1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á

130 557 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lựa Chọn Chính Sách Trong Các Chương Trình Cho Học Sinh Sinh Viên Vay Vốn: Bài Học Từ Năm Nghiên Cứu Điển Hình Ở Châu Á
Tác giả Adrian Ziderman
Trường học Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học Và Văn Hóa Của Liên Hợp Quốc
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại Tài liệu
Năm xuất bản 2004
Thành phố Bangkok
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục các từ viết tắtADB Ngân hàng Phát triển châu Á CHED Ủy ban Giáo dục Đại học Philippin COE Trung tâm chất lượng cao COI Chỉ số giá sinh hoạt GCSLS Chương trình cho sinh viên vay

Trang 2

Lựa chọn chính sách trong các chương trình

cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á

Trang 4

Tæ chøc Gi¸o dôc, Khoa häc vμ V¨n hãa

cña Liªn Hîp Quèc

ViÖn Quèc tÕ vÒ KÕ ho¹ch hãa Gi¸o dôc

Trang 5

Ziderman, Adrian

Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bangkok: UNESCO Bangkok/IIEP, 2004

1 Vốn vay cho học sinh sinh viên 2 Các hệ thống giáo dục

3 Giáo dục đại học 4 Các khoản viện trợ cho giáo dục 5 Hỗ trợ tài chính I Tiêu đề

Quan điểm và ý kiến nêu trong tài liệu này là của tác giả và không nhất thiết thể hiện quan điểm của UNESCO, UNESCO Bangkok hay Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục Những nội dung

và cách trình bày trong tài liệu này không bao hàm bất cứ ý kiến nào của UNESCO hay Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục liên quan đến vị thế pháp lý của bất cứ quốc gia, lãnh thổ, thành phố, khu vực, chính quyền hay biên giới nào

Cơ quan xuất bản:

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc

Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục

7-9 đường Eugène Delacroix, 75116

Trang 6

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

Lời nói đầu

Chương 1 Giới thiệu

2.1 Các nghiên cứu điển hình: Mô tả chung

Chương 3 Tại sao cần chương trình cho sinh viên vay vốn? 31

3.1 Các mục tiêu khác nhau của chương trình cho sinh

4.1 Chương trình đơn nhất so với đa chương trình

4.2 Cho vay theo cơ chế tập trung hay phân cấp?

45

48

Trang 7

Chương 5 Xác định vai trò của các đơn vị trong việc cấp

Chương 6 Xác định vai trò của các đơn vị: Chọn đối tượng

cho vay và phân bổ vốn vay

61

6.1 Quy trình phân bổ vốn vay

6.2 Các phương án phân bổ vốn vay khác nhau: kinh nghiệm từ nghiên cứu điển hình

6162

6.3 Cân nhắc các phương án

6.4 Tính phù hợp của khoản vốn vay

6466

Chương 7 Xác định vai trò của các đơn vị: Thu hồi vốn vay 69

7.1 Vai trò của các đơn vị trong thu hồi vốn vay

7.2 Kinh nghiệm từ nghiên cứu điển hình

7.3 Giảm thiểu tình trạng không trả nợ

697074

Chương 8 Sự bền vững về tài chính của các chương trình

cho vay vốn

79

8.1 Các yếu tố dẫn đến khả năng hoàn vốn thấp

8.2 Tài khoản cho vay cá nhân

8.3 Hoàn vốn: nhìn từ góc độ vĩ mô

8.4 Tính bền vững của chương trình cho vay

79808384

Chương 9 Sự công bằng và hỗ trợ người nghèo: Vai trò

của trợ cấp

87

9.1 Trợ cấp vốn vay được thực hiện khi nào?

9.2 Chọn đối tượng mục tiêu

9.3 Kinh nghiệm chọn đối tượng mục tiêu của các nghiên cứu điển hình

878992

9.4 Xác định tiêu chí cho vay vốn

9.5 Phạm vi của chương trình cho vay: Kinh nghiệm từ các nghiên cứu điển hình

9497

Trang 8

Chương 10 Các chương trình cho vay vốn được nghiên

cứu điển hình: Ưu điểm và nhược điểm chính

11.1 Áp dụng những bài học từ kinh nghiệm quốc tế

11.2 Những vấn đề phát sinh từ các nghiên cứu điển hình

11.3 Hướng tới một hệ thống thành công

Trang 9

Danh mục các từ viết tắt

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

CHED Ủy ban Giáo dục Đại học (Philippin)

COE Trung tâm chất lượng cao

COI Chỉ số giá sinh hoạt

GCSLS Chương trình cho sinh viên vay vốn theo hình thức

thương mại thông thường (Trung Quốc)

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GECP Tổng công ty lương hưu dành cho công chức nhà nước

(Hàn Quốc)

GFIs Các tổ chức tài chính của nhà nước (Philippin)

GSSLS Chương trình cho sinh viên vay vốn do Chính phủ trợ

cấp (Trung Quốc)

HECS Chương trình đóng góp cho giáo dục đại học (Úc) IIEP Viện Kế hoạch hoá Giáo dục Quốc tế

KLWC Tổng công ty phúc lợi lao động Hàn Quốc

KRF Quỹ Nghiên cứu Hàn Quốc

KTB Ngân hàng Krung Thái Lan

KTP Tổng công ty lương hưu giáo viên Hàn Quốc

LSFS Chương trình tài chính cho sinh viên địa phương

(Chương trình do Đặc khu hành chính Hồng Kông trợ cấp)

Trang 10

MOE Bộ Giáo dục/ Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực

(Hàn Quốc)

MOL Bộ Lao động

MUA Bộ Đại học (Thái Lan)

NLS Chương trình cho vay không qua kiểm tra tài sản/thu

nhập (Chương trình không được trợ cấp của Đặc khu hành chính Hồng Kông )

ONC Văn phòng Uỷ ban Giáo dục quốc gia (Thái Lan)

SFAA Cơ quan hỗ trợ tài chính sinh viên (Đặc khu hành chính

Hồng Kông)

SLSC Uỷ ban về Chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn

(Thái Lan)

SNPL Chương trình “Học trước trả sau” (Philippin)

TRF Quỹ Nghiên cứu Thái Lan

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp

Quốc

Trang 11

Danh mục các bảng

Bảng 2.1 Nghiên cứu điển hình: Mô tả chung về các

chương trình cho vay vốn Bảng 3.1 Các mục tiêu khác nhau của chương trình cho

sinh viên vay vốn Bảng 3.2 Nghiên cứu điển hình: Mục tiêu của chương trình

cho vay vốn Bảng 3.3 Các phương án chính sách thay thế đối với

chương trình cho sinh viên vay vốn Bảng 4.1 Chương trình đơn nhất hay đa chương trình:

nghiên cứu điển hình Bảng 4.2 Cho vay theo cơ chế tập trung hay phân cấp:

nghiên cứu điển hình Bảng 5.1 Tài trợ chương trình cho vay vốn: Chức năng và

đối tượng tham gia Bảng 7.1 Các biện pháp chế tài đối với trường hợp không

trả nợ Bảng 8.1 Các yếu tố dẫn đến việc không trả hết nợ

Bảng 8.2 Nghiên cứu điển hình: Tỷ lệ trả nợ và tỷ lệ hoàn vốn Bảng 9.1 Lý do cho vay có trợ cấp

Bảng 9.2 Chọn đối tượng mục tiêu và phạm vi:

Chương trình cho vay trong các nghiên cứu điển hình Bảng 9.3 Quy định mức trần thu nhập cho diện được vay vốn Bảng 10.1 Các chương trình cho vay vốn: Ưu điểm và nhược

điểm chính Bảng 11.1 Đặc điểm của chương trình cho vay vốn thành công Bảng A1.1 Mức độ xử lý các chương trình vay vốn khác nhau

trong các báo cáo nghiên cứu điển hình Bảng A1.2 Nghiên cứu điển hình: Đặc điểm chính của

chương trình cho vay được lựa chọn Bảng A1.3 Điều kiện vay vốn trong các chương trình cho vay

vốn của nghiên cứu điển hình

Trang 12

Danh mục các hình

Hình 5.1 Phân bổ ngân sách giáo dục đại học

(có chia sẻ chi phí)

Hình 6.1 Quy trình phân bổ vốn vay: Mô hình đơn giản

Hình 6.2 Các phương án phân bổ vốn vay khác nhau

Hình 7.1 Các phương án thay thế cho thu hồi vốn vay

Hình 9.1 Sơ đồ hình trứng: Tiếp cận đối tượng nghèo

Hình 9.2 Xác định tiêu chí cho vay vốn

Trang 13

Lời nói đầu

Nghiên cứu tổng hợp này là một phần trong các nghiên cứu sâu về hoạt động của các khoản vốn vay cho học sinh sinh viên do chính phủ tài trợ ở châu Á Từ một đánh giá chính sách mang tính

so sánh khu vực về các khoản vốn vay cho học sinh sinh viên ở các nước châu Á thực hiện trong giai đoạn 2001 và 2003, nghiên cứu đánh giá những bài học thu được phục vụ cho mục đích thiết kế và cải cách chính sách quốc gia Đánh giá được thực hiện trong bối cảnh một dự án do Văn phòng Giáo dục Khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO tại Bangkok (UNESCO Bangkok) thực hiện hợp tác với Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục Đánh giá được thực hiện cho năm nước và lãnh thổ, bao gồm Trung Quốc, Đặc khu Hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Hàn Quốc, Philippin và Thái Lan Các nghiên cứu bổ sung khác cũng do Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục ủy quyền thực hiện

