1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau, hàm lượng enzyme protease khác nhau trong thức ăn đến ốc hương (babylonia areolata link, 1807) giai đoạn giống

73 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG LÊ CÔNG ÁNH SÁNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ CÁC LOẠI NGUYÊN LIỆU PROTEIN KHÁC NHAU, HÀM LƯỢNG ENZYME PROTEASE KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ CÔNG ÁNH SÁNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ CÁC LOẠI NGUYÊN LIỆU PROTEIN KHÁC NHAU, HÀM LƯỢNG ENZYME PROTEASE KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN ĐẾN ỐC HƯƠNG

(Babylonia areolata Link, 1807) GIAI ĐOẠN GIỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ CÔNG ÁNH SÁNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỈ LỆ CÁC LOẠI NGUYÊN LIỆU PROTEIN KHÁC NHAU, HÀM LƯỢNG ENZYME PROTEASE KHÁC NHAU TRONG THỨC ĂN ĐẾN ỐC HƯƠNG

(Babylonia areolata Link, 1807) GIAI ĐOẠN GIỐNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Quyết định giao đề tài: 1154/QĐ-ĐHNT ngày 27/9/2018

Quyết định thành lập hội đồng: 1563/QĐ-ĐHNT ngày 2/12/2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả thu được trong luận văn này là một phần thành quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp cho ốc hương từ nguồn nguyên liệu sẵn có ở Việt Nam” thuộc Đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực công nghiệp chế biến đến năm 2020 Tôi là thành viên tham gia với tư cách là nghiên cứu viên Tôi được sự đồng ý của Chủ nhiệm Đề tài ThS Trần Thị Thu Hiền cho phép sử dụng tất cả các số liệu nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Khánh Hòa, tháng 12 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Công Ánh Sáng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Lãnh đạo Viện Nuôi trồng thủy sản, Khoa Sau đại học đã tạo điều kiện cho tôi học tập tại trường

Tôi xin kính gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn PGS.TS Lại Văn Hùng, người thầy đã tận tình dìu dắt, tư vấn, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi kính gửi đến Chủ nhiệm Đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất thức ăn công nghiệp cho ốc hương từ nguồn nguyên liệu sẵn có ở Việt Nam” ThS Trần Thị Thu Hiền và Giám đốc Trung tâm Tư vấn, sản xuất, dịch vụ và Chuyển giao công nghệ thủy sản trực thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản III ThS Hoàng Văn Duật lòng biết ơn sâu sắc về sự giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi được học tập và nghiên cứu

Cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ Thủy sản Khánh Hòa, Tổng Giám đốc ông Hoàng Diện và những công nhân viên làm việc tại công ty

đã hỗ trợ tôi trong quá trình triển khai các nội dung của luận văn

Xin chân thành cám ơn sự động viên, khích lệ và giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp

Cuối cùng là lời cám ơn đến những người thân trong gia đình, đã động viên, giúp

đỡ, hy sinh rất nhiều cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm, lời động viên và sự giúp

đỡ quý báu đó

Khánh Hòa, tháng 12 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Công Ánh Sáng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC KÝ HIỆU viii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix

DANH MỤC BẢNG x

DANH MỤC HÌNH xi

DANH MỤC ĐỒ THỊ xii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xiii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Một vài đặc điểm sinh học 3

1.1.1 Vị trí phân loại 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm hình thái 4

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 4

1.1.5 Đặc điểm tăng trưởng 4

1.1.6 Đặc điểm sinh sản 4

1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của ốc hương 5

1.2.1 Nhu cầu protein 5

1.2.2 Nhu cầu lipid 5

1.2.3 Nhu cầu carbohydrate 6

1.2.4 Nhu cầu vitamin 6

1.2.5 Nhu cầu khoáng 6

Trang 6

1.3 Các nguyên liệu cung cấp protein 7

1.3.1 Nguyên liệu cung cấp protein có nguồn gốc động vật 7

1.3.2 Nguyên liệu cung cấp protein có nguồn gốc thực vật 8

1.4 Vai trò của enzyme đối với tiêu hóa của ốc hương 9

1.4.1 Hoạt động của enzyme tiêu hóa ở ốc hương 9

1.4.2 Bổ sung enzyme protease vào thức ăn ốc hương 10

1.5 Tiêu chí lựa chọn loại nguyên liệu và thiết lập công thức thức ăn 11

1.6 Thực trạng nghề nuôi ốc hương ở Việt Nam 12

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

2.1 Đối tượng nghiên cứu 13

2.2 Thời nghiên cứu 13

2.3 Địa điểm nghiên cứu 13

2.4 Nội dung nghiên cứu 14

2.5 Phương pháp nghiên cứu 15

2.5.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau đến tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR của ốc hương giai đoạn giống 15

2.5.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme protease trong thức ăn lên tăng trưởng, tỉ lệ sống và hệ số tiêu tốn thức ăn của ốc hương giai đoạn giống 18

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 20

2.6.1 Các chỉ tiêu môi trường 20

2.6.2 Các chỉ tiêu ương nuôi 20

2.7 Phương pháp xử lý số liệu 21

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau đến tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR của ốc hương giai đoạn giống 22

Trang 7

3.1.1 Thức ăn thí nghiệm 22

3.1.2 Chất lượng nước 23

3.1.3 Tỉ lệ sống 24

3.1.4 Tốc độ tăng trưởng 26

3.1.5 Hệ số thức ăn 29

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protease khác nhau đến tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR của ốc hương giai đoạn giống 31

3.2.1 Thức ăn thí nghiệm 31

3.2.2 Chất lượng nước 32

3.2.3 Tỉ lệ sống 32

3.2.4 Tốc độ tăng trưởng 33

3.2.5 Hệ số thức ăn 38

Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 40

4.1 Kết luận 40

4.2 Đề xuất ý kiến 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC a

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần của 3 loại thức ăn tổng hợp 16Bảng 3.1 Chất lượng nước ở thí nghiệm 1 23Bảng 3.2 Tăng trưởng của ốc hương sử dụng các loại thức ăn khác nhau 27Bảng 3.3 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ốc hương sử dụng các loại thức ăn khác nhau 29Bảng 3.4 Hệ số thức ăn của ốc hương sử dụng các loại thức ăn khác nhau 29Bảng 3.5 Chất lượng nước ở thí nghiệm 2 32Bảng 3.6 Tăng trưởng của ốc hương sử dụng thức ăn bổ sung enzyme protease với các hàm lượng khác nhau 35Bảng 3.7 Tốc độ tăng trưởng tuyệt đối của ốc hương sử dụng thức ăn bổ sung enzyme protease với các hàm lượng khác nhau 37Bảng 3.8 Hệ số thức ăn của ốc hương sử dụng thức ăn bổ sung enzyme protease với các hàm lượng khác nhau 38

