quá trình đổi mới nhận thức về kinh tế thị trường của đảng và mô hình kinh tế tổng quát thời kỳ quá độ đi lên cnxh ở việt nam
Trang 1Quá trình đổi mới nhận thức về kinh tế thị trường của Đảng và
mô hình kinh tế tổng quát thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam
Quá trình đổi mới nhận thức về kinh tế thị trường của Đảng
Bước 1: Thừa nhận cơ chế thị trường nhưng không coi nền kinh tế của nước ta là kinh tế thị trường (1986- 1994)
- Đại hội VI (12-1986) – bước ngoặt trong việc xác lập thể chế kinh
tế thị trường định hướng XHCN
+ Chuyển nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa
Đây là điểm đột phá trong lý luận về hệ kinh tế của sự phát triển + Chính sách kinh tế nhiều thành phần
Đây là phương tiện để đạt tới sự phát triển LLSX, tăng trưởng kinh tế (là phương tiện, chứ không phải mục tiêu của công cuộc xây dựng CNXH)
- Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
- Xây dựng cơ chế mới phù hợp với quản lý khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế Đây chính là cơ chế thị trường
Bản chất của quá trình xác lập cơ chế thị trường chính là quá trình chuyển giá cả theo giá thị trường và chống lạm phát, xác lập giá cả, tiền tệ
- Trong khi phê phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp và đề ra chủ trương đổi mới quản lý kinh tế (một bộ phận của đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ”
Tóm lại, đưa ra đường lối đổi mới toàn diện, mà trọng tâm đặt vào đổi
mới kinh tế, Đại hội đã đưa ra những quan niệm mới về con đường, phương pháp xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hoá và thị trường, phê phán mạnh cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp và khẳng định chuyển hẳn sang hạch toán kinh doanh Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần với
Trang 2những hình thức kinh doanh phù hợp; coi trọng việc kết hợp lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội; chăm lo toàn diện và phát huy nhân tố con người Nói một cách khác, Đại hội bước đầu thừa nhận cơ chế thị trường
- Hội nghị Trung ương 6 (khóa VI, 3-1989) - Dấu mốc quan trọng trong việc xác lập thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
+ Phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế đi lên CNXH Khẳng định thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, mở ra một hướng đi mới - tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người tự do làm ăn theo pháp luật;
+ Các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất vốn có bản chất riêng nhưng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết với nhau; kinh tế quốc doanh cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề, những ngành nghề, loại hoạt động nào mà kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế ấy phát triển
+ Thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch hóa; chuyển mạnh các đơn vị kinh tế sang hoạch toán kinh doanh
+ Quan điểm về một thị trường thống nhất trong cả nước, gắn với thế giới (lần đầu tiên đề cập); dứt khoát xóa bỏ cơ chế hai giá, thực hiện một giá thống nhất tuân theo thị trường (lần đầu tiên đề cập)
Đây là những nội dung mới, mà Đại hội VI chưa đạt tới
Như vậy, Hội nghị đã phát triển thêm một bước tư duy kinh tế của Đại
hội VI, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hoá có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên CNXH, coi chính sách kinh tế nhiều thành phần là vấn đề có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH
Trang 3- Đại hội VII (qua Cương lĩnh) phát triển thêm một bước: Xác định nền kinh tế của ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”, khẳng định đây là chủ trương chiến lược, là con đường đi lên CNXH của Việt Nam
Bước 2: Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của CNTB,
không đối lập với CNXH (1994-2001)
- Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994):
+ Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đang hình thành Và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN đang trở thành
cơ chế vận hành của nền kinh tế
+ Có nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng XHCN, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
+ Cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác
lý luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của CNTB mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại” Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã từng tồn tại và phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau Nó có trước CNTB, trong CNTB và
cả sau CNTB Nếu trước CNTB nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì trong xã hội TBCN, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người ta nghĩa rằng nó chính là CNTB
+ Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ CNTB lên CNXH, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu Kinh tế thị trường không đối lập với CNXH
- Đại hội VIII (1996) bổ sung một số nhận thức về cơ chế quản lý kinh tế:
Trang 4+ Xác định “phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN” QHSX, chế độ sở hữu, cơ chế quản lý, chế độ phân phối gắn kết với nhau