Hầu hết các nước châu Á đều đang trải qua việc tăng mạnh nhu cầu giáo dục ở các bậc học cao hơn tại thời điểm gặp khó khăn lớn về ngân sách nhà nước và cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục nhằm nâng cao đáng kể tác động và sự phù hợp Với nỗ lực làm giảm gánh nặng đối với ngân sách nhà nước, nhiều nước đã đưa ra chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn, hy vọng thu hồi được chi phí và tăng nguồn thu để mở rộng giáo dục trong khi cùng lúc tạo

cơ hội cho những người dân nghèo được tiếp cận với giáo dục ở các bậc học cao hơn

Với nỗ lực cung cấp thêm thông tin cho các chính phủ và đưa

ra cái nhìn thực tế, có ích đối với chính sách giáo dục quốc gia, Văn phòng Giáo dục Khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO

đã đề ra sáng kiến năm 2001 tiến hành một nghiên cứu so sánh khu vực nhằm xem xét việc thực hiện các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn ở các nước châu Á Nghiên cứu có mục đích cải thiện tính hiệu quả và hiệu quả tài chính của các chương trình hiện tại cũng như tạo cơ sở thông tin so sánh cho các nước muốn thực hiện chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn

Như một nỗ lực chung của UNESCO Bangkok và Viện Quốc

tế về Kế hoạch hóa giáo dục, nghiên cứu chính sách khu vực này đã được đề xuất và hoạt động thực hiện do Bộ phận Chính sách và Cải

Trang 14

cách Giáo dục (EPR)1 của UNESCO Bangkok điều phối Nghiên cứu này dựa vào hỗ trợ kỹ thuật của Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục, dựa trên kinh nghiệm khu vực và quốc tế của các viện nghiên cứu, trường đại học và các bộ của những nước tham gia Năm nhóm nghiên cứu do các giảng viên và chuyên gia cao cấp chủ trì đã tham gia vào công trình nghiên cứu UNESCO Bangkok và Viện Phát triển Giáo dục Hàn Quốc đã chủ trì một số hội thảo nghiên cứu với sự tham gia của các nhóm và chuyên gia nghiên cứu của các nước tham gia dự án

Cơ quan đối tác tham gia nghiên cứu bao gồm Viện Phát triển Giáo dục Hàn Quốc; Đại học Khoa học và Công nghệ Huazhong (Khoa Sư phạm), Vũ Hán; Đại học Bắc Kinh (Khoa Sư phạm); Đại học Trung Hoa của Hồng Kông (Khoa Chính sách và Quản lý Giáo dục); Ủy ban Giáo dục Đại học Philippin (Văn phòng Dịch vụ sinh viên, Văn phòng Kế hoạch, Nghiên cứu và Thông tin chính sách) và Ngân hàng Phát triển châu Á hợp tác trong khuôn khổ Dự án phát triển giáo dục của Philippin Các chuyên gia nghiên cứu và quan chức của một số trường đại học, bộ giáo dục và tài chính, cơ quan quốc gia như văn phòng cho học sinh sinh viên vay vốn ở các nước tham gia đã hợp tác trong việc chuẩn bị cho các nghiên cứu điển hình UNESCO Bangkok và Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục muốn được cảm ơn tất cả những cá nhân đã cung cấp kinh nghiệm

và kiến thức chuyên môn của mình cho nghiên cứu này và vì vậy đã giúp tổng hợp được cơ sở thông tin giữa các ngành cho phân tích

so sánh chính sách vay vốn Chúng tôi cũng xin cám ơn những đóng góp quan trọng của các chuyên gia nghiên cứu và tác giả cho cuốn sách này

Hàng loạt các nghiên cứu được thực hiện với sự tham gia chuyên môn của Adrian Ziderman, Giáo sư Kinh tế tại Đại học Bar-Ilan, Ixraen và cũng là chuyên gia chính của UNESCO, người đã đưa ra hướng dẫn nghiên cứu và chuẩn bị cho nghiên cứu tổng hợp này Khuôn khổ và phương pháp luận cho các nghiên cứu điển hình xuất phát từ chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn mới của Thái Lan do Adrian Ziderman viết trong khuôn khổ Dự án Hỗ trợ kỹ thuật của UNESCO-Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1999.2 Ngoài

1 Trước đây là Bộ phận Lập kế hoạch và Phân tích ngành (PSA), được cơ cấu lại năm

2004

2 Nghiên cứu quản lý và tài chính giáo dục Thái Lan, UNESCO-Ngân hàng Phát triển châu Á, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật (T.A.2996-THA), 1999

Trang 15

vai trò là tác giả của một trong số các nghiên cứu, Igor Kitaev - chuyên gia chương trình (tài chính giáo dục) đóng vai trò là cán bộ nguồn của Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục Dominique Altner, Trưởng Bộ phận Chính sách và Cải cách giáo dục, UNESCO Bangkok đã đề xuất dự án và đảm bảo sự điều phối về mặt chuyên môn trong toàn bộ nghiên cứu với sự hỗ trợ của Toshiyuki Matsumoto, trợ lý chuyên gia chương trình (Bộ phận Chính sách và Cải cách giáo dục)

Sheldon Shaeffer, Giám đốc, Văn phòng Giáo dục Khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO, Bangkok

Gudmund Hernes, Giám đốc, Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục, Paris

Trang 16

có mặt ở hơn 50 nước trên khắp thế giới và hầu hết đều dành cho giáo dục trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại học

Ở nhiều nước khác, những đề xuất giới thiệu chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn là một chủ đề xuất hiện nhiều trong các cuộc tranh luận chính trị Chương trình cho vay là mối quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách bởi vì nó có thể góp phần giải quyết một loạt những vấn đề chính sách căng thẳng của chính phủ Các chương trình này có thể làm giảm áp lực đối với ngân sách nhà nước bằng cách tạo điều kiện chia sẻ chi phí nhiều hơn thông qua việc huy động học phí và các khoản phí đại học khác; cũng có thể

sử dụng các nguồn lực tự do để chi cho những lĩnh vực ưu tiên hơn của xã hội cả trong và ngoài ngành giáo dục, nhất là giáo dục cơ bản (Psacharopoulos, Tan và Jimenez, 1987) Thu hồi vốn nhiều hơn nữa có thể tạo thêm kinh phí mở rộng hệ thống giáo dục đại học nhằm đáp ứng nhu cầu đang tăng lên của xã hội về giáo dục trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại học Với mục tiêu là đối tượng thiệt thòi, các chương trình cho vay được trợ cấp

có thể tạo cơ hội nhiều hơn nữa cho những người nghèo được đi học đại học và vì vậy góp phần cải thiện sự công bằng xã hội Và các khoản cho vay với những điều kiện ưu đãi để học tập trong những lĩnh vực cụ thể có thể làm giảm những khó khăn về nguồn nhân lực có kỹ năng hiện đang cản trở sự phát triển của đất nước

và xã hội

Sự thành công của chương trình cho vay (nhất là ở các nước đang phát triển) là không rõ ràng Mặc dù một số chương trình đã được chứng minh là rất thành công nhưng kết quả thường gây thất vọng xét theo cả khía cạnh đáp ứng mục tiêu đặt ra và tính bền vững về tài chính Trong trường hợp những chương trình ít thành công hơn thì nguyên nhân xuất phát từ sự yếu kém trong quy trình (yếu kém trong quản lý, kéo dài quá mức thời gian trả nợ hoặc

Trang 17

không có mục tiêu có ý nghĩa) hoặc do những nguyên nhân từ bên trong, và đặc biệt là liên quan đến những điều kiện cho vay quá dễ dàng và được trợ cấp nhiều

Chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn do chính phủ tài trợ được thực hiện ở nhiều nước châu Á Chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn đã được thiết lập ở Úc, Trung Quốc Đại lục, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Ấn Độ, Inđônêxia, Nhật Bản, Kazăktan, Hàn Quốc,3 Malaixia, Mông Cổ, Pakixtan, Philippin, Xri Lanka, Xingapo, Udơbêkixtan, Việt Nam và Thái Lan Giống như các khu vực khác, chương trình cho vay rất khác nhau tuỳ theo từng nước Một số chương trình được xây dựng rất tốt và tồn tại lâu dài (Ấn Độ) trong khi các chương trình khác lại mới chỉ được bắt đầu gần đây (Kazăktan và Thái Lan); một số đã đến được với nhiều sinh viên (Đặc khu hành chính Hồng Kông, Trung Quốc và Thái Lan) trong khi những chương trình khác có quy mô tương đối hẹp lại chỉ đến được khá ít sinh viên (Philippin) Cũng tương tự như trên, các chương trình này có mục tiêu khác nhau với sự phân biệt rõ ràng nhất là giữa những chương trình có mục đích chủ yếu là thu hồi vốn (Xingapo, Đặc khu hành chính Hồng Kông, Trung Quốc) và những chương trình có những mục tiêu xã hội là tăng cường sự tham gia

và cơ hội tiếp cận với giáo dục đại học của những nhóm nghèo hơn (Philippin và Thái Lan) Trong một số trường hợp, khó khăn về hành chính và những khó khăn khác đã dẫn đến việc phải dừng lại chương trình cho vay vốn (Indonesia và Xri Lanka); ở các nước khác, có những chương trình đã được lập kế hoạch mà phải dừng giữa chừng mặc dù sau đó cũng đã phục hồi lại (Mông Cổ) Trong rất nhiều trường hợp, các chính phủ đã thể hiện sự quan tâm đến việc cải cách chương trình cho vay hiện nay hoặc giới thiệu những chương trình mới

Giống như những lĩnh vực khác, cải cách chính sách trong lĩnh vực tài chính sinh viên cần phải học hỏi kinh nghiệm quốc tế (mô hình thành công) và tránh những sai lầm Nhưng việc thiếu những đánh giá sâu về các chương trình cho vay hiện nay ở châu Á

đã tạo ra rào cản đáng kể cho sự cải cách thành công trong khu vực Mặc dù một số đánh giá chi tiết liên quan đến hoạt động của chương trình cho vay ở nhiều nước đã được tiến hành nhưng các chương trình này vẫn chưa được tiếp cận; những đánh giá này hoặc

