1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

BÁO CÁO PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG

45 794 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Phân Tích Công Ty Cổ Phần Dược Hậu Giang
Tác giả Nguyễn Xuân Bách, Vũ Duy Bình, Trần Huy Hoan, Phạm Tiến Mạnh, Nguyễn Văn Tây, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Anh Tùng, Trương Ngọc Tường, Trần Ngọc Phúc
Người hướng dẫn Thầy Trần Tuấn Vinh
Trường học Trường Đại Học Ngân Hàng TP. HCM
Chuyên ngành Thị Trường Chứng Khoán
Thể loại Báo cáo phân tích
Năm xuất bản 2012
Thành phố TP. HCM
Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 585,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tích công ty dược hậu giang

Trang 1

KHOA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

BÁO CÁO PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG

1 Nguyễn Xuân Bách 030125090087

2 Vũ Duy Bình 030125090097

3 Trần Huy Hoan 030125090220

4 Phạm Tiến Mạnh 030125090482

5 Nguyễn Văn Tây 030125091005

6 Nguyễn Anh Tuấn 030125090980

7 Nguyễn Anh Tùng 030125091028

8 Trương Ngọc Tường 030125091009

9 Trần Ngọc Phúc 030124080669

Tp HCM, ngày 14 tháng 11 năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC THAM KHẢO

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ 4

1.1 Tình hình kinh tế thế giới 4

1.2 Diễn biến kinh tế Việt Nam 4

1.2.1 Tốc độ tăng trưởng 5

1.2.2 Tỷ lệ thất nghiệp và tiền lương 5

1.2.3 Lạm phát 5

1.2.4 Lãi suất 6

1.2.5 Tỷ giá 6

1.2.6 Xuất nhập khẩu 6

2 PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC PHẨM VIỆT NAM 8

2.1 Tổng quan ngành dược 8

2.1.1 Phụ thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu và thuốc thành phẩm nhập khẩu 9

2.1.2 Cạnh tranh trong ngành ngày càng cao 10

2.1.3 Kênh phân phối 11

2.1.4 Các quy định pháp lý và rào cản gia nhập 13

2.1.5 Trình độ về công nghệ, nguồn nhân lực và R&D 14

2.2 Phân tích tình hình tài chính ngành dược phẩm 15

2.2.1 Tài chính của các công ty dược năm 2011 15

2.2.2 Tốc độ tăng trưởng của ngành 16

2.2.3 Rủi ro tài chính của ngành 17

2.2.4 Phân tích khả năng thanh toán của ngành 18

2.2.5 Khả năng sinh lời của ngành dược phẩm 18

3 PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG 20

3.1 Tổng quan về công ty cổ phần Dược Hậu Giang 20

3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 20

3.1.2 Cơ cấu tổ chức công ty 22

3.1.3 Sản xuất – Sản phẩm 24

3.1.4 Hệ thống phân phối 24

Trang 3

3.1.5 Phân tích SWOT: 26

3.1.6 Quản trị rủi ro 27

3.2 Phân tích tài chính công ty Dược Hậu Giang 31

3.2.1 Phân tích sự tăng trưởng 31

3.2.2 Hiệu quả hoạt động kinh doanh 32

3.2.3 Khả năng thanh khoản 38

3.2.4 Phân tích cấu trúc tài sản, nguồn vốn 40

4 DỰ BÁO TÀI CHÍNH 44

5 ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU DHG 44

6 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 44

7 TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 4

1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH KINH TẾ VĨ MÔ

1.1 Tình hình kinh tế thế giới

Sau cuộc suy thoái toàn cầu năm 2008 -2009, tưởng như nền kinh tế thế giới đã

có thể phục hồi nhanh chóng, với mức tăng trưởng 5% đầy ấn tượng trong năm 2010,nhưng thực tế, nếu nửa đầu năm 2011 bối cảnh kinh tế còn tương đố i thuận lợi và các

tổ chức kinh tế quốc tế đều có dự đoán tương đối tốt về tăng trưởng toàn cầu thì từgiữa năm tình hình lại trở nên xấu đi, mức dự báo tăng trưởng dần bị hạ xuống Tăngtrưởng kinh tế toàn cầu năm 2011 cuối cùng chỉ đạt 3,8% Tình hình cũ ng không mấykhả quan trong năm 2012

Kinh tế Mỹ đang vật lộn với khó khăn, loay hoay lấy lại đà tăng trưởng Nhưngthực tế tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2012 của Mỹ chỉ đạt 1,5% - thấp hơn nhiều sovới kỳ vọng, thậm chí còn không bằng mức tăng trưởng 1,7% c ủa cùng kỳ năm 2011.Vài điểm cộng vào cuối năm 2012 như giá dầu giảm, doanh số bán xe tăng, giá nhàđất và hoạt động sản xuất phục hồi đã phần nào tạo được hi vọng cho kinh tế Mỹ,nhưng tốc độ tăng trưởng sẽ không thể khôi phục nếu như thị trường việc làm vẫnkhông có thay đổi tích cực và chính phủ không thông qua chính sách thuế hợp lý - cắtgiảm chi tiêu công

Châu Âu tiếp tục vùng vẫy trong khủng hoảng nợ công, 6 trong tổng số 17 nềnkinh tế khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) đã rơi vào suy thoái Tỷ lệ thất nghiệp

ở Eurozone hiện lên tới 11%, mức cao nhất kể từ khi đồng euro ra đời năm 1999 HyLạp, Bồ Đào Nha, Italia và Tây Ban Nha đang chìm trong suy thoái; kinh tế Đức vàPháp tuy khá hơn, song có lẽ sẽ tăng trưởng chậm hơn cả so với Mỹ trong năm 20 12

Cuộc khủng hoảng nợ công kéo dài suốt mấy năm qua tại châu Âu đã và đangtác động xấu tới nền kinh tế châu Á, vốn được coi là đầu tàu kéo cả nền kinh tế thếgiới đi lên Nếu trước đây, châu Á mơ về mô hình của khối Liên minh châu Âu (EU)thì nay giấc mộng đã tan tành Giữa tháng 7-2012, Ngân hàng Phát triển Châu Á(ADB), vừa công bố một báo cáo cho biết khủng hoảng trong khu vực eurozone cũngnhư tình trạng kinh tế trì trệ của Mỹ đã tác động đến mức tăng trưởng của các nềnkinh tế đang trỗi dậy ở châu Á, cụ thể là làm giảm mức cầu đối với xuất khẩu trongvùng Thiên tai liên tục xảy ra ở Nhật Bản, Thái Lan, Philipin, Việt Nam,… đã cónhững ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng của khu vực Hệ quả là kinh tế ở các nướcchâu Á đang phát triển đã chậm lại trong nửa đầu năm 2012