+ Về lý luận, Đại hội VIII nhấn mạnh một quan điểm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của các Hội nghị Trung ương và BCT, đồng thời phát triển thêm:
Một là: Sản xuất hàng hoá, cơ chế thị trường không đối lập với
CNXH mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH
Hai là: Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta, thị
trường theo định hướng XHCN là một thể thống nhất với nhiều lực lượng tham gia sản xuất và lưu thông, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo Thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới
Ba là: Thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch Kế
hoạch chủ yếu mang tính định hướng vĩ mô, thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh
Bốn là: Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏi phải nâng cao năng lực
quản lý vĩ mô của nhà nước, đồng thời phải xác lập đầy đủ chế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm phát huy tác động tích cực đi đôi với việc ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực của thị trường Nhà nước quản lý kinh tế thị trường bằng pháp luật, kế hoạch, cơ chế chính sách, các công cụ đòn bẩy kinh tế và các nguồn lực chủ đạo của kinh tế Nhà nước
+ Như vậy, trên phương diện nhận thức lý luận, Đại hội VIII đã tiếp
tục cụ thể hoá nội dung Cương lĩnh, bổ sung nhận thức về mối quan hệ giữa LLSX và QHSX, trong đó có các vấn đề quan trọng về định hướng XHCN khi thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần và cơ chế thị trường trong
Trang 5thời kỳ quá độ lên CNXH Tuy nhiên, Đại hội chưa sử dụng khái niệm “kinh
tế thị trường”
Bước 3: Coi kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế
tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ (2001- 2006)
- Đại hội IX của Đảng (2001) chính thức đưa ra khái niệm "kinh tế thị
trường định hướng XHCN":
+ Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ
đi lên CNXH, là đường lối chiến lược nhất quán
+ Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: Sở hữu, tổ chức quản lý, và phân phối Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
+ Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển LLSX, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển LLSX hiện đại gắn liền với xây dựng QHSX mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối
+ Kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh
tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu
Trang 6thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Bước 4: Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trương toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng và đầy đủ hơn (2006-2008)
- Đại hội X của Đảng chủ trương:
+ “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN” + Bốn nội dung quan trọng nhất là: Nắm vững định hướng XHCN trong nền kinh tế nước ta, nâng cao vai trò và hoàn thiện quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế và các loại hình sản xuất, kinh doanh
+ Quyết định đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn
và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất (chủ đề về kinh tế của Đại hội: “Tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”)
+ Làm rõ hơn về định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, dựa trên 4 tiêu chí:
1 Mục đích phát triển: Vì con người, thực hiện mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng
2 Phương hướng phát triển: Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở
hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,
Trang 7kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân
3 Định hướng xã hội và phân phối: Thực hiện tiến bộ và công bằng
xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh
tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục , giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội
4 Định hướng XHCN trong quản lý: Phát huy quyền làm chủ xã hội
của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, người lao động là người chủ xã hội Người công nhân dù làm trong xí nghiệp tư nhân vẫn là người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội Vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng là sự thể hiện rõ rệt định hướng XHCN
- Định hướng XHCN là một tất yếu, là sự lựa chọn phù hợp với nội dung của thời đại - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới Định hướng XHCN ở nước ta là nhằm mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thể hiện trong toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội Đây không chỉ là một tất yếu về chính trị và nguyện vọng mong muốn của nhân dân ta, mà còn là một tất yếu kinh tế, văn hóa, xã hội
Tóm lại, lựa chọn mô hình kinh tế thị trương định hướng XHCN ở
Việt Nam không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay Trên cơ sở nhận thức tính quy luật phát triển của thời đại, khái quát, đúc kết kinh nghiệm phát triển kinh tế thị trường thế giới, đặc biệt là thực tế xây dựng CNXH ở Trung Quốc và Việt Nam, Đảng đưa ra chủ trương phát triển nền kinh tế thị trương định hướng XHCN thể
Trang 8hiện tư duy, quan niệm của Đảng ta về sự phù hợp của QHSX với tính chất
