1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng thức ăn đến hiệu quả sinh sản, ảnh hưởng mật độ và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm hề (hymenocera picta DANA, 1852)

75 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản, ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm hề Hymenocera picta, Dana 1852 được thực hiện nhằ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ QUANG TRUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG THỨC ĂN ĐẾN HIỆU QUẢ SINH SẢN, ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM HỀ

(Hymenocera picta DANA, 1852)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ QUANG TRUNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG THỨC ĂN ĐẾN HIỆU QUẢ SINH SẢN, ẢNH HƯỞNG MẬT ĐỘ VÀ THỨC ĂN LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM HỀ

(Hymenocera picta DANA, 1852)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn

đến hiệu quả sinh sản, ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm hề (Hymenocera picta, Dana 1852)” là công trình nghiên cứu của cá

nhân tôi, do bản thân tôi xây dựng, thu thập và xử lý số liệu dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Đình Mão và sự hỗ trợ chuyên môn cũng như kinh phí triển khai từ ThS Đoàn Xuân Nam - chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Bộ Giáo

dục và Đào tạo mã số B2016-TSN-03 "Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống

tôm hề (Hymenocera picta Dana, 1852)" Tôi được sự cho phép của chủ nhiệm đề tài

trong việc thiết kế thí nghiệm, triển khai nghiên cứu và sử dụng một số kết quả từ đề tài này Các kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào cho đến thời điểm hiện tại

Khánh Hòa, ngày 17 tháng 12 năm 2018

Tác giả

Lê Quang Trung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Viện Nuôi trồng Thủy sản, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Nha Trang đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Đình Mão người đã tận tình hướng dẫn, động viên và dìu dắt tôi trong suốt quá trình định hướng nghiên cứu, thực hiện đề tài và viết luận văn tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Đoàn Xuân Nam - chủ nhiệm

đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo B2016-TSN-03

"Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống tôm hề Hymenocera picta Dana,

1852" Xin chân thành cảm ơn ThS Trần Văn Dũng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc

tiếp cận tài liệu, trình bày số liệu và có nhiều đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thiện báo cáo Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Trại Sản xuất giống cá cảnh Đường Đệ, Vĩnh Hòa, Nha Trang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi về kinh phí, nhân lực, trang thiết bị

và các hỗ trợ khác để tôi triển khai và hoàn thành các nội dung nghiên cứu của mình

Xin cảm ơn các thầy cô trong Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã giảng dạy cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua; Cảm ơn lãnh đạo và đồng nghiệp tại Chi cục Chăn nuôi và Thú y Ninh Thuận đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa học Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày 17 tháng 12 năm 2018

Tác giả

Lê Quang Trung

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM ƠN v

MỤC LỤC vi

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của tôm hề 3

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái 3

1.1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển 4

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 6

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ương giống tôm cảnh 9

1.2.1 Môi trường 10

1.2.2 Dinh dưỡng 10

1.2.3 Hệ thống ương nuôi ấu trùng 11

1.2.4 Mật độ ấu trùng 12

1.3 Các nghiên cứu về sản xuất giống tôm cảnh trên thế giới và Việt Nam 13

1.3.1 Trên thế giới 13

1.3.2 Ở Việt Nam 15

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Phương pháp nghiên cứu 17

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 17

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận 18

2.2.3 Các điều kiện thí nghiệm 18

2.2.4 Bố trí thí nghiệm 19

2.2.4.1 Ảnh hưởng của thức ăn lên hiệu quả sinh sản của tôm bố mẹ 19

Trang 6

2.2.4.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng 20

2.2.4.3 Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng 24

2.2.5 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu 25

2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28

3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến hiệu quả sinh sản của tôm bố mẹ 28

3.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng 30

3.2.1 Các thông số môi trường 30

3.2.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ sống của ấu trùng 31

3.2.3 Ảnh hưởng của thức ăn lên tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng 31

3.2.4 Ảnh hưởng của các loại thức ăn lên sinh trưởng của ấu trùng 32

3.3 Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng 37

3.3.1 Các thông số môi trường 37

3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tỷ lệ sống của ấu trùng 37

3.3.3 Ảnh hưởng của mật độ ương lên tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng 38

3.3.4 Ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng của ấu trùng 39

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 42

4.1 Kết luận 42

4.2 Đề xuất ý kiến 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

ARA: Axít arachidonic (C20:4n-6)

ctv.: Cộng tác viên

DHA: Axít docosahexaenoic (C22:6n-3)

EPA: Axít eicosapentaenoic (20:5n-3)

SD, SE: Độ lệch chuẩn, Sai số chuẩn

SGR: Tốc độ tăng trưởng đặc trưng

TAN: Hàm lượng Ammonia tổng số

TL: Chiều dài toàn thân

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Các thông số môi trường bể nuôi tôm bố mẹ 28

Bảng 3.2 Kết quả nuôi vỗ và cho đẻ tôm bố mẹ với các loại thức ăn khác nhau 28

Bảng 3.3 Các thông số môi trường trong hệ thống ương ấu trùng 31

Bảng 3.4 Các thông số môi trường trong hệ thống ương ấu trùng 37

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hình thái ngoài tôm hề 4

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 17

Hình 2.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên hiệu quả sinh sản của tôm bố mẹ 20

Hình 2.3 Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng 25

Hình 2.4 Ảnh hưởng thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng 22

Hình 2.5 Ấu trùng tôm hề 24

Hình 3.1 Hoạt động ăn sao biển của tôm bố mẹ 29

Hình 3.2 Tỷ lệ sống của ấu trùng tôm khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau 38

Hình 3.3 Tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng ở các mật độ ương khác nhau 38

Hình 3.4 Sinh trưởng của ấu trùng ở các mật độ ương khác nhau 39

Hình 3.5 Tỷ lệ sống của ấu trùng tôm khi cho ăn các loại thức ăn khác nhau 31

Hình 3.6 Tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng ở các nghiệm thức thức ăn 32

Hình 3.7 Sinh trưởng của ấu trùng ở các nghiệm thức thức ăn khác nhau 33

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tôm hề, với các đặc điểm hình thái và màu sắc độc đáo, là đối tượng có giá trị kinh tế cao, được thị trường ưa chuộng Nhu cầu con giống cho nuôi cảnh trong và ngoài nước tăng cao trong khi nguồn cung hiện vẫn hoàn toàn dựa vào khai thác từ tự

nhiên dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi loài tôm này Nghiên cứu ảnh hưởng của

thức ăn đến hiệu quả sinh sản, ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ

lệ sống của ấu trùng tôm hề (Hymenocera picta, Dana 1852) được thực hiện nhằm xác

định loại thức ăn thích hợp cho nuôi vỗ thành thục tôm bố mẹ, loại thức ăn và mật độ thích hợp cho ương ấu trùng góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo loài tôm này Ba thí nghiệm một nhân tố, được thiết kế theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 4 loại thức ăn cho tôm bố mẹ (tôm, mực, sao biển, thức ăn tổng hợp), 5 loại thức

ăn cho ấu trùng (luân trùng, Copepoda, Artemia, hỗn hợp thức ăn sống, và thức ăn tổng hợp) và 4 mật độ ương (10, 20, 30, và 40 con/L) Kết quả nghiên cứu cho thấy: tôm bố mẹ chỉ có thể ăn được duy nhất sao biển, thể hiện sự sinh trưởng, thành thục,

đẻ trứng hiệu quả khi cho ăn loại thức ăn này Khi cho ăn các loại thức ăn còn lại, tôm hoàn toàn không ăn; sau 7 - 10 ngày, tôm xuất hiện các dấu hiệu đặc trưng như các phần phụ co lại, mòn cụt dần, không phản ứng với các kích thích, tôm yếu dần và chết Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ ương có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển

giai đoạn và kích thước của ấu trùng Ấu trùng được ương ở mật độ 20 con/L (9,2 ± 0,64%) và 30 con/L (11,1 ± 1,59%) đạt tỷ lệ sống cao hơn so với mật độ ương 10 con/L (6,0 ± 0,21%) và 40 con/L (2,6 ± 1,04%) ở giai đoạn Zoea X (P < 0,05) Ấu

trùng được ương ở mật độ 20 con/L đạt tỷ lệ chuyển giai đoạn cao nhất 46,8%, tiếp theo lần lượt là các mật độ ương 20, 10, và 40 con/L, dao động từ 21,3 - 39,7% (P < 0,05) Kích thước ấu trùng đạt được cao nhất ở mật độ ương 20 con/L (5,50 ± 0,06 mm) nhưng không khác biệt so với mật độ 30 con/L (5,20 ± 0,17 mm, P > 0,05) Thức

ăn cũng ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển giai đoạn và kích thước của ấu trùng Ấu trùng được cho ăn bằng hỗn hợp thức ăn sống (luân trùng, Copepoda và Artemia) đạt tỷ lệ sống và tỷ lệ chuyển giai đoạn (5,9 ± 0,53%; 32,6 ± 1,47%) cao hơn

so với thức ăn Copepoda (2,8 ± 0,63%; 26,2 ± 1,70%) nhưng không khác biệt so với thức ăn Artemia (4,6 ± 1,57%; 29,1 ± 2,57%) tại thời điểm Zoea XI Thức ăn luân trùng và tổng hợp không phù hợp cho ương ấu trùng tôm hề, thể hiện ở tỷ lệ sống và chuyển giai đoạn rất thấp, ấu trùng chết sau giai đoạn Zoea III Chiều dài ấu trùng đạt

Trang 11

được cao nhất khi cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp (5,81 ± 0,11 mm); không có sự khác biệt về kích thước ấu trùng khi cho ăn bằng Artemia và Copepoda (5,05 ± 0,09 mm và 4,99 ± 0,13 mm, P > 0,05) Từ nghiên cứu này có thể nhận thấy, tôm bố mẹ chỉ có thể

sử dụng sao biển; ấu trùng nên được ương ở mật độ ương 20 - 30 con/L bằng hỗn hợp thức ăn sống nhằm cải thiện tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển giai đoạn và tốc độ tăng trưởng Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở giai đoạn Zoea X - XI, ấu trùng chưa hoàn tất biến thái, do đó, cần có các giải pháp nâng cao tỷ lệ sống và chuyển giai đoạn của

ấu trùng tôm hề thông qua các cải tiến về hệ thống ương, chế độ cho ăn, làm giàu thức

ăn sống, bổ sung các nhân tố thúc đẩy sự hoàn tất biến thái ấu trùng loài tôm này

