Nghiên cứu thành phần hóa học của cây cẩu tích Cibotium barometz Nghiên cứu thành phần hóa học của cây cẩu tích Cibotium barometz Nghiên cứu thành phần hóa học của cây cẩu tích Cibotium barometz luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo trường đại học bách khoa hà nội
Trang 3Viện Khoa học và Cụng nghệ Việt Nam cùng các anh chị đồng nghiệp tại Phòng Húa hữu cơ đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành luận án Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Cụng nghệ Hoá học Trường
Đại học Bỏch Khoa Hà Nội đã tận tình dạy dỗ và chỉ bảo em trong suốt 5 năm học tại Nhà trường Luận ỏn được hoàn thành với sự giỳp đỡ về kinh phớ của đề tài KC10.20/06-10 Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Hoàng Thanh Hương, Chủ tịch Hội đồng Khoa học Viện Húa học cỏc Hợp chất thiờn nhiờn, Chủ nhiệm
đề tài KC10.20/06-10 đó giỳp đỡ em hoàn thành đề tài
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2009
Học viên
Trang 4Môc lôc
Trang
Mục lục 2
Danh mục những chữ viết tắt 5
Danh mục các hình 7
Danh mục bảng 9
MỞ ĐẦU 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
1.1 Tổng quan chung về cây Cẩu Tích ( Cibotium barometz ) 12
1.1.1 Thực vật học 12
1.1.2 Phân bố sinh thái 13
1.1.3 Công dụng 14
1.1.4 Thành phần hoá học 16
1.2 Tổng quan chung về các phương pháp xác định cấu trúc của
các hợp chất hữu cơ 18
1.2.1 Phổ hồng ngoại 18
1.2.2 Phổ khối lượng ( Mass spectroscopy ) 19
1.2.3 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân ( Nuclear Magnetic
Resonance spectroscopy – NMR) 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Mẫu thực vật 24
2.2 Phương pháp xử lý mẫu thực vật 24
Trang 52.3 Phương pháp phân lập các chất 25
2.3.1 Sắc kí lớp mỏng (TLC) 25
2.3.2 Sắc kí lớp mỏng điều chế 25
2.3.3 Sắc kí cột 25
2.4 Phương pháp xác định cấu trúc hoá học các hợp chất 25
2.4.1 Điểm nóng chảy (Mp) 25
2.4.2 Độ quay cực [α]D 25
2.4.3 Phổ khối lượng (ESI-MS) 26
2.4.4 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) 26
CHƯƠNG 3: PHẦN THỰC NGHIỆM 27
3.1 Dụng cụ , thiết bị và hoá chất 27
3.2 Chiết tách và phân lập các hợp chất 28
3.3 Hằng số vật lý và dữ kiện phổ của các hợp chất 32
3.3.1 Hợp chất 1 32
3.3.2 Hợp chất 2 33
3.3.3 Hợp chất 3 34
3.3.4 Hợp chất 4 35
3.3.5 Hợp chất 5 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37
4.1 Thu hái và xác định tên khoa học của cây Cibotium barometz 37 4.2 Điều chế các phần chiết và tinh chế các hợp chất 38
4.3 Xác định cấu trúc các hợp chất 38
Trang 64.3.1 Xác định cấu trúc hợp chất 1 38
4.3.2 Xác định cấu trúc hợp chất 2 46
4.3.3 Xác định cấu trúc hợp chất 3 52
4.3.4 Xác định cấu trúc hợp chất 4 58
4.3.5 Xác định cấu trúc hợp chất 5 62
4.3.6 Các hợp chất đã phân lập được từ cây Cẩu tích 71
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
Trang 7Những chữ viết tắt
13C-NMR Phổ cộng hưởng từ hạt nhân carbon 13 (Carbon-13 Nuclear
Magnetic Resonance Spectroscopy)
Mass Spectrometry) EtOAc Ethyl acetat
1H-1H Chemical Shift Correlation Spectroscopy
HMBC Heteronuclear Multiple Bond Coherence
HMQC Heteronuclear Multiple Quantum Coherence
Trang 8HPLC S¾c ký láng hiÖu n¨ng cao (High Performance Liquid
Chromatography) HSQC Heteronuclear Single Quantum Coherence
IR Phæ hång ngo¹i (Infrared Spectroscopy)
Trang 9DANH MụC CáC Hình
hình 4.3.1.a Phổ 1H-NMR của hợp chất 1 37
Hình 4.3.1.a Phổ 1H-NMR của hợp chất 1 37
Hình 4.3.1.c Phổ 1H-NMR dãn rộng của hợp chất 1 38
Hình 4.3.1.d Phổ 13C-NMR của hợp chất 1 41
Hình 4.3.1.e Phổ 13C-NMR dãn rộng của hợp chất 1 42
Hình 4.3.1.f Phổ khối lượng ESI-MS của hợp chất 1 43
Hình 4.3.2.a Phổ 1H-NMR của hợp chất 2 44
Hình 4.3.2.b Cấu trúc hoá học của hợp chất 2 45
Hình 4.3.2.c Phổ 13C-NMR của hợp chất 2 45
Hình 4.3.2.d Phổ 13C-NMR và các phổ DEPTcủa hợp chất 2 47
Hình 4.3.2.e Phổ HSQC của hợp chất 2 47
Hình 4.3.2.f Phổ HMBC của hợp chất 2 48
Hình 4.3.2.g Các tương tác HMBC chính của 2 49
Hình 4.3.2.h Phổ khối lượng ESI-MS của hợp chất 2 49
Hình 4.3.3.a Phổ 1H-NMR của hợp chất 3 50
Hình 4.3.3.b Cấu trúc hoá học của hợp chất 3 51
Hình 4.3.3.c Phổ 1H-NMR dãn rộng của hợp chất 3 51
Hình 4.3.3.d Phổ 13C-NMR của hợp chất 3 54
Hình 4.3.3.e Phổ 13C-NMR dãn rộng của hợp chất 3 55
Hình 4.3.3.f Phổ khối lượng ESI-MS của hợp chất 3 55
Hình 4.3.4.a Phổ 1H-NMR của hợp chất 4 57
Hình 4.3.4.b Phổ 1H-NMR dãn rộng của hợp chất 4 57
Hình 4.3.4.c Cấu trúc hoá học của hợp chất 4 58
Trang 10Hình 4.3.4.d Phổ 13C-NMR của hợp chất 4 58
Hình 4.3.4.f Phổ khối lượng ESI-MS của hợp chất 4 60
Hình 4.3.5.a Phổ 1H-NMR của hợp chất 5 61
Hình 4.3.5.b Cấu trúc hoá học của hợp chất 5 62
Hình 4.3.5.c Phổ 13C-NMR của hợp chất 5 64
Hình 4.3.5.d Phổ 13C-NMR và 13C-NMR dãn rộng của hợp chất 5 64
Hình 4.3.5.e Phổ HSQC của hợp chất 5 65
Hình 4.3.5.f Phổ HMBC của hợp chất 5 66
Hình 4.3.5.g Các tương tác HMBC chính của 5 67
