và cuối cùng là tính toán kết quả của những nghiệp vụ kinh tế diễn ra trong thời kỳ bằng cách lập các báo cáo tài chính để cho ban giám đốc thấyđược kết quả hoạt động của tổ chức và tình
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
THUỘC ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP Hổ CHÍ MINH
Thạc S ĩB Ù I VÃN DƯƠNG Khoa KẼ TOÁN - KIEM t o á n
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
THUÔC ĐAI HOC QUỐC GIA TP Hồ CHÍ MINH
Khoa KẾ TOÁN - KIEM toán
Trang 3LỜI GIỚI THIỆU
Kê toán là một bộ phận quan trọng của hệ công cụ quản
lý kinh tế tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay Nhằm giúp bạn đọc và sinh viên các trường khối kinh tế thuận lợi hơn trong việc nghiên cứu môn học k ế toán và công tác k ế toán trong các doanh nghiệp, tôi xin giới thiệu quyển sách “Lý thuyết k ế toán” được biên soạn theo chế độ k ế toán mới, được áp dụng thống nhất cho các doanh nghiệp của bộ tài chính.
Quyển sách dày 266 trang chia ra thành 9 chương với những nội dung phong phú sẽ giúp người đọc nắm vững các nguyên tắc cơ bản của k ế toán và dễ dàng tiếp cận với các phương pháp, đặc điểm quy trình công tác k ế toán tại các doanh nghiệp sản xuất hay lưu, thông phân phối và dịch vụ Ngoài ra quyển sách còn có nhiều bài tập và bài giải bổ ích,
cớ tác dụng nâng cao khả năng thực hành k ế toán của bạn đọc.
Chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp, cán bộ k ế toán tại các doanh nghiệp và sinh viên ở các trường Đại học, Trung học thuộc khối kinh tế, tài chính sẽ thu được những kiến thức bổ ích cho công việc của mình Do thời gian và khả năng có hạri, cuốn sách không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định, chúng tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của bạn đọc để lần xuất bản sau tốt hơn.
Thạc SĩBÙI VĂN DƯƠNG
Trang 4Chương III : Bảng cân đôi k ế toán & báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh 40Chương IV : Tài khoản & Ghi sổ kép 56Chương V : K ế toán các quá trình kinh doanh chủ yếu 88Chương VI : Các phương pháp kiểm tra số liệu
Trang 5CHƯƠNG INHỮNG NGUYÊN TẮC c ơ BẢN
CỦA KỂ TOÁN
I KHỊÁI NỆM KẾ TOÁN VÀ s ự PHÁT TRIEN của
KẾ TOÁN
1 Khái niêm về k ế toán
Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức và
tự giác Bất cứ ở đâu và lúc nào con người cũng luôn ý thức dược mục đích công việc mình làm, cũng hiểu được kết quả và hao phí cho mòt hoạt động cụ thể và luôn tích lũy kinh nghiệm nhằm rút ra những bài học bổ ích
Đứng về phương diện kinh tế, ai làm việc gì cũng đều nhận được tiền thù lao và sẽ sử dụng số tiền này
để mua những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày Dù không mở sổ sách để theo dõi những số thu, chi này chúng ta vẫn cần biết đã thu vào bao nhiêu, chi
ra bao nhiêu và còn lại bao nhiêu Nếu số chi lớn hơn
số thu chúng ta phải nghĩ cách để tăng thu hay giảm chi Ngược lại nếu số thu lớn hơn số chi, chúng ta sẽ phải nghĩ cách sử dụng số thặng dư sao cho có hiệu quả nhất Chính vì thế mà chúng ta cần phải có thông tin tài chính để làm căn bản cho các quyết định
Trang 6Tương tự như trên, các nhà quản lý của một doanh nghiệp hay của một cơ quan nhà nước cũng cân có những thông tin về tình trạng tài chính của doanh nghiệp hay
cơ quan của họ Nếu số thu lớn hơn số chi họ muốn biết
số thặng dư đá được dùng để làm gì Còn nếu số chi lớn hơn, họ muốn biết tại sao lại có số thiếu hụt Vậy các dữ kiện tài chính này ở đâu mà có ? Câu trả lời ở các sổ sách kế toán do doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước giữ
Các sổ sách kế toán này cần phải cung cấp đây đủ các dữ kiện cần thiết về tình trạng tài chính của doanh nghiệp
Vì thế chúng ta có thể nói mục đích căn bản nhất
của kế toán là cung cấp các thông tin vé tài chính của
một tổ chức cho những người phải ra các quyết định
điêu hành hoạt động của tổ chức đó
Muốn cung cấp được các dữ kiện tài chính này, kế toán phải - thực hiện một số còng việc : phải ghi nhận
các Sự việc xảy ra cho tổ chức như là việc bán hàng
cho khách hàng ; mua hàng từ một nhà cung cấp ; trả lương cho nhân viên Những sự việc này gọi là nghiệp
vụ kinh tế Sau khi được ghi nhận vào sổ sách, các nghiệp vu kinh tế phát sinh sẽ được phân loại và hệ thống hóa theo từng loại nghiệp Vụ Tức là chúng ta sẽ tập trung tất cả các nghiệp vụ như là bán hàng vào với nhau ; Trả lương nhân viên vào với nhau theo trìn h
tự thời gian phát sinh Sau khi tất cả các nghiệp vụ của một kỳ hoạt động đã được ghi nhận và phân loại kế toán
Trang 7sẽ tồng hợp những nghiệp vụ này lại Tức là tính ra tổng số hàng bán, tổng số hàng mua, tổng số lương trả cho nhân viên và cuối cùng là tính toán kết quả của những nghiệp vụ kinh tế diễn ra trong thời kỳ bằng cách lập các báo cáo tài chính để cho ban giám đốc thấyđược kết quả hoạt động của tổ chức và tình hình tàichính của tổ chức này.
