnghiệm xây dựng mối quan hệ quân - dân của quân đội, coi trọng việc quántriệt và cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng hệ thốngchính trị cơ sở vào thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đội quân công táctrong thời kỳ mới Cần phải nhận thức và nắm vững điều kiện, hoàn cảnhmới, những nội dung mới, vận dụng sáng tạo các hình thức, biện pháp côngtác dân vận vào xây dựng CSĐP vững mạnh trong thời kỳ mới

Trang 16

Năm 2009, Viện Khoa học xã hội Nhân văn quân sự có công trình Chức

năng, nhiệm vụ của quân đội nhân dân Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Trong công trình này, các tác giả đã phân tích khá sâu sắc tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện chứcnăng công tác của quân đội ta trong các thời kỳ cách mạng Đề tài đã khẳngđịnh, trải qua hơn 66 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành, Quân độinhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ của đội quânchiến đấu, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tham gia lao độngsản xuất và tuyên truyền vận động nhân dân, xây dựng đất nước Trong điềukiện mới, chức năng, nhiệm vụ của quân đội có sự bổ sung, phát triển về nộidung hình thức thể hiện Trên cơ sở đó đề tài khẳng định, Quân đội nhân dânViệt Nam không chỉ là công cụ bạo lực sắc bén mà còn là lực lượng chính trịtrung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; mãi mãi là đội quânchiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất

Chấp hành Chỉ thị của Đảng uỷ Quân sự Trung ương về sơ kết 5 nămthực hiện thực hiện Nghị quyết 152/NQ - ĐUQSTW, năm 2008 các đơn vị trongtoàn quân đã tiến hành sơ kết việc thực hiện Nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự

Trung ương Về tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác dân vận trong thời kỳ

mới Từ thực tiễn thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận của lực lượng vũ trang,

Quân khu 3 đã bước đầu rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chứcthực hiện Báo cáo của Quân khu 3 đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng củacấp uỷ, người chỉ huy, chính uỷ, chính trị viên các cấp đối với việc lãnh đạo, chỉđạo các hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh của đơn vị trong tìnhhình mới; chỉ rõ, quá trình thực hiện phải làm tốt công tác chuẩn bị, có kế hoạch

và hướng dẫn cụ thể cho từng cấp, nhất là phải phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụtừng đơn vị cơ sở và có tính khả thi và triển khai thực hiện toàn diện các nộidung công tác tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh; nắm chắc những mặt,những nội dung trọng tâm, trọng điểm, những nhiệm vụ đột xuất, những thời

Trang 17

điểm quan trọng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tập trung lực lượng dứt điểm kịpthời, đúng kế hoạch; quan tâm dự báo tình hình, thường xuyên sâu sát, bám nắm

cơ sở, kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh về nhận thức tư tưởng,những mặt yếu, khâu yếu trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng CSĐPvững mạnh để đề xuất các biện pháp khắc phục sửa chữa kịp thời Đồng thờitrong báo cáo của Quân khu cũng xác định trong quá trình tổ chức thực hiện phảiphối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành với cấp uỷ đảng, chính quyền địaphương, trên cơ sở phát huy vai trò làm tham mưu của cơ quan quân sự địaphương trong xây dựng CSĐP vững mạnh và cán bộ chính trị các cấp Coi trọngbồi dưỡng nâng cao phẩm chất, năng lực, phong cách công tác dân vận cho cáclực lượng tham gia xây dựng CSĐP Quan tâm chăm lo xây dựng các lực lượngnòng cốt, cơ quan chính trị các cấp, đội ngũ cán bộ chính trị, cơ quan dân vận vàcán bộ dân vận các cấp Đầu tư thích đáng cơ sở vật chất, kinh phí, tư liệu, tàiliệu, thời gian, lực lượng, phương tiện tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt độngtham gia xây dựng CSĐP Thường xuyên chăm lo nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của bộ đội, nhất là bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị chohoạt động tham gia xây dựng CSĐP của các đơn vị cơ sở

Nhìn chung, những công trình của tập thể và cá nhân các cán bộ lãnhđạo, chỉ huy quản lý và cán bộ khoa học nêu trên đã đề cập khá sâu sắc, toàndiện quan điểm của Đảng ta, tư tưởng Hồ Chí Minh về chức năng, nhiệm vụcủa Quân đội nhân dân Việt Nam Phân tích và luận giải vị trí, đặc điểm, vaitrò của đội quân công tác trong tiến hành công tác dân vận và tham gia xâydựng CSĐP trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Chức năng của độiquân công tác được các công trình nghiên cứu ở các phương diện nội dung,hình thức, biện pháp công tác dân vận; tham gia xây dựng nền tảng chính trị -

xã hội của đất nước; nhiệm vụ tham gia xây dựng phát triển kinh tế, VH - XH;tham gia củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh, trật tự an toàn xã hội ở các địaphương của CĐVQĐ trên các địa bàn đóng quân

Trang 18

Dưới góc độ công tác đảng, công tác chính trị, các công trình đều thốngnhất khẳng định tổ chức tốt các hoạt động tham gia xây dựng CSĐP là một trongnhững nhiệm vụ, nội dung công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam Dođối tượng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của mỗi công trình khác nhau, nênhoạt động tham gia xây dựng CSĐP được các công trình trên đề cập như là mộtgiải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chức năng, nhiệm vụcủa đội quân công tác trên từng lĩnh vực hoạt động cụ thể Chẳng hạn, công trình

Đổi mới công tác dân vận của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới

của Cục Dân vận và Tuyên truyền đặc biệt đã đề cập đến sự cần thiết và xác địnhnhững vấn đề đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác dân vận của quânđội trong điều kiện mới Có một số công trình đề cập đến đổi mới nội dung,phương thức hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đội quân công tác trêntừng lĩnh vực hoạt động: Đổi mới nội dung, phương thức tham gia xây dựng hệthống chính trị cơ sở; tham gia xây dựng CSCT địa phương; tham gia vận độngđồng bào các dân tộc, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa; tham gia xây dựng đời sốngvăn hóa mới, tham gia xây dựng phát triển kinh tế ở các địa phương của CĐVQĐtrên các địa bàn của đất nước

Tuy chưa đề cập trực tiếp đến hoạt động của CĐVQĐ tham gia xâydựng CSĐP vững mạnh trên ĐBTN, nhưng kết quả nghiên cứu của nhữngcông trình trên là những gợi ý có giá trị khoa học để tác giả nghiên cứu luậngiải những nội dung của đề tài luận án

1.2.2 Nhóm những công trình trực tiếp nghiên cứu hoạt động tham gia xây dựng cơ sở địa phương, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của một

số đơn vị quân đội trên địa bàn Tây Nguyên

Những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, tổng kết kinhnghiệm thực tiễn về hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh, phát

triển KT - XH của một số đơn vị trực tiếp đứng chân trên ĐBTN Năm 2005,

Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Đăk Lăk có đề tài Bộ đội Biên phòng Tỉnh