Với những diễn biến mới nhất từ Mỹ, Châu Âu và Châu Á thì các chuyên giacho rằng không chỉ trong năm 2012 mà trong những năm tiếp theo kinh tế thế giới vẫncòn quá nhiều khó khăn phải đối mặt

1.2 Diễn biến kinh tế Việt Nam

Năm 2012 được xem như là năm thứ 2 của giai đoạn kế hoạch phát triển kinh tế

-xã hội năm năm 2011-2015 với nhiều bất ổn vĩ mô cần được giải quyết Những điểmyếu mang tính cơ cấu tồn đọng từ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2006 -2010 có ảnhhưởng trực tiếp đến hiệu quả của nền kinh tế Việt Nam: lạm phát kéo dài, tăng trưởng

Trang 5

không ổn định và thấp hơn so với thời kì trước, đi cùng với các bất ổn vĩ mô gia tăngnhập siêu, nợ công, nợ nước ngoài.

1.2.1 Tốc độ tăng trưở ng

Từ cuối năm 2007, đã có những chỉ dấu rõ ràng về yếu kém của nền kinh tế.Sang năm 2008, trước bối cảnh khó khăn kinh tế toàn cầu và cơ cấu kinh tế dễ bị tổnthương, mục tiêu tăng trưởng do Chính phủ đặt ra đã được điều chỉnh giảm, từ 8,5-9%theo kế hoạch xuống 7,2% nhưng cũng không thể hoàn thành Tốc độ tăng trưởngGDP năm 2008 chỉ đạt 6,23%, chính thức đánh dấu sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng.Sang năm 2009 và 2010, tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam giữ ở mức thấp5,32% và 6,78% Tăng trưởng kinh tế do vậy cũng không thể đạt mức kế hoạch đặt ra.Tốc độ tăng trưởng GDP cả năm 2011 đạt 5,89% trong đó tốc độ GDP quý I đạt5,57%, quý II 5,68%, quý III tăng lên 6,07% và quý IV là 6,2% Mức tăng này thấphơn so với mức tăng 6,78% của năm 2010 và thấp hơn nhiệm vụ kế hoạch (6%) nhưngtrong bối cảnh diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế giới và trong nước, tốc độ tăngtrưởng này vẫn cao hơn một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia

Trong năm 2012, ta đề mục tiêu cả năm 2012 đạt tăng trưởng GDP ở mức 6%,giữ lạm phát dưới 8% Thực tế ăng trưởng GDP từ đầu năm tới nay hạ xuống mức4,31% dù mức tăng trưởng của quý hai tăng được 4,5% Tình hình khó khăn có thể sẽkhông được cải thiện cho đến hết 2013, tăng trưởng kinh tế năm 2013 dự báo có thểđạt từ 6-6,5%

1.2.2 Tỷ lệ thất nghiệp và tiền lương

Trong giai đoạn 2006-2011, tổng số việc làm trong nền kinh tế đã tăng từ 44triệu lên 50,6 triệu (khoảng 2,83%/năm) Trong khi đó, lực lượng lao động có tốc độtăng tương đương việc làm (2,8%/năm), điều này cho thấy sự mở rộng khá tương ứngcủa cả cung và cầu trong thị trường lao động Mặc dù vậ y, do tốc độ tăng việc làm tạomới vẫn thấp hơn so với tốc độ tăng của lực lượng lao động nên tỉ lệ thất nghiệp tronggiai đoạn 2006-2011 vẫn tăng nhẹ từ 2,1% lên 2,3% với số người thất nghiệp tăng từ

1 lên 1,2 triệu

Một chỉ tiêu quan trọng khác của thị trường lao động là tiền lương Tuy không

có số liệu của Tổng cục Thống kê về tiền lương, song những số liệu thu thập được từcác cuộc khảo sát được thực hiện hàng năm trong suốt giai đoạn từ 2009 đến 20 11cũng cho thấy chỉ số này phục hồi khá tốt sau khi giảm xuống mức thấp nhất vào quýI/2009 dưới tác động của cuộc khủng khoảng kinh tế

Như vậy, cả ba chỉ số chính về thị trường lao động - việc làm, thất nghiệp, vàtiền lương, đều tương đối khả quan trong năm 20 11 dù tăng trưởng kinh tế sụt giảm.Các kết quả này về thị trường lao động có thể được nhìn nhận là các điểm sáng củakinh tế vĩ mô trong những năm qua

1.2.3 Lạm phát

Năm 2007, lạm phát Việt Nam bắt đầu tăng lên 2 con số, là 12.75% (trong khinăm 2006 con số ấy chỉ là 6,57%) Năm 2008 là 19.87% và năm 2009 có xu hướng hạ

Trang 6

nhiệt 6,52% Với gói kích cầu năm 2009, lạm phát năm 2010 lại tăng lên 2 con số là11,75% và giữ mức tăng đó đến 2011 là 18,13% Do tếp tục thắt chặt chính sách (tăngtrưởng tín dụng cả năm 2012 khoảng 15-17%), tác động của yếu tố cầu kéo đến lạmphát có xu hướng giảm dần và ổn định trong năm 2012; nhờ đó, triển vọng lạm phátnăm 2012 được dự báo khả quan, với mức tăng CPI tháng 6 thấp nhất trong vòng 38tháng, và chỉ tăng 6,9% so cùng kỳ năm ngoái, dự kiến lạm phát cả năm sẽ được kiềmchế dưới 10% Năm 2013, áp lực lạm phát dự báo tiếp tục giảm, dao động quanh mức6-7%.

1.2.5 Tỷ giá

Trong 6 tháng đầu năm 2012, kinh tế thế giới vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp,kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với rủi ro tăng trưởng kinh tế chậm lại, hoạt độngsản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn nhưng về cơ bản,diễn biến thị trường ngoại hối trong và ngoài nước không có nhiều biến động Cácquyết sách rõ ràng và minh bạch của NHNN trong công tác điều hành chính sách tỷgiá nửa đầu năm 2012, cùng với diễn biến khả quan của cung – cầu ngoại tệ trong nềnkinh tế (Việt Nam có xuất siêu trở lại sau nhiều năm; cán cân vãng lai thặng dư saukhi đã thâm hụt trong năm 2010 – 2011, góp phần quan trọng tạo nên thặng dư củacán cân tổng thể nửa đầu năm 2012) đã giúp diễn biến tỷ giá USD/VND trong 6 thángđầu năm 2012 tiếp tục duy trì xu thế ổn định: duy trì ở mức 20.828 VND/ 1USD;

Bên cạnh diễn biến ổn định của tỷ giá, để thực hiện mục tiêu tăng dự trữ ngoạihối, tăng cường khả năng can thiệp thị trường ngoại hối của NHNN khi cần thiết – tỷgiá mua vào của Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước (NHNN) bắt đầu từ ngày13/2/2012 được điều chỉnh cao hơn tỷ giá mua vào của NHTM Ước tính dự trữ ngoạihối trong quý I/2012 đã tăng thêm 30% so với cuối năm 2011 Định hướng mới tiếptục được đưa ra: năm 2013, tỷ giá USD/VND vẫn sẽ được giữ ổn định với biến độngtrong khoảng 2 - 3%

1.2.6 Xuất nhập khẩu

Trong nửa đầu năm 2012, Việt Nam đã có xuất siê u trở lại sau nhiều năm nhờlợi thế về giá của một số mặt hàng xuất khẩu Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu của ViệtNam hiện vẫn chưa có những thay đổi cần thiết, vẫn còn phụ thuộc vào hàng nhập

Trang 7

khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam phầnlớn vẫn là hàng nông, thủy sản, các hàng hóa có giá trị gia tăng thấp và các doanhnghiệp vẫn cần nhập một lượng đáng kể nguyên nhiên vật liệu để sản xuất hàng xuấtkhẩu Chẳng hạn, trong 8,4 tỷ USD xuất khẩu hàng hóa dệt may, giày dép trong 5tháng đầu năm 2012 thì Việt Nam cũng đã phải nhập khẩu gần 4,9 tỷ USD bông, sợidệt, vải và nguyên vật liệu cho dệt may, giày dép – chiếm khoảng 60% giá trị hàngxuất khẩu Tỷ lệ này gần như không thay đổi suốt từ năm 2004 đến nay.

Điều mà nền kinh tế mo ng đợi nhất là chính sách tái cơ cấu nền kinh tế và xử lý

nợ xấu của hệ thống ngân hàng thì việc tiến hành có vẻ quá chậm chạp Chừng nào màcác chính sách này chưa được thực hiện thì chừng đó những tín hiệu ổn định vĩ môhiện nay vẫn có nguy cơ trở lại trạng thái xấu bất cứ khi nào

Bước sang giai đoạn mới, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015

đã được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 8/11/2011 Trong kế hoạch phát triển kinh

tế 5 năm này, hai vấn đề chính của nền kinh tế đã được cập và được xá c định là mụctiêu cần giải quyết: (i) ổn định kinh tế vĩ mô được đặt lên hàng đầu, và (ii) định hướngnâng cao hiệu quả của nền kinh tế Mục tiêu phấn đấu trong 5 năm tới là duy trì mứctăng trưởng từ 6,5-7%/năm, thấp hơn so với kế hoạch 5 năm trước Chỉ số giá tiêudùng được đặt mục tiêu hạ xuống ở mức 5 -7% vào năm 2015 Nợ công được đặt mụctiêu thấp hơn những năm trước nhằm thực hiện kế hoạch duy trì tổng nợ công khôngquá 65% GDP, dư nợ chính phủ và dư nợ quốc gia không quá 50% GDP

Trang 8

2 PHÂN TÍCH NGÀNH DƯỢC PHẨM VIỆT NAM

2.1 Tổng quan ngành dược

Ngành dược phẩm là một ngành quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cóchức năng sản xuất và phân phối các loại thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh, phục hồi

và tăng cường sức khỏe của con người

Ngành dược là ngành có sự tăng trưởng ổn định nhờ sản phẩm của ngành lànhu yếu phẩm cần thiết của đời sống nhân dân Trong giai đoạn 2004 – 2010 ngànhdược tăng trưởng khá nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng giá tiền thuốc

sử dụng và giá trị sản phẩm trong nước lần lượt là 19%/năm và 22%/năm Trong đógiá trị nhập khẩu chỉ tăng với tốc độ bình quân là 14,3%/năm

Theo số liệu thống kê của Cục quản lý Dược, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng đạttrên 1,9 triệu USD trong năm 2010, tăng gần 13% so với năm 2009 Mặc dù tốc đ ộtăng trưởng tổng tiền thuốc sử dụng đang trong xu hướng giảm qua 2 năm 2009 –

2010 nhưng vẫn giữ ở mức trên 2 con số Tốc độ tăng trưởng giá trị tiền thuốc sử dụngtăng bình quân đạt bình quân trên 18% trong 5 năm 2006 – 2010, cao hơn nhiều so vớimức tăng trưởng bình quân của ngành Dược toàn cầu (6,2%)

Dự báo giá trị tiền thuốc sử dụng sẽ đạt gần 3,4 triệu USD vào năm 2015 vớitốc độ tăng trưởng bình quân trên 14,5%/năm trong giai đoạn 2011 -2015 (đã loại trừtác động của tỷ giá), tuy chậm hơn giai đoạn 2006 – 2010 nhưng vẫn ở mức cao vàvượt xa mức tăng trưởng bình quân toàn cầu theo IMS Health dự báo là 3 -6%/năm vàcao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình nhóm 3 các thị trường Dược phẩm mới nổi(Các thị trường mới nổi trừ Trung quốc, Brazil, Ấn Độ và Nga) được dự báo ở mức10-13%/năm

Chi tiêu thuốc bình quân đầu người đều có sự cải thiện qua các năm do thunhập và ý thức bảo vệ sức khỏe ngày càng tăng Đặc biệt là tốc độ tăng trưởng đạtmức khá cao trong các năm gần đây

Trang 9

Theo Cục quản lý Dược, tiền thuốc bình quân đầu người năm 2010 đạt 22,25USD Trong khi đó, theo thống kê của IMS, trong năm 2010, chi tiêu cho dược phẩmbình quân toàn thế giới ở mức 125 USD/người/năm Việt Nam đứng cuối bảng về chitiêu tiền thuốc đầu người năm 2010 trong các thị trường dược phẩm mới nổi nhóm 3(bao gồm Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Rumania, Ai Cập, Ukraine, Pakistan vàViệt Nam) với mức bình quân chi tiêu tiền thuốc đầu người của nhóm này là 56 USD/năm Các thị trường dược phẩ m mới nổi nhóm 2 (bao gồm Brazil, Ấn Độ và Nga) cómức bình quân chi tiêu tiền thuốc đầu người là 32 USD /năm Con số tương ứng củaTrung Quốc (nhóm 1) là 31 USD.

2.1.1 Phụ thuộc nhiều vào nguyên phụ liệu và thuốc thành phẩm nhập khẩu

Tây dược

Tỷ lệ sản phẩm ngành dược ngày càng tăng Tuy nhiên nguồn nguyên liệu chongành lại chủ yếu nhập từ nước ngoài để có thể đáp ứng được nhu cầu sản xuất.Ngành công nghiệp dược lệ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu khiến cho nhiềudoanh nghiệp khó khăn, ảnh huởng đến hiệu quả kinh doanh Sự phụ thụôc nguyênliệu đầu vào luôn là thách thức đối với các doanh nghiệp Giá nguyên liệu của thế giớibiến động liên tục là một yếu tố hết sức bất lợi, lạm phát cao, tỷ giá ngoại tệ dao động

là những bài toán khó của doanh nghiệp tron g ngành

Nguồn: Tổng Cục Hải Quan Việt Nam, 2011

Hiện nay, hầu hết nguyên vật liệu dược Việt Nam nhập từ các nước châu Á nhưTrung Quốc, Ấn Độ, và Singapore Trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc giachiếm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu dược nhiều nhấ t vào Việt Nam, với tỷ trọngtương ứng là 25% và 21% (năm 2008)

Đông dược

Hiện nay nguồn nguyên liệu trong nước cho ngành đông dược còn yếu ViệtNam phải nhập khẩu hơn 80% nguyên liệu để sản xuất thuốc đông dược, chủ yếu nhậpkhẩu từ Trung Quốc Việc nhập khẩu này chưa được quản lý chặt chẽ từ cơ quan quản

lý Nguồn nguyên vật liệu nhập từ Trung Quốc có giá thành rẻ, nhưng điều này lại gắn

Trang 10

liền với nguy cơ chất lượng thấp Vì vậy Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng và pháttriển một ngành cung cấp nguyên v ật liệu cho ngành dược.

2.1.2 Cạnh tranh trong ngành ngày càng cao

Số lượng doanh nghiệp Việt Nam tính đến năm 2011 ước chừng khoảng 200doanh nghiệp nhưng quy mô còn nhỏ (về vốn và nhà xưởng), chủ yếu sản xuất thuốcphổ thông và phân phối (TP Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm hơn 50% tổng số nhàthuốc tư nhân trên toàn quốc) còn nhiều trùng lặp dẫn tới cạnh tranh cao trong thịtrường nội địa Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, cạnh tranh với các doanh nghiệpnước ngoài ngày càng cao Số lượng doanh nghiệp nước ngoài đăng ký kinh doanh tạiViệt Nam tăng từ hơn 300 năm 2007 lên gần 500 doanh nghiệp năm 2011

Có thể chia thành 2 phân khúc sản xuất thuốc chính là Đông dược và Tây dược:

Phân khúc sản xuất Đông dược: Thị trường thuốc Đông dược chỉ chiếm tỷ

trọng nhỏ trong tổng giá trị của ngành dược, khoảng 0,5 % -1,5% giá trị sản xuất toànngành Hiện có khoảng 80 doanh nghiệp sản xuất Đông dược, trong đó 5 doanhnghiệp đã đạt chuẩn GMP-WHO, và hơn 400 cơ sở sản xuất nhỏ không có đăng kí.Cạnh tranh cao do có nhiều tương đồng về số mục sản phẩm và giá cả giữa các đơn vị.Đơn cử, hiện có khoảng 60 doanh nghiệp cùng sản xuất mặt hàng Kim Tiền Thảo vàhoạt huyết dưỡng não

Phân khúc sản xuất Tây dược : gồm 87 doanh nghiệp sản xuất Thuốc Tây

dược nội địa chủ yếu là thuốc kháng si nh, vitamin và thực phẩm chức năng, giảm đau– hạ sốt Vitamin, thực phẩm chức năng và thuốc kháng sinh là 2 dòng sản phẩmđược sản xuất nhiều nhất, chiếm 22% và 21% thị phần thuốc sản xuất trong nước

Thị phần thuốc kháng sinh sản xuất trong nước tuy cao nhưng chất lượng chưacao, cộng thêm nhu cầu của người tiêu dùng nên kháng sinh nhập khẩu vẫn chiếm thịphần lớn trong kim ngạch nhập khẩu thuốc

Thị phần Tây dược sản xuất trong nước:

Hô hấp Thần kinh

Khác

Trang 11

Phân ngành kinh doanh, nhập khẩu và phân phối thuốc

Thị phần thuốc nhập khẩu:

Nguồn: Thông tin thương mại 2010

Hiện nay có hơn 500 doanh nghiệp nước ngoài cung cấp thuốc cho thị trườngViệt Nam Số lượng các công ty và số thuốc nước ngoài đăng ký tăng vọt 29% lên8.500 thuốc sau khi Việt Nam gia nhập WTO và thuế nhập khẩu giảm từ 15-20%xuống còn 5.2% Các công ty lớn nhất tại Việt Nam gồm Sanofi Aventis Group (8.8%tổng thuốc tiêu thụ) và GlaxoSmithKline (7.8%), DHG (5%) DHG hiện là doanhnghiệp nội địa dẫn đầu sản xuất thuốc với 12% thị phần trong nước DHG và IMP là 2doanh nghiệp có doanh thu sản xuất lớn nhất (1,600 tỷ VNĐ và 625 tỷ VNĐ) và tỷtrọng doanh thu hàng sản xuất cao nhất (94% và 95%)

Phân ngành này gồm các công ty chuyên về nhập khẩu, kinh doanh và phânphối dược của Việt Nam cũng như của nước ngoài Các công ty phân phối nước ngoàilớn gồm Zuellig Pharma (Singapore), Diethelm (Thụy Sỹ), Mega Product (Thái Lan)với doanh thu mỗi công ty hơn 1000 tỷ Doanh số của 3 doanh nghiệp này chiếm gần50% thị trường thuốc toàn quốc Các công ty tiêu biểu của Việ t Nam gồm Codupha,Phytopharma, Vimedimex, Pharimexco, Hapharco,… Trong đó, Vimedimex vàPhytopharma chuyên xuất nhập khẩu ủy thác cho Dielthem và Zuellig Pharma,Codupha có hệ thống kho bãi và phân phối lớn, chuyên phân phối cho các công tyDược Trung Ương,… Doanh thu của các công ty nhập khẩu và phân phối thường rấtcao, giá vốn bán hàng theo tỷ lệ thuận cũng cao hơn các công ty sản xuất nhưng lợinhuận chỉ tính trên % hoa hồng nhận được từ các công ty dược đối tác

2.1.3 Kênh phân phối

Cả nước có khoảng 41.500 điểm bán lẻ tại khắp các tỉnh thành đảm bảođưa thuốc đến tận tay người dân Tính trung bình cứ 2.000 người dân thì có 1 điểmbán lẻ Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thiếu hụt dược sĩ khi tỷ lệ dược sĩ trên 10.000 dân là0,2 Tham gia trong hệ thống phân phối thuốc gồm các thành phần sau đây:

Giảm đau, hạ nhiệt

Tiêu hóa

Gây mê,hồi sức

Khác

Trang 12

 29.541 quầy thuốc bán lẻ;

 7.490 nhà thuốc tư nhân;

 7.417 đại lý bán lẻ thuốc;

 7.948 quầy thuốc thuộc trạm y tế xã;

 464 quầy thuốc thuộc doanh nghiệp nhà nước;

 6.222 quầy thuốc thuộc doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa;

( Nguồn: Cục Quản Lý Dược)

Tây dược

Do hệ thống phân phối được xây dựng được rộng khắp, từ các công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn cho tới các quầy thuốc thuộc trạm Y tế xã, nên thời gianqua dù phải chịu nhiều sức ép trước biến động kinh tế, nhưng thị trường dược vẫn khá

ổn định

Trang 13

Nhìn chung, hệ thống lưu thông phân phối thuốc đã phát triển rộng khắp,nhưng còn nhiều vấn đề bất c ập Khi gia nhập WTO, môi trường cạnh tranh trongngành dược ngày càng gay gắt hơn, để có thể tồn tại các công ty ngành dược phải đầu

tư phát triển mạng lưới phân phối, mới có thể mở rộng thị phần cạnh tranh với cáccông ty đa quốc gia Thói quen người tiê u dùng Việt Nam là thường tự mua thuốctheo kinh nghiệm cá nhân hoặc theo lời khuyên của người thân và dược tá bán thuốc(có tới 45% người tiêu dùng Việt Nam thường mua thuốc theo kinh nghiệm) Việcmua thuốc không kê toa dẫn đến tình trạng hệ thống bán lẻ của Việt Nam bị mất trật

tự, xuất hiện nhiều loại thuốc có nguồn gốc không rõ, thuốc giả, thuốc phi mậu dịch.Trước tình hình sử dụng, mua bán thuốc ở Việt Nam còn nhiều bất cập, lộn xộn vàthiếu kiểm soát, Bộ y tế cần phải ban hành các quy chế hoạt động cho các doanhnghiệp, xây dựng ban hành các danh mục thuốc không kê đơn và hơn nữa cần kiệntoàn những quy định để đảm bảo quyền lợi cho bệnh nhân Điều này sẽ góp phần cảithiện hệ thống phân phối thuốc Việt Nam, giúp các doanh nghiệp dược có thể cạnhtranh với các công ty đa quốc gia

2.1.4 Các quy định pháp lý và rào cản gia nhập

Quyền kinh doanh

Từ 1/1/2007 các doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép mở chi nhánh tại ViệtNam dưới hình thức liên doanh liên kết hay 100% vốn nước ngoài Doanhnghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài sẽ được đối xử bình đẳng theo nguyêntắc đối xử quốc gia Việc bảo hộ các doanh nghiệp phải được thực hiện đúng trongkhuôn khổ của WTO

Quyền phân phối

Kể từ 1/1/2009 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoà i và chinhánh doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được phép trực tiếp xuất khẩu màkhông phải thông qua nhập khẩu ủy thác và uỷ thác nhập khẩu Tuy nhiên, các doanhnghiệp nước ngoài vĩnh viễn không được phép phân phối trực tiếp dược phẩm tại ViệtNam mà phải bán lại cho các doanh nghiệp Việt Nam có chức năng phân phối Nhưvậy, các doanh nghiệp nước ngoài và chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài Việt Namnhập khẩu trực tiếp sẽ phải bán lại cho các doanh nghiệp trong nước có chức năngphân phối

Thuế

Sau khi gia nhập WTO Việt Nam cam kết giảm thuế suất đối với 47 dòng thuếchủ yếu là kháng sinh (có 18 dòng), Vitamin (4 dòng) được giảm từ 10 -15% xuống3%-13%, trung bình mức giảm 3% Sẽ có 3 dòng thuế sẽ giảm 0-5% với thời giantrong vòng 3-5 năm Mức thuế trung bình 2,5% sau 5 năm kể từ khi Việt Nam trởthành thành viên của WTO Thuế đối với mỹ phẩm giảm từ 44%-17,9% Giảm thuếnhập khẩu là thách thức cho các doanh nghiệp sản xuất dược trong nước trong việccạnh tranh với thuốc nhập khẩu từ nước ngoài

Các nguyên liệu làm thuốc nhập khẩu sẽ được miễm giảm đến 0% tạo điềukiệm giảm chi phí giá vốn, tuy nhiên cũng ảnh hưởng đến một số doanhnghiệp sản xuất nguyên liệu của Việt Nam

Trang 14

Tiêu chuẩn ngành

Đến cuối năm 2010, các doanh nghiệp dược Việt Nam phải đạt tiêu chuẩn củaWTO về chất lượng sản phẩm (GMP -WHO) sau thời hạn đó các doanh nghiệp khôngđạt tiêu chuẩn sẽ buộc phải ngừng sản xuất Đầu năm 2011 có khoảng 93/98 nhà máytân dược đạt tiêu chuẩn trong khi chỉ có 5/80 nhà máy đ ông dược đạt tiêu chuẩn

Chính sách giá

Theo quy định của Bộ Y tế ban hành ngày 31/8/2007 thì nhà nước quản lý giáthuốc theo nguyên tắc các cơ sở sản xuất, nhập khẩu bán buôn và bán lẻ tự định giá,cạnh tranh về giá và chịu sự kiểm tra kiểm soát của cơ qu an nhà nước Việc kê khaigiá thuốc là do cơ sở kinh doanh báo cáo với cơ quan nhà nước về giá nhập khẩu, giábán buôn và giá bán lẻ dự kiến Tất cả các công ty không được tự phép nâng giá thuốc

mà không có sự cho phép của Bộ y tế Trong trường hợp khẩn cấp các công ty vẫnphải đưa ra kế hoạch chi tiết nâng giá thuốc trước khi triển khai thực hiện

Quảng cáo

Quảng cáo thuốc ở Việt Nam hiện nay vẫn đang bị hạn chế, một số loại thuốc

bị cấm quảng cáo bao gồm các loại thuốc nằm trong nhóm thuốc độc, thuốc gâynghiện các loại, thuốc chưa được đăng kí trên thị trường Việt Nam và các loại thuốcliên quan đến hệ thần kinh Đăng ký quảng cáo thuốc thông qua cục Quản lý dượcphẩm Việt Nam (DAV) thuộc bộ Y tế và phải đăng ký lại hàng năm

2.1.5 Trình độ về công nghệ, nguồn nhân lực và R&D

Trình độ về công nghệ

Trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất thuốc còn thấp và chưa được đầu tư đúngđắn, đang diễn ra tình trạng đầu tư dây chuyền trùng lặp trong ngành dược Hầu hếtcác doanh nghiệp sản xuất thuốc chỉ tập trung vào công n ghiệp bào chế đơn giản, hàmlượng kỹ thuật thấp, trùng lắp trong các dòng sản phẩm mà chưa chú trọng phát triểnnguồn dược liệu, ít chú ý đầu tư vào các loại thuốc chuyên khoa đặc trị, các dạng bàochế đặc biệt Chính vì vậy, nguồn cung trong nước chỉ đáp ứng được 40% nhu cầuthị trường

Công tác nghiên cứu khoa học và phát triển (R&D) chưa được coi trọng

Các doanh nghiệp Việt Nam thiếu chuyên môn cũng như nguồn tài chính để hỗtrợ cho công tác R&D Thay vào đó, từ lâu Việt Nam đã là nơi để các công ty đa quốcgia tiến hành thử nghiệm lâm sàng Việc đầu tư cho một nghiên cứu mới vô cùng tốnkém, trung bình phải mất 10 năm với chi phí từ 12-15 triệu USD Hơn nữa, các doanhnghiệp chạy theo nhu cầu trước mắt của thị trường và hạn chế về trình độ nhân lực,công nghệ nên chỉ nhập công nghệ để sản xuấ t thuốc thông thường Do đó, chí phíR&D mà các doanh nghiệp Việt Nam công bố thường tập trung vào các dự án muasắm máy móc thiết bị mới Chi phí dành cho R&D chỉ khoảng dưới 3% doanh thu,đây là một tỷ lệ thấp so với các nước Châu Á dân số đông (khoảng 5%) và so với thếgiới (12%-16%) Để tồn tại và sống còn, các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnhphát triển nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học sản xuất các

Trang 15

thuốc mới, thuốc thành phẩm Đồng thời có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vàotrong lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu chuyển giao công nghệ.

Nguồn nhân lực trình độ cao còn ít, chưa đủ đáp ứng nhu cầu

Nguồn nhân lực ngành dược Việt Nam hiện nay vẫn còn thiếu Theo số liệuthống kê vào tháng 6 năm 2011 của Cục Quản lý Dược, toàn quốc đang có 14.728dược sĩ đại học và trên đại học, 31.485 dược sĩ trung học, 34.689 dược tá trong khi đódân số Việt Nam năm 2011 ước tính là 87,84 triệu người

Tuy nhiên, số dược sĩ này phân bố không đồ ng đều mà tập trung 52% tại haithành phố lớn là TP.HCM và Hà Nội, riêng 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và đồngbằng sông Cửu Long đã chiếm 2/3 số lượng dược sĩ đại học, khiến cho các tỉnh miềnnúi, vùng sâu, vùng xa vẫn thiếu cán bộ dược trầm trọng

Hơn nữa trình độ nhân viên ngành dược thấp và ít kinh nghiệm thực tế Cácdược sỹ có bằng sau đại học và trình độ tiếng Anh tốt rất hiếm, đây là một hạn chế lớntrong việc tiếp cận công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển

2.2 Phân tích tình hình tài chính ngành dượ c phẩm

Đánh giá khái quát tình hình tài chính của ngành dược phẩm thông qua mẫu sốliệu trung bình ngành từ 15 công ty dược phẩm trong ngành giai đoạn 2007 – 2011

2.2.1 Tài chính của các công ty dược năm 2011

Lợi nhuận sau thuế

Trang 16

Xét theo doanh thu, bốn công ty có quy mô doanh thu lớn nhất và đạt trên1.000 tỷ đồng đó là Công ty Dược Hậu Giang, Domesco, Traphaco và Mekophar.Công ty Dược Hậu Giang là công ty có hiệu quả kinh doanh cao nhất khi đạt mức tỷsuất lợi nhuận vốn chủ sở hữu năm 2011 lên tới 30%/năm.

2.2.2 Tốc độ tăng trưởng của n gành

Sơ đồ: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành dược phẩm

Trang 17

Ngành dược phẩm là một ngành đang tăng trưởng với tốc độ khá cao bất chấptình hình kinh tế vĩ mô gặp nhiều khó khăn Điều này được thể hiện ở cả tốc độ tăngcủa doanh thu và tổng tài sản Tốc đ ộ tăng trưởng doanh thu hàng năm thấp nhất tronggiai đoạn này là năm 2010, tuy nhiên, vẫn ở mức khá cao là 10% Tốc độ tăng trưởngkhả quan và ổn định cho thấy tính hấp dẫn về dung lượng thị phần của ngành, từ đókhuyến khích các công ty trong ngành đầu t ư mở rộng sản xuất, tăng trưởng quy môtài sản.

Trong quá trình tăng trưởng tài sản, quy mô tài sản dài hạn và tỷ trọng tài sảndài hạn trên tổng tài sản có xu hướng gia tăng Tỷ trọng tài sản dài hạn trên tổng tàisản đã tăng từ mức 24% cuối năm 2007 lên mức 31% cuối năm 2011 Điều này chothấy các doanh nghiệp trong ngành tích cực đầu tư mở rộng dây chuyển sản xuất để

mở rộng quy mô kinh doanh

2.2.3 Rủi ro tài chính của ngành

Trong giai đoạn 2007 – 2011, ngành dược phẩm đã liên tục gia tăng mức độ sửdụng nợ nhằm tài trợ cho quá trình tăng trưởng Hệ số nợ trên tổng tài sản của ngành

đã gia tăng từ mức 32% cuối năm 2007 lên mức 40% cuối năm 2011 Tuy nhiên, hệ số

nợ này vẫn thấp hơn 50% cho thấy đây vẫn là đòn bẩy tài chính ở mức độ vừa phải.Trong cơ cấu nợ của ngành, chiếm tỷ trọng chủ đạo là nợ ngắn hạn dùng để tài trợ chovốn lưu động Tại thời điểm cuối năm 2011, nợ ngắn hạn chiếm 92% tổng nợ phải trả

Riêng nhóm 5 công ty đầu ngành (bao gồm Dược Hậu Giang, Domesco,Traphaco, Mekophar và Imexpharm), mặc dù hệ số nợ có xu hướng gia tăng, tuynhiên, hệ số nợ ở mức thấp hơn nhiều so với mức trung bình ngành Kết quả này phùhợp với lý thuyết trật tự phân hạng về tài trợ, đó là các công ty này sinh lời tốt, có quy

mô lợi nhuận lớn so với nhu cầu đầu tư mới, do đ ó, họ chủ yếu dựa vào nguồn vốn nộisinh là lợi nhuận để lại và không cần huy động nhiều các nguồn tài trợ bên ngoài,khiến hệ số nợ duy trì ở mức thấp

Sơ đồ: Hệ số nợ trên tổng tài sản của ngành dược phẩm

Trang 18

2.2.4 Phân tích khả năng thanh toán của ngành

Trong giai đoạn 2007 – 2011, khả năng thanh toán của ngành có xu hướnggiảm Khả năng thanh toán hiện hành đã giảm từ mức 2,6 lần cuối năm 2007 xuốngmức 1,9 lần cuối năm 2011 Tuy nhiên, đây vẫn được xem là một mức khả năng thanhtoán khá cao Khả năng thanh toán lãi vay trong giai đoạn 2009 – 2011 có sự giảm sút

do ngành tăng cường sử dụng đòn bẩy tài chính và do lãi suất trong giai đoạn này có

xu hướng tăng Tuy nhiên, khả năng thanh toán lãi vay vẫn duy trì ở mức 6,9 lần năm

2011 là một mức cao Do đó, ngành dược phẩm nhìn chung vẫn có khả năng thanhtoán tốt, nhận được tín nhiệm của các ngân hàng và đây là cơ sở để các doanh nghiệpcủa ngành có thể tiếp cận thuận lợi vốn vay ngân hàng với lãi suất ưu đãi

Sơ đồ: Khả năng thanh toán của ngành dược phẩm

2.2.5 Khả năng sinh lời của ngành dược phẩm

Ngành dược phẩm về cơ bản là ngành duy trì được tỷ suất lợi nhuận ở mức khácao và ổn định, ngay cả trong bối cảnh kinh tế vĩ mô gặp khó khăn Điều này cho thấyngành có rủi ro kinh doanh thấp mà nguyên nhân chính là do cầu về sản phẩm dược ít

co giãn với giá cả Chính vì vậy, nhà sản xuất có thể chuyển gánh nặng chi phí giatăng sang người mua thông qua việc tăng giá sản phẩm đầu ra

Trong giai đoạn 2007 – 2011, mặc dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng bất lợi củakhủng hoảng kinh tế toàn cầu và những khó khăn chung của nền kinh tế trong nước,ROE tối thiểu của ngành giai đoạn này vẫn ở mức 15,4% tại năm 2008, một mức tỷsuất lợi nhuận khả quan Giai đoạn 2009 – 2011, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu củangành có xu hướng giảm dần Điều này một phần quan trọng xuất phát từ việc cạnhtranh trong ngành trở nên gay gắt hơn khiến biên lợi nhuận giảm dần

Trang 19

Sơ đồ: Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE) của ngành

Nhóm 5 công ty đầu ngành vẫn thể hiện được hiệu quả kinh doanh vượt trội khiliên tục duy trì được tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình ngành Một điểm đáng chú ý

đó là, trong giai đoạn 2009 – 2011, khoảng cách giữa ROE của nhóm 5 công ty đầungành với ROE của ngành có xu hướng nới rộng ra, cho thấy ngành có tính kinh tếtheo quy mô và các công ty lớn trong ngành duy trì được lợi thế cạnh tranh rõ ràngtrước những công ty có quy mô nhỏ hơn

Trang 20

3 PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG

3.1 Tổng quan về công ty cổ phần Dược Hậu Giang

Công ty Cổ Phần Dược Hậu Giang (DHG)

Từ năm 1975 - 1976: Tháng 11/1975, Xí nghiệp Dược phẩm 2/9 chuyển thànhCông ty Dược phẩm Tây Cửu Long, vừa sản xuất vừa cung ứng thuốc phục vụ nhândân Tây Nam Bộ Đến năm 1976, Công ty Dược phẩm Tây Cửu Long đổi tên thànhCông ty Dược thuộc Ty Y tế tỉnh Hậu Giang

