Nghiên cứu động học quá trình hoà tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuaric Nghiên cứu động học quá trình hoà tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuaric Nghiên cứu động học quá trình hoà tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuaric luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1luận văn thạc sỹ khoa học
nghiên cứu động học quá trình hòa tan
cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
ngành công nghệ hóa học
phạm mai hương
Hà Nội 2007
Trang 2luận văn thạc sỹ khoa học
nghiên cứu động học quá trình hòa tan
cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
ngành công nghệ hóa học
phạm mai hương
Người hướng dẫn khoa học: Ts Lê Thị Mai Hương
Hà Nội 2007
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan các số liệu thực nghiệm trong luận văn này của tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Lê Thị Mai Hương (trường đại học Bách Khoa Hà Nội) là trung thực Các tài liệu, số liệu
sử dụng trong luận văn này đã được sự đồng ý của các tác giả
Người thực hiện luận văn
Phạm Mai Hương
Trang 4Lời cảm ơn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn
TS.Lê Thị Mai Hương đã giao đề tài và tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều
kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn khoa Hóa – Trường Đại học Bách
khoa Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Công nghệ các hợp chất
vô cơ đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Trung học công
nghiệp hóa chất-Phú thọ cùng các đồng nghiệp trong khoa Hóa công nghệ
đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong thời gian qua
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân trong
gia đình, các bạn trong phòng thí nghiệm của bộ môn vô cơ cùng những
bạn bè đã luôn ở bên động viên, chia sẻ và giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt
thời gian học tập và nghiên cứu vừa qua
Một lần nữa xin được trân trọng cảm ơn!
Hà Nội tháng 11 năm 2007 Tác giả luận văn
Phạm Mai Hương
Trang 5
Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
I.2.1.Điều chế sunfat nhôm từ hiđroxit nhôm 8
I.2.2.1.Phân hủy cao lanh bằng H2SO4 9
I.2.2.2.Phân hủy cao lanh bằng cách thiêu kết 10
I.2.2.3.Phân hủy cao lanh bằng phương pháp sunfat hóa bậc 2 10
I.3.1 Phương pháp nghiên cứu động học quá trình hòa tan 13
I.3.1.1.Phản ứng nằm ở miền khuếch tán ngoài 15
I.3.1.2 Phản ứng nằm ở miền khuếch tán trong 16
I.3.2 Động học quá trình hòa tan sunfat nhôm và hiđroxit nhôm 19
Trang 6Phần III Tính toán kết quả và thảo luận 30
III.1 nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố tới
III.1.1 Xác định hiệu suất chuyển hóa oxit nhôm 31
III 1.3 ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng 32
Phần IV Phụ lục(kết quả Tính toán từ thực nghiệm) 54
Trang 7Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Mở ĐầU
Nhôm sunfat có công dụng chủ yếu trong công nghiệp giấy, nhuộm,
thuộc da và làm chất keo tụ để làm trong nước Những công dụng này đều
xuất phát từ chỗ muối nhôm thuỷ phân khá mạnh ở trong nước tạo thành nhôm
hydroxit Khi nhuộm vải, hyđroxit đó được sợi vải hấp phụ và giữ chặt trên sợi
sẽ kết hợp với phẩm nhuộm tạo thành màu bền, cho nên có tác dụng là chất
cắn màu Tác dụng keo tụ làm trong nước là do hyđroxit đó, với bề mặt rất
phát triển, hấp phụ các chất lơ lửng ở trong nước kéo chúng cùng lắng xuống
dưới Trong công nghiệp giấy nhôm sunfat được cho vào bột giấy cùng với
muối ăn Nhôm clorua được tạo nên do phản ứng trao đổi, bị thuỷ phân mạnh
hơn tạo nên hyđroxit Hydroxit này sẽ kết dính những sợi xenlulo với nhau
làm cho giấy không bị nhoè mực khi viết Các muối của nhôm nói chung và
sunfat nhôm nói riêng được sử dụng khá rộng rãi đặc biệt là trong các việc sử
lý nước
Trong thực tế có nhiều công trình nghiên cứu về các hợp chất của nhôm
và các loại khoáng chất thiên nhiên của nhôm Chúng ta có thể thấy các hợp
chất của nhôm có ở khắp mọi nơi, phần lớn nó tồn tại trong tự nhiên dưới dạng
ôxit Có ý nghĩa nhất trong công nghệ sản xuất các hợp chất của nhôm là ôxit
nhôm tồn tại dưới dạng khoáng boxit và các khoáng của nhôm như cao lanh,
đất sét … có thể nói đây là quặng quan trọng nhất do là sản phẩm của quá
trình phân huỷ đặc biệt phổ biến của các nham thạch do aluminosilicat tạo
nên Bên cạnh đó trữ lượng quặng boxit và cao lanh ở nước ta tuy không nhiều
nhưng đủ để sản xuất dùng trong nước với thời gian dài.( Theo báo cáo khoa
học của viện hoá học – Tổng công ty Hoá chất Việt Nam năm 2000)
Trữ lượng quặng bôxit đã được thăm dò là 2,7 tỷ tấn Dự báo quặng
boxit nguyên khai khoảng 6,7 tỷ tấn Quặng boxit ở tụ khoáng Bảo Lộc - Lâm
Đồng
Trang 8đang được khai thác để sản xuất 7000 tấn/năm, nhôm hydroxit vào khoảng
30.000 tấn/năm phèn nhôm Còn các mỏ khác hầu như chưa được khai thác
Trong khi đó chúng ta phải chở nhôm hydroxit từ miền Nam ra Bắc để sản
xuất phèn nhôm Mặt khác, nguồn hydroxit nhôm của nhà máy hoá chất Tân
Bình khó đảm bảo cả về sản lượng và giá cả Đứng trước tình hình đó chúng
tôi đề xuất phương án nghiên cứu chế tạo sunfat nhôm đi từ nguồn nguyên
liệu là các quặng thiên nhiên có sẵn tại địa phương với mục tiêu giảm giá
thành sản phẩm và tăng sức cạnh tranh Tuy nhiên, sau khi khảo sát chúng tôi
nhận thấy rằng: quặng boxit ở các tỉnh phía Bắc do tồn tại ở dạng diaxpo rất
khó hoà tan, vì vậy vẫn chưa có công nghệ phù hợp để đi từ trong nguyên liêu
này Vì vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu quặng cao lanh
Xuất phát từ tình hình đó chúng tôi xác định nhiệm vụ của bản luận văn
là:
- Khảo sát một cách chi tiết bằng thực nghiệm quá trình hoà tan quặng
cao lanh (mỏ cao lanh Thanh Sơn – Phú Thọ) trong axit sufuric để chế tạo
nhôm sunfat
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ, nhiệt độ, kích thước hạt đối với
quá trình hoà tan Xác định sự phụ thuộc của tốc độ hoà tan cao lanh trong
axit sunfuric vào các điều kiện để thiết lập được mô hình toán của quá trình
Mong rằng các kết quả nghiên cứu sẽ có ý nghĩa đối với quá trình sản
xuất sunfat nhôm trong thực tế
Trang 9Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Phần I Tổng quan
I.1 Tính chất hoá - lý của sunfat nhôm