Từ khóa: tôm cảnh, harlequin, Hymenocera picta, thức ăn, ấu trùng, mật độ

Trang 12

MỞ ĐẦU

Thủy sinh vật cảnh ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, người nuôi và các nhà bảo tồn Trong đó, nuôi giáp xác cảnh mới bắt đầu phát triển trong vài năm trở lại đây, trong đó, tôm cảnh biển, với ưu điểm là màu sắc độc đáo và sặc sỡ, là những loài có giá trị kinh tế rất cao và trở nên phổ biến trong ngành công nghiệp sinh vật cảnh [13], [15] Nguồn cung cấp tôm cảnh chủ yếu đến từ các nước ở khu vực Đông Nam Á, Thái Bình Dương và Caribbean Với nhu cầu tiêu thụ tôm cảnh biển ngày càng gia tăng hiện nay, trong khi nguồn cung cấp tôm cảnh vẫn chủ yếu dựa vào khai thác từ tự nhiên, đã đặt ra nhiều mối quan tâm đối với các nhà khoa học, quản lý và bảo tồn Nuôi trồng thủy sản được xem là giải pháp hữu hiệu nhất

để giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực lên nguồn lợi tự nhiên và phát triển bền vững ngành công nghiệp này

Các nghiên cứu về sản xuất giống và nuôi cá cảnh ở nước ta đã đạt được những thành công nhất định trên một số loài, đặc biệt là nhóm cá cảnh nước ngọt và cá khoang cổ nước mặn Các nghiên cứu về tôm cảnh biển ở Việt Nam còn rất hạn chế ngoại trừ nghiên cứu về tôm bác sỹ của Lục Minh Diệp và cộng sự (2017) [2] Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới dừng lại ở những thử nghiệm ban đầu ở quy mô thí nghiệm, thăm dò, vẫn chưa đạt được nhiều thành công Tôm hề, với các đặc điểm hình thái và màu sắc độc đáo, là đối tượng có giá trị kinh tế cao thuộc họ Hymenoceridae Hiện nay, nhu cầu về nuôi cảnh loài tôm này là khá lớn trên thế giới cũng như trong nước Tuy nhiên, nguồn cung cấp con giống của loài tôm này vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên Cho đến nay, nghiên cứu về sản xuất giống loài tôm này vẫn chưa thực

sự thành công bởi những khó khăn liên quan đến khó khăn trong việc cung cấp thức ăn cho tôm bố mẹ (sao biển), thiết kế hệ thống ương nuôi, xác định loại thức ăn, chế độ chăm sóc quản lý thích hợp cho ấu trùng, và việc ấu trùng trải qua 12 giai đoạn biến thái đi kèm với hiện tượng lột xác nhiều lần mà không chuyển giai đoạn dẫn đến kéo dài thời gian hoàn tất biến thái ấu trùng là một trong những trở ngại lớn nhất trong ương ấu trùng tôm cảnh hiện nay [13]

Xuất phát từ những vấn đề trên, “Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn đến

hiệu quả sinh sản, ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm hề (Hymenocera picta, Dana 1852)” là cần thiết nhằm góp phần

Trang 13

xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo tôm hề, đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, đồng thời giảm áp lực khai thác lên nguồn lợi tự nhiên của đối tượng này

MỤC TIÊU ĐỀ TÀI:

Đánh giá ảnh hưởng của các loại thức ăn lên kết quả nuôi tôm bố mẹ; ảnh

hưởng của thức ăn và mật độ lên kết quả ương ấu trùng tôm hề (Hymenocera picta

Dana, 1852)

NỘI DUNG ĐỀ TÀI:

1 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên hiệu quả sinh sản của tôm hề bố mẹ

2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ ương lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm hề

3 Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm hề

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số đặc điểm sinh học sinh sản của tôm hề

1.1.1 Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái

Tôm hề là một trong những nhóm tôm cảnh đáng chú ý nhất trong bộ Decapoda với đặc điểm hình thái mang những đốm sắc tố độc đáo và sặc sỡ Loài tôm này có hệ thống phân loại như sau:

Loài: Hymenocera picta Dana, 1852

Tôm hề còn có các tên gọi khác như Painted Dancing Shrimp, Clown Shrimp và Dancing Shrimp

Loài tôm này thuộc phân bộ Caridea cùng với rất nhiều loài tôm cảnh khác Các loài tôm thuộc phân bộ này thường được gọi là tôm Caridean Chúng có các đặc điểm phân biệt với các họ khác như Penaeoidea và Stenopodidea thông qua các dấu hiệu đặc trưng về số đôi chân ngực dạng kìm, hình thức ôm phôi, tấm vỏ ở đốt bụng thứ hai, và hình thái của mang Một trong những đối tượng có đặc điểm gần nhất với tôm hề và

được nghiên cứu nhiều là tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879)

1.1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố

Các đôi phần phụ của giống Hymenocera có dạng hình lá Đôi chân hàm thứ ba

có đốt cuối rộng hơn đốt đầu; đôi chân bò thứ hai là đôi càng lớn với phần viền đốt ngón mở rất rộng hình chiếc lá Phần miệng của tôm rất phát triển và cấu tạo thích nghi với việc ăn sao biển Cơ thể tôm hề có màu kem hay trắng, có các đốm sắc tố màu vang đỏ hay hơi hồng được bao bọc bởi viền hơi vàng [13]

Giống Hymenocera phân bố từ vùng biển Đỏ đến Zululand và phía Đông của Philippines và Indonesia đến Hawaii, Tuamotus và Panama Tôm hề phân bố ở phía

Trang 15

Đông và giữa Thái Bình Dương Trong môi trường sống, tôm hề hầu như sống theo cặp và phân bố ở các vùng biển nhiệt đới nơi có độ sâu 1 - 30 m [13]

Hình 1.1 Hình thái ngoài tôm hề 1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển

Ở giáp xác mười chân, quá trình phát triển phôi thường bao gồm các giai đoạn chính: trứng mới nở, phân cắt phôi, xuất hiện điểm mắt, hình thành sắc tố, tim bắt đầu đập, và chuẩn bị nở Trong quá trình phát triển phôi, màu sắc của trứng thay đổi dần dần từ màu vàng nhạt sang màu cam, sau đó có màu xám và khi sắp nở trứng có màu xám đen Sự thay đổi màu sắc này tương ứng với quá trình tiêu hết noãn hoàng, sự hình thành các bộ phận của phôi, và sự xuất hiện của mắt Sau 14 – 16 ngày, trứng sẽ nở và quá trình nở hoàn thành sau 4 - 6 giờ Khi nở, tôm mẹ cử động chân bụng liên tục để thải ấu trùng ra ngoài

Theo Fiedler (1994), ấu trùng của tôm hề trải qua 12 giai đoạn phát triển để hoàn thành quá trình biến thái (Bảng 1.1) Giai đoạn Postlarvae có hình thái giống tôm trưởng thành, hầu hết các đặc điểm bơi lội tiêu giảm [20] Thời gian biến thái ấu trùng cũng có sự dao động lớn từ 2 tuần đến vài tháng phụ thuộc vào loài và điều kiện môi

trường [10] Trong số những loài đã nuôi thành công, Stenopus hispidus có số ngày phát triển ấu trùng dài nhất là 120 - 210 ngày, trong khi số ngày của loài H picta và L

seticaudata lần lượt là 28 - 56 ngày và 19 - 27 ngày [20], [22]

Ấu trùng mới nở của tôm hề có chiều dài 1,4 mm, rộng 0,64 mm và cao 0,43

mm Sau 5 - 7 tuần ương, ấu trùng hoàn tất quá trình biến thái, lúc này, chúng đạt chiều dài và rộng lần lượt khoảng 3 và 2 mm Các chân bụng có dạng nhánh và chúng

Trang 16

bắt đầu sống giống như tôm trưởng thành Sau khi hoàn tất biến thái, tôm con bám vào san hô, sao biển, hay các vật cứng; đôi khi chúng cũng có thể bơi nhẹ nhàng trong nước Màu sắc cơ thể vẫn còn hầu như trong suốt Các tuần sau đó, các sắc tố màu hồng, tím và kem bắt đầu xuất hiện [22]

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Khác với tôm he, các giai đoạn phát triển phôi diễn ra trong môi trường nước và

ấu trùng mới nở là nauplius chưa có khả năng dinh dưỡng ngoài, ấu trùng mởi nở của của nhiều loài tôm cảnh biển là ấu trùng Zoea, có thể bắt đầu ăn thức ăn ngoài ngay sau khi nở [3], [9], [13] Nhìn chung, ấu trùng mới nở của các loài tôm biển có khả năng dinh dưỡng bằng noàn hoàng trong một khoảng thời gian nhất định tùy thuộc vào điều kiện môi trường, vùng phân bố, loài và sự sẵn có của nguồn thức ăn [9] Một số nghiên cứu chỉ ra rằng ấu trùng của một số loài tôm cảnh biển có thể chuyển giai đoạn thành công từ Zoea I sang Zoea II - III trong điều kiện không có thức ăn hoặc chỉ cung cấp vi tảo Điều này cho thấy dinh dưỡng bằng noãn hoàng đóng một vai trò nhất định trong biến thái ấu trùng giai đoạn đầu ở một số loài tôm cảnh biển thuộc giống Lysmata và ngay cả Hymenocera [2], [3], [22] Đa số loài tôm trong bộ Caridean, ấu trùng Zoea mới nở có các đôi phần phụ miệng và đầu ngực phát triển cho phép chúng bắt mồi chủ động và sử dụng hiệu quả nguồn thức ăn ngoài là các động vật phù du (Luân trùng, Copepoda, Artemia) ngay từ khi mới nở [3], [10], [13]

Trong tự nhiên, ấu trùng tôm cảnh biển có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau để thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai đoạn phát triển Khác với ấu trùng tôm he (tôm sú, tôm thẻ chân trắng), vi tảo là loại thức ăn bắt buộc cho giai đoạn đầu của sự phát triển ấu trùng mặc dù chúng cũng có thể sử dụng được thức ăn tổng hợp trong điều kiện nhân tạo Vi tảo giúp cải thiện đáng kể tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ chuyển giai đoạn và tỷ lệ sống của ấu trùng [7] Tuy nhiên, khả năng sử dụng vi tảo của ấu trùng tôm cảnh biển là rất hạn chế, việc sử dụng đơn lẻ vi tảo thậm chí là luân trùng, cũng không giúp ấu trùng hoàn tất biến thái [1], [3], [35], [40], [41]