Chính vì kế toán viên phải thực hiện những công
việc mà ta có thể phát biểu "Kế toán là một khoa học, liên quan đến việc ghi nhận ; phần loại ; tổng hợp và
tính toán kết quả của các hoạt động kinh tế tài chính
của môt tổ chức giúp ban giám đốc có thể căn cứ vào
đó mà ra các quyết định quản lý"
Khái niệm này được phát biểu trên cơ sở nhấn mạnh đến công việc của những người làm công tác kế toán và đến việc sử dụng thông tin do kế toán cung cấp
Trên một phương diện khác kế toán được xem là những công việc tính toán và ghi chép bằng con số để phản ảnh và kiểm tra một cách toàn diện, liên tục các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm xác định sự tồn tại và hiệu quả sử dụng các loại tài sản của từng đơn
vị kinh tế
2 Sự phát triển của k ế toán
Sự hình thành và phát triển của khoa học kế toán gắn liền với sự hình thành và phát triển của đời sống kinh tế, xã hội loài người từ thấp lên cao mà khởi điểm
là nền sản xuất hàng hóa Trong giai đoạn này công việc
Trang 8sản xuất không chỉ nhằm tự túc trong một gia đình hay
bộ tòc mà xã hội đã CQ sự trao đổi sản phẩm giữa những
người sản xuất với nhau từ đó yêu cầu theo dõi, tínhtoán hiệu quả của những hoạt động này đã được đặt ranhằm mục đích khai thác một cách tốt nhất năng lựcsản xuất hiện có Tức là phải thực hiện còng tác kế toán
để cung cấp các thông tin cần thiết
•
Tuy nhiên khi trìn h đò sản xuất còn thô sơ, khối lượng sản phẩm thu được trong sản xuất không nhiều ; nghiệp vụ trao đổi giản đơn thì người chủ sản xuất chỉ cần trí nhớ hoặc dùng các phương pháp ghi nhận đơn giản là có thể nhận thức dược tình hình cũng như kết quả của hoạt động kinh tế
Khi nên kinh tế xã hòi phát triển ở trìn h đò cao hơn, các hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra nhiều hơn thì phải dùng đến mòt vài quyển sổ để ghi chép diên biến của các hoạt động kinh tế Tuy nhiên nếu công việc không có gì phức tạp lắm thì người chủ sản xuất
có thể vừa là người tổ chức sản xuất vừa thực hiện luôn việc ghi chép sổ sách và tính toán kết quả tài chính (thường là ghi sổ đơn)
Khi trìn h đò xã hội hóa của lực lượng sản xuất và
sự phân công lao đòng đạt đến đỉưh cao thì người chủ
cơ sở sản xuất kinh doanh không thể là người sản xuất, vừa là người bán hàng, là thủ kho, thủ quỹ vừa ghi chép
sổ sách để theo dõi tình hình và tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh Khi đó nhất thiết phải có cac bồ phận thửa hành thực hiện các công việc có tính chất nghiệp
vụ kỹ thuật chuyên môn như :
Trang 9— Bộ phận kinh doanh : tìm hiểu nhu cầu thị trường đề xuất mẫu mã mặt hàng, lập kế hoạch mua bán vật tư, sản phẩm, hàng hóa.
— Bồ phận kỹ thuật : nghiên cứu thiết kế mẫu
mã, xây dựng quy trình công nghệ, yêu cầu chất lượng, định mức hao phí lao đông, vật tư
- Bô phận sản xuất : tổ chức thực hiện các lênh
sản xuất theo đúng tiến độ, đúng yêu cầu chất lượng với
hao phí thấp nhất
- Bò phận kế toán : tổ chức huy động vốn, theo dõi tình hình và tính toán kết quả sản xuất kinh doanh ; ghi chép sổ sách và lập các báo cáo tài chính (ghi sổ kép)
Hoạt động của chủ cơ sở sản xuất kinh doanh lúc
đó là hoạt động quản lý thể hiện ở các chức năng : Xây dựng các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn có tính chất chiến lược ; Tổ chức thực hiện ; kiểm tra và ra các qụyết định điều hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình trên cơ sở những thông tin về tình hình thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh, các quyết định quản lý kể cả ảnh hưởng của những nhân tố bên ngoài đến thực tiễn hoạt động của cơ sở do các bộ phận chuyên môn cung cấp
II CÔNG TÁC KẾ TOÁN Ở ĐƠN VỊ KINH TẾ c ơ SỞ
Dưới góc độ kế toán mỗi doanh nghiệp được nhận thức và đối xử như là một tổ chức độc lập Đôc lập với chủ sở hữu và độc lập với các doanh nghiệp khác Các doanh nghiệp hoạt động với quy mô lớn hay nhỏ, thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước đêu
Trang 10phải thực hiện còng tác kế toán theo điều lệ tổ chức kế toán mà nhà nước đã quy định và đêu có nghĩa vụ như nhau đối với các khoản phải nộp cho nhà nước như thuế doanh thu hay thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lợi tức
Công tác kế toán ở các đơn vị kinh tế cơ sở (doanh nghiệp) bao gôm những công việc chủ yếu sau đây :
— Lập ra các bảng chứng từ gốc để chứng minh tính hợp pháp về sự hình thành và tình hình sử dụng vốn vào mục đích sản xuất kinh doanh Phân loại, xử lý chứng từ kịp thời và luân chuyển chứng từ đúng tuyến
để cung cấp thông tin cho quản lý
— Mở các loại sổ sách cần thiết để ghi chép theo dõi và tổng hợp tìn h hình huy động và sử dụng các loại tài sản phù hợp với đặc điểm vận động của tài sản trong từng giai đoạn sản xuất kinh doanh
— Lập các báo cáo để tổng hợp - Cân đối tình hình tài sản của doanh nghiệp sau từng thời kỳ hoạt động Tính kết quả tài chính (lãi, lố) và thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp trong vấn đê phân phối thu nhập
Những công việc trên có liên hệ chặt chẽ với nhau
và tạo thành quy trìn h còng tác kế toán Những đơn vị đâu tiên thực hiên đây đủ quy trình này gọi là đơn vị
kế toán độc lập Các đơn vị này nói chung phải trùng hợp với đơn vị kinh tế cơ sở - là đơn vị thực hiện đầy
đủ các giai đoạn sản xuất kinh doanh chủ yếu Từ thu mua nguyên vật liệu đến tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làm ra hay là mua bán hàng hóa
Trang 11Đối với đơn vị kinh tế cơ sở công tác kế toán giúp cho việc huy động và sử dụng có hiệu quả các loại tài sản, vật tư, lao động, vốn bằng tiền Đồng thời xác định các khoản chi phí, doanh thu và thu nhập trong toàn đơn vị cũng như riêng cho từng loại sản phẩm, hàng hóa, từng bô phận hạch toán nội bô Trên cơ sở kết quả thực tế đơn vị có thể phân tích đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh, xác định nguyên nhân của những tòn tại và những khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp là
cơ sở vững chắc cho người lãnh đạo đê ra những quyết định đúng đắn trong việc điều hành hoạt động của xí nghiệp
Đối với cấp trên, công tác kế toán ở đơn vị cơ sở
cũng chính là cơ sở cho việc kiểm tra tình hình quản
lý, sử dụng vốn vào hoạt đòng sản xuất kinh doanh, tình hình chấp hành luật pháp và chế độ quản lý kinh tế tài chính của nhà nước tại cơ sở là ngùôn số liệu đáng tin cậy để tổng hợp các hoạt đồng kinh tế theo từng ngành, từng địa phương và toàn bộ nền kinh tế
Ngoài ra các báo cáo tài chính của xí nghiệp cũng rất càn thiết đối với những nhà đầu tư hay ngân hàng hoặc nhà cung cấp vì khi cho vay chủ nợ muốn biết
số thực lãi mà người đi vay sẽ thu được và khả năng thanh toán nợ vay khi đáo hạn của doanh nghiệp
Trong việc cung cấp những dữ kiên kế toán can thiết phục vụ cho nhu cầu quản lý cần phải thấy rằng không thể có mòt dữ kiện kế toán nào dù tổng quát hay chi tiết theo nhiều mức đõ sẽ được ban giám đốc dùng
để xem xét trong mọi trường hợp Do đó kế toán phải sẵn sàng cung cấp các tài liệu cần thiết theo những nội
Trang 12dung mà ban giám đốc đòi hỏi Những thông tin này thường được đánh giá là những thòng tin xác đáng, thích hợp và có ý nghĩa.