3 Tính từ “Korean” được sử dụng trong tài liệu này để chỉ Hàn Quốc

Trang 18

không có bằng tiếng Anh hoặc chỉ là những văn bản nội bộ của các

tổ chức quốc tế chứ không phải là văn bản được công bố rộng rãi Mục đích chính của Nghiên cứu khu vực về vốn vay cho học sinh, sinh viên ở châu Á do UNESCO (Bangkok)/Viện Quốc tế về Kế hoạch hóa giáo dục thực hiện là tiến hành một số bước tiếp theo nhằm xoá bỏ khoảng trống về kiến thức này Năm nghiên cứu sâu điển hình về chương trình cho vay ở châu Á do dự án tài trợ đã được tổ chức ở bốn nước: Trung Quốc và Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc), Hàn Quốc, Philippin và Thái Lan Mục đích là bao quát được các chương trình cho vay với những mục tiêu khác nhau, cơ cấu thể chế, sắp xếp tài chính cũng như những bối cảnh kinh tế chính trị khác nhau Các nghiên cứu điển hình với trọng tâm là nghiên cứu về việc thực hiện các chương trình cho vay đã sử dụng một khuôn khổ và phương pháp chung, do vậy tạo cơ hội phân tích so sánh những điểm mạnh và yếu của các chương trình cho vay trong những bối cảnh khác nhau

Một nghiên cứu trước đây về chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn mới của Thái Lan (trình bày trong Ziderman, 1999) đã được sử dụng như một mô hình mẫu cho các nghiên cứu điển hình khác do các đối tác trong nước thực hiện.4 Việc này đã tạo ra một khuôn khổ và phương pháp luận chung cho các nghiên cứu điển hình và vì vậy tạo cơ hội phân tích so sánh những điểm mạnh và yếu của các chương trình cho vay trong những bối cảnh khác nhau Những nghiên cứu này đã được công bố trong hàng loạt các công trình nghiên cứu hiện nay và rất có giá trị trong việc đóng góp đáng

kể vào các tài liệu nghiên cứu điển hình sẵn có về hoạt động và kết quả của các chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn ở châu Á Tổng hợp lại, năm nghiên cứu điển hình đã đưa ra một bức tranh tổng thể về những kinh nghiệm, thực tiễn và mức độ thành công khác nhau Các nghiên cứu này bao gồm một cơ sở dữ liệu tương đối đặc biệt về hoạt động của chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn ở châu Á Tuy nhiên, có một điều cũng không kém phần quan trọng là nghiên cứu này đã tạo cơ hội để có được một phân tích so sánh tổng hợp dựa trên những điểm giống và khác nhau giữa các nghiên cứu điển hình (đây cũng chính là mục tiêu của

4 Nghiên cứu này đã được thực hiện trong khuôn khổ “Nghiên cứu Quản lý và Tài chính Giáo dục Thái Lan, UNESCO - Ngân hàng Phát triển châu Á, Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật (T.A, 2996-THA), 1999" với sự hợp tác của Văn phòng Uỷ ban Giáo dục Quốc gia (ONC) và Quỹ Nghiên cứu Thái Lan (TRF)

Trang 19

nghiên cứu này) Mục đích chung của phân tích so sánh trong công trình nghiên cứu này không phải là đưa ra một bảng tóm tắt tổng hợp năm nghiên cứu điển hình mà là rút ra những bài học chính sách mở rộng hơn dựa trên kinh nghiệm chương trình cho vay của năm nghiên cứu điển hình

1.2 Cấu trúc tài liệu

Tài liệu này bao gồm 11 chương Sau phần giới thiệu là tóm tắt các hoạt động chính của năm nghiên cứu điển hình được trình

bày ở Chương 2 Chương 3 trình bày các mục tiêu của chương trình

cho học sinh, sinh viên vay vốn Các chương tiếp theo trình bày về

cơ cấu tổ chức của các chương trình cho vay (Chương 4), tài trợ

các chương trình cho vay (Chương 5), phân bổ và thu hồi vốn

(Chương 6 và Chương 7), tính bền vững về mặt tài chính của các chương trình cho vay (Chương 8), tính công bằng, trợ cấp cho vay

và chọn đối tượng mục tiêu (Chương 9) Chương 10 trình bày một

phân tích về điểm mạnh và yếu của các chương trình cho vay và chương cuối cùng trình bày về các vấn đề chính liên quan đến thiết

kế và cải cách chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn dựa

trên những bài học thu được từ các nghiên cứu điển hình

Trang 20

Chương 2

Năm nghiên cứu điển hình

2.1 Các nghiên cứu điển hình: Mô tả chung

Chương này mô tả tóm tắt đặc điểm chính của các chương

trình cho vay trong năm nghiên cứu điển hình Bảng 2.1 trình bày

vắn tắt các chương trình cho vay trong từng nghiên cứu điển hình

Bảng 2.1 Nghiên cứu điển hình: Mô tả chung về các chương

Hàn Quốc Có rất nhiều chương trình riêng rẽ, hoạt động độc lập và

nhằm vào các nhóm đối tượng khác nhau Hầu hết các chương trình đều dựa trên nguồn tài chính hiện có

Philippin Chương trình quốc gia cho vay vốn: rất nhỏ và đã được xây

dựng từ lâu, được bổ sung thêm hai chương trình mới (các

cơ sở giáo dục cấp vùng và quốc gia) Rất nhỏ về quy mô

và mức độ ảnh hưởng Rõ ràng là không có thu hồi vốn

Thái Lan Chương trình quốc gia cho vay vốn: mới, được trợ cấp

nhiều với quy mô rộng; đối tượng là những học sinh trung học phổ thông và sinh viên cao đẳng, đại học Tính bền vững tài chính thấp

Trang 21

Độc giả có thể tham khảo các nghiên cứu điển hình gốc để có thêm chi tiết trong các tài liệu sau: Trung Quốc (Shen và Li, 2003); Đặc khu Hành chính Hồng Kông (Chung, 2003); Hàn Quốc (Kim và Lee, 2003); Philippin (Kitaev, Nadurata, Resurrection và Bernal, 2003); và Thái Lan (Ziderman, 2003).5

Ngoài việc Thái Lan có duy nhất một chương trình cho vay với quy mô rất rộng, tất cả các nghiên cứu điển hình còn lại đều có nhiều chương trình vay khác nhau Không phải tất cả các chương trình này đều được nêu chi tiết trong báo cáo về nghiên cứu điển hình vì mục tiêu chính của báo cáo là tập trung vào những bài học thu được chứ không đưa ra mô tả tổng hợp về tất cả các chương trình Một phương pháp tiếp cận tương tự và có chọn lọc đã được

sử dụng trong báo cáo này Bảng A1.1 trong phần phụ lục đưa ra

danh mục tất cả các chương trình cho vay vốn quan trọng hiện có trong từng nghiên cứu điển hình và cho thấy mức độ chi tiết về từng chương trình trong báo cáo nghiên cứu điển hình

Việc không đề cập tới chương trình cho vay mang tính sáng tạo và được nhắc đến rất nhiều của Úc trong nghiên cứu so sánh có thể gây ngạc nhiên Úc không được đưa vào vì hai lý do Thứ nhất, trường hợp của Úc đã được phân tích và nêu trong nhiều tài liệu; số liệu gần đây được trình bày trong Chapman và Ryan (2002) Thứ hai, một số nội dung chính của chương trình (đặc biệt là hệ thống trả

nợ theo thu nhập) không dễ dàng có thể áp dụng được cho những bối cảnh khác nhau của các nước có thể chế khác nhau trong khu vực (Johnstone, 2001) Đây là một ví dụ về sự áp dụng không phù hợp về mặt thể chế giữa các nước (McFarland, 1993) Thực ra, ngoài chương trình trả nợ theo thu nhập của Úc và New Zealand, tất

cả các chương trình cho vay hiện đang hoạt động trong khu vực (bao gồm cả những chương trình được xem xét trong các nghiên cứu điển hình) là các chương trình cho vay “cố định” Vì vậy, chúng tôi sẽ chú trọng vào chương trình cho vay “cố định” (sẽ được định nghĩa sau) và đây là một hình thức cho học sinh, sinh viên vay vốn phổ biến hiện nay ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, chúng tôi

5 Sau khi các nghiên cứu điển hình được hoàn thành, hoạt động xây dựng thể chế vẫn tiếp tục trong một số chương trình cho vay trong đó bao gồm giới thiệu chương trình mới và cải cách chương trình hiện tại Vì vậy, mặc dù chúng không được nêu trong các báo cáo nghiên cứu điển hình nhưng những hoạt động đó sẽ được đề cập ở những

chỗ thích hợp trong tài liệu này

Trang 22

cũng sẽ xem xét tính hiệu quả của các chương trình cho vay trả nợ

theo thu nhập ở các nước đang phát triển trong Chương 11

2.2 Trung Quốc

Chương trình cho sinh viên vay lần đầu tiên xuất hiện ở Trung Quốc năm 1986 Hai chương trình quốc gia chính thức được bắt đầu năm 1999 và hiện vẫn đang trong giai đoạn xây dựng; một chương trình do chính phủ trợ cấp và chương trình thứ hai hoạt động theo hình thức thương mại

