1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ hiệu quả của kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học đối với công tác hỗ trợ việc học tập

95 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC TRỊNH THỊ NHUNG HIỆU QUẢ CỦA KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC HỖ TRỢ VIỆC HỌC TẬP CỦA NGƯỜI HỌC TẠI MỘT SỐ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ NHUNG

HIỆU QUẢ CỦA KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC HỖ TRỢ VIỆC HỌC TẬP CỦA NGƯỜI HỌC TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH GIÁO DỤC HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ NHUNG

HIỆU QUẢ CỦA KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỐI VỚI CÔNG TÁC HỖ TRỢ VIỆC HỌC TẬP CỦA NGƯỜI HỌC TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH GIÁO DỤC HỌC CHUYÊN NGÀNH: ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRONG GIÁO DỤC

Mã số: 8140115

Người hướng dẫn khoa học: TS Tô Thị Thu Hương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Hiệu quả của kiểm định chất

lượng giáo dục trường đại học đối với công tác hỗ trợ việc học tập của người học tại một số trường đại học của Việt Nam” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu

của chính bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Các kết quả, số liệu trình bày trong luận văn

là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của các số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình

Tác giả luận văn

Trịnh Thị Nhung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Tô Thị Thu Hương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Đo lường và đánh giá, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và quan tâm giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô, anh chị em đồng nghiệp của Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, các bạn học viên cùng khóa đã luôn tạo điều kiện động viên, khuyến khích, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tác giả luận văn

Trịnh Thị Nhung

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Giới hạn nghiên cứu 3

4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 3

4.1 Câu hỏi nghiên cứu 3

4.2 Giả thuyết nghiên cứu 4

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Phạm vi, thời gian nghiên cứu 5

8 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 1 6

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 6

1.1.Tổng quan 6

1.1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề 6

1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của KĐCLGD 12

1.2 Cơ sở lý luận 15

1.2.1 Chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục 15

1.2.2 Người học và hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học 22

1.2.3 Hiệu quả và hiệu quả của KĐCLGD đối với công tác hỗ trợ việc học tập của người học 26

Trang 6

1.3 Mô hình ĐBCL của mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á về

hoạt động hỗ trợ người học 26

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu 27

1.5 Kết luận chương 1 28

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 29

2.1 Thiết kế nghiên cứu 29

2.1.1 Xác định mục đích và yêu cầu 29

2.1.2 Xây dựng quy trình tổ chức nghiên cứu 29

2.2 Tổ chức thực hiện 30

2.2.1 Địa bàn nghiên cứu 30

2.2.2 Thao tác hóa khái niệm và xây dựng tiêu chí đánh giá 37

2.2.3 Chọn mẫu điều tra khảo sát 38

2.2.4 Xây dựng công cụ khảo sát 38

2.2.4.1 Công cụ nghiên cứu định tính 38

2.2.4.2 Công cụ nghiên cứu định lượng 39

2.2.4.3 Dự thảo công cụ khảo sát và thử nghiệm 39

2.2.4.4 Kết quả thử nghiệm công cụ khảo sát 41

2.2.5 Thu thập thông tin 43

2.2.6 Phương pháp phân tích và xử lý thông tin 44

2.3 Kết luận chương 2 45

CHƯƠNG 3 HIỆU QUẢ CỦA KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẾN CÔNG TÁC HỖ TRỢ VIỆC HỌC TẬP CỦA NGƯỜI HỌC 46

3.1 Tóm tắt kết quả KĐCLGD về công tác hỗ trợ người học 46

3.2 Đánh giá chung về sự cải tiến công tác hỗ trợ việc học tập của người học 52

3.3 Hiệu quả của kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học đến công tác hỗ trợ học tập và nghiên cứu khoa học 54

3.5 Hiệu quả của KĐCL GDĐH đến hoạt động hỗ trợ khác 59

Trang 7

3.6 Mức độ cải tiến theo vùng miền 61

3.7 Mức độ cải tiến theo từng trường về hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học 62

3.8 Kết luận chương 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 75

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Quy trình tổ chức nghiên cứu 29

Bảng 2.2 Tổng hợp điểm mạnh và các khuyến nghị về công tác hỗ trợ việc học tập của người học tại 6 trường ĐH được nghiên cứu 33

Bảng 2.3 Mô tả thông tin chính của phiếu khảo sát 42

Bảng 2.4 Thống kê số lượng phiếu khảo sát 43

Bảng 2.5 Số lượng các đối tượng tham gia phỏng vấn 44

Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả tự đánh giá và đánh giá ngoài của các trường được nghiên cứu 47

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả đánh giá ngoài của các trường được công nhận chất lượng giáo dục đến tháng 10/2017 48

Bảng 3.3: Thống kê điểm trung bình của từng tiêu chí đánh giá ở 6 trường được khảo sát 62

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mô hình ĐBCL của AUN-QA về hoạt động hỗ trợ người học 27Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 28Hình 2.1 Sự phù hợp cấu trúc của các câu hỏi 42Hình 3.1 Bảng đánh giá chung về mức độ cải tiến của các trường tham gia đánh giá ngoài 52Hình 3.2 Bảng đánh giá hiệu quả của KĐCL GDĐH đến kết quả học tập và NCKH 54Hình 3.3 Bảng đánh giá hiệu quả của KĐCL GDĐH đến hỗ trợ CSVC, học liệu và trang thiết bị phục vụ học tập cho người học 57Hình 3.4 Bảng đánh giá hiệu quả của KĐCL GDĐH đến hoạt động hỗ trợ khác 59Hình 3.5 Điểm trung bình đánh giá mức độ cải tiến của các trường tại ba miền 61Hình 3.6 Điểm trung bình đánh giá mức độ cải tiến của từng trường sau khi được KĐCLGD 62

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo luôn là vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà nước

ta quan tâm Chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng không chỉ là mối quan tâm của các cơ quan quản lý giáo dục mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục luôn

là vấn đề được đặt lên hàng đầu của tất cả các CSGD đại học (sau đây gọi chung là CSGD), điều này đòi hỏi các CSGD luôn phải phấn đấu để cải thiện chất lượng giáo dục nhằm nâng cao uy tín và trách nhiệm của mình trước xã hội Đồng thời, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng có nhiều biện pháp để quản lý chất lượng giáo dục, một trong những biện pháp quản lý chất lượng giáo dục được sử dụng đó là KĐCLGD

Ở Việt Nam, ĐBCL và KĐCLGD được xem như một công cụ quan trọng để quản lý và cải tiến chất lượng trong bối cảnh giáo dục hiện nay KĐCLGD là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam, tuy nhiên, tầm quan trọng của KĐCLGD trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đã được xác định và được thể hiện rõ trong Chương 7 của Luật Giáo dục đại học năm 2012

cụ thể trong Điều 49, mục 1 quy định về mục tiêu của KĐCL GDĐH là i Bảo đảm và nâng cao chất lượng GDĐH; ii Xác nhận mức độ CSGD đại học hoặc CTĐT đáp ứng mục tiêu giáo dục đại học trong từng giai đoạn nhất định; iii Làm căn cứ để CSGD đại học giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng đào tạo; iv Làm cơ sở cho người học lựa chọn CSGD đại học, CTĐT và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực Nghị quyết 29-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

và Nghị quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình hành động của Chỉnh phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW Gần đây nhất Nghị định 73/2015/NĐ-CP của Chính phủ ra đời đã quy định một trong những điều kiện

để CSGD đại học được công nhận phân tầng là “đã được kiểm định chất

Trang 12

lượng đạt yêu cầu và còn giá trị hiệu lực”, và trong Thông tư số 24/2015/TTBGDĐT quy định chuẩn quốc gia đối với CSGD đại học, thì KĐCLGD là một trong 7 tiêu chuẩn để một CSGD đại học đạt chuẩn quốc gia Điều này một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động KĐCLGD

Hoạt động của một CSGD liên quan đến nhiều đối tượng như các nhà quản lý giáo dục, giảng viên, nhân viên, người học, nhà tuyển dụng, phụ huynh, v.v Trong số đó, người học là một trong các đối tượng chính tham gia vào các hoạt động giáo dục của CSGD và cũng là đối tượng thụ hưởng chính của các hoạt động này Việc duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng CSGD sẽ liên quan trực tiếp đến người học