Trang 19

Đắk Lắk tham gia phòng, chống truyền đạo Tin Lành trái phép trên địa bàn biên giới, Đề tài khoa học cấp cơ sở, do Nguyễn Văn Sơn làm chủ

nhiệm, 2005 [145] Từ thực tiễn tham gia thực hiện nhiệm vụ phòng,chống truyền đạo trái phép trên địa bàn biên giới của Bộ đội Biên phòngtỉnh Đắk Lắk, đề tài đã rút ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo,thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp và đề xuất một số giải pháp

cơ bản phát huy vai trò của Bộ đội Biên phòng trong tham gia đấu tranhphòng chống truyền đạo Tin Lành trái phép trên địa bàn biên giới

Học viện Lục quân có công trình Quân đội tham gia xây dựng hệ

thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, tôn giáo trên ĐBTN trong điều kiện mới, Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng 2005 [117] Đề tài này, đã đưa

ra quan niệm, phân tích đặc điểm và thực trạng hệ thống chính trị cơ sở ởTây Nguyên Bước đầu đề cập đến vai trò của quân đội trong xây dựng hệthống chính trị cơ sở trên địa bàn; rút ra những kinh nghiệm quí báu vànêu lên năm giải pháp cơ bản, trong đó có giải pháp đổi mới nội dung,hình thức tổ chức, phương pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quânđội tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trên ĐBTN hiện nay

Năm 2008, Quân khu 5 tổ chức hội nghị sơ kết năm năm thực hiện Nghị

quyết 152/NQ - ĐUQSTW của Đảng uỷ Quân sự Trung ương Về tiếp tục đổi

mới và tăng cường công tác dân vận trong thời kỳ mới Quân khu đã đánh giá

toàn diện ưu điểm, thành tích, hạn chế và nguyên nhân; rút ra những bài họckinh nghiệm về công tác dân vận của lực lượng vũ trang địa phương trênĐBTN Những kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo việc đổi mới và tăng cường

công tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu được rút ra là: Một là, phải

giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ có nhận thức đúng về chức năng, nhiệm vụcủa quân đội cách mạng do Đảng tổ chức và lãnh đạo trong điều kiện mới, đặc

biệt là về chức năng chiến đấu, sản xuất, công tác; hai là, làm cho các lực

lượng hiểu rõ vai trò và khả năng to lớn của CĐVQĐ tham gia xây dựng CSĐP

Trang 20

vững mạnh trên ĐBTN; ba là, trên cơ sở đó, đề cao trách nhiệm chính trị, tích

cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương trong cáchoạt động xây dựng CSĐP vững mạnh, khắc phục những biểu hiện thờ ơ về

chính trị, né tránh; bốn là, có kế hoạch và biện pháp bồi dưỡng nâng cao phẩm

chất, năng lực, phong cách, kinh nghiệm cho cán bộ, chiến sĩ để đảm bảo cáchoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh đạt hiệu quả cao Lãnh đạo,chỉ huy các cấp cần đề phòng mọi biểu hiện “tự diễn biến” trong đơn vị, tậptrung xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnhtoàn diện, khắc phục cho được thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với nhiệm

vụ công tác dân vận, chấp hành không nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luậtquân đội trong khi thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh;coi trọng tuyên truyền, giáo dục làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận rõ những âmmưu, thủ đoạn của kẻ thù trên ĐBTN; tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ đảngcác cấp, sự chỉ đạo, điều hành của người chỉ huy, của chính uỷ, chính trị viênđối với hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh

Mọi hoạt động tham gia xây dựng CSĐP của lực lượng vũ trang Quânkhu 5 phải được tổ chức và lãnh đạo chặt chẽ, đúng nguyên tắc, được triểnkhai đồng bộ và được duy trì thường xuyên, liên tục, trở thành nội dung trọngyếu và cấp bách của công tác đảng, công tác chính trị trong trong lực lượng

vũ trang Quân khu hiện nay Cấp uỷ, chỉ huy đơn vị và cơ quan chức năngphối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền địa phương, nắm chắc tình hình địabàn, kịp thời đề xuất với Thường vụ Đảng uỷ Quân khu những chủ trương,hình thức, biện pháp xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh Gắn chặt việc thamgia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh với xây dựng địa bàn an toàn, xâydựng đơn vị an toàn Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, mọi cấp

mọi ngành tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh trên ĐBTN

Để đẩy mạnh công tác dân vận, Quân khu 5 kiến nghị với Bộ Quốcphòng, Tổng cục Chính trị cần xây dựng chương trình, kế hoạch, tạo lập sự

Trang 21

phối hợp hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng quân đội với các lực lượngcủa Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị các tỉnh trênĐBTN Cung cấp đầy đủ, thông tin kịp thời về âm mưu thủ đoạn phá hoại củađịch trên ĐBTN Biên soạn các tài liệu về đấu tranh chống “DBHB” trên lĩnhvực dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc và các vấn đề nhạy cảm khác đểcác đơn vị có tài liệu tuyên truyền đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái,thù địch Nghiên cứu thống nhất biên chế, tổ chức và tăng cường công tác dânvận của bộ chỉ huy quân sự các tỉnh, ban chỉ huy quân sự các huyện, thànhphố, các sư đoàn trực thuộc Quân khu Đề nghị cấp uỷ, chính quyền các tỉnhtrên ĐBTN chăm lo xây dựng, củng cố nâng cao chất lượng hệ thống chính trị

cơ sở nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộcthiểu số; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao dân trí để nhân dân

có đủ khả năng nhận rõ âm mưu thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch,không để chúng lừa gạt, kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan tư tưởng văn hóa, các báo, đài phátthanh, truyền hình địa phương phối hợp với các cơ quan chức năng của Quânkhu đổi mới nội dung, chương trình chuyên mục QPTD trên báo đài phátthanh truyền hình của tỉnh, thành phố trên địa bàn Quân khu

Năm 2009, Đảng uỷ Quân sự, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kon Tum đã cóbáo cáo tổng kết về kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận Báo cáotổng kết đã đánh giá kết quả công tác dân vận, hoạt động của Đội Công tác123; công tác tuyên truyền đặc biệt; việc thực hiện Quyết định 107/QĐ-TTgcủa Thủ tướng Chính phủ về việc phối hợp giữa quân đội với công an trongcác hoạt động xây dựng củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật

tự xã hội trên địa bàn tỉnh Báo cáo đã khẳng định vai trò là lực lượng xungkích, đi đầu trong các hoạt động công tác dân vận, tham gia xây dựng CSĐPvững mạnh của lực lượng vũ trang tỉnh Để đẩy mạnh công tác dân vận của lựclượng vũ trang tỉnh Kon Tum trong thời kỳ mới phải nâng cao nhận thức trách