Đối với các báo cáo tài chính mà đơn vị phải nộp cho các cơ quan cấp trên, các cơ quan chức năng cùa nhà nước, ngân hàng hay thông tin cho các cổ đông thì kế toán phải chú ý đến việc so sánh hợp lý và tính đông nhất của các dữ kiện kế toán Những đối tượng này phải dựa vào các báo cáo tài chính để thu thập tin tức nên kế toán phải áp dụng các phương pháp và thủ
tục soạn thảo các báo cáo theo những nguyền tắc thông
dụng để người đọc có thể so sánh các báo cáo tài chính
của những đơn vị khác nhaú hoặc so sánh các báo cáo của cùng đơn vị ở nhiều thời kỳ khác nhau Từ đó nắm được nhịp đô gia tăng lời thùần, tình trạng tài chính của doanh nghiệp và tin tưởng sự chính xác của các dữ kiên kế toán đã được trìn h bày
Có thể khái quát nhiệm vụ cung cấp thông tin của
kế toán như sau :
Trang 13III NHỮNG NGUYÊN TAC cơ b ả n của kế t o á n
Nguyên tắc cơ bản của kế toán là những nguyên tắc chung được thừa nhận trong công tác kế toán như : định giá các loại tài sản, ghi chép sổ sách, phương pháp soạn thảo các báa cáo tài chính kế toán Nhằm bảo đảm
sự dễ hiểu, đáng tin cậy và có thể so sánh của các thông tin kế toán
Những nguyên tắc này được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của những người thực hiện công tác kế toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của các cơ quan chức năng như bô tài chính, tổng cục thống kê, các chuyên gia kế toán Sau đó được mọi người thừa nhận như là một quy luật, môt trong những vấn đê có tình pháp lệnh của công tác kế toán thống kê và được triển khai áp dụng thống nhất ở tất cả các đơn vị kinh tế trong phạm
vi cả nước
Sau đây là những nguyên tắc chủ yếu :
1 N guyên tắc thước đo bằng đồng tiền
Kế toán phải dùng đông ngân hàng Việt Nam trong quá trình tính toán và ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và phải đặt giả thuyết là sức mua của đòng bạc có giá trị bên vững hoặc sự thay đổi về giá trị của tiền tệ theo giá câ ảnh hưởng không đáng kể đến tình trạng tài chính của doanh nghiệp Sự thay đổi về tình trạng tài chính của doanh nghiệp qua các năm quan trọng hơn giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp vào một thời điểm nào đó
Tuy nhiên khi có sự biến động lớn về giá cả trên thị trường thì kế toán phải dựa vào những quy định,
Trang 14hướng dẫn của nhà nước để tổ chức đánh giá lại các đối tượng tài sản có liên quan từ giá trị đã ghi sổ thành giá trị đương th ờ i' để làm tăng ý nghĩa của báo cáo tài chính kế toán.
2 N gu yên tắ c h oạt đ ộng liê n tục
Kế toán phải đặt giả thuyết là doanh nghiệp sẽ hoạt động liên tục trong một thời gian vô hạn định hay sẽ hoạt đồng cho đến khi nào các tài sản cố định hoàn toàn
bị hư hỏng và tấ t cả trách nhiệm cung cấp sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ của đơn vị đã được hoàn tất hoặc
ít nhất là không bị giải thể trong tương lai gần
Nguyên tắc này được vận dụng trong việc định giá các loại tài sản đang sử dụng trong doanh nghiệp Doanh nghiệp đang sử dụng cho nên chưa bán hoặc không thể bán được do đó giá trị của những tài sản này sẽ được tính toán và phản ảnh theo giá gốc - Tức là theo những
số tiền mà thực sự doanh nghiệp đã phải trả khi mua sắm hay xây dựng chứ không phải là giá có được khi bán ra trên thị trường Mặt khác giả thuyết về sự hoạt động lâu dài của doanh nghiệp còn là cơ sở cho các phương pháp tín h khấu hao để phân chia giá phí của các loại tài sản cố định vào chi phí hoạt đòng của doanh nghiệp theo thời gian sử dụng của nó
3 N guyên tắ c kỳ k ế toán
Hoạt động của doanh nghiệp là lâu dài và liên tục, nếu chờ cho tấ t cả các hoạt động sản xuất kinh doanh ngưng lại và mọi tài sản đêu được bán xong kế toán mới lập các báo cáo tài chính thì sẽ khòng có tác dụng gì
Trang 15trong việc điều hành hoạt động của ban giám đốc Đê kịp thời cung cấp các thông tin cần thiết cho việc quản
lý doanh nghiệp kế toán phải chia hoạt đòng lâu dài của đơn vị thành nhiều kỳ có độ dài về thời gian bằng nhau
để dễ dàng so sánh đánh giá và kiểm soát doanh thu, chi phí và lãi (lỗ) của từng kỳ
Nguyên tắc này dựa trên giả thuyết là hoạt động của đơn vị sẽ ngưng lại vào môt thời điểm nào đó để kế toán có thể lập các báo cáo có tính chất tổng kết tình hình hoạt động trong thời gian qua và cung cấp các thông tin về kết quả đạt được lúc cuối kỳ
Theo quy định, kỳ kế toán được tính theo năm dương lịch từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm Trong từng năm có thể phân thành các kỳ tạm thời như tháng, quý
Để đảm bảo ý nghĩa và tác dụng của các báo cáo tài chính kế toán, doanh thu được hưởng và chi phí được trừ của doanh nghiệp phải được xác định theo từng kỳ nhất định Nếu không chỉ tiêu lãi lỗ của các kỳ sẽ bị tính sai
Kế toán không được khóa sổ và lập báo cáo vào trước ngày kết thúc của từng kỳ kế toán
4 N guyên tắc thực t ế khách quan