Hình 4.3.5.h Phổ khối lượng ESI-MS của hợp chất 5 67 Hình 4.3.5.i Phổ khối lượng phân giải cao HR-ESI-MS của hợp chất 5 68
Trang 11Danh mục bảng
Bảng 2 Hàm lượng các cặn chiết từ lá cây Cẩu tích 36
Bảng 4.3.1 Số liệu phổ NMR của hợp chất 1 40
Bảng 4.3.2 Số liệu phổ NMR của hợp chất 2 46
Bảng 4.3.3 Số liệu phổ NMR của hợp chất 3 52
Bảng 4.3.4 Số liệu phổ NMR của 4 và 3 59 Bảng 4.3.5 Số liệu phổ NMR của hợp chất 5 và các chất tham khảo 63
Trang 12Mở đầu
Việt Nam nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có một thảm thực vật hết sức đa dạng và phong phú Đó chính là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá mà cho đến nay chúng vẫn chứa đựng nhiều điều bí ẩn Ngày nay, các sản phẩm thiên nhiên ngày càng được con người quan tâm và ứng dụng rộng rãi trong các ngành kinh tế quốc dân bởi tính năng độc đáo, ít độc hại, dễ hấp thu
và đặc biệt không làm tổn hại đến môi sinh Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, tới 3/4 diện tích của cả nước là núi rừng trùng điệp, cùng với điều kiện khí hậu rất đa dạng với nhiều tiểu vùng khí hậu khá đặc trưng đã tạo cho Việt Nam
có thảm thực vật thiên nhiên vô cùng phong phú, đặc biệt là kho tàng các cây thuốc dược liệu Theo thống kê, hiện nay số loài thực vật bậc cao có mạch ở nước
ta vào khoảng 12.000-13.000 loài, thì số loài được dùng làm thuốc chiếm tới 4.000 loài
Việc tìm kiếm các hợp chất có hoạt tính sinh học từ nguồn dược liệu đã và đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như các nhà quản
lý và kinh doanh ở nhiều nước, nhất là ở các nước công nghiệp phát triển Nghiên cứu để khai thác, để kế thừa, ứng dụng và phát triển nguồn thực vật làm thuốc là vấn đề có ý nghĩa khoa học, kinh tế và xã hội rất lớn ở nước ta
Có thể nói tác dụng chữa bệnh của cây cỏ được quyết định chủ yếu bởi các
hợp chất tự nhiên có chứa trong chúng Nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các cây thuốc không những góp phần làm sáng tỏ tác dụng
chữa bệnh của thảo dược mà còn tạo ra nhiều loại thuốc mới để phòng chống, trợ giúp, ngăn ngừa và chữa trị bệnh Hiện nay, con người đã phát hiện được rất nhiều hợp chất từ cây cỏ với các đặc tính sinh học quý giá
Trang 13Cây Cẩu tích hay còn được gọi là Kim mao Cẩu tích, có tên khoa học là
Cibotium barometz, là một loài thực vật thuộc họ Lông cu ly (Dicksoniaceae)
Nó được biết đến là một loại cây có mặt trong nhiều loai cây để chữa bệnh Ở
Việt Nam loài cây này được biết đến trong các bài thuốc dân gian chữa đau lưng, gân mạch chân khớp khó cử động, can thận hư suy
Việc nghiên cứu,thành phần hóa học của cây Cẩu tích ở Việt Nam nhằm đặt
cơ sở khoa học cho việc sử dụng chúng một cách hợp lý, hiệu quả có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong sự phát triển của nền y học Việt Nam hiện đại dựa trên các bài thuốc cổ truyền Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên, nên chúng tôi lựa
chọn đề tài “Nghiên cứu thành phần hoá học của cây Cẩu tích “
Với những nội dung chính như sau:
1 Thu hái và xác định tên khoa học cây Cẩu tích
2 Phân lập một số hợp chất từ cây Cẩu tích
3 Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được
Trang 14
CH¦¥NG 1 TæNG QUAN TµI LIÖU
1.1.Tæng quan vÒ c©y CÈu tÝch
H×nh 1.1 H×nh ¶nh c©y CÈu tÝch
Trang 15Cây có thân thường yếu, nhưng cũng có thể cao 2,5- 3m Lá lớn có cuống dài
1- 2m, màu nâu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bang phủ dày đặc Phiến dài tới 3m, rộng đến 60 -80cm Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan - ngọn giáo dài 30 - 60 cm Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; Mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông len ở túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu nâu, có hai môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn thuôn
1.1.2 Phân bố, sinh thái
Chi Cibotium Kaulf Có khoảng 10 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu
Mỹ và châu á Trong đó Cẩu tích là loài có vùng phân bố tương đối rộng, bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Lào, Malaysia, ấn Độ, Philippin và Indonesessia
ở Việt Nam, Cẩu tích phân bố tập trung ở các tỉnh miền núi phía bắc: Hà
Giang, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn ở Miền Nam, cây chỉ thấy ở một số vùng núi cao, như Ngọc Linh (Komtum, Quảng Nam), Lang Bian (Lâm Đồng), và Bi Đúp (ĐắcLắc)
Cẩu tích là cây ưa ẩm và có thể chịu bóng Cây thường mọc thành từng đám
hoặc thành những quần thể gần như thuần loại ở ven rừng hoặc dọc theo các bờ khe suối Độ cao thường thấy từ 600m (ở Miền Bắc) hoặc ở 800m (ở Miền Nam)
đến 1600m Cẩu tích mọc nơi đất ẩm và nhiều mùn Thân rễ mọc vùi sát mặt đất hoặc nổi hẳn nên mặt đất Những cây già, thân rễ lớn (1-3kg) thường có hiện tượng hóa gỗ nhiều và mục rỗng ở giữa Cây sinh trưởng mạnh trong mùa mưa