Sunfat nhôm khô là chất bột màu trắng với tỷ trọng 2710kg/m3, vasilev,
Gitis và seitlin đã do tỷ trọng và độ nhớt của dung dịch (dung dịch là nước)
sunfat nhôm trong khoảng nhiệt độ 100C ≤ t ≤ 950C và khoảng nồng độ 0,049
≤ C ≤ 0,305kg/kg Tỷ trọng của dung dịch thay đổi tương đối theo hàm số
ρ = 1001,7 + 1271,60C – 0,663t Sai số trung bình bình phương bất kỳ: SOP = ±1,5 kg/m3
Trong dung dịch, trong khoảng nhiệt độ từ -12 đến 112,20C kết tinh ở
dạng Al2(S)4)3.16H2O Với nhiệt độ -120C trong thành phần sunfat nhôm
27,2% hình thành điểm ơtecti
Trong môi trường oxy hóa, môi trường khử và môi trường trung hòa khi
đốt nóng, Al2(S)4)3.16H2O phân huỷ theo cấp độ Trong khoảng 50-600C quan
sát thấy 16 hydrat sunfat nhôm, trong khoảng 80-900C phần đó chuyển hoá
thành 12 hydrat Sự chuyển hoá thành Hecxanhydrat kết thúc tại nhiệt độ
1300C
Khi đốt nóng nhanh tới 1500C Al2(SO4)316H2O tan thành nước tinh thể
Sự nóng chảy của tinh thể hydrat trong bình kín xảy ra ở nhiệt độ thấp hơn
860C Tinh thể hydrat với 12 mol nước khi đốt nóng trong không khí không bị
nóng chảy Cao hơn 1500C hecxanhydrat sunfat nhôm bị phân huỷ vì hình
thành pha rơnghen vô định hình Trong khoảng 200-3000C quá trình loại nước
xảy ra mạnh với sự hình thành tinh thể hydrat tướng cùng loại
Sự phân huỷ của sunfat nhôm khô với sự loại bỏ oxit lưu huỳnh bắt đầu
từ 6500C và diễn ra mạnh trong khoảng nhiệt độ 700-8000C Khi đó trong pha
cứng hình thành γ Al2O3 Tăng nhiệt độ tới 10000C, SO3 bị loại bỏ hoàn toàn
Trong môi trường khử, quá trình loại nước của Al2(SO4)316H2O cũng
hoàn thành với nhiệt độ 4500C
Trang 10Trong hệ thống Al2(SO4)3 - H2SO4 - H2O với nhiệt độ 25-800C hình
thành 4 loại hydrat sunfat nhôm với thành phần 18, 16, 14, 12 mol nước và ba
loại muối chua:
2Al2(SO4)3.H2SO4.24H2O;Al2(SO4)3.H2SO4.12H2OvàAl2(SO4)3.3H2SO4 .12H2O
Trong dung dịch 0-65% H2SO4 với nhiệt độ 850C hình thành 16,14,9
hydrat sunfat nhôm, hình thành Al2(SO4)3.H2SO4 .8H2O và pha bền giả
2Al2(SO4)3 H2SO4 .24H2O Trong khoảng nhiệt độ 40-1000C nhận thấy sự kết
tinh của các muối sau: Al2(SO4)3.18H2O; Al2(SO4)316H2O; Al2(SO4)3.H2SO4
24H2O; Al2(SO4)3.H2SO4.12H2O; Al2(SO4)3và pha bền giả
Al2(SO4)3.H2SO4.24H2O Độ tan của sunfat nhôm phụ thuộc khá lớn vào nồng
độ axit sunfuric Trong dung dịch axit loãng, độ tan của Al2(SO4)3 lớn hơn so
với trong nước cất nhưng khi tăng nồng độ H2SO4 độ tan giảm đột ngột tới 1%
trong dung dịch H2SO4 60% Khi tăng nồng độ axit lên cao hơn nữa thì độ tan
của sunfat nhôm tăng trở lại
Trong dung dịch với dung môi là nước sunfat nhôm bị thuỷ phân với sự
hình thành ion hydroxit nhôm và ion hydro Quá trình thuỷ phân của sunfat
nhôm phụ thuộc vào nồng độ muối trong dung dịch, độ pH của môi trường
nhiệt độ và những yếu tố khác Trong dung dịch sunfat quá trình thuỷ phân với
sự hiện diện của ion 2 −
4
SO diễn ra sự hình thành thể phức của hydroxit nhôm
Tất cả các muối sunfat nhôm cơ bản tan nhiều trong kiềm đặc biệt là
đun nóng tới nhiệt độ sôi.Với axit sunfuric, axit clohydric và axit nitric có
nồng độ thấp và trung bình, các muối này không tương tác.Tại nhiệt độ sôi
của các axit này có thể quan sát thấy sự tương tác đáng kể.Trong axit đặc tất
cả các muối trên nhìn chung tan hoàn toàn
I.2 Các phương pháp chế tạo sunfat nhôm
Sunfat nhôm có thể được sản xuất dưới dạng miếng không xác định
kích thước với khối lượng tới 10kg hoặc dưới dạng vẩy với thành phần 14 ữ
16,3% Al2O3 Sunfat nhôm có thể được sản xuất dưới dạng dung dịch theo yêu
Trang 11Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
cầu của người mua trong khối lượng nhỏ với thành phần 6,7 ữ 7,7% Al2O3
hoặc có thể dưới dạng sản phẩm không bão hoà - là hợp chất của sunfat nhôm
và phần bã không tan, điển hình là dioxitsilic
I.2.1 Điều chế sunfat nhôm từ hydroxit nhôm
Phương pháp cơ bản trong công nghiệp sản xuất sunfat nhôm sạch hiện
nay là điều chế sunfat nhôm từ hydroxit nhôm Phương pháp này được sử
dụng rộng rãi nhờ có những ưu điểm như:đơn giản, có thể cho sản phẩm có
chất lượng cao với hàm lượng oxit sắt nhỏ, chi phí vận chuyển thấp
Hydroxit nhôm là bán sản phẩm trong sản xuất đất nhôm oxit Điều chế
hydroxit nhôm từ quặng bauxit bằng kiềm theo phương pháp baier được sử
dụng rộng rãi Trong phạm vi nhỏ hơn, đất nhôm oxit được sản xuất bằng
phương pháp dung kết nephelin với vôi hoặc sản xuất từ alunit bằng phương
pháp kiềm khử
Hàm lượng nước trong sản phẩm không được vượt quá 12% độ hao khi nung
không tính nước là 34-38% Trong sản xuất sunfat nhôm, hàm lượng Na2O và
K2O cần ở mức thấp vì nếu hàm lượng này cao, mức tiêu thụ axit sunfuric và
hydroxit nhôm sẽ tăng do sự hình thành muối khó tan
Na2[Al6(SO4)5(OH)10].4H2O làm tăng lượng bã khó tan trong dung dịch
I.2.2 Điều chế sunfat nhôm từ cao lanh
Cao lanh được phân bố rộng rãi trên nhiều miền khác nhau Thành phần
của cao lanh gồm oxit nhôm, oxitsilic và một số các tạp chất khác Oxitsilic
SiO2 không phản ứng với axit H2SO4 vì vậy bước công nghệ đầu tiên là sunfat
hoá Hoà tan chọn lọc Al2O3 ra khỏi SiO2, chế biến Al2(SO4)3 vào các sản
phẩm khác
Cao lanh được xếp vào nhóm đất sét đơn khoáng Đất sét được gọi là
cao lanh nếu trong nó chứa lớn hơn 50% khoáng caolinnhit (Al2SiO5(OH)4)
Đất sét được phân biệt với cao lanh bởi độ mịn hạt cao lanh, tính dẻo và khả
năng thiêu kết tại nhiệt độ cao Trong đất sét hạt < 2àm, hạt cao lanh < 5àm
Thành phần cao lanh có các khoáng sét khác: dikit, galuazit, nakerit và
Trang 12gitroluda … trong thành phần gọi là tạp chất có cả silic dạng cát,opan, hiêm
hơn là hanxedon.Tạp chất có chứa Fe: hematit, xiderit… một vài cao lanh có
chứa khoáng gibbxit Al(OH)3, AlOOH mà nhờ đó hàm lượng Al2O3 rất
cao.Thành phần hoá học của cao lanh thay đổi trong diện rộng nên trước khi
đưa vào sản xuất thường sử dụng cao lanh đã qua tuyển
I.2.2.1 Phân huỷ cao lanh bằng axit sunfuric
Cao lanh khó tan trong H2SO4, có rất nhiều công trình đã nghiên cứu
quá trình nhiệt hoá cao lanh nhưng chưa có sự thống nhất về cơ chế của quá
trình này Bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, hoá lý, rơnghen, quang phổ
hồng ngoại có thể biểu diễn quá trình nhiệt hoá theo sơ đồ sau:
Al2SiO5(OH)4 450−5500C→ Al2O3 2SiO2 + 2H2O↑ (1)
