Danh gia o nhiem moi truong nuoc va khong khi tinh ha nam
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, vấn đề phát triển bền vững và môi trường luôn là mối quan tâmhàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Và nhằm thựchiện một cách có hiệu quả vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên trongcông cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đảng và Nhà nước ta đã ban hành bộLuật Bảo vệ Môi trường và đưa ra các biện pháp thực hiện
Ngày 27/12/1993: Quốc hội khóa 9 kỳ họp thứ IV thông qua Luật Bảo vệ Môitrường
Ngày 01/10/1994: Chủ tịch nước đã công bố sắc lệnh số 29 L/CTN ban hànhLuật Bảo vệ môi trường
Ngày 18/11/1994: Chính phủ đã ban hành nghị định số 175/CP về việc hướngdẫn thực hiện Luật Bảo vệ Môi trường
Chỉ thị số 36 CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ chính trị về tăng cường côngtác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã nêu
rõ mục tiêu: Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, phục hồi và cải thiện môi trường củanhững nơi, những vùng đã bị suy thoái, bảo tồn đa dạng sinh học, từng bước nângcao chất lượng môi trường ở các khu công nghiệp, đô thị và nông thôn, góp phầnphát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân,tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hiện nay, nước ta đã và đang đạt được nhiều thành tựu trên con đường pháttriển kinh tế nhưng song song với nó chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn
đề môi trường nghiêm trọng đang xuất hiện ngày càng nhiều Đó là tình trạng ônhiễm môi trường không khí và nước, đất…đặc biệt là ở thành phố, khu côngnghiệp, khu dân cư Chính vì vậy, trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, vấn đề môi trường cần phải được quan tâm hàng đầu và có ý nghĩa vô cùngquan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước
Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường ở nước ta nói chung, tỉnh Hà Nam nóiriêng vẫn còn nhiều hạn chế như: việc thi hành Luật Bảo vệ Môi trường chưa đượcnghiêm chỉnh, có lúc còn buông lỏng…Dẫn đến nhiều sự cố môi trường và hậu quảxấu do sử dụng không hợp lý tài nguyên tồn tại từ trước vẫn chưa được khắc phục.Trong khi đó, nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường mới lại nảy sinh, ý thức tự giác bảo
vệ và gìn giữ môi trường cộng đồng chưa trở thành thói quen trong cách sống củađại bộ phận dân cư Đây là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự ô nhiễm cácthành phần môi trường nhiên, đặc biệt là môi trường không khí và nước
Trang 2Từ thực tế tỉnh Hà Nam cho thấy cần phải có các nghiên cứu đánh giá chấtlượng những biến động của các thành phần của môi trường tự nhiên, để có thể tìm
ra các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm góp phần làm cơ sở khoa học chonhững công tác xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh
tế tỉnh Hà Nam Chính vì vậy tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt tỉnh Hà Nam” làm đối tượng nghiên cứu Bài
nghiên cứu đặt ra vấn đề là nghiên cứu tổng hợp thực trạng và bước đầu đánh giámức độ ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt tỉnh Hà Nam để lập được bản
đồ hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt
2 Mục đích, nhiệm vụ, giới hạn đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
- Trên cơ sở tổng hợp và phân tích các dữ liệu, các công trình nghiên cứu cóliên quan, đề tài nhằm góp phần làm rõ mức độ ô nhiễm môi trường không khí vànước mặt tỉnh Hà Nam
- Qua đó bước đầu đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí và nướcmặt tỉnh Hà Nam, làm cơ sở cho việc quy hoạch xây dựng, phát triển kinh tế - xãhội của tỉnh sao cho phù hợp với hiện trạng môi trường
- Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trường của tỉnh Hà Nam
- Đánh giá tổng hợp mức độ ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt trên
cơ sở so sánh với tiêu chuẩn cho phép
- Đề xuất và kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển bền vững
2.3 Giới hạn của đề tài
Đề tài “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt tỉnh
Hà Nam” được giới hạn trong nội dung nghiên cứu như sau:
- Về mặt không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng môi trườngkhông khí và nước mặt trên địa bàn toàn tỉnh (5 huyện và 1 thành phố)
- Về mặt thời gian: các số liệu quan trắc về môi trường có trong các năm 2005– 2008
Trang 3- Các chỉ tiêu lựa chon khi đánh giá: Đối với môi trường không khí đề tài tậptrung nghiên cứu 4 chỉ tiêu: Bụi, NO2, SO2, CO Đối với môi trường nước mặt đề tàinghiên cứu 4 chỉ tiêu: nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5),chất rắn lơ lửng (SS) Đối với nước sông đề tài nghiên cứu 5 tiêu chí: COD, BOD5,amoni (NH4+), nitrit (NO2-) và phốt phát (PO43-).
3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp luận
3.1.1 vận dụng quan điểm tiếp cận hệ thống
Mọi sự vật, hiện tượng đều có mối liện hệ biện chứng với nhau tạo thành thểthống nhất hoàn chỉnh gọi là một hệ thống, mỗi hệ thống lại có khả năng phân chiathành hệ thống ở cấp thấp hơn, chúng luôn vận động và tác động tương hỗ lẫn nhau.Theo L.Bortalant thì: “Hệ thống là tổng thể các thành phần nằm trong sự tác độngtương hỗ”
Mỗi thành phần tự nhiên là một tập hợp của tổng thể tự nhiên (cấu trúc thẳngđứng của hệ thống), bản thân tổng thể tự nhiên là một hệ thống, hệ thống tự nhênnày không tách khỏi sự tác động tương hỗ với hệ thống kinh tế - hoạt động sống củacon người (cấu trúc ngang của hệ thống)
Đề tài “Đánh giá hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt tỉnh
Hà Nam” thực chất là vận dụng quan điểm hệ thống vào việc nghiên cứu ảnh hưởngqua lại của hệ thống kinh tế - xã hội Giữa hai hệ thống này luôn luôn có tác độngtương hỗ, qua lại lẫn nhau, khi tiến hành hoạt động phát triển, chúng ta đã tác độngtới các thành phần tự nhiên, làm biến đổi các thành phần này và đến một lúc nào đócác thành phần môi trường sẽ tác động trở lại hoạt động sống của con người Môitrường tỉnh Hà Nam chịu tác động mạnh mẽ của các hoạt động sản xuất Cả môitrường không khí, nước và đất đều bị ô nhiễm bởi chất thải của các hoạt động này.Môi trường bị ô nhiễm đã tác động xấu tới sức khỏe của con người Vì vậy, giữamôi trường và hoạt động của con người luôn có sự tác động tương hỗ, qua lại lẫnnhau Hiểu được mối quan hệ này sẽ là cơ sở khoa học xác đáng cho những giảipháp bảo vệ môi trường tỉnh Hà Nam
3.1.2 Quan điểm lãnh thổ
Trong nghiên cứu đánh giá các đối tượng địa lý, bao giờ cũng phải gắn vớimột địa phương cụ thể , do đó tất cả các vấn đề nghiên cứu đều không tách rời khỏilãnh thổ đó Trong một lãnh thổ thường có sự phân hóa nội tại, đồng thời có sự liênquan chặt chẽ với các lãnh thổ xung quanh về phương diện tự nhiên, kinh tế, vănhóa…Đề tài đã vận dụng quan điểm lãnh thổ khi nghiên cứu tác động của các khuvực hoạt động kinh tế như nhà máy, xí nghiệp, khu dân cư có ảnh hưởng trong từng
Trang 4khu vực cụ thể, để từ đó có thể xác định một cách tương đối khu vực đã bị ô nhiễm,chưa bị ô nhiễm và cần phải có các biện pháp xử lý thích hợp nhằm hạn chế mức độ
ô nhiễm
3.1.3 Quan điểm tổng hợp
Đây là quan điểm truyền thống trong nghiên cứu địa lý Quan điểm này đượcthể hiện cả trong nội dung và phương pháp nghiên cứu Quan điểm tổng hợp đòi hỏiphải nhìn nhận các sự vật, các quá trình địa lý trong mối quan hệ tương tác vớinhau
Đánh giá môi trường tỉnh Hà Nam, trước hết cần đánh giá từng yếu tố của môitrường thành phần (không khí, nước…), từng khu vực cụ thể, sau đó đánh giá tổnghợp và đưa ra nhận định chung đối với toàn khu vực nghiên cứu
3.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững mới được đưa ra năm 1987, tại Hội nghị Môitrường thế giới ở Stockhom: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãnnhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng phát triển để thỏamãn nhu cầu cuả thế hệ tương lai”
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến sự phát triển bền vững vềmôi trường, để đạt được mục tiêu này vấn đề quan trọng là phân tích được hiệntrạng và những biến đổi của môi trường không khí và nước tỉnh Hà Nam trên cơ sở
đó tìm kiếm giải pháp, biện pháp phù hợp với thực tiễn nghiên cứu, nhằm đảm bảo
sự phát triển môi trường tỉnh Hà Nam
3.2 phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu
Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi tiến hành thu thập các
số liệu, tài liệu về khu vực nghiên cứu, đặc biệt là các thông số đo đạc về môitrường được lấy từ nhiều đề tài khác nhau Vì vậy chúng tôi phải chọn lọc, xử lý để
có thể có được chuỗi số liệu tương đối thống nhất theo đúng yêu cầu của đề tài
Phần đánh giá mức độ ô nhiễm của các thành phần chúng tôi không dựa trênphương pháp chung nào mà tính toán trên thực tế phạm vi ảnh hưởng của nó tại tỉnh
Hà Nam Việc tính toán sẽ được trình bày kỹ ở chương III
Trang 53.2.3 Phương pháp ma trận
Phương pháp ma trận được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu môi trường.Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp ma trận để đánh giá tổng hợp chấtlượng môi trường không khí và nước Ma trận môi trường được xây dựng như sau:liệt kê các chất gây ô nhiễm ở cột ngang và các điểm đo ở cột dọc Trên cơ sở sosánh số liệu thực đo với tiêu chuẩn cho phép, chúng tôi tiến hành cho điểm đối vớimỗi chỉ tiêu ở từng điểm đo Số điểm của mỗi điểm đo là tổng điểm của tất cả cácchỉ tiêu tại điểm đó Trên cơ sở số điểm của các điểm đo, chúng tôi phân cấp chấtlượng môi trường không khí và nước thành các mức độ khác nhau
và nước tỉnh Hà Nam để hiện thị trên cơ sơ đồ
3.2.5 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Đây là phương pháp bắt buộc trong nghiên cứu tài nguyên và môi trường.Điều tra khảo sát thực địa nhằm bổ sung tài liệu và kiểm tra kết quả nghiên cứu.Ngoài ra, khảo sát thực địa còn nhằm đối chiếu số liệu thu thập được và thực tế đểrút ra những nhận xét đánh giá về hiện trạng môi trường Trong quá trình nghiêncứu đề tài, tôi đã đến các khu vực, khảo sát các điểm đo, ghi lại bàng hình ảnhnhững khu vực có dấu hiệu bị ô nhiễm nặng như các cơ sở sản xuất có nhiều chấtthải đến môi trường, khu vực làng nghề, khu khai thác khoáng sản…để thu thậpthông tin về tình hình sản xuất cũng như thực trạng môi trường ở nhiều địa phương
Từ đó có những nhận định đúng đắn hơn trong nghiên cứu của mình
4 Cấu trúc bài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài nghiên cứu gồm 3 chương:Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá hiện trạng ô nhiễm môitrường không khí và nước mặt tỉnh Hà Nam
Chương 2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt tỉnh HàNam
Chương 3 Đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí và nước mặt tỉnh
Hà Nam
Trang 6PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ
NƯỚC TỈNH HÀ NAM 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm
* Môi trường
- Theo nghĩa rộng: Môi trường là một phạm trù dùng để chỉ toàn bộ yếu tố vậtchất, điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại, vận động, biến đổi của các sựvật hiện tượng trong thế giới khách quan Bất kỳ một sự vật hay hiện tượng nàocũng vận động biến đổi trong một môi trường nhất định
- Theo cộng đồng EU: Môi trường là sự kết hợp các nhân tố có quan hệ tương
hỗ với nhau tạo nên môi trường xung quanh cũng như các điều kiện sống của cánhân và xã hội Môi trường được xem như là nơi chốn của mọi vật mà nó đem đếnnguồn lợi và tác hại đối với con người
- Theo học giả Liên Xô: Môi trường là tất cả những gì bao quanh con ngườibao gồm các thành phần môi trường tự nhiên, các thành phần vật chất nhân tạo, cácthành phần kinh tế, các quá trình xã hội
- Theo UNESCO: Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các yếu tốvật chất do hoạt động của con người tạo ra trong đó con người sinh sống bằng laođộng đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo đó nhằm thỏamãn nhu cầu của mình
- Theo Liên Hợp Quốc: Môi trường là các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học baoquanh con người mà mối quan hệ giữa loài người với môi trường sống chặt chẽ đếnmức mối quan hệ giữa các thành viên trong xã hội bị nhòa đi trong quá trình pháttriển
- Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tựnhiên và vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, cóảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiênnhiên”
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh chúng ta, tạo điều kiện đểchúng ta sống, hoạt động và phát triển
* Môi trường không khí: là lớp không khí bao quanh Trái đất Môi trườngkhông khí có ý nghĩa rất quan trọng đối với con người, bởi vì người ta có thể nhịn
ăn 7 – 10 ngày, nhịn uống 2 – 3 ngày, nhưng chỉ sau 3 – 5 phút không hít thở khôngkhí thì con người đã có nguy cơ bị tử vong
Trang 7* Môi trường nước: là thành phần nước của Trái đất bao gồm sông, hồ, suối,nước dưới đất, băng tuyết và hơi nước Nước là nhân tố không thể thiếu trong việcduy trì cuộc sống của con người và sinh vật.
* Ô nhiễm môi trường:
Ô nhiễm là sự làm tổn thất chất lượng môi trường sống bởi những chất gây táchại gọi là “chất ô nhiễm”, chủ yếu do hoạt động của con người sinh ra Chúng cóthể là một chất hóa học như chì (Pb), thủy ngân (Hg), hoặc một số hợp chât như:
CO, CO2,…hoặc một hỗn hợp phức tạp các chất thải như rác, nước cống, bụi, cácchất phóng xạ, nhiệt, tiếng ồn…cũng là yếu tố gây ô nhiễm Ngoài ra một số hiệntượng tự nhiên cũng có thể sản sinh ra chất ô nhiễm: cháy rừng tự nhiên, tro, SO2,phát ra từ núi lửa tỏa vào khí quyển…Các chất gây ô nhiễm cho môi trường sốngcủa con người chủ yếu làm ô nhiễm và biến đổi môi trường không khí và nước, ảnhhưởng lớn đối với cuộc sống của con người, của động vật và thực vật
Việc nghiên cứu về thực trạng ô nhiễm môi trường không khí và nước ở mộtkhu vực cụ thể, xác định các nhân tố ảnh hưởng, từ đó có các biện pháp bảo vệ có ýnghĩa vô cùng to lớn
1.1.2 Cơ sở lý luận
Môi trường và phát triển có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: môi trường là địabàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biếnđổi môi trường Tuy nhiên giữa chúng luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn khó dunghòa
Mục đích của sự phát triển là cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống củacon người Ngày nay, chất lượng cuộc sống không chỉ đơn thuần là có thu nhập cao
mà còn phải có một môi trường sống trong lành và thân thiện Vì vậy, phát triểnkinh tế - xã hội luôn phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên và môi trường, nhằm mụctiêu phát triển bền vững
Trong vài thập kỷ gần đây, nhiều Hội nghị quốc tế về môi trường đã được tổchức Ở nước ta, Đảng và Nhà nước đã ban hành Luật môi trường và những quyđịnh về quản lí môi trường Tất cả những việc làm trên đều không ngoài việc nhằmmục tiêu đó Nghiên cứu này mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc dunghòa mâu thuẫn giữa phát triển và ô nhiễm tỉnh Hà Nam
Hoạt động sản xuất ở tỉnh Hà Nam tác động rất lớn đến môi trường tự nhiên,nhất là những khu công nghiệp được phân bố trùng với các khu tập trung đông dân.Hơn nữa, máy móc thiết bị ở hầu hết các cơ sở sản xuất ở tình trạng cũ nát, lạchậu…là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, trong đó môi trường không khí vànước chịu tác động mạnh nhất Điều đó đã ảnh hưởng sâu sắc tới môi trường sống
Trang 8và sức khỏe của người dân Chính vì thực tế trên, khi đánh giá mức độ ô nhiễm môitrường không khí và nước chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn môi trường không khí xungquanh (TCVN 5937 – 2005) và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nướcmặt năm 2008 (QCVN 08 : 2008/BTNMT).
Bảng 1 Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh
TT Thông số Đơn vị
Giá trị giới hạn Trung bình
Dựa trên các tiêu chuẩn Việt Nam, cùng với các đề tài, chương trình, các tài
liệu có liên quan, chúng tôi đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường không khí và nước
để xây dựng sơ đồ chất lượng môi trường không khí và nước tỉnh Hà Nam theo 3mức độ: không ô nhiễm, ô nhiễm nhẹ, ô nhiễm nặng
Để phân tích được chất lượng môi trường không khí và nước, chúng tôi căn cứvào số liệu đo đạc cùng loại chỉ tiêu chất lượng môi trường qua các ở cùng mộtđiểm đo
Trang 91.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Hà Nam
Tỉnh Hà Nam là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ có tọa độ địa lý là:
200 21' đến 200 43' vĩ độ Bắc
1050 45' đến 1060 10' kinh độ Đông
Diện tích tự nhiên tỉnh Hà Nam là 860.2 km2, chiếm 0.26% tổng diện tích tựnhiên của cả nước Dân số là 786.4 nghìn người (2009), chiếm 0.91% tổng dân số
cả nước Tỉnh Hà Nam được chia thành 6 đơn vị hành chính với: thành phố Phủ Lý (tỉnh
lỵ của tỉnh), huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng, huyện Lý Nhân, huyện Thanh Liêm vàhuyện Bình Lục
Hà Nam là cửa ngõ phía nam của thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên
và Thái Bình, phía Nam giáp tỉnh Nam Định và Ninh Bình, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình
Trang 10Hà Nam nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc – Nam, trên địa bàn tỉnh
có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua với chiều dài gần 50km và các tuyếnđường giao thông quan trọng khác như quốc lộ 21, quốc lộ 21B, quốc lộ 38 Hơn 4000
km đường bộ bao gồm các đường quốc lộ, tỉnh lộ cùng các tuyến giao thông liên huyện,liên xã, thị trấn đã được rải nhựa hoặc bê tông hóa, hơn 200km đường thủy với 42 cầuđường đã được xây dựng kiên cố và hàng nghìn km đường giao thông nông thôn tạo điềukiện thuận lợi vận chuyển hàng hóa
Ngoài tài nguyên đất, Hà Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản vô cùng phongphú, đa dạng với trữ lượng hàng tỷ tấn, chủ yếu là các loại đá dùng làm nguyên liệucho sản xuất xi măng, vôi, sản xuất bột nhẹ và sản xuất vật liệu xây dựng; các loại
đá quý có vân màu phục vụ ngành xây dựng, trang trí nội thất và làm đồ mỹ nghệ;các mỏ đất sét làm nguyên liệu sản xuất gạch ngói, đồ gốm, xi măng; các mỏ thanbùn, cát,… Cùng với tài nguyên khoáng sản, địa hình và điều kiện tự nhiên đa dạng
đã tạo cho Hà Nam có nhiều cảnh quan và quần thể tự nhiên đẹp, thuận lợi cho pháttriển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch thắng cảnh, nghỉ ngơi, điều dưỡng sứckhoẻ và du lịch kết hợp với nghiên cứu khoa học Ngũ Động Sơn, núi Cấm ở ThiSơn; động Khả Phong, hồ Tam Chúc, dốc Ba Chồm ở Kim Bảng; cảnh quan thiênnhiên ở Đọi Sơn - Điệp Sơn (Duy Tiên); Kẽm Trống - núi Tiên ở Thanh Liêm; hệsinh thái nông nghiệp ở Bình Lục, Lý Nhân, Những đặc điểm trên là thế mạnh tạonhiều điều kiện thuận lợi để Hà Nam phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và giao lưuvới tất cả các tỉnh , thành phố trên cả nước Tuy nhiên, với vị trí và vai trò là nơitrung chuyển hành khách và hàng hóa giữa các vùng kinh tế nên mật độ xe cộ trêncác tuyến đường ở Hà Nam đặc biệt là đường quốc lộ luôn cao, gây ô nhiễm môitrường không khí do bụi và khí thải của các phương tiện giao thông Hơn nữa, môitrường của tỉnh Hà Nam đã và đang có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu giải quyết
Vì vậy, bên cạnh việc khai thác, sử dụng hợp lý các điều kiện tự nhiên và tài nguyênthiên nhiên, cải tạo và bảo vệ môi trường đã trở lên vô cùng cần thiết và cấp bách
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng môi trường không khí và nước mặt tỉnh Hà Nam
1.2.2.1 Các nhân tố tự nhiên
a Địa hình – địa mạo
Trên địa bàn tỉnh có ba dạng địa hình: Địa hình núi đá vôi, địa hình đồi thấp và địahình đồng bằng
- Địa hình núi đá vôi: chiếm diện tích lớn, độ cao tuyệt đối lớn nhất 419m, mức địahình cơ sở địa phương khoảng 10 đến 14m Đây là một bộ phận của dải đá vôi kéo dài từ
Mỹ Đức - Hà Nội qua Kim Bảng đến vùng Đồng Giao - Ninh Bình Địa hình phân cắt
Trang 11mạnh, nhiều sườn dốc đứng, nhiều đỉnh nhọn cao hiểm trở Bề mặt phát triển nhiều kiếmtrúc trạm trổ phức tạp.
- Địa hình đồi thấp: gồm các dải đồi bát úp nằm xen kẽ hoặc ven rìa địa hình núi đávôi, tạo thành một dải (dải thôn Non - Chanh Thượng) hoặc các chỏm độc lập ở các xãThanh Bình, Thanh Lưu Điểm chung của dạng địa hình đồi thấp là đỉnh tròn, sườn thoải(độ dốc sườn 10 - 15o), đa số là các đồi trọc hoặc trồng cây lương thực, cây công nghiệp.Cấu thành nên dạng địa hình này là các thành tạo lục nguyên cát kết, bột kết , có vỏphong hoá dày từ 5 - 15m Nhiều chỗ do quá trình sói lở đá gốc rắn chắc lộ ngay trên bềmặt Đặc biệt một phần của dạng địa hình này được cấu thành từ các đá trầm tíchdolomit, mà tiêu biểu là dãy Bút Sơn - Kiện Khê
- Địa hình đồng bằng: chiếm diện tích rộng lớn ở các huyện Duy Tiên, BìnhLục, Lý Nhân, thành phố Phủ Lý và một phần thuộc các huyện Kim Bảng, ThanhLiêm Các diện tích mặt bằng bao quanh hai dạng địa hình núi đá vôi, đồi thấp cũngđược xếp vào dạng địa hình này (như thung lũng Ba Sao với diện tích khoảng 5 -6km2, thung Đôn, thung Dược, thung Thanh Bồng ) Thực chất đó là các thunglũng castơ được bồi lấp bởi các vật liệu trầm tích Độ cao tuyệt đối của địa hìnhđồng bằng khoảng 5 - 10m, thấp dần về phía đông, đông nam
Với đặc điểm địa hình – địa mạo như vậy, Hà Nam có thể phát triển một sốngành như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác, nông nghiệp…Tuynhiên đây cũng là những ngành gây ô nhiễm môi trường khá nhiều
b Địa chất – khoáng sản
Theo kết quả các nghiên cứu trên địa bàn tỉnh có các loại khoáng sản chính sau:
* Đá vôi
Tổng trữ lượng đá vôi ở Hà Nam khoảng 4.619,8 triệu tấn, bao gồm:
- Đá vôi sử dụng cho công nghiệp sản xuất xi măng (27 mỏ) với tổng trữ lượngkhoảng 4.193,6 triệu tấn
- Đá vôi cho công nghiệp hóa chất (6 mỏ) với tổng trữ lượng 426,2 triệu tấn
- Tài nguyên đá vôi tập trung chủ yếu ở các xã Liên Sơn, Thanh Sơn, Tượng Lĩnh,Tân Sơn, Khả Phong, Ba Sao và một phần nhỏ ở xã Thi Sơn huyện Kim Bảng; HuyệnThanh Liêm phân bố chủ yếu ở các xã Thanh Thuỷ, Thanh Tân, Thanh Nghị và mộtphần nhỏ ở thị trấn Kiện Khê và xã Thanh Hải
* Đất sét
- Đất sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng: trữ lượng khoảng 537,637 triệu tấn Trong đócác mỏ sét ở huyện Thanh Liêm (9 mỏ) có trữ lượng 330,31 triệu tấn, các mỏ sét xi măng ởhuyện Kim Bảng (4 mỏ) có trữ lượng 207,327 triệu tấn
- Đất sét làm gạch ngói: theo thống kê chưa đầy đủ có khoảng 13 triệu m3
Trang 12- Ở Hà Nam các mỏ sét chính là các mỏ sét xi măng Thanh Tân (Thanh Liêm),Khả Phong (Kim Bảng), Đồng Ao (Thanh Liêm), các mỏ sét gạch ngói Ba Sao, ThụyLôi (Kim Bảng), Yên Kinh (Xuân Khê, Lý Nhân), mỏ sét gốm Đồng Văn (Duy Tiên),sét gạch Duy Hải (Duy Tiên)… Sét xi măng tại huyện Thanh Liêm có chất lượng caohơn tại huyện Kim Bảng, chất lượng tốt nhất là tại các mỏ thuộc khu vực Khe Non.
* Đá xây dựng thông thường và đất đá san lấp
Tập trung ở 2 huyện Kim Bảng, Thanh Liêm với tổng trữ lượng đá xây dựng thôngthường là 1.089,9 triệu m3, đất đá san lấp là 290,944 triệu m3
xử lý môi trường nước nuôi tôm
Các mỏ dolomit lớn gồm: mỏ Tân Lang, Dốc Ba Chồm, Tây Thung Hoàng Khiêm,Nam Hồng Sơn, Bút Sơn (huyện Kim Bảng) và mỏ Thanh Bồng, Núi Hâm - Núi Tây Hà(huyện Thanh Liêm)
* Than bùn phân bón
Trên địa bàn Hà Nam đã khoanh định 02 mỏ than bùn ở huyện Kim Bảng với tổngtrữ lượng khoảng 7,568 triệu tấn, bao gồm:
- Mỏ than bùn Ba Sao: có trữ lượng khoảng 262.000 tấn.
Than bùn Ba Sao có màu xám đen, thành phần gồm: N 1,29%; P2O5 0,814%; K2O1,48%; axit humic 1,96%; độ ẩm (Wa) 13,14 - 13,82%; độ tro (AC) 20,86 - 30,90%; độchất bốc (Vc) 48,34 - 48,78%; nhiệt lượng chung (QC) 3.572 - 4.331 kcal/kg; nhiệt lượngriêng (QR) 5.199 - 5.253 kcal/kg Kết quả trên cho thấy, than bùn Ba Sao có hàm lượngtro cao, độ chất bốc và nhiệt lượng thấp, sử dụng làm chất đốt kém hiệu quả Nhưng lại
có hàm lượng N, P, K, axit humic đáp ứng yêu cầu chất lượng để sản xuất phân bón
- Mỏ than bùn Hồ Liên Sơn: có trữ lượng khoảng 7,296 triệu tấn Than bùn HồLiên Sơn có màu đen, xám đen, chứa nhiều thực vật chưa phân huỷ tương tự than bùn ở
mỏ Ba Sao vì vậy có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất phân bón
* Cát xây dựng, cát sét san lấp
Các mỏ cát xây dựng, cát sét làm vật liệu san lấp phân bố dọc sông Hồng có trữlượng khoảng 6,971 triệu m3 Tuy các mỏ này có quy mô nhỏ, nhưng lại luôn được bồihoàn hàng năm sau mùa mưa lũ
* Nguyên liệu khoáng làm phụ gia trong sản xuất xi măng
Trên địa tỉnh Hà Nam có 2 loại phụ gia xi măng là phụ gia bù silic và phụ gia đầy
Cả hai loại này chỉ xuất hiện ở huyện Thanh Liêm, tập trung chủ yếu ở vùng đồi thấpthuộc các xã Thanh Tân, Thanh Nghị, Thanh Lưu, Thanh Hương, Thanh Tâm, Liêm
Trang 13Sơn Trữ lượng sét làm phụ gia đầy là 47,808 triệu tấn, trữ lượng cát kết làm phụ gia điềuchỉnh silic, kiềm là 145,908 triệu tấn.
Đây cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp sản xuất ximăng, vôi, sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng Tuy nhiên đây lại là một trong nhữngngành gây ô nhiễm nhất hiện nay
Lượng mưa (mm)
Độ ẩm (%)
Tốc độ gió (m/s)
(Nguồn: Trung Tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Hà Nam 2007)
Hướng gió thịnh hành là gió Đông Bắc về mùa Đông, gió Đông Nam về mùa hè,
số giờ nắng trong năm khoảng 1300 giờ, nhiệt độ trung bình năm 240C Chế độ mưa thayđổi nhiều trong năm, mưa tập trung vào mùa hè bắt đầu từ tháng 5 kéo dài đến tháng 10,tổng lượng mưa trong năm là 1582mm Độ ẩm trung bình cũng như nhiều khu vực khác
ở đồng bằng sông Hồng khoảng 72 - 92%
Điều kiện khí hậu và thời tiết đó có tác dụng hết sức quan trọng đến sự ô nhiễmmôi trường không khí và nước, trong đó hướng gió là yếu tố ảnh hưởng rất lớn tới sự lantruyền các chất ô nhiễm trong không khí, tới mức độ và hướng bay của chất ô nhiễm.Như vậy, tùy theo từng mùa mà lượng bụi và khí thải từ các khu công nghiệp ảnh hưởngđến các khu vực xung quanh mạnh hay yếu khác nhau
d Thủy văn
Hà Nam có lượng mưa trung bình cho khối lượng tài nguyên nước rơi khoảng1,602 tỷ m3 Dòng chảy mặt từ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ hàng năm đưa vào lãnhthổ khoảng 14,050 tỷ m3 nước Chảy qua lãnh thổ Hà Nam là các sông lớn như sông
Trang 14Hồng, sông Đáy, sông Châu và các sông do con người đào đắp như sông Nhuệ, sôngSắt, Sông Châu Giang…
Sông Hồng là ranh giới phía đông của tỉnh với các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình.
Trên lãnh thổ tỉnh, sông có chiều dài 38,6 km Sông Hồng có vai trò tưới tiêu quan trọng
và tạo nên những bãi bồi màu mỡ với diện tích gần 10.000 ha
Sông Đáy là một nhánh của sông Hồng bắt nguồn từ Phú Thọ chảy vào lãnh thổ
Hà Nam Sông Đáy còn là ranh giới giữa Hà Nam và Ninh Bình Trên lãnh thổ Hà Nam
sông Đáy có chiều dài 47,6 km Sông Nhuệ là sông đào dẫn nước sông Hồng từ Thụy
Phương, Từ Liêm, Hà Nội và đi vào Hà Nam với chiều dài 14,5 km, sau đó đổ vào sôngĐáy ở Phủ Lý
Sông Châu Giang khởi nguồn trong lãnh thổ Hà Nam Tại Tiên Phong (Duy Tiên)
sông chia thành hai nhánh, một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và Bình Lục
và một nhánh làm ranh giới giữa huyện Duy Tiên và Bình Lục Sông Sắt là chi lưu của
sông Châu Giang trên lãnh thổ huyện Bình Lục
Điều kiện khí hậu, thủy văn trên đây rất thuận lợi cho phát triển một nền nôngnghiệp sinh thái đa dạng, thích hợp với các loại vật nuôi cây trồng nhiệt đới, các loại cây
vụ đông có giá trị hàng hóa cao và xuất khẩu như cà chua, dưa chuột Điều kiện thời tiếtkhí hậu cũng thuận lợi cho phát triển các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch
vụ cũng như các hoạt động văn hóa xã hội và đời sống sinh hoạt của dân cư
Song đi đôi với việc phát triển thuận lợi các ngành kinh tế hiện đại là nguy cơ gây ônhiễm môi trường ngày càng cao
1.2.2.2 Các nhân tố kinh tế - xã hội
a Dân số
Dân số Hà Nam tính đến năm 2009 là 786.4 nghìn người, mật độ dân số là 914người/km2, tỷ lệ tăng tự nhiên là 8.22%o Trong đó dân số nông thôn là 709.2 nghìnngười (chiếm 90.2%), dân số đô thị là 77.2 nghìn người (chiếm 9.8%) Số người trong độtuổi lao động khoảng 450.3 nghìn người Số lao động tham gia thường xuyên trong nềnkinh tế quốc dân là hơn 450.1 nghìn người, chiếm gần 97,7% nguồn lao động toàn tỉnh.Phần đông lao động có trình độ văn hóa, có khả năng tiếp nhận và áp dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật, công nghệ
Đã giải quyết việc làm mới cho 13.500 lao động, trong đó xuất khẩu lao động2.020 người; số hộ thoát nghèo 3.316 hộ, tỷ lệ lao động qua đào tạo 32,3% Hơn 60% laođộng đang làm việc trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản Hàng năm dân số HàNam tăng thêm khoảng 8-9 nghìn người, tạo thêm nguồn lao động dồi dào, bổ sung chonền kinh tế quốc dân Về trình độ dân trí, Hà Nam đã được công nhận là tỉnh phổ cập
Trang 15giáo dục trung học cơ sở, bình quân số năm học của một lao động là 8,1 năm/người (hệ
12 năm)
Tuy nhiên việc gia tăng dân số cũng đã có những tác động mạnh mẽ đến môitrường, chất lượng môi trường không khí, nước, đất và hệ sinh thái đã bị suy giảm Chính
vì vậy, để có đô thị hợp lý và môi trường trong lành cần phải xây dựng quy hoạch đô thị
cụ thể, trong đó phải có quy hoạch bảo vệ môi trường đô thị
b Hoạt động xây dựng, giao thông vận tải
Trong những năm gần đây, tỉnh Hà Nam cũng đang chú ý đầu tư, xây dựng cơbản, chủ yếu là xây dựng cở sở hạ tầng đường xá, cầu cống, nhà cửa và các cơ sởsản xuất có quy mô lớn Tuy nhiên, công tác xây dựng cơ bản còn có nhiều yếukém: tổng vốn đầu tư thấp so với mục tiêu, tiến bộ thi công nhiều công trình cònchậm nên hiệu quả chưa cao Hơn nữa, các công trình xây dựng còn gây ô nhiễmcục bộ ở một số khu vực bởi bụi và tiếng ồn, nhiều khi gây ách tắc giao thông.Hiện trạng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải ở tỉnh Hà Nam còn nhiều hạn chếnhư: phương tiện cũ, lạc hậu gây tiếng ồn lớn, tiêu tốn nhiều nhiên kiệu và xả ra quánhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí Bên cạnh đó chất lượng đường
xá xuống cấp nghiêm trọng cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường dobụi
c Công nghiệp
Hà Nam là tỉnh có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp, tuy nhiên chođến nay, công nghiệp Hà Nam nhìn chung còn nhỏ bé, công nghệ, máy móc, thiết bịphần lớn là cũ kỹ lạc hậu hiện nay tỷ trọng sản xuất công nghiệp trong GDp củatỉnh mới chỉ đạt 28.8% (2008)
Tính đến hết năm 2008, trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã hình thành và xây dựngđược 3 khu công nghiệp gồm: khu công nghiệp Đồng Văn I, II; khu công nghiệpChâu Sơn giai đoạn I và II Có 2 cụm công nghiệp gồm: Cụm công nghiệp Hoàngđông, cụm công nghiệp Tây nam Phủ Lý Có 5 cụm công nghiệp – tiểu thủ côngnghiệp: cụm Giát huyện Duy Tiên; Biên Hòa, Kim Bình huyện Kim Bảng; NamChâu Sơn thành phố Phủ Lý; Hòa Hậu, Lý Nhân Có 4 cụm tiểu thủ công nghiệp –làng nghề: Thanh Lưu – Thanh Liêm; Ngọc Động – Duy Tiên; Nhật Tân – KimBảng; Thi Sơn - Kim Bảng
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì những khu tập trung côngnghiệp còn bộ lộ một số nhược điểm:
- Hầu hết các khu vực này còn mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ về cơ cấu và
ít gắn bó với nhau về công nghệ Ở đây chưa có đầy đủ các xí nghiệp để tận dụng có
Trang 16hiệu quả các phế liệu, phế thải Vì vậy, phế thải một mặt bị lãng phí và mặt kháccòn gây ô nhiễm môi trường.
- Phần lớn các khu công nghiệp ở Hà Nam được phân bố trùng với các khuđông dân, các nhà máy, xí nghiệp nằm xen kẽ trong các khu dân cư, điều đó ảnhhưởng không nhỏ đến môi trường sống của nhân dân bởi các chất thải từ các nhàmáy Hơn nữa máy móc thiết bị ở hầu hết các cơ sở sản xuất công nghiệp rất lạchậu,…là nguyên nhân không nhỏ gây ô nhiễm môi trường ở Hà Nam
Bên cạnh đó, công tác bảo vệ môi trường khu công nghiệp và đô thị chưa đượcđặt đúng vị trí của nó, tình trạng ô nhiễm môi trường ở đây đang là vấn đề nóngbỏng mà các cấp, các ngành và xã hội cần phải đặc biệt quan tâm
Tóm lại các nhân tố kinh tế - xã hội trên đây đều có ảnh hưởng không nhỏ đếnmôi trường Hà Nam nói chung, đặc biệt là sự phát triển của các cơ sở công nghiệp
là tác nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm môi trường không khí và nước tỉnh Hà Nam
Chương 2 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ
NƯỚC MẶT TỈNH HÀ NAM
Trang 17Hiện trạng môi trường không khí và nước mặt tỉnh Hà Nam được nghiên cứudựa trên cơ sở những số liệu đã thu thập được nồng độ các chất gây ô nhiễm tại cácđiểm đo từ năm 2005 – 2008.
2.1 CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC MẶT TỈNH HÀ NAM
Đối với môi trường không khí và nước, có hai nguồn gây ô nhiễm cơ bản:
- Nguồn ô nhiễm do hoạt động cuả con người hay còn gọi là nguồn ô nhiễmnhân tạo, như là nguồn ô nhiễm từ sản xuất công nghiệp, nguồn ô nhiễm từ giaothông và nguồn ô nhiễm sinh hoạt…
- Nguồn ô nhiễm thiên nhiên do các hiện tượng thiên nhiên gây ra , có tổnglượng các chất ô nhiễm thường là rất lớn, nhưng nó phân bổ tương đối đồng đềutrên toàn thế giới Nồng độ các chất ô nhiễm không tập trung ở một địa điểm nhấtđịnh, con người, động vật và thực vật đã làm quen với nồng độ ô nhiễm của các chất
đó Chính vì vậy, trong phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu các nguồn ônhiễm nhân tạo mà đặc biệt là từ các hoạt động công nghiệp của tỉnh Hà Nam
2.1.1 Nguồn ô nhiễm từ công nghiệp
2.1.1.1 Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí
* Do hoạt động sản xuất từ các ngành công nghiệp
Khí thải từ các ngành công nghiệp có thành phần phức tạp và chủ yếu chứanhiều các chất ô nhiễm như: bụi, SOX, NOX, CO, CO2, bụi kim loại (Si, Mg, Ca, Na,
K, Cr), hơi hóa chất, hơi dung môi, bụi than, bụi silic… Căn cứ vào ngành nghềđặc trưng của tỉnh, dự báo đặc trưng các loại khí thải công nghiệp sẽ phát sinh tạibảng 4 Mỗi ngành công nghiệp sẽ phát sinh các chất ô nhiễm đặc trưng khác nhau,
do vậy rất khó xác định hết tất cả các chất ô nhiễm thải vào môi trường không khí.Mặt khác cũng không có nguyên tắc chung nào để tính toán chất ô nhiễm mà phảituy thuộc vào công nghệ sản xuất, nguyên liệu, nhiên liệu, hóa chất sử dụng để tínhtoán tải lượng ô nhiễm trong từng trường hợp cụ thể Các nhà máy sử dụng dầu FO,
DO, than củi làm nhiên liệu cho lò hơi, máy phát điện dự phòng hoặc các thiết bịcấp nhiệt khác,…sẽ tạo ra các chất khí COx, SOx, NOX, Bụi (tàn tro, hạt dầu chưacháy hết, bụi than, kích thước từ 3 - 8m); khói (hạt cacbon, kích thước 0.03 - 1m;hạt chất lỏng lơ lửng)
Bảng 4 Đặc trưng các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí
Trang 18TT Các ngành sản xuất Đặc trưng các nguồn gây ô nhiễm không khí
1 Gia công chế tạo cơ khí Khói hàn, bụi kim loại, HCl, dung môi (axit, kiềm),
Bụi, khói, dung môi, chất tẩy rửa, nhiệt độ cao…
5 Công nghiệp Dệt May Bụi bông, hóa chất nhuộm, hấp; khí thải từ lò hơi 6
Khói thải từ các nguồn
đốt nhiên liệu: lò hơi, lò
cấp nhiệt, máy phát điện
Bụi, SOx, NOx, CO, CO2, THC, RHO…
7 Trạm xử lý nước thải NH3, H2S, CH4, Mercaptan…
* Do hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản
Tác nhân gây ô nhiễm không khí trong công tác khai thác khoáng sản là nổmìn, xúc bốc, vận chuyển, xay nghiền, chế biến khoáng sản…
Tác động nổ mìn đã sinh ra bụi và khí CO, CO2, H2S, NO2, rất cao so với tiêuchuẩn của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường Hàng năm, lượng thuốc nổ TNTđược sử dụng để khai thác đá trên địa bàn khoảng 1875 tấn Với khối lượng thuốc
nổ như vậy sẽ thải ra không khí rất nhiều khí độc Những khí này gây hiệu ứng nhàkính, làm không khí nóng lên và phá hủy tầng ozon
Trong các khu mỏ khai thác và chế biến vật liệu xây dựng với sản lượng khaithác đá các loại trong tỉnh hàng năm là 772300 m3 Các khu dân cư nằm gần khuvực khai thác sẽ bị ô nhiễm nghiêm trọng
Khí thải của các phương tiện vận chuyển trong các khu mỏ cũng là nguồnđáng kể để gây ô nhiễm không khí Trong thành phần khí thải của các phượng tiện
có động cơ đốt trong chứa bụi SO2, NO, CO, tổng hydrocacbon và Pb Các chấtnày phát sinh từ các nguồn phân tán và tác động tới môi trường Mức độ tác độngcủa các chất này phụ thuộc nhiều vào điều kiện địa hình và điều kiện khí hậu trongkhu vực
Theo phương pháp đánh giá thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO) thìlượng bụi phát sinh trong quá trình khai thác, chế biến và vận chuyển đá vôi nhưsau: khoan nổ mìn 0.4Kg bụi/ tấn sản phẩm; bốc xếp, vận chuyện: 0.17kg/tấn sản
Trang 19phẩm; nghiềng sàng 0.3kg/tấn sản phẩm Với sản lượng khai thác năm 2008 là772300m3/năm, từ đó tính toán lượng khí thải, bụi thải trung bình trong một năm đểsản xuất và chuyên trở đá xây dựng Kết quả tính toán được thống kê trong các bảngsau.
Bảng 5 Tải lượng ô nhiễm không khí do hoạt động khai thác qua các năm
2.1.1.2 Nguồn gây ô nhiễm môi trường nước
Nước thải công nghiệp được tải ra từ hoạt động sản xuất của các nhà máy, xínghiệp, hộ sản xuất trong và ngoài các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làngnghề…Tùy theo từng loại công nghệ sản xuất mà nước thải có lưu lượng và thànhphần với nồng độ các chất khác nhau như: nước thải nhà máy chế biến nông sản -thực phẩm, và nước giải khát chứa các chất hữu cơ chứa các chất lơ lửng cao (BOD,
N, P, TSS…); nước thải của nhà máy chế tạo cơ khí chứa hàm lượng kim loại nặng,dung môi hữu cơ, chất hoạt động bề mặt và dầu mỡ cao; nước thải của các nhà máysản xuất vật liệu xây dựng chứa nhiều chất lơ lửng, hóa chất, nhiệt độ cao; nước thảicủa ngành dệt – may chứa nhiều thuốc nhuộm, hóa chất tẩy rửa,…
Trên cơ sở các ngành sản xuất sẽ tập trung vào một số ngành hoạt động sảnxuất để dự báo tính chất, thành phần của nước thải Các ngành chủ yếu như sau:
- Ngành chế biến nông sản, thực phẩm
- Ngành may mặc
- Ngành sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp
- Ngành sản xuất vật liệu xây dựng
- Ngành sản xuất cơ khí
* Tổng lượng nước thải của toàn tỉnh
Nước thải từ hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp…cần phải xử lý bao gồm;nước thải sinh hoạt và nước thải sản xuất Tổng lượng nước thải phải xử lý là 85%nguồn nước sử dụng
Bảng 6 Lượng nước thải trong hoạt động sản xuất công nghiệp
Trang 20Bảng 7 Lượng nước thải theo điều tra tại một số khu, cụm công nghiệp
STT Đơn vị hoạt động Hoạt động sử dụng Đơn vị Lượng sử dụng
1 Khu công nghiệp
Đồng Văn I
Nước sinh hoạt m3/năm 124,205
3 Khu công nghiệp
Châu Sơn
Nước sinh hoạt m3/năm 993
5 Cụm công nghiệp
Tây Nam Thành phố
Phủ Lý
Nước sinh hoạt m3/năm 321,300
Một số ngành sản xuất có nước thải chủ yếu là các ngành chế biến thực phẩm,sản xuất giấy, dệt nhuộm, tẩy truội, sản xuất tấm lợp, lưu lượng nước thải tổng củacác ngành sản xuất khoảng 211,004 m3/năm
Bảng 8 Nước thải theo thu phí nước thải năm 2008
nước thải
1 Sản xuất và chế biến thực phẩm m3/năm 87,568
Trang 212 Dịch vụ cung cấp nước sạch m3/năm 43,860
5 Chế tạo thiết bị và kết cấu thép m3/năm 960
8 Nước thải tẩy truội trong làng nghề thêu ren m3/năm 3,720
9 Sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật m3/năm 20
10 Nước thải làng nghề dệt nhuộm m3/năm 4,620
11 Nước thải của một số trang trại chăn nuôi m3/năm 3,012
Nguồn: Theo số liệu thu phí nước thải Sở Tài nguyên và Môi trường
Tải lượng ô nhiễm của một số ngành theo sản lượng sản phẩm sản xuất trênđịa bàn tỉnh
Bảng 9 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải của các hoạt
Sản xuất sữa CODTSS Tấn/nămTấn/năm 120120
4 Sản xuất
thức ăn chăn
nuôi
COD Tấn/năm 72 276 - 1,560 2,000TSS Tấn/năm 110 414 - 2,340 3,000
5 Sản xuất
nước sạch
COD Tấn/năm 570 570 600 1,350 1,500TSS Tấn/năm 1,135 1,135 1,200 2,700 3,000
* Tải lượng ô nhiễm các chất trong nước mưa chảy tràn
Vào mùa mưa, nước mưa chảy tràn từ khu vực khai thác, chế biến, cuốn theocác chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt, các chất rắn lơ lửng và dầu mỡ.Nước mưa chảy tràn của khu vực khai thác mỏ tác động tiêu cực đến nguồn nướcmặt
Tính toán của tổ chức y tế thế giới có thể dự báo nồng độ các chất ô nhiễmtrong nước mưa
Bảng 10 Tải lượng ô nhiễm các chất trong nước mưa chảy tràn trong năm
Trang 22BOD5, kg/năm 37.0 mg/l 102,490 109,446 124,690
SS, kg/năm 800 mg/l 2,216,000 2,366,400 2,696,000
1.2.3.2 Nguồn ô nhiễm từ giao thông vận tải
Giao thông vận tải cũng là nguồn gây ô nhiễm khá lớn Do sử dụng nguồnnguyên liệu hóa thạch, các phương tiện giao thông như ô tô, tàu hỏa, máy bay… đềuthải ra một lượng bụi và khí thải độc hại qua ống khói xả của động cơ Đặc biệt ô tôcòn gây ô nhiễm bụi đất đá đối với môi trường (bụi thứ cấp) và bụi hơi chì rất độchại Tàu hỏa chạy bằng nhiên liệu than cung gây ô nhiễm môi trường tương tự ô tô
Hà Nam là tỉnh có địa bàn nằm trên tuyến đường quốc lộ 1A - tuyến đường quantrọng nhất cả nước là nơi trung chuyển hàng hóa giữa các vùng Hà nam còn là củangõ phía nam của thủ đô nên là nơi các tuyến hàng vận chuyển cung cấp cho thủ đô
và từ thủ đô phân phối đi qua Hơn nữa, sự phát triển các haotj động công nghiệpkéo theo sự gia tăng các phương tiện giao thông và mật độ xe cộ trên các tuyếnđường chính ở Hà Nam luôn cao Bên cạnh đó giao thông vận tải còn làm nhiệm vụchuyên trở hành khách đi lại giữa các tỉnh với nhu cầu khác nhau Điều này làm chotrị số tiếng ồn và nồng độ bụi ở nhiều khu vực thường xuyên cao
Như vậy, hoạt động giao thông vận tải đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chấtlượng môi trường không khí do phát sinh bụi, tiếng ồn Đối với bụi các loại, trongđiều kiện nóng ẩm rất dễ trở thành tác nhân nhiễm khuẩn đường hô hấp mãn tính.Còn tiếng ồn lớn gây nên cảm giác mệt mỏi, thiếu tập trung, giảm thính lực của conngười
1.2.3.3 Nguồn ô nhiễm do sinh hoạt của con người gây ra
* Nước thải sinh hoạt
Hiện nay với dân số của tỉnh 786.4 nghìn người (2009), cùng với sự gia tăng dân
số là sự ra tăng công suất cấp nước sinh hoạt Thực tế khảo sát một số điểm nước thảicho thấy nước thải sinh hoạt ở Hà Nam thường có màu đen sậm, màu nâu, hoặc màuxám xanh Nhiều đường cống có hiện tượng lên men yếm khí Các chất thải này dẫn ra
ao, hồ, sông, mương dẫn đến ô nhiễm các mương, sông, ao, hồ thoát nước
Đặc biệt nước thải từ các bệnh viện là loại nước thải rất nguy hại cần được xử lýcẩn thận nhưng hiện nay tại hầu hết các bệnh viện, trạm y tế đều không có hệ thống xử lýnước thải hoặc có nhưng không sử dụng được do thiếu kinh nghiệm quản lý hoặc do chấtlượng công trình kém
* Rác thải sinh hoạt và công cộng
Trang 23Những năm gần đây, kinh tế của người dân khu vực nông thôn có những bướcphát triển khá nhanh Tuy nhiên, cùng với đó là lượng rác thải trong sinh hoạt, sảnxuất phát sinh rất lớn Không những thế, nhiều loại rác độc hại, nguy hiểm như: bao
bì, chai, lọ đựng thuốc trừ sâu bệnh đổ ra gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Ở Hà Nam, hầu hết các xã, phường, thị trấn trong tỉnh đều có quy hoạch vàxây dựng được các bãi rác thải tập trung được bố trí xa khu dân cư Đồng thời, tạirất nhiều thôn, xóm đã hình thành tổ thu gom rác thải sinh hoạt hàng ngày để đưa vềbãi rác tập trung Không những vậy, có khoảng 70% số hợp tác xã dịch vụ nôngnghiệp đầu tư xây dựng thùng rác đồng ruộng để người dân bỏ rác thải trong quátrình sản xuất Theo số liệu của Chi cục Bảo vệ thực vật (BVTV) tỉnh, trong 3 năm(2006,2007, 2008) toàn tỉnh đã thu gom được 7,226 tấn vỏ bao bì, chai, lọ đựngthuốc BVTV từ đây
Tuy vậy, trên thực tế mới chỉ khoảng hơn 50% tổng số lượng rác thải trong sinhhoạt và sản xuất hàng ngày được thu gom Số còn lại vẫn bị vứt ra môi trường tựnhiên, mương, máng, đồng ruộng Ngay những thùng rác đồng ruộng ở nhiều nơi dokhông được thu gom kịp thời, đầy tràn ra ngoài, trở thành một điểm ô nhiễm môitrường tập trung Với những bãi rác, tại các địa phương mới chỉ giải quyết được theoquy trình thu gom và chôn lấp tại chỗ
1.2.3.4 Các nguồn khác
Ngoài những nguồn gây ô nhiễm chính là các chất thải công nghiệp, giao thôngvận tải và sinh hoạt của con người thì một số nguồn gây ô nhiễm khác cũng ít nhiềuảnh hưởng đến chất lượng môi trường Đó là chất thải từ hoạt động xây dựng, chấtthải bệnh viện và việc sử dụng phân bón hóa học để bón ruộng trồng rau quả, hoamàu.Ngoài ra phải kể đến một phần quan trọng nước mưa đổ xuống cuốn theo nhiềubụi, chất lo lửng, khí độc trong không khí…Hay lượng thức ăn thừa nuôi cá ở cáckênh mương cũng là nguồn gây ô nhiễm đáng kể
2.2 GIỚI THIỆU CÁC ĐIỂM LẤY MẪU
2.2.1 Các điểm lấy mẫu không khí
Nhìn chung, các số liệu thu thập về kết quả phân tích mẫu không khí tại cácđiểm đo thường rải rác, không đầy đủ Vì vậy, chúng tôi phải tiến hành chọn vị trí cácđiểm sao cho các điểm đo mang tính đại diện cao, phản ánh đúng hiện trạng môitrường không khí của tỉnh Các điểm lấy mẫu chủ yếu liên quan đến khu vực cónguồn thải, đó là gần khu dân cư, dọc tuyến đường giao thông, gần khu côngnghiệp…Chúng tôi đã chọn ra được 9 điểm lấy mẫu không khí trên địa bàn tỉnh HàNam
- Điểm đo số 1 (K1): Khu La Mát – TT Kiện Khê – Thanh Liêm – Hà Nam
Trang 24- Điểm đo số 2 (K2): Khu khai thác và chế biến đá xã Thanh Sơn – Kim Bảng –
- Diểm đo số 7 (K7): Khai thác đá xã Thanh Thủy – Thanh Liêm – Hà Nam
- Điểm đo số 8 (K8): Sản xuất gạch xã Hòa Hậu – Lý Nhân – Hà Nam