Theo Anger (2001), cả trong điều kiện nhân tạo và ngoài tự nhiên, ấu trùng các loài tôm biển nói chung có sự chuyển đổi loại thức ăn trong suốt quá trình phát triển ấu trùng để thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng và kích cỡ con mồi [9] Các loại thức ăn phổ biến cho ương ấu trùng tôm biển gồm động vật phù du (Luân trùng, Copepoda và

Trang 17

Artemia), ấu trùng động vật thâm mềm, ấu trùng giáp xác, giun nhiều tơ, cá nhỏ [7], [12], [21], [26] Ở các giai đoạn lớn hơn, chúng có thể sử dụng được các loại thức ăn

có kích cỡ lớn, thịt tôm, cá, động vật thân mềm băm nhỏ, thức ăn chế biến và thức ăn tổng hợp [20], [30], [33]

Theo Trần Văn Dũng và Saowapa (2011), Trần Văn Dũng và Lương Thị Hậu (2014), ấu trùng mới nở của tôm hề có khả năng nhịn đói trong vài ngày đầu Tuy nhiên, sau khi ấu trùng lột xác chuyển sang giai đoạn Zoea II, chúng cần được cung cấp các loại động vật phù du như Copepoda và Artemia [3], [5] Mặc dù Copepoda được biết đến là thức ăn giàu dinh dưỡng cho ương ấu trùng nhiều loài tôm, cá biển tuy nhiên hiệu quả của nó lại phụ thuộc vào thành phần dinh dưỡng và loài Copepoda

sử dụng Trong khi Trần Văn Dũng và Saowapa (2011) nhận thấy loài Apocyclops

borneoensis không phù hợp cho ương ấu trùng tôm hề [3], Kraul (1999) lại cho rằng

việc sử dụng Copepoda giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống và giúp ấu trùng tôm hề hoàn tất biến thái ấu trùng sau khoảng 5 - 7 tuần [22], [26] Hậu ấu trùng tôm hề chỉ có khả năng sử dụng duy nhất sao biển sau khi hoàn tất biến thái và đây là một trong những trở ngại lớn khi ương nuôi loài tôm này trong điều kiện nhân tạo [15], [20]

Hoạt động ăn mồi, sao biển, ở tôm hề được mô tả chi tiết bởi Wickler (1973) và Prakash and Kumar (2013) [31], [39] Khi quan sát ở các rạn san hô nơi có sao biển và tôm hề sinh sống, tác giả phát hiện có sự xuất hiện của nhiều mảnh sao biển vụn Tôm

hề có khả năng đặc biệt trong việc phát hiện ra vị trí của sao biển thông qua các tín hiệu hóa học Đồng thời, nhờ sở hữu một cơ quan khứa giác rất phát triển, khả năng gây mê con mồi và các đôi chân ngực có dạng gọng kìm sắc nhọn, loài tôm này có thể ăn sao biển một cách hiệu quả Chúng kéo léo tách bỏ phần vỏ cứng bên ngoài và ăn các phần chân ống, các mô nội tạng, thần kinh và sinh dục của sao biển theo hướng từ ngoài vào trung tâm nhằm kéo dài thời gian sống và chất lượng của sao biển trong một thời gian nhất định [15], [31] Mặc dù sống theo cặp, khả năng phối hợp giữa tôm đực và tôm cái trong hoạt động ăn sao biển ngoài tự nhiên cũng như trong điều kiện nhân tạo rất hạn chế do loài tôm này có tập tính sở hữu con mồi làm thức ăn cho riêng mình [15], [31]

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Đặc điểm sinh sản của tôm cảnh biển được mô tả chi tiết trên nhiều loài và có nhiều điểm tương đồng về đặc điểm hình thái ngoài cũng như cấu tạo bên trong Tôm

Trang 18

cảnh biển thường phân tích đực cái rõ ràng có thể phân biệt dễ dàng bằng mắt thường dựa trên các đặc điểm về màu sắc, kích thước và một số phần phụ sinh dục Mặc dù vậy, nhiều loài được báo cáo là có sự chuyển đổi giới tính trong quá trình phát triển, từ đực sang cái hoặc từ cái sang đực Việc chuyển đổi giới tính hay trì hoãn quá trình thành thục sinh dục bị chi phối bởi nhiều yếu tố và thường xảy ra ở con cái khi thiếu vắng sự xuất hiện của con đực thành thục [10], [13] Ở tôm hề, tôm cái thường có kích thước lớn hơn tôm đực trong cùng một đôi Ngoài ra, tôm cái còn có một đốm màu lớn đặc trưng màu tím hoặc hồng dưới mặt bụng trong khi dấu hiệu này không xuất hiện ở tôm cái [15] Tôm đực thuộc bộ Caridean cũng được phân biệt dễ dàng với tôm cái nhờ nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của đôi chân bụng thứ hai [10] Cấu tạo trong của cơ quan sinh dục của tôm cũng được mô tả chi tiết trên nhiều loài Tôm cái có buồng trứng nằm trên mặt lưng của phần giáp đầu ngực giữa dạ dày và gan tụy Khi buồng trứng thành thục có thể nhìn thấy qua giáp đầu ngực, trải dài từ sau mắt đến vài đốt đầu của phần bụng Ống dẫn trứng nối từ buồng trứng ở trước tim chạy dọc hai bên phía bụng đổ về túi chứa tinh nằm ở gốc của đôi chân ngực thứ ba Ở tôm đực, cơ quan sinh dục trong gồm một đôi tinh sào, một đôi ống dẫn tinh và đầu mút Đôi tinh sào ngoằn nghèo, nằm giữa mặt lưng của giáp đầu ngực được nối với ống dẫn tinh chạy từ trước dọc sang hai bên viền sau của giáp đầu ngực và đổ vào đầu mút nằm ở gốc của đôi chân ngực thứ năm [10]

Khi thành thục sinh dục, các phần phụ ở phía mặt bụng của tôm cái rất phát triển tạo điều kiện cho việc đẻ trứng, gắn trứng, và ấp trứng Trong quá trình ấp trứng, màu sắc trứng có sự thay đổi và kích thước trứng tăng dần làm cho khối phôi nở rộng chiếm trọn khoang bụng [10] Mùa vụ sinh sản của tôm cảnh biển có sự khác biệt tùy theo loài và vùng phân bố Đa số các báo cáo trên tôm cảnh biển cho thấy nhóm tôm này thành thục và sinh sản quanh năm nhưng có tập trung vào một số thời điểm nhất

định Ở tôm bác sĩ L amboinensis, Đoàn Thị Ngọc Kiều (2015) nhận thấy loài tôm

này có thể sinh sản quan năm với đỉnh cao là tháng 9 và 10 [6] Trên tôm hề, Trần Văn Dũng và Saowapa (2011) cũng nhận thấy loài tôm này sinh sản quanh năm trong điều kiện được cung cấp thức ăn đầy đủ [3] Tuổi và kích thước thành thục của tôm biển phụ thuộc vào nhiều vào các yếu tố môi trường và thức ăn, tôm bác sĩ thành thục lần đầu ở kích thước 4,27 cm [2] Trong quá trình thành thục, buồng trứng trải qua 4 - 5

Trang 19

giai đoạn phát triển và có sự thay đổi rõ rệt về màu sắc và kích thước có thể nhìn thấy

rõ ở phía dưới lớp vỏ giáp đầu ngực [8]

Trần Văn Dũng và Saowapa (2011) đã mô tả chi tiết quá trình giao vỹ ở tôm hề với 7 giai đoạn Theo đó, các giai đoạn có thể tóm tắt gồm tiếp xúc, tôm đực trèo lên lưng tôm cái, tôm đực cưỡi lên lưng tôm cái, tôm đực đu đưa trên lưng tôm cái, tôm đực nhào xuống, tôm đực gắn túi tinh, tôm đực và tôm cái rời nhau ra [4] Sự gắn của túi tinh ở tôm Caridean là tạm thời, không phức tạp như ở tôm sú, chỉ được sử dụng cho mỗi lần đẻ trứng và có thể phải giao vỹ lại trong trường hợp không thành công Quá trình giao vỹ và gắn túi tinh thường kéo dài vài giây đến vài giờ tùy thuộc vào loài [4], [10] Về cơ bản, túi tinh sau khi gắn chỉ được sử dụng cho một lần đẻ trứng sau đó tôm mẹ phải giao vỹ lại ở lần lột xác kế tiếp; đặc điểm này tương tự với tôm thẻ chân trắng hơn là so với tôm sú

Hoạt động đẻ trứng của tôm biển nói chung và tôm hề nói riêng thường diễn ra chỉ vài phút đến vài giờ sau khi giao vỹ [4], [10] Trước khi đẻ, tôm cái dùng các đôi chân ngực một và hai để chỉnh lại túi tinh và vệ sinh các nhánh trong của các đôi chân bụng để chuẩn bị không gian chứa trứng Sự phối hợp của các đôi chân ngực và nhánh trong của các đôi chân ngực không những giúp cho quá trình thụ tinh được diễn ra thuận lợi mà còn giúp trứng gắn vào các sợi lông tơ ở dưới mặt bụng [8], [10] Khi đẻ, trứng được thoát ra từ chân ngực thứ 3, thụ tinh với tinh trùng thoát ra từ túi tinh và được gắn lần lượt lên các sợi lông tơ của các đôi chân bụng thứ tư, thứ ba, thứ hai và thứ nhất Trứng được dính với nhau bởi các chất keo tiết ra từ mặt bụng, bao trùm lên toàn bộ khối phôi bảo vệ chúng trong suốt quá trình ấp nở [10] Sự hao hụt trứng xảy ra khá phổ biến trong quá trình ấp trứng ở tôm biển tuy nhiên tỷ lệ mất trứng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng tinh trùng, trạng thái sức khỏe của tôm mẹ, tình trạng dinh dưỡng của tôm bố mẹ, điều kiện chăm sóc quản lý, các nhân tố gây sốc trong môi trường Trứng không thụ tinh vẫn được đẻ ra và dính vào các sợi lông tơ như bình thường nhưng sẽ rớt ra khỏi buồng trứng trong vài ngày [4], [8], [10]

Một số nghiên cứu về sức sinh sản ở tôm biển cho thấy có sự phụ thuộc chặt chẽ vào nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài Các yếu tố bên trong bao gồm loài, kích thước tôm mẹ, di truyền, số lần sinh sản của tôm mẹ Trong số này, kích thước tôm

mẹ là một trong những yếu tố có tương quan thuận chặt chẽ nhất với sức sinh sản của tôm mẹ Theo đó, những tôm mẹ có kích thước lớn hơn có sức sinh sản thực tế (lượng