Al2O3 2SiO2 830 -8500C→γ.Al2O3 + 2SiO2 (2) 3.( γAl2O3) + 2 SiO2 9000C→ Al2O3 2SiO2 (3) Năng lượng phá huỷ mạng tinh thể của cao lanh theo phản ứng (1) là
280kJ/mol Đến 4500C cao lanh không có sự chuyển hoá hoá học nào nên khó
phân huỷ bằng axit H2SO4 nồng độ loãng trung bình Khi tăng nhiệt độ nung
tạo ra dạng meta dễ dàng phản ứng với H2SO4 Mức độ tách Al2O3 có thể đạt
90% Nếu nhiệt độ tăng 850 ữ 9000C thì có khả năng hoà tách vào dung dịch
giảm là do tạo thành dạng γ.Al2O3 và mulitta (phản ứng 3) khó tan trong axit
H2SO4
Trong dung dịch H2SO4 oxit SiO2 hoà tan không đáng kể Nồng độ silic
trong dung dịch Al2(SO4)3 không lớn từ (0,1 ữ 0,2g/l)
Nếu tăng thời gian nung 0,5 giờ tại 6000C dẫn đến độ hoà tách của
Al2O3 trong cao lanh đến 84,7% bằng H2SO4 20% trong thời gian 0,5 giờ tại
1040C
Nếu nhiệt độ hoà tách Al2O3 trong cao lanh khoảng 60 ữ 1040C thì mức
độ tách Al2O3 vào dung dịch sẽ tăng từ 14,8 ữ 92%
Trang 13Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Nếu tăng nhiệt độ lớn hơn 1040C thì không hợp lý vì thiết bị hoà tách
phải làm thiết bị chịu áp lực
I.2.2.2 Phân huỷ cao lanh bằng cách thiêu kết cùng với H 2 SO 4 ở 200 0 C
Trong trường hợp này không đòi hỏi phải nung phân huỷ cao lanh trước
làm đơn giản quá trình sunfat hoá các bước chuyển hoá hoá học biểu diễn theo
sơ đồ:
Al2SiO5(OH)4+H2O 100 0 C →Al2(SO4)3.nH2O+2SiO2 3000 C →Al2(SO4)3+2SiO2+
nH2O↑
Khi có lượng axit H2SO4 dư tạo ra muối nhôm sunfat chua
Như vậy, cả hai phương pháp sunfat hoá cao lanh có một loạt các nhược điểm sau:
- Cần phải có một sự chuẩn bị kỹ đối với cao lanh trước khi nung
- Một lượng bụi lớn trong quá trình nghiền cao lanh đã nung cũng như
khó khăn xuất hiện khi phân huỷ trong axit H2SO4 và việc tách sunfat nhôm ra
khỏi bã SiO2
- Nếu thiêu kết sẽ tổn thất một lượng H2SO4 theo ống khói gây ra ô
nhiễm
I.2.2.3 phương pháp sunfat hoá hai bậc cao lanh (CCCP - 223804)
Phương pháp này cho phép nhận được sản phẩm sau thiêu kết có độ xốp lớn,
có độ bền cơ cao, cho phép dễ dàng tách dung dịch sunfat ra khỏi bã SiO2,
giảm được tổn thất H2SO4
Bước 1: Từ cao lanh và dung dịch H2SO4 nồng độ 10 ữ15% theo hệ số
tỷ lượng,hoặc dung dịch Al2(SO4)3 làm ra bùn.Với hàm ẩm 50 ữ55% thiêu
kết tạo hạt ở trên đĩa tạo hạt 200 ữ 300oC, sau đó hạt này được nung ở 560 ữ
580oC
Bước 2: Hạt sau khi thiêu kết được nung ở 560 ữ 580oC và được phân
huỷ tiếp 80 ữ 90% bằng axit theo tỷ lượng Nồng độ axit được tính toán từ
điều kiện để thu được dụng dịch sunfat nhôm với hàm lượng 12 ữ 13.5%
Al2(SO4)3 Từ phương trình (3) ta thấy mức độ hoà tách Al2O3 tại nhiệt độ
Trang 14nung 300 ữ 400oC là không đáng kể Khi tăng nhiệt độ lên làm tăng rất nhanh
mức độ chuyển hoá Al2O3
Phương pháp chế tạo cụ thể như sau: Cao lanh sau khi khai thác từ mỏ
được cắt thành khối, phơi khô và đưa vào lò nung ở nhiệt độ 600 ữ 650oC
trong 0.5 đến 1 giờ Sau đó để nguội, đập vỡ bằng máy nghiền thô, sau đó
nghiền tinh đến kích thước 1ữ 2mm Cao lanh sau khi được hoạt hoá sẽ
chuyển vào thùng phản ứng với axit sunfuric nồng độ 40 ữ 45% tại nhiệt độ
110 ữ 1150C (thiết bị phản ứng được bảo ôn và có hệ thống gia nhiệt bằng hơi
nóng khi cần thiết) Thời gian phản ứng khoảng 1-2 giờ, sau đó được pha
loãng bằng nước rửa đến nồng độ 60 ữ 65 g/lít theo Al2O3, hoà trộn với chất
trợ lắng, lọc và rửa qua thiết bị lọc chân không, sau đó đưa vào máy vắt ly
tâm Bã thải SiO2 được đưa đi xử lý Dung dịch sunfat nhôm được đưa sang
công đoạn chế tạo tiếp theo
I.3 Động học của quá trình hoà tan
Quá trình với sự tham gia của chất hoà tan hoàn toàn trong một dung
môi nào đó gọi là quá trình hoà tan, khác với quá trình chiết có thành phần
chính chứa trong chất hoà tan không hoà tan hết Quá trình hoà tan chất rắn
trong dung môi lỏng diễn ra trong những trường hợp nồng độ chất hoà tan nhỏ
hơn nồng độ bão hoà
Quá trình hoà tan chất rắn là một trong những quá trình quan trọng của
công nghệ hoá học Kết quả trực tiếp của quá trình hoà tan chính là việc thu
hồi được dung dịch tương đối đồng nhất của hai hay nhiều chất Thông thường
sự kết hợp của dung môi với pha rắn diễn ra trên bề mặt của hạt, trong một số
trường hợp sự tương tác này có thể lại cản trở bởi cấu trúc xốp trong lòng hạt
rắn
Có thể chia ra hai dạng cơ bản của phản ứng hoà tan Một là hoà tan
thuận nghịch, hai là hoà tan không thuận nghịch Quá trình hoà tan thuận
nghịch dẫn tới sự tạo thành các muối, nước trên bề mặt của pha rắn và sau đó
Trang 15Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
di chuyển chúng vào trong lòng lỏng Tính thuận nghịch của quá trình này
nằm ở chỗ dung dịch nhận được có thể kết tinh và chia ra thành những chất
phản ứng ban đầu Ví dụ của quá trình này là quá trình hoà tan các cấu trúc
tinh thể dạng ion trong nước với sự tạo thành dung dịch quá bão hoà và kết
tinh chúng
Hoà tan thuận nghịch có thể chia ra thành ba loại phản ứng:
a Phản ứng dưới sự tạo thành solvat trên bề mặt và sự di chuyển chúng
tiếp theo vào trong lòng chất lỏng Theo tính chất của nó thì những phản ứng
này có thể dẫn tới việc một số loại trong đó có thể hoà tan thuận nghịch Tuy
nhiên dung dịch thu được không thể kết tinh lại thành các hợp chất ban đầu
Ví dụ cho quá trình này có thể là quá trình hoà tan một số loại hỗn hợp các
tinh thể hình thành từ các phân tử có cấu trúc ion hoặc là thuỷ tinh trong các
chất lỏng phân cực và không phân cực
b Phản ứng ôxy hoá khử dẫn đến sự tạo thành những ion solvat và
những sản phẩm của việc khử các chất oxi hoá Những loại phản ứng này có
thể là dạng tương tác của các ion kim loại và hợp kim của chúng với chất oxy
hoá hoặc chất oxy hoá khử trong dung dịch nước
c Phản ứng loại thêm vào, thay thế hoặc trung hoà Trong loại này phải
kể đến phản ứng tương tác của các phân tử có cấu trúc tinh thể hoặc ion với
dung dịch phân cực và không phân cực, dẫn đến sự tạo thành ion phân tử
solvat
Trong một số trường hợp quá trình hoà tan có thể dẫn tới tạo thành một
số chất rắn Nếu như nó được phân rã trong quá trình hoà tan tiếp theo thì nó
cũng sẽ thể hiện một lực khuyếch tán thêm vào cho quá trình hoà tan Giá trị
của trở lực này sẽ tăng và tỷ lệ với căn bậc hai của thời gian hoà tan
Như vậy quá trình hoà tan là quá trình dị thể trong phản ứng hệ không