Theo văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT ngày 04/3/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, bộ tiêu chuẩn gồm 10 tiêu chuẩn với 61 tiêu chí, trong đó tiêu chuẩn 6 là tiêu chuẩn “người học” gồm 9 tiêu chí là một trong những tiêu chuẩn có số lượng tiêu chí lớn nhất, cho thấy người học là một tiêu chí quan trọng quyết định đến việc công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục của trường đại học

Đến tháng 10 năm 2017 trong hơn 200 trường đại học trên cả nước đã

có 71 trường đại học đã được KĐCLGD bởi các Trung tâm KĐCLGD, trong

đó có 46 trường đã được công nhận đạt chất lượng giáo dục Từ thực tế cho thấy các trường đã được KĐCLGD đã có những cải tiến chất lượng đối với từng hoạt động của trường ngay trong quá trình tự đánh giá Điều đó cho thấy việc tự đánh giá, ĐGN trong KĐCLGD đã có những tác động đối với các hoạt động của CSGD, trong số đó có các hoạt động hỗ trợ người học

Đã có nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế về ảnh hưởng của KĐCLGD đến các hoạt động của CSGD, các nghiên cứu tập trung nhiều vào những ảnh hưởng của KĐCLGD đại học đến giảng dạy, học tập và nghiên cứu, tuy nhiên chưa có nghiên cứu đề cập sâu đến việc KĐCLGD trường đại

Trang 13

học có hiệu quả như thế nào đối với hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học

Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hiệu quả của kiểm

định chất lượng giáo dục trường đại học đối với công tác hỗ trợ việc học tập của người học tại một số trường đại học của Việt Nam” để thực hiện nghiên

cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào hệ thống lý luận về hiệu quả của KĐCLGD CSGD đến chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung và đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học nói riêng, là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này, đồng thời giúp các nhà lãnh đạo, quản lý CSGD có thêm thông tin

để xây dựng các chính sách, chế độ để hỗ trợ người học và nâng cao chất lượng đào tạo trong đơn vị mình

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đánh giá hiệu quả của KĐCLGD trường đại học đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học tại một số trường đại học của Việt Nam

3 Giới hạn nghiên cứu

Đề tài này chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu hiệu quả của hoạt động KĐCLGD trường đại học đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học

Nghiên cứu này được tiến hành tại một số trường đại học đã được KĐCLGD và công nhận đạt chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học của Bộ GD&ĐT trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 11 năm 2016, cụ thể gồm 6 trường đại học trên cả nước (mỗi Miền lựa chọn 2 trường)

4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Với mục đích nghiên cứu như đã xác định ở trên, nội dung nghiên cứu

sẽ hướng tới trả lời được các câu hỏi sau đây:

Trang 14

1) Công tác hỗ trợ việc học tập của người học đã được đánh giá như thế nào qua kết quả KĐCLGD đối với 6 trường đại học?

2) Trường đại học đã có những cải tiến chất lượng như thế nào đối với công tác hỗ trợ việc học tập của người học sau quá trình KĐCLGD?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học đã tạo ra hiệu quả tích cực đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học Kết quả KĐCLGD đã tạo động lực để trường đại học cải thiện chất lượng công tác hỗ trợ học tập cho người học

5 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ phụ trách công tác học sinh SV, phụ trách công tác ĐBCL, các GV và người học đại học hệ chính qui đang học tập tại 6 trường đại học ở Việt Nam đã được KĐCLGD và công nhận đạt chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học của Bộ GD&ĐT từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 11 năm 2016

- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả của kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học tại một số trường đại học của Việt Nam

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu định tính

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dựa trên các tài liệu, các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới tiến hành phân tích, tổng hợp các nội dung có liên quan đến KĐCLGD và công tác hỗ trợ việc học tập của người học

- Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc lấy ý kiến của cán bộ phụ trách công tác học sinh SV, cán bộ phụ trách công tác ĐBCL, các GV và SV đang học tập tại 6 trường đại học đã được KĐCLGD và công nhận đạt chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học của Bộ GD&ĐT từ

Trang 15

tháng 10 năm 2015 đến tháng 11 năm 2016 về hiệu quả của hoạt động KĐCLGD trường đại học đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về hiệu quả của hoạt động KĐCLGD trường đại học đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học

6.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng

- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu khảo sát để thu thập thông tin từ người học ở 06 trường đại học đã được đánh giá CLGD Công cụ được thiết kế theo 05 bước (xác định mục đích; thao tác hóa khái niệm; xây dựng tiêu chí đánh giá, lấy ý kiến chuyên gia; thử nghiệm công cụ đánh giá và phân tích công cụ; lấy ý kiến chuyên gia và hoàn thiện công cụ) Công cụ đánh giá được thử nghiệm và phân tích sử dụng phần mềm SPSS và phần mềm QUEST để kiểm tra độ tin cậy và độ giá trị của công cụ trước khi khảo sát chính thức Những thông tin thu được từ phiếu phản hồi chính thức

sẽ được xử lý, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu để đánh giá hiệu quả của KĐCLGD đại học tới công tác hỗ trợ việc học tập của người học

7 Phạm vi, thời gian nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện tại 6 trường đại học đã được KĐCLGD và công nhận đạt chuẩn chất lượng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường đại học của Bộ GD&ĐT từ tháng 10 năm 2015 đến tháng

11 năm 2016

- Thời gian triển khai nghiên cứu: Nghiên cứu thực hiện trong 11 tháng (từ tháng 12/2016 đến 11/2017)

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn được cấu trúc gồm 3 chương: Chương 1 - Cơ sở lý luận và tổng quan; Chương 2 - Phương pháp và tổ chức nghiên cứu và Chương 3 - Kết quả nghiên cứu

Trang 16

Các tổ chức KĐCLGD của các nước trên thế giới khá đa dạng về mặt

sở hữu của Nhà nước, của các hiệp hội hay các tổ chức, cá nhân khác Về đối tượng kiểm định chất lượng bao gồm kiểm định chất lượng cấp trường, cấp chương trình đào tạo Các tổ chức KĐCLGD có thể độc lập hoàn toàn hoặc phụ thuộc vào Nhà nước Các tổ chức KĐCLGD độc lập trong việc đưa ra các quyết định chuyên môn nhưng vẫn nhận kinh phí của Nhà nước hay phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước Ở Hoa Kỳ, tất cả các tổ chức KĐCLGD đều không thuộc Nhà nước, còn hầu hết các tổ chức KĐCLGD của các nước khác đi vào hoạt động trong 20 năm gần đây đều do Nhà nước thành lập (Thái Lan, Mông

Cổ, Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia), nhưng sau đó trở thành các tổ chức kiểm định độc lập (Australia, Ấn Độ, Malaysia, Indonesia,…), nhưng vẫn được nhận kinh phí hỗ trợ của Nhà nước (Australia, Ấn Độ, Indonesia) Hoa Kỳ có 6 tổ chức kiểm định vùng, nhưng hầu như các nước khác, nhất là các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, có xu hướng chỉ có một

tổ chức quốc gia KĐCLGD (ví dụ : Thái Lan, Indonesia, Căm-pu-chia) Một

số nước khác như Nhật Bản, Phillippines, Malaysia có 2 tổ chức KĐCLGD, một trong số đó đã được thành lập khá nhiều năm trước Nhưng gần đây, Malaysia đã sáp nhập hai tổ chức lại thành một tổ chức mới Một số nước có những tổ chức kiểm định của các hiệp hội, tổ chức chuyên môn hoạt động bên

Trang 17

cạnh các tổ chức quốc gia KĐCLGD nhưng với quy mô nhỏ (ví dụ : Thái Lan)

Mặc dù có những sự khác biệt giữa các hệ thống nhưng các xu thế chung đang được hình thành và có thể thể hiện ở ba mô hình tổ chức hệ thống quốc gia KĐCLGD như sau:

Mô hình thứ nhất bao gồm một số tổ chức KĐCLGD độc lập với nhau,

có nhiệm vụ triển khai các hoạt động ĐGN và có thẩm quyền công nhận các CSGD và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Mô hình này cần có một tổ chức mang tính hiệp hội để liên kết và để đại diện cho các

tổ chức KĐCLGD, qua đó, tạo diễn đàn để các tổ chức này có thể trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau Tuy nhiên, theo mô hình này, mỗi liên

hệ giữa các tổ chức KĐCLGD khá lỏng lẻo, Nhà nước khó quản lý Ngoài Hoa Kỳ và Canada, ít nước trên thế giới áp dụng mô hình này