Khi ghi chép phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào những giấy giờ hay sổ sách cần thiết kế toán phải ghi chép một cách khách quan theo đúng những sự việc thực tế đã diễn ra và có thể kiểm chứng lại được
Trang 165 N guyên tắc ghi nhận doanh th u được hưởng
Doanh thu được hưởng chỉ được ghi nhận khi đơn
vị đã hoàn thành trách nhiệm cung cấp sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ cho khách hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán Việc ghi nhận doanh thu được hưởng ở thời điểm bán hàng như trên sẽ cho mòt sự đo lường thực tế nhất vì :
— Khi đã giao hàng cho khách hàng thì doanh nghiệp đã thực hiện hầu hết những công việc cần thiết trong việc bán hàng Những vấn đê còn lại là không đáng kể
• — Vào thời điểm bán hàng, giá cả thanh toán đã được người bán và người mua thỏa thuận là mòt sự đo lường.khách quan doanh thu được hưởng và khi đó bên bán đã nhận được môt số tiền hoặc một khoản phải thu
6 N guyên tắc tương xứ ng giữa doanh th u và
ch i p h í
Tất cả các chi phí chi ra trong quá trình hoạt đông của doanh nghiệp đêu có mục đích cuối cùng là tạo ra doanh thu và lợi tức Tuy nhiên trong từng thời kỳ kế toán (tháng, quý, năm) doanh thu được hưởng phát sinh trên cơ sở những chi phí nào thì tổng công các chi phí
đó mới được coi là chi phí hoạt động trong kỳ, được khấu trừ ra khỏi doanh thu được hưởng trong kỳ thi xác định kết quả kinh doanh của kỳ kế toán Như vậy có thể có những chi phí phát sinh trong kỳ này nhưng không được coi là chi phí hoạt động trong kỳ vì nó liên quan đến doanh thu được hưởng ở kỳ sau như chi phí mua sắm,
Trang 17xây dựng tài sản cố định Ngược lại, cũng có những trường hợp thu tiền bán hàng diễn ra trước khi giao hàng hay cung cấp dịch vụ Trong trường hợp này kế toán phải coi như là một món nợ phải trả và không được coi là doanh thu cho đến khi nào việc giao hàng hay cung cấp dịch vụ đá được thực hiện.
7 Nguyên tắc nhất quán
Trong kế toán có nhiều trường hợp mà người ta có thể dùng nhiều cách khác nhau để ghi nhận một loại nghiệp vụ hoặc để làm một phép tính Thí dụ như : Phương pháp tính khấu hao tài sản cố định ; Tính giá trị hàng tồn kho cuối kỳ Mỗi phương pháp sẽ mang lại một con số khác nhau vệ chi phí và lời thúần Áp dụng phương pháp nào là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp vì tất cả các phương pháp đó đêu được công nhận là hợp lý Theo nguyên tắc này, khi đã chọn phương pháp nào thì kế toán phải áp dụng thống nhất phương pháp đó qua các năm để người đọc các báo cáo tài chính không bị nhầm lẫn và có thể so sánh hợp
lý được Tuy nhiên, không có nghĩa là kế toán không được thay đổi phương pháp đã chọn Nếu sự thay đổi về phương pháp đã chọn là hợp lý và cần thiết thì nên thay đổi nhưng phải cho người đọc tò báo cáo biết rằng
sự thay đổi đã được thực hiện và ảnh' hướng về mặt tài chính của sự thay đổi này đối với chỉ tiêu lời thúần
8 N guyên tắc thận trọng
Thận trọng là một đặc tính của công tác kế toán
vì mỗi một số liệu của kế toán đêu liên quan đến quỳên
Trang 18lợi và nghĩa vụ của nhiều phía khác nhau mà trong lĩnh vực kinh tế th ì có nhiều trường hợp không thể lường trước hết được từ đó đòi hỏi kế toán phải thận trọng, phải có những phương án dự phòng những khả năng xấu
có thể xảy ra trong tương lai nhất là đối với các hoạt động kéo dài hay có tín h lặp đi lặp lại như các khoản đâu tư chứng khoán, hàng tồn kho
Phương án dự phòng có thể thay đổi tùy theo từng hoạt động cụ thể nhưng nói chung đêu là ghi nhận một khoản 15 có thể phát sinh trong tương lai nhưng chưa chắc chắn bằng cách ghi tăng chi phí được trừ khi xác định vào lúc cuối năm Nói cách khác nguyên tắc này đòi hỏi kế toán phải lựa chọn giải pháp ít ảnh hưởng nhất đến vốn chủ sở hữu, việc ghi tăng vốn chủ sở hữu hay doanh thu phải dựa trên những chứng cứ chắc chắn còn việc ghi giảm vốn chủ sở hữu hay ghi tăng chi phí được trừ thì được ghi nhận ngay khi có dấu hiệu hoặc chứng cứ chưa chắc chắn
9 N guyên tắc cô n g khai
Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các hoạt động kinh
tế đã diễn ra trong kỳ đêu phải được phản ảnh đây đủ trong hệ thông báo cáo, phải giải trìn h rõ ràng các số liệu quan trọng và phải công bố công khai theo quy định của nhà nước
10 N guyên tắc th ự c chất
Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp bao gôm nhiêu loại khác với những giá trị lớn nhỏ khác nhau và có ảnh hưởng đáng
Trang 19kể hoặc không đáng kể đến doanh thu hay chi phí hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ kế toán.Theo nguyên tắc này thì kế toán có thể linh động giải quyết một số nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo hướng thiết thực đơn giản, dễ làm mà không bắt buộc phải bảo đảm yêu cầu của những nguyên tắc trên nếu ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đó đến các chỉ tiêu doanh thu, chi phí và lợi tức của doanh nghiệp' là không đáng kể.