đồng nhất rắn lỏng Khái quát nhất coi thể rắn có cấu trúc xốp Thể rắn dưới
dạng tinh thể được nén định hình thành các dạng mảnh, dạng trụ, dạng cầu …
nhằm khống chế trở lực dòng chảy trong miền cho phép Giữa hạt tinh thể rắn
Trang 16có khoảng không gian tự do, coi như khoảng không gian này được hình thành
dưới dạng các mao quản Như vậy, tổng bề mặt mao quản thực chất là bề mặt
tiếp xúc giữa thể rắn với dạng lỏng Nói chung bề mặt tiếp xúc mao quản lớn
hơn rất nhiều bề mặt ngoài của hạt, thậm chí có thể bỏ qua không tính đến bề
mặt ngoài của hạt Điều này cũng có nghĩa phản ứng hoà tan tiến hành trên
toàn bộ diện tích tiếp xúc pha
Trong quá trình hoà tan thể rắn trực tiếp tham gia phản ứng hoá học, khối
lượng thể rắn sẽ thay đổi trong quá trình phản ứng Quá trình này cũng bao
gồm những bước nối tiếp như sau:
1 Lỏng khuyếch tán đến bề mặt ngoài thể rắn
2 Lỏng khuyếch tán từ bề mặt ngoài vào bề mặt bên trong của mao
quản thể rắn
3 Phản ứng trên bề mặt thể rắn
4 Khuyếh tán sản phẩm từ trong mao quản ra bề mặt ngoài hạt rắn
5 Khuyếch tán từ bề mặt ngoài hạt rắn vào trong pha lỏng
Tốc độ quá trình được quyết định bởi tốc độ của bước chậm nhất Dựa vào đó
có thể khẳng định phản ứng nằm ở miền khuyếch tán ngoài, miền khuyếch tán
trong hay miền động học,và tốc độ phản ứng được tính bằng tốc độ của bước
khống chế đó
I.3.1 Phương pháp nghiên cứu động học quá trình hoà tan
Động học quá trình hoà tan phản ánh những thông tin về vận tốc quá
trình,
các yếu tố ảnh hưởng đến vận tốc quá trình, cơ chế, các bước tiến hành của
phản ứng hoá học Như vậy, nghiên cứu động học quá trình là nghiên cứu khả
năng chuyển hóa của từng cấu tử trong hỗn hợp phản ứng , để xác định lượng
vật chất đã được chuyển hóa theo đơn vị thời gian, tức là tính vận tốc phản ứng
của các cấu tử trong hỗn hợp phản ứng Đó chính là việc mô tả công nghệ của
quá trình hoà tan Mô tả này được thể hiện qua những quan hệ hàm số … thể
hiện được chất lượng và hiệu quả của quá trình
Trang 17Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Phản ứng hòa tan là phản ứng trong đó chất lỏng tiếp xúc trực tiếp và
phản ứng với chất rắn để tạo thành sản phẩm Cơ chế của phản ứng lỏng-rắn
có dạng:
A(lỏng) + B(rắn) → sản phẩm (rắn hoặc lỏng) Thông thường phản ứng hòa tan xảy ra theo mô hình Shrinking Core Model,
tức là mô hình chuyển hóa từ ngoài vào làm cho nhân hạt thu hẹp dần.Theo
mô hình này, lúc đầu phản ứng xảy ra ở bề mặt ngoài của hạt để tạo thành một
lớp sản phẩm bao quanh nhân hạt chưa phản ứng Nhân tiếp tục được phản
ứng, lớp sản phẩm dày dần, đến một lúc nào đó toàn bộ hạt được phản ứng
hoàn toàn và không còn nhân nữa
Cơ chế của mô hình chuyển hóa cũng gồm năm bước nối tiếp nhau và có trở lực khác nhau, bước nào chậm nhất sẽ quyết định vận tốc quá
trình Như vậy, phản ứng hoà tan có thể xảy ra trong bất cứ miền nào trong
những miền nêu trên Vì thế, khi nghiên cứu động học của quá trình hoà tan
phải xem xét từng quá trình cụ thể Cũng có nghĩa là khi tiến hành nghiên cứu
phải quan tâm đến điều kiện lý tưởng của thí nghiệm để đánh giá đúng được
Trang 18Cơ chế phản ứng
Giả thiết ban đầu hạt rắn có bán kính R, sau khi phản ứng còn lại nhân
trơ chưa phản ứng có bán kính rm Hạt ban đầu có thể tích là V Thể tích hạt
còn lại là Vm
Vì trong quá trình hoà tan lượng lỏng A và rắn B đều thay đổi nên có
thể tính hiệu suất chuyển hoá theo A hoặc B
Nếu tính hiệu suất
chuyển hoá
theo B, ta có
(I-1)
I.3.1.1 Nếu phản ứng nằm ở miền khuyếch tán ngoài
ở đây chủ yếu là khuyếch tán phân tử, quá trình khuyếch tán của phân
tử lỏng đến bề mặt chất rắn chậm, nên khống chế toàn bộ tốc độ quá trình
phản ứng Sự biến thiên nồng độ cấu tử A theo phương hướng kính do quá
trình khuếch tán ngoài chậm qua lớp biên nồng độ giảm từ CAg xuống nồng
độ bề mặt hạt CAS Nếu phản ứng là một chiều do tốc độ phản ứng hoá học
nhanh hơn so với quá trình khuếch tán nên CAS = 0 Nếu phản ứng là hai chiều,
phản ứng kết thúc ở trạng thái cân bằng CAS = C*
A(nồng độ cân bằng) Tốc độ phản ứng tính theo rắn B:
dv dt S dt
dN S
B
ρ
1
r V
V
B
Trang 19Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
dN S
A
ρ
1
Mặt khác, lượng lỏng A di chuyển do khuếch tán đối lưu qua một đơn vị diện
tích dòng khuếch tán, tỷ lệ với động lực quá trình chuyển khối
ρ : Khối lượng riêng của A
Từ các phương trình( I-2),(I-3),(I-4),tính được .Thời gian cần thiết để phản
ứng làm thay đổi kích thước hạt từ R → rm là:
m
τ =
Ag Ag B
B C K
R
3
υ
R
r m (I-5) Thời gian cần thiết để phản ứng làm thay đổi kích thước hạt từ R →0 là:
Ag Ag B
B C K
R
3
υ
ρ
τ = (I-6) Với K là hằng số tốc độ của phản ứng
K =
) (
. Ag Ag As
B
B C C
Từ (I-5) và (I-6) tính được thời gian phản ứng với từng loại hình dạng hình
học của hạt rắn s và dv tương ứng.(bảng 1)
I.3.1.2 Phản ứng nằm trong miền khuếch tán trong
Nếu bước khuyếch tán của A trong mao quản chậm phản ứng sẽ nằm ở
miềnkhuếch tán trong
Trang 20ở đây do quá trình khuếch tán ngoài nhanh nên về cơ bản nồng độ cấu tử A
trong pha lỏng bằng nồng độ bề mặt CAs
Trong trường hợp tốc độ ổn định, tốc độ phản ứng hoá học bên trong hạt
bằng lượng cấu tử A đi qua phần diện tích bọc của hạt này, quá trình khuyếch
tán trong là khuyếch tán phân tử tuân theo định luật Fick I
A A
1 dt
dN S
S: là diện tích bề mặt hạt rắn ban đầu
ρB: khối lượng riêng của hạt rắn (coi như không đổi) V: thể tích hạt rắn
Thời gian phản ứng để giảm kích thước hạt từ R → rm là:
Ag A B
B m
C D
R
6
. 2υ
2 3
1
R
r R
r m m (I-9) Thời gian phản ứng để giảm kích thước hạt rắn từ R → hết là :
Ag A B
B C D
R
6
. 2υ
Trang 21Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Khi phản ứng nằm trong miền động học, nồng độ trên toàn hạt là CAg
Phản ứng diễn ra trên toàn bộ bề mặt phân chia hạt rắn
Tốc độ phản ứng tính theo cấu tử B là:
dt
dvS
1dt
dNS
S: diện tích bề mặt hạt rắn tại thời điểm khảo sát
ΡB: khối lượng riêng (coi như không đổi) của hạt rắn V: thể tích hạt rắn
Tốc độ phản ứng theo cấu tử A
( )Ag C Ag C
B = υ
ấy qua bảng dựa vào đó có thể tính được thời gian phản ứng cần thiết để đạt
được một hiệu suất chuyển hóa nhất định
Trang 22Hình trụ 2πR.L πR 2 L
Bảng 2 Thời gian phản ứng cần thiết phụ thuộc vào độ chuyển hóa
= τ τ
Ag Ag B
B C k
L
.