và trình độ của LLSX trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Khái quát những chuyển biến cơ bản trong tư duy lý luận kinh tế của Đảng
Từ quá trình đổi mới nhận thức của Đảng về kinh tế thị trường, có thể khái quát những nét chuyển biến cơ bản, chính yếu trong tư duy lý luận kinh
tế của Đảng như sau:
- Trước đổi mới, chúng ta coi kinh tế XHCN và kinh tế TBCN (hay kinh tế thị trường) là hai phương thức kinh tế khác nhau về bản chất và đối lập với nhau cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối và mục đích phát triển Kinh tế XHCN vận động theo các quy luật của CNXH, còn kinh tế TBCN thì vận động theo các quy luật của CNTB (tất nhiên trong khi nói đến kinh tế kế hoạch chúng ta cũng đã từng nói đến hạch toán và kinh doanh XHCN, vận dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ, coi lợi ích vật chất và khuyến khích vật chất là một động lực của sự phát triển)
- Sau đổi mới, tư duy của chúng ta về kinh tế có nhiều sự phát triển so với trước Nhìn khái quát đã có những sự thay đổi lớn như sau:
+ Từ quan niệm kinh tế thị trường gắn liền và phản ánh bản chất của CNTB, đến chỗ thừa nhận kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của CNTB, cũng không đối lập với CNXH
Sản xuất hàng hóa không đối lập với CNXH, mà là thành tựu của văn minh nhân loại
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội cho thấy sản xuất và trao đổi hàng hóa là tiền đề quan trọng cho sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường Thị trường giữ vai trò là một công cụ phân bổ các nguồn lực kinh tế Trong một nền kinh tế khi các nguồn lực kinh tế được phân bổ bằng nguyên tắc thị trường thì người ta gọi đó là kinh tế thị trường
Trang 9Kinh tế thị trường đã có mầm mống từ trong xã hội nô lệ, hình thành trong xã hội phong kiến và phát triển cao trong xã hội TBCN Kinh tế thị trường và kinh tế hàng hóa có cùng bản chất đều nhằm sản xuất ra để bán, đều nhằm mục đích giá trị và đều trao đổi thông qua quan hệ hàng hóa – tiền
tệ Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường đều dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, làm cho những người sản xuất vừa độc lập vừa phụ thuộc vào nhau Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển cao, đạt đến trình độ là thị trường trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của người sản xuất hàng hóa Kinh tế thị trường lấy khoa học, công nghệ hiện đại làm cơ sở và nền sản xuất xã hội hóa cao
Kinh tế thị trường có lịch sử phát triển lâu dài, nhưng cho đến nay nó mới biểu hiện rõ rệt nhất trong CNTB Nếu trước CNTB, kinh tế thị trường còn ở thời kỳ manh nha, trình độ thấp thì trong CNTB nó đạt đến trình độ cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống con người trong xã hội đó Điều đó khiến cho không ít người nghĩ rằng kinh tế thị trường là sản phẩm riêng của CNTB
+ Sản xuất hàng hóa tồn tại khách quan, cần thiết trong quá trình xây dựng CNXH và cả khi CNXH đã được xây dựng
Kinh tế thị trường xét dưới góc độ “một kiểu tổ chức kinh tế” là phương thức tổ chức, vận hành nền kinh tế, là phương tiện điều tiết kinh tế lấy cơ chế thị trường làm cơ sở để phân bổ các nguồn lực kinh tế và điều tiết mối quan hệ giữa người với người Kinh tế thị trường chỉ đối lập với kinh tế
tự nhiên, tự cấp, tự túc, chứ không đối lập với các chế độ xã hội Là thành tựu chung của văn minh nhân loại, kinh tế thị trường tồn tại và phát triển ở nhiều phương thức sản xuất khác nhau Kinh tế thị trường vừa có thể liên hệ với chế độ tư hữu vừa có thể liên hệ với chế độ công hữu và phục vụ cho
Trang 10chúng Vì vậy, kinh tế thị trường tồn tại khách quan trong thời quá độ lên XHCN
+ Có thể và cần thiết sử dụng kinh tế thị trường để xây dựng XHCN ở
nước ta
Ở bất kỳ xã hội nào, khi lấy thị trường làm phương tiện có tính cơ sở
để phân bổ các nguồn lực kinh tế, thì kinh tế thị trường cũng có những đặc điểm chủ yếu sau:
Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, nghĩa là có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, lỗ, lãi tự chịu
Giá cả cơ bản do cung cầu điều tiết, hệ thống thị trường phát triển đồng bộ và hoàn hảo
Nền kinh tế có tính mở cao và vận hành theo quy luật vốn có của kinh
tế thị trường như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh
Có hệ thống pháp quy kiện toàn và sự quản lý vĩ mô của Nhà nước + Từ quan niệm CNXH chỉ có một chế độ sở hữu duy nhất là chế độ công hữu về tất cả các tư liệu sản xuất (bao gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) đã đi đến quan niệm nền kinh tế của ta hiện nay và sau này có ba chế
độ sở hữu cơ bản là toàn dân, tập thể, tư nhân, trên cơ sở đó, hình thành nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế khác nhau như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
+ Từ quan niệm cho rằng để xây dựng được QHSX XHCN phải nhanh chóng hoàn thành việc cải tạo kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ là những thành phần kinh tế phi XHCN, đã đến quan niệm rằng trong xây dựng CNXH, phải ưu tiên phát triển LLSX, còn cải tạo QHSX cũ, xây dựng QHSX mới nhất thiết phải phù hợp với từng bước phát triển của LLSX