ẩm Mỗi năm mọc lên từ 3-5 lá Sinh sản bằng bào tử Bình thường cây Cẩu tích
Trang 16không đẻ nhánh, nhưng nếu thân rễ bị chặt, phần còn lại có khả năng tiếp tục tái sinh
Trữ lượng Cẩu tích ở Việt Nam tương đối dồi dào ở những điểm có cây mọc tập
trung, có thể khai thác từ 1-3 tấn thân rễ tươi trên một hecta Nhu cầu trong nước mỗi năm khoảng vài trăm tấn Những năm gần đây (1992 – 1998) loại dược liệu này bị khai thác ồ ạt ( hàng ngàn tấn) để xuất khẩu qua biên giới Hiện tượng khai thác và phá rừng làm nương rẫy, đã làm cho các vùng phân bố của cây Cẩu tích bị thu hẹp Thêm vào đó là quá trình sinh sản bằng bao tử (đặc điểm chung của quyết thực vật) rất phức tạp Từ một cây Cẩu tích con đến khi khai thác được,
có thể là 10 năm
1.1.3 Công dụng [1]
* Thu hái và chế biến
Thu hoạch thân rễ quanh năm, tốt nhất vào mùa thu - đông, cắt bỏ rễ con và
cuống lá, cạo hết lông vàng để riêng Rễ củ đã cạo hết lông, rửa sạch, thái phiến hay cắt từng đoạn dài 4 – 10mm, phơi hay sấy khô Cần bảo quản nơi khô ráo Khi dùng tẩm dược liệu với rượu để một đêm rồi sao vàng
* Bộ phận dùng
Thân rễ có màu nâu hay nâu hơi hang, đường kính 2-5cm, dài 4-10cm, mặt
ngoài gồ ghề, chỗ lồi, chỗ lõm, xung quanh còn dính ít lông màu vàng nâu, chất cứng khó cắt, khó bẻ gẫy khi khô, vị đắng ngọt Cẩu tích dễ bị mốc, cần bảo quản nơi khô ráo
*Tính vị, công năng
Cẩu tích có vị đắng ngọt, tính ẩm, có tác dụng bổ can thận, mạnh gân xương, trừ
phong thấp
Trang 17
*Tác dụng dược lý
Người ta đã nghiên cứu tác dụng chống viêm, ức chế chủ yếu giai đoạn viêm
cấp tính, cả tác dụng gây động dục kiểu Oestrogen Lông cẩu tích có tác dụng cầm máu có tính cơ học bằng cách hút huyết thanh của máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chóng đông
*Công dụng
Thân rễ Cẩu tích có tác dụng trị thấp khớp, tay chân nhức mỏi, đau lưng, đau
dây thần kinh, người già đi tiểu tiện nhiều lần, phụ nữ khí hư bạch đới Ngày dùng 10-20g dạng thuốc sắc Người bị bệnh thận hư nhiệt, nước tiểu vàng không nên dùng
Ngoài ra, thân rễ Cẩu tích còn có tác dụng chữa đau dây thần kinh hông, chứng
đi đái dắt, đi đái suốt không cầm được, phụ nữ có thai đau khắp lưng người
Lông vàng phủ xung quanh thân rễ Cẩu tích dùng đắp các vết thương, vết đứt
tay chân để cầm máu Các lông đó hút huyết thanh của máu và giúp cho sự tạo máu cục, làm cho máu chống đông
Theo một số tài liệu nước ngoài, thân rễ Cẩu tích được dùng làm thuốc bổ,
thuốc giun và trị đau lưng Những lông vàng hoặc có màu nâu nhạt phủ quanh thân rễ có tác dụng cầm máu nhanh, khi áp dụng thích hợp gây cầm máu mao mạch theo cơ chế cơ học
*Một số phương thuốc từ cây Cẩu tích
1 Chữa phong thấp, chân tay tê bại liệt không muốn cử động
Cẩu tích 20g, Ngưu tất 8g, Mộc qua 12g, Tang chi 8g, Tùng tiết 4g, Tục
đoạn 8g, Tần giao 12g, Quế chi 4g, Nước 600ml Sắc thành 250ml, chia 2 lần uống trong ngày
Trang 182 Chữa thận hư, sống lưng mỏi, đái luôn, vãi đái, bạch đới, di tinh
Dùng Cẩu tích 15g, Thục địa 12g, Đỗ trọng dây 10g, Dây tơ hang ( sao) 8g,
Kim anh 8g Sắc uống hàng ngày
3 Chữa phong thấp đau nhức xương, tay chân yếu mỏi hoặc bại liệt co quắp
Dùng Cẩu tích 15g, Tục đoạn 12g, Cốt toái bổ 12g, Đương quy 10g, Xuyên
khung 4g, Bạch chỉ 4g Sắc uống hàng ngày
4 Bổ thận
Can thận bất túc, đau mỏi thắt lưng tiểu tiện luôn, phụ nữ đới hạ Cẩu tích
16g, Ngưu tất, thỏ ty tử, sơn thù du, lộc giao (chưng), đỗ trọng mỗi thứ 12g, thục
địa 16g Sắc uống hàng ngày
5 Viêm cột sống tăng sinh có gai do can thận bất túc
Cẩu tích, bạch thược, thục địa, nhục thung dung, ngưu tất, cốt toái bổ mỗi thứ
15g; sơn thù du, câu kỷ tử, nữ trinh tử, đương quy mỗi thứ 10g; kê huyết đằng 30g; mộc hương 6g Sắc uống ngày 1 thang
6 Chữa đau lưng, mỏi gối do thận hư yếu
Cẩu tích 20g, rễ gối hạc 12g, củ mài 20g, bổ cốt toái 16g, dây đau xương 12g,
tỳ giải 16g, đỗ trọng 16g Thêm nước, sắc uống hàng ngày
7 Chữa đau nhức ngang lưng
Cẩu tích 15g, ngưu tất 10g, đỗ trọng 10g, mộc qua 6g, nước 600ml Sắc còn
200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày Có thể thêm 20ml rượu vào nước sắc khi uống thuốc, nếu người bệnh uống được rượu
1.1.4 Thành phần hóa học
Cẩu tích là một cây thuốc quý, tuy nhiên, trên thế giới hiện vẫn chưa có nhiều
công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của loài cây này được công bố Năm 1980, nhóm nghiên cứu của tác giả Murakami T [8] công bố sự phân lập và xác định cấu trúc của onitin (1) và ba dẫn xuất của nó là onitin-2’-O-β-D-