ν
ρ
τ =
Ag Ag B B
B m
C D L x
2 22
ν
ρ τ
τ τ
=
=
Ag Ag B B
B m
C k L x
.
ν
ρ τ
τ τ
B m
C k R x
2
ν
ρ τ
τ τ
=
Ag A B B
B B
B m
C D R
x x
x
4
1 ln 1
2 ν
ρ τ
τ τ
=
+ +
+
Ag c B B
B m
c k R x
.
B m
c k R x
3
ν
ρ τ
τ τ
=
Ag Ag B B
B B
m
c k R
x x
6
1 2 1
3 1 2 3 2
ν
ρ τ
τ τ
=
− +
−
−
Ag c B B
B m
C k R x
.
B m
C D k
R y x
2
.
τ τ
B m
C k R x
.
=
−
−
=
I.3.2 Động học của quá trình hoà tan Al 2 O 3 và Al(OH) 3
Quá trình hòa tan sunfat nhôm trong axit sunfuric cũng là quá trình dị
thể và trong hệ có bề mặt phân chia pha Phản ứng hóa học thường chỉ là một
trong những giai đoạn của quá trình chuyển pha,và được diễn ra trong thể tích
một pha còn chất kia ở pha khác khuếch tán tới
Khả năng phản ứng của Al2O3 và Al(OH)3 với H2SO4 có liên quan tới cấu trúc
và trạng thái năng lượng của các hạt trong mạng tinh thể Các chất có nhiều
Trang 23Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
dạng thù hình khác nhau thì khả năng phản ứng cũng khác nhau.Trong trạng
thái kết tinh của hạt rắn có các chỗ khuyết tật, ở vị trí khuyết tật thì khả năng
phản ứng cao hơn so với những vị trí khác, nếu nồng độ khuyết tật tăng thì khả
năng phản ứng tăng Mật độ khuyết tật có thể tăng bằng cách tăng nhiệt độ
Mặt khác khi số hạt ở các cạnh và đỉnh tinh thể tăng thì khả năng phản ứng
cũng tăng vì vậy cần phải tăng độ mịn của tinh thể Từ các công trình nghiên
cứu động học quá trình hòa tan đã đưa ra một số mô hình động học cho phản
ứng Đối với quá trình hoà tan Al2O3 hoàn toàn có thể dựa vào các mô hình đó
để giải quyết các vấn đề về động học
Tốc độ hòa tan Al2O3 được tính bằng lượng chất chuyển vào dung dịch sau
một đơn vị thời gian
r =
dt S
dN Al
.
3+
trong đó
s là diện tích tiếp xúc pha
dNAl3+ là biến thiên về lượng của Al2O3
Các yếu tố ảnh hưởng đến động học quá trình là; độ mịn và bản chất hạt rắn,
tốc độ khuấy trộn, nhiệt độ phản ứng , tiêu chẩn và nồng độ axit Bởi vì quá
trình mang tính chất nhiều giai đoạn đó là những quá trình nối tiếp nhau:
- Chuyển chất từ vùng khác tới vùng phản ứng
- Biến đổi hóa học tại vùng phản ứng
- Chuyển sản phẩm ra khỏi vùng phản ứng
Nên các yếu tố trên ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình phân hủy
Động học quá trình (phản ứng hòa tan oxit nhôm và hidroxit nhôm là
=
Trang 24Hằng số tốc độ phản ứng
n axitC'k
Trong đó:
n là bậc của phản ứng theo axit
Caxit là nồng độ axit hòa tan
Năng lượng hoạt hoá của phản ứng hoà tan phụ thuộc vào nồng độ và bản chất
của chất hoà tan Kết quả một số công trình nghiên cứu cho biết năng lượng
hoạt hóa của phản ứng hòa tan hiđroxit nhôm trong HNO3 và NaOH
Trang 25Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
333 151.6 136349
So sánh năng lượng hoạt hoá của quá trình hoà tan Al(OH)3 bằng axit
HNO3 và NaOH Nhận thấy
3
HNO NaOH E
E > chứng tỏ liên kết Al-OH dễ bị phá
vỡ hơn liên kết AlO-H Như vậy, theo mô hình lý tưởng này thì việc hoà tan
hydroxit nhôm trong axit sẽ thuận lợi hơn khi dùng NaOH Tuy nhiên, để
đánh giá một cách cụ thể phải nghiên cứu trong hệ thực
Động học trong hệ thực phản ánh đầy đủ các đặc điểm thực tế của hệ phản
ứng hoà tan hydroxit nhôm như: các loại kích thước hạt trong hydroxit nhôm
nguyên liệu, hình dạng hạt pha rắn và phương, chiều của phản ứng hoá học
trong thể rắn khảo sát Quá trình hoà tan hydroxit nhôm trong axit là quá trình
dị pha nên vận tốc sẽ phụ thuộc vào bề mặt tham gia phản ứng Để tăng tốc độ
phản ứng thì cần tăng bề mặt tiếp xúc pha rắn nên phải nghiền Al(OH)3 ảnh
hưởng của quá trình nghiền đến quá trình hoà tan được đánh giá qua số liệu
thực tế
Ví dụ: Không nghiền → mức độ chuyển hoá: 25,7%
Nhận thấy rằng mức độ chuyển hoá tăng đáng kể khi nghiền nguyên liệu Như
vậy, khẳng định chắc chắn rằng bề mặt tiếp xúc pha có ảnh hưởng rất lớn đến
tốc độ và hiệu suất chuyển hoá của phản ứng Mặt khác, phương pháp nghiền
cũng tác động rất lớn, so sánh giữa nghiền bi và nghiền đập thì nghiền bi cho
kết quả độ chuyển hoá tốt hơn Điều này có thể được lý giải lý do khi nghiền
bi, do quá trình chà sát nên tăng được diện tích bề mặt theo mọi phương của
hạt rắn, trong khi đó nghiền đập thì chỉ tăng diện tích bề mặt theo một số
lượng nhất định
Trang 26Phần II: Thực nghiệm II.1 Hóa chất và dụng cụ thí nghiệm
II.1.1 Hóa chất
H2SO4 98%
HCl 99%
CH3COOH NaOH tinh thể MgSO4 tinh thể
Na2C10H14N2O8 tinh thể (EDTA) Xylen da cam
Phênolphtalein KHC8H4O4 (KHP) Nước cất
II.1.2 Dụng cụ và thiết bị
Lò nung Cân phân tích(± 10-4g) Cối mã não nghiền hạt cao lanh Sàng phân loại hạt :φ 0.12 mm, φ 0.16 mm,φ 0.25mm,φ 0.315
mm Bình ổn nhiệt
Tủ hút hơi độc Bếp điện Cốc thủy tinh chịu nhiệt 1000ml Nhiệt kế
Pipet 2ml,5ml,10 ml,25ml Buret 25ml
Trang 27Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Chén nung bằng sứ Que khuấy
Bình tam giác Bình cầu 100ml, 250ml, 1000ml
Đũa thủy tinh Bình tia nước cất Giấy lọc
II.1.3.Pha chế dung dịch chuẩn
II.1.3.1.Pha chế dung dịch NaOH
Cân một lượng NaOH vào khoảng 4g, cho vào bình polietylen sau đó
cho chừng 1 lít nước cất vào bình Đậy kín nút
Cân một lượng chính xác 5g muối biphtalat kali KHC8H4O4 (KHP) cho
vào cốc 250ml cho 100ml nước cất vào, đun nóng nhẹ đến tan hết Để nguội,
sau đó chuyển dung dịch vào bình điịnh mức 250ml Pha nước cất đến vạch
mức Căn cứ vào lượng cân tính nồng độ dung dịch
Lấy 20ml dung dịch NaOH cho vào bình nón, cho thêm vài giọt
phenolphtalein vào bình rồi chuẩn độ dung dịch NaOH bằng dung dịch KHP
cho đến hết màu hồng Căn cứ vào thể tích đã lấy và nồng độ dung dịch KHP
tính được nồng độ dung dịch NaOH
NNaOH = ( )
NaOH
KHP V
V N.