Chương trình cho sinh viên vay vốn do chính phủ trợ cấp (GSSLS) là chương trình cho vay chính ở Trung Quốc Chương trình có đối tượng là sinh viên nghèo hệ chính quy tập trung ở các trường đại học công lập Nguồn vốn vay do bốn ngân hàng thương mại của nhà nước cấp Mặc dù các cơ sở giáo dục có xử lý bước đầu đơn xin vay vốn nhưng các ngân hàng thương mại chịu trách nhiệm lựa chọn, cho vay và thu nợ; họ cũng chịu hầu hết các rủi ro

về việc người vay không trả nợ Các ngân hàng nhận được lãi suất cho vay và một nửa trong số đó do chính phủ trả Mặc dù các ngân hàng thương mại cấp vốn vay nhưng tổng số vốn vay lại do hệ thống "chỉ tiêu" kiểm soát theo tổng số lãi chính phủ hỗ trợ và sự sẵn sàng cấp vốn vay của các ngân hàng thương mại (nếu ngân hàng không muốn cho vay nữa thì sẽ cấp số vốn vay ít hơn so với chỉ tiêu) Không có người bảo lãnh chính thức các khoản cho vay;

uy tín của cá nhân sinh viên chính là một hình thức đảm bảo chứ không xem xét hồ sơ tín dụng của người xin vay Sinh viên sẽ phải trả nợ trong vòng bốn năm sau khi tốt nghiệp

Đến cuối năm 2001, có 272.000 sinh viên đã được vay vốn từ chương trình cho vay vốn có trợ cấp, chiếm hơn 30% số người xin vay Nhưng quy mô nhìn chung là rất thấp: chỉ có 3,8% sinh viên được vay vốn

Thu nhập tương đối thấp của các sinh viên tốt nghiệp đại học cộng với giai đoạn thu hồi vốn ngắn (4 năm) gây áp lực khá lớn đối với đối tượng vay vốn Họ mất khoảng 24% tổng thu nhập hàng năm Chương trình này không mang lại sự công bằng vì những sinh viên khó khăn có ít cơ hội nhận vốn vay hơn và sinh viên có hoàn cảnh kinh tế giống nhau ở các trường khác nhau lại nhận được số vốn vay khác nhau Vì các ngân hàng phải chịu hầu hết các rủi ro về việc người vay không trả nợ nên họ có xu hướng phân biệt những

Trang 23

sinh viên có nguy cơ này - đó chính là những sinh viên nghèo hơn

và học ở những trường có vị thế thấp hơn Ngoài ra, vì chính quyền địa phương trợ cấp lãi suất cho các cơ sở giáo dục ở địa phương nên những nơi nghèo hơn lại ít có khả năng hơn trong việc trợ cấp lãi suất cho các trường đại học địa phương

Không giống như chương trình do chính phủ trợ cấp, Chương trình cho sinh viên vay vốn theo hình thức thương mại thông thường (GCSLS) do các ngân hàng thương mại (và các hợp tác xã tín dụng nông thôn) thực hiện lại dành cho sinh viên các trường đại học tư thục và công lập mà không tính đến hoàn cảnh kinh tế xã hội Lãi suất vay vốn được tính theo giá thị trường và không được chính phủ trợ cấp Thời gian hoàn trả vốn cũng khác nhau vì các ngân hàng tham gia có những quy định riêng về vốn vay Vì vốn vay được đảm bảo thông qua tài sản của bố mẹ/người đỡ đầu để giảm tối thiểu rủi

ro không trả nợ nên trong thực tế chương trình chỉ dành cho sinh viên xuất thân từ những gia đình thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu có tài sản thế chấp theo yêu cầu

2.3 Đặc khu Hành chính Hồng Kông, Trung Quốc

Chương trình cho sinh viên vay vốn ở Đặc khu Hành chính Hồng Kông là một bộ phận chính trong hệ thống tài chính sinh viên của chính phủ với nhiều chuyển biến trong những thập kỷ gần đây Cùng lúc, đây cũng là chương trình có mặt lâu nhất trong năm trường hợp và là chương trình thành công nhất Chương trình do một cơ quan cho vay độc lập của nhà nước thực hiện, Cơ quan hỗ trợ tài chính sinh viên (SFAA) Hiện nay chương trình bao gồm (i) các khoản vay không lãi suất trong khuôn khổ Chương trình tài chính cho sinh viên địa phương (LSFS), cấp vốn vay cho sinh viên sau khi đã qua phần kiểm tra tài sản/thu nhập (tức là tình hình tài chính của gia đình); và (ii) Chương trình cho vay vốn không qua kiểm tra tài sản/thu nhập và có lãi suất - chương trình này chỉ thuần tuý dựa vào thông tin về sinh viên Các khoản vốn vay có mục đích

là cấp chi phí sinh hoạt và bổ sung thêm vào các khoản chi phí cho việc học hành của sinh viên Khoản vốn vay trong khuôn khổ Chương trình tài chính cho sinh viên địa phương không lãi suất được duy trì bằng cách chính phủ tiếp tục trợ cấp trong khi khoản vốn vay trong khuôn khổ Chương trình cho vay vốn không qua kiểm tra tài sản/thu nhập và có lãi suất lại kỳ vọng hoạt động trên cơ sở

"không lãi không lỗ" Các khoản vốn vay đến được với khá đông

Trang 24

sinh viên: năm 2000/2001 có khoảng 28.000 sinh viên nhận được khoản vốn vay trong khuôn khổ Chương trình tài chính cho sinh viên địa phương không lãi suất và trên 10.000 người nhận được khoản vốn vay trong khuôn khổ Chương trình cho vay vốn không qua kiểm tra tài sản/thu nhập và có lãi suất, và như vậy tổng cộng có khoảng 50% tổng số sinh viên nằm trong diện được vay

Việc phân bổ vốn vay cho sinh viên ở Hồng Kông chủ yếu dựa trên tính công bằng, hiệu quả và mức vay phù hợp Thứ nhất, sinh viên từ các gia đình nghèo hơn nhận được hỗ trợ tài chính nhiều hơn Được vay vốn hay không còn tuỳ thuộc vào công thức và công thức này có tính đến tình hình tài chính của gia đình người xin vay vốn Mục tiêu của hệ thống là đảm bảo rằng không có người nào đủ trình độ lại không được đi học đại học vì không đủ tiền Thứ hai, mức cho vay tối đa được điều chỉnh đủ để hỗ trợ nhu cầu sinh hoạt nói chung của một sinh viên Việc điều chỉnh được như vậy đạt được thông qua các khảo sát thường xuyên về chi tiêu của sinh viên

và xây dựng Chỉ số tổng hợp giá cho sinh viên

Hỗ trợ tài chính cũng đã được phân bổ để khuyến khích phát triển những ngành học mà xã hội cần Vào các giai đoạn khác nhau, các khoản hỗ trợ và cho vay ở Hồng Kông có mục tiêu là các sinh viên học trong các ngành sư phạm, công nghệ thông tin, dịch vụ tài chính và truyền thông đa phương tiện Sau khi tăng học phí đại học vào những năm 1990, số sinh viên xin và nhận được khoản hỗ trợ

và vốn vay cũng đã tăng đáng kể Một phần lớn chi phí "thu hồi" do tăng học phí đã được bù lại bằng cách tăng hỗ trợ và cho vay trong cùng thời gian Việc xây dựng chương trình cho sinh viên vay vốn của chính phủ đã không làm giảm cam kết tài chính của chính phủ đối với giáo dục đại học

Gần đây đã xuất hiện một số chương trình cho sinh viên vay vốn theo hình thức thương mại ở Hồng Kông Tuy nhiên, phạm vi của các chương trình này khá hạn chế và các khoản vay thường phụ thuộc vào việc người vay phải chấp thuận các dịch vụ khác do

ngân hàng cho vay cung cấp

2.4 Hàn Quốc

Hàn Quốc có sáu chương trình cho vay được chính phủ hỗ trợ cho giáo dục đại học và đến được với 16% số sinh viên Trong số những chương trình này, chương trình cho vay của Bộ Giáo dục và

Trang 25

Phát triển Nguồn nhân lực và Tổng công ty lương hưu dành cho công chức nhà nước là lớn nhất, chiếm gần 86% tổng số vốn vay của sinh viên

Chương trình của Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực

là lớn nhất trong số sáu chương trình cho vay được chính phủ hỗ trợ tài chính Chương trình này giải ngân các khoản vốn vay có trợ cấp lãi suất cho toàn bộ lĩnh vực giáo dục đại học Chương trình có đối tượng là sinh viên nghèo, ưu tiên cho sinh viên thuộc các nhóm thất nghiệp và có thu nhập thấp Chương trình của Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực sử dụng các ngân hàng thương mại để thực hiện rất nhiều chức năng khác nhau: cấp vốn, điều hành vốn, thu hồi vốn, v.v Bộ chỉ quyết định về mức vay và chính sách vay vốn nói chung chẳng hạn như tỷ lệ lãi suất, tiêu chí lựa chọn, chỉ tiêu cho mỗi đơn vị và thanh toán phần chênh lệch lãi suất

Các khoản vốn vay của Tổng công ty lương hưu dành cho công chức nhà nước và con cái họ chứ không phải là đối tượng nghèo Tổng công ty lương hưu sử dụng kinh phí của mình để tài trợ cho các khoản vay và chuyển khoản vay vào tài khoản cá nhân của đối tượng được nhận

Cả hai chương trình thường chi cho học phí (bao gồm cả lệ phí đăng ký) nhưng không chi cho phí sinh hoạt Vì trách nhiệm thanh toán các khoản vay của Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực thuộc về sinh viên nên chương trình đã giảm bớt gánh nặng chi phí đối với sinh viên bằng cách cho phép họ chậm thanh toán cho đến khi họ có thu nhập cao hơn Ngược lại, những đối tượng nhận vốn vay từ Tổng công ty lương hưu là công chức nhà nước và họ sử dụng khoản vay nhận được để chi cho việc học hành của con em mình

Một đặc điểm đáng chú ý của hệ thống cho sinh viên vay vốn

ở Hàn Quốc là ngân sách của chính phủ không phải là nguồn vốn vay ban đầu: nguồn vốn này do ngân hàng thương mại cấp trong chương trình của Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực hoặc từ nguồn kinh phí hiện có của các chương trình khác Trừ một ngoại lệ, tất cả các chương trình đều sử dụng ngân hàng thương mại để quản lý thanh toán và thu nợ