Trang 19glucopyranoside (2), onitin-2’-O-β-D-allopyranoside (3) và pterosin R (4) Đến năm 1982, nhóm nghiên cứu này tiếp tục công bố sự phân lập và xác định cấu trúc của hợp chất 28,22-Hopanolide (5) [11] Tiếp theo, các hợp chất β-sitosterol, stearic acid, daucosterol, protocatechuic acid, và axit caffeic tiếp tục được phân lập từ loài cẩu tích vào năm 1996 [14] Năm 2001, Zhang C và Wang Z công bố thêm hợp chất 5-hydroxymethyl-2-furancarboxaldehyde (6) từ loài này [15] Năm 2002, các nhà khoa học Hàn Quốc tìm ra hợp chất mới 2-O-(9Z,12Z-octadecadienoyl)-3-O-[α-D-galactopyranosyl-(1''-6')-O-β-D-galactopyranosyl] glycerol, và đặt tên là shinbarometin [5] Gần đây nhất, nhóm nghiên cứu của tác giả công bố thêm sự phân lập và xác định cấu trúc của các hợp chất alternariol (7), 24-methylene cycloartanol (8), (24R)-stigmast-4-en-3-one (9), (3R)-des-O-
Me lasiodiplodin, protocatechuic aldehyde từ cây cẩu tích [12]
Dưới đây chúng tôi trình bày cấu trúc hóa học của một số hợp chất điển hình đã được phân lập từ cây cẩu tích
OH
O R
Trang 201.2.1 Phổ hồng ngoại (Infrared spectroscopy)
Phổ hồng ngoại được xây dựng dựa vào sự khác nhau về dao động của các liên kết trong phân tử hợp chất dưới sự kính thích của tia hồng ngoại Mỗi kiểu liên kết sẽ đặc trưng bởi một vùng bước sóng khác nhau Chính vì vậy, dựa vào kết quả phổ hồng ngoại, người ta có thể xác định được các nhóm chức đặc trưng,
ví dụ như dao động hoá trị của nhóm OH tự do trong các nhóm hydroxyl là
3300-3450 cm -1, của nhóm cacbonyl C=O trong khoảng 1700-1750 cm-1, của nhóm ete C-O-C trong vùng 1020-1100 cm-1, của nhóm C=C trong khoảng 1630-1650
cm-1, N-H (3400-3500 cm-1), v.v… Đặc biệt vùng dưới 700 cm-1 được gọi là vùng vân tay được sử dụng để nhận dạng các hợp chất hữu cơ theo phương pháp
Trang 21so sánh trực tiếp Hiện nay, thông tin chung thu được từ phổ hồng ngoại không nhiều, mặc dù vậy lượng chất cần để thực hiện phép đo phổ này (nghiền và ép viên với KBr bằng máy ép thuỷ lực dưới áp suất khoảng 13-15 at) lại cần từ 2-3
mg và khó thu hồi lại Chính vì vậy, thông thường đối với các hợp chất thiên nhiên (lượng chất thu được ít) thì phổ hồng ngoại được đo sau khi đã hoàn chỉnh các phép đo khác như phổ cộng hưởng từ nhân hay phổ khối lượng
1.2.2 Phổ khối lượng (Mass Spectroscopy)
Phổ khối lượng được sử dụng khá phổ biến để xác định cấu trúc hoá học của các hợp chất hữu cơ Nguyên tắc chủ yếu của phương pháp phổ này là dựa vào sự phân mảnh ion của phân tử chất dưới sự bắn phá của chùm ion bên ngoài Ngoài ion phân tử, phổ MS còn cho các píc ion mảnh khác mà dựa vào đó người
ta có thể xác định được cơ chế phân mảnh và dựng lại được cấu trúc hoá học các hợp chất Hiện nay có rất nhiều loại phổ khối lượng Những phương pháp chủ yếu
được nêu ra dưới đây:
+ Phổ EI-MS (Electron Impact Ionization Mass Spectroscopy) dựa vào sự phân mảnh ion dưới tác dụng của chùm ion bắn phá với năng lượng khác nhau, phổ biến là 70 eV
+ Phổ ESI (Electron Spray Ionization Mass Spectroscopy) gọi là phổ phun
mù điện tử Phổ này được thực hiện với năng lượng bắn phá thấp hơn nhiều so với phổ EI-MS, do đó phổ thu được chủ yếu là pic ion phân tử và các píc đặc trưng cho sự phá vỡ các liên kết có mức năng lượng thấp, dễ bị phá vỡ
+ Phổ FAB (Fast Atom Bombardment Mass Spectroscopy) là phổ bắn phá nguyên tử nhanh với sự bắn phá nguyên tủ nhanh ở năng lượng thấp, do đó phổ thu được cũng dễ thu được pic ion phân tử
+ Phổ khối lượng phân giải cao (High Resolution Mass Spectroscopy), cho phép xác định píc ion phân tử hoặc ion mảnh với độ chính xác cao Kết quả phổ
Trang 22khối lượng phân giải cao cùng với kết quả phân tích nguyên tố sẽ cho phép khẳng
định chính xác công thức cộng của hợp chất hữu cơ
+ Ngoài ra, hiện nay người ta còn sử dụng kết hợp các phương pháp sắc ký kết hợp với khối phổ Phương pháp này đặc biệt hiệu quả khi sử dụng thư viện phổ để so sánh nhận dạng các hợp chất Có thể sử dụng GC-MS (sắc ký khí khối phổ) cho các hợp chất dễ bay hơi như tinh dầu, hay LC-MS (sắc ký lỏng-khối phổ) cho các hợp chất khác Các phương pháp kết hợp này còn đặc biệt hữu hiệ khi phân tích thành phần của hỗn hợp chất (nhất là phân tích thuốc trong ngành dược)
1.2.3 Phổ cộng hưởng từ hạt nhân (Nuclear Magnetic Resonance spectroscopy, NMR)
Phổ cộng hưởng từ hạt nhân là một phương pháp phổ hiện đại và hữu hiệu nhất hiên nay được dùng để xác định cấu trúc hoá học của các hợp chất hữu cơ nói chung và hợp chất thiên nhiên nói chung Với việc sử dụng kết hợp các kỹ thuật phổ NMR một chiều và hai chiều, các nhà nghiên cứu có thể xác định chính xác cấu trúc của hợp chất, kể cả cấu trúc lập thể của phân tử Nguyên lý chung của các phương pháp phổ NMR (phổ proton và cacbon) là sự cộng hưởng khác nhau của các hạt nhân từ (1H, và 13C) dưới tác dụng của từ trường ngoài Sự cộng hưởng khác nhau này được biểu diễn bằng độ dịch chuyển hoá học (chemical shift) Ngoài ra, đặc trưng của phân tử còn được xác định dựa vào tương tác spin giữa các hạt nhân từ với nhau (spin coupling)
a) Phổ 1H-NMR
Trong phổ 1H-NMR, độ dịch chuyển hoá học (δ) của các proton được xác
định trong thang ppm từ 0 ppm đến 14 ppm tuỳ thuộc vào mức độ lai hoá của nguyên tử cũng như đặc trưng riêng của từng phân tử Mỗi loại proton cộng hưởng ở một trường khác nhau và vì vậy chúng được biểu diễn bằng một độ dịch