Trang 20

trứng đẻ ra gắn vào mặt bụng) cao hơn so với nhóm tôm có kích thước nhỏ [2], [4], [25] Các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến sức sinh sản thường là dinh dưỡng, môi trường, vùng phân bố, mùa vụ, chế độ chăm sóc, quản lý [9], [10] Trong đó, số lượng và chất lượng nguồn thức ăn có ảnh hưởng hơn cả do hoạt động sinh sản nói chung và quá trình sinh trứng đòi hỏi phải tích lũy và chuyển hóa một lượng lớn năng lượng [9], [22] Thức ăn có nguồn gốc từ động vật không xương sống ngoài biển góp phần đáng kể trong việc cải thiện sức sinh sản của tôm bố mẹ [7], [10] Đối với tôm

hề, sức sinh sản thực tế dao động từ 100 - 5.000 trứng/tháng tùy thuộc vào điều kiện chăm sóc, quản lý [4], [22]

Thời gian ấp trứng hay phát triển phôi ở tôm có sự khác nhau giữa các loài và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố môi trường cũng như vùng phân bố Khối phôi được bảo vệ, chăm sóc bởi tôm mẹ trong suốt quá trình ấp trứng thông qua một lớp màng mỏng bao bọc Ngoài ra, tôm mẹ còn dùng đôi chân ngực một để bảo vệ trứng khỏi sinh vật bám và loại bỏ trứng hư [8], [10] Việc tách phôi khỏi sự chăm sóc của tôm

mẹ ấp trong điều kiện nhân tạo vẫn phát triển bình thường; tuy nhiên, tỷ lệ hao hụt thường lớn hơn nhiều so với phương pháp ấp tự nhiên do bị vi khuẩn tấn công Thời gian phát triển phôi trung bình của tôm harequin là 14,48 ± 0,87 ngày ở nhiệt độ 28 ± 0,7oC, phôi thường nở vào buổi tối (18h30 – 19h 30), hoạt động nở kéo dài từ 5 - 30 phút tùy theo chất lượng phôi [4], [20]

Trong sinh sản nhân tạo tôm cảnh biển, một trong những khó khăn thường gặp

đó là hiện tượng mất trứng trong quá trình ấp nở Đã có một số nghiên cứu về nguyên nhân và giải pháp khắc phục hiện tượng này Nguyên nhân chính được cho là chất lượng tinh trùng kém, phôi không phát triển, bị ăn bởi tôm mẹ, vi khuẩn hay ký sinh trùng tấn công, sự gia tăng kích thước trứng trong quá trình ấp nở [13] Ở một số loài tôm cảnh biển, tỷ lệ mất trứng dao động phổ biến từ 12 - 74% [10], [13] Hoạt động sinh sản của tôm biển có tính chu kỳ rõ rệt theo thứ tự thành thục - lột xác - giao vỹ -

đẻ trứng - ấp trứng (phát triển phôi) - nở - tái phát dục Chu kỳ sinh sản này tùy thuộc vào đặc điểm sinh thái của loài, vùng phân bố, nhiệt độ nước, chế độ dinh dưỡng Có những loài sinh sản quanh năm tập trung cao độ vào một số tháng nhất định, nhưng có những loài chỉ sinh sản một năm một lần [4], [6], [10]

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ương giống tôm cảnh

Trang 21

1.2.1 Môi trường

Nhiệt độ ương là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả ương nuôi ấu trùng, đặc biệt là tỷ lệ sống và thời gian biến thái [12] Nhiệt độ càng tăng thì thời gian biến thái càng giảm tuy nhiên đi kèm với nguy cơ gây chết ấu trùng Ấu trùng tôm cảnh biển thường được ương nuôi ở nhiệt độ 25 - 29oC Ngoài ra, các yếu tố môi trường nước như độ mặn, hàm lượng oxy hòa tan, pH, hàm lượng TAN, độ cứng và độ kiềm cũng

có những ảnh hưởng nhất định đến kết quả ương nuôi ấu trùng giáp xác nói chung và tôm cảnh nói riêng Môi trường thích hợp cho ương ấu trùng tôm cảnh: độ mặn 30 - 35‰, pH 7,8 - 8,2, oxy hòa tan 5 - 8 mg O2/L, độ cứng và độ kiềm 80 - 150 mg CaCO3/L, hàm lượng NH3 < 0,1 ppm [13]

Ngoài dinh dưỡng, các tín hiệu thúc đẩy sự xuống đáy của ấu trùng giữ vai trò quan trọng đối với nhiều loài tôm cảnh biển Các tín hiệu hóa học được bài tiết bởi hải quỳ giúp rút ngắn thời gian biến thái ấu trùng và nâng cao tỷ lệ sống trong quá trình ương nuôi tôm cảnh thuộc giống Periclimenes [13] Nhiều nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của các thành phần chất đáy tại môi trường sống của tôm trưởng thành là những tín hiệu tích cực thúc đẩy quá trình hoàn thiện biến thái ấu trùng ở nhiều loài giáp xác [23] Ngoài ra, các tín hiệu từ những cá thể trưởng thành cùng loài cũng đóng vai trò quan trọng đối với sự biến thái ấu trùng đã được ghi nhận ở nhiều loài giáp xác [23] Tuy nhiên, phương pháp sử dụng các tín hiệu này cũng là vấn đề được quan tâm Thông thường, các tín hiệu này (hải quỳ, chất đáy, đồng loại) được thả vào bể chứa thay vì thả trực tiếp vào bể ương nuôi ấu trùng nhằm đảm bảo các yếu tố đó không có tác dụng phụ lên ấu trùng và chất lượng nước bể ương [13] Ấu trùng được ương nuôi trong điều kiện môi trường không thích hợp thường cho tỷ lệ sống thấp, thời gian biến thái kéo dài, ấu trùng chuyển giai đoạn không đồng loạt và chết nhiều xung quanh thời điểm lột xác [12], [15]

1.2.2 Dinh dưỡng

Mặc dù ấu trùng và chất lượng nước nuôi được đảm bảo tốt, trên thực tế, kết quả cuối cùng về tỷ lệ sống vẫn chưa thể đạt được như mong đợi mà nguyên nhân chính là vấn đề dinh dưỡng Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết phải cung cấp thức

ăn cho ấu trùng ngay sau khi nở [21], kể cả những ấu trùng có khả năng dinh dưỡng

Trang 22

bằng noãn hoàng giai đoạn đầu, để giảm thiểu các tác động tiêu cực đối với sự phát triển của ấu trùng các giai đoạn về sau [12]

Ương nuôi ấu trùng trong điều kiện dinh dưỡng không đảm bảo về số lượng và chất lượng sẽ ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống Ấu trùng tôm

Lysmata seticaudata được cho ăn thức ăn không thích hợp không chết nhưng không

thể vượt qua được giai đoạn V, thậm chí tại giai đoạn này, ấu trùng trải qua 6 lần lột xác liên tiếp mà không chuyển giai đoạn Tuy nhiên, khi các ấu trùng này được cho ăn

và nuôi trong môi trường tối ưu, chúng đã phát triển bình thường trở lại và hoàn thành biến thái Ương nuôi ấu trùng trong điều kiện dinh dưỡng không đảm bảo còn gây hao hụt mạnh do hiện tượng ăn nhau, hệ quả của hiện tượng lột xác không đồng loạt và sự chênh lệch kích về thước ấu trùng [13]

Mật độ thức ăn cũng ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống trong ương nuôi ấu trùng giáp xác Mặc dù khả năng bơi của ấu trùng Zoea về cơ bản

là tương đối tốt nhưng tập tính săn mồi thực sự, đuổi bắt mồi, không được thể hiện Do

đó, ấu trùng lệ thuộc hoàn toàn vào cơ hội bắt gặp con mồi, đây là một dạng tập tính bắt mồi đặc trưng ở các loài giáp xác Trong phạm vi thích hợp, liên quan đến khả năng cung cấp và quản lý thức ăn, sự gia tăng mật độ thức ăn sẽ thúc đẩy tốc độ sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng [29] Tuy nhiên, việc quản lý thức ăn vẫn còn là khó khăn lớn ngay cả khi sử dụng hệ thống tuần hoàn bởi nguy cơ thức ăn bị dính vào lưới lọc Do đó, mật độ thức ăn cực đại có thể bị giới hạn ở một mức độ nào

đó, và điều này gây trở ngại trong việc thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng của ấu trùng [13] Hơn nữa, việc gia tăng mật độ thức ăn quá mức thường dẫn đến những vấn đề liên quan đến sự suy giảm chất lượng nước, cuối cùng làm gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh và chết của ấu trùng [29] Trong khi đó, thiếu hụt thức ăn lại là nguyên nhân làm giảm tốc độ tăng trưởng và gia tăng hiện tượng ăn nhau của ấu trùng [8]

Một trong những khó khăn thường gặp trong ương nuôi ấu trùng tôm cảnh biển

là hiện tượng lột xác nhiều lần mà không chuyển giai đoạn Nguyên nhân chính là dinh dưỡng không thích hợp và thiếu vắng các nhân tố thúc đẩy sự xuống đáy của ấu trùng trong điều kiện nuôi nhốt [12], [21]

1.2.3 Hệ thống ương nuôi ấu trùng

Trang 23

Một trong những trở ngại lớn trong ương nuôi ấu trùng giáp xác cảnh là thiết kế

và vận hạnh các hệ thống ương phù hợp với các giai đoạn phát triển ấu trùng bởi chúng trải qua nhiều giai đoạn biến thái với các đặc điểm hình thái rất phức tạp Về cơ bản, có ba hệ thống thường được sử dụng trong ương nuôi ấu trùng giáp xác cảnh là nước tĩnh, nước chảy và tuần hoàn

Hệ thống nước tĩnh thường được sử dụng trong trường hợp ương nuôi ấu trùng với số lượng ít và thể tích bể ương nhỏ Tuy nhiên, hệ thống này có nhiều nhược điểm, đặc biệt là sự lắng đáy của ấu trùng và sự suy giảm chất lượng nước Điều này làm tăng nguy cơ bị tổn thương phần phụ và mắc các bệnh nhiễm khuẩn do sự lắng tụ của

ấu trùng, thức ăn và chất bẩn dưới đáy bể Hệ thống nước chảy góp phần cải thiện đáng kể chất lượng nước thông qua việc loại bỏ các chất thải của ấu trùng và phân hủy của thức ăn thừa Tuy nhiên, hệ thống này đòi hỏi gây tốn nước, gia tăng nguy cơ nhiễm bệnh và các chất gây ô nhiễm [13]