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Ốc hương (Babylonia areolata Link, 1807) 3

Hình 2.1 Ốc hương giống thí nghiệm 13

Hình 2.2 Địa điểm nghiên cứu 13

Hình 2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14

Hình 2.4 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau trong thức ăn tổng hợp đến ốc hương giai đoạn giống 15

Hình 2.5 Dây chuyền sản xuất thức ăn của Công ty TNHH NTTS Vạn Xuân 16

Hình 2.6 Hệ thống bể thí nghiệm ốc hương 17

Hình 2.7 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme protease khác nhau trong thức ăn tổng hợp đến ốc hương giai đoạn giống 18

Hình 2.8 Máy trộn vi lượng hình lập phương 19

Hình 3.1 Thức ăn sử dụng cho thí nghiệm 1 22

Hình 3.2 Đáy cát bị ô nhiễm do thức ăn thừa 23

Hình 3.3 Ốc hương sử dụng vòi để hút thức ăn 30

Hình 3.4 Thức ăn dư thừa bám lại trên mặt cát sau khi ốc ăn 31

Hình 3.5 Thức ăn được bổ sung các hàm lượng protease khác nhau 32

Trang 12

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 3.1 Tỉ lệ sống của ốc hương sử dụng các loại thức ăn khác nhau 25

Đồ thị 3.2 Tăng trưởng về khối lượng của ốc hương ở thí nghiệm 1 28

Đồ thị 3.3 Tăng trưởng về chiều dài của ốc hương ở thí nghiệm 1 28

Đồ thị 3.4 Tỉ lệ sống của ốc hương sử dụng thức ăn bổ sung enzyme protease với các hàm lượng khác nhau 33

Đồ thị 3.5 Tăng trưởng về khối lượng của ốc hương ở thí nghiệm 2 36

Đồ thị 3.6 Tăng trưởng về chiều dài của ốc hương ở thí nghiệm 2 36

Trang 13

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Với mục tiêu lựa chọn được tỉ lệ các loại nguyên liệu cung cấp protein và hàm lượng enzyme protease thích hợp trong thức ăn tổng hợp cho ốc hương giai đoạn giống giúp nâng cao tỉ lệ sống, rút ngắn thời gian nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, Đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau, hàm lượng

enzyme protease khác nhau trong thức ăn đến ốc hương (Babylonia areolata Link,

1807) giai đoạn giống” được thực hiện

Ảnh hưởng của tỉ lệ các nguyên liệu protein khác nhau trong thức ăn đến tăng trưởng, tỉ lệ sống và hệ số tiêu tốn thức ăn của ốc hương giai đoạn giống với khối lượng trung bình 0,0501 ± 0,00025 g đã được nghiên cứu trong điều kiện trại giống trong 33 ngày Thức ăn được sử dụng là thức ăn tổng hợp có hàm lượng protein > 45

% với tỉ lệ các nguyên liệu protein khác nhau (T1: bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột

cá Kiên Giang : bột ruốc = 4:30:17:6; T2: bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc = 5:26:19:7; T3: bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc = 6:21:22:9) và thức ăn thông thường là cá cơm được sử dụng làm đối chứng Kết quả cho thấy ốc hương giống sử dụng thức ăn có tỉ lệ nguyên liệu protein bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc là 6:21:22:9 có tỉ lệ sống cao nhất 79,5%, tuy nhiên không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với sử dụng thức ăn có

tỉ lệ nguyên liệu protein bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc

= 5:26:19:7 (78,2%) Tỉ lệ sống của ốc hương sử dụng thức ăn cá cơm là thấp nhất 75,5% Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của ốc hương giống sử dụng thức ăn cá cơm

có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất 0,0048 g/ngày Tiếp theo là thức ăn có tỉ lệ nguyên liệu protein bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc là 5:26:19:7 với tốc độ tăng trưởng 0,0040 g/ngày, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với hai loại thức

ăn tổng hợp còn lại Tốc độ tăng trưởng về chiều dài không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức sử dụng thức ăn tổng hợp Thức ăn cá cơm có tốc độ tăng trưởng về chiều dài nhanh nhất (0,1067 mm/ngày), lớn hơn có ý nghĩa thống kê

so với các nghiệm thức khác (p<0,05) Ốc hương sử dụng thức ăn cá cơm có hệ số chuyển đổi thức ăn thấp nhất 2,56 Tiếp theo là thức ăn có tỉ lệ nguyên liệu protein bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc là 5:26:19:7 với hệ số thức

ăn 2,84

Trang 14

Sau khi kết thúc thí nghiệm đầu tiên, thức ăn có tỉ lệ nguyên liệu protein bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc là 5:26:19:7 được lựa chọn để bổ sung các hàm lượng protease khác nhau (0 UI/kg, 1.500 UI/kg, 2.000 UI/kg và 2.500 UI/kg) nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng protease đến tăng trưởng, tỉ lệ sống và hệ số tiêu tốn thức ăn của ốc hương Thí nghiệm được tiến hành trong 30 ngày với khối lượng ốc thả ban đầu trung bình 0,0496 ± 0,00010 g Kết quả thí nghiệm cho thấy tỉ lệ sống của ốc hương giống không bị ảnh hưởng bởi hàm lượng protease có trong thức ăn, dao động trong khoảng 77,4 - 80,9% Tốc độ tăng trưởng của ốc hương

có xu hướng tăng khi tăng hàm lượng protease có trong thức ăn Ốc được cho ăn thức

ăn bổ sung 2.500 UI protease/kg có tốc độ tăng trưởng về khối lượng nhanh nhất đạt 0,0048 g/ngày, nhưng không có khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức bổ sung 2.000 UI protease/kg thức ăn (0,0047 g/ngày) Ốc hương sử dụng thức ăn không

bổ sung enzyme protease có tốc độ tăng trưởng khối lượng chậm nhất chỉ đạt 0,0043 g/ngày Tốc độ tăng trưởng về chiều dài của nghiệm thức bổ sung 2.000 UI protease/kg và 2.500 UI protease/kg lần lượt là 0,1107 mm/ngày và 0,1094 mm/ngày, được cải thiện đáng kể so với nghiệm thức bổ sung 1.500 UI protease/kg (0,1036 mm/ngày) và không bổ sung protease (0,0995 mm/ngày) Hệ số thức ăn được cải thiện khi tăng hàm lượng protease có trong thức ăn ốc hương Hệ số thức ăn thấp nhất ở nghiệm thức bổ sung 2.500 UI protease/kg thức ăn (2,05), nhưng không có khác biệt

có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức bổ sung 2.000 UI protease/kg thức ăn (2,11)

và cao nhất ở nghiệm thức không bổ sung protease (2,38)