Trang 23chuyển hoá học khác nhau Dựa vào những đặc trưng của độ dịch chuyển hoá học cũng như tương tác spin coupling mà người ta có thể xác định được cấu trúc hoá học của hợp chất
b) Phổ 13C-NMR
Phổ này cho tín hiệu vạch phổ của cacbon Mỗi nguyên tử cacbon sẽ cộng hưởng ở một trường khác nhau và cho một tín hiệu phổ khác nhau Thang đo cho phổ 13C-NMR cũng được tính bằng ppm và với dải thang đo rộng hơn so với phổ proton (từ 0 ppm đến 240 ppm)
c) Phổ DEPT (Distortionless Enhancement by Polarisation Transfer)
Phổ này cho ta những tín hiệu phổ phân loại các loại cacbon khác nhau Trên các phổ DEPT, tín hiệu của cacbon bậc bốn biến mất Tín hiệu phổ của CH
và CH3 nằm về một phía và của CH2 về một phía trên phổ DEPT 135o Còn trên phổ DEPT 90o thì chỉ xuất hiện tín hiệu phổ của các CH
d) Phổ 2D-NMR
Đây là các kỹ thuật phổ hai chiều, cho phép xác định các tương tác của các hạt nhân từ của phân tử trong không gian hai chiều Một số kỹ thuật chủ yếu thường được sử dụng như sau:
+ Phổ HMQC: (Heteronuclear Multiple Quantum Coherence)
Các tương tác trực tiếp H-C được xác định nhờ vào cac tương tác trên phổ này Trên phổ, một trục là phổ 1H-NMR còn trục kia là 13C-NMR Các tương tác HMQC nằm trên đỉnh các ô vuông trên phổ
+ Phổ 1H-1H COSY (HOMOCOSY) 1H-1H Chemical Shift Correlation Spectroscopy
Phổ này biểu diễn các tương tác H-H, chủ yếu của các proton đính với cacbon liền kề nhau Chính nhờ phổ này mà các phần của phân tử được nối ghép lại với nhau
Trang 24+ Phổ HMBC (Heteronuclear Multiple Bond Connectivity)
Đây là phổ biểu diễn các tương tác xa của H và C trong phân tử Nhờ vào các tương tác trên phổ này mà từng phần của phân tử cũng như toàn bộ phân tử
được xác định về cấu trúc
+ Phổ NOESY (Nucler Overhauser Effect Spectroscopy)
Phổ này biểu diễn các tương tác xa trong không gian của các proton không
kể đến các liên kết mà chỉ tính đến khoảng cách nhất định trong không gian Dựa vào kết quả phổ này, có thể xác định được cấu trúc không gian của phân tử
Người ta còn sử dụng hiệu ứng NOE bằng kỹ thuật phổ NOE defferences
để xác định cấu trúc không gian của phân tử Bằng việc đưa vào một xung đúng bằng từ trường cộng hưởng của một proton xác định thì các proton có cùng phía
về không gian cũng như gần nhau về mặt không gian sẽ cộng hưởng mạnh hơn và cho tín hiệu phổ với cường độ mạnh hơn
Ngoài ra, ngày nay người ta còn sử dụng nhiều kỹ thuật phổ hai chiều rất hiện đại khác ví dụ như kỹ thuật xoá tương tác trên các phổ nhất định (decoupling), ví dụ như trên phổ proton, xoá tương tác của một proton nào đó xác
định có thể xác định được vị trí của các proton bên cạnh v.v…
Ngoài các phương pháp phổ nêu trên, trên thế giới, người ta còn sử dụng phổ X-RAY (nhiễu xạ Rơngen) để xác định cấu trúc không gian của toàn bộ phân tử Tuy nhiên phạm vi sử dụng của phổ này rất hạn chế, bởi vì yêu cầu tiên quyết là cần phải có đơn tinh thể Đây là một điều kiện không phổ biến đối với các hợp chất hữu cơ
Như trên đã đề cập, ngoài việc sử dụng các loại phổ, người ta còn phải sử dụng kết hợp với các chuyển hoá hoá học cũng như các phương pháp phân tích so sánh kết hợp Đặc biệt đối với các phân tử nhiều mạch nhánh dài, tín hiệu phổ NMR bị chồng lấp nhiều khó xác định chính xác được chiều dài các mạch, cũng
Trang 25như đối với các phân tử có các đơn vị đường thì việc xác định chính xác loại
đường cũng như cấu hình đường thông thường phải sự dụng phương pháp thuỷ phân rồi xác định bằng phương pháp so sánh bằng LC-MS hoặc GC-MS với các
đường chuẩn dự kiến
Trang 26Mẫu tiêu bản được lưu giữ tại Viện Hoá học các Hợp chất Thiên nhiên, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.2 Phương pháp xử lý mẫu thực vật
Mẫu thực vật gốc và rễ thu hái về được rửa sạch, cắt nhỏ, sấy khô ở
40-500C, sau đó đem nghiền thành bột và ngâm chiết ở nhiệt độ phòng 4 lần với các dung môi có độ phân cực tăng dần Các dịch chiết tương ứng được lọc qua giấy
Trang 27lọc, gộp lại và cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu được cặn chiết và các cặn chiết này được tiến hành nghiên cứu về hoá học và hoạt tính sinh học
2 Sắc ký lớp mỏng điều chế
Sắc ký lớp mỏng điều chế thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn Silica gel 60G
F254 (Merck, ký hiệu 105875), phát hiện vệt chất bằng đèn tử ngoại hai bước sóng
254 nm và 368 nm, hoặc cắt rìa bản mỏng để phun thuốc thử là dung dịch H2SO4
10%, hơ nóng để phát hiện vệt chất, ghép lại bản mỏng như cũ để xác định vùng chất, sau đó cạo lớp Silica gel có chất, giải hấp phụ bằng dung môi thích hợp
3 Sắc ký cột (CC)
Sắc ký cột được tiến hành với chất hấp phụ là Silica gel pha thường và pha
đảo Silica gel pha thường có cỡ hạt là 0,040-0,063 mm (240-430 mesh) Silica gel pha đảo ODS hoặc YMC (30-50 àm, FuJisilisa Chemical Ltd.)