Hệ thống tuần hoàn là một lựa chọn phổ biến trong ương nuôi ấu trùng giáp xác cảnh bởi chúng có thể thiết lập ở mọi nơi, trên diện tích nhỏ và sử dụng nguồn nước tự nhiên hay nhân tạo với chất lượng nước có thể kiểm soát được Hình dạng bể ương và

sự chuyển động tuần hoàn của dòng nước là hai nhân tố quan trọng nhất quyết định thành công của hệ thống ương nuôi ấu trùng giáp xác Decapoda Nhiều hệ thống tuần hoàn ương nuôi ấu trùng giáp đã được nghiên cứu và bổ sung bởi nhiều tác giả Dựa trên những kết quả đó, Calado et al (2008) đã thiết kế một hệ thống chuyên dùng cho ương nuôi ấu trùng tôm cảnh biển và được ứng dụng rộng rãi Điểm nổi bật của hệ thống này là tạo sự phân bố đều thức ăn và ấu trùng trong bể ương, dễ dàng quản lý chất lượng nước, cung cấp và loại bỏ thức ăn thừa Ở Việt Nam, ứng dụng hệ thống nuôi tuần hoàn cho ương ấu trùng giáp xác cũng được quan tâm nghiên cứu trên tôm bác sĩ và cua biển bước đầu cũng mang lại những hiệu quả nhất định [1], [29]

1.2.4 Mật độ ấu trùng

Mật độ là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, kỹ thuật của quá trình sản xuất giống thủy sản nói chung Mật độ ương được sử dụng trong ương nuôi ấu trùng tôm cảnh biển thường thấp hơn 50 ấu trùng/L Một trong những lý do chính của vấn đề này là sự gia tăng kích thước ấu trùng ở các giai đoạn sau như ở các giống Lysmata và Stenopus Ương nuôi ấu trùng với mật độ cao ở các

Trang 24

giai đoạn sau thường gia tăng nguy cơ cạnh tranh thức ăn và ăn nhau Một trong những biểu hiện phổ biến của hiện tượng ăn nhau khi ương với mật độ cao là ấu trùng Zoea bị mất một mắt thậm chí cả hai mắt [13] Hạn chế về hệ thống ương cũng là một trong những nguyên nhân giới hạn mật độ trong ương nuôi ấu trùng giáp xác Nghiên cứu trên tôm càng xanh cho thấy, hệ thống nước trong hở cho mật độ ương nuôi cao hơn (100 – 150 con/L) so với hệ thống nước trong kín, nước xanh và nước xanh cải tiến (50 – 60 con/L) [8]

Mật độ ương nuôi ấu trùng giáp xác có sự khác biệt lớn giữa các loài Trong khi

cua biển Scylla spp có thể ương ở mật độ tương đối cao 50 – 200 ấu trùng/L [29],

[32], thì các loài tôm Lysmata spp thường được ương với mật độ thấp hơn 5 – 50 ấu trùng/L [30] Việc gia tăng mật độ nuôi thường là giảm tỷ lệ sống, gây căng thẳng, gia tăng nguy cơ bị tổn thương phần phụ và tỷ lệ ăn nhau, kéo dài thời gian biến thái và xuất hiện thêm các giai đoạn phụ [12]

1.3 Các nghiên cứu về sản xuất giống tôm cảnh trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Các nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo tôm cảnh trên thế giới tập trung vào việc nâng cao chất lượng tôm bố mẹ do nó ảnh hưởng quyết định đến chất lượng ấu trùng Nhiều giải pháp kỹ thuật được áp dụng như lựa chọn loại thức ăn thích hợp, cải thiện hệ thống ương nuôi và các thao tác chăm sóc, quản lý [15] Tôm cảnh biển tập trung chủ yếu ở các vùng biển nhiệt đới nơi có hệ sinh thái san hô đa dạng, phong phú, nhiều loài có thể sống cộng sinh và có nhiều nơi trú ẩn [13] Các thông số môi trường nước được cho là có ảnh hưởng lớn đến sự thành thục sinh dục và hiệu quả sinh sản

của tôm bố mẹ Trên loài Stenopus scutellatus, Zhang et al (1998) nhận thấy nhiệt độ

ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sản phẩm sinh dục, thời gian phát triển phôi và biến thái ấu trùng Cụ thể, sức sinh sản, khối lượng và đường kính trứng lớn hơn khi được nuôi ở nhiệt độ ổn định (1,5 - 2,0oC) so với nhiệt độ biến động (4,0 - 6,0oC) [41]

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sức sinh sản của tôm chịu ảnh hưởng lớn bởi kích thước tôm bố mẹ Trên loài tôm bác sỹ, tôm ở nhóm kích thước lớn (52,4 ± 1,44 mm) cho lượng ấu trùng nhiều gấp 3 lần so với nhóm kích thước trung bình (40,1 ± 0,21 mm) và nhỏ (35,0 ± 0,16 mm) Thức ăn cũng ảnh hưởng lớn đến sức sinh sản thực tế

và tỷ lệ hao hụt trứng trong quá trình ấp [37] Trong nuôi sinh sản nhân tạo tôm biển,

Trang 25

nhiều loại thức ăn được sử dụng phổ biến như Artemia tươi hoặc đông lạnh, mực, sò, vẹm, giun nhiều tơ Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng thức ăn có ảnh hưởng đáng kể đến sự thành thục, sức sinh sản, kích cỡ trứng, thành phần sinh hóa, tỷ lệ hao hụt trứng, tỷ lệ nở của phôi và chất lượng ấu trùng Khi sử dụng 6 loại thức ăn (mực và vẹm; Artemia đông lạnh; thức ăn công nghiệp cho tôm he; mực, vẹm và Artemia; mực, vẹm và thức ăn công nghiệp; và mực, vẹm, Artemia và thức ăn công nghiệp) để ương

ấu trùng tôm bác sĩ, Tziouveli et al (2011) nhận thấy tỷ lệ hao hụt trứng lớn và tỷ lệ nở thấp khi cho tôm bố mẹ ăn mực kết hợp với vẹm Trong khi đó, tôm được cho ăn bằng Artemia đông lạnh giúp giảm hao hụt trứng nhưng ngược lại tỷ lệ nở thấp Đáng chú ý, ở các nghiệm thức có sử dụng toàn bộ hay một phần thức ăn công nghiệp đều cho lượng ấu trùng cao hơn so với các loại thức ăn tự nhiên còn lại Ngoài ra, tôm mẹ được cho ăn bằng mực cũng thu được nhiều ấu trùng hơn so với Artemia đông lạnh và

mực kết hợp với vẹm [37] Tương tự, trên loài S scutellatus, tôm mẹ được cho ăn

Artemia đông lạnh cho kích cỡ trứng lớn hơn nhưng sức sinh sản lại thấp hơn so với cho ăn bằng Artemia làm giàu hoặc Artemia không làm giàu kết hợp với vẹm Tuy nhiên, khẩu phần thức ăn lại không ảnh hưởng đến sự thành thục của tôm bố mẹ [28]

Hệ thống nuôi vỗ tôm bố mẹ, ương ấu trùng cũng ảnh hưởng đáng kể đến kết quả sinh sản nhân tạo tôm cảnh biển và cũng thu hút được sự quan tâm Calado et al (2008) đã thiết kế một hệ thống nuôi vỗ tối ưu cho tôm bố mẹ ghép cặp đồng thời theo dõi được tập tính sinh sản, ấp nở trứng [14] Một số loại bể được sử dụng phổ biến trong ương ấu trùng tôm cảnh biển như bể trụ đáy cầu hoặc chóp, bể bình weis, bể kreisel Mỗi loại bể có ưu nhược điểm riêng và phù hợp với từng loài nhất định Bể trụ đáy cầu hoặc chóp giúp phân tán đều ấu trùng, giảm thiểu hiện tượng ăn nhau, vệ sinh hệ thống dễ dàng, nuôi được với mật độ cao, ổn định môi trường Bể bình Weis cũng tạo ra sự xáo trộn đều trong bể, vệ sinh dễ dàng, giảm nguy cơ lắng đáy và hiện tượng ăn nhau Bể kreisel cũng giúp tạo dòng tốt, giảm hiện tượng lắng đáy và ăn nhau

[2] Khi so sánh hiệu quả ương ấu trùng của 3 loài tôm L debelius, L seticaudata và S

hispidus trong bể đáy chóp và bể bình Weis, Calado et al (2008) nhận thấy tỷ lệ sống

và tỷ lệ chuyển giai đoạn của ấu trùng cả ba loài tôm này ương trong bể đáy chóp đều cao hơn so với bình weis [14]

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên ấu trùng tôm cảnh biển cũng được quan

tâm Theo Zhang et al (1998), ấu trùng L amboinensis có thể ăn tảo ngay sau khi nở

Trang 26

nhưng loại thức ăn này không giúp ấu trùng hoàn tất biến thái [41] Ấu trùng mới nở

được cho ăn sớm thường đạt tỷ lệ sống cao hơn so với cho ăn muộn, trên loài L

debelius và H picta [5], [41] Ấu trùng loài L wurdemanni sẽ không thể hoàn tất biến

thái ấu trùng nếu chỉ cho ăn bằng tảo trong khi nếu cho ăn luân trùng hay Artemia, tỷ

lệ sống và biến thái ấu trùng của loài tôm này được cải thiện đáng kể [41] Cũng trên loài này, Rhyne and Lin (2004) nhận thấy, ấu trùng được ương bằng Artemia kết hợp với thức ăn tổng hợp đạt tỷ lệ sống cao hơn và thời gian biến thái nhanh hơn so với chỉ

sử dụng đơn lẻ một trong hai loại thức ăn trên [33] Tuy nhiên, ấu trùng giai đoạn đầu sẽ không ăn thức ăn tổng hợp nếu như trong bể có sẵn thức ăn sống [28] Trong tự nhiên, ấu trùng có điều kiện lựa chọn nguồn thức ăn đa dạng cả về chủng loại, kích cỡ

và thành phần dinh dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của ấu trùng Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhân tạo, hạn chế về nguồn thức ăn cũng như thành phần dinh dưỡng gây không ít trở ngại cho việc ương nuôi ấu trùng [13], [37] Các nỗ lực nghiên cứu xác định loại thức ăn phù hợp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao

tỷ lệ sống, giảm thời gian biến thái, và chi phí ương nuôi loài Lysmata spp [17], [41]