II.1.3.2 Pha chế dung dịch Complexon III
Cân 9,3g complexon III cho vào bình mức 1 lít, cho nước vào bình, lắc
đến tan hết chất rắn, pha nước đến vạch mức
Cân chính xác 0,6g muối MgSO4 cho vào bình định mức 200ml Cho
nước vào bình, lắc đến tan hết chất rắn Pha nước đến vạch mức được dung
dịch có nồng độ xác định
Dùng dung dịch MgSO4 để chuẩn độ dung dịch complexon III để có
được dung dịch complexon III có nồng độ chính xác
Trang 28II.2 Phương pháp phân tích
II.2.1 Xác định nồng độ nhôm (Al 3+ ) bằng phương pháp phân tích thể tích
II.2.1.1 Cơ sở phương pháp
Trong môi trường axit yếu việc định phân xác định nhôm bằng EDTA
gặp khó khăn do phức hiđroxo của nhôm tác dụng với EDTA rất chậm.Nên
chuẩn độ nhôm bằng EDTA dùng phép chuẩn độ dư ( phương pháp chuẩn độ
ngược)
Cho một lượng dư EDTA có nồng độ xác định vào dung dịch muối nhôm rồi
đem đun nóng để phản ứng xảy ra hoàn toàn.Sau đó lượng EDTA dư được
chuẩn bằng dung dịch muối ZnCl2 có nồng độ xác định ở PH = 5,2 – 5,5 với
chất chỉ thị màu là xylen da cam Màu của dung dịch chuyển từ vàng sang đỏ
Các phản ứng chính xảy ra :
Al3+ + H2Y2- = AlY- + 2H+
H2Y2- + Zn2+ = ZnY2- + 2H+
Zn2+
(dư) + xylen da cam → phức màu đỏ
II.2.1.2.Các hóa chất và dụng cụ cần dùng
Dung dịch ZnCl2 : 0,005M Dung dịch EDTA : 0,005M Dung dịch đệm axetatnatri CH=3 pH = 5,2 – 5,5 Axit Clohiđric đậm đặc
Dung dịch chỉ thị xylen da cam Pipet 2ml, 5ml và 10ml
Buret 25ml Nước cất
II.2.1.3.Phương pháp tiến hành
Xác định hàm lượng Al 3+ hòa tan trong axit
Trang 29Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Lấy 2ml dung dịch hòa tan cho vào bình định mức 100ml, thêm một
giọt dung dịch axit HCl để chống thủy phân mẫu, sau đó định mức bằng nước
cất và lắc đều.Lấy 5ml sau định mức cho vào bình tam giác, thêm 10ml dung
dịch EDTA 0,005M vào, đem đun nóng đến gần sôi sau đó để nguội ;cho
thêm dung dịch đệm axetatnatri có pH = 5,2 – 5,5 ( tạo môi trường axit yếu),
thêm 1 đến 2 giọt xylen da cam, lắc đều, sau đó chuẩn độ lượng EDTA
0,005M dư bằng dung dịch ZnCl2 0,005M tiêu hao
Công thức tính toán :
CAl3+ =
mẫu xd
dm ZnCl ZnCl EDTA
EDTA
V V
V C V C
V
.
).
(
2 2
−
Hàm lượng Al2O3 hòa tan là
% Al2O3 =
10 2
.
3 2
Al M
C +
(%)
Xác định hàm lượng Al 2 O 3 trong cao lanh
Lấy tất cả dung dịch của 2 lần lọc rửa ( sau khi axit hóa) cho vào bình
định mức 1000ml, sau đó định mức bằng nước cất và lắc đều
Lấy 5ml dung dịch sau định mức cho vào bình tam giác, cho thêm 20ml
dung dịch EDTA 0,05M vào, đun nóng đến gần sôi, để nguội, tiếp tục cho
thêm 20ml dung dịch đệm axetatnatri pH = 5,2 – 5,5 , thêm 1- 2 giọt xylen da
cam lắc đều, sau đó chuẩn độ lượng EDTA 0,05M Khi dung dịch chuyển từ
màu vàng sang màu đỏ thì dừng chuẩn độ, ghi thể tích ZnCl2 0,05M tiêu hao
Công thức tính toán
C Al 3+ =
xd
ZnCl ZnCl EDTA
EDTA
V
C V C
.