Trang 22

nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Bồi dưỡng rèn luyện phong cách công tác dân vậntrọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, nghe dân nói,nói dân hiểu, làm dân tin cho cán bộ, chiến sĩ Tập trung tuyên truyền cho nhândân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số về đường lối, chủ trương, nghị quyếtcủa Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vạch trần những âm mưu, thủđoạn hoạt động của địch, đặc biệt là hoạt động của bọn phản động đội lốt cáctôn giáo, các phần tử chống đối, cơ hội, thoái hóa biến chất, góp phần giữ vững

ổn định chính trị, ổn định tình hình địa phương, bài trừ các hủ tục mê tín dịđoan, đấu tranh chống các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch Tích cực,chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể, các tổ chức chính trị

- xã hội ở địa phương, tạo nên một thế trận hiệp đồng quân, binh chủng rộngkhắp trong địa bàn tỉnh thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận

Cùng với những công trình trên còn có nhiều bài báo, tham luận khoa họccủa các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các cấp trong quân đội đề cập đến vai trò, nộidung, phương pháp, kinh nghiệm hoạt động của một số đơn vị tham gia xây dựngCSCT, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cốquốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của các tỉnh trênĐBTN Từ vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh của TâyNguyên, tác giả Nguyễn Phúc Thanh có bài “Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,

bảo đảm quốc phòng - an ninh trên địa bàn chiến lược các tỉnh Tây Nguyên”,

Tạp chí QPTD, số 6/ 2004 [146] Tác giả đã phân tích làm rõ vị trí chiến lược về

chính trị, kinh tế , quốc phòng, an ninh của các tỉnh Tây Nguyên; xác định các giảipháp phát triển KT - XH, bảo đảm cho QP - AN trên địa bàn chiến lược các tỉnhTây Nguyên; chỉ rõ đẩy mạnh phát triển KT - XH, bảo đảm QP - AN trên ĐBTN

là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị, trong đó CĐVQĐ đứngchân trên địa bàn có vai trò đặc biệt quan trọng

Tác giả Trần Đình Hạng (2002) có bài “Binh đoàn Tây Nguyên với nhiệm

vụ tham gia xây dựng Cơ sở chính trị - xã hội trên địa bàn công tác”, Tạp chí

QPTD, số 6/ 2004 [110] Trong bài báo này, tác giả đã khẳng định tham gia xây

Trang 23

dựng cơ sở chính trị - xã hội trên địa bàn công tác là một nhiệm vụ, một nộidung của công tác dân vận của đơn vị Tác giả đã đánh giá khái quát những kếtquả, thành tích và những hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ tham gia xây dựng

cơ sở chính trị - xã hội Rút ra một số kinh nghiệm và xác định các giải phápnhằm thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia xây dựng cơ sở chính trị - xã hội trên địabàn công tác phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của đơn vị

Theo hướng này, tác giả Lê Ngọc Sanh (2005) có bài Quân đội tham gia xây

dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, tôn giáo trên ĐBTN, Kỷ yếu hội

thảo khoa học Đề tài cấp Bộ Quốc phòng, [144] Trên cơ sở luận giải vai trò củaquân đội trong việc tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, tôngiáo trên ĐBTN; từ nghiên cứu thực trạng hoạt động tham gia xây dựng cơ sởchính trị vùng dân tộc tôn giáo của một số đơn vị trên ĐBTN, tác giả đã rút ramột số kinh nghiệm về thực hiện nội dung, hình thức, phương pháp và đề xuấtmột số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của CĐVQĐ đối với việc thamgia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc, tôn giáo trên ĐBTN

Từ thực tiễn thực hiện nhiệm vụ kinh tế quốc phòng và tiến hành côngtác dân vận của Binh đoàn 15, tác giả Nguyễn Xuân Sang có các bài: “Quânđội làm nhiệm vụ kinh tế quốc phòng trên địa bàn chiến lược - Mấy vấn đề

rút ra từ Binh đoàn 15”, Tạp chí QPTD số12/2001 [141] “Binh đoàn 15

đoàn kết gắn bó mật thiết với đồng bào Tây Nguyên, giữ vững ổn định chính

trị - xã hội, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí QPTD, số

6/2004 [142] “Binh đoàn 15 phấn đấu nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm

vụ kinh tế - quốc phòng trên ĐBTN”, Tạp chí QPTD, số 5/2006 [143].

Trong ba bài báo của mình, tác giả Nguyễn Xuân Sang đã khái quát nhữngthành công của Binh Đoàn 15 trong thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận,hiệu quả thực hiện nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng và rút ra một sốkinh nghiệm về nội dung, phương pháp xây dựng mối quan hệ đoàn kết gắn

bó giữa đơn vị với đồng bào Tây Nguyên

Trang 24

Năm 2005 tác giả Nguyễn Tuấn Dũng có bài “Binh đoàn Tây Nguyên Tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trên địa bàn”, Tạp chí QPTD, số

3/2005 [90] Trong bài báo của mình, tác giả đã nêu đặc điểm, nhiệm vụ côngtác dân vận của loại hình đơn vị chủ lực; khái quát kết quả tham gia xây dựng

hệ thống chính trị cơ sở của đơn vị trên địa bàn hoạt động của Binh đoàn; rút

ra một số kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, xác định nội dung, hình thức,phương pháp tham gia xây dựng CSCT phù hợp với đặc điểm tình hình nhiệm

vụ của đơn vị và của các tỉnh trên ĐBTN

Nghiên cứu về âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch ở ĐBTN và vai tròcủa quân đội trong việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng củng cố giữvững quốc phòng, an ninh trên ĐBTN còn có các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹcác chuyên ngành khoa học xã hội nhân văn quân sự Năm 2002, tác giả Trần

Xuân Dung có đề tài Hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch ở Tây

Nguyên hiện nay - thực trạng và giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, Luận án tiến

sỹ Triết học, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [89] Trong luận

án này, tác giả đã đánh giá tầm quan trọng chiến lược và đặc điểm ĐBTN liênquan đến công tác tôn giáo, phân tích quá trình du nhập, phát triển Công giáo vàTin Lành trên ĐBTN, làm rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng tôn giáo củacác thế lực thù địch, phân tích ba quan điểm và đề xuất năm giải pháp cơ bảnphòng ngừa, đấu tranh Qua đó, tác giả đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng giáodục tinh thần cảnh giác cách mạng, phát động phong trào quần chúng đấu tranhchính trị chống hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch

Tác giả Nguyễn Như Trúc (2007) có đề tài Vai trò của Quân đội nhân dân

Việt Nam trong công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên hiện nay,

Luận án tiến sỹ triết học, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội [165] Trong luận áncủa mình, tác giả đã khái quát những đặc điểm cơ bản của đồng bào có tôn giáotrong các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên Xác định vai trò của quân đội trong

Trang 25

công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên Đề xuất một số giải pháp

cơ bản phát huy vai trò của quân đội, trong đó có giải pháp đổi mới nội dung,phương pháp công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây Nguyên hiện nay Nhìn một cách tổng quát các công trình trên đã đề cập trực tiếp đếncác hoạt động của các loại hình đơn vị quân đội tham gia phát triển KT -