1.3.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu về tôm cảnh nói chung và tôm cảnh biển nói riêng ở nước ta hầu như chưa được đề cập Đến nay, mới chỉ có một số công bố của Trần Văn Dũng và ctv (2011, 2012, 2014) tuy nhiên, nghiên cứu này được thực hiện tại Thái Lan [3], [4], [5] Nghiên cứu đã thu được một số kết quả quan trọng về đặc điểm sinh học sinh sản

cơ bản của tôm hề trong điều kiện nuôi nhốt ở Thái Lan với các thông số cơ bản như chu kỳ đẻ trứng dao động từ 15 – 20 ngày/lần, sức sinh sản thực tế khoảng 3.000 ấu trùng/lần đẻ Các thử nghiệm về ương nuôi ấu trùng cho thấy việc cung cấp thức ăn

nên được thực hiện ngay sau khi nở (tối đa là 12 giờ) Artemia nauplius được xác định

là thức ăn quan trọng cho giai đoạn của ấu trùng tôm hề tuy nhiên loài Copepoda sử dụng trong nghiên cứu đó không phù hợp Điều này mâu thuẫn với nghiên cứu của Kraul (1995) khi khẳng định tầm quan trọng của Copepoda trong việc sự hoàn tất biến thái ấu trùng ở loài tôm này [26] Chính vì vậy, cần có những nghiên cứu sâu hơn và trong điều kiện Việt Nam để khẳng định lại tiềm năng sản xuất giống loài tôm này Các nghiên cứu tiếp theo vẫn nên tập trung vào tìm hiểu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ương nuôi ấu trùng trên cơ sở đó xây dựng được quy trình sản xuất

Trang 27

Nghiên cứu đầu tiên về sinh sản nhân tạo tôm cảnh biển ở Việt Nam được thực

hiện bởi Lục Minh Diệp và ctv (2017) trên hai loài tôm lực sỹ (Stenopus hispidus) và tôm bác sỹ (Lysmata amboinensis) [2] Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới đạt được

một số kết quả ban đầu mang tính thăm dò, việc ương nuôi ấu trùng vẫn chưa thành công do một số trở ngại nhất định và cần được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện Với điều kiện tự nhiên thuận lợi và nằm trong khu vực có sự phân bố tự nhiên của nhiều loài tôm cảnh biển, nước ta có những ưu thế để phát triển những đối tượng mới này

Do vậy việc nghiên cứu sản xuất giống tôm cảnh biển, đặc biệt là những loài phân bố

tự nhiên, là điều cần thiết nhằm đa dạng đối tượng nuôi và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường sinh vật cảnh trong và ngoài nước

Trang 28

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: tháng 08/2017 - 07/2018

Địa điểm nghiên cứu: trại sản xuất giống cá cảnh Tổ 13, Đường Đệ, Vĩnh Hòa,

Nha Trang và Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản Cam Ranh

Đối tượng nghiên cứu: tôm hề (Hymenocera picta Dana, 1852)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên hiệu quả sinh sản, ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm hề

(Hymenocera picta Dana, 1852)

TN3: Ảnh hưởng của mật độ lên ấu trùng:

sức sinh sản thực tế của tôm bố mẹ

TN2, 3: Chiều dài cuối, tỷ lệ chuyển giai

đoạn, tỷ lệ sống của ấu trùng

Trang 29

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu, phương pháp tiếp cận

Nghiên cứu được thực hiện trên ấu trùng tôm tôm hề Hymenocera picta Ấu

trùng được sinh sản nhân tạo tại trại sản xuất giống từ nguồn tôm bố mẹ được thu gom

từ vùng biển Khánh Hòa Thí nghiệm được tiến hành trong các hệ thống bể tuần hoàn bằng kính và composite, thể tích 10 - 200 lít Nghiên cứu được thực hiện tại Trại sản xuất giống sinh vật cảnh (Tổ 13, Đường Đệ, Vĩnh Hòa, Nha Trang) và Trại Thực nghiệm Nuôi trồng Thủy sản (Cam Ranh)

Sử dụng các tài liệu đã được công bố trong và ngoài nước liên quan đến ương nuôi ấu trùng tôm cảnh và giáp xác nói chung Trên cơ sở đó, phân tích, kế thừa và giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra Xác định ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên kết quả ương ấu trùng tôm hề làm tiền đề cho việc xây dựng quy trình ương giống loài tôm này

2.2.3 Các điều kiện thí nghiệm

Nguồn nước và xử lý nước: Nước biển sau khi bơm vào được lắng, lọc và xử lý bằng chlorin 25-30 ppm trong 2 ngày và phơi nắng sau đó trung hoà lượng chlorin thừa bằng natrithiosulphat với tỷ lệ 1,0 : 0,5 Nước sau xử lý được lưu trữ sử dụng cho các hoạt động nuôi thức ăn sống ương, nuôi ấu trùng

Bể thuần dưỡng, cho đẻ và ấp nở: Tôm bố mẹ được nuôi trong hệ thống lọc sinh học tuần hoàn Mỗi cặp tôm bố mẹ được nuôi riêng biệt trong bể kính có thể tích khoảng 20 L (30 x 30 x 25 cm) Chất lượng nước được duy trì thông qua lọc vi sinh vật san hô, bioball, bông lọc Đồng thời, các bể cũng được sục khí 24/24 để đảm bảo nhu cầu oxy hòa tan cho tôm bố mẹ Hệ thống bể nuôi gồm 4 tầng, với 3 tầng nuôi, mỗi tầng gồm 12 bể được nối với hệ thống lọc sinh học tuần hoàn sử dụng vi sinh vật

để xử lý nước Bể lọc gồm 3 ngăn: ngăn bông lọc, ngăn san hô, ngăn bioball - bơm có tổng thể tích khoảng 120 lít Bể được cấp sục khí liên tục 24/24 giờ Nước được bơm

từ bể lọc lên bể tầng 3, sau đó chảy xuống tầng 2, tầng 1 và cuối cùng là bể chứa với lưu tốc khoảng 1000 L/giờ Bể ấp nở là các bể kính thể tích 30 – 60 lít/bể được che tối

Bể ương nuôi ấu trùng: Hệ thống được thiết lập dựa trên hệ thống ương nuôi ấu trùng giáp xác cảnh được mô tả bởi Calado et al (2008) và Lục Minh Diệp (2017) [2], [14] Các bể làm bằng composite, hình trụ và đáy cầu Chiều cao tổng cộng của bể ương là 31 cm, đường kính 26 cm và có thể tích khoảng 10 lít Mỗi bể ương được đặt

Trang 30

hai cục lọc (ống PVC có gắn lưới lọc) có chiều dài và đường kính lần lượt là 10 và 5

cm Hai cục lọc có kích thước mắt lưới khác nhau (105 và 400 µm) để lọc nước và loại

bỏ thức ăn Hệ thống lọc sinh học: là sự kết hợp của các hạt nhựa (bioball, đường kính

5 cm) và san hô để xử lý nước, thể tích bể cấp là 200 lít Bể lọc được sục khí liên tục 24/24 giờ

Nguyên lý vận hành hệ thống bể lọc: nước được bơm từ bể lọc lên bể chứa có thể tích là 250L đặt ở trên cao, với tốc độ bơm khoảng 3.000 L/giờ Nước được chảy qua một lưới lọc có mắt lưới là 48 µm Bể chứa nước cũng được sục khí mạnh liên tục 24/24 Nước từ bể chứa được chảy tự động qua ống dẫn (2,5 cm), sau đó qua van và ống (1,5 cm) trước khi vào bể ương qua một lỗ nhỏ (0,6 cm) đặt ở giữa đáy bể để tạo

sự luân chuyển nước đồng đều Lưu tốc nước vào bể ương được duy trì 2 L/phút Nước từ bể ương được thoát ra qua cục lọc với kích thước mắt lưới khác nhau tùy theo mục đích sử dụng Trong trường hợp vệ sinh bể, loại bỏ thức ăn cũ và chất thải, cục lọc mắt lưới lớn được sử dụng, đồng thời lưu tốc nước vào cũng được điều chỉnh tăng gấp đôi để quá trình loại bỏ được nhanh chóng Sau đó, và trong phần lớn thời gian vận hành, cục lọc mắt lưới nhỏ được sử dụng nhằm mục đích chính là trao đổi nước và giữ thức ăn cũng như ấu trùng phân tán đều trong môi trường Nước sau đó được thu vào một máng lớn trước khi chảy vào bể lọc sinh học

2.2.4 Bố trí thí nghiệm

2.2.4.1 Ảnh hưởng của thức ăn lên hiệu quả sinh sản của tôm bố mẹ

Tôm bố mẹ được khai thác từ tự nhiên, tại vùng biển Nha Trang, Khánh Hòa Kích thước từ 2 – 6 cm chiều dài và 2 – 6 g/con Tôm sau khi mua được vận chuyển bằng thùng xốp về thuần hóa trong các bể composite 1,5 m3 có nuôi san hô, rong biển

và bào ngư, các điều kiện môi trường thích hợp Sau đó, tôm được nuôi theo cặp, mỗi

bể một cặp trong hệ thống bể nuôi tôm bố mẹ tuần hoàn

Trong nghiên cứu này, 4 loại thức thường được sử dụng cho nuôi vỗ thành thục sinh dục ở giáp xác biển (tôm he, cua biển, tôm cảnh) được sử dụng nhằm tìm ra loại thức ăn phù hợp cho nuôi vỗ tôm bố mẹ Ngoài ra, nghiên cứu còn tập trung đánh giá khả năng thay thế thức ăn sao biển bằng một số loại thức ăn khác nhằm hạn chế ảnh hưởng của việc cung cấp nguồn thức ăn này cho tôm bố mẹ

Trang 31

Hình 2.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên hiệu quả sinh sản của tôm bố mẹ

Tôm bố mẹ được bố trí thí nghiệm theo cặp trong hệ thống tuần hoàn Mỗi nghiệm thức được thử nghiệm trên 3 cặp tôm bố mẹ có kích thước tương đồng nhau Bốn loại thức ăn thử nghiệm được bố trí như sau:

+ Nghiệm thức 1: Tôm bố mẹ được cho ăn bằng thịt tôm biển tươi bóc nõn + Nghiệm thức 2: Tôm bố mẹ được cho ăn bằng thịt mực tươi

+ Nghiệm thức 3: Tôm bố mẹ được cho ăn bằng sao biển

+ Nghiệm thức 4: Tôm bố mẹ được cho ăn bằng thức ăn công nghiệp của tôm thẻ chân trắng