3 2
3 ) (Al M Al O
C +
(%) Trong đó
VEDTA:Thể tích dung dịch complexon cho vào(ml)
VZnCl2:Thể tích ZnCl2 tiêu tốn(ml)
Trang 30Vdm: Thể tích bình định mức (ml)
Vxd:Thể tích dung dịch lấy để phân tích (ml)
Vmẫu: Thể tích mẫu lấy(ml)
CEDTA: Nồng độ dung dịch EDTA (M)
Lấy 10ml chất keo tụ sau định mức cho vào bình tam giác rồi cho 1-2 giọt chỉ
thị vào và lắc đều (nếu xác định nồng độ H2SO4 ban đầu dùng chỉ thị metyl
đỏ,nếu xác định nồng độ H2SO4 dư trong dung dịch Al2(SO4)3 dùng chỉ thị
metyl da cam)
Chuẩn độ axit bằng dung dịch NaOH 0.1N Khi dung dịch chuyển từ màu đỏ
sang màu vàng thì dừng chuẩn độ và ghi lại thể tích dung dịch NaOH 0.1N
N
2
1
pipet
V
V 1000 ( mol/l) Trong đó
Trang 31Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
VNaOH là thể tích dung dịch NaoH tiêu tốn (ml)
NNaOH là nồng độ dung dịch NaOH (N)
Vpipet thể tích chất keo tụ đem định mức (ml)
Vckt Thể tích chất keo tụ sau định mức
II.3 Xây dựng thí nghiệm động học
II.3.1 Mô tả thực nghiệm
Nghiên cứu động học của quá trình hòa tan cao lanh trong axit
sunfuric được thực hiện như sau :
Thiết bị thí nghiệm gồm có : Máy điều nhiệt với tác nhân gia nhiệt là nước
(thể tích 15 lít) Mục đích là để giữ cho nhiệt ổn định Quặng cao lanh và axit
được cho vào bình ba cổ Để tăng tốc độ phản ứng ( tăng tốc độ chuyển khối
giữa hai pha) trong bình phản ứng ba cổ có lắp thêm cánh khuấy Trục khuấy
được lắp với động cơ có thể điều chỉnh để thay đổi được tốc độ khuấy.Để đảm
bảo nhiệt độ môi trường ổn định, trong máy điều nhiệt có lắp nhiệt kế tiếp xúc
và rơ le Khi nhiệt độ của nước trong máy điều nhiệt lên cao hoặc xuống thấp
hơn nhiệt độ yêu cầu thì nhờ có rơ le và nhiệt kế tiếp xúc mà nó tự ngắt hoặc
đóng mạch để dòng điện đi vào điện trở Để kiểm tra nhiệt độ phản ứng, có đặt
thêm nhiệt kế thường vào bình phản ứng ba cổ với độ chính xác là 0,10C Máy
điều nhiệt này chỉ dùng tiến hành thí nghiệm ở nhiệt độ nhỏ hơn 1000C
II.3.2 Tiến hành thí nghiệm :
Sau khi nhiệt độ của nước trong máy điều nhiệt đã đạt yêu cầu thì lắp bình
phản ứng ba cổ vào Quặng cao lanh sau khi đem nung ở nhiệt độ 7000C trong
hai giờ Đem sàng để phân loại chọn lấy hạt có kích thước 0,12mm- 0,16mm
và 0,25mm – 0,315mm và đem cân Sau đó lắp cánh khuấy vào cho chạy thử,
khi đã khuấy tốt thì bắt đầu cho axit H2SO4 vào bình Cho cánh khuấy chạy
với tốc độ không đổi Nhìn nhiệt độ ở nhiệt kế đặt trong bình phản ứng đã đạt
nhiệt độ yêu cầu thì cho cao lanh vào và bắt đầu ghi thời gian phản ứng Trong
quá trình tiến hành thí nghiệm ba cổ của bình phản ứng phải dùng nút cao su
Trang 32đậy kín tránh hiện tượng bay hơi làm giảm thể tích dung dịch trong bình Sau
thời gian phản ứng đã qui định dung dịch trong bình phản ứng được đem lọc
Phần bã trên phễu lọc dưới cũng được rửa kĩ bằng nước cất Toàn bộ dung dịch
sau lọc rửa được chuyển vào bình định mức đem phân tích để xác định hàm
lượng Al3+.Trong mỗi thí nghiệm lấy 10g cao lanh đem hòa tan trong 1000ml
axit H2SO4.Thời gian thực hiện một thí nghiệm là 4 giờ.Tiến hành thí nghiệm
với axit H2SO4 nồng độ 15%, 20% và 30%.Với mỗi nồng độ axit thực hiện thí
nghiệm ở các nhiệt độ 650C, 750C, 850C và 950C Để thiết lập được mô hình
toán của quá trình ngoài việc nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, nồng độ,
thời gian còn phải khảo sát sự ảnh hưởng của tốc độ khuấy và kích thước hạt
quặng tới hiệu suất phân hủy Vì vậy qui trình thí nghiệm trên được thực hiện
với các cỡ hạt quặng 0,12 – 0,16mm và 0,25 – 0,315mm ở các tốc độ khuấy là
600v/phút và 800v/phút
Trang 33Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Phần III Tính toán kết quả và thảo luận
Bằng phương pháp chuẩn độ hoá học xác định được hàm lượng Al2O3 trong
cao lanh (Thanh Sơn – Phú Thọ) sau khi nung trong 2 giờ ở nhiệt độ 7000C là
46,4%
Với mẫu cao lanh này chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm để nghiên cứu động
học của quá trình hoà tan cao lanh trong axit sunfuric
Về nguyên tắc có thể sử dụng các kiểu thiết bị khác nhau và nhiều phương
pháp khác nhau để nghiên cứu động học, tuy nhiên phải đảm bảo được sự ổn
định của điều kiện thí nghiệm Kết quả đo được phải diễn biến theo một qui
luật đã chọn, dễ dàng sử lý và thiết lập phương trình động học Để thỏa mãn
các yêu cầu đó chúng tôi đã chọn điều kiện thí nghiệm như sau:
- Thiết bị kiểu khuấy lý tưởng, làm việc gián đoạn Loại này làm đồng
nhất các thông số trạng thái do đó vận tốc phản ứng cũng không phụ
thuộc vào không gian và có thể xác định từ giá trị nồng độ đo được
- Kích thước hạt nguyên liệu nhỏ đồng đều( trong khoảng từ 0.12 -
Trang 34III.1 Nghiên cứu đánh giá sự ảnh hưởng của một số yếu tố tới cơ chế phản ứng
III.1.1 Xác định hiệu suất chuyển hóa Al 2 O 3
Từ thực nghiệm xác định được hiệu suất chuyển hóa của Al2O3 ở các nhiệt độ
phản ứng và nồng độ axit khác nhau (Bảng4-kết quả tính toán)
III.1.2 ảnh hưởng của nồng độ axit sunfuric
Quá trình hoà tan cao lanh trong axit sunfuric không những muốn đạt
được hiệu quả chuyển hoá cao mà chúng tôi còn phải nghĩ đến quá trình chế
biến dung dịch này sau này và nồng độ axit có thể dễ dàng trong công nghiệp
Từ đồ thị thực nghiệm thấy rằng khi tăng nồng độ axit cũng dẫn tới sự tăng
cuả mức độ hoà tan cao lanh Sở dĩ như vậy vì khi tăng nồng độ axit lên thì
dẫn đến tăng hoạt động của các ion hydro, và tăng sự tăng hoạt động ở mức
lớn hơn so với tăng độ nhớt của dung dịch nên tốc độ chuyển hoá tăng
nhiệt độ phản ứng 95oC
0 20 40 60 80 100
Hình1: Sự phụ thuộc của hiệu suất chuyển hóa vào nồng độ axit
Trang 35Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Nhưng nếu cứ tiếp tục tăng nồng độ của axit cao nữa thì tốc độ chuyển hoá sẽ
giảm do việc kìm hãm quá trình bởi sự tăng độ nhớt của dung dịch vượt quá sự
tăng nhanh quá trình do ảnh hưởng của quá trình tăng hoạt độ ion H+ Việc
tăng độ nhớt của dung dịch làm cho việc khuếch tán chất hòa tan vào thể tích
dung môi và dịch chuyển ion H+ đến bề mặt rắn khó khăn hơn Điều này
chứng tỏ, khi nồng độ axit thấp tốc độ phản ứng hóa học trong toàn khối dung
dịch sẽ thấp và kiểm soát toàn bộ quá trình Khi tăng nồng độ chất phản ứng
tốc độ của phản ứng hóa học sẽ tăng và bước chậm nhất là bước khuếch tán
của các ion hidrat hóa từ mặt phân cách tới toàn bộ khối dung dịch qua lớp
biên Có nghĩa là khi nồng độ axit thấp quá trình có thể nằm ở miền động học,
khi nồng độ axit cao phản ứng nằm ở miền khuếch tán.Vì thế trên đồ thị tốc