Từ năm 1976 - 1979: Theo Quyết định 15/CP của Chính phủ, Công ty Dượcthuộc Ty Y tế tỉnh Hậu Giang tách thành 03 đơn vị độc lập: Xí nghiệp Dược phẩm2/9, Công ty Dược phẩm và Công ty Dược liệu Ngày 19/9/1979, 3 đơn vị trên hợpnhất thành Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang

Năm 1992: Sau khi chia tách tỉnh Hậu Giang thành 02 tỉnh Cần Thơ và SócTrăng, UBND tỉnh Cần Thơ (nay là UBND Tp Cần Thơ) ra Quyết định số 963/QĐ -UBT thành lập doanh nghiệp Nhà nước Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang, là đơn

vị hạch toán kinh tế độc lập trực thuộc Sở Y tế Tp Cần Thơ

Ngày 02/09/2004: Công ty cổ phần Dược Hậu Giang chính thức đi vào hoạtđộng theo Quyết định số 2405/QĐ-CT.UB ngày 05/8/2004 của UBND Tp Cần Thơ

về việc chuyển đổi Xí nghiệp Liên hợp Dược Hậu Giang Tp Cần Thơ thành công ty

cổ phần hoạt động với vốn điều lệ ban đầu là 80.000.000.000 đồng

Năm 2005: Gia nhập câu lạc bộ doanh nghiệp có doanh thu sản xuất hơn 500 tỷđồng Là doanh nghiệp dược đầu tiên thử tương đương lâm sàng thuốc bột Haginat vàKlamentin

Năm 2006: Niêm yết chứng khoán lần đầu tại SGDCK Thành phố Hồ ChíMinh Đạt tiêu chuẩn WHO -GMP/GLP/GSP

Năm 2007:Khẳng định lại tầm nhìn,sứ mạng và 7 giá trị cốt lõi.Thử tươngđương sinh học thành công Haginat 250mg và Glumeform 500mg Thành lập 2 công

Trang 21

ty con đầu tiên DHG Travel và SH Pharma.Chuyển đổi ISO/IEC 17025 từ phiên bản

1999 sang phiên bản 2005;

Năm 2008: Thực hiện các công cụ quản trị hiện đại và hiệu quả Thành lập 6công ty con CM Pharma, DT Pharma, HT Pharma, ST Pharma, DHG PP, DHGNature

Năm 2009: Thực hiện thành công chiến lược 20/80: sản phẩm, khách hàng,nhân sự Thành lập công ty con A&G Pharma

Năm 2010: Thực hiện thành công chiến lược kiềng 3 chân: cổ đông, kháchhàng và người lao động Thành lập 3 công ty con: TOT Pharma, TG Pharma, công tyTNHH một thành viên dược phẩm DHG

Năm 2011: Triển khai thành công dự án nâng cao năng suất nhà máy và dự ánnâng cao hiệu quả hoạt động của công ty con Thành lập công ty Bali Pharma

Từ năm 1988, khi nền kinh tế cả nước chuyển sang cơ chế thị trường, Công tyvẫn còn hoạt động trong những điều kiện khó khăn: máy móc thiết bị lạc hậu, côngsuất thấp, sản xuất không ổn định, áp lực giải quyết việc làm gay gắt, Tổng vốnkinh doanh năm 1988 là 895 triệu đồng, Công ty chưa có khả năng tích lũy, tái sảnxuất mở rộng Doanh số bán hàng năm 1988 đạt 12.339 triệu đồng, trong đó giá trị sảnphẩm do Công t y sản xuất chỉ đạt 3.181 triệu đồng (chiếm tỷ trọng 25,8% trong tổngdoanh thu)

Trước tình hình này, Ban lãnh đạo Dược Hậu Giang đã thay đổi chiến lược:

“giữ vững hệ thống phấn phối, đầu tư phát triển mạnh cho sản xuất, mở rộng thị trường, tăng thị phần, lấy thương hiệu và năng lực sản xuất làm nền tảng” Kết quả

của việc định hướng lại chiến lược kinh doanh đó là nhiều năm liên tiếp Công ty đạtmục tiêu tăng trưởng cao, phát triển sản phẩm, tăng thị phần, tăng khách hàng, nângcao thu nhập người lao động, đóng góp ngày càng cao vào ngân sách Nhà nước

Qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, hiện nay, Dược Hậu Giang đượccông nhận là doanh nghiệp dẫn đầu ngành công nghiệp Dược Việt Nam Sản phẩmcủa Công ty được người tiêu dùng bình chọn là "Hàng Việt Nam chất lượng cao”trong 10 năm liền (từ năm 1997 - 2006), đứng vào 100 thương hiệu mạnh Việt Nam

do Báo Sài Gòn Tiếp thị tổ chức Hệ thống quản lý chất lượng được chứng nhận phùhợp tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Nhà máy đạt các tiêu chuẩn: GMP - GLP - GSP.Phòng Kiểm nghiệm được công nhận phù hợp với tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 Đây lànhững yếu tố cần thiết giúp Dược Hậu Giang vững bước trên con đường hội nhập vàonền kinh tế khu vực và thế giới

Các danh hiệu mà công ty đã nhận được:

1988: Huân chương lao động hạng ba

1993: Huân chương lao động hạng nhì

1996: Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (1991 – 1995)

1998: Huân chương lao động hạng nhất

2004: Huân chương độc lập hạng ba

2010: Huân chương độc lập hạng nhì

Trang 22

Nguyễn Thị Hồng Loan Thành viên HĐQT 57,283 0.09%

Cơ cấu cổ đông:

Số cổ phần Tỷ lệ sở hữu Cập nhật

Ngày đăng: 03/11/2013, 10:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho ta thấy tỷ số thanh toán hiện nay của DHG khá cao (3,26), điều này thể hiện DHG có đủ khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn - BÁO CÁO PHÂN TÍCH CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC HẬU GIANG
Bảng tr ên cho ta thấy tỷ số thanh toán hiện nay của DHG khá cao (3,26), điều này thể hiện DHG có đủ khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w