Nghiên cứu này cho thấy tỉ lệ các nguyên liệu protein bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc là 5:26:19:7 và hàm lượng protease bổ sung vào thức ăn là 2.000 UI/kg mang lại hiệu quả tăng trưởng và hệ số thức ăn tốt hơn cho

ốc hương cũng như chi phí sản xuất thức ăn thấp hơn Cần nghiên cứu dạng thức ăn phù hợp với đặc điểm bắt mồi của ốc hương Bổ sung thêm các loại enzyme khác như amylase, lipase vào thức ăn giúp ốc hương tiêu hóa tốt hơn các nguồn dinh dưỡng khác nhau

Từ khóa: ốc hương, thức ăn tổng hợp, nguyên liệu protein, enzyme protease

Trang 15

MỞ ĐẦU

Ốc hương (Babylonia areolata Link, 1807) là một loài động vật thân mềm có giá

trị dinh dưỡng và kinh tế cao ở Việt Nam Các quần thể ốc hương trong tự nhiên đang

bị suy giảm trầm trọng do ảnh hưởng của việc khai thác quá mức Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, nghề nuôi ốc hương đã phát triển rất nhanh với quy mô ngày càng lớn Tuy nhiên, thời gian gần đây nghề nuôi ốc hương gặp nhiều khó khăn do các vấn đề về dịch bệnh, môi trường và chất lượng thức ăn

Hiện nay, nuôi ốc hương ở Việt Nam sử dụng thức ăn là cá tạp Điều này đòi hỏi trong khoảng thời gian 6-7 tháng cho mỗi chu kỳ sản xuất phải cung cấp cá tạp đầy đủ

số lượng và liên tục Nhược điểm của việc sử dụng thức ăn cá tạp là không đảm bảo về giá trị dinh dưỡng, độ tươi, số lượng phụ thuộc vào đánh bắt, hệ số thức ăn cao, ô nhiễm môi trường và dễ lây nhiễm dịch bệnh

Đã có nhiều cứu về việc sử dụng thức ăn tổng hợp để nuôi ốc hương thay thế cho

cá tạp ở Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam Tuy nhiên, ở Việt Nam, thức ăn tổng hợp vẫn chưa được sử dụng để nuôi ốc hương Bột cá là thành phần cơ bản cho hầu hết các loại thức ăn thủy sản vì hàm lượng protein cao, đầy đủ các loại axít amin thiết yếu, là nguồn cung cấp tốt các axít béo, khoáng chất và vitamin Tuy nhiên, giá thị trường của bột cá tăng đáng kể do sự suy giảm của quần thể cá tự nhiên và nhu cầu nuôi trồng thủy sản tăng cao

Ngoài ra, việc bổ sung enzyme protease vào thức ăn có thể bù đắp sự thiếu hụt các enzyme nội sinh, đặc biệt là đối với ốc hương chưa trưởng thành, hỗ trợ phân giải protein, cải thiện khả năng tiêu hóa

Xuất phát từ những vấn đề trên, Đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các

loại nguyên liệu protein khác nhau, hàm lượng enzyme protease khác nhau trong

thức ăn đến ốc hương (Babylonia areolata Link, 1807) giai đoạn giống” được thực

hiện

Mục tiêu của Đề tài:

Lựa chọn được tỉ lệ các loại nguyên liệu cung cấp protein và hàm lượng enzyme protease thích hợp trong thức ăn tổng hợp cho ốc hương giai đoạn giống giúp nâng cao

tỉ lệ sống, rút ngắn thời gian nuôi, giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Trang 16

Các nội dung chính của Đề tài:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các nguyên liệu protein khác nhau trong thức ăn lên tăng trưởng, tỉ lệ sống và hệ số tiêu tốn thức ăn của ốc hương giai đoạn giống

- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme protease trong thức ăn lên tăng trưởng, tỉ lệ sống và hệ số tiêu tốn thức ăn của ốc hương giai đoạn giống

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

- Ý nghĩa khoa học: Góp phần hiểu thêm về nhu cầu dinh dưỡng của ốc hương, ảnh hưởng các loại nguyên liệu cung cấp protein và vai trò của enzyme protease có trong thức ăn đến sự phát triển của ốc hương giống

- Ý nghĩa thực tiễn: Có được một công thức thức ăn cho ốc hương giống áp dụng được vào thực tế sản xuất, hạn chế sử dụng cá tạp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy nghề nuôi ốc hương ở nước ta phát triển theo hướng công nghiệp

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Một vài đặc điểm sinh học

Loài: Babylonia areolata (Link, 1807)

Hình 1.1 Ốc hương (Babylonia areolata Link, 1807)

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Ốc hương phân bố ở các thủy vực có độ sâu 5-15 m, chúng vùi mình trong nền đáy, nơi có nguồn nước sạch sẽ, độ mặn cao 30 - 35‰, nhiệt độ thích hợp trong khoảng 26-280C, pH 6 - 9, hàm lượng oxy hòa tan 4-6 mg/L [16]

Trên thế giới, ốc hương phân bố ở các vùng biển thuộc Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và một số vùng biển thuộc Xri Lan-ca, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan và Việt Nam [22, 43]

Ở Việt Nam, ốc hương phân bố ven biển từ Bắc vào Nam, cách xa bờ 2-3 km, độ sâu trung bình 8-12 m, chất đáy là cát hay cát pha lẫn mùn bã hữu cơ Khu vực phân

Trang 18

bố chính thuộc các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Thuận, Kiên Giang và Vũng Tàu [16]

1.1.3 Đặc điểm hình thái

Vỏ ốc hương có hình xoắn ốc, đỉnh vỏ nhọn Mặt ngoài của vỏ có màu vàng có những phiến vân màu nâu, mỗi hàng có 3 phiến vân tạo thành 3 dải xoắn ốc Mặt trong của vỏ có màu trắng sứ Miệng vỏ có hình bán nguyệt [16, 22] Phần mô thịt được lớp

vỏ bao bọc chia thành ba phần: đầu, khối nội tạng và chân [44]

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Nhu cầu dinh dưỡng của ốc hương thay đổi theo từng giai đoạn phát triển Ở giai đoạn ấu trùng, ốc hương ăn lọc, thức ăn chủ yếu thực vật phù du Từ giai đoạn hậu ấu trùng trở đi, ốc hương ăn thịt, thức ăn ưa thích là động vật thân mềm, giáp xác và cá [46]