Năm 2003, Chính phủ Hàn Quốc đã giới thiệu một chương trình mới cấp vốn vay và học bổng cho sinh viên, chủ yếu tập trung vào các sinh viên ngành kỹ thuật Mục tiêu của chương trình là đáp

Trang 26

ứng nhu cầu về nguồn nhân lực và chương trình này đến được khoảng 37.000 sinh viên (khoảng 1% tổng số tuyển sinh) Chương trình này được triển khai sau khi nghiên cứu điển hình ở Hàn Quốc

đã hoàn thành

Vốn vay cho sinh viên chỉ chi cho học phí chứ không gồm chi phí sinh hoạt; đây là một khó khăn đối với người nghèo Trong số sáu chương trình cho vay chỉ có hai chương trình (trong đó có chương trình của Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực) là tập trung vào người nghèo; bốn chương trình khác có đối tượng là các nhóm như cán bộ nhà nước, giáo viên và công nhân Chương trình vốn vay của Bộ Giáo dục và Phát triển nguồn nhân lực là chương trình có quy mô lớn duy nhất cho người nghèo nhưng lại không thành công trong việc hướng vào đối tượng này Trong thực tế, các khoản vốn vay này lại dành cho những sinh viên không nhất thiết có nhu cầu về tài chính Lý do là vì một số trường cao đẳng và đại học phân bổ vốn vay trên cơ sở ai đăng ký trước thì được trước và trong quá trình lựa chọn một số trường lại áp dụng các tiêu chí kết hợp cả trình độ học vấn và nhu cầu

Đến năm 2000, tổng số vốn vay đã cấp trong khuôn khổ sáu chương trình lên tới 970 tỷ uôn (tức là 750 triệu US$) Số đối tượng được nhận là 488.900 vào năm 2000, tương đương với khoảng 30%

số sinh viên học cao đẳng/đại học khoá bốn năm ở Hàn Quốc Đối với tất cả các chương trình, số vốn vay trung bình theo đầu sinh viên

là khoảng 2.000.000 uôn Tỷ lệ lãi suất danh nghĩa của sáu chương trình dao động từ 0% đến 5,75%; thường thì thời gian hoàn trả vốn

là 4 năm Nhìn chung, các khoản cho sinh viên vay vốn ở Hàn Quốc được trợ cấp rất nhiều và không được sử dụng như một công cụ để thu hồi chi phí trong giáo dục đại học

Trang 27

- bao gồm hệ thống bảo hiểm xã hội và ngân hàng nhà nước - đã được yêu cầu cấp vốn vay ban đầu và có nhiệm vụ thực hiện chương trình, trong đó bao gồm cả cơ chế cho vay và thu nợ Các tổ chức tài chính của nhà nước đã không đáp ứng được mục tiêu của chương trình: trong giai đoạn 1976-86, họ chỉ giải ngân được 40% vốn kế hoạch mặc dù đã có được sự đảm bảo từ chính phủ trong trường hợp người vay không trả được nợ và họ chỉ thu được khoảng 40% số nợ đáo hạn

Với việc các tổ chức tài chính của nhà nước ngừng tham gia

từ năm 1989, chương trình đã được Văn phòng dịch vụ sinh viên thuộc Uỷ ban Giáo dục đại học điều hành Tuy nhiên, những cơ quan này lại thiếu năng lực và động cơ để điều hành một chương trình cho vay vốn vững chắc Ngân sách hạn hẹp tiếp tục làm hạn chế khả năng đến được với vài nghìn đối tượng muốn vay mỗi năm

và mức vay thường không đủ lớn để trả học phí Việc không muốn thu nợ và thái độ tiêu cực của người vay trong trả nợ đã khiến cho tỷ

lệ thu nợ hiện giảm xuống chỉ còn 2%

Gần đây mới xuất hiện hai chương trình mới của chính phủ tập trung vào các vùng cụ thể (có khó khăn về kinh tế) và các đơn vị đặc biệt - Trung tâm chất lượng cao của các trường đại học Mặc dù

cả hai chương trình đều được chính phủ tài trợ (thông qua Uỷ ban Giáo dục đại học), các cơ sở giáo dục tham gia đều chịu trách nhiệm điều hành trực tiếp chương trình kể cả giải ngân và đặc biệt

là thu nợ Một số cơ sở đã từ chối tham gia vào chương trình Trung tâm chất lượng cao của trường đại học

Vốn vay cho sinh viên chưa bao giờ được thực hiện với quy

mô lớn ở Philippin; tác động của chúng đối với tài chính giáo dục đại học là rất nhỏ và các tài liệu về việc thực hiện không có nhiều Hoạt động thí điểm các khoản vốn vay ở trường đại học hiện nay do chính phủ tài trợ cũng được tiến hành trên quy mô nhỏ với sự thành công không chắc chắn Hiện không có kế hoạch rõ ràng trong việc xây dựng bất cứ chương trình quốc gia nào có phạm vi và ảnh

hưởng lớn trong tương lai

2.6 Thái Lan

Chương trình cho vay của Thái lan bắt đầu hoạt động từ năm

1996 và có đối tượng mục tiêu là học sinh, sinh viên khó khăn ở các trường THPT, trường dạy nghề, cao đẳng, đại học công lập và tư

Trang 28

thục Quy mô của chương trình là rất lớn và đến được khoảng một phần tư học sinh THPT, một phần ba sinh viên đại học (trừ hai trường đại học mở) và một nửa tổng số sinh viên các trường sư phạm (gọi là các trường Rajabhat) Chương trình hoạt động thông qua Uỷ ban quốc gia cho học sinh, sinh viên vay vốn (và văn phòng cho vay vốn) Uỷ ban này nhận được trợ cấp hàng năm từ ngân sách quốc gia

Việc chọn lựa đối tượng cho vay được các cơ sở giáo dục thực hiện (trường học, cao đẳng và đại học) Các cơ sở này nhận được ngân sách cho vay thông qua hệ thống phân bổ ngân sách từ trên xuống dưới, từ uỷ ban cho vay vốn trung ương thông qua Bộ Giáo dục và Bộ Đại học (nay là hai bộ phận thuộc Bộ Giáo dục) Các

cơ sở giáo dục có quyền tự quyết đáng kể trong quy trình cho vay vốn, bao gồm quyết định về quy mô vốn vay (lên đến con số tối đa được quy định) và mục đích cho vay (học phí, chi phí ở và chi phí sinh hoạt khác); phương thức phân bổ vốn được phân cấp nhiều như thế này dẫn đến sự bất công đáng kể trong hệ thống giáo dục Mặc dù chương trình nhằm vào những học sinh, sinh viên có nhu cầu nhưng việc xác định đối tượng vay vốn lại được thực hiện không hiệu quả Mức trần thu nhập gia đình để được vay vốn cao hơn ba lần so với mức thu nhập chính thức được tính là mức nghèo Phân bổ ngân sách vốn vay cho các cơ sở giáo dục chỉ dựa vào bình diện xã hội của học sinh, sinh viên (đối với các trường đại học, tiêu chí phân bổ hoàn toàn không dựa vào mức độ nghèo của sinh viên trong trường đại học hoặc không dựa vào nhu cầu)

Sự phát triển nhanh của chương trình (vượt đáng kể so với kế hoạch) đã dẫn đến việc giảm ngân sách cho đối tượng vay vốn mới Điều này được thấy rõ thông qua quy mô vốn vay trung bình đang giảm theo thời gian (thậm chí trên danh nghĩa) chứ không phải qua

số người vay vốn mới (con số này tiếp tục tăng ở bậc đại học) Rõ ràng là các cơ sở giáo dục muốn trải rộng số kinh phí vốn vay đang giảm đi để phục vụ cho một số lượng học sinh, sinh viên tăng hơn

và một lần nữa việc này lại làm giảm đi tác động của chương trình trong việc hỗ trợ các học sinh, sinh viên nghèo nhất

Chương trình cho vay của Thái Lan nhận được mức trợ cấp của chính phủ cao hơn đáng kể so với chương trình của các nước tiến hành nghiên cứu điển hình khác; với lãi suất 1% và việc hoàn

Trang 29

vốn chỉ trên danh nghĩa, trong thực tế học sinh, sinh viên chỉ phải hoàn lại một tỷ lệ vốn nhỏ so với số vốn vay ban đầu

2.7 Ưu thế của các chương trình cho vay cố địnhC

Từ những tóm tắt ở phần trước, rõ ràng là có những khác biệt đáng kể giữa những chương trình mà các nghiên cứu điển hình đề cập đến xét về các nội dung như cơ cấu tổ chức chương trình, số học sinh, sinh viên, mục tiêu chương trình cho vay, nguồn tài trợ, quy trình phân bổ vốn vay và phương thức thu hồi vốn.6 Một phân tích về những khác biệt nổi bật giữa các chương trình cho vay và ảnh hưởng của những khác biệt đó đối với việc thực hiện chương trình cho vay là vấn đề quan tâm chính của nghiên cứu này Tuy nhiên, tất cả các chương trình đều giống nhau ở một điểm: chương trình được tìm hiểu trong các nghiên cứu điển hình cũng như chương trình cho học sinh, sinh viên vay vốn ở các nước đang phát triển đều được thực hiện dưới hình thức truyền thống là cho vay cố định Đặc điểm chính của các khoản cho vay cố định được trình bày trong phần này đóng vai trò là nguồn thông tin cơ bản cho phần so sánh ở các chương tiếp theo