Mô hình thứ hai, mô hình tập trung cho mỗi hoặc một vài cấp học, ví dụ: tổ chức kiểm định chất lượng GDĐH - TCCN, tổ chức KĐCLGD phổ thông, Phần lớn các nước sử dụng mô hình này Hầu hết các nước đều có tổ chức kiểm định chất lượng GDĐH Tổ chức KĐCLGD của Hiệp hội New England, Hoa Kỳ là một ví dụ về tổ chức KĐCLGD chịu trách nhiệm kiểm định các trường đại học, cao đẳng, trung cấp kỹ thuật, phổ thông,…

Mô hình thứ ba, mô hình tập trung cho tất cả các cấp học, ví dụ: tổ chức đánh giá và kiểm định chất lượng các trường mầm non, phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học với sự hỗ trợ của hệ thống các đơn vị ĐGN Văn phòng chuẩn quốc gia đánh giá chất lượng giáo dục (ONESQA) của Thái Lan là một ví dụ điển hình cho mô hình này Tuy nhiên, bên cạnh ONESQA, vẫn còn có các tổ chức kiểm định nghề nghiệp cùng hoạt động với các tôn chỉ, mục đích cụ thể là kiểm định các chương trình giáo dục nghề nghiệp

Mô hình tổ chức của các tổ chức kiểm định cũng khá khác nhau Hầu hết có tên gọi là tổ chức KĐCLGD (Accreditation agency), nhưng thực chất

là một công ty, một số nơi còn gọi là trung tâm Các tổ chức KĐCLGD đều có

Trang 18

hội đồng KĐCLGD để phê duyệt các kế hoạch đánh giá và KĐCLGD, phê chuẩn thành phần các đoàn ĐGN, quyết định công nhận hoặc không công nhận các CSGD và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Các tổ chức KĐCLGD có giám đốc điều hành cùng bộ máy giúp việc để trực tiếp triển khai các hoạt động đánh giá và điều hành hoạt động chuyên môn hằng ngày của tổ chức KĐCLGD, đồng thời có đội ngũ chuyên gia đánh giá

cơ hữu phối hợp với một hệ thống cộng tác viên để triển khai các hoạt động ĐGN

Hoạt động KĐCLGD của các nước khá khác nhau Một số nước chỉ kiểm định trường, một số nước khác chỉ kiểm định chương trình, nhưng cũng

có những nước đồng thời sử dụng cả kiểm định trường và kiểm định chương trình Hoạt động của các tổ chức KĐCLGD cũng tương tự Đặc biệt, có tổ chức KĐCLGD không trực tiếp kiểm định các CSGD mà chỉ đi kiểm định các

tổ chức KĐCLGD khác (ví dụ: Hội đồng kiểm định GDĐH - CHEA, Hoa Kỳ)

và cấp phép hoạt động cho các tổ chức KĐCLGD khác (ví dụ : Bộ Giáo dục Hoa Kỳ - US Department of Education hay Hội đồng KĐCLGD của Đức) [23]

Hệ thống Kiểm định chất lƣợng giáo dục tại Việt Nam

Kiểm định chất lượng giáo dục là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam Có thể nói, ở cấp hệ thống, nó được bắt đầu từ khi Phòng kiểm định chất lượng Đào tạo trong vụ Đại học, Bộ GD&ĐT được thành lập từ tháng 01/2002, sau đó được mở rộng cho các cấp học và trình độ đào tạo khác kể từ năm 2003, sau khi Cục Khảo thí và KĐCLGD được thành lập Kiểm định chất lượng được đẩy mạnh từ tháng 12/2004 khi Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học được ban hành và được tiếp tục củng cố và phát triển gắn với việc ban hành các quy trình và các tiêu chuẩn kiểm định khác Tuy nhiên, sự hiểu biết của cán bộ quản lý, GV nói riêng và của xã hội nói chung về kiểm định còn rất hạn chế; nhiều người đang hiểu về vấn đề này theo nhiều cách khác nhau

Trang 19

Hiện nay, Bộ GD&ĐT đang triển khai KĐCLGD theo mô hình được nhiều nước trên thế giới sử dụng, đặc biệt là mô hình kiểm định của Hoa Kỳ:

đó là quá trình đánh giá bởi một tổ chức không thuộc các CSGD để công nhận các CSGD và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng

Mô hình ĐBCL giáo dục ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động này Trước hết, nó chịu ảnh hưởng của mô hình ĐBCL của Hoa Kỳ và các nước Bắc Mỹ; chịu ảnh hưởng của các mô hình ĐBCL của các nước Châu Âu là những nước đi trước Việt Nam trong khá nhiều năm để triển khai xây dựng mô hình ĐBCL giáo dục; đặc biệt chịu ảnh hưởng của các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do có nhiều nét tương đồng trong văn hóa nên dễ chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn Những ảnh hưởng của các nước khác đến mô hình ĐBCL của Việt nam chủ yếu thông qua sự hỗ trợ hợp tác song phương và sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là Ngân hành thế giới Mạng lưới chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương (APQN), SEAMEO và của một số nước như Hoa

Kỳ, Australia, Hà Lan

Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình ĐBCL và KĐCLGD trên thế giới, mô hình ĐBCL giáo dục ở Việt Nam đang từng bước được hình thành, phù hợp với mô hình ĐBCL của nhiều nước trên thế giới, nhất là mô hình của Châu Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, AUN, những mô hình được tiếp tục phát triển trên mô hình chung của Châu Âu Tại Việt Nam, mô hình ĐBCL giáo dục của có 3 cấu phần sau:

- Hệ thống ĐBCL bên trong của nhà trường

- Hệ thống ĐBCL bên ngoài nhà trường (hệ thống ĐGN bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá)

- Hệ thống các tổ chức ĐBCL (các tổ chức ĐGN và các tổ chức kiểm định độc lập) [24]

Đảm bảo chất lượng bên trong là việc huy động toàn bộ nguồn lực

(nhân sự, tài chính, thông tin ) cho việc xây dựng, duy trì và cải tiến chất

Trang 20

lượng không ngừng theo các mục tiêu và tiêu chuẩn đề ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của cơ sở giáo dục, đặc biệt trong 3 lĩnh vực chính là đào tạo, nghiên cứu và các dịch vụ cho cộng đồng

Đảm bảo chất lượng bên ngoài do các đơn vị bên ngoài trường đại học

tiến hành để xác định xem cơ sở giáo dục có đạt được các mục tiêu, tiêu chuẩn và tiêu chí đề ra hay không và quan trọng hơn nữa là đưa ra các khuyến cáo để cải tiến chất lượng cho các giai đoạn tiếp theo Khi nói đến ĐBCL bên ngoài, người ta hay nói đến kiểm định CLGD, thường do một đơn vị độc lập tiến hành để đánh giá một trường ĐH hoặc một chương trình đào tạo khi cơ

sở giáo dục hoặc chương trình này đã đạt được chất lượng tương đối cao

ĐBCL bên trong và bên ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trên nhiều khía cạnh:

- Khi triển khai hệ thống ĐBCL bên trong, trường đại học hoặc một chương trình đào tạo phải xác định các mục tiêu và tiêu chuẩn rõ ràng Bộ tiêu chuẩn này có thể theo quy định của Bộ GD&ĐT hoặc tiêu chuẩn của AUN hoặc một bộ tiêu chuẩn khác được Bộ GD&ĐT công nhận Khi đơn vị ĐBCL bên ngoài tiến hành đánh giá, đơn vị này sẽ dựa và bộ tiêu chuẩn mà trường đại học đã lựa chọn để xác định xem cơ sở giáo dục đã đạt được các mục tiêu

và tiêu chuẩn đề ra hay chưa

- ĐBCL bên ngoài hay đánh giá ngoài chỉ có thể tiến hành được khi cơ

sở giáo dục đã có hệ thống ĐBCL bên trong, đã tiến hành tự đánh giá và có báo cáo tự đánh giá đi kèm các minh chứng cụ thể Dựa vào đó, đơn vị kiểm định CLGD sẽ triển khai các hoạt động khảo sát với nhiều công cụ khác nhau như nghiên cứu tài liệu, phỏng vấn, quan sát để có thể đưa ra một bản báo cáo đánh giá ngoài khách quan, trung thực về các tiêu chuẩn đã đạt/không đạt, điểm yếu và điểm mạnh và các đề nghị cải tiến chất lượng cho cơ sở GD

- ĐBCL bên trong và bên ngoài đều có tác động tích cực tới các hoạt động cải tiến chất lượng của nhà trường nếu sau khi đánh giá trong và ngoài, lãnh đạo trường có quyết tâm cao, có kế hoạch cụ thể để khắc phục từng điểm

Trang 21

yếu, đầu tư nguồn lực để thực hiện kế hoạch này một cách triệt để và coi cải tiến chất lượng là một hành trình không dừng trong đó mỗi điểm đến tạm thời

sẽ là bàn đạp đi tới điểm cao hơn

- Nếu ĐBCL bên trong là nhu cầu nội tại, xuất phát từ nguyện vọng cải tiến chất lượng liên tục của cơ sở giáo dục thì đánh giá ngoài hay kiểm định là yếu tố kích thích, tác động từ bên ngoài tới cơ sở GD theo nhiều nghĩa: công

bố chất lượng với các bên liên quan như nhà nước, sinh viên, phụ huynh, người sử dụng lao động, được xếp hạng đạt chuẩn cơ sở GDĐH quốc gia, đủ các điều kiện để hội nhập với GD khu vực

Hệ thống các tổ chức ĐBCL: Bộ GD&ĐT đã xây dựng và phê duyệt

đề án xây dựng và phát triển hệ thống KĐCLGD đối với GDĐH và TCCN giai đoạn 2011-2020 vào tháng 9/2010 Năm 2012, Bộ GD&ĐT đã ban hành văn bản Quy định về điều kiện thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Tổ chức KĐCLGD độc lập Các văn bản này được ban hành đã tạo hành lang pháp lí cho công tác KĐCLGD đối với giáo dục

Năm 2013, hai trung tâm KĐCLGD đã được Bộ GD&ĐT ra quyết định thành lập tại ĐHQGHN và ĐHQG-HCM Sau hơn một năm thành lập, đến tháng 11/2014, hai Trung tâm đã được Bộ GD&ĐT cấp phép hoạt động (Quyết định số 5128/QĐ-BGDĐT và Quyết định số 5129/QĐ-BGDĐT ngày 04/11/2014)

Tháng 4/2015, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký quyết định thành lập Trung tâm KĐCLGD-Đại học Đà Nẵng (Quyết định số 1100/QĐ-BGDĐT ngày06/4/2015), tháng 02/2016 cấp phép hoạt động cho Trung tâm KĐCLGD-Đại học Đà Nẵng và đến tháng 10/2015, Bộ GD&ĐT cũng đã cho phép thành lập Trung tâm KĐCLGD trực thuộc Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (Quyết định số 4358/QĐ-BGDĐT ngày 14/10/2015) Trên cơ sở sự cho phép của Bộ GD&ĐT, Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam đã thành lập Trung tâm KĐCLGD trực thuộc Hiệp hội (Quyết

Trang 22

định số 79/QĐ-HH ngày 16/10/2015 của Hiệp hội) Như vậy, tính đến hết năm 2015, Việt Nam đã có 4 Trung tâm KĐCLGD độc lập

1.1.2 Các nghiên cứu về ảnh hưởng của KĐCLGD

Nguồn gốc của KĐCLGD gắn liền với việc phát triển của GDĐH của Hoa Kỳ trong suốt thế kỉ XX Song hành với sự phát triển nhanh chóng của GDĐH Hoa Kỳ vào cuối những năm 1980 và những năm 1990, các tổ chức KĐCL được thành lập theo vùng và hoạt động độc lập Đã có một số nghiên cứu về ảnh hưởng của KĐCLGD

Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng vùng New England (NEASC) đã

có nghiên cứu về tác động của KĐCLGD đến chất lượng giảng dạy và học tập Trong nghiên cứu này, NEASC cho rằng việc đo lường tác động của quá trình KĐCLGD là phức tạp và đầy thử thách NEASC triển khai một nghiên cứu thông qua các văn phòng của các tổ chức KĐCLGD để đánh giá tác động của KĐCLGD Mục tiêu chính trong nghiên cứu của NEASC là đo lường về tác động của KĐCLGD đối với chất lượng giáo dục tại các trường tiểu học công lập và tư thục, các trường trung học, các trường kỹ thuật và nghề nghiệp, các CSGD đại học mà NEASC KĐCLGD trên toàn thế giới Kết quả nghiên cứu của NEASC cho thấy có những ảnh hưởng lớn của KĐCLGD đến công tác đào tạo của các trường bao gồm nguồn lực thực hiện đào tạo, kết quả học tập của SV, quá trình tuyển sinh, quá trình giảng dạy và học tập, CSVC, công tác quản lý đào tạo [19]

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Phượng và các cộng sự (2014) trong nghiên cứu về KĐCL CSGD của Hoa Kỳ đã chỉ ra những ưu điểm của KĐCL Hoa

Kỳ đối với việc ĐBCL của các CSGD, tác giả nêu ra những thay đổi của CSGD sau khi được KĐCL và những thách thức đối với việc cải tiến chất lượng liên tục để đạt được mục tiêu của KĐCL GDĐH [10]

Trong nghiên cứu về ĐBCL của Đài Loan, Yung-Chi Hou (Angela) (2011) và các cộng sự đã đưa ra quan điểm về ảnh hưởng của ĐBCL, nghiên

Trang 23

cứu này chỉ ra KĐCLGD đã tác động đến chất lượng giảng dạy và học tập, đặc biệt là tác động đến chất lượng chung của các CTĐT [14]

Trong báo cáo về cải cách GDĐH của chính phủ Na Uy, tác giả Jon Haakstad (2012) đã đưa ra tính hữu ích của KĐCLGD và việc ảnh hưởng của KĐCLGD đối với chất lượng CTĐT [17]

Tác giả Lee Harvey (2006) trong nghiên cứu về tác động của ĐBCL trong GDĐH đã chỉ ra có mối liên hệ giữa KĐCLGD đến sự thay đổi về chất lượng của trường đại học [15]

Nghiên cứu của Lazär Vläsceanu (2006) đã chỉ ra những ảnh hưởng của KĐCLGD đến hoạt động học tập, hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học [18]

Nguyễn Hải Long (2013) trong nghiên cứu về ảnh hưởng của công tác KĐCL dạy nghề đối với phương pháp giảng dạy đã chỉ ra sự ảnh hưởng của công tác KĐCL dạy nghề đối với phương pháp giảng dạy của GV Đề tài đã đánh giá mức độ thành thạo các phương pháp giảng dạy của GV, mức độ áp dụng các phương pháp giảng dạy của GV và mức độ sử dụng các công cụ hỗ trợ trong quá trình giảng dạy của GV trước và sau khi được KĐCL [5]

John Brennan và Tarla Shah (2000) trong nghiên cứu về đánh giá chất lượng và thay đổi của CSGD - kinh nghiệm từ mười bốn quốc gia của Châu

Âu đã chỉ rõ có sự tác động của KĐCLGD đối với hệ thống quản lý của CSGD đại học, trong đó có tác động đến quản lý đào tạo và những tác động trực tiếp đến GV và người học [16]

Kwame Dattey và các cộng sự (2014) dựa trên hai chu kỳ đánh giá KĐCL đã thực hiện nghiên cứu để đánh giá các tác động của việc KĐCL đến việc tuyển sinh vào các trường đại học công lập và tư thục ở Ghana Nghiên cứu chỉ ra rằng các kết quả KĐCLGD có ảnh hưởng rất lớn và tạo áp lực cho các trường đại học tư nhân của nước về vấn đề cam kết chất lượng

Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phương Nga (2007) với đề tài

“Tác động của tự đánh giá để kiểm định chất lượng tới cán bộ và GV các

Trang 24

trường đại học” đã đưa ra những đánh giá cơ bản về tác động của công tác tự đánh giá để KĐCL đến cán bộ và GV trường đại học trong khu vực Hà Nội Trong đề tài này, tác giả đã đưa ra những kết luận cơ bản về những đổi mới trong nhận thức của cán bộ, GV tại những trường đại học đã tiến hành tự đánh giá [6]

Tác giả Nguyễn Phương Nga (2009) trong nghiên cứu về tác động của văn bản pháp quy về KĐCL tới các trường đại học ở Việt Nam đã chỉ rõ các văn bản pháp quy về KĐCL đã tạo ra những tác động tới các trường đại học ở Việt Nam theo bốn nhóm tác động gồm: Tác động tới việc quản trị trường đại học; Tác động tới đội ngũ GV; Tác động tới SV; Tác động tới văn hóa trường đại học [7]

Năm 2016, tác giả Tạ Thị Thu Hiền đã trình bày luận án tiến sĩ Đo lường và đánh giá trong giáo dục đề tài: “Ảnh hưởng của chính sách KĐCLGD đại học đến công tác đào tạo trong hai Đại học Quốc gia” Qua phân tích những vấn đề về chính sách KĐCL GDĐH của các nước phát triển trên thế giới và những ảnh hưởng của KĐCL GDĐH đến các mặt hoạt động của CSGD, nghiên cứu đã làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách KĐCLGD đại học của Việt Nam và khẳng định có mối liên hệ giữa KĐCLGD đại học với công tác quản lý đào tạo Cụ thể KĐCLGD đại học đã tác động mạnh đến nhận thức của đội ngũ lãnh đạo, quản lý trong hai Đại học Quốc gia và tạo ra sự thay đổi trong công tác quản

lý đào tạo thông qua hoạt động tự đánh giá và ĐGN CSGD và CTĐT [4, tr.145]

Kết quả các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới tập trung nhiều vào những ảnh hưởng của KĐCLGD đại học đến giảng dạy, học tập và nghiên cứu, chưa có nghiên cứu đề cập sâu đến việc KĐCLGD trường đại học có hiệu quả như thế nào đối với hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học Ở Việt Nam, sau hơn 10 năm hình thành và phát triển hệ thống KĐCLGD đại học, hoạt động KĐCLGD với quy trình từ tự đánh giá, ĐGN đến công nhận

Trang 25

chất lượng của các CSGD chưa được thực hiện một cách toàn diện đầy đủ do trước đây chưa có một tổ chức KĐCLGD độc lập thực hiện việc đánh giá, công nhận chất lượng, các hoạt động KĐCLGD dường như mới chỉ dừng lại ở khâu tự đánh giá và một số ĐGN thí điểm do các dự án giáo dục hỗ trợ hoặc

do các trường đại học tự tổ chức các đoàn ĐGN nội bộ Hiện nay, tuy đã có 4

tổ chức KĐCLGD đã được thành lập và được cấp phép hoạt động ở Việt Nam nhưng số trường hoàn thành quy trình KĐCLGD chưa nhiều, do đó, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả của KĐCLGD trường đại học cũng chưa được toàn diện, đầy đủ

Green và Harvey (1993) đã đưa ra năm quan niệm về chất lượng GDĐH Theo đó, chất lượng được hiểu là:

• Sự xuất sắc (vượt một tiêu chuẩn bắt buộc và đạt tiêu chuẩn cao hơn);

• Sự hoàn hảo (thể hiện qua việc “không mắc lỗi” và “đúng ngay lần đầu tiên” tạo thành văn hóa chất lượng);

• Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu;

• Giá trị đồng tiền (thông qua năng suất và hiệu quả);

• Sự thay đổi (sự thay đổi định lượng)

Trang 26

“Sự phù hợp với mục tiêu” là định nghĩa về “chất lượng” phổ biến nhất được chấp nhận và sử dụng trong giáo dục nói chung

Định nghĩa của Harvey và Green (1993) đã được nhiều tác giả khác thảo luận, công nhận và phát triển Các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục

đại học của Hoa Kỳ, Anh và nhiều nước khác đang sử dụng khái niệm “chất

lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Một số tổ chức khác vận dụng khái niệm

“chất lượng là sự xuất sắc” để so sánh chất lượng giáo dục đại học giữa các quốc gia hay giữa các trường đại học khác nhau Khái niệm “chất lượng là

có giá trị gia tăng” được vận dụng để khuyến khích các cơ sở giáo dục đại

học quan tâm đến việc không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học

Ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, những định nghĩa về chất lượng giáo dục đại học được chấp nhận gần như không có sự tranh cãi Theo Chương trình Cải cách Giáo dục Đại học ở các nước này (SEAMEO, 2001), khái niệm chất lượng giáo dục đại học vẫn chưa được xác định rõ ràng, mặc

dù việc thực hiện đảm bảo chất lượng ở các nước này hầu như theo nghĩa

“chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Tuy nhiên, sự phù hợp với mục

tiêu được hiểu rất khác nhau giữa các quốc gia tuỳ theo đặc điểm văn hoá, hệ thống quản lý giáo dục và tình hình kinh tế xã hội của các nước

Gần đây, trong “Khuôn khổ hợp tác khu vực về đảm bảo chất lượng

giáo dục đại học”, SEAMEO (2003) đã sử dụng quan niệm “chất lượng là

sự phù hợp với mục tiêu” trong việc khuyến khích các nước trong khu vực

hợp tác với nhau

Chắc chắn rằng không thể đưa ra một định nghĩa hay một quan niệm

thống nhất về “Chất lượng giáo dục đại học”, bản báo cáo này sử dụng định nghĩa “chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” như là một định nghĩa phù

hợp nhất đối với giáo dục đại học của nước ta

Sự phù hợp với mục tiêu có thể bao gồm việc đáp ứng đòi hỏi của những người quan tâm như các nhà quản lý, nhà giáo hay các nhà nghiên cứu giáo dục đại học Sự phù hợp với mục tiêu còn bao gồm cả sự đáp ứng

Trang 27

hay vượt qua các chuẩn mực đã được đặt ra trong giáo dục và đào tạo Sự phù hợp với mục tiêu cũng đề cập đến những yêu cầu về sự hoàn thiện của đầu ra, hiệu quả của đầu tư Mỗi một trường đại học cần xác định nội dung của sự phù hợp với mục tiêu trên cơ sở bối cảnh cụ thể của nhà trường tại thời điểm xác định mục tiêu đào tạo của mình Sau đó chất lượng là vấn đề làm sao để đạt được các mục tiêu đó

Glenn (1998) đã đưa ra 6 quan điểm về đánh giá chất lượng GDĐH như sau:

(1) Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào”

Một số nước phương Tây cho rằng “Chất lượng một trường đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là:

Nguồn lực = Chất lượng

Theo quan điểm này, một trường đại học tuyển được SV giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng viên uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các CSVC, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao

Quan điểm này đã không tính đến sự tác động của quá trình đào tạo trong một thời gian dài (từ 3 đến 6 năm) trong trường đại học Theo quan điểm đánh giá này, quá trình đào tạo được xem là một “hộp đen”, chỉ dựa vào

sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Như vậy dẽ khó giải thích trường hợp một trường đại học có nguồn lực “đầu vào” dồi dào nhưng chỉ có những hoạt động đào tạo hạn chế; hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho SV một CTĐT hiệu quả

(2) Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu ra”

Một quan điểm khác về chất lượng GDĐH cho rằng, “đầu ra” của GDĐH

có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” của quá trình đào tạo “Đầu ra” chính là sản phẩm của GDĐH được thể hiện bằng mức độ hoàn thành công việc của SV tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các hoạt động đào tạo của trường đó

Trang 28

Liên quan đến cách tiếp cận chất lượng GDĐH này có 2 vấn đề cơ bản

Đó là, mối liên hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét đúng mức Thực tế, mối liên hệ này là có thực, cho dù không phải là quan hệ nhân quả Một trường có khả năng tiếp nhận được các SV xuất sắc, không có nghĩa là

SV của họ sẽ tốt nghiệp loại xuất sắc Thứ hai là, cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau

(3) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị gia tăng”

Quan điểm thứ 3 về chất lượng GDĐH cho rằng, một trường đại học có tác động tích cực tới SV khi nó tạo ra được sự khác biệt trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân của SV “Giá trị gia tăng” được xác định bằng giá trị của

“đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà trường đại học đã đem lại cho SV và được đánh giá là chất lượng GDĐH

Nếu theo quan điểm này về chất lượng GDĐH, một loạt vấn đề về phương pháp luận cần được xem xét: khó có thể thiết kế một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra” để tìm ra được hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa các trường trong hệ thống GDĐH lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường đại học Và cho dù có thể thiết kế được bộ công cụ như vậy, giá trị gia tăng vẫn được xác định sẽ không cung cấp thông tin gì về sự cải tiến quá trình đào tạo trong từng trường đại học

(4) Chất lượng được đánh giá bằng “Giá trị học thuật”

Đây là quan điểm truyền thống của nhiều trường đại học phương Tây, chủ yếu dựa vào sự đánh giá của các chuyên gia về năng lực học thuật của đội ngũ cán bộ giảng dạy trong từng trường trong quá trình thẩm định công nhận chất lượng đào tạo đại học Nghĩa là trường đại học nào có đội ngũ giáo sư, tiến sĩ đông và có uy tín khoa học cao thì được xem là trường có chất lượng cao