Trang 19

1.2 Nhu cầu dinh dưỡng của ốc hương

1.2.1 Nhu cầu protein

Protein là thành phần chính trong các tế bào của cơ thể, chịu trách nhiệm cho sự phát triển, tăng trưởng, duy trì sự cân bằng thẩm thấu máu, là một thành phần của các enzyme và hormone có vai trò trong hoạt động của cơ thể Protein không đủ trong chế

độ ăn dẫn đến giảm hoặc ngừng tăng trưởng Mặt khác, nếu cung cấp quá nhiều protein trong chế độ ăn, chỉ một phần của nó sẽ được sử dụng để tạo ra protein mới và phần còn lại sẽ được chuyển đổi thành năng lượng [35]

Tốc độ tăng trưởng của ốc hương có xu hướng tăng khi tăng hàm lượng protein

có trong thức ăn Nghiên cứu của Yubin và cộng sự (2006) cho thấy hàm lượng protein phù hợp với sự tăng trưởng của ốc hương nên ở mức 36,47-43,10%, khi hàm lượng protein trong thức ăn đạt 43,10% thì tốc độ tăng trưởng đạt giá trị lớn nhất [53] Năm

2007, Qi-Cun và cộng sự đã sản xuất thức ăn thử nghiệm nuôi ốc hương với hàm lượng protein 43% [56].Theo tìm hiểu của Zhang và cộng sự (2009) thì hàm lượng protein tối ưu của ốc hương dao động từ 37% đến 45% [54] Tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn đã bị ảnh hưởng đáng kể bởi mức độ protein, tốt nhất ở mức protein 45% [55] Chi và cộng sự (2010) cũng kết luận nhu cầu protein tối ưu cho sự tăng trưởng tối đa và hiệu quả sử dụng thức ăn của ốc hương giống là 45% [29]

1.2.2 Nhu cầu lipid

Lipid là nguồn cung cấp năng lượng cho các chức năng duy trì, sản xuất và dự trữ năng lượng Lipid cung cấp năng lượng gấp đôi protein và carbohydrate, là thành phần quan trọng của màng sinh học, các cơ chất trong các phản ứng của enzyme, cung cấp các axít béo thiết yếu, đóng vai trò chất vận chuyển các vitamin tan trong dầu và vận chuyển điện tử [11, 30]

Năm 2006, Yubin đã xác định hàm lượng lipid tối ưu trong chế độ ăn của ốc hương là từ 7,78% đến 10,74% [52] Theo tìm hiểu của Zhang và cộng sự (2009) thì hàm lượng lipid tối ưu của ốc hương dao động từ 6,54% đến 10,74% [54] Năm 2011, Chaitanawisuti và cộng sự đã tiến hành một thử nghiệm cho để xác định ảnh hưởng của hàm lượng lipid trong chế độ ăn đối với tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn

Trang 20

của ốc hương giống và đã kết luận hàm lượng lipid tối ưu trong thức ăn của ốc hương

là 10% [26]

1.2.3 Nhu cầu carbohydrate

Carbohydrate là một trong những chất dinh dưỡng chính chịu trách nhiệm cho các thành phần quan trọng của màng tế bào và cung cấp năng lượng cần thiết cho cơ thể

Tốc độ tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của ốc hương bị ảnh hưởng đáng

kể bởi hàm lượng carbohydrate trong khẩu phần ăn Hàm lượng glycogen trong phần thịt ốc có tương quan thuận với mức độ tinh bột trong khẩu phần Mức carbohydrate trong chế độ ăn tối ưu để đạt được tốc độ tăng tưởng nhanh nhất là 27,1% [54]

1.2.4 Nhu cầu vitamin

Vitamin có trong cơ thể vật nuôi với số lượng rất ít, nhưng không thể thiếu được

vì nó có vai trò quan trọng trong nhiều hệ thống enzyme, xúc tác các phản ứng sinh học để duy trì mọi hoạt động sống bình thường như: tăng trưởng, sinh sản, miễn dịch Vitamin không phải là nguồn năng lượng, nhưng chúng tham gia vào quá trình chuyển đổi thức ăn sang dạng dễ hấp thu đối với cơ thể, vì vậy vitamin được gọi là chất không thay thế trong dinh dưỡng Mọi sự thiếu hụt vitamin đều dẫn đến rối loạn trao đổi chất, gây hại cho vật nuôi Chỉ có một số rất ít vitamin có thể tổng hợp trong cơ thể vật nuôi với số lượng rất nhỏ, còn đa số được tổng hợp trong thực vật và đưa vào cơ thể cùng với thức ăn[10, 11, 19]

1.2.5 Nhu cầu khoáng

Khoáng là chất dinh dưỡng mà động vật thủy sản cần với những lượng rất nhỏ trong khẩu phần ăn Khoáng được chia làm hai nhóm căn cứ vào hàm lượng trong cơ thể và nhu cầu của động vật là khoáng đa lượng và khoáng vi lượng Chất khoáng có nhiều chức năng quan trọng như thành phần cấu tạo của mô xương, hemoglobin, một

số enzyme, là chất điều chỉnh áp suất thẩm thấu và chất mang trong quá trình hấp thu [11]

Hàm lượng canxi và phốt pho trong chế độ ăn ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của ốc hương, nhưng không ảnh hưởng đến tỉ lệ sống và hệ số chuyển đổi thức ăn [27]

Trang 21

1.3 Các nguyên liệu cung cấp protein

1.3.1 Nguyên liệu cung cấp protein có nguồn gốc động vật

Bột cá chứa 55-67% protein, trong đó protein tiêu hóa và hấp thu là 80-95%

Trong khi protein tiêu hóa của các nguồn protein từ thực vật chỉ ở mức tiêu hóa và hấp thu 30-40% Bột cá dễ tiêu hóa, có mùi vị hấp dẫn, chứa đầy đủ các axít amin cần thiết cho động vật thuỷ sản, đặc biệt trong thành phần lipid của bột cá chứa nhiều axít béo

có mức chưa no cao Ngoài ra, bột cá có hàm lượng lysine và methionine khá cao, giàu chất khoáng và vitamin Tuy nhiên, bột cá có hàm lượng phốt pho cao và dễ gây ô nhiễm [4] Bột cá là loại nguyên liệu bổ sung protein hoàn hảo trong thức ăn cho động vật thủy sản đặc biệt là đối với động vật ăn thịt Giá bột cá khá cao nên cần phải tính toán và cân đối hợp lý để giá thành thức ăn không cao Việc bổ sung bột cá tùy thuộc vào loài, giai đoạn phát triển của loài sẽ sử dụng các khẩu phần và thành phần dinh dưỡng tương ứng Tỉ lệ thêm vào phổ biến hiện tại giới hạn từ mức thấp 5% trong thức

ăn của cá da trơn, 60% trong thức ăn của cá biển [4, 10]