2.4 Phương pháp xác định cấu trúc hoá học các hợp chất
Trang 283 Phổ khối lượng (ESI-MS)
Phổ khối lượng phun mù điện tử (Electron Spray Ionization mass spectra)
được đo trên máy AGILENT 1100 LC-MSD Trap
4 Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR)
Phổ cộng hưởng từ nhân (NMR): 1H-NMR (500 MHz) và 13C-NMR (125 MHz) được đo trên máy Bruker AM500 FT-NMR Spectrometer
Trang 29Chương 3 Phần thực nghiệm
3.1 Dụng cụ, thiết bị và hoá chất
a Dụng cụ và thiết bị chiết
Các dụng cụ và thiết bị dung cho tách chiết và tinh chế chất sạch được sử dụng
b Dụng cụ thiết bị xác định cấu trúc
+ Máy cộng hưởng từ hạt nhân NMR AM500 FT–NMR Spectro–meter
+ Máy sắc ký lỏng cao áp ghép nối khối phổ ( ESI ) AGILENT 1100 LC–
MSD Trap spectrometer
+ Thiết bị đo điểm nóng chảy Kofler micro–hostage
+ Thiết bị đo độ quay cực JASCO
Trang 30- Dung môi chạy cột: dung môi được sử dụng chạy cột là n-hexan, etylaxetat,
metanol, clorofoc, Tất cả các dung môi chạy sắc ký đều được cất lại và làm khan trước khi sử dụng
- Phát hiện vệt chất: đèn UV 254 nm và 368nm, thuốc thử xerisunphat +
H2SO4 hơ nóng từ từ đến khi hiện màu
* Thiết bị
- Điểm chảy: được đo trên máy BOTIUS (Heiztisch Mikroskop) của Đức
- Phổ khối ion hoá bụi electron ESI-MS: được đo trên máy Thermo Finnigan LCQ Avantage spectrometer
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1H-(500MHZ), 13H-(125MHZ) và DEPT được ghi trên máy Bruker AM500-FT-NMR
3.2 Chiết tách và phân lập các hợp chất
Mẫu Cẩu tích khô (10kg) được xay nhỏ, sau đó chiết với methanol ba lần, mỗi
lần 72 giờ Các dịch chiết metanol được gộp lại và cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu 390 gam dịch cô MeOH Dịch cô này được hoà tan vào 05 lít nước cất sau đó được chiết lần lượt bằng n-hexan, cloroform, và BuOH (mỗi lần 05 lit) thu
được các cặn dịch tương ứng: hexan (80 g), cloroform (150 g), BuOH (80 g) và nước (80 g).Từ dịch chiết n-butanol, bằng các phương pháp sắc ký kết hợp giải cột silicagel pha thường sử dụng dung môi là clorofom:metanol là 2:1, sau đó sử dụng cột MC-R18 với dung môi là metanol:nước tỉ lệ 1:1 thu được hợp chất 1
Trang 31(20mg) và hợp chất 2 (20 mg) Sau đó kiểm tra lại bằng sắc kí TLC và gom các phân đoạn
Sơ đồ chiết phân đoạn và phân lập các hợp chất 1 và 2 từ loài Cibotium
Bổ sung CHCl 3
Lớp nước
lớp nước Lớp nước
Hợp chất
1
Hợp chất
2
Trang 32CC3C (3 g)
CC3D (4 g)
CC3E (7 g)
CC3F (7 g)
Silica gel CC n-Hexan/Axeton 3/1
CC3C1
(0,5 g)
CC3C2 (1 g)
CC3C3 (0,4 g)
CC3C4 (0,4 g)
CC3C5 (0,7 g)
YMC RP-18 CC MeOH/H 2 O 15/1
Trang 33Cặn chiết clorofooc được tiến hành phân tách thô trên sắc ký cột silicagel pha thường rửa giải bằng các thang nồng độ tăng dần axeton trong n-hexan (từ 100/1, 50/1, 25/1, 10/1 đến 1/10) thu được 05 phân đoạn nhỏ hơn kí hiệu là CC1 (20 g), CC2 (30 g), CC3 (30 g), CC4 (40 g) và CC5 (30 g)
Phân đoạn CC3 (30g) được tiến hành phân tách trên sắc ký cột silicagel pha thường với hệ dung môi rửa giải hexan/axeton 3/1 thu được 6 phân đoạn nhỏ hơn kí hiệu là CC3A-CC3F Phân đoạn nhỏ CC3C (3 g) được tiếp tục phân tách trên sắc ký cột silica gel pha đảo với hệ dung môi rửa giải là MeOH/H2O 15/1 thu được 5 phân đoạn nhỏ hơn ký hiệu là CC3C1-CC3C5 Tiến hành tinh chế phân đoạn nhỏ CC3C3 (0,4 g) bằng sắc ký cột silica gel pha thường, rửa giải bằng hệ dung môi axeton/diclometan/nước 1,4/1/0,7 thu được các hợp chất sạch
3 (35 mg, chất dầu không màu) và 4 (20 mg, chất bột màu trắng)
3.3 Hằng số vật lý và dữ kiện phổ của các hợp chất