Nhược điểm của cách tiếp cận này là ở chỗ, dù năng lực học thuật có thể được đánh giá một cách khách quan, thì cũng khó có thể đánh giá những cuộc cạnh tranh của các trường đại học để nhận tài trợ cho các công trình

Trang 29

nghiên cứu khi bị chính trị hoá Ngoài ra, khó có thể đánh giá được năng lực của đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khi xu hướng chuyên ngành hoá ngày càng sâu, phương pháp luận ngày càng đa dạng

(5) Chất lượng được đánh giá bằng “Văn hoá tổ chức riêng”

Quan điểm này dựa trên nguyên tắc các trường đại học phải tạo ra được

“Văn hoá tổ chức riêng” hỗ trợ cho quá trình liên tục cải tiến chất lượng Theo

đó, một trường được đánh giá là có chất lượng khi nó có “Văn hoá tổ chức riêng” với nét đặc trưng quan trọng là không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo Quan điểm này bao hàm cả các giả thiết về bản chất của tổ chức và bản chất của chất lượng Quan điểm này khó có thể áp dụng trong lĩnh vực GDĐH

do được mượn từ lĩnh vực công nghiệp và thương mại

(6) Chất lượng được đánh giá bằng “Kiểm toán”

Quan điểm này về chất lượng GDĐH xem trong quá trình bên trong trường đại học và nguồn thông tin cung cấp cho việc ra quyết định Trong khi kiểm toán tài chính xem xét các tổ chức có duy trì chế độ sổ sách tài chính hợp lý không, thì kiểm toán chất lượng quan tâm xem các trường đại học có thu thập đủ thông tin phù hợp quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng có hợp lý và hiệu quả không và những người ra quyết định có đủ thông tin cần thiết hay không Theo quan điểm này, nếu một cá nhân có đủ thông tin cần thiết thì có thể có được các quyết định chính xác, và chất lượng GDĐH được đánh giá qua quá trình thực hiện, “Đầu vào” và “Đầu ra” chỉ là các yếu

tố phụ

Nhược điểm của cách đánh giá này là sẽ khó lý giải những cho trường hợp khi một cơ sở đại học có đầy đủ phương tiện thu thập thông tin, nhưng vẫn có thể có những quyết định chưa phải là tối ưu [22]

Định nghĩa của Tổ chức ĐBCL GDĐH quốc tế

Ngoài các định nghĩa trên, Mạng lưới quốc tế các tổ chức ĐBCL trong GDĐH (INQAAHE - International Network for Quality Assurance Agencies

in Higher Education) đã đưa ra 2 định nghĩa về chất lượng GDĐH là:

Trang 30

(i) Tuân theo các chuẩn quy định;

(ii) Đạt được các mục tiêu đề ra

Theo định nghĩa thứ nhất, cần có Bộ tiêu chí chuẩn cho GDĐH về tất

cả các lĩnh vực và việc kiểm định chất lượng một trường đại học sẽ dựa vào

Bộ tiêu chí chuẩn đó Khi không có Bộ tiêu chí chuẩn thì việc thẩm định chất lượng GDĐH sẽ dựa trên mục tiêu của từng lĩnh vực để đánh giá

Như vậy, cần dùng Bộ tiêu chí có sẵn; hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn từ đầu của trường để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường Trên cơ sở kết quả đánh giá, các trường đại học sẽ được xếp loại theo 3 cấp độ (1) Chất lượng tốt; (2) Chất lượng đạt yêu cầu; (3) Chất lượng không đạt yêu cầu Các tiêu chí hay các chuẩn phải được lựa chọn phù hợp với mục tiêu kiểm định

Đến nay, quan điểm“Chất lượng là sự đáp ứng với mục tiêu” được sử

dụng phổ biến nhất trong KĐCL GDĐH nói chung Luận văn sử dụng khái niệm về chất lượng giáo dục được nêu trong hai văn bản quy phạm của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), theo đó:

- Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của CSGD, đáp ứng các yêu cầu của Luật giáo dục, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục và Luật giáo dục đại học, phù hợp với nhu cầu sử dụng nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước 1 ”;

Khái niệm chất lượng giáo dục trên đây được sử dụng để Bộ GD&ĐT xây dựng các tiêu chuẩn, tiêu chí ĐGCL giáo dục đối với CSGD hiện hành của Việt Nam Trong quá trình áp dụng, các CSGD cần căn cứ sứ mạng, mục tiêu giáo dục của mình để TĐG mức độ đạt các tiêu chuẩn, tiêu chí chất lượng, đồng thời, các tổ chức ĐGCL sử dụng làm căn cứ đánh giá, công nhận chất lượng của các đối tượng được đánh giá

Kiểm định chất lƣợng giáo dục

1 Thông tư số 62/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 của Bộ GD&ĐT về Quy trình và chu kỳ KĐCLGD trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp

Trang 31

Thuật ngữ này được sử dụng nhiều nhất ở Hoa Kỳ Kiểm định có thể được áp dụng cho một trường đại học, hoặc cho một CTĐT của một môn học KĐCLGD có thể được hiểu theo một số khái niệm như sau:

- Kiểm định chất lượng giáo dục là “Một quá trình thực hiện một chuỗi

công việc để trường đại học nhìn lại các hoạt động của mình trong một khoảng thời gian đã qua-thông thường chu kỳ năm năm-đánh giá theo các tiêu chí nhất định làm cơ sở thực hiện các công việc tiếp theo để nâng cao chất lượng đào tạo”

- Kiểm định chất lượng giáo dục là “Một trong những hoạt động đảm

bảo chất lượng bên ngoài cơ sở đào tạo Quá trình KĐCLGD nhằm mục tiêu đưa ra các quyết định công nhận về mức độ tiến bộ và đảm bảo chất lượng giáo dục tại các trường cao đẳng, đại học”

- Kiểm định chất lượng giáo dục là “Hoạt động đánh giá và công nhận mức độ cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục về mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục”

Kiểm định đảm bảo với cộng đồng cũng như với các tổ chức hữu quan rằng một trường đại học (hay một chương trình một môn học nào đó) có những mục tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp; có được những điều kiện để đạt được những mục tiêu đó, và có khả năng phát triển bền vững

Kiểm định nhằm hai mục đích: (i) Đảm bảo với những đối tượng tham

gia vào công tác giáo dục rằng một chương trình đào tạo, hay một trường, khoa nào đó đã đạt hay vượt những chuẩn mực nhất định về chất lượng; (ii)

Hỗ trợ trường liên tục cải tiến chất lượng

Cơ chế tự quản lý chất lượng này được áp dụng cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, từ bậc phổ thông cơ sở tới bậc đại học và sau đại học, cũng như cho các chương trình đào tạo kỹ thuật có cấp văn bằng, chứng chỉ Đây là một cơ chế toàn diện, nhưng là cơ chế tự nguyên Vì thế, không một trường ĐH hay cao đẳng nào buộc phải được kiểm định Tuy nhiên một trường không được thường phải chịu hậu quả to lớn về thị trường sinh viên,

Trang 32

về bằng cấp (sinh viên ở các trường này không được học tiếp sau đại học ở các trường đã được kiểm định, không được cấp chứng chỉ hành nghề )

Thường có hai hình thức kiểm định: Kiểm định cấp trường và kiểm định chương trình khóa học

Kiểm định cấp trường nhằm mục đích đảm bảo trước cộng đồng nghề nghiệp và các khách hàng rằng trường đại học này thỏa mãn các tiêu chí sau:

- Trường đã có mục tiêu đào tạo rõ ràng;

- Trường đã chuẩn bị tốt các nguồn lực cần thiết đê thực hiện nhiệm vụ đào tạo của mình;

- Trường đã thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của mình;

- Trường có kế hoạt phát triển các nguồn lực để tiếp tục thẹc hiện tốt các sứ mệnh của mình trong tương lai

Kiểm định chương trình khóa học chủ yếu nhằm kiếm định các chi tiết

về đào tạo và nghiên cứu của chương trình đào tạo chuyên ngành đó có đạt chuẩn tối thiểu không và sau đó tùy theo kết quả kiểm định có thể cho phép hoặc dừng chương trình đào tạo đó Thông thường kiểm định trường là điều kiện tiên quyết cho kiểm định chương trình [1, Tr.38-39]

1.2.2 Người học và hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học

Người học

Theo Luật giáo dục Đại học năm 2012, người học là người đang học tập và nghiên cứu khoa học tại CSGD đại học, gồm SV của CTĐT cao đẳng, CTĐT đại học; học viên của CTĐT thạc sĩ; nghiên cứu sinh của CTĐT tiến sĩ

Người học có các nhiệm vụ và quyền:

- Học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện theo quy định

- Tôn trọng GV, cán bộ quản lý, viên chức và nhân viên của CSGD đại học; đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và rèn luyện

- Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh, trật tự, phòng, chống tiêu cực, gian lận trong học tập và thi cử, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội

Trang 33

- Được tôn trọng và đối xử bình đẳng, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập, rèn luyện

- Được tạo điều kiện trong học tập, tham gia hoạt động khoa học và công nghệ, các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao

- Đóng góp ý kiến, tham gia quản lý và giám sát hoạt động giáo dục và các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục

- Được hưởng chính sách đối với người học thuộc đối tượng hưởng ưu tiên và chính sách xã hội

- Các nhiệm vụ và quyền khác theo quy định của pháp luật [20]

Các hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học

Theo dự thảo hướng dẫn sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng theo CTĐT của mạng lưới các trường đại học thuộc Đông Nam Á (AUN-QA), tiêu chuẩn 8 về chất lượng người học và hoạt động hỗ trợ người học gồm có 5 tiêu chí i Chính sách tuyển sinh được xác định rõ ràng, được công

bố công khai và được cập nhật; ii Tiêu chí và phương pháp tuyển chọn người học được xác định rõ ràng và được đánh giá; iii Có hệ thống giám sát phù hợp về sự tiến bộ trong học tập và rèn luyện, kết quả học tập, khối lượng học tập của người học; iv Có các hoạt động tư vấn học tập, các hoạt động ngoại khóa, hoạt động thi đua và các dịch vụ hỗ trợ khác để giúp cải thiện việc học tập và khả năng có việc làm của người học; v Môi trường tâm lý, xã hội và cảnh quan tạo thuận lợi cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu và sự thoải mái cho cá nhân người học Theo đó chất lượng đầu ra phụ thuộc nhiều vào chất lượng đầu vào; Chính sách tuyển sinh rõ ràng và các tiêu chí tuyển chọn người học vào học chương trình được xây dựng và định kỳ điều chỉnh;Sự tiến

bộ trong học tập của người học được giám sát và ghi nhận một cách có hệ thống; thông tin đánh giá được phản hồi cho người học và những giải pháp cải thiện được đưa ra ngay khi cần thiết; Để cung cấp môi trường học tập thuận lợi, ĐBCL cho người học, GV cần cố gắng tối đa để tạo ra không chỉ môi

Trang 34

trường vật chất hỗ trợ phù hợp với các hoạt động học tập, mà còn chú trọng cả môi trường tâm lý, xã hội; Việc giám sát và hỗ trợ người học cần thiết cho nghề nghiệp tương lai của họ.

Theo Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT ngày 04/3/2014 Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học hợp nhất Quyết định 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 và Thông tư số 37/2012/TT-BDGĐT ngày 30/10/2012 của Bộ GD&ĐT, tiêu chuẩn về người học có các nội hàm như sau: i Người học được hướng dẫn đầy đủ về chương trình đào tạo2, kiểm tra đánh giá và các quy định trong quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT; ii Người học được đảm bảo chế độ chính sách xã hội, được khám sức khoẻ theo quy định y tế học đường; được tạo điều kiện hoạt động, tập luyện văn nghệ, thể dục thể thao và được đảm bảo an toàn trong khuôn viên của nhà trường; iii Công tác rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học được thực hiện có hiệu quả; iv Công tác Đảng, đoàn thể có tác dụng tốt trong việc rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống cho người học; v Có các biện pháp cụ thể, có tác dụng tích cực để hỗ trợ việc học tập và sinh hoạt của người học; vi Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh, tinh thần trách nhiệm, tôn trọng luật pháp, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và các nội quy của nhà trường cho người học; vii Có các hoạt động hỗ trợ hiệu quả nhằm tăng tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo; viii Người học

có khả năng tìm việc làm và tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp Trong năm đầu sau khi tốt nghiệp, trên 50% người tốt nghiệp tìm được việc làm đúng

2

Cụm từ “chương trình giáo dục” được sửa đổi thành cụm từ “chương trình đào tạo”theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Thông tư số 37/2012/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học; Quyết định số 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng; Quyết định số 67/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung cấp chuyên nghiệp, có hiệu lực

kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013

Trang 35

ngành được đào tạo; ix Người học được tham gia đánh giá chất lượng giảng dạy của GV khi kết thúc môn học, được tham gia đánh giá chất lượng đào tạo của trường đại học trước khi tốt nghiệp [21]

Theo đó tác giả định nghĩa hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học gồm có hoạt động hỗ trợ học tập và nghiên cứu khoa học; hỗ trợ về CSVC, học liệu và trang thiết bị phục vụ học tập và các hoạt động hỗ trợ khác

Thứ nhất, hỗ trợ học tập và nghiên cứu khoa học bao gồm việc cung cấp đầy đủ thông tin về CTĐT đến người học; hướng dẫn đầy đủ về CTĐT, các quy định về kiểm tra đánh giá và các quy định trong quy chế đào tạo cho người học; thực hiện khách quan, công bằng việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học;thông báo kịp thời, công khai kết quả học tập của người học; lấy ý kiến người học để xây dựng CTĐT và sử dụng các ý kiến phản hồi của người học để điều chỉnh hoạt động đào tạo cho phù hợp; Người học được đăng ký tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học và được tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học của GV

Thứ hai, về hỗ trợ về CSVC, học liệu và trang thiết bị phục vụ học tập

là việc các trường đại học có các nguồn học liệu phục vụ cho học tập và nghiên cứu; có phòng học, phòng thực hành, phòng thí nghiệm và các trang thiết bị học tập đáp ứng để phục vụ cho học tập và nghiên cứu Có kí túc xá, khu vui chơi, khu luyện tập thể thao đáp ứng nhu cầu của người học

Thứ ba, về các hỗ trợ khác: Người học được cố vấn học tập hướng dẫn

và hỗ trợ trong học tập; Người học được tham gia đánh giá hoạt động giảng dạy của GV; Đảm bảo các chế độ chính sách cho người học theo quy định; Khám sức khỏe theo quy định y tế học đường cho người học; đảm bảo an toàn trong khuôn viên trường cho người học; người học được tạo điều kiện tham gia các hoạt động ngoại khóa, được tư vấn tìm kiếm việc làm; khảo sát ý kiến

về các hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học, các ý kiến phản hồi được thông báo công khai và được sử dụng để điều chỉnh các hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học

Trang 36

1.2.3 Hiệu quả và hiệu quả của KĐCLGD đối với công tác hỗ trợ việc học tập của người học

xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến

số đầu ra thu được (outputs) so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó theo

Hiệu quả của KĐCLGD đối với công tác hỗ trợ việc học tập của người học

Từ các định nghĩa trên có thể hiểu hiệu quả của KĐCLGD trường ĐH đối với công tác hỗ trợ việc học tập của người học là kết quả việc cải tiến chất lượng của các trường ĐH nhằm hỗ trợ việc học tập của người học sau khi các trường được KĐCLGD

1.3 Mô hình ĐBCL của mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á

về hoạt động hỗ trợ người học

Hoạt động

Hỗ trợ người học

Học tập

Tài chính

và học bổng

Giải trí và thể thao

Việc làm Chỗ ở

Tư vấn, hỗ trợ

Chăm sóc sức khỏe

và y tế

Trang 37

Hình 1.1 Mô hình ĐBCL của AUN-QA về hoạt động hỗ trợ người học

Theo mô hình này, hoạt động hỗ trợ người học bao gồm các nội dung

hỗ trợ người học về học tập; Tài chính và học bổng; Giải trí và thể thao; Nghề nghiệp và việc làm; Hỗ trợ SV quốc tế; Các dịch vụ cho SV; Nhà ở; Tư vấn,

hỗ trợ; Chăm sóc sức khỏe và y tế

Các yêu cầu trong tiêu chuẩn hoạt động hỗ trợ người học trong mô hình ĐBCL của AUN-QA cũng là yêu cầu trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của CSGD Bộ GD&ĐT ban hành theo Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT ngày 04/3/2014 Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học hợp nhất Quyết định 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007

và Thông tư số 37/2012/TT-BDGĐT ngày 30/10/2012 cho thấy mô hình ĐBCL của AUN-QA về hoạt động hỗ trợ người học phù hợp với mô hình ĐBCL theo Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT của Bộ GD&ĐT