Trang 20CHƯƠNG IIĐỐI TUỢNG - NHIỆM vụ
VÀ PHUƠNG PHÁP KẾ TOAN
I ĐỐI TƯỢNG CỦA KẾ TOÁN
Đối tượng chung của các môn khoa học kinh tế là quá trìn h tái sản xuất xã hội trong đó mỗi môn khoa học nghiên cứu mòt góc độ riêng Khác với các môn khoa học kinh tế khác, kế toán còn là công cụ phục vụ yêu cầu quản lý hoạt đông sản xuất kinh doanh ở các đơn
vị kinh tế cơ sở thông qua việc cung cấp các thòng tin
cần thiết cho ban giám đốc hay hòi đông quản trị Vì vậy đối tượng nghiên cứu của kế toán là "sự hình thành
và tình hình sử dụng các loại tài sản vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong môt đơn vị kinh tế cụ thể" nhằm quản lý và khai thác một cách tọt nhất các yếu tố sản xuất trong quá trìn h tái sản xuất xã hôi
1 S ự h ìn h thàn h tài sản của doanh n g h iệp
Tài sản của mòi doanh nghiộp bao gôm nhiều loại khác nhau như : Nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, dụng cụ, công cụ lao động, tiền mặt nhưng mỗi loại có một giới hạn nhất định phụ thuộc vào nhu cầu của doanh nghiệp đối với mỗi loại tài sản theo đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và ngùôn gốc hình thành của tài sản gọi là nguồn vốn Không có môt loại
Trang 21tài sản nào mà không có ngùôn gốc hình thành cho nên
về mặt tổng số ta có :
2 Tài sản = 2 Ngùôn vốnTài sản của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đêu được hình thành từ 2 ngùôn : vốn của chủ sở hữu và các món
và tài sản cố định
+ Tài sản lưu động là những tài sản thuộc quyền
sở hữu của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển thường là trong 1 năm hoặc
1 chu kỳ kinh doanh như vốn bằng tiền, đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho
+ Tài sản cố định là giá trị của các loại tài sản
cố định hữu hình, vô hình trong đó bao gồm cả tài sản cố định thuê ngoài dài hạn và các khoản dầu tư tài chính dài hạn, các khoản đầu tư xây dựng cơ bản Đặc điểm của loại tài sản này là không thể thu hồi trong một năm hoặc một chu
kỳ kinh doanh
Trang 22— Nợ phải trả : là giá trị của các loại vật tư, hàng hóa hay dịch vụ đã nhận của người bán hay người cung cấp mà doanh nghiệp chưa trả tiền hoặc là các khoản tiền mà đơn vị đã vay mượn ở ngân hàng hay các tổ chức kinh tế khác và các khoản phải trả khác như phải trả công nhân viên, phải nộp cho cơ quan thuế N hìn chung doanh nghiệp nào cũng có nhiều món nợ phải trả
vì mua chịu thường có lợi hơn là mua trả tiền ngay và việc vay ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác để tăng vốn hoạt động của doanh nghiệp là hiện tượng phổ biến và có lợi cho rìền kinh tế
Đứng về phương diên quản lý người ta thường phân chia các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn
+ Nợ ngắn hạn : là khoản tiên mà doanh nghiệp
có trách nhiệm phải trả trong vòng một chu kỳ hoạt động kinh doanh bình thường hoặc trong vòng 1 năm như : vay ngắn hạn, thương phiếu phải trả, lương phụ cấp phải trả cho công nhân viên
+ Nợ dài hạn : Là các khoản nợ đáo hạn hơn một
năm sau hoặc sau một chu kỳ hoạt động bình thường như : Vay dài hạn cho đầu tư phát triển, thương phiếu dài hạn, trái phiếu phải trả
— Vốn của chủ sở hữu là giá trị cùa các loại tài sản như nhà cửa, máy móc thiết bị, vốn bằng tiền mà các chủ thể sản xuất kinh doanh đã đâu tư cho doanh nghiệp để có thể tiến hành các hoạt động kinh tế đã xác định Môt doanh nghiệp có thể có một hoặc nhiều chủ sở hữu Đối với doanh nghiệp Nhà nước do Nhà nước cấp vốn và chịu sự giám sát của Nhà nước thì chủ sở hữu là nhà nước Đối với các xí nghiệp liên doanh hay
Trang 23công ty liên doanh thì chủ sở hữu là các thành viên tham gia góp vốn Đối VỚI các công ty cổ phần hay công
ty trách nhiệm hữu hạn thì chủ sở hữu là các cổ đông Đối với doanh nghiệp tư nhân thì chủ sở hữu là người
đã bỏ vốn ra để thành lập và điêu hành hoạt động của đơn vị
Vốn của chủ sở hữu bao gôm 2 bô phận :
+ Vốn đâu tư ban đầu và đâu tư bổ sung của các chủ sở hữu
+ Số được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Số này thường gọi là lãi lưu giữ hay lãi chưa phân phối
ơân lưu ý vốn chủ sở hữu không phải là môt khoản
nợ phải trả và có tính chất kết toán Tức là chủ sở hữu chỉ được coi là sở hữu của phần tài sản còn lại của đơn
vị sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ phải trả Mặt khác, quyền đòi nợ của các chủ nợ có hiệu lực trên tất
cả các loại tài sản của doanh nghiệp chứ không phải chỉ
có hiệu lực trên mòt loại tài sản riêng lẻ nào
Vốn chủ sở hữu = Tổng tài sản - Nợ phải trả
T hí dụ 1 : XN Tư doanh MX được thành lập vào
ngày 1-1-1994 và số vốn ban đầu gôm : tiền mặt 100.000.000 và một số TSCĐ hữu hình 100.000.000 Tình hình này được phản ảnh trên bảng cân đối kế toán ban đầu như sau :
• Nợ phải trà
• Nguồn võn chủ sớ hũu
- NguSn vốn kinh doanh
200.000.000 200.000.000
Trang 24T h í dụ 2 : Xí nghiệp MX được công ty A bán chịu
một số nguyên vật liệu trị giá 40.000.000 hàng đã vê nhập kho Bảng cân đối kế toán mới như sau
100 000.000 100.000.000
T h í dụ 3 : Xí nghiệp MX mở tài khoản tại ngân
hàng công thương và gởi vào 80.000.000đ tiền mặt Bảng cân đối kế toán mới như sau :
T h í dụ 4 : Được ngân hàng cho vay ngắn hạn để
trả nợ người bán 30.000.000 Bảng cân đối kế toán mới như sau :
2 S ự vận đ ộng của tài sản
Trong quá trìn h hoạt đòng sản xuất kinh doanh tài sản của các doanh nghiệp sẽ không ngừng vận động biến đổi cả về hình thái và lượng giá trị
Trang 25Sự biến đổi vê hình thái tồn tại của các loại tài sản chủ yếu phụ thuộc vào chức năng cơ bản của từng
xí nghiệp
— Đối với doanh nghiệp sản xuất : chức năng cơ bản là sản- xuất và tiêụ thụ sản phẩm làm ra thì tài sản của đơn vị sẽ thay đổi hình thái qua 3 giai đoạn sản xuất kinh doanh chủ yếu : cung cấp, sản xuất và tiêu thụ Xét trong mồt quá trình liên tục, tương ứng với 3 giai đoạn trên tài sản sẽ thay đổi hình thái từ tiền mặt hay tiền gởi ngân hàng thành nguyên vật liêu, dụng cụ, trang thiết bị để chuẩn bị thực hiện kế hoạch sản xuất Sau đó tài sản sẽ biến đổi từ nguyên vật liêu chính, vật liệu phụ, hao mòn tài sản cố định Thành sản phẩm
dở dang, bán thành phẩm hay thành phẩm và từ thành phẩm biên đổi thành khoản phải thu hay tiền mặt khi bán sản phẩm, cho người mua Số tiền này lại được dùng
để mua nguyên vật liệu nhằm thực hiện quá trình tái sản xuất Sự vận đông biến đổi của tài sản theo các giai đoạn sản xuất kinh doanh chủ yếu như trên gọi là sự tùân hoàn của tài sản
— Đối với đơn vị kinh doanh thương mại : chức năng cơ bản là mua bán hàng hóa Tương ứng với 2 quá trình này, tài sản của doanh nghiệp sẽ biến đổi từ tiền thành hàng hóa khi mua hàng vê nhập kho và từ hàng hóa thành khoản phải thu hay bằng tiền khi bán hàng cho người mua Số tiền này lại được dùng để mua hàng
Sự biến đổi này cũng mang tính tùần hoàn
Nếu tính từ môt hình thái tồn tại cụ thể nhất định của tài sản, sau một quá trình vận động, tài sản trở lại
Trang 26hình thái ban đâu gọi là 1 vòng tùân hoàn, 1 vòng chu chuyên hay một chu kỳ hoạt động.
Chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp có thể trìn h bày hình vẽ sau đây :
Doanh nghiệp sản xuất
Vốn bằng tiền
Cung cấpTiêu thụ Khoản phải thu Nguyên vật liệu
Trang 27Trong quá trình tùần hoàn tài sản không chỉ biến đổi về hình thái mà quan trọng hơn còn biến đổi về lượng giá trị (trừ trường hợp huy động thêm vốn) giá trị tăng lên của tài sản từ kết quả hoạt đông sản xuất kinh doanh là mục tiêu của các doanh nghiệp nhằm tăng vốn của chủ sở hữu sau khi thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý của mình như nôp thuế doanh thu, thuế tức lợi tức là lấy thu bù chi và còn có lãi.
Theo c Mac lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp kinh doanh thương mại đêu được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nhưng được thực hiện và chuyển nhượng ở lĩnh vực lưu thòng theo quy luật tỉ suất lợi nhuận bình quân hoặc theo các quy luật kinh
tế khác
Những thông tin về sự biến đổi lượng giá trị rất cân thiết cho việc tìm phương hướng và biện pháp thường xuyên nâng cao hiệu quả của quá trình tái sản xuất - quá trình vận động và lớn lên của tài sản
Tóm lại đối tượng của kế toán là tổng tài sản của đơn vị cơ sở xét trên 2 mặt : Nguồn hình thành và quá trình tùần hoàn của tài sản trorig các giai đoạn sản xuất kinh doanh chủ yếu
II NHIỆM VỤ, YÊU CÂU VÀ ĐẶC ĐIEM của công
TÁC KẾ TOÁN
1 N hiệm vụ của k ế toán
Với chức năng phản ảnh và kiểm tra toàn bộ các hoạt đông kinh tế của doanh nghiệp, kế toán có những nhiệm vụ cơ bản như sau :
Trang 28— Ghi chép, tín h toán, phản ảnh số hiện có, tình hình luân chuyến và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn ; quá trìn h và kết quả hoạt động SXKD và sử dụng kinh phí (nếu có) của đơn vị.
— Kiểm tra tìn h hình thực hiện kế hoạch SXKD,
kế hoạch thu chi tài chính, kỷ luật thu nộp, thanh toán ; kiểm tra việc giữ gìn và sử dụng các loại tài sản, vật
tư, tiên vốn, kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành đồng tham ô lãng phí, vi phạm chính sách chế đô, kỷ luật kinh tế tài chính của Nhà nước
— Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt đồng SXKD, kiểm tra và phân tích hoạt động kinh
tế, tài chính phục vụ còng tác lập và theo dõi thực hiện
kế hoạch phục vụ công tác thống kê và thòng tin kinh tế
2 Y êu càu dối với côn g tá c k ế toán
Để phát huy đầy đủ chức năng, vai trò và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ nói trên, công tác kế toán phải đảm bảo các yêu cầu sau đây :
— Kế toán phải chính xác : Thể hiện ở các mặt
• Tính toán chính xác trên cơ sở giá cả, đơn vị đo lường, tiêu chuẩn định mức chính xác
• Chứng từ phải chính xác : chứng từ là khâu khởi điểm của kế toán, nội dung và số liệu ghi trên chứng
từ phải đúng với thực tế của các hoạt đòng kinh tế Toàn
bộ còng tác kế toán có chính xác hay không phần lớn phụ thuôc vào khâu lập chứng từ ghi chép ban đâu
Trang 29+ Vào sổ phải chính xác, phải xếp đặt, lưu trữ chứng từ đây đủ, gọn gàng ngăn nắp.
+ Báo cáo phải chính xác
Nói chung chính xác là yêu cầu cơ bản của công tác kế toán vì mỗi số liệu của kế toán đêu liên quan đến quỳên lợi và nghĩa vụ của nhiều người cho nên ngoài ý nghĩa cung cấp các thông tin xác đáng phục vụ yêu cầu quản lý tính chính xác còn có ý nghĩa trong việc bảo
vệ tài sản của đơn vị
— Kế toán phải kịp thời : Kế toán chính xác nhưng phải kịp thời, có kịp thời mới có tác dụng thiết thực đến công tác điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua việc cung cấp kịp thời các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý Muốn kịp thời thì nghiệp vụ kinh tế phát sinh lúc nào, ngày nào phải được tính toán ghi chép phản ảnh vào sổ kế toán lúc ấy, ngày ấy Việc khóa sổ, lập báo cáo quy định vào thời gian nào phải làm đúng, không chậm trễ
— Kế toán phải đầy đủ, phải phản ảnh các nghiệp
vụ kinh tế phát sinh trên cơ sở các chứng từ gốc hợp
lệ, hợp pháp không thêm bớt, không bỏ sót và phải phản ảnh tất cả các hoạt đồng kinh tế tài chính, thuòc các loại tài sản của doanh nghiệp Thực hiện đây đủ các nguyên tắc, thủ tục quy định, mở đầy đủ các loại sổ sách cần thiết và lập đây đủ các báo cáo kế toán theo quy định
— Kế toán phải rõ ràng dễ hiểu, dễ so sánh đối chiếu : tức là các công việc của kế toán từ khâu ghi
Trang 30chép nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên các chứng từ gốc đến việc phân loại và hệ thống h ó a'trên các sổ sách kế toán và tổng hợp lại thành các chi tiêu kinh tế trên các báo cáo kế toán đêu phải được trình bày một cách rõ ràng dễ hiểu Các chí tiêu kinh tế do kế toán báo cáophải phù hợp cả vê nội dung và phương pháp tính vớicác chỉ tiêu kế hoạch để người đọc báo cáo dễ dàng so sánh đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị.