3.3.1.Hợp chất 1: 1-O-β hexadecanoyl)amido]-4,8-octadecadiene-1,3-diol
-D-glucopyranosyl-(2S,3R,4E,8Z)-2-[(2R-hydroxy-Chất bột màu trắng, phổ khối lượng ESI-MS tại m/z 714,3 [M+H]+, 696,3 [M-H2O+H]+, tương ứng với công thức phân tử C40H75NO9, M = 713
1H-NMR (500Hz, CD3OD), δ (ppm): 4,11 (1H, dd, J = 10,0, 6,0 Hz, Ha-1), 3,71 (1H, dd, J = 10,0, 4,0 Hz, Hb-1), 3,99 (1H, m, H-2), 4,14 (1H, m, H-3), 5,47 (1H, dd, J = 15,5, 7,3 Hz, H-4), 5,73 (1H, m, H-5), 2,07 (2H, m, H-6), 2,11 (2H,
m, H-7), 5,36 (1H, t, J = 5,2 Hz, H-8), 5,36 (1H, t, J = 5,2 Hz, H-9), 2,05 (2H,
m, H-10), 1,28 (36H, m, H-11 đến H-17 và H-4’ đến H-15’), 0,89 (6H, t, J = 7,0
Hz, H-18 và H-16’), 3,99 (1H, m, H-2’), 1,70 (1H, m, H -3’), 1,53 (1H, m, H
Trang 34-3’), 4,26 (1H, d, J = 8,0 Hz, H-1”), 3,19 (1H, dd, J = 9,0, 8,0 Hz, H-2”), 3,34
(1H, t, J = 9,0 Hz, H-3”), 3,29 (1H, m, H-4”), 3,28 (1H, m, H-5”), 3,85 (1H, dd,
J = 12,0, 3,0 Hz, Ha-6”) và 3,67 (1H, dd, J = 12,0, 5,0 Hz, Hb-6”)
13C-NMR (125Hz, CD3OD), δ (ppm): 69,72 1), 54,60 2), 72,82 3), 129,94 (C-4), 134,33 (C-5), 33,66 (C-6), 27,87 (C-7), 131,32 (C-8), 131,35 (C-9), 28,27 (C-10), 26,22, 30,43-30,86 (C-11 đến C-15), 33,08 (C-16), 23,74 (C-17), 14,49 (C-18), 177,20 (C-1’), 73,04 (C-2’), 35,85 (C-3’), 26,22, 30,43-30,86 (C-4’ đến C-13’), 33,08 (C-14’), 23,74 (C-15’), 14,49 (C-16’), 104,68 (C-1”), 74,96 (C-2”), 77,87 (C-3”), 71,53 (C-4”), 77,94 (C-5”) và 62,65 (C-6”)
3.3.2 Hợp chất 2: Corchoionoside C
Chất bột màu trắng, phổ khối lượng ESI-MS: m/z 409 [M + Na]+, 385 [M - H]-, C19H30O8 (M = 386)
1H-NMR (500Hz, CD3OD), δ (ppm): 2,62 (1H, d, J = 17 Hz, Ha-2), 2,19 (1H, d, J = 17 Hz, Hb-2), 5,89 (1H, s, H-4), 6,00 (1H, d, J = 15,5 Hz, H-7), 5,75
(1H, dd, J = 15,5 và 7,0 Hz, 8), 4,55 1H, m, 9), 1,32 (3H, d, J = 6,5 Hz,
H-10), 1,06 (3H, s, H-11), 1,04 (3H, s, H-12), 1,96 (3H, s, H-13), 4,29 (1H, d, J =
7,5 Hz, H-1’), 3,21 (1H, m, H-2’), 3,30 (1H, H-3’), 3,29 (1H, H-4’), 3,18 (1H, H-5’), 3,87 (1H, dd, J = 12,0 và 6,0 Hz, Ha-6’) và 3,65 (1H, dd, J = 12,0 và 6,0
Hz, Hb-6’)
13C-NMR (125Hz, CD3OD), δ (ppm): 42,43 1), 50,77 2), 201,26 3), 127,13 (C-4), 167,09 (C-5), 80,02 (C-6), 133,77 (C-7), 133,72 (C-8), 74,65 (C-9), 22,24 (C-10), 23,47 (C-11), 24,70 (C-12), 19,55 (C-13), 101,27 (C-1’), 74,97 (C-2’), 78,38 (C-3’), 71,70 (C-4’), 78,21 (C-5’) và 62,84 (C-6’)
Trang 35(C-3.3.3 Hîp chÊt 3: (2S)-1-O-(9Z,12Z-octadecadienoyl)-3-O-β-D
galactopyranosylglycerol
Chất dầu không màu
ESI-MS m/z 515 [M-H]-, 338,9 [M-Galactose-CH2-H]-, 324,9 Galactose-2CH2-H]- vµ 310,9 [M-Galactose-3CH2-H]- C27H48O9 (M = 516)
[M-1H-NMR (500Hz, CD3OD), δ (ppm): Glycerol: 3,82 (dd, J = 10,5, 5,0 Hz,
Ha-1), 3,57 (dd, J = 10,5, 4,6 Hz, Hb-1), 3,73 (H-2), 4,06 (H-3), Galactose: 4,14 (d, J = 7,5 Hz, H-1′), 3,39-3,45 m, H-2′), 3,39-3,45 (m, H-3′), 3,90 (m, H-4′),
3,39-3,45 (m, H-5′), 3,65/3,22 (m, H-6′), 9,12-octadecadienoyl: 2,26 (t, J = 7,5
Hz, H-2′′), 1,53 (m, H-3′′), 1,23 (m, H-4′′- H-7′′, H-15′′), 1,97 (m, H-8′′), 5,31 (m, H-9′′, H-10′′, H-12′′, H-13′′), 2,69 (t, J = 6,1 Hz, H-11′′), 1,97 (m, H-14′′), 1,23 (m, H-16′′), 1,23 (m, H-17′′) vµ 0,82 (t, J = 7,0 Hz, H-18′′)
5,20-13C-NMR (125Hz, CD3OD), δ (ppm): Glycerol: 66,54 (C-1), 69,60 (C-2),
71,86 (C-3), Galactose: 105,27 (C-1′), 72,53 (C-2′), 74,84 (C-3′), 70,22 (C-4′),
76,71 (C-5′), 62,43 (C-6′), 9,12-octadecadienoyl: 175,39 (C-1′′), 34,90 (C-2′′), 25,95 (C-3′′), 30,17, 30,18, 30,28, 30,44, 30,69 (C-4′′- C-7′′, C-15′′), 28,14 (C-8′′), 129,02, 129,08, 130,85, 130,91 (C-9′′, C-10′′, C-12′′, C-13′′), 26,52 (C-11′′), 28,14 (C-14′′), 32,63 (C-16′′), 23,60 (C-17′′) vµ 14,44 (C-18′′)