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu

Dựa trên kết quả nghiên cứu của các tác giả trên và dựa trên mô hình ĐBCL của QNU-QA về hoạt động hỗ trợ người học, tác giả nhận thấy rằng có nhiều nhóm nhân tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học bao gồm các yếu tố: Hỗ trợ về học tập, hỗ trợ về CSVC, học liệu và trang thiết bị phục vụ học tập và các hoạt động hỗ trợ khác như: tạo điều kiện để người học được tham gia các hoạt động, phong trào chung; đảm bảo các chế

độ chính sách theo quy định cho người học; đảm bảo an toàn trong khuôn viên trường cho người học; hỗ trợ tư vấn, tìm kiếm việc làm cho người học…Tác giả đã xây dựng khung lý thuyết như sau:

Trang 38

Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu

1.5 Kết luận chương 1

Trong Chương 1 tác giả tập trung vào tìm hiểu tổng quan các nghiên

cứu về KĐCLGD và hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học, nền tảng

làm cơ sở lý luận cho đề tài đang nghiên cứu, như chất lượng, kiểm định chất

lượng GDĐH, người học và công tác hỗ trợ việc học tập của người học Qua

những khái niệm, thuật ngữ chung thống nhất này, tác giả hi vọng rằng sẽ tạo

điều kiện thuận lợi cho việc đi sâu phân tích vào những chương tiếp theo

Hoạt động hỗ trợ việc học tập của người học

học tập

Học liệu

Phòng học, thực hành, thí nghiệm

Đảm bảo an toàn trong khuôn viên trường

Hoạt động ngoại khóa, Rèn luyện chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống

Hỗ trợ tư vấn tìm kiếm việc làm

Khảo sát ý kiến

Trang 39

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Thiết kế nghiên cứu

2.1.1 Xác định mục đích và yêu cầu

Mục đích nghiên cứu: đánh giá hiệu quả của KĐCLGD trường đại học đến công tác hỗ trợ việc học tập của người học nhằm tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của KĐCLGD, giúp cho người học được hỗ trợ tốt hơn trong công tác học tập

Yêu cầu đánh giá: Đánh giá đảm bảo tính chính xác và tính lôgic

2.1.2 Xây dựng quy trình tổ chức nghiên cứu

Quy trình tổ chức nghiên cứu được tác giả thực hiện theo 5 bước được

- Xây dựng phiếu khảo sát và đề cương phỏng vấn;

- Lấy ý kiến chuyên gia về các công cụ nghiên cứu;

- Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ khảo sát: sử dụng phần mềm chuyên dụng SPSS và QUEST

Trang 40

Bước 4: Khảo

sát chính thức

- Thu thập thông tin định lượng: thu thập thông tin thông qua phiếu khảo sát; nghiên cứu tài liệu, hồ sơ, các khuyến nghị của các Đoàn chuyên gia ĐGN, đặc biệt phần liên quan đến hoạt động hỗ trợ người học;

- Thu thập thông tin định tính: phỏng vấn bán cấu trúc đối với cán bộ phụ trách công tác ĐBCL, phụ trách công tác học sinh SV và SV

- Xử lý các thông tin thu thập thông qua phỏng vấn; kiểm tra, đối chiếu với thông tin định lượng và định tính thu thập được;

2.2.1 Địa bàn nghiên cứu

Trong báo cáo tự đánh giá của 06 trường đại học được chọn nghiên cứu các trường đều tự đánh giá kết quả cho tiêu chí hỗ trợ hoạt động học tập của người học (tiêu chí 6.5) ở mức đạt Tuy nhiên kết quả đánh giá được Đoàn chuyên gia ĐGN đánh giá ở mức đạt là 5/6 trường, mức chưa đạt là 1/6 trường Các trường đều được Đoàn chuyên gia ĐGN chỉ ra những điểm mạnh

và những khuyến nghị cụ thể như sau:

Ngày đăng: 17/02/2021, 16:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Chính (2002), Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Đức Chính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
2. Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh (2003), Về một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, Tạp chí Giáo dục số 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số khái niệm thường dùng trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Kim Dung, Phạm Xuân Thanh
Năm: 2003
3. Nguyễn Kim Dung, (2009), Các khái niệm cơ bản trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, Hội nghị tập huấn xây dựng văn hóa chất lượng trong giáo dục đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khái niệm cơ bản trong đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
Tác giả: Nguyễn Kim Dung
Năm: 2009
4. Tạ Thị Thu Hiền (2016), Ảnh hưởng của chính sách KĐCLGD đại học đến công tác đào tạo trong hai Đại học Quốc gia, Luận án Tiến sĩ Đo lường và đánh giá trong giáo dục, Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ảnh hưởng của chính sách KĐCLGD đại học đến công tác đào tạo trong hai Đại học Quốc gia
Tác giả: Tạ Thị Thu Hiền
Năm: 2016
5. Nguyễn Hải Long (2013), Ảnh hưởng của công tác kiểm định chất lượng dạy nghề đối với phương pháp giảng dạy tại Trường Cao đẳng nghề kĩ thuật thiết bị y tế, Luận văn Thạc sĩ, Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của công tác kiểm định chất lượng dạy nghề đối với phương pháp giảng dạy tại Trường Cao đẳng nghề kĩ thuật thiết bị y tế
Tác giả: Nguyễn Hải Long
Năm: 2013
6. Nguyễn Phương Nga (2007), Tác động của tự đánh giá để kiểm định chất lượng tới cán bộ và giảng viên các trường đại học, Báo cáo Đề tài nghiên cứu khoa học, Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của tự đánh giá để kiểm định chất lượng tới cán bộ và giảng viên các trường đại học
Tác giả: Nguyễn Phương Nga
Năm: 2007
7. Nguyễn Phương Nga (2009), Tác động của văn bản pháp quy về kiểm định chất lượng tới các trường đại học ở Việt Nam, Hội nghị thường niên năm 2009 của APQN, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của văn bản pháp quy về kiểm định chất lượng tới các trường đại học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Phương Nga
Năm: 2009
8. Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Quý Thanh và các tác giả khác (2010), Giáo dục đại học: Đảm bảo, đánh giá và kiểm định chất lượng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đại học: Đảm bảo, đánh giá và kiểm định chất lượng
Tác giả: Nguyễn Phương Nga, Nguyễn Quý Thanh và các tác giả khác
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
9. Lê Đức Ngọc (2003), Đo lường và đánh giá trong giáo dục, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
Tác giả: Lê Đức Ngọc
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
11. Nguyễn Thị Thanh Phƣợng, Diane E. Oliver, Nguyễn Thị Kim Dung, Kiểm định cấp cơ sở giáo dục tại Hoa Kỳ: các kiến nghị dành cho Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Đảm bảo và Kiểm định chất lượng giáo dục đại học – Con đường hội nhập Quốc tế, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tháng 11/2014, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm định cấp cơ sở giáo dục tại Hoa Kỳ: các kiến nghị dành cho Việt Nam
12. Nguyễn Quý Thanh - Phạm Văn Quyết (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Nguyễn Quý Thanh - Phạm Văn Quyết
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
13. Phạm Xuân Thanh (2005) Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: sự vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam Tạp chí Giáo dục số 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học: "sự vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam
14. Lâm Quang Thiệp (2010), Đo lường trong giáo dục – Lý thuyết và ứng dụng, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường trong giáo dục – Lý thuyết và ứng dụng
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
16. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nxb Thống kê, thành phố Hồ Chí Minh.Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2005
21. Lazọr Vlọsceanu (2006), Quality Assurance: Issues and Policy Implications. http://www.tandfonline.com/loi/chee20 Link
17. Angela Yung-Chi Hou (2011), Quality assurance at a distance: international accreditation in Taiwan higher education. Quality in Higher Education, 61(2), 179-191 Khác
18. Harvey, L. (2006), Impact of quality assurance: Overview of a discussion between representatives of external quality assurance agencies.Quality in Higher Education, 12(3): 287-290 Khác
19. John Bernnan, Tarla Shah (2000), Quality assessment and institutional change: Experiences from 14 countrie. Centre for Higher Education Research and Information, Open University, UK Khác
20. Jon Haakstad (2001), Accreditation: The new quality assurance formula? Some reflections as Norway is about to reform its quality assurance system, Quality in Higher Education, (Vol.7, No. 1) Khác
22. NEASC (2005), The Impact of Accreditation on the Quality of Education: Results of the Regional Accreditation & Quality of education survey.Tài liệu tham khảo khác Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w