Bột cá Kiên Giang có hàm lượng protein từ 55,67 đến 65,26%, lipid 6,19-7,89%, tro 19,08-24,23%, xơ 1,01-1,89%, tùy thuộc vào từng loại sản phẩm Bột cá Kiên Giang có chứa hầu hết các axít amin thiết yếu Đặc biệt, hàm lượng lysine và methionine trong bột cá là khá cao [13]

Bột phụ phẩm cá có chứa 66,8% protein và 11% lipid, được sản xuất chủ yếu từ

thịt vụn cá từ các nhà máy chế biến cá đông lạnh trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Qua khảo sát tìm hiểu, cho thấy nguồn phụ phẩm từ chế biến cá xuất khẩu của các nhà máy đông lạnh trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa rất phong phú, giá thành thấp, có thể sử dụng

để chế biến thành bột cá đáp ứng nhu cầu sản xuất thức ăn nuôi ốc hương

Bột trùn quế cung cấp nguồn dinh dưỡng tuyệt vời cho động vật nuôi thủy sản,

có hàm lượng protein 68-70%, lipid 7-8%, tro 11-12% tính trên khối lượng chất khô Hàm lượng bột trùn quế bổ sung vào thức ăn cho lợn và gia cầm từ 3-5% [5] Bột trùn quế là loại thức ăn quan trọng của các vật nuôi như cá, ếch, tôm, cua Cho động vật thủy sản ăn thức ăn có chứa 2-3% bột trùn quế giúp chúng phát triển nhanh, tăng trọng, nâng cao khả năng kháng bệnh, phát triển đồng đều Đặc biệt, cho động vật nuôi thủy sản ăn trùn quế làm giảm thiếu tính ăn thịt đồng loại, nâng cao tỉ lệ sống, mùi vị hấp dẫn [8]

Trang 22

Nghiên cứu dinh dưỡng cho thấy trùn quế có tiềm năng thay thế cho bột cá trong thức ăn chăn nuôi với lợi thế hàm lượng protein cao và có thể chủ động nguồn cung [36] Nghiên cứu sử dụng bột đạm trùn quế thuỷ phân làm thức ăn cho hậu ấu trùng tôm sú trộn tỉ lệ 50%, kết quả cho thấy tăng trưởng chiều dài và chất lượng ương tôm Postlarvae 15 tốt hơn so với thức ăn chế biến tươi bột trùn quế chưa thuỷ phân và thức

ăn ngoại nhập Frippak [17]

Bột ruốc chứa 48,29% protein, 3,62% lipid và 16,05% tro Bột ruốc chứa đầy dủ

các axít amin thiết yếu và các axít béo chính như axit 12-otadecadieonic (17,08%), axit docosahexaenoic (15,69%), axit eicosapentaenoic (13,45%) và axit docosanoic (11,75%) Ngoài ra, bột ruốc còn chứa nhiều khoáng chất như P, Ca, K, Mg, Na và Fe [24]

Bột gan mực là sản phẩm phụ thu được từ quá trình chế biến mực tươi Bột gan

mực là nguồn cung cấp chất protein và lipid rất tốt cho vật nuôi Bổ sung bột gan mực vào thành phần thức ăn thủy sản làm tăng vị ngon của thức ăn, đóng vai trò như là chất dẫn dụ, kích thích sự bắt mồi của động vật nuôi Bột gan mực có hàm lượng protein cao 49-50% và hàm lượng axít amin cao [6]

1.3.2 Nguyên liệu cung cấp protein có nguồn gốc thực vật

Gluten lúa mì là phụ phẩm của các nhà máy sản xuất tinh bột mì Hàm lượng

protein của gluten lúa mì rất cao Thành phần của gluten lúa mì có chứa khoảng 80% protein, 5-8% lipid, 15-17% carbohydrate, tro 0,6-1,2% [34] Gluten lúa mì khi trộn với nước có tính kết dính cao nên còn được sử dụng làm chất kết dính trong thức

75-ăn thủy sản [41]

Bã đậu nành là phụ phẩm của quá trình tách dầu đậu nành, được sử dụng rộng

rãi trong sản xuất thức ăn chăn nuôi do có hàm lượng protein cao, giá rẻ, số lượng lớn

và dễ sử dụng Bã nành được chia thành các loại khác nhau bao gồm bã nành chưa tách vỏ khoảng 40 - 47% protein, bã nành tách vỏ 45 - 48% protein, bã nành nguyên hạt nhiều béo 36% protein Bã đậu nành có chứa đầy đủ các axít amin thiết yếu Hàm lượng các axít amin như methionine, lysine và cystine trong bã nành còn hạn chế, nhưng lại rất giàu arginine và phenylalanine Khi sử dụng bã đậu nành với hàm lượng 30% hoặc cao hơn thì sẽ làm độ bền trong nước của viên thức ăn giảm một cách đáng

kể [12] Trong đậu nành có nhiều loại kháng dinh dưỡng, gồm các chất ức chế enzyme

Trang 23

protease, lectin, phytoestrogen, saponin, goitrogen vì vậy gây mất các protein và axít amin cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể Đậu nành giàu Ca, P, nhưng nghèo vitamin nhóm B nên khi sử dụng cần bổ sung thêm vitamin nhóm B, bột thịt, bột cá [10]

Bột sắn biến tính là bột sắn được xử lý bằng các phương pháp hóa học hoặc vật

lý để bẽ gãy một số hoặc tất cả các phân tử tinh bột Điều này làm tăng số lượng hạt, giảm khả năng phồng lên khi nấu chính và giảm kích thước của các phân tử giúp bột sắn phân tán đều hơn trong thức ăn [23] Hàm lượng protein thô trong bột sắn từ 2,7

đến 5,4% [40]

1.4 Vai trò của enzyme đối với tiêu hóa của ốc hương

1.4.1 Hoạt động của enzyme tiêu hóa ở ốc hương

Ốc hương là động vật ăn thịt nhưng không có bộ phận cắn xé và nhai thức ăn, do vậy các hoạt động tiêu hóa của enzyme diễn ra xung quanh miệng Nhờ cơ miệng bám chặt vào con mồi và dịch tiêu hóa tiết ra thấm dần vào thức ăn Phần thức ăn đã thấm dịch tiêu hóa bị rã ra được vòi hút dần vào xoang tiêu hóa và thức ăn được tiêu hóa hoàn toàn tại đây [7]

Một loạt các enzyme lipase, amylase và protease đã được xác định có trong cơ thể ốc hương Các enzyme tiêu hóa rất đa dạng, mức độ biểu hiện của các enzyme tiêu hóa này thay đổi phù hợp với từng loại thức ăn khác ở các giai đoạn phát triển khác nhau của ốc hương Hoạt động của chymotrypsin tăng theo quá trình phát triển của ốc hương Các hoạt động khác nhau của carboxypeptidase, serine proteinase, amylase và cellulase tăng theo thứ tự ấu trùng bơi lội, con non và ấu trùng bò lê Cũng có các mức