XH, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên Cáctác giả đều đề cập đến vai trò của CĐVQĐ trong tham gia phát triển KT

- XH, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị trênĐBTN Khái quát, làm rõ những đặc điểm cơ bản tác động đến quânđội tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên: về địa lý,chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; đặc điểm dân tộc, tôn giáo, đặc điểm

hệ thống chính trị cơ sở; điều kiện, khả năng của mỗi đơn vị quân độitham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở Các đề tài này cũng đã tổngkết thực tiễn, rút ra những kinh nghiệm quí báu và nêu giải pháp đẩymạnh công tác tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, phát triểnkinh tế, VH - XH ở các địa phương trên ĐBTN hiện nay phù hợp với đặcđiểm, nhiệm vụ của mỗi đơn vị

Tuy nhiên, luận giải một cách trực tiếp và có hệ thống về hoạt độngtham gia xây dựng CSĐP vững mạnh của CĐVQĐ trên ĐBTN trong điềukiện hiện nay; đưa ra quan niệm CSĐP và hoạt động của CĐVQĐ tham giaxây dựng CSĐP; những vấn đề có tính nguyên tắc, cũng như các giải pháptăng cường hoạt động của CĐVQĐ tham gia xây dựng CSĐP vững mạnhtrên ĐBTN giai đoạn hiện nay thì chưa có công trình nào đề cập với tínhchất là một công trình khoa học độc lập Luận án này sẽ kế thừa kết quảnghiên cứu của những công trình trước đây để làm sáng tỏ cơ sở lý luận vàthực tiễn hoạt động của CĐVQĐ tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh trênĐBTN giai đoạn hiện nay

Trang 26

Kết luận chương 1

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức vàlãnh đạo, là quân đội của dân, do dân, vì dân Hoạt động tham gia xây dựngCSĐP vững mạnh của CĐVQĐ là một nhiệm vụ trong thực hiện chức năngcủa đội quân công tác, một nội dung quan trọng trong công tác dân vận củaquân đội, phản ánh bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộccủa Quân đội nhân dân Việt Nam

Trong những năm qua, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, đã có nhiều công trình của cáctác giả nghiên cứu với những góc độ khác nhau và trên các địa bàn khác nhau

về công tác dân vận và hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh củaCĐVQĐ Đó là những tài liệu có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối vớiviệc nhận thức chức năng, nhiệm vụ của đội quân công tác và đổi mới, tăngcường công tác dân vận của quân đội trong giai đoạn mới của cách mạng.Tuy nhiên, chưa có công trình nào luận giải một cách hệ thống, đầy đủhoạt động tham gia xây dựng CSĐP của CĐVQĐ nói chung cũng như hoạtđộng của CĐVQĐ tham gia xây dựng CSĐP trên địa bàn các tỉnh TâyNguyên Vì vậy, việc lựa chọn vấn đề hoạt động tham gia xây dựng CSĐPvững mạnh của CĐVQĐ trên địa bàn Tây Nguyên giai đoạn hiện nay khôngtrùng lặp với các công trình khoa học đã công bố những năm gần đây

Trang 27

Chương 2

HOẠT ĐỘNG THAM GIA XÂY DỰNG CƠ SỞ ĐỊA PHƯƠNG VỮNG MẠNH CỦA CÁC ĐƠN VỊ QUÂN ĐỘI TRÊN ĐỊA BÀN TÂY NGUYÊN -

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở địa phương vững mạnh trên địa bàn Tây Nguyên

2.1.1 Cơ sở địa phương trên địa bàn Tây Nguyên

* Quan niệm CSĐP trên địa bàn Tây Nguyên

Hiện nay, thuật ngữ CSĐP được sử dụng rộng rãi trong đời sống, nhưng

chưa có định nghĩa nào luận giải đầy đủ về thuật ngữ này Để có quan niệm đúng

về CSĐP trên ĐBTN cần nghiên cứu làm rõ thuật ngữ cơ sở, đơn vị cơ sở vàCSĐP nói chung

Cơ sở theo từ điển tiếng Việt được hiểu là: Cái làm nền tảng trong quan

hệ với những cái xây dựng trên đó, hoặc dựa trên đó mà tồn tại phát triển.Đơn vị cấp dưới cùng, trực tiếp thực hiện các hoạt động sản xuất, công tác,v.v của một hệ thống, một tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạocấp trên [167, tr.205]

Đơn vị cơ sở là hình thái tổ chức cơ bản của xã hội mà ở đó là một cộng

đồng dân cư có địa bàn sinh sống cố định và một bộ máy tổ chức hành chính ổnđịnh Đó là những cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các sinh hoạt vậtchất và tinh thần, diễn ra trong đời sống hàng ngày Theo tinh thần của các vănkiện của Đảng thì đơn vị cơ sở là xã, phường, nhà máy, công trường, nôngtrường, bệnh viện, trường học, đơn vị cơ sở trong lực lượng vũ trang và nhữngcộng đồng xã hội tương đương [114, tr 114 - 115]

Điều 118 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hoà XHCN Việt Namquy định: “Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đượcphân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.Tỉnh chia thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực

Trang 28

thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã Huyện chia thành xã, thịtrấn; thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chiathành phường” [113, tr 10] Như vậy trong bộ máy hành chính bốn cấp, xã,phường, thị trấn được coi là đơn vị hành chính cấp cơ sở, ở trên một khu vựclãnh thổ nhất định với một cộng đồng dân cư sinh sống cố định liên kết vớinhau trong sinh hoạt vật chất và đời sống tinh thần và một bộ máy hành chính

ổn định theo quy định của Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

Địa phương là khái niệm dùng để chỉ khu vực trong quan hệ với những

vùng, khu vực khác trong nước; vùng, khu vực trong quan hệ với Trung ương,với cả nước [167, tr 305] Trong quan hệ với trung ương, các tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương được gọi là địa phương

Cơ sở địa phương ở đây được hiểu theo quy định của Hiến pháp

năm 1992 Đó là các xã, phường, thị trấn trong bộ máy hành chính bốncấp của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấu trúc củaCSĐP bao gồm các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốcphòng, an ninh với một hệ thống chính trị ở các xã, phường, thị trấnđược thành lập và hoạt động theo quy định của Hiến pháp để xây dựngđịa phương và xây dựng đất nước phát triển vững mạnh về mọi mặt.Trong xã, có các thôn, ấp, làng, buôn, bản; trong thị trấn, phường có khuphố Đây là điểm để phân biệt CSĐP với đơn vị cơ sở nhà máy, côngtrường, lâm trường, bệnh viện trường học, đơn vị lực lượng vũ trang Vềmặt tổ chức, CSĐP là đơn vị hành chính trong bộ máy hành chính bốncấp của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, có địa giới hành chính, hệthống chính trị và cộng đồng dân cư liên kết với nhau trong các hoạtđộng xây dựng xã, phường, thị trấn về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội,quốc phòng, an ninh Còn các nhà máy, công trường, lâm trường, bệnhviện, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang là đơn vị cơ sở trong quan hệ

Trang 29

với bộ máy tổ chức của ngành, lĩnh vực hoạt động trong xã hội mà khôngnằm trong bộ máy hành chính bốn cấp của Nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam.

Từ những phân tích trên có thể quan niệm: CSĐP trên ĐBTN là

những xã, phường, thị trấn thuộc các tỉnh Tây Nguyên được thành lập theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; với một hệ thống chính trị, cộng đồng dân cư các dân tộc sinh sống trên địa bàn; hệ thống cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh làm nền tảng để xây dựng địa phương vững mạnh về kinh tế, chính trị, VH - XH, quốc phòng, an ninh theo quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cũng như CSĐP trong cả nước, CSĐP các tỉnh trên ĐBTN được tổ chức vàhoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật nước Cộng hoà XHCN ViệtNam, và đều có chức năng, nhiệm vụ chung là trực tiếp tổ chức thực hiện đườnglối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chủ trương của cấptrên, xây dựng địa phương trong sạch vững mạnh Liên hệ mật thiết với nhân dân,chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân.Giáo dục động viên, tổ chức nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện đường lối,chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm tròn nghĩa vụ đốivới Nhà nước và xã hội CSĐP trên ĐBTN gồm có các yếu tố cấu thành là cơ sởchính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, QP - AN

Cơ sở chính trị - xã hội: CSCT- XH địa phương bao gồm đời sống chính

trị - tinh thần, hệ thống chính trị, các mối quan hệ chính trị xã hội giữ vai tròquyết định trong việc xây dựng địa phương về chính trị - tư tưởng, tổ chức, thựchiện các phong trào hành động cách mạng của nhân dân hướng vào thực hiệnnhiệm vụ chính trị, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật củaNhà nước ở địa phương Đời sống chính trị - tinh thần ở CSĐP được thể hiện ở

Trang 30

sự chi phối của hệ tư tưởng - chính trị của giai cấp lãnh đạo, nhận thức, tình cảm,niềm tin, ý chí quyết tâm, trạng thái tâm lý của các tầng lớp nhân dân trướcnhững nhiệm vụ đặt ra đối với họ Đó là nhận thức, tình cảm, niềm tin của nhândân về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối xâydựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của Đảng Cộng sản Việt Nam; ở thái độ chấphành đường lối chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, sự tích cực chủ độngtham gia vào các phong trào cách mạng xây dựng và bảo vệ địa phương

Hệ thống chính trị ở CSĐP được thành lập theo quy định của Hiến phápnước Cộng hoà XHCN Việt Nam Hệ thống chính trị xã, phường bao gồm: tổchức đảng, chính quyền địa phương, mặt trận Tổ quốc, tổ chức Đoàn Thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, đoàn thể xãhội…hoạt động theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làmchủ Hệ thống chính trị CSĐP trong sạch, vững mạnh là yếu tố đặc biệt quantrọng bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nướcđược tổ chức thực hiện thắng lợi ở cơ sở

Cơ sở kinh tế - xã hội của CSĐP bao gồm lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất thể hiện ở cơ cấu kinh tế, các hoạt động sản xuất, kinh doanhtheo đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Nguồn nhân lực, sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế; sự hoạt động của các thành phần kinh tế tậpthể, kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình ở CSĐP Tốc độ tăng trưởng kinh

tế, mức sống; trình độ sản xuất; kết cấu hạ tầng kinh tế ở cơ sở (đường giaothông, hệ thống dịch vụ, mức độ lưu luân chuyển hàng hóa) CSKT giữ vaitrò nền tảng phát triển toàn diện mọi mặt ở các xã, phường

Cơ sở văn hóa – xã hội của CSĐP bao gồm thiết chế văn hóa và các

hoạt động văn hóa ở xã, phường, thị trấn nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóacủa nhân dân Mạng lưới thiết chế văn hóa ở CSĐP bao gồm các trung tâmvăn hóa, nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, phòng truyền thống, trường học,

Trang 31

trạm y tế, sân vận động, bưu điện văn hóa Hoạt động văn hóa ở cơ sở xã,phường rất đa dạng, phong phú bao gồm các hoạt động biểu diễn sáng tácvăn nghệ, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống; hoạt động giáo dụcnâng cao dân trí; lưu giữ sản phẩm văn hóa; tiêu dùng sản phẩm văn hóa; lễhội, tín ngưỡng, xây dựng gia đình văn hóa; thể dục thể thao vui chơi giải trítrong thời gian nhàn rỗi CSĐP là nơi trực tiếp diễn ra các hoạt động về VH

- XH, trực tiếp thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việcnâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền, phổ cấpgiáo dục, xoá nạn mù chữ, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân

Cơ sở quốc phòng – an ninh, bao gồm các hoạt động xây dựng và

quản lý QP - AN ở cơ sở Đó là các hoạt động quán triệt, cụ thể hóa và tổchức thực hiện nghiêm chỉnh đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước về QP - AN; thực hiện giáo dục QPTD; xây dựngthế trận QPTD gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân ở cơ sở, xâydựng làng, xã chiến đấu; kết hợp KT – XH với QP - AN; xây dựng dânquân tự vệ, lực lượng dự bị động viên; tiến hành các hoạt động bảo đảm anninh, trật tự an toàn xã hội, phát động nhân dân đấu tranh phòng chống tộiphạm, phòng ngừa tệ nạn xã hội và các hành hành vi phạm pháp ở địaphương; đấu tranh và làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn trong chiến lược

“DBHB” gây bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch ở địa phương Sứcmạnh QP - AN ở cấp xã, phường sẽ trực tiếp góp phần tạo ra sức mạnh QP

- AN của huyện tỉnh và trên phạm vi cả nước

* Đặc điểm CSĐP trên địa bàn Tây Nguyên

Một là, CSĐP trên địa bàn Tây Nguyên đa dạng về địa lý, loại hình, quy mô dân số và có trình độ phát triển không đều.

Tây Nguyên nằm ở trung tâm miền núi Nam Đông Dương, bao gồm 5tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng Phía Bắc giáp

Trang 32

Quảng Nam; Phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai; Phía Nam giáp các tỉnhBình Phước, Phía Tây giáp Lào và Campuchia Tổng diện tích tự nhiên:54.474 km2 (chiếm khoảng 17% diện tích cả nước) [phụ lục 1] Trong chiếntranh giải phóng trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xãhội hiện nay, Tây Nguyên giữ một vị trí quan trọng về an ninh, quốc phòng,bảo đảm sự vững chắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, qua điều tra dân số Tây Nguyên có5.105.457 người, bình quân 85 người/km2 [phụ lục 4] So với mật độ chungcủa cả nước là 260 người/km2 thì mật độ dân số Tây Nguyên còn quá thấp Từsau năm 1975 đến nay, dân số Tây Nguyên tăng gần 4 lần, chủ yếu là tăng cơhọc Tình trạng di dân tự do trong khoảng thời gian đó là khoảng 1 triệungười [phụ lục 10] Tây Nguyên còn là địa bàn giải quyết tình trạng thừa laođộng quá mức ở nhiều địa phương trong cả nước, cũng như sức ép về sự giatăng dân số quá lớn của nước ta trong hai thập kỷ qua

Theo khu vực địa lý và địa bàn dân cư sinh sống, có thể phân chiaCSĐP ở ĐBTN có ba loại: Các xã, phường, thị trấn ở các thành phố, thị xãtrực thuộc tỉnh; các xã, thị trấn ở nông thôn, miền núi; các xã, thị trấn thuộcvùng sâu, vùng xa, biên giới Quy mô dân số, trình độ phát triển ở các loạihình xã, phường, thị trấn này không đều

Đối với các xã, phường, thị trấn thuộc khu vực thành phố, thị xã có quy

mô dân số, mật độ dân cư đông hơn so với các xã, thị trấn ở vùng nông thônmiền núi; trình độ dân trí cũng cao hơn, có nhiều điều kiện thuận lợi về pháttriển kinh tế, VH - XH, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị Vì các

xã, phường, thị trấn này gần các trung tâm đầu não của các tỉnh trên ĐBTN,nên việc tiếp nhận sự chỉ đạo, hướng dẫn của trên cũng như các điều kiện sinhhoạt về vật chất, tinh thần có nhiều thuận lợi

Trang 33

Đối với các xã, thị trấn vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa có địabàn rộng, hệ thống giao thông thấp kém, địa hình hiểm trở, chia cắt phức tạp,thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt, mật độ dân cư thấp Đồng bàocác dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa sống phân tán, việc đi lại, tiếp xúc vớicác dịch vụ, phúc lợi xã hội và nền kinh tế thị trường có khó khăn Nắm vững đặcđiểm này việc xây dựng CSĐP các tỉnh trên ĐBTN căn cứ vào loại hình từng cơ

sở để có các giải pháp và tiêu chuẩn đánh giá hợp lý

Hai là, hệ thống chính trị ở CSĐP trên địa bàn Tây Nguyên đã từng bước được tăng cường và củng cố, nhưng chưa thật vững chắc; hệ thống chính trị ở các xã vùng dân tộc, miền núi còn yếu về nhiều mặt.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ cùng với sự nỗ lựcphấn đấu của các cấp uỷ, chính quyền và nhân dân các tỉnh Tây Nguyên, đờisống chính trị - tinh thần của CSĐP có nhiều khởi sắc Nhận thức của nhân dâncác dân tộc ở CSĐP về đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhànước từng bước được nâng lên Đồng bào các dân tộc ở CSĐP trên ĐBTN tiếptục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết cộng đồng, lao động cần cù, ýthức đấu tranh bảo vệ độc lập chủ quyền, biên giới quốc gia, giữ vững an ninhchính trị và an toàn xã hội ở cơ sở, góp phần giữ vững ổn định chính trị tạođiều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, VH - XH, củng cố QP - AN ở cơ sở

Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, hệ thốngchính trị ở các loại hình CSĐP trên ĐBTN được tăng cường và củng cố Tổchức đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể quần chúng thường xuyênđược củng cố kiện toàn, phát huy được vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, tổchức thực hiện có hiệu quả các chương trình KT – XH ở địa phương Vai tròlãnh đạo của tổ chức đảng, quản lý của chính quyền và các tổ chức quầnchúng được phát huy trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước ở cơ sở Hệ thống chính trị ở các CSĐP, nhất là các vùng

Trang 34

dân tộc miền núi bước đầu được tăng cường củng cố, dân chủ ở cơ sở đượcthực hiện, tình hình chính trị, trật tự xã hội cơ bản ổn định Đến nay, trình độcán bộ ở các loại hình CSĐP, nhất là ở CSĐP các vùng dân tộc miền núi đã

có bước tiến bộ Tất cả các xã đều có tổ chức cơ sở đảng Quyền làm chủ củanhân dân các dân tộc ở cơ sở ngày càng được phát huy và trở thành động lựctrong các phong trào chính trị, xã hội ở địa phương Các phong trào thi đuađược duy trì và ngày càng phát huy hiệu quả trong các hoạt động của địaphương Công tác vận động quần chúng, tuyên truyền giác ngộ nhân dân luônđược sự quan tâm của các cấp, các ngành Các CSĐP có hệ thống chính trịyếu kém ngày càng giảm, số CSĐP vững mạnh tăng lên theo từng năm

Tuy nhiên, hệ thống chính trị CSĐP nhiều vùng dân tộc và miền núithuộc ĐBTN còn yếu Hệ thống chính trị ở không ít xã, phường yếu kém;một số chính sách nhất là chính sách đất đai còn nhiều bất cập; chínhsách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường chưa được quan tâm [phụlục 9] Ở một số xã, phường tệ tham nhũng, những vi phạm của cán bộ,đảng viên không được xử lý nghiêm minh, gây tiêu cực bất bình trongnhân dân Các vấn đề tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng đã ảnh hưởng trựctiếp đến hoạt động tham gia xây dựng CSĐP vững mạnh của CĐVQĐ trênĐBTN hiện nay Nhìn chung trình độ đội ngũ cán bộ thấp Hiện nay số cán

bộ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên ở vùng dân tộc và miền núi khu vựcTây Nguyên chỉ chiếm 2,1% Đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở (xã, phường)nhất là CSĐP các vùng dân tộc và miền núi không những vừa yếu, vừa thiếu[phụ lục 8] Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ người dân tộc thiểu số chưađược quan tâm Trong đó đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở khối mặttrận được đánh giá là yếu nhất và ít được đào tạo, bồi dưỡng Phần lớn cán bộ

cơ sở chỉ có trình độ tiểu học, một số ít có trình độ trung học cơ sở, chưa đượcđào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và ít được bồi dưỡng về pháp luật cho nên

Trang 35

hay bị rơi vào tình trạng quản lý theo thói quen, lệ làng hay luật tục Theo sốliệu của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, năm 2008 số chủ tịch uỷ ban nhân dân xãchưa qua đào tạo về kiến thức quản lý nhà nước chiếm 60,5%, năm 2009 còn

76 xã trọng điểm chưa bố trí được phó bí thư chuyên trách do số lượng đảngviên ít, cấp uỷ viên không đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định 23 của Bộ Chínhtrị và Hướng dẫn 03 của Ban Tổ chức Trung ương Số cán bộ lãnh đạo chưaqua đào tạo lý luận chính trị chiếm tỷ lệ khá cao [20] Bởi vậy, việc nắm và vậndụng quan điểm, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhànước gặp rất nhiều khó khăn