3 Đ ặc điểm của k ế toán
— Cơ sở ghi sổ là những chứng từ gốc hợp lệ, bảođảm thông tin chính xác và có cơ sở pháp lý
— Sử dụng cả 3 loại thước đo : giá trị, hiện vật
và thời gian nhưng chủ yếu và bắt buòc là giá trị
—- Thông tin số liệu : Bằng hệ thống biểu mẫu báo cáo theo quy định của nhà nước (đối với thòng tin cho bên ngoài) hay theo những báo cáo do giám đốc xí nghiệp quy định (đối với thông tin nội bô)
— Phạm vi sử dụng số liệu : Trong nội bò đơn vị kinh tế cơ sở và các cơ quan chức năng, chức năng của nhà nước và những đối tượng khác như các nhà đầu tư, ngân hàng, người cung cấp
III CÁC PHƯƠNG PHÁP CỦA KẾ TOÁN
Nói chung, kế toán phải có những phương pháp riêng thích hợp với đặc điếm của đối tượng nghiên cứu
là tổng tài sản xét trên 2 mặt : Nguồn hình thành và
sự tũần hoàn của tài sản trong các giai đoạn sản xuất
Trang 31kinh doanh của doanh nghiệp Đối tượng của kế toán có những đặc điềm cơ bản sau đây :
— Xét trong quan hệ giữa tài sản và ngùôn hình thành Đối tượng của kế toán luôn có tính 2 mặt, độc lập nhau nhưng luôn cân bằng với nhau vê lượng giá trị
— Xét trong quá trinh tùần hoàn, đối tượng của kế toán luôn vận động qua các giai đoạn khác nhau nhưng theo một trật tự xác định và khép kín sau 1 chu kỳ nhất định
— Luôn có tính đa dạng trong mỗi nôi dung cụ thể
— Mỗi đối tượng cụ thể của kế toán đêu gắn liền vối lợi ích kinh tế, quyền lợi và trách nhiệm của nhiều phía
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và những đặc điếm cơ bản của đối tượng kế toán người
ta đã xây dựng hệ thống các phương pháp của kế toán bao gồm 4 cặp phương pháp sau đây : chứng từ và kiểm
kê ; đánh giá và tính giá thành ; tài khoản và ghi sổ kép ; tổng hợp và cân đối kế toán Trong đó :
— Chứng từ : Là phương pháp xác định và kiểm tra sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế cụ thể
— Kiểm kê là phương pháp xác định số hiện có của các loại tài sản nhằm làm cho số liệu kế toán phản ảnh đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài sản của đơn vị
Trang 32— Đánh giá : Là phương pháp dùng đơn vị do lường bằng tiền để biểu hiện giá trị của các loại tài sán trong doanh nghiệp theo những nguyên tắc nhất định nào đó.
T h í dụ : Muốn xác định giá trị của nhửng sản
phầm đang làm dở thì phải tiến hành kiềm kê để xác định số lượng và mức độ hoàn thành của những sản phẩm dở dang so với thành phẩm là bao nhiêu phần trăm từ dó quy ra giá trị cho chính xác
Giá trị các loại tài sản trong doanh nghiệp có thể biểu hiện theo nhiều loại giá khác nhau như giá thành thực tế, giá thành kế hoạch nhưng chỉ có đánh giá theo giá thành thực tế thì kế toán mới thu được những tài liệu chân thực về tình trạng tài chính cùa doanh nghiệp
— Tính giá thành : Là phương pháp phân loại và tập hợp các chi phí sản xuất theo từng đối tượng phải chịu chi phí và tính giá thành, theo các khoản mục quy định phù hợp với từng đối tượng cụ thể để xác định chính xác giá thành thực tế của các loại sản phẩm hay công việc đã hoàn thành
T h í dụ : • Giá thành thực tế của các loại sản phẩm
của hoạt động sản xuất chỉ bao gôm 3 khoản mục : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ; chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
• Giá thành thực tế của công trình xây dụng cơ bản hoàn thành bàn giao được chi tiết theo 4 loại chi phí dâu tư như : Xây dựng, lắp đặt, thiết bị và chi phí khác
Trang 33— Tài khoản : Là phương pháp phân loại và thống hóa các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm ghi chép theo dõi tình hình biến động của từng loại tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
— Ghi sổ kép là phương pháp phản ánh sự biến động của các đối tượng kế toán theo mối liên hệ khách quan giữa chúng do nghiệp vụ kinh tế phát sinh tạo ra vào các tài khoản kế toán
— Tổríg hợp và cân đối kế toán : Là phương pháp khái quát tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định bằng cách lập các báo cáo tài chính tổng hợp như : Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt đông kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ; Báo cáo chi phí sản xuất hay giá thành sản phẩm Tùy theo nội dung và yêu câu của từng loại báo cáo mà kế toán có thể chỉ sử dụng phương pháp tổng hợp Tức là thu thập và tổng công các số liệu kế toán có liên quan trên các sổ sách kế toán
để lập báo cáo tổng hợp như : Báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố hay giá thành sản phẩm, hoặc vừa tổng hợp
số liệu vừa thiết lập sự cân đối giữa các chì tiêu được trình bày trên báo cáo tổng hợp như : Bảng cân đối kế toán ; Báo cáo kết quả kinh doanh ; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Mỗi phương pháp có vị trí, chức năng nhất định nhưng giữa chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống phương pháp kế toán
Trang 34Muốn có những thông tin tông hợp về tình trạng tài chính của đơn vị th ì phải lập bảng cân đối tài sản tức là sử dụng phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán Nhưng chỉ có thể tổng hợp và cân đối các loại tài sàn của doanh nghiệp trên cơ sở theo dõi chặt chẽ sự hình thành và vận động viến đổi của các loại tài sản qua các giai đoạn sản xuất kinh doanh Tức là mỗi đối tượng của kế toán - Tương ứng với một thông tin cần thiết cho quản lý Sẽ được tổ chức theo dõi trên ứiôt tài khoản riêng và mối liên hệ phổ biến giữa các đối tượng của kế toán trên các tài khoản trong quá trìn h tuần hoàn được thực hiện bằng phương pháp ghi sổ kép (Đối ứng tài khoản) cho phép nối liền các tài khoản thành một
hệ thống khép kín bảo đảm tính chính xác và chặt chẽ của số liệu trên các tài khoản - Hệ thống các thông tin
ve quá trìn h tùần hoàn - dược tổng hợp trên các báo cáo tài chính
Việc ghi chép vào các tài khoản kế toán bắt buộc phải dùng đơn vị đo lường là tiền tệ do đó cần phải tính giá các yếu tố "đầu vào" và "đầu ra" của quá trình sản xuất kinh doanh Muốn tính giá và ghi chép vào các tài khoản có liên quan một cách chính xác thì phải có những thông tin chính xác về từng hoạt động kinh tế
cụ thể của đơn vị tức là phải có những chứng từ hợp
lệ phản ảnh nguyên vẹn nghiệp vụ kinh tế phát sinh
và có đầy đủ cơ sở pháp lý đê làm căn cứ ghi sổ kế toán Nhưng nếu chỉ dựa vào chứng từ thì không thể phản ảnh hết sự biến đổi cùa tài sản Trong thực tế có những hiện tượng không thống nhất giữa hiên vật với
Trang 35chứng từ, sổ sách do điều kiện khách quan gây ra như : đường dôi thừa do ẩm ướt, xăng dâu bị hao hụt do bốc hơi Để khắc phục tình trạng trên kế toán phải tiến hành kiểm kê đế kiểm tra số lượng và tình hình cụ thể của hiện vật, đối chiếu giữa sổ sách với hiện vật thực
tế trong từng thời điểm có khớp đúng với nhau hay không Nếu không thì lập biên bản và căn cứ vào biên bản (cũng là chứng từ) mà điều chỉnh lại sổ sách kế
toán cho khớp đúng với thực tế Bảo đảm cho các số liệu
của kế toán phản ảnh chính xác và trung thực về các loại tài sản của doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa các phương pháp hạch toán kế toán có thể trình bày bằng hình vẽ sau đây :
Trang 36CHƯƠNG IIIBẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN VÀ BÁO CÁO KET QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Trong các chương trước chúng ta đá biết quy trình công việc của kế toán là đi từ việc ghi nhận nội dung
và ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đến việc phân loại và hệ thống hóa các nghiệp vụ kế toán nhằm theo dõi sự vận động biến đổi của từng loại tàisản hay nguồn vốn cụ thể để cuối cùng tổng hợp và tínhtoán thành các chỉ tiêu kinh tế tài chính trên các báo cáo tài chính như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Thường thì các doanh nghiệp có cả trăm, cả ngàn nghiệp vụ kinh tế phát sinh mỗi ngày cho nên việc ghinhận, phân loại và hê thống hóa các sự việc này vào các
sổ kế toán cần thiết và tổng hợp, tính toán kết quả là
một quá trình lâu dài va phức tạp.
Phương pháp tiếp cậ'n với công tác kế toán thường dùng là tìm hiểu các báo cáo tài chính trước, qua đó dễ dàng hình dung quá trìn h thu thập số liệu đổ cung cấp các thông tin được trìn h bày và cách thức soạn thảo các báo cáo
Trang 371.1 Khái niệm và tác dụng của bảng cản đối k ế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, dùng để phản ảnh tổng quát toàn bộ tài sản hiện
có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo
Tài sản của mòt đơn vị đang hoạt động luồn luôn vận động biến đổi về số lượng, về cơ cấu, về nguồn hình thành do các nghiệp vụ kinh tế phát sinh gây ra Vì vậy số liệu trên bảng cân đối kế toán chỉ phản ảnh tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm lập bảng Bảng cân đối kế toán giống như máy chụp hình ngưng các hoạt động sản xuất kinh doanh trong 1 tích tắc để chụp lại tĩnh trạng tài chính của đơn vị ở một ngày nào
đó Trong thực tế thời điểm lập bảng cân đối kế toán
có thể là cuối tháng, cuối quý, cuối chu kỳ sản xuất kinh doanh tùy theo quy định và đặc điểm của từng ngành
và từng loại hình cụ thể và như vậy số liệu của bảng
có tính chất tổng kết sau mòt quá trình sản xuất kinh doanh cho nên bảng cân đối tài sản còn gọi là bảng tổng kết tài sản hay bảng cân đối tài sản
Bảng cân đối kế toán có tác dụng quan trong trong công tác quản lý, căn cứ vào số liệu trình bày trên bảng
ta có thể biết được toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp, hình thái vật chất, cơ cấu của tài sản, ngùôn vốn và cơ cấu của nguồn vốn Thông qua đó có thể đánh
I BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
1 N ộ i d u n g v à k ế t cấu
Trang 38giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điềm lập báo cáo và cho thấy sự táng giảm của vốn chủ sở hữu.
1.2 Nội dung và kết cấu của bảng càn đối kè toán
Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phân : phân tài sản và phần ngùôn vốn
P h ân tài sản :
Phản ảnh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo Tài sản được phân chia thành 2 loại :
A : Tài sản lưu đòng và đâu tư ngắn hạn
B : Tài sản cố định và đâu tư dài hạn
P h ần n guồn vốn
Phản ảnh nguồn hình thành giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo và được phân chia thành 2 loại :
Trang 39B TSCO và OTDH
~ Tài sản cố định
150.000.000 - Nguồn vốn kinh doanh
- Quỹ khen thuờng và
A Tài sản lưu động và đâu tư
ngắn hạn
I Tiên
1 Tiên mặt tại quỹ
2 Tiên gởi ngân hàng
3 Tiên đang chuyển
Trang 40II Các khoản đâu tư tài chính ngắn hạn
III Các khoản phải thu
1 Ngùôn vốn kinh doanh
2 Chênh lệch đánh giá lại tài sản
3 Chênh lệch tỉ giá
4 Các quỹ XN.
5 Lãi chưa phân phối
II Ngùôn kinh phí
Tổng cộng nguồn vốn