Khi cho học sinh, sinh viên vay theo hình thức cố định, việc thu nợ được thực hiện trong một khoảng thời gian cố định và thường là trả theo tháng Tỷ lệ lãi suất áp dụng khi vay và khoảng thời gian tối đa cho phép để hoàn trả vốn đã được sử dụng để tính

số tiền phải trả trong một thời kỳ cố định Tỷ lệ lãi suất càng cao thì thời gian thu hồi vốn càng ngắn và khoản tiền phải thanh toán hàng tháng càng lớn

Từ góc độ của cơ quan có trách nhiệm thu hồi vốn, ưu điểm của việc cho vay cố định là sự dễ dàng hơn trong việc đảm bảo nghĩa vụ trả nợ hàng tháng của đối tượng đi vay (thời hạn cố định) Tuy nhiên, quy định về trả nợ với khung thời gian cố định có thể là gánh nặng đối với các sinh viên mới ra trường trong những năm đầu với mức lương khởi điểm thấp và thất nghiệp là một vấn đề ở các nước đang phát triển Gánh nặng này sẽ dẫn đến việc người vay không chịu trả nợ Tuy nhiên, trong thực tế có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau trong quy trình trả nợ khoản vay cố định để

6 Thông tin so sánh bổ sung về các nghiên cứu điển hình chương trình cho sinh viên vay

được tóm tắt trong Bảng A1.2

Trang 30

làm giảm những gánh nặng; trong số các biện pháp đó, một số được coi là chuẩn mực phải theo còn một số lại có thể áp dụng linh hoạt Đối với tất cả các đối tượng vay vốn, những biện pháp này bao gồm việc cho phép chậm trả nợ trong thời gian “ân hạn” sau khi tốt nghiệp và thời gian trả nợ kéo dài hơn Việc đưa ra tỷ lệ lãi suất thấp hơn (như một hình thức trợ cấp vốn vay nói chung) cũng sẽ làm giảm gánh nặng trả nợ hàng tháng nhưng điều này sẽ dẫn đến thâm hụt tổng số nợ thu được.7 Cuối cùng, có thể áp dụng việc hoãn trả

nợ cho các đối tượng vay vốn tuỳ theo từng trường hợp cụ thể khi

có khó khăn về tài chính: những đối tượng thất nghiệp hoặc người lao động có thu nhập thấp (những người có thu nhập dưới mức trần thu nhập thấp được quy định)

7 Các vấn đề tài chính được trình bày chi tiết trong Chương 8

Trang 32

Chương 3

Tại sao cần chương trình cho sinh viên vay vốn?

3.1 Các mục tiêu khác nhau của chương trình cho sinh viên vay vốn

Có thể xây dựng các chương trình cho sinh viên vay vốn ở cấp quốc gia với nhiều lý do khác nhau Chúng ta có thể xác định năm nhóm mục tiêu khác nhau của chương trình cho sinh viên vay vốn để rồi đến lượt mình, các mục tiêu đó lại ảnh hưởng đến việc thiết kế và hoạt động của toàn bộ chương trình cũng như tính bền vững về tài chính (xem Ziderman, 2002 để có thông tin đầy đủ hơn

về toàn bộ nội dung trình bày) Những mục tiêu này là: (i) mục tiêu ngân sách (tạo thu nhập); (ii) tạo thuận lợi cho việc mở rộng giáo dục đại học; (iii) mục tiêu xã hội (cải thiện sự bình đẳng và cơ hội tiếp cận cho người nghèo); (iv) đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực;

và (v) giảm bớt gánh nặng tài chính đối với sinh viên Trên thực tế, bất

cứ chương trình nào cũng có thể lồng ghép từ hai mục tiêu trở lên

Mục tiêu ngân sách (tạo thu nhập)

Các trường đại học công lập trên khắp thế giới và đặc biệt là

ở các nước đang phát triển đều đang trong tình trạng thiếu kinh phí Gạt sang bên những trường hợp mà ở đó hệ thống các trường đại học đang mở rộng (chúng ta sẽ đề cập tới vấn đề này sau), ngân sách hạn hẹp của chính phủ có thể dẫn tới tình trạng chung là các trường đại học công lập không được cấp đầy đủ kinh phí Tình trạng này có thể xuất hiện vì một số lý do và ba trong số các lý do đó

được trình bày ở đây (Bảng 3.1) Thứ nhất, tài trợ bổ sung của

chính phủ có thể không đủ để cho phép các trường đại học duy trì mức độ và chất lượng tuyển sinh trong bối cảnh chi phí đơn vị tăng lên Thứ hai, việc cắt giảm chi tiêu chung của chính phủ đối với toàn

bộ các ngành trong đó có cả giáo dục đại học sẽ tạo sức ép đối với khối các trường đại học công lập, buộc các trường này phải tìm kiếm nguồn tài trợ thay thế Thứ ba, nhiều nước đã áp dụng chính sách ưu tiên cho giáo dục cơ bản hơn là cho giáo dục trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học và điều này dẫn đến việc phân

Trang 33

bổ lại nguồn tài chính từ trường đại học sang những bậc học khác của hệ thống giáo dục, đem lại lợi ích xã hội cao hơn

Trong tất cả các trường hợp này, sự chi ly về ngân sách cho thấy rằng các trường đại học công lập sẽ phải thu hồi chi phí nhiều hơn với một nỗ lực nhằm nắm bắt lấy các nguồn tài trợ thay thế Bước đột phá chủ yếu của các chính sách này được thấy rõ thông qua việc áp dụng hoặc tăng mức chi trả của sinh viên cho những dịch vụ nhận được Những nội dung này có thể dưới hình thức học phí ở mức cao hơn, khả thi hơn hoặc tăng mức thanh toán ăn ở có trợ cấp Nguồn lực để hệ thống ngân hàng cho vay thường xuyên nhằm làm giảm bớt gánh nặng thanh toán có thể không sẵn có; các ngân hàng có tiếng là miễn cưỡng cho vay vì mục đích giáo dục - đây là một trường hợp rõ ràng về sự không thành công của thị trường Do vậy, chương trình cho sinh viên vay vốn (với mức lãi suất thương mại) do chính phủ hỗ trợ đóng một vai trò nhất định trong việc thu hẹp khoảng cách này Điều này có nghĩa là sinh viên

có thể trả chi phí học tập và sinh hoạt thông qua đi vay; gánh nặng trả nợ sẽ giảm đi với kỳ vọng là học vấn cao hơn sẽ khiến thu nhập tăng lên

Các chương trình cho vay với mục đích chính là thu hồi chi phí thường được trợ cấp và nhằm vào đối tượng người nghèo Thế nhưng các yếu tố này lại không phải là một bộ phận hữu cơ của chương trình cho vay có mục đích thu hồi chi phí, một chương trình trên nguyên tắc phải áp dụng mức lãi suất thị trường và đến được tới tất cả mọi đối tượng chứ không phải chỉ có người nghèo Nguồn thu bổ sung từ học phí khi đưa ra một chương trình cho vay mới có thể không làm cho nguồn vốn thực tế của các cơ sở giáo dục tăng lên Việc này sẽ phụ thuộc vào việc nguồn thu bổ sung từ học phí có

đủ để bù lại mức tài trợ giảm của nhà nước cho các cơ sở này hay không

Trang 34

Bảng 3.1 Các mục tiêu khác nhau của chương trình cho

sinh viên vay vốn

Mục tiêu của chương trình cho vay

1 Mục tiêu ngân sách (tạo thu nhập từ học phí)

• Tạo thu nhập để duy trì số tuyển sinh vào đại học và đầu ra/chất lượng, tương xứng với mức chi phí đơn vị tăng ở các trường đại học công lập (không có tài trợ bổ sung của chính phủ)

• Thay thế nguồn vốn: để đối phó với việc cắt giảm chi tiêu chung của chính phủ, bao gồm chi tiêu cho ngành giáo dục

• Thay thế nguồn vốn: để đối phó với việc phân bổ lại ngân sách giáo dục của nhà nước từ trường đại học sang các bậc học khác, đem lại lợi ích xã hội cao hơn

2 Mở rộng hệ thống giáo dục đại học

• Tạo nguồn thu bổ sung từ học phí để trang trải một phần cho việc

mở rộng khối các trường đại học công lập

• Mở rộng các trường đại học thông qua phát triển khối các trường đại học tư thục (để giảm thiểu vai trò của nhà nước trong tài trợ cho

sự mở rộng này)

3 Mục tiêu xã hội (bình đẳng/ cơ hội tiếp cận cho người nghèo)

• Các khoản vay nhằm vào đốI tượng sinh viên có nhu cầu

• Trợ cấp chéo: hỗ trợ cho sinh viên có nhu cầu bằng nguồn thu từ mức học phí cao hơn

4 Nhu cầu về nguồn nhân lực

• Đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp cụ thể hoặc nguồn nhân lực khu vực

5 Hỗ trợ sinh viên

• Giảm bớt khó khăn về tài chính cho sinh viên trong quá trình học

• Tăng cường trách nhiệm của sinh viên

• Mang lại sự độc lập về tài chính cho sinh viên

Trang 35

Tạo thuận lợi cho sự mở rộng hệ thống giáo dục đại học

Chính phủ các nước đã và đang đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội về giáo dục đại học thông qua các chính sách nhằm làm tăng số lượng sinh viên tuyển sinh; tuy nhiên, do ngân sách quốc gia hạn hẹp, số sinh viên tăng phần lớn là không tương xứng với tài trợ bổ sung của chính phủ Việc đối phó với áp lực ngày càng tăng của xã hội về mở rộng hệ thống giáo dục đòi hỏi phải tăng đáng kể chi tiêu công Việc này có thể thực hiện được bằng cách lấy nguồn tăng thêm từ học phí để bù thành các khoản bổ sung và có lẽ vấn đề này phù hợp với việc giảm hỗ trợ của nhà nước cho các cơ

sở đại học

Một biện pháp khác là khuyến khích các cơ sở giáo dục tư thục phát triển Sinh viên trả học phí toàn phần nếu học ở các trường đại học tư và điều này làm giảm tối thiểu gánh nặng ngân sách công Tuy nhiên, mức học phí toàn phần xem ra lại là khá lớn

và vượt quá khả năng của một bộ phận lớn dân cư Chương trình cho sinh viên vay vốn có thể đóng vai trò chính trong việc giảm bớt gánh nặng về học phí mà cá nhân phải trả, nhất là trong trường hợp giáo dục tư thục là phổ biển và không chỉ nhằm phục vụ người giàu

Mục tiêu xã hội (tăng cơ hội tiếp cận cho người nghèo)

Không có lý do nào nêu trên giải thích cho mục đích giới thiệu

về chương trình cho sinh viên vay có trợ cấp.Nhưng mục tiêu được

đề cập đến nhiều là tăng sự tham gia vào giáo dục của người nghèo lại giải thích cho trường hợp này Ở nhiều quốc gia, số lượng tương đối ít những thanh niên nghèo và có hoàn cảnh khó khăn tham gia học các chương trình giáo dục không bắt buộc chính là nguyên nhân khiến xã hội quan tâm; tăng cơ hội được đi học cho những bộ phận dân cư này đã trở thành nội dung chính trong chính sách giáo dục và xã hội Nhìn chung mọi người đều đồng ý rằng cần phải có động cơ tài chính rõ ràng để không những vượt qua được gánh nặng trả học phí và chi phí sinh hoạt mà còn tránh việc cha mẹ các

em không muốn giảm thu nhập của gia đình để chi cho giáo dục và tránh được nguy cơ là giáo dục có thể đem lại những lợi ích không đáng kể

Phương pháp truyền thống và hiệu quả nhất để tăng cơ hội được đi học của người nghèo là trợ cấp để trả học phí sau khi đã kiểm tra tài sản/thu nhập (trong trường hợp giáo dục không miễn

Trang 36

phí) và thường là cả chi phí sinh hoạt nữa Đây vẫn là cách làm phổ biến đối với giáo dục trung học, mặc dù có ngoại lệ ở một số nước;

ví dụ, như đã đề cập trong phần trước là Thái Lan cho học sinh trung học phổ thông vay vốn Tuy nhiên, một chương trình hỗ trợ với phạm vi rộng khắp có thể là tốn kém; việc sử dụng vốn vay thay vì

hỗ trợ làm tăng cơ hội tiếp cận cho người nghèo đồng thời làm giảm (hoặc ít ra là kiềm chế) chi tiêu công trong một khoảng thời gian dài hơn, khi mà quá trình hoàn vốn được hình thành Để tăng cơ hội tiếp cận với giáo dục của người nghèo một cách hiệu quả, cần phải cho vay vốn với những điều kiện hấp dẫn Do vậy, những lý do cho vay vốn có trợ cấp bao gồm thời gian ân hạn, tỷ lệ lãi suất thấp hơn thị trường và hoàn vốn không hoàn toàn liên quan đến lạm phát Chương trình cho vay được thiết kế với mục đích giúp người nghèo phải nhằm vào đối tượng này, nếu không sẽ làm mất đi mục tiêu trọng tâm của chương trình

Một vai trò ít trực tiếp hơn của các chương trình cho sinh viên vay vốn trong khuôn khổ mục tiêu này là cấp hỗ trợ cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn với nguồn kinh phí thu được từ học phí (cao hơn) do sinh viên có điều kiện hơn trả Các đối tượng sinh viên này

có thể vay vốn mà không được trợ cấp (có nghĩa là với tỷ lệ lãi suất thị trường hoặc gần bằng thị trường)

Nhu cầu về nguồn nhân lực

Các chương trình cho sinh viên vay vốn có thể có mục đích cụ thể là hỗ trợ sinh viên có nguyện vọng học những ngành nằm trong

ưu tiên quốc gia về nguồn nhân lực (ví dụ như kỹ thuật) hoặc làm việc trong những lĩnh vực xã hội quan trọng (bác sĩ hoặc giáo viên phục vụ ở những khu vực nông thôn hẻo lánh) Các chương trình cho vay có thể được xây dựng cho những nhóm đối tượng cụ thể này (chẳng hạn như cho sinh viên y khoa) hoặc áp dụng các điều kiện trả nợ ưu đãi trong khuôn khổ chương trình cho vay không được trợ cấp

Giảm bớt gánh nặng tài chính lên sinh viên

Nhóm mục tiêu cuối cùng là những mục tiêu điển hình của chương trình cho vay ở các nước phát triển Thậm chí ngay cả khi học phí ở mức tối thiểu thì sinh viên (cả đối tượng có điều kiện kinh

tế và khó khăn) đều có thể phải đối mặt với những gánh nặng tài chính đáng kể Cơ hội kiếm tiền bị bỏ qua khi đang đi học, và chi phí sinh hoạt có thể ở mức đáng kể, nhất là khi sinh viên không học ở

Trang 37

một trường đại học gần nhà Vốn vay cho sinh viên có thể làm giảm những áp lực tài chính vốn là yếu tố có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới kết quả học tập của sinh viên (và do đó làm ảnh hưởng tới hiệu quả của quá trình đầu tư về vốn con người) Trong khi những gánh nặng đó có thể tương đối nặng đối với sinh viên nghèo thì về nguyên tắc có thể áp dụng rộng rãi các khoản cho vay phục vụ mục đích này cho tất cả sinh viên, kể cả sinh viên có điều kiện kinh tế cũng như sinh viên nghèo miễn là các khoản vay này không được trợ cấp

Có thêm hai lập luận thường được nhắc tới trong khuôn khổ nhóm mục tiêu này: tăng sự cam kết của sinh viên và mang lại sự độc lập về tài chính cho sinh viên đại học Sinh viên, nhất là những

em thuộc các gia đình có điều kiện kinh tế và được hưởng lợi từ nền giáo dục đại học được trợ cấp quá nhiều, có thể sẽ không có một hướng đi đủ chín chắn hoặc cam kết học tập nếu không phải đóng học phí; chương trình cho vay khiến việc áp dụng hoặc tăng mức học phí trở nên khả thi Cuối cùng, người ta cho rằng sinh viên sau khi đến tuổi trưởng thành không nên buộc phải phụ thuộc vào sự hỗ trợ tài chính của cha mẹ và sự hỗ trợ này có thể sẽ không còn nữa ngay cả đối với những gia đình không thuộc diện nghèo

Đa mục tiêu

Một số chương trình có thể có nhiều hơn một mục tiêu Thường thì có thể đạt được nhiều mục tiêu khác nhau mà không cần phải bớt đi bất kỳ mục tiêu cụ thể nào; ví dụ, vốn vay cấp cho tất

cả các đối tượng sinh viên với mục đích hỗ trợ tăng học phí và chia

sẻ chi phí có thể mang lại sự độc lập hơn cho sinh viên Một chương trình cho vay nhằm mục đích chia sẻ chi phí nhiều hơn giữa chính phủ và sinh viên có thể bị hạn chế bởi vấn đề ngân sách cho vay không đủ và một số đối tượng xin vay lại không được vay Vốn vay

có thể được áp dụng theo nguyên tắc “ai đến trước phục vụ trước”, nhưng có lẽ tốt hơn là cấp những khoản vay hợp lý và khách quan với ưu tiên dành cho các sinh viên nghèo; thu nhập của cha mẹ được sử dụng làm tiêu chuẩn để lựa chọn

Tầm quan trọng của việc xác định mục tiêu

Có thể phân biệt rõ ràng giữa mục tiêu 1 và 2, và giữa các nhóm mục tiêu 3, 4 và 5 Nhóm mục tiêu đầu tiên liên quan đến tạo nguồn kinh phí cho giáo dục đại học, trong bối cảnh ngân sách của chính phủ bị thắt chặt và nhu cầu xã hội về giáo dục đại học tăng

Trang 38

lên; các mục tiêu này là lý do chính để cấp vốn vay cho sinh viên ở các nước công nghiệp hoá Tuy nhiên, nhóm mục tiêu thứ hai lại không thực sự liên quan đến cấp kinh phí cho các trường đại học theo kiểu như vậy mà nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu rộng lớn hơn và mang tính xã hội

Hầu hết các chương trình cho sinh viên vay đều được trợ cấp nhiều, nhất là ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, không thể cứ mãi trợ cấp nhiều như vậy: Mục đích phải là hoàn vốn đầy đủ ngoại trừ trường hợp chương trình cho vay vốn có đối tượng mục tiêu là người nghèo và có lẽ cả chương trình có mục đích làm giảm sự thiếu hụt về nguồn nhân lực

Chúng ta biết rằng vốn vay cho mục tiêu 1 và 2 chỉ hạn chế cho đối tượng sinh viên theo học các trường đại học công lập (trừ các khoản vay dành riêng cho đối tượng là sinh viên các trường đại học tư thục) Tuy nhiên, để đáp ứng ba mục tiêu còn lại, cần phải cấp vốn vay cho sinh viên học ở cả trường công lập và tư thục trên

cơ sở bình đẳng

Những gợi ý để đánh giá chương trình cho vay

Những nội dung trình bày trên đây đưa ra những gợi ý quan trọng để đánh giá chương trình cho vay vốn Không thể có một phương pháp chuẩn nào để đánh giá tính hiệu quả của các chương trình cho vay vốn đơn lẻ Một chương trình cho sinh viên vay vốn sẽ cần phải được đánh giá theo các mục tiêu chính mà chương trình cần đạt được

Đối với các nhóm mục tiêu 1 và 2, hình thức phù hợp nhất là đánh giá về mặt tài chính của chương trình (như được trình bày

trong Chương 8) - đặc biệt là khảo sát kỹ mức độ hoàn vốn mà

chương trình đạt được Ngược lại, các chương trình cho vay với mục tiêu bình đẳng nhằm tăng cơ hội đi học đại học của người nghèo trước tiên cần được đánh giá về mức độ thành công trong việc tiếp cận được những đối tượng này và mức độ sẵn có các khoản vốn vay trong việc góp phần làm tăng sự tham gia vào giáo dục đại học của các nhóm sinh viên khó khăn Thước đo hiệu quả của chương trình cho vay so với các mục tiêu liên quan đến nhu cầu

về nguồn nhân lực chính là sự thành công trong việc khuyến khích sinh viên theo học trong những lĩnh vực ưu tiên và tiếp đó là làm việc trong những lĩnh vực này hoặc ở các khu vực quy định Các chương trình cho vay có mục tiêu trợ giúp sinh viên (nhóm mục tiêu 5)

Trang 39

có thể sẽ cần phải được đánh giá bằng các phương pháp điều tra, nhằm có được thông tin về khả năng giảm bớt gánh nặng tài chính

và tăng sự cam kết của sinh viên

3.2 Nghiên cứu điển hình: Mục tiêu của chương trình cho vay

Trong bối cảnh này, chúng tôi xem xét mục tiêu (được công

bố hoặc ngầm định) của các chương trình cho vay trong năm nghiên

cứu điển hình Các nghiên cứu này được tóm tắt ở Bảng 3.2 Có lẽ

mọi người sẽ thấy ngạc nhiên là mục tiêu chính của tất cả các chương trình cho vay được nêu trong bảng đều mang tính xã hội rõ ràng - đó là mục tiêu “xã hội” và “hỗ trợ sinh viên” (mục tiêu 3 và 5); các chương trình này không liên quan trực tiếp đến khủng hoảng tài chính mà các trường đại học những nước này phải đối mặt

Các chương trình cho vay ở Trung Quốc (Chương trình cho sinh viên vay vốn do Chính phủ trợ cấp), Hàn Quốc (Bộ Giáo dục và Phát triển Nguồn nhân lực), Philippin và Thái Lan có mục tiêu chính

là xã hội với mục đích hỗ trợ tài chính cho sinh viên nghèo hoặc có hoàn cảnh khó khăn Trong chương trình của Hồng Kông, chương trình lớn nhất (Chương trình tài chính cho sinh viên địa phương) có mục tiêu mang tính xã hội, trong khi chương trình bổ sung (Chương trình cho vay không qua kiểm tra tài sản/thu nhập) được áp dụng cho sinh viên thuộc tất cả các nhóm thu nhập, bao gồm cả sinh viên nghèo có mong muốn được nhận vốn vay từ Chương trình tài chính cho sinh viên địa phương Chương trình cho công chức nhà nước được trợ cấp nhiều của Hàn Quốc thì lại dành cho công chức nhà nước và gia đình họ, bất kể mức thu nhập là bao nhiêu

Một số chương trình cũng đáp ứng mục tiêu tài chính của trường đại học Chương trình cho vay với phạm vi hẹp ở Trung Quốc đã tạo thuận lợi cho việc thực hiện chế độ đóng học phí sau

40 năm miễn học phí Tuy nhiên, trong trường hợp của Trung Quốc

và các nước khác, mục tiêu tài chính có xu hướng ẩn đi qua hoạt động thực tiễn của các chương trình chứ không phải là một mục tiêu chính được công bố Do đó việc các ngân hàng thương mại cấp vốn ban đầu cho sinh viên vay trong các chương trình được thực hiện ở Trung Quốc và Hàn Quốc (Bộ Giáo dục) có nghĩa là gánh nặng tài trợ chính cho các chương trình cho vay vốn trên thực tế được chuyển từ chính phủ sang hệ thống ngân hàng (Vấn đề nguồn vốn tài trợ cho các khoản vay của học sinh, sinh viên được trình bày

Trang 40

trong Chương 4) Ở Thái Lan, số tiền cho vay trung bình đối với sinh

viên ở các cơ sở giáo dục tư thục cao hơn đáng kể so với sinh viên các cơ sở công lập do sự chênh lệch nhiều về mức học phí giữa hai loại hình trường Vì tất cả các khoản vốn vay ở Thái Lan đều được

trợ cấp ở mức độ cao (xem Chương 5), nên sự sẵn có vốn cho sinh

viên trường tư thục vay đem lại kết quả là giáo dục tư thục được trợ cấp, do vậy đã khuyến khích các trường tư phát triển (đặc biệt là các trường đại học) Vốn cho sinh viên vay ở Philippin lại chỉ hạn chế cho những sinh viên theo học ở các khóa được quy định là “ưu tiên” với mục đích tạo nguồn nhân lực có trình độ trong các lĩnh vực cần cho sự phát triển kinh tế và xã hội Cuối cùng, một chương trình cho vay mới nhằm tăng nguồn nhân lực kỹ thuật ở Hàn Quốc có mục tiêu chủ yếu liên quan đến nguồn nhân lực.8

Mục tiêu trọng tâm của một chương trình cho vay có thể thay đổi theo thời gian Ở Hồng Kông, chính trong bối cảnh hệ thống trường đại học được mở rộng và học phí học đại học tăng lên mà các chương trình cho vay khác nhau được cải thiện hoặc hình thành

ở các giai đoạn khác nhau Đầu những năm 1990, học phí ở các trường đại học ở Hồng Kông tăng lên (hệ số là 2,65) giúp thu hồi chi phí nhiều hơn để phục vụ mục đích mở rộng hệ thống các trường đại học; khoảng hai phần ba thu nhập tạo ra thông qua chính sách thu hồi chi phí từ học phí đã được bù lại cho việc tăng kinh phí cho Chương trình tài chính cho sinh viên địa phương vào giữa những năm 1990 (Chung, 2002) Ở Thái Lan, những thảo luận hiện nay về cải cách chương trình cho sinh viên vay vốn dự báo rằng cần phải dịch chuyển trọng tâm từ mục tiêu xã hội (hỗ trợ người nghèo) sang mục tiêu thu hồi chi phí

Hiện nay, tất cả các chương trình lớn được xem xét trong các nghiên cứu điển hình chủ yếu có mục tiêu xã hội, tạo cơ sở cho việc chính phủ trợ cấp vay vốn Điều này đặt ra một số vấn đề sẽ được

đề cập tới trong các phần tiếp theo của nghiên cứu này

• Trợ cấp có ảnh hưởng gì đến hiệu quả tài chính của các chương trình cho vay khác nhau? Chính phủ trợ cấp càng nhiều thì vốn vay sẽ càng tỏ ra có hiệu quả trong việc hỗ trợ sinh viên nghèo; tuy nhiên, trợ cấp quá nhiều có thể làm ảnh hưởng đến khả năng tự vững (và tính bền vững)

8 Chương trình được đưa ra sau khi nghiên cứu điển hình của Hàn Quốc kết thúc và do

đó không được trình bày trong báo cáo của Hàn Quốc

Ngày đăng: 04/11/2013, 11:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2  Nghiên  cứu  điển hình: Mục tiêu của chương trình  cho vay vốn - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 3.2 Nghiên cứu điển hình: Mục tiêu của chương trình cho vay vốn (Trang 42)
Bảng 3.3  Các  phương án chính sách thay thế  đối với các  chương trình cho sinh viên vay vốn - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 3.3 Các phương án chính sách thay thế đối với các chương trình cho sinh viên vay vốn (Trang 44)
Bảng  4.1  Chương trình đơn nhất hay đa chương trình: - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
ng 4.1 Chương trình đơn nhất hay đa chương trình: (Trang 48)
Bảng 4.2  Cho vay theo cơ chế tập trung hay phân cấp: - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 4.2 Cho vay theo cơ chế tập trung hay phân cấp: (Trang 50)
Hình 5.1  Phân bổ ngân sách giáo dục đại học   (có chia sẻ chi phí) - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Hình 5.1 Phân bổ ngân sách giáo dục đại học (có chia sẻ chi phí) (Trang 55)
Bảng 5.1  Tài trợ chương trình cho vay vốn: - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 5.1 Tài trợ chương trình cho vay vốn: (Trang 57)
Hình 6.1  Quy trình phân bổ vốn vay: Mô hình đơn giản - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Hình 6.1 Quy trình phân bổ vốn vay: Mô hình đơn giản (Trang 63)
Hình 6.2  Các phương án phân bổ vốn vay khác nhau - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Hình 6.2 Các phương án phân bổ vốn vay khác nhau (Trang 64)
Hình 7.1  Các phương án thay thế cho thu hồi vốn vay - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Hình 7.1 Các phương án thay thế cho thu hồi vốn vay (Trang 73)
Bảng 7.1  Các biện pháp chế tài đối với trường hợp không trả nợ - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 7.1 Các biện pháp chế tài đối với trường hợp không trả nợ (Trang 77)
Bảng  8.2  Nghiên cứu điển hình: Tỷ lệ trả nợ và tỷ lệ hoàn vốn - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
ng 8.2 Nghiên cứu điển hình: Tỷ lệ trả nợ và tỷ lệ hoàn vốn (Trang 82)
Bảng 9.1  Lý do cho vay có trợ cấp - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 9.1 Lý do cho vay có trợ cấp (Trang 89)
Hình 9.1 Sơ đồ hình trứng: Tiếp cận đối tượng nghèo - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Hình 9.1 Sơ đồ hình trứng: Tiếp cận đối tượng nghèo (Trang 93)
Bảng 9.2  Chọn đối tượng mục tiêu và phạm vi: - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 9.2 Chọn đối tượng mục tiêu và phạm vi: (Trang 94)
Bảng 9.3  Quy định mức trần thu nhập cho diện được vay vốn - Lựa chọn chính sách trong các chương trình cho học sinh sinh viên vay vốn: Bài học từ năm nghiên cứu điển hình ở châu Á
Bảng 9.3 Quy định mức trần thu nhập cho diện được vay vốn (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w