- Tôm được cho ăn đến thỏa mãn, theo nhu cầu Tôm được cho ăn 2 lần/ngày (7h00 và 2h00) Trước khi cho ăn, lượng thức ăn cũ được loại bỏ để hạn chế tác động môi trường Hằng ngày tiến hành các hoạt động chăm sóc, quản lý môi trường và quan sát các tập tính hoạt động của tôm Các yếu tố môi trường được duy trì trong phạm vi thích hợp gồm nhiệt độ 28 - 30oC, độ mặn 30 - 33‰, pH 7,8 - 8,2; NH3 < 0,1 và NO2 < 0,03 Thời gian thí nghiệm là 2 - 3 tháng, tiến hành thu thập các thông tin về tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng sử dụng thức ăn, xác định tỷ lệ thành thục và đẻ trứng của tôm mẹ

2.2.4.2 Ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên hiệu quả

sinh sản của tôm Harlequin bố mẹ

Loại thức ăn thích hợp cho tôm bố mẹ

Trang 32

Trong nghiên cứu này, các loại thức ăn khác nhau được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của chúng lên sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng trong suốt quá trình ương đến giai đoạn hoàn tất biến thái

Chuẩn bị thức ăn: Tảo giống gồm ba loài Nannochloropsis oculata, Isochrysis

galbana, và Tetraselmis chuii được lấy từ phòng thí nghiệm (bình 1 lít), Trường Đại

học Nha Trang, chuyển xuống trại lưu giữ trong các bình vikoda (5 lít), sau đó được chuyển sang nuôi sinh khối trong các túi nylon hoặc xô nhựa Hệ thống túi nylon được chuẩn bị nước, xử lý chlorine 20 ppm, trung hòa bằng natrithiosulfate với tỷ lệ 1 : 1 Môi trường nuôi tảo là Guillard f/2 pha sẵn (tỷ lệ 1 ml : 10 lít nước nuôi) Hệ thống nuôi tảo được đặt ngoài trời có mái che trong suốt Mật độ cấy tảo ban đầu là 0,5 x 106

tế bào/ml Các yếu tố môi trường pH 7,8 – 8,5, nhiệt độ 28 - 30ºC, độ mặn 30 - 35‰ Thời gian nuôi từ 4 - 6 ngày, thu hoạch khi mật độ đạt 6 - 7 x 106 tế bào/ml

Luân trùng giống là loài Brachionus plicatilis, được mua từ các trại nuôi cá biển ở Nha Trang; Copepoda là loài Pseudodiaptomus annandalei (Calanoida) được thu gom từ

các ao nuôi tôm tại Cam Ranh Hai loại động vật phù du này được nuôi sinh khối (riêng) trong các bể composite hoặc xô nhựa theo phương pháp thu hoạch bán liên tục Mật độ ban đầu 50 – 100 con/ml Thức ăn cho chúng hằng ngày là sự kết hợp của 1 - 3 loài tảo tùy điều kiện cụ thể, với mật độ 1 - 2 triệu tế bào/ml Từ ngày nuôi thứ ba trở

đi, khi mật độ luân trùng đạt trên 200 - 300 con/ml, tiến hành thu hoạch 30 - 50% đồng thời cấp tảo để duy trì mật độ thức ăn và thể tích nước Ngoài tảo, men bánh mì có thể được sử dụng khi thiếu tảo, với lượng 1,5 g men/triệu luân trùng hay Copepoda/ngày

Artemia là nguồn Artemia franciscana (Vĩnh Châu - Sóc Trăng và Century - Mỹ)

Trong đó, Artemia Vĩnh Châu có kích thước nhỏ được sử dụng cho các thí nghiệm giai đoạn 0 - 30 ngày tuổi, Artemia Mỹ sử dụng cho các giai đoạn từ sau 30 ngày tuổi Artemia được rửa nước ngọt rồi ấp trong xô hoặc bình vikoda 5 - 30 lít với mật độ 2 -

3 g trứng/lít nước, kèm sục khí mạnh liên tục trong khoảng 24 giờ Thu hoạch nauplius bằng cách chiếu sáng bằng đèn pin hoặc ánh sáng mặt trời kết hợp che túi nylon đen Thức ăn công nghiệp cho nuôi tôm thẻ chân trắng thương phẩm (Tiger, Thăng Long)

có thành phần dinh dưỡng protein 40%, lipid 5 - 7% Thức ăn tổng hợp (công nghiệp) cho ương ấu trùng là hỗn hợp (30% Frippak + 20% Lansy + 25% V8 - Zoea + 20% No + 5% ET 600), hòa tan vào nước trước khi cho ăn, phương pháp cho ăn cơ bản tương

tự như ương ấu trùng tôm thẻ chân trắng

Trang 33

Những ấu trùng khỏe mạnh, thể hiện tính hướng quang mạnh sau khi tắt sục khí, hướng lên trên mặt bể, vận động linh hoạt sẽ được chọn lọc vào các bể thí nghiệm lọc sinh học tuần hoàn

Mật độ ương ấu trùng 20 ấu trùng/lít

Các yếu tố môi trường bao gồm nhiệt độ, độ mặn, pH và TAN được duy trì trong phạm vi thích hợp và xác định hàng ngày

Chế độ cho ăn trong thí nghiệm được bố trí như sau:

Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau:

Hình 2.3 Ảnh hưởng thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

- Tăng trưởng về chiều dài

- Tỷ lệ chuyển giai đoạn

Loại thức ăn thích hợp cho ương ấu trùng

Trang 34

Các loại động vật phù du sử dụng trong thí nghiệm được chuẩn bị và định lượng trước khi cho ăn tương ứng với từng nghiệm thức Các nghiệm thức đều được cho ăn 3 lần/ngày (7, 11 và 16 giờ) Trước khi cho ăn, các loại thức ăn cũ được loại bỏ khỏi bể ương bằng các cục lọc chuyên dụng Thức ăn trước khi đưa vào bể ương được định lượng với mật độ tương xứng với mật độ cho ăn trong thiết kế thí nghiệm Thí nghiệm được thực hiện với 3 lần lặp

Hằng ngày, bể ương được siphon loại bỏ thức ăn thừa, phân, chất thải của ấu trùng, xác chết của ấu trùng và thức ăn sống Các yếu tố môi trường nước như nhiệt

độ, độ mặn, pH, oxy hoà tan, NH3 được kiểm tra và duy trì ổn định (Nhiệt độ 27 -

31oC; độ mặn 30 - 35‰; oxy hòa tan 5 - 6 mg O2/L; pH 7,8 - 8,2; hàm lượng NH3 < 0,1 mg/L; hàm lượng NO2 < 0,03 mg/L) tại hệ thống bể cấp nước đảm bảo chất lượng nước là như nhau giữa các nghiệm thức thí nghiệm Trường hợp cần thiết, thay thêm nước để cải thiện chất lượng nước hoặc thêm nước ngọt để điều chỉnh độ mặn thích hợp trong quá trình ương

Tỷ lệ sống được xác định tại một số giai đoạn nhất định, thường là Zoea III, Zoea VII và Zoea XI - XI tùy thuộc vào điều kiện thực tế bể ương, và thời điểm kết thúc thí nghiệm Tỷ lệ sống được xác định bằng cách đếm số lượng ấu trùng còn sống

có khả năng vận động và màu sắc tươi sáng Ngoài ra, trong quá trình siphon thay nước hàng ngày có theo dõi và ghi chép số lượng ấu trùng chết

Sự phát triển của ấu trùng được xác định thông qua đếm số lượng ấu trùng Zoea III, Zoea VII, Zoea IX - XI và hậu ấu trùng (PL1) sau khi chuyển sang các giai đoạn (lột xác) tương ứng vài giờ Xác định tỷ lệ phần trăm ấu trùng thuộc giai đoạn Zoea tương ứng Phương pháp xác định các giai đoạn phát triển của ấu trùng căn cứ trên sự phân chia của Fiedler (1994) [20]

Trang 35

24

Hình 2.4 Ấu trùng tôm hề

Tốc độ tăng trưởng: chiều dài toàn thân (TL), khoảng cách từ đầu chủy đến cuối telson được xác định tại thời điểm bắt đầu và kết thúc thí nghiệm (vài giờ sau khi ấu trùng hoàn tất biến thái – PL 1) Số mẫu xác định là 10 ấu trùng/bể Tiến hành chụp hình ấu trùng và thước đo dưới kính hiển vi soi nổi ở cùng một độ phóng đại (vật kính

và thị kính) Sau đó sử dụng phần mềm Image Tool 3.0 để xác định kích thước ấu trùng (độ chính xác 0,001 mm)

Hàng ngày kiểm tra các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, độ mặn, pH và TAN Xác định mật độ tảo, luân trùng, copepoda và artemia cho ăn Chế độ siphon, thay nước được thực hiện hằng ngày, chia làm 2 lần, sáng 9 giờ (siphon và thay nước) và chiều 16 giờ (siphon và thay nước), lượng nước thay mỗi lần là 10 – 20%

2.2.4.3 Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

Nguồn giống:

Nguồn ấu trùng cho thí nghiệm được sản xuất tại trại Sau khi phôi nở, ấu trùng được bố trí vào các thí nghiệm sáng ngày hôm sau Các ấu trùng khỏe mạnh, hướng quang mạnh, vận động linh hoạt, màu sắc tự nhiên, không dị hình được bố trí ngẫu nhiên vào các nghiệm thức thí nghiệm

Ảnh hưởng của mật độ ương ấu trùng lên sinh trưởng, tỷ lệ sống và sự chuyển giai đoạn của ấu trùng tôm hề được xác định trong suốt quá trình biến thái ấu trùng Phương pháp bố trí tương tự phần thí nghiệm về thức ăn

Thí nghiệm được tiến hành với 4 mật độ ương:

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng

và tỷ lệ sống của ấu trùng tôm harlequin

Trang 36

Hình 2.5 Ảnh hưởng của mật độ lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng

Các điều kiện thí nghiệm còn lại, tiêu chí đánh giá chất lượng ấu trùng tương tự như thí nghiệm mục 2.2.4.2

2.2.5 Phương pháp xác định một số chỉ tiêu

Phương pháp xác định các thông số môi trường nước:

Các yếu tố môi trường trong các hệ thống nuôi được đo đạc tùy theo từng yếu

tố, cụ thể: Độ mặn được đo bằng khúc xạ kế ATOGO của Nhật (1 lần/ngày) Nhiệt độ được đo bằng nhiệt kế thủy ngân (2 lần/ngày, 6 giờ và 14 giờ) pH được đo bằng máy

pH meter (2 ngày/lần) Hàm lượng oxy hòa tan, NH3 được đo bằng test kit (1 tuần/lần, hoặc khi cần)

Phương pháp đánh giá hiệu quả sinh sản của tôm bố mẹ:

- Tỷ lệ sống = (Số tôm còn sống / Số tôm đưa vào thí nghiệm) x 100%

- Tỷ lệ thành thục = (Số tôm thành thục sinh dục / Số tôm đưa vào thí nghiệm)

x 100%

- Tỷ lệ đẻ = (Số tôm đẻ trứng / Số tôm đưa vào thí nghiệm) x 100%

- Sức sinh sản thực tế = (số ấu trùng nở ra / cặp bố mẹ trong một lần đẻ) (ấu trùng/cặp/lần đẻ)

Sức sinh sản thực tế được xác định sau khi phôi nở Trước khi định lượng ấu trùng, bể ương được che kín bằng túi nylon màu đen, tăng sục khí để ấu trùng phân tán đều Dụng cụ định lượng bao gồm: cốc đong 100 ml, muỗng đếm ấu trùng, thước xác

Trang 37

định kích thước bể, dụng cụ ghi chép số lượng ấu trùng Sau khi quan sát ấu trùng phân

bố đều trong bể, dùng cốc đong xác định tại các vị trí khác nhau trong bể Số lần định lượng là 12 lần, ghi chép số lượng mỗi lần đếm, sau đó loại bỏ 2 mẫu có số lượng ấu trùng lớn nhất và nhỏ nhất Xác định số lượng ấu trùng trung bình có trong 100 ml, nhân với thể tích bể để ước tính toàn bộ số lượng ấu trùng

Phương pháp xác định tỷ lệ thành thục và đẻ trứng ở tôm bố mẹ: Tỷ lệ thành thục sinh dục và đẻ trứng được xác định bằng cách đếm số cặp tôm bố mẹ có giao vỹ,

đẻ trứng và thụ tinh trên số tôm đưa vào nuôi vỗ thành thục

Sinh trưởng về chiều dài của tôm được xác định hàng tháng Để xác định chiều dài, tôm mẹ được thả vào một buồng nhỏ bằng mica trong suốt và có gắn sẵn thước đo (có độ chính xác là 1 mm) ở ngoài Tôm được dồn vào 1 góc bằng cách dùng một thước

có gắn 1 tấm mica nhỏ Chụp hình tôm và kích thước của thước đo Kích thước tôm mẹ sau đó được xác định bằng phần mềm Image Tool 3.0 Chiều dài được xác định là chiều dài toàn thân - khoảng cách từ mũi chủy đến cuối telson Tiến hành chụp hình và lưu ảnh, sau khi chụp hình xong, tôm bố mẹ được nhanh chóng chuyển trở lại bể nuôi

Nguyên tắc và cách xác định kích thước bằng phần mềm Image Tool 3.0 là đo kích thước của một vật bằng cách chụp hình của nó với một thước kẻ đặt cạnh vật đó Sau đó, dùng phần mềm này cố định một đoạn kích thước nào đó của thước kẻ và đo kích thước của vật dựa trên tỷ lệ đó

Chiều dài ấu trùng:

Khoảng cách từ mũi chủy đến cuối telson

Tỷ lệ sống:

Tỷ lệ sống giai đoạn i = (Số AT tại giai đoạn i / Số AT Zoea 1) x 100%

Tỷ lệ chuyển giai đoạn ấu trùng:

Tỷ lệ chuyển giai đoạn (%) = SLAT giai đoạn sau / SLAT giai đoạn trước 2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:

Toàn bộ số liệu thu từ các thí nghiệm được xử lý trên phần mềm SPSS 16.0 Sử dụng phương pháp phân tích phương sai một yếu tố (oneway – ANOVA) và Duncan test để kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) về tốc độ sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng giữa các nghiệm thức thí nghiệm

Ngày đăng: 17/02/2021, 14:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
18. D’Abramo, L., Conklin, D.E. and Akiyama, D.M., 1997. Crustacean Nutrition. Advances in World Aquaculture Vol. 6. World Aquaculture Society Publication, Baton Rouge, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crustacean Nutrition
Tác giả: D’Abramo, L., Conklin, D.E., Akiyama, D.M
Nhà XB: World Aquaculture Society Publication
Năm: 1997
19. Farhadian, O., Yusoff, F.M., and Arshad, A., 2007. Ingestion rate of postlarvae Penaeus monodon fed Apocyclops dengizicus and Artemia. Aquaculture 269:265–270 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Penaeus monodon" fed "Apocyclops dengizicus" and Artemia. "Aquaculture
20. Fiedler, G.C., 1994. Larval Stages of the Harlequin Shrimp, Hymenocera picta (Dana). M.S. thesis. University of Hawaii at Manoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Larval Stages of the Harlequin Shrimp, Hymenocera picta (Dana)
Tác giả: Fiedler, G.C
Nhà XB: University of Hawaii at Manoa
Năm: 1994
21. Fletcher, D., Kotter, I., Wunsch, M., Yasir, I., 1995. Preliminary observations on the reproductive biology of ornamental cleaner prawns. Int. Zoo Yearb. 34: 73–77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int. Zoo Yearb
22. Fossa, S.A. and Nielsen, A.J., 2000. The modern coral reef aquarium, Vol. 3. Birgit Schmettkamp Verlag, Bornheim, Germany Sách, tạp chí
Tiêu đề: The modern coral reef aquarium
Tác giả: Fossa, S.A., Nielsen, A.J
Nhà XB: Birgit Schmettkamp Verlag
Năm: 2000
23. Gebauer, P., Paschke, K., Anger, K., 2003. Delayed metamorphosis in decapoda crustaceans: evidence and consequences. Revista Chilena de Historia Natural 76: 169-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Delayed metamorphosis in decapoda crustaceans: evidence and consequences
Tác giả: P. Gebauer, K. Paschke, K. Anger
Nhà XB: Revista Chilena de Historia Natural
Năm: 2003
24. Glencross, B.D., 2009. Exploring the nutritional demand for essential fatty acids by aquaculture species. Reviews in Aquaculture 1: 71–124 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring the nutritional demand for essential fatty acids by aquaculture species
Tác giả: Glencross, B.D
Nhà XB: Reviews in Aquaculture
Năm: 2009
25. Ivanova, M.B. and Vassilenko, S.V., 1987. Relationship between number of eggs, brood weight and female body weight in Crustacea. Internationale Revue der Gesamte Hydrobiologia 72: 147-169 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internationale Revue der Gesamte Hydrobiologia
26. Kraul, S., 1999. Commercial culture of the harlequin shrimp Hymenocera picta and other ornamental marine shrimp. Book of Abstacts, Marine Ornamentals 1999, Hawaii, USA 50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hymenocera picta
27. Lavens, P. and Sorgeloos, P., 1996. Manual on the production and use of live food for aquaculture. FAO Fisheries Technical Paper No. 361, Rome. 295 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: FAO Fisheries Technical Paper No. 361
28. Lin, J., and Shi, P., 2002. Effects of broodstock diet on reproductive performance of the golden banded shrimp, Stenopus scutellatus. Journal of World Aquaculture Society, 33(3): 75 - 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of broodstock diet on reproductive performance of the golden banded shrimp, Stenopus scutellatus
Tác giả: Lin, J., Shi, P
Nhà XB: Journal of World Aquaculture Society
Năm: 2002
29. Nghia, T.T., Wille, W., Binh, T.C., Thanh, H.P., Danh, N.V., and Sorgeloos, P., 2007. Improved techniques for rearing mud crab Scylla paramamosain (Estampador 1949) larvae. Aquaculture Research, 38:1539-1553 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla paramamosain" (Estampador 1949) larvae. "Aquaculture Research
30. Palmtag, M.R. and Holt, G.J., 2001. Captive rearing of fire shrimp (Lysmata debelius). A Texas Sea Grant College Program Research Report. National Oceanic and Atmospheric Administration, U.S. Department of Commerce, Washington, DC, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Captive rearing of fire shrimp (Lysmata debelius)
Tác giả: M.R. Palmtag, G.J. Holt
Nhà XB: Texas Sea Grant College Program Research Report
Năm: 2001
31. Prakash, S. and Kumar, T.T.A., 2013. Feeding behavior of Harlequin Shrimp Hymenocera picta Dana, 1852 (Hymenoceridae) on Sea star Linckia laevigata (Ophidiasteridae). Journal of Threatened Taxa 5(13): 4819–4821 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Feeding behavior of Harlequin Shrimp Hymenocera picta Dana, 1852 (Hymenoceridae) on Sea star Linckia laevigata (Ophidiasteridae)
Tác giả: Prakash, S., Kumar, T.T.A
Nhà XB: Journal of Threatened Taxa
Năm: 2013
32. Quinitio E.T., Parado-Estepa F., Millamena O.M., Rodriguez E. and Borlongan E., 2001. Seed production of mud crab Scylla serrata juveniles. Asian Fisheries Science 14:161-174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scylla serrata" juveniles. "Asian Fisheries Science
33. Rhyne, A.L. and Lin, J., 2004. Effects of different diets on larval development in a peppermint shrimp (Lysmata sp.). Aquacul. Res. 35: 1179–1185 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of different diets on larval development in a peppermint shrimp (Lysmata sp.)
Tác giả: Rhyne, A.L., Lin, J
Nhà XB: Aquaculture Research
Năm: 2004
34. Rodríguez, R.A. and Epifanio, C.E., 2000. Multiple cues for induction of metamorphosis in larvae of the common mud crab Panopeus herbstii. Marine Ecology Progress Series 195: 221-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Panopeus herbstii. Marine Ecology Progress Series
35. Simões, F., Ribeiro, F., Jones, D.A., 2002. Feeding early larval stages of fire shrimp Lysmata debelius (Caridea, Hippolytidae). Aquac. Int. 10: 349–360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lysmata debelius" (Caridea, Hippolytidae). "Aquac. Int
36. Sorgeloos, P., Coutteau, P., Dhert, P., Merchie, G., Lavens, P., 1998. Use of the brine shrimp, Artemia spp., in larval crustacean nutrition: a review. Reviews in Fisheries Science, 6: 55-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Artemia "spp., in larval crustacean nutrition: a review. "Reviews in Fisheries Science
37. Tziouveli, V, Hall, M and Smith, G., 2011. The effect of maturation diets on the reproductive output of the White-striped Cleaner shrimp Lysmata amboinensis", Journal of The World Aquaculture Society, 42(1): 56-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The effect of maturation diets on the reproductive output of the White-striped Cleaner shrimp Lysmata amboinensis
Tác giả: Tziouveli, V, Hall, M, Smith, G
Nhà XB: Journal of The World Aquaculture Society
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w