độ khác nhau của esterase và chitinase, được cho là có liên quan chặt chẽ với những thay đổi trong thói quen ăn uống của ấu trùng ốc hương [47]

Trong quá trình phát triển của ấu trùng thì hoạt tính của protease giảm dần theo thời gian và hoạt động của lipase tăng dần Hoạt động của amylase và cellulase tăng chậm trong vòng 12 ngày sau khi nở, sau đó tăng nhanh ở giai đoạn ấu trùng chuẩn bị biến thái và giảm mạnh sau khi biến thái Sự tiêu hóa của con non 3 ngày sau khi biến thái rất yếu Điều này có thể là một trong những lý do quan trọng nhất ảnh hưởng đến

tỉ lệ sống của ốc trong quá trình biến thái [51]

Trang 24

Hoạt động lipase trong cơ thể ốc giảm khi tăng mức protein trong chế độ ăn [55] Ngược lại, hoạt động lipase trong cơ thể ốc hương tăng lên với sự gia tăng mức độ lipid trong khẩu phần ăn Hoạt tính của amylase không bị ảnh hưởng bởi mức lipid trong khẩu phần ăn [56]

Hoạt động của enzyme tiêu hóa trong cơ thể ốc hương bị ảnh hưởng đáng kể bởi

sự tương tác giữa hàm lượng protein và lipid trong chế độ ăn Hoạt động của protease trong tuyến tiêu hóa là một yếu tố quyết định chính của khả năng tiêu hóa và khả năng đồng hóa của protein ăn vào Với mức protein trong chế độ ăn tăng ở cùng mức lipid, hoạt động pepsin có xu hướng giảm Ở mức độ lipid thấp, hoạt động tryptase giảm đáng kể với sự gia tăng protein Tuy nhiên, ở mức độ lipid cao, xu hướng giảm của hoạt động tryptase không có sự khác biệt [29] Theo Zhou và cộng sự (2007) thì hoạt tính của pepsin trong cơ thể ốc hương tăng đáng kể với mức lipid trong khẩu phần tăng

từ 1,83 lên 7,80%, và hoạt động của enzyme trypsin tăng đáng kể với mức tăng lipid trong khẩu phần ăn từ 1,83 đến 5,91% [56]

1.4.2 Bổ sung enzyme protease vào thức ăn ốc hương

Protease là enzyme thủy phân có khả năng cắt mối liên kiết peptide (-CO-NH-) trong các phân tử peptide, polypeptide, protein và một số cơ chất khác tương tự thành các axít amin tự do hoặc các peptide phân tử thấp [9, 15, 21]

Protease được thêm vào thức ăn với mục đích tăng quá trình thủy phân protein trong thức ăn và do đó cho phép cải thiện việc sử dụng nitơ Khi động vật sử dụng nitơ tốt hơn, có khả năng giảm hàm lượng protein trong thức ăn và cũng làm giảm hàm lượng nitơ trong phân [45]

Các nghiên cứu về bổ sung enzyme protease vào ốc hương rất hạn chế Tuy nhiên, trên một vài đối tượng thủy sản khác, việc bổ sung enzyme protease vào thức ăn cho thấy hiệu quả khá tốt

Bổ sung protease vào thức ăn giúp tăng cường khả năng tiêu hóa protein, cải thiện tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn của cá chép đen [28], cá hoàng đế [49] và cá hồi vân [33] Enzyme protease giúp cải thiện khả năng phân giải protein và giảm hàm lượng protein trong chế độ ăn của cá rô phi vằn nhưng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng [42] Dalsgaard và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng việc bổ sung protease

Trang 25

ngoại sinh vào thức ăn làm tăng khả năng tiêu hóa bột đậu nành trong thức ăn ở cá hồi vân [31]

Thức ăn của cá chép giòn được bổ sung protease sau khi ép viên và ép đùn thì tỉ

lệ duy trì hoạt động của protease lần lượt là 77,98% và 37,65% Bổ sung protease vào thức ăn sử dụng phương pháp ép viên giúp cải thiện sự tăng trưởng, khả năng tiêu hóa chất khô, protein thô ở cá chép [48]

Hoàng Văn Duật (2004) đã nghiên cứu bổ enzyme protease với các mức 1.500, 2.000, 2.500 IU/kg trong khẩu phần ăn của cá chình cũng cho thấy khả năng tiêu hóa, tốc độ tăng trưởng, hệ số thức ăn được cải thiện và tốt nhất ở mức 2.000 IU/kg thức ăn [3] Thức ăn cá hồi và cá tầm thương phẩm được bổ sung enzyme protease ở mức 2.000 IU/kg giúp cải thiện khả năng tiêu hóa, giảm phát thải ra môi trường và tăng hiệu quả kinh tế [18] Bổ sung protease 2.500 IU/kg thức ăn cho cá rô phi vằn giúp cải thiện tốc độ tăng trưởng và hệ số thức ăn Tổng lượng protein, albumin, canxi và phốt pho trong cơ thể cá cũng cao hơn so với cá ăn thức ăn không bổ sung protease [37]

1.5 Tiêu chí lựa chọn loại nguyên liệu và thiết lập công thức thức ăn

Xây dựng công thức thức ăn (CTTA) là thiết lập khẩu phần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho vật nuôi, có giá thành hợp lý và thân thiện với môi trường Do vậy việc xây dựng CTTA không chỉ chú trọng vào thành phần hóa học của thức ăn mà còn phải chú ý đến đặc tính lý học, cảm quan, chi phí của thức ăn CTTA cho nuôi thủy sản ở quy mô công nghiệp cần được thiết lập trên cơ sở nhu cầu dinh dưỡng của đối tượng nuôi như nhu cầu protein tối ưu, mức năng lượng, acid amin và acid béo thiết yếu, vitamin và khoáng chất [32] Vấn đề cơ bản trong việc thiết lập CTTA cho vật nuôi thủy sản là xác định các thành phần nguyên liệu sao cho đạt được cân bằng dưỡng chất nhằm nâng ao mức tăng trọng, sinh sản, sức khỏe vật nuôi ở một mức chi phí chấp nhận được

Theo De Silva (1994) thì để tạo thức ăn cho 1 đối tượng nuôi thì cần có các thông tin cơ bản sau: tập tính bắt mồi, độ tiêu hoá của đối tượng nuôi với các nguyên liệu, tính sẵn có của nguyên liệu địa phương và đơn giá nguyên liệu, nhu cầu dinh dưỡng của đối tượng nuôi, các chất bổ sung cần thiết, và cuối cùng là dây chuyền sản xuất thức ăn phù hợp [32]