- Điểm đo số 9 (K9): Khu sản xuất vật liệu xây dựng Mộc Bắc – Duy Tiên – HàNam
2.2.2 Các điểm lấy mẫu nước
Để phản ánh hiện trạng môi trường nước tỉnh Hà Nam, chúng tôi tiến hành lấymẫu các loại nước sông, ao, mương Cụ thể chúng tôi chọn 4 điểm đo tại các sông và
5 điểm đo tại các ao, mương
a Các điểm lấy mẫu nước sông
- Điểm đo số 1 (S1): Sông Đáy – Cầu Hồng Phú – TP Phủ Lý - Hà Nam
- Điểm đo số 2 (S2): Sông Nhuệ - Cầu Ba Đa – TP Phủ Lý – Hà Nam
- Điểm đo số 3 (S3): Sông Duy Tiên – TT Hòa Mạc – Duy Tiên – Hà Nam
- Điểm đo số 4 (S4): Sông sắt – Cầu Sắt - Bình Lục – Hà Nam
b Các điểm lấy mẫu nước ao, hồ, kênh, mương và nước thải
- Điểm đo số 1 (M1): Nước ao xã Nhật Tân – Kim Bảng – Hà Nam
- Điểm đo số 2 (M2): Mương tới nội đồng thuộc thôn Đô Hai – An Lão– BìnhLục – Hà Nam
- Điểm đo số 3 (M3): Mương tưới nội đồng cuối xóm 7 – Liêm Tuyền – ThanhLiêm – Hà Nam
- Điểm đo số 4 (M4): Nước ao tại làng nghề dệt nhuộm xã Hòa Hậu – Lý Nhân– Hà Nam
- Điểm đo số 5 (M5): Nước ao tại làng nghề thêu ren An Hòa – xã Thanh Hà –Thanh Liêm
Trang 252.3 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ VÀ NƯỚC MẶT TỈNH HÀ NAM
2.3.1 Hiện trạng chất lượng môi trường không khí
Có rất nhiều yếu tố gây ô nhiễm môi trường không khí Tuy nhiên với giới hạn của đềtài chúng tôi chỉ nghiên cứu một số yếu tố chính: bụi và các khí thải NO2, SO2, CO Bảng 11 là kết quả đo và tính toán nồng độ các chất gây ô nhiễm môi trườngkhông khí qua các năm (từ 2005 – 2008) tại các điểm đo
Từ bảng 11, chúng tôi xây dựng các biểu đồ thể hiện nồng độ các chất ô nhiễm
so với tiêu chuẩn cho phép (TCCP) theo từng chỉ tiêu tại các điểm đo và biểu đồ sốlần vượt tiêu chuẩn cho phép của các chất ô nhiễm Qua bảng số liệu và các biểu đồchúng ra có thể rút ra những nhận định sơ bộ sau:
- Chất lượng môi trường không khí phân tích từ năm 2005 – 2008 của tỉnh HàNam đã bị ô nhiễm ở các chỉ tiêu: bụi, các khí thải NO2, SO2 và CO chỉ tiêu bị viphạm nhiều nhất là nồng độ bụi, 8/9 điểm đo đều có nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩncho phép từ 1.8 – 19.15 lần, sau đó là nồng độ các khí NO2 (5/9), SO2 (4/9), CO (3/9).Riêng tiếng ồn thì tại các điểm đo mới đạt mức gần ô nhiễm
Trang 26Bảng 11 Kết quả đo đạc các thông số môi trường không khí trung bình qua
CO (mg/m3) 5.0 4.01 3.93 3.20 2.98 14.2 4.14 3.38 7.12
- Những điểm đo có nhiều chỉ tiêu vượt quá TCCP nhất nằm ở các khu công
nghiệp, làng nghề có lịch sử lâu đời: như Hải Hậu, Mộc Bắc, Kiện Khê Nguyên nhân
là do ở những khu vực này tập trung các cơ sở sản xuất công nghiệp, nhất là các cơ sở
sản xuất vật liệu xây dựng, các hoạt động khai thác đá Các cơ sở này có máy móc,
thiết bị còn lạc hậu Hay các khu công nghiệp nằm gần các tuyến đường giao thông
lớn, hoặc có mật độ các phương tiện giao thông trở hàng hóa lớn nên chỉ tiêu về nồng
độ bụi nên rất cao (Khu sản xuất vôi kiện khê, khu khai thác đá Thanh Hải) Các khu
vực khác như cụm công nghiệp Tây Nam TP Phủ Lý do mới được xây dựng nên
mức độ ô nhiễm chưa nặng nề
- Kết quả phân tích hiện trạng chất lượng môi trường không khí được thể hiện
cụ thể ở các điểm đo như sau:
Các điểm đo số 6, 8, 9 là khu vực có những cơ sở sản xuất lâu đời đặc biệt là
những xí nghiệp, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất vôi, gạch…nên môi
trường bị ảnh hưởng nặng nề Mặt khác tại đây mật độ giao thông do làm nhiệm vụ
chuyên trở khá lớn do đó tại các điểm đo này kết quả phân tích mẫu không khí cho
thấy, phần lớn các chỉ tiêu bị vi phạm nghiêm trọng, vượt giới hạn cho phép nhiều
lần Cụ thể: nồng độ bụi ở các điểm đo này đạt 0.74 – 1.34 mg/m3 (vượt TCCP từ
3.7 – 6.7 lần), nồng độ khí NO2 vượt TCCP từ 1.9 – 3.1 lần, khí SO2 vượt 2.08 –
3.12 lần Tại điểm K6 khí CO vượt 2.84 lần Đây là khí rất độc hại do nó tác động
tới hemoglobin (Hb) trong máu tạo thành cacboxyhemoglobin làm mất khả năng
vận chuyển oxi của máu và gây ngạt Các loại khí SO2, NO2 trong điều kiện độ ẩm
cao, kết hợp với sự lan tỏa chậm sẽ làm tăng tính ăn mòn vật liệu xây dựng, đối với
con người gây viêm loét đường hô hấp, ho dữ dội, nhức đầu và rối loạn đường tiêu
hóa
Trang 27Hai địa điểm rất đặc biệt là K1 và K7 Đây là hai địa điểm có nồng độ bụi rấtcao từ 3.82 – 3.12 mg/m3 vượt 15.6 – 19.15 lần Đây là những khu vực diễn ra hoạtđộng sản xuất xi măng và khai thác đá rất mạnh Chính việc này là nguyên nhân dẫnđến môi trường không khí ở đây bị ô nhiễm nặng mà chủ yếu là do bụi Đặc biệt tạikhu vực K1, ven đường tất cả các nhà cửa, cơ quan đều đóng cửa kín mít, cây cối bịphủ một lớp bụi dày trắng xóa, mặt đường đầy cát và sỏi đá Đặc biệt rìa mặt đường
có tới gần chục “xác” ngôi nhà bỏ hoang từ lâu, bụi phủ thành một lớp khá dày, rấtkhó phát hiện đâu là cửa chính ra vào nhà Hiện, người dân Kiện Khê đang phảihứng chịu khói, bụi, nước thải, tiếng ồn… của 3 công ty xi măng (Kiện Khê, BútSơn, Hòa Phát), hơn 25 doanh nghiệp khai thác đá và hàng chục điểm khai thác tựphát UBND tỉnh Hà Nam đã chỉ đạo các cấp, các phòng nghiệp vụ, đặc biệt là cácđơn vị khai thác và chế biến đá phải giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo cảnhquan cho khu vực Tây sông Đáy Đồng thời di chuyển các cơ sở khai thác và chếbiến đá ra khỏi khu dân cư Yêu cầu các đơn vị cho trồng hàng rào cây xanh đểgiảm thiểu bụi Tuy nhiên, thực tế cho thấy các biện pháp này cũng không giảiquyết được vấn đề khi nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm bụi hiện nay lại là docác xe chở vật liệu đá làm rơi vãi dọc đường Một biện pháp được áp dụng là dùng
xe phun nước và thuê người để dọn sạch mặt đường để giảm bụi Tuy nhiên, dokinh phí quá lớn không thể duy trì được nên người dân ở Kiện Khê vẫn phải sốngchung với bụi Theo thống kê của Phòng Cảnh sát môi trường tỉnh Hà Nam, toàn
tỉnh có trên 100 cơ sở khai thác và chế biến đá xây dựng, trung bình mỗi cơ sở cung ứng ra thị trường 1.000m3 đá thành phẩm/tháng Hầu hết máy móc thiết bị của các
cơ sở đều đơn giản, lạc hậu, không có hệ thống phun nước chống bụi nên gây ô
nhiễm môi trường trầm trọng Hiện tình trạng ô nhiễm ở khu khai thác đá Kiện Khê
đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân Đến lúc chính quyềntỉnh Hà Nam cần đưa ra biện pháp cụ thể, tiến hành đánh giá tác động môi trường
Hình 1 Biểu đồ thể hiện giá trị tiếng ồn tại các điểm đo