Trang 363.3.4 Hợp chất 4: (2S)-1-O-palmitoyl-3-O-β-D-galactopyranosyl-glycerol
Chất dầu khụng màu
ESI-MS m/z 515.1 [M+Na]+, 475.2 [M-H2O+H]+, 331.0 [M-Galactose+H]+
13C-NMR (125Hz, CD3OD), δ (ppm): Glycerol: 66,54 (C-1), 70,23 (C-2),
71,86 (C-3), Galactose: 105,28 (C-1′), 72,54 (C-2′), 74,81 (C-3′), 69,60 (C-4′), 76,73 (C-5′), 62,44 (C-6′), Palmitoyl: 175,43 (C-1′′), 34,93 (C-2′′), 25,97 (C-3′′), 30,20- 30,77 (C-4′′ - C-13′′), 33,05 (C-14′′), 23,71 (C-15′′) và 14,45 (C-16′′)
III.3.5 Hợp chất 5: 3-[(6-O-protocatechuoyl-β
-D-glucopyranosyloxy)methyl]-2(5H)-furanone (cibotiumbaroside A)8
Chất dầu khụng màu
ESI-MS m/z 435 [M+Na]+, 411 [M-H]-, 447 [M+2H2O-H]-
HR-ESI-MS m/z 411,0910 [M − H]− (tính toán lý thuyết cho công thức
C18H19O11, 411,0927) tương ứng với công thức phân tử C18H20O11,
Trang 37(C-122,61 (C-1”’), 117,16 (C-2”’), 146,30 (C-3”’), 151,91 (C-4”’), 116,07 (C-5”’), 123,90 (C-6”’) vµ 168,26 (C-7”’)
Trang 38chương 4 Kết quả và thảo luận
4.1 Thu hái và xác định tên khoa học cây Cibotium barometz
Đặc điểm nhận dạng
Hình 4.1 Hình ảnh cây Cẩu tích
Cây có thân thường yếu, nhưng cũng có thể cao 2,5- 3m Lá lớn có cuống dài
1- 2m, màu nâu nâu, ở phía gốc có vẩy hình dải rất dài màu vàng và bang phủ dày đặc Phiến dài tới 3m, rộng đến 60 -80cm Các lá lông chim ở phía dưới hình trái xoan - ngọn giáo dài 30 - 60 cm Lá lông chim bậc hai hình dải - ngọn giáo, nhọn lại chia thành nhiều đoạn thuôn, hẹp; Mặt trên lá màu lục sẫm, mặt dưới màu lục lơ; trục lá không lông; các gân của các lá chét bậc hai có lông len ở túi bào tử 1 hay 2, có khi 3 hay 4 ở về mỗi bên của gân giữa bậc 3; các túi màu nâu nâu, có hai môi không đều nhau; cái ở ngoài hình cầu, cái ở trong hẹp hơn thuôn
Trang 394.2 Điều chế các phần chiết và tinh chế các hợp chất
Mẫu cẩu tích khô (10 kg) được xay nhỏ, sau đó chiết với methanol ba lần, mỗi
lần 72 giờ Các dịch chiết metanol được gộp lại và cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu 390 gam dịch cô MeOH Dịch cô này được hoà tan vào 05 lít nước cất sau đó được chiết lần lượt bằng n-hexan, cloroform, và BuOH (mỗi lần 05 lit) thu
được các cặn dịch tương ứng: hexan (80 g), cloroform (150 g), BuOH (80 g) và nước (80 g) Bằng các phương pháp sắc ký kết hợp, hợp chất 1 và 2 được phân lập
-D-glucopyranosyl-(2S,3R,4E,8Z)-2-Hợp chất 1 được phân lập dưới dạng chất bột vô định hình màu trắng Phổ
1H-NMR của nó rất đặc trưng cho một hợp chất cerebroside với các tín hiệu đặc
Trang 40trưng của một đơn vị đường và các proton metilen mạch dài Sự xuất hiện của tín hiệu proton anome tại δ 4,26 với giá trị hằng số tương tác lớn (J = 8.0 Hz) khẳng
định cho sự xuất hiện của một đơn vị đường β Sự xuất hiện của hai nối đôi thế 2
vị trí được xác định bởi các tín hiệu cộng hưởng tại δ 5,47 (1H, dd, J = 15,5 và
7,3 Hz, H-4)/5,73 (1H, m, H-5) và 5.36 (2H, t, J = 5.2 Hz, H-8 và H-9) Ngoài
ra, các tín hiệu cộng hưởng tại δ 4,11 (1H, dd, J = 10,0 và 6,0 Hz, Ha-1)/3,71 (1H, dd, J = 10,0 và 4,0 Hz, Hb-1), 4,14 (1H, m, H-3) và 3,99 (1H, m, H-2’) khẳng định lần lượt cho sự xuất hiện của 01 nhóm oximetilen và 02 nhóm oximetin Tín hiệu multiplet tại δ 1,28 (36 H) khẳng định sự tồn tại của các cacbon metilen mạch dài Sự có mặt của hai nhóm metyl ở đầu mạch được xác
định bởi tín hiệu cộng hưởng tại 0,89 (6H, t, J = 7,0 Hz, H-18 và H-16’)
Hình 4.3.1.a Phổ 1 H-NMR của hợp chất 1