Trang 26

1.6 Thực trạng nghề nuôi ốc hương ở Việt Nam

Ốc hương là đối tượng thủy sản xuất khẩu quan trọng ở các tỉnh miền Trung và một số tỉnh miền Bắc Nhờ thành công trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm trong điều kiện nhân tạo mà sản lượng ốc hương nuôi đã tăng rất nhanh trong những năm vừa qua, góp phần quan trọng trong việc giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân ven biển

Đến nay, nghề nuôi ốc hương đã phát triển rộng ra nhiều tỉnh trong cả nước như Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu, Kiên Giang Năm 2017, tổng diện tích nuôi ốc hương cả nước trên 1.250

ha, ước đạt sản lượng trên 6.200 tấn, trong đó riêng tỉnh Khánh Hòa chiếm trên 60% tổng sản lượng cả nước với diện tích nuôi 865,85 ha và 75 đăng lồng, tổng sản lượng đạt 3.845 tấn [1] Năm 2018, Khánh Hòa có 168 trại sản xuất ốc hương giống và 667,8

ha nuôi thương phẩm, tổng sản lượng đạt 2.246,8 tấn [2]

Tiềm năng phát triển nghề nuôi ốc hương ở nước ta là rất lớn, nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu cao, cung không đủ cầu Tuy nhiên, nghề nuôi ốc hương hiện nay đang còn rất lạc hậu, phụ thuộc vào thiên nhiên, năng suất và hiệu quả thấp, tiềm

ẩn nhiều rủi ro Theo kết quả khảo sát sơ bộ cho thấy, những năm qua, nghề nuôi ốc hương đang gặp nhiều khó khăn, do thiên tai, dịch bệnh xảy ra trên diện rộng ở cả khu vực sản xuất giống và nuôi thương phẩm Diện tích nuôi và sản lượng đang giảm dần theo từng năm [20]

Trang 27

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Ốc hương (Babylonia areolata Link, 1807) kích cỡ 0,05-0,2 g/con

Hình 2.1 Ốc hương giống thí nghiệm 2.2 Thời nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: 6/2018 - 6/2019

2.3 Địa điểm nghiên cứu

Sản xuất thức ăn: Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Vạn Xuân, Xã Suối Cát, Huyện Cam Lâm, Tỉnh Khánh Hòa

Bố trí thử nghiệm: Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ Thủy sản Khánh Hòa,

Xã Vạn Hưng, Huyện Vạn Ninh, Tỉnh Khánh Hòa

Hình 2.2 Địa điểm nghiên cứu

(Trái: Công ty TNHH Nuôi trồng thủy sản Vạn Xuân; Phải: Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ Thủy sản Khánh Hòa)

Trang 28

2.4 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác

nhau, hàm lượng enzyme protease khác nhau trong thức ăn đến ốc

hương (Babylonia areolata Link, 1807) giai đoạn giống

Lựa chọn thức ăn tổng hợp tốt nhất

Ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein trong thức ăn tổng hợp

đến ốc hương giai đoạn giống

Phân tích, đánh giá tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR

cá Kiên Giang:

bột ruốc = 5:26:19:7)

T3(bột trùn quế: bột phụ phẩm cá: bột

cá Kiên Giang:

bột ruốc = 6:21:22:9)

T0(cá cơm)

Ảnh hưởng của hàm lượng protease khác nhau trong thức ăn tổng hợp đến

ốc hương giai đoạn giống

Phân tích, đánh giá tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR

Lựa chọn thức ăn tổng hợp tốt nhất

Hình 2.3 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Trang 29

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau đến

tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR của ốc hương giai đoạn giống

2.5.1.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn, bao gồm 4 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần Ba nghiệm thức sử dụng 3 loại thức ăn tổng hợp với hàm lượng protein 45% với tỉ lệ phối trộn các nguồn nguyên liệu protein khác nhau (T1, T2, T3) và một nghiệm thức đối chứng sử dụng thức ăn tươi - cá cơm (T0)

Ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein trong thức ăn

tổng hợp đến ốc hương giai đoạn giống

Phân tích, đánh giá tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR

= 5:26:19:7)

T3 (bột trùn quế : bột phụ phẩm cá : bột cá Kiên Giang : bột ruốc

= 6:21:22:9)

T0 (cá cơm)

Lựa chọn thức ăn tổng hợp tốt nhất

Hình 2.4 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau trong thức ăn tổng hợp đến ốc hương giai đoạn giống 2.5.1.2 Chuẩn bị thức ăn thí nghiệm

Thức ăn sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu cung cấp protein khác nhau từ động vật và thực vật Ba loại thức ăn thí nghiệm có sự khác nhau về tỉ lệ bột trùn quế, bột phụ phẩm cá, bột cá Kiên Giang và bột ruốc

Nguyên liệu được sử dụng để sản xuất 3 loại thức ăn bao bột trùn quế, bột phụ phẩm cá đông lạnh, bột cá Kiên Giang, bột ruốc, bột gan mực, bột gluten lúa mì, bột sắn biến tính, khô đậu nành trích ly, bột cám gạo trích ly, men bánh mì, bột kết dính

Trang 30

CMC, dầu cá ngừ, dầu đậu nành, khoáng hỗn hợp, vitamin hỗn hợp, chất bổ sung dinh dƣỡng và chất phụ gia thể hiện trong Bảng 2.1

Bảng 2.1 Thành phần của 3 loại thức ăn tổng hợp

TT Công thức thức ăn T1 T2 T3 Tổng cộng (%) 100 100 100

Trang 31

Nghiên cứu này sử dụng thức ăn dạng bột mịn Trước khi cho ăn, thức ăn bột được trộn đều với nước với tỉ lệ 1:0,15 Sau đó sử dụng máy ép viên để tạo thành các viên thức ăn dạng bán ẩm Ốc ở nghiệm thức đối chứng được cho ăn cá cơm

2.5.1.3 Hệ thống bể thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí trong các bể xi măng hình chữ nhật với diện tích 10

m2/bể Trước khi tiến hành thí nghiệm, bể được rửa sạch bằng xà phòng, ngâm Chlorine A nồng độ 5ppm trong 24 giờ, sau đó rửa sạch Đáy bể được phủ một lớp cát dày 2 cm Xung quanh thành bể được dán nẹp nhựa ở độ cao 15 cm để cho ốc không

bỏ ra ngoài Nước trong bể nuôi có độ cao 15 cm, ngang với nẹp nhựa

Hình 2.6 Hệ thống bể thí nghiệm ốc hương 2.5.1.4 Chuẩn bị ốc hương thí nghiệm

Nghiên cứu sử dụng con giống có khối lượng trung bình 0,0501 ± 0,00025 g được mua từ trại giống của Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ Thủy sản Khánh Hòa