Cơ cấu đội ngũ cán bộ ở CSĐP, nhất là đối với các xã ở vùng sâu,vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có sự hụt hẫng và mất cân đối, nhiều nơi sốlượng cán bộ người dân tộc thiểu số còn ít, chiếm tỷ lệ thấp so với số dân

là đồng bào dân tộc thiếu số trên địa bàn Tỷ lệ đảng viên là người dân tộcbản địa tương đối đông nhưng đảng viên và cán bộ chủ chốt là người dântộc thiểu số lại rất ít Ở nhiều nơi không có đảng viên người dân tộc thiểu

số là cán bộ chủ chốt Nhiều thôn, bản ở CSĐP vùng sâu, vùng xa chưa cóđảng viên Trong khi đó cán bộ người Kinh công tác ở các CSĐP vùng dântộc lại không biết, không hiểu được tiếng dân tộc, không gần dân, khônghiểu được dân, không yên tâm gắn bó với địa phương nơi công tác Cónhiều nơi, cán bộ chủ chốt cấp xã, thôn, buôn không phải là người dân tộcthiểu số cho nên khi cần huy động nhân dân tham gia các phong trào chínhtrị ở cơ sở gặp rất nhiều khó khăn, vì uy tín của già làng, trưởng buôn rấtcao trong cộng đồng dân cư Tình trạng cán bộ vừa thiếu, yếu kém, hẫnghụt nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số đặt ra cho xây dựng CSĐP trênĐBTN phải có một chiến lược, đồng thời có những giải pháp trước mắtthiết thực cụ thể từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhất là độingũ cán bộ người dân tộc thiểu số hiện nay

Trang 36

Bộ máy đảng và chính quyền ở một số CSĐP còn xa dân, chưa sâu sátthực tế, chưa nắm bắt được tâm tư nguyện vọng của đồng bào Một số nơi còn

để xảy ra tham nhũng, tiêu cực vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, phápluật của Nhà nước; thậm chí có nơi hoạt động của một số cán bộ và chínhquyền mang tính “hai mặt” đã ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào sựlãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN

Các mối quan hệ chính trị ở CSĐP trên ĐBTN hiện nay bộc lộ nhiềuđiểm hạn chế, trong đó yếu nhất vẫn là sự lỏng lẻo giữa các tổ chức trong hệthống chính trị cơ sở Vai trò của tổ chức đảng chưa được phát huy đầy đủ,mặc dù cơ chế vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị vẫn là Đảnglãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ Việc thực hiện quy địnhcác mối quan hệ giữa tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xãhội còn lúng túng còn chịu sự chi phối của những thói quen, tập tục lạc hậu

Sự phối kết hợp về mặt tổ chức và hoạt động giữa tổ chức đảng, chính quyền

và đoàn thể nhân dân ở cơ sở chưa bảo đảm phát huy tốt chức năng lãnh đạo,chức năng quản lý và chưa phát huy có hiệu quả vai trò chủ động sáng tạo củacác đoàn thể nhân dân Sự phối hợp giữa các tổ chức trong hệ thống chính trịchưa chặt chẽ, còn có tình trạng chồng chéo, “bao sân” làm ảnh hưởng hạnchế lẫn nhau trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương

Ba là, kinh tế hàng hóa ở CSĐP trên địa bàn Tây Nguyên được hình thành và từng bước phát triển, nhưng còn chậm, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác còn lạc hậu, nhất là ở các xã vùng dân tộc, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Đất nước phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa hộinhập kinh tế thế giới và khu vực, nhưng so với CSĐP ở vùng đồng bằng và

đô thị trong cả nước thì kinh tế thị trường ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùngdân tộc thiểu số trên ĐBTN chậm phát triển, việc mở rộng, giao lưu kinh tế, văn hóa còn nhiều khó khăn Việt Nam gia nhập WTO và tham gia ngày

Trang 37

càng sâu rộng vào các quan hệ quốc tế là điều kiện thuận lợi cho các tỉnhTây Nguyên huy động vốn đầu tư khai thác tiềm năng của mình, phát triển

KT - XH, nâng cao đời sống của đồng bào, góp phần tăng cường sứcmạnh QP - AN, xây dựng CSĐP Song, đây cũng là cơ hội cho các thế lựcthù địch và phần tử xấu lợi dụng để can thiệp, chống phá, gây mất ổn địnhchính trị của Tây Nguyên

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đã làm thay đổi toàn diện

bộ mặt đất nước nói chung cũng như Tây Nguyên nói riêng về kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội, QP - AN Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

ở các xã, phường, thị trấn từng bước được nâng lên, nhưng nhìn chung KT - XHcủa nhiều xã, phường còn kém phát triển, trình độ dân trí thấp, tỷ lệ đói nghèocao so với bình quân chung của cả nước, có nhiều bức xúc về VH - XH, nhất là

các xã có nhiều đồng bào dân tộc, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa Tây Nguyên là

một địa bàn so với cả nước hiện nay còn rất nhiều xã, phường nghèo [phụ lục10] Việc chuyển dịch cơ cấu vật nuôi cây trồng thiếu ổn định và không vữngchắc, nhiều xã, phường ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số kinh tế tự cung, tự cấp

là phổ biến Kinh tế phát triển chậm, tốc độ phát triển chủ yếu tập trung ở khucác trục giao thông, vùng có điều kiện thuận lợi, trong khi đó các xã, phườngvùng sâu, vùng xa đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, chênh lệch mức sốnggiữa các tầng lớp dân cư và giữa các khu vực rất lớn và còn đang tiếp tục tăng.Thu nhập bình quân của 20% số hộ có thu nhập thấp nhất cách nhau 13 lần,trong khi chênh lệch này của cả nước là 8,9 lần, Tây Bắc là 7,1 lần [116- tr.31].Việc thực hiện các chương trình hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình135); Chương trình xóa đói, giảm nghèo 133; Chương trình định canh, định cư;Chương trình phát triển trung tâm cụm xã; Chương trình xóa mù chữ, phổ cậptiểu học…có nguồn ngân sách khá lớn nhưng lại phân tán, thiếu sự lồng ghépnên hiệu quả thấp Sự tác động của mặt trái kinh tế thị trường ảnh hưởng lớn đếnhoạt động tham gia xây dựng CSĐP của CĐVQĐ trên ĐBTN Trên lĩnh vực KT

Trang 38

- XH, xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, đáng chú ý là sự phân hóa giàu nghèogay gắt, giải quyết công ăn việc làm, công bằng xã hội nhất là CSĐP vùng dântộc và miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng còn rất khókhăn, bức xúc đã làm nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân tác động xấuđến ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội

Tây Nguyên là vùng đất giàu tiềm năng, có nhiều lợi thế để phát triểnthủy điện, khai thác khoáng sản, trồng cây công nghiệp, phát triển du lịch.Nhưng những lợi thế này chưa được khai thác có hiệu quả Những năm gầnđây nền kinh tế nhiều thành phần ở các xã, phường, thị trấn khu vực thànhphố, thị xã trực thuộc tỉnh trên ĐBTN phát triển mạnh Kinh tế tập thểđược củng cố và phát huy tác dụng Số lượng các doanh nghiệp tư nhântăng nhanh Kinh tế hộ gia đình phát triển mạnh cả về số lượng và chấtlượng, chủ yếu là loại hình kinh tế trang trại, kinh tế VAC Hàng năm số hộđói nghèo giảm, đời sống đại bộ phận đồng bào các dân tộc được cải thiện

rõ rệt Nông nghiệp, nông thôn CSĐP vùng dân tộc và miền núi có bướcphát triển Đến nay, hầu hết các CSĐP vùng dân tộc và miền núi đã hìnhthành mạng lưới giao thông từ tỉnh, huyện đến xã Số hộ dân được sử dụngđiện và có máy điện thoại tăng nhanh hàng năm

Tuy nhiên kinh tế ở CSĐP vùng dân tộc miền núi trên ĐBTN, nhìn

chung còn chậm phát triển do phong tục tập quán còn nhiều lạc hậu, một bộ

phận đồng bào dân tộc vẫn còn sống du canh, du cư, mặt bằng dân trí thấp,trình độ kỹ thuật canh tác, nuôi trồng hạn chế, lạc hậu, thu nhập thấp, đờisống gặp rất nhiều khó khăn Tập quán canh tác lạc hậu là nét đặc trưng nhấtcủa các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa trên ĐBTN Tình trạng du canh,

du cư “phát, đốt, chọc lỗ và trỉa hạt”, sản xuất tự cung, tự cấp, phụ thuộc vàothiên nhiên là phổ biến Một số hộ nông dân được cấp đất ở và đất sản xuất,nhưng do trình độ canh tác thấp lại bán đất, tiếp tục tập quán du canh, du cư

Trang 39

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, không đều, tập trung chủ yếu là nôngnghiệp, lâm nghiệp, các ngành công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng nhỏ trong

cơ cấu chung Cơ cấu kinh tế có chuyển dịch nhưng chậm, công nghiệp vừađơn điệu vừa phân tán, kỹ thuật lạc hậu, sự tác động của công nghiệp đối vớinông nghiệp và nền kinh tế còn rất ít Thương mại dịch vụ theo kiểu truyềnthống, hoạt động nhỏ lẻ, chưa gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp với nông nghiệptrong một cơ cấu thống nhất Nông nghiệp tập trung chủ yếu vào trồng trọt, việcchuyển đổi cơ cấu nông, lâm nghiệp còn chậm, chưa bền vững, nhiều nơi còn lúngtúng nhất là những nơi thuộc tỉnh Đăk Nông Tình trạng tự phát trong chuyển đổi

cơ cấu cây trồng phá vỡ quy hoạch diễn ra có thời điểm nghiêm trọng ở nhiều địaphương, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái

Phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng, thu nhập của đồng bào các dân tộcthiểu số thấp, sự chênh lệch về mức độ kinh tế giữa các dân tộc còn khá lớn Thunhập bình quân đầu người của các địa phương ở khu vực thành phố thị xã so vớithu nhập bình quân đầu người của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Gia Lai gấp4,29 lần; Kon Tum gấp 1,95 lần; Lâm Đồng gấp 1,66 lần Theo báo cáo của BanChỉ đạo Tây Nguyên sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng Hiện nay, theothống kê số hộ nghèo có giảm, hộ giàu tăng lên nhưng khoảng cách giàu nghèokhông giảm Tính đến năm 2009 toàn vùng còn 139.800 hộ nghèo, trong đó41.000 hộ khó khăn về nhà ở, tập trung chủ yếu ở nông thôn [16] Trong đó số

hộ nghèo thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 45%, thậm chí còn

3 huyện thuộc các huyện nghèo nhất nước chiếm hơn 50% hộ dân tộc thiểu sốthuộc diện nghèo là KonPLong, TuM’Rông tỉnh Kon Tum; Đam Rông tỉnh LâmĐồng [17] Kết cấu hạ tầng ở một số CSĐP vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cáchmạng cũ còn rất thấp kém Mặc dù được Nhà nước đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng miền núi, nhưng việc sử dụng đồng vốn kém hiệu quả, còn lãng phí thấtthoát Năng lực quản lý thấp đã làm cho Tây Nguyên chưa có một sự đột pháđáng kể về phát triển kinh tế Đây đang là những kẽ hở để các thế lực thù địch

Trang 40

mua chuộc, lừa mị, kích động đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên gâymất ổn định chính trị ở CSĐP Đồng thời, với những khó khăn hiện nay củaTây Nguyên về địa bàn rừng núi hiểm trở, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, giaothông chưa phát triển, đời sống nhân dân còn khó khăn là những vấn đề bứcxúc về dân tộc, tôn giáo Điều đó đang đặt ra cho công tác xây dựng CSĐPvững mạnh của CĐVQĐ trên địa bàn phải tập trung mọi nỗ lực cùng với cấp

uỷ, chính quyền địa phương khắc phục mọi khó khăn phát triển kinh tế xãhội, nâng cao đời sống nhân dân, đấu tranh chống lại âm mưu chống phá củacác thế lực thù địch bảo vệ Tây Nguyên

Bốn là, đời sống văn hóa – xã hội ở CSĐP trên địa bàn Tây Nguyên

có sự phát triển, nhưng không đều và chưa vững chắc; đặc biệt những xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc và miền núi còn nhiều vấn đề bức xúc về giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Nhìn chung, mặt bằng dân trí ở CSĐP thuộc khu vực thành thị, nôngthôn được nâng cao, đã hoàn thành việc phổ cập giáo dục tiểu học và xóanạn mù chữ Đời sống văn hóa được nâng lên một bước, truyền thống vănhóa được tôn trọng và phát huy Các bệnh dịch cơ bản được ngăn chặn vàđẩy lùi, việc khám chữa bệnh cho người nghèo được quan tâm hơn Tuynhiên, công tác giáo dục còn nhiều bất cập, thiếu thày cô giáo, chất lượnggiảng dạy thấp, nhiều nơi học sinh bỏ học, cơ sở vật chất bảo đảm cho dạyhọc thiếu nghiêm trọng Hầu hết các CSĐP vùng dân tộc và miền núi đềuthiếu phòng học nên chất lượng giáo dục rất thấp Việc tuyển chọn học sinh

đi học các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề ở các địa phương TâyNguyên, nhất là ở các CSĐP vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số gặprất nhiều khó khăn do không đủ điều kiện Đến nay vẫn có một số dân tộcthiểu số không có một học sinh nào đi đào tạo theo chế độ cử tuyển, đâycũng là vấn đề đặt ra cho công tác xây dựng CSĐP hiện nay

Ngày đăng: 17/02/2021, 19:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w