độ phản ứng không tỷ lệ tuyến tính vói nồng độ chất phản ứng
III.1.3 ảnh hưởng của nhiệt độ
thời gian phản ứng 1 giờ
020406080100
Hình 2: Sự phụ thuộc của hiệu suất chuyển hóa Al2O3 vào nhiệt độ ứng
với axit H2SO4 1.68 M, 2.325M, 3.73M tại thời gian phản ứng là 1 giờ
Chúng tôi đã xem xét ảnh hưởng của yếu tố nhiệt độ thực hiện phản ứng đến
hiệu suất chuyển hoá cao lanh, kết quả được trình bày ở đồ thị đã chỉ ra rằng
Trang 36khi tăng nhiệt độ thì hiệu suất chuyển hoá tăng Như đã biết quá trình hoà tan
cao lanh trong axit sunfuric thường tiến hành ở nhiệt độ không cao lắm, vì ở
nhiệt độ cao axit bị bay hơi mạnh, song ở nhiệt độ cao thì độ nhớt của dung
dịch giảm, tốc độ phản ứng lớn Nhưng bên cạnh đó thì sự tiêu hao năng lượng
lớn, axit bay hơi nhiều, ăn mòn thiết bị nhanh Do vậy, trong thực tế sản xuất
nếu phản ứng thực hiện ở nhiệt độ quá cao sẽ kéo theo sự đòi hỏi nghiêm ngặt
về thiết bị phản ứng, có nghĩa là sự đầu tư về thiết bị phản ứng sẽ tốn kém hơn
Vì vậy, khi nghiên cứu phản ứng trong môi trường axit cố gắng tiến hành ở
nhiệt độ thích hợp nhất Cũng từ kết quả thực nghiệm, thấy rằng ở mức nhiệt
độ thấp (65 → 750C) khi tăng nhiệt độ thì hiệu suất chuyển hoá tăng nhưng
chậm Khi tăng nhiệt độ lên đến khoảng 85 → 950C thì hiệu suất phân huỷ
tăng nhanh hơn Điều này được giải thích: khi nâng nhiệt độ dẫn đến giảm
nhanh chóng nồng độ H+ do hạ thấp sự phân ly của axit, khi ấy tốc độ phản
ứng giữa các ion hydro với quặng sẽ tăng lên ở mức độ nhỏ hơn so với việc
giảm nồng độ H+ trong dung dịch vì vậy hiệu suất chuyển hoá tăng lên.Vì vậy,
có thể nói quá trình hoà tan cao lanh trong axit không phải chỉ có yếu tố
khuyếch tán ảnh hưởng mà cả yếu tố động học cũng ảnh hưởng nhưng ở mức
độ nhỏ hơn
III.1.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của tốc độ khuấy
Tiến hành thí nghiệm ở hai tốc độ khuấy khác nhau (600 v/phút) và 800
vòng/phút Thấy rằng khi tăng tốc khuấy thì hiệu suất phân huỷ tăng lên Điều
này được giải thích như sau: Do phản ứng hoà tan cao lanh trong axit là phản
ứng dị thể, sản phẩm tạo thành tạo nên lớp dung dịch bão hoà trên bề mặt hạt
quặng Vì vậy, do tác dụng của khuấy trộn mà phá vỡ màng đó trên bề mặt hạt
cao lanh, làm giảm chiều dày khuyếch tán vào bề mặt cao lanh làm cho hiệu
suất phân huỷ tăng lên
Tuy nhiên, tốc độ khuấy tăng làm cho hiệu suất phân huỷ tăng lên nhưng tăng
không đáng kể, khi tốc độ khuấyđã đủ để phá vỡ màng tạo thành khi hoà tan
thì lúc đó ảnh hưởng của tốc độ khuấy không rõ rệt tức là Vì vậy, ở đây tốc
Trang 37Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
độ khuấy là 600 vòng/ phút là đảm bảo cho khả năng khuyếch tán tốt khi phân
huỷ và phản ứng được khống chế trong miền động học
III.1.4 ảnh hưởng của thời gian thực hiện phản ứng
Quá trình hoà tan cao lanh trong axit là quá trình dị thể, nên tốc độ
phản ứng hoà tan phụ thuộc rất nhiều vào thời gian tiếp xúc giữa hai pha
Thời gian tiếp xúc tốt càng dễ đạt được giá trị cân bằng nghĩa là phân bố nồng
độ các chất ở hai pha đạt giá trị cân bằng Các phản ứng hoá học càng gần
trạng thái cân bằng tốc độ phản ứng càng chậm, do đó các quá trình hoá học
trong công nghiệp chỉ có thể tới giá trị gần cân bằng Vì vậy, chọn thời gian
phân huỷ không dài lắm mà hiệu suất phân huỷ cũng tương đối cao, đó là thời
gian tối ưu
0 20 40 60 80 100
l ( 2SO4
Kết quả thực nghiệm cho thấy hiệu suất phân huỷ tăng theo thời gian nhưng
không tăng tỷ lệ thuận với thời gian ở giai đoạn đầu hiệu suất tăng theo thời
Trang 38gian nhanh vì khi đó phản ứng còn xa trạng thái cân bằng Về sau, khi gần
trạng thái cân bằng thì tuỳ theo mức độ tích tụ các muối trong dung dịch, và
mức độ tiêu hao axit sunfuric khi hoà tan mà hoạt động và tốc độ của quá
trình phân huỷ giảm, nên hiệu suất chuyển hoá tăng không đáng kể Như vậy,
phản ứng càng về sau càng chậm chưa thể đạt tới giá trị cân bằng cho nên nếu
chỉ tăng thời gian không đạt được mục đích tăng hiệu suất phân huỷ
Trên đồ thị hình 3 cho thấy sự phụ thuộc của hiệu suất chuyển hóa vào
thời gian của axit H2SO4 1.68M và H2SO4 2.325M là gần như nhau, chứng tỏ
cơ chế của phản ứng không bị ảnh hưởng bởi thời gian phản ứng
III.2.5 ảnh hưởng hình dạng và kích thước hạt rắn
Phần này chúng tôi tập trung nghiên cứu vào các đặc điểm thực tế như các loại
kích thước, hình dạng của hạt cao lanh nguyên liệu trong hệ thực nghiệm
Trang 39
Động học quá trình hòa tan cao lanh hoạt tính trong axit sunfuric
Nguyên liệu cao lanh trong hệ khảo sát gồm các hạt có kích thước
d = 0.12- 0.16 mm và d = 0.25 - 0.315 mm, kết quả thu được như sau
bảng3 Kết quả khảo sát năng lượng hoạt hóa của phản ứng hòa tan cao
lanh trong axit H 2 SO 4 30% (3.73M) ở các nhiệt độ khác nhau
Khi thay đổi kích thước hạt rắn thì hằng số tốc độ phản ứng cũng thay
đổi Khi đường kính hạt giảm hằng số tốc độ tăng nhưng không đáng kể, năng
lượng hoạt hóa của phản ứng hòa tan đối với hai cỡ hạt khác nhau trong cùng
một nồng độ axit 3.73 M là gần bằng nhau Điều này chứng tỏ cơ chế phản
Trang 40Mô hình động học của phản ứng là phương trình xác định mối liên hệ
giữa tốc độ phản ứng với nồng độ các chất tham gia phản ứng trong điều kiện
các thông số khác (không phải nồng độ) không thay đổi tại thời điểm xác định
tốc độ phản ứng.Các thông số trong phương trình động học là mô tả một đối
tương cụ thể, do đó chúng tôi đã xác định và chọn phương án nghiên cứu phù
hợp để có thể lựâ chọn được mô hình chính xác
Từ kết quả thực nghiệm thấy rằng:
tốc độ phản ứng hòa tan (lỏng-rắn) chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
Ngoài yếu tố nồng độ tốc độ phản ứng còn phụ thuộc vào cơ chế phản ứng,
điều kiện nhiệt độ thực hiện quá trình
r = f(T,C,E ) (III-1)
Sự ảnh hưởng của các yếu tố ngoài nồng độ đến tốc độ phản ứng được thể hiện
qua hằng số tốc độ K nên
r=k f(C) (III-2)
ở phương trình (III-2) tốc độ phản ứng là hàm của nhiều biến số nồng độ của
các cấu tử (lỏng- rắn) có mặt trong phương trình động học tại thời điểm xác
định tốc độ phản ứng
Như đã biết tại một nhiệt độ không đổi tốc độ phản ứng tỷ lệ với nồng độ các
chất tham gia phản ứng có lũy thừa bằng bậc của phản ứng theo các chất
tương ứng
r = k CA a CBb (III-3) a,b là bậc của phản ứng theo từng cấu tử A và B
và bậc của phản ứng n = ∑a, b
tuy nhiên khi tính toán thường chuyển quan hệ theo phương trình (III-3) ở
dạng hàm của một biến số hiệu suất chuyển hóa theo một cấu tử
r = k f(x) (III-4) Với x là hiệu suất chuyển hóa tính theo một cấu tử trong phản ứng