Thí nghiệm lựa chọn những con giống khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc đẹp và vỏ không sứt mẻ

Trang 32

Duy trì các yếu tố môi trường nước trong khoảng thích hợp để ốc tăng trưởng tốt:

pH từ 6 - 9, nhiệt độ 26 - 280C, độ mặn 30 - 35‰, DO 4 - 6 mg/L

Định kỳ vệ sinh, xịt cát nền đáy 7 ngày 1 lần để loại bỏ các khí độc và chất hữu

cơ tồn động Tùy thuộc vào mức độ ô nhiễm mà điều chỉnh thời gian vệ sinh

2.5.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme protease trong thức ăn lên

tăng trưởng, tỉ lệ sống và hệ số tiêu tốn thức ăn của ốc hương giai đoạn giống

2.5.2.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn, bao gồm 4 nghiệm thức và 3 lần lặp lại cho mỗi nghiệm thức Bốn nghiệm thức với các hàm lượng enzyme protease bổ sung vào thức ăn khác nhau: 1.500 IU/kg (E1.5), 2.000 IU/kg (E2.0), 2.500 IU/kg (E2.5) và 0 IU/kg (E0)

Ảnh hưởng của hàm lượng protease khác nhau trong thức ăn

tổng hợp đến ốc hương giai đoạn giống

Phân tích, đánh giá tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR

Lựa chọn thức ăn tổng hợp tốt nhất

Hình 2.7 Bố trí thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng enzyme protease khác nhau trong thức ăn tổng hợp đến ốc hương giai đoạn giống 2.5.2.2 Phương pháp bổ sung enzyme protease

Thức ăn tốt nhất ở thí nghiệm 1 được lựa chọn để bổ sung 4 hàm lượng enzyme protease 0, 1.500, 2.000, 2.500 IU/kg thức ăn

Enzyme protease được sử dụng là protease nguyên liệu mua từ Công Ty Cổ Phần Hóa Dược Và Công Nghệ Sinh Học Biogreen, có hoạt lực 5.000 UI/g

Trang 33

Kỹ thuật phối trộn vi lượng là công đoạn rất quan trọng, đảm bảo chất lượng và

độ đồng đều của vi lượng bổ sung Khả năng trộn đều một hỗn hợp nguyên liệu sản xuất thức ăn cho ốc hương phụ thuộc tỉ lệ và kích thước thành phần

Tỉ lệ enzyme protease trong công thức là siêu nhỏ nên tiến hành trộn đồng lượng (trộn theo cấp số nhân) Sử dụng máy trộn hình lập phương để trộn enzyme protease với các nguyên liệu vi lượng khác

Hình 2.8 Máy trộn vi lượng hình lập phương

Yêu cầu về thiết bị trộn: lượng nguyên liệu dàn trải thích hợp và không quá 60% thiết bị, các tiểu phần dịch chuyển cả 3 hướng, lực chia cắt thích hợp để tránh tập kết, không có lực ly tâm để làm phân tách, lực trộn không gây gãy vỡ tiểu phần dẫn đến phân tán không đều Quá trình trộn nên dừng đột ngột vì giảm từ từ sẽ gây ra sự phân lập Yêu cầu lượng bám dính nguyên liệu trong thiết bị trộn < 0,01%, hiệu suất trộn cao, thời gian trộn ngắn, lượng dính máy ít, dễ làm vệ sinh, nhập liệu, thu sản phẩm nhanh, dễ dàng, độ kín tốt, ít bụi bột, ít hao nguyên liệu, dễ bảo quản sửa chữa, giá cả hợp lý

2.5.2.3 Chuẩn bị thức ăn thí nghiệm

Nghiên cứu này sử dụng thức ăn dạng bột mịn Trước khi cho ăn, thức ăn bột được trộn đều với nước với tỉ lệ 1:0,2 Sau đó sử dụng máy ép viên để tạo thành các viên thức ăn dạng bán ẩm

Thức ăn được ép hằng ngày và cho ăn liền, không bảo quản qua ngày trong suốt quá trình thí nghiệm

Trang 34

2.5.2.4 Hệ thống bể thí nghiệm

Hệ thống bể thí nghiệm tương tự thí nghiệm 1

2.5.2.5 Chuẩn bị ốc hương thí nghiệm

Nghiên cứu sử dụng con giống có khối lượng trung bình 0,0496 ± 0,00010 g được mua từ trại giống của Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ Thủy sản Khánh Hòa

Thí nghiệm lựa chọn những con giống khỏe mạnh, kích cỡ đồng đều, màu sắc đẹp và vỏ không sứt mẻ

Mật độ nuôi là 10.000 con/m2

2.5.2.6 Phương pháp nuôi

Phương pháp nuôi tương tự thí nghiệm 1

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Các chỉ tiêu môi trường

Đo nhiệt độ bằng máy đo Hanna HI98193 (độ chính xác 0,10

C) Mỗi ngày đo một lần vào 7 giờ

Đo oxy hòa tan (DO) bằng máy đo Hanna HI98193 (độ chính xác 0,01 mg/L) Mỗi ngày đo một lần vào 7 giờ

Đo độ mặn bằng khúc xạ kế đo độ mặn ATAGO Master S/MillM (độ chính xác 1

‰) Ba ngày đo một lần vào lúc 7 giờ

Đo pH, kH, NH4/NH3 bằng bộ hóa chất test kit của công ty SERA - Đức Ba ngày đo một lần vào lúc 7 giờ

2.6.2 Các chỉ tiêu ương nuôi

Khối lượng và chiều dài ốc ở các lô thí nghiệm được cân đo 10 ngày một lần bằng cân điện tử có độ chính xác 0,01 g và thước kẹp panme 0,02 mm

Phương pháp thu mẫu: Mỗi nghiệm thức lấy ngẫu nhiên 30 cá thể

Phương pháp tính toán:

+ Giá trị trung bình

Trang 35

X n

Trang 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỉ lệ các loại nguyên liệu protein khác nhau đến

tỉ lệ sống, tốc độ tăng trưởng và FCR của ốc hương giai đoạn giống

Hình 3.1 Thức ăn sử dụng cho thí nghiệm 1

Cách thức chuẩn bị và quản lý thức ăn trong thời gian đầu thí nghiệm chưa phù hợp dẫn đến thức ăn dư thừa nhiều Ngày nuôi thứ 7, môi trường các nghiệm thức sử

Ngày đăng: 17/02/2021, 14:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm