1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu xây dựng sa bàn nhóm ngư cụ nội địa (nghề lưới đáy, lưới chặn, lưới rê) trưng bày tại phòng bảo tàng ngư cụ, trường đại học nha trang

58 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 2,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG SA BÀN NHÓM NGƯ CỤ NỘI ĐỊA NGHỀ LƯỚI ĐÁY, LƯỚI CHẶN,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG SA BÀN NHÓM NGƯ CỤ NỘI ĐỊA (NGHỀ LƯỚI ĐÁY, LƯỚI CHẶN, LƯỚI RÊ) TRƯNG BÀY TẠI PHÒNG BẢO TÀNG NGƯ CỤ,

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Trọng Thảo Sinh viên thực hiện: Võ Thùy Thạch Thảo

Mã số sinh viên: 57131042

Khánh Hòa - 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN

BỘ MÔN CÔNG NGHỆ KHAI THÁC THỦY SẢN

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG SA BÀN NHÓM NGƯ CỤ NỘI ĐỊA (NGHỀ LƯỚI ĐÁY, LƯỚI CHẶN, LƯỚI RÊ) TRƯNG BÀY TẠI PHÒNG BẢO TÀNG NGƯ CỤ,

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Trọng Thảo Sinh viên thực hiện: Võ Thùy Thạch Thảo

Mã số sinh viên: 57131042

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VIỆN KH&CN KHAI THÁC THỦY SẢN

PHIẾU THEO DÕI TIẾN ĐỘ VÀ ĐÁNH GIÁ ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài: Nghiên cứu xây dựng sa bàn nhóm ngư cụ nội địa (nghề lưới đáy, lưới

chặn, lưới rê) trưng bày tại phòng bảo tàng ngư cụ, trường Đại học Nha Trang

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Trọng Thảo

Sinh viên được hướng dẫn: Võ Thùy Thạch Thảo MSSV: 57131042 Khóa: 57 Ngành: Khai thác thủy sản

Lần

1 11/3/2019 Soạn đề cương thực hiện đồ án

2 22/3/2019 Duyệt đề cương thực hiện đồ án

3 17-23/3/2019 Đi khảo sát thực tế

6 24/4/2019 Kiểm tra và sửa bài lần 1

Kiểm tra giữa tiến độ của Trưởng BM Ngày kiểm tra: Đánh giá hoàn thành công việc: %, Kí tên

Được tiếp tục: Không tiếp tục:

7 10/5/2019 Tính toán thiết kế mô hình 8 20/5/2019 Thi công và lắp đặt mô hình 9 10/6/2019 Hoàn thành mô hình 10 20/6/2019 Nộp và chỉnh sửa đồ án lần 2 11 22/6/2019 Nộp và chỉnh sửa đồ án lần 3 12 23/6/2019 Nộp đồ án Nhận xét chung:

Trang 4

Điểm hình thức: /10 Điểm nội dung: /10 Điểm tổng kết: /10 Đồng ý cho sinh viên: Được bảo vệ: Không được bảo vệ:

Khánh Hòa, ngày tháng năm

Cán bộ hướng dẫn

(Kí và ghi rõ họ tên)

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đồ án tốt nghiệp: “Nghiên cứu xây dựng sa bàn

nhóm ngư cụ nội địa (nghề lưới đáy, lưới chặn, lưới rê) trưng bày tại phòng bảo tàng ngư cụ, trường Đại học Nha Trang” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa

từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này Tất cả các dữ liệu, tài liệu tham khảo đã được trích dẫn rõ ràng, đúng quy định, nếu phát hiện ra có sự sao chép tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Khánh Hòa, ngày 08 tháng 06 năm 2019

Tác giả

Võ Thùy Thạch Thảo

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đồ án, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng ban Trường Đại học Nha Trang, Quý Thầy trong Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác thuỷ sản đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đồ án này Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn ThS.GVC Nguyễn Trọng Thảo đã giúp tôi hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp này Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp

đỡ này

Xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, giúp đỡ của tập thể cán bộ UBND xã Cam Hải Đông và toàn bộ ngư dân ven đầm Thủy Triều đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập mẫu, thông tin, dữ liệu để thực hiện đồ án

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp

đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đồ án này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày 08 tháng 06 năm 2019 Sinh viên thực hiện

Võ Thùy Thạch Thảo

Trang 7

TÓM TẮT ĐỒ ÁN

Đất ta hiện nay đang trong giai đoạn công nghệp hóa, hiện đại hóa, vì vậy cần phải triển ở tất cả các ngành nghề nói chung và nghề cá nói riêng Ở nước ta, nghề cá đang ngày càng phát triển với nhiều công nghệ mới được đưa vào sản xuất và cho năng suất cao Bên cạnh sự phát triển vượt bật của một số nghề như: nghề lưới kéo, nghề lưới vây, nghề câu, Thì các nghề cá truyền thống của nước ta như: nghề lưới đáy, lồng bẫy, lưới chặn, ngày càng ít được ngư dân sử dụng, và đang dần có nguy cơ bị thất truyền Do

đó, dưới sự cho phép của Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác thủy sản và bộ môn

Công nghệ Khai thác thủy sản tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng sa bàn nhóm

ngư cụ nội địa (nghề lưới đáy, lưới rê, lưới chặn) trưng bày tại Phòng Bảo tàng ngư

cụ, trường Đại học Nha Trang” Với mong muốn lưu giữ và bảo tồn các nghề khai thác

thủy sản truyền thống của nước ta

Mục tiêu của nghiên cứu: Xây dựng thành công sa bàn ngư cụ nội địa, với mô hình chính là nghề lưới đáy

Phương pháp nghiên cứu: Tôi sử dụng phương pháp tính toán tương tự đồng dạng

về mặt hình học

Kết quả nghiên cứu đã đạt được: Thực trạng của các nghề khai thác thủy sản nội địa tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Bên cạnh đó, xây dựng thành công sa bàn nghề lưới đáy được trưng bày tại Phòng Bảo tàng ngư cụ, Trường Đại học Nha Trang

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

TÓM TẮT ĐỒ ÁN iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

1.2 Thực trạng nghề cá nội địa trong nước 8

1.3 Vài nét chung về đầm Thủy Triều 9

1.3.1 Vị trí địa lý 9

1.3.2 Khí hậu 9

1.3.3 Chế độ thủy văn 10

1.3.4 Nguồn lợi thủy sản 10

1.3.5 Hệ sinh thái rừng ngập mặn 10

1.3.6 Khai thác thủy sản 10

1.4 Tổng quan về các loại ngư cụ nghiên cứu 11

1.4.1 Nghề lưới đáy 11

1.4.2 Nghề lưới rê 13

1.4.3 Nghề lưới chặn 16

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Mục tiêu nghiên cứu đồ án 18

2.2 Phạm vi nghiên cứu 18

2.3 Đối tượng nghiên cứu 18

2.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 18

2.5 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 18

Trang 9

2.6 Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp 19

2.7 Phương pháp xử lý số liệu 19

2.8 Phương pháp xây dựng mô hình 20

2.9 Dụng cụ điều tra 21

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22

3.1 Thực trạng nghề tại địa phương 22

3.1.1 Nghề lưới đáy 22

3.1.2 Nghề lưới rê 27

3.1.3 Nghề lưới chặn 28

3.2 Thiết kế mô hình 29

3.2.1 Cơ sở lựa chọn thiết kế mô hình 29

3.2.2 Tính toán thiết kế 29

3.3 Xây dựng và lắp đặt mô hình 34

3.3.1 Lựa chọn vật liệu 34

3.3.2 Thi công chế tạo 36

3.3.3 Lắp đặt mô hình 38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt, ký hiệu Nội dung, ý nghĩa

BNNPTNT Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn

Trang 11

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thông số kỹ thuật áo lưới đáy 24

Bảng 3.2: Thống kê phụ tùng của lưới đáy 25

Bảng 3.3: Tính toán theo tỷ lệ 30

Bảng 3.4: Bảng thống kê các thông số kỹ thuật 30

Bảng 3.5: Bảng thống kê trang bị phụ tùng 30

Bảng 3.6: Bảng thống kê vật liệu thiết kế 35

Bảng 3.7: Thống kê khoảng cách phao, chì lắp đặt mô hình 37

Trang 12

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.2: Bản đồ vị trí địa lý của đầm Thủy Triều 9

Hình 1.3: Cấu tạo lưới đáy không có cánh lưới 11

Hình 1.4: Cấu tạo lưới đáy khi lắp cánh lưới 12

Hình 1.5: Lưới rê 3 lớp 15

Hình 1.6: Người ngư dân kéo lưới khi thủy triều rút 17

Hình 3.1: Khu vực tập trung nghề lưới đáy ở đầm Thủy Triều 22

Hình 3.2: Lưới đáy 23

Hình 3.4: Cọc cắm lưới đáy 24

Hình 3.5: Bản vẽ khai triển lưới đáy 26

Hình 3.7: Giềng chì lưới Rê 28

Hình 3.8: Mô phỏng cắt cánh phao 31

Hình 3.9: Tấm lưới phần cánh phao 31

Hình 3.10: Mô phỏng cắt thân 1 32

Hình 3.11: Tấm lưới phần thân 1 32

Hình 3.12: Mô phỏng cắt thân 2 32

Hình 3.13: Tấm lưới phần thân 2 33

Hình 3.14: Mô phỏng cắt thân 3 33

Hình 3.15: Tấm lưới phần thân 3 33

Hình 3.16: Mô phỏng cắt phần đụt 34

Hình 3.17: Tấm lưới phần đụt 34

Hình 3.18: Thân lưới 1 được ghép với thân 2 36

Hình 3.19: Nút buộc ghép 36

Hình 3.20: Dây giềng mô hình và giềng lưới thật 37

Hình 3.21: Ghép phụ tùng vào lưới 37

Hình 3.22: Miệng lưới đáy hoàn thiện 38

Hình 3.23: Lắp đặt mô hình lưới đáy theo hướng nhìn từ trên xuống 38

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

Với địa hình ¾ diện tích là đồi núi, đã tạo cho Việt Nam một đất nước có nhiều sông, suối, hồ, đầm, tiềm năng để phát triển nghề cá nội địa Việt Nam có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông chính Bên cạnh đó, còn có nhiều đầm phá lớn nhỏ, nhưng phần lớn tập trung chủ yếu ở có tỉnh miền Trung rất nhiều với hơn 12 đầm phá lớn nhỏ chạy dọc ven biển Đây là hệ thống thủy vực có mức độ đa dạng sinh học nguồn lợi thủy sản cao nhất trong các thủy vực nội địa [14]

Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, thành phần loài cá các thủy vực nước ngọt nội địa Việt Nam bao gồm trên 700 loài và phân loài, thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ Riêng họ cá chép có 276 loài và phân loài thuộc 100 giống và 4 họ, 1 phân họ được coi

là đặc hữu ở Việt Nam Số lượng loài cá ở các cửa sông dao động từ 70 đến hơn 230 loài, với tổng cộng hơn 580 loài, thuộc 109 họ và 27 bộ Có thể thấy tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong phú và đa dạng Mỗi năm, sản lượng khai thác thủy sản nội địa đạt trung bình từ 150 – 200 tấn, góp phần quan trọng vào việc đáp ứng lượng nhu cầu tiêu thụ lương thực, thực phẩm của người dân, đặc biệt là từ các địa phương không có biển [22]

Từ đó ta thấy được rằng nghề cá nội địa đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống nhân dân Việt Nam, góp phần bảo đảm một phần dinh dưỡng từ thuỷ sản cho người dân, là sinh kế của nhiều ngư dân nghèo ở các vùng ven sông, ven hồ, đầm phá

Xa xưa, con người đã biết sử dụng ngư cụ thô sơ như lao, tên, móc, làm từ những vật liệu có sẵn trong tự nhiên để khai thác thủy sản Từ lâu ông cha ta đã tận dụng được những ưu đãi của thiên nhiên, chế tạo ra những dụng cụ để đánh cá phục vụ cho cuộc sống hằng ngày Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, dụng cụ đánh bắt ngày càng thêm phong phú và cải tiến dần hiện nay dụng cụ khai thác cá nội địa rất đa dạng

và phong phú về chủng loại Nhiều loại ngư cụ khai thác hiện đại và cho hiệu quả đánh bắt cao, song cũng có nhiều loại bị thất truyền

Khi xã hội bước vào thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì các ngư cụ cũng được cải tiến dần mang tính chủ động hơn như câu, lờ, đăng, đó, Đặc biệt sự xuất hiện của lưới là bước tiến quan trọng trong hoạt động khai thác Nhờ đó mà một số ngư cụ mới được ra đời như lưới rê, lưới đáy, lưới chặn, và một số ngư cụ đánh bắt có tính chủ động như lưới vây, lưới kéo, Phương tiện khai thác thủy sản nội địa chủ yếu là tàu thuyền thủ công không lắp máy, trên một số hồ, đầm phá,

Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều hình thức đánh bắt cá vô cùng phong phú Cùng với sự phát triển của việc giao lưu khoa học giữa các nước chúng ta đã và đang du nhập một số kiểu ngư cụ và phương pháp khai thác tiên tiến mang lại hiệu quả khai thác cao

Trang 14

Rõ ràng, việc phát triển công nghệ khai thác thủy sản đã làm tăng năng suất cũng như hiệu quả khai thác một cách đáng kể Nhưng bên cạnh những lợi ích đó, thì các ngư cụ truyền thống ngày càng bị mai một dần đi Một phần là do con người ngày càng tăng cường đánh bắt làm cho nguồn lợi thủy sản bị suy giảm trầm trọng kéo theo đó việc thu nhập hằng ngày của ngư dân cũng suy giảm theo dẫn đến việc ngư dân bỏ nghề Một phần nữa là do sự ô nhiễm môi trường, diện tích mặt nước ngày càng giảm do nền công nghiệp và kinh tế phát triển nên các ngư cụ khai thác nội địa bị hạn chế Bên cạnh đó,

sự xuất hiện của lờ dây, là một trong những loại ngư cụ mang tính càn quét mạnh đã dẫn đến việc suy giảm nguồn lợi trong đầm một cách trầm trọng Theo thống kê của Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khánh Hòa địa bàn huyện Cam Lâm có

321 hộ dân, với 1570 nhân khẩu, cũng có gần 70% số người sống nhờ đầm Thủy Triều bằng nghề lưới đáy và đánh lờ dây Nhưng với sự khảo sát thực tế trên đầm cho thấy, hiện nay chỉ còn vài ba hộ dân làm nghề lưới đáy ở Xóm 3, Cam Hải Đông, Cam Lâm, Khánh Hòa, phần lớn họ đánh lờ dây, còn lại thì bỏ nghề [12]

Để có thể bảo tồn, lưu giữ những ngư cụ nội địa truyền thống, đây là một trong những hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống chứa đựng trình độ, kinh nghiệm sản xuất lâu đời của nhân dân địa phương Ngoài ra nó còn là dấu ấn lịch sử và văn hóa dân gian gắn liền với đời sống sinh hoạt của nhân dân

Chính vì vậy, nên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng sa bàn nhóm ngư cụ nội địa (nghề lưới đáy, lưới chặn, lưới rê) trưng bày tại phòng bảo tàng ngư cụ, Trường Đại học Nha Trang” làm đồ án tốt nghiệp của mình

Khánh Hòa, ngày 08 tháng 06 năm 2019

Ký tên

Võ Thùy Thạch Thảo

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Từ lâu trên Thế Giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các ngư cụ khai thác, nhưng rất ít người nghiên cứu, thiết kế sa bàn về các ngư cụ nội địa Người có công đầu tiên trong xây dựng cơ sở lý thuyết và tổ chức khai thác cá công nghiệp và đồng thời cũng là cụ tổ của ngành thủy sản là nhà bác học Nga F.I.Baranôv Năm 1912 ông đã công bố công trình cơ sở lý thuyết các dạng khai thác cá công nghiệp Theo hướng nghiên cứu này, những người kế tục ông đã phát triển và làm phong phú lý thuyết và thiết kế ngư cụ, trường phái khoa học Nhật Bản, đứng đầu là giáo sư Môricabutô Tauti

đã đóng góp đáng kể trong việc làm sáng tỏ bằng những quan điểm khoa học để lựa chọn hợp lý cấu trúc ngư cụ

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các ngư cụ không ngừng được cải thiện, nhờ phương pháp nghiên cứu mô hình trong ống thổi, các nhà nghiên cứu Liên

Xô đã tiến hành hàng loạt công trình nhằm hoàn thiện lưới kéo Bằng phương pháp này, Stengel và Fisher người Đức đã nghiên cứu có kết quả trên mô hình lưới kéo Trong số những công trình nghiên cứu về ngư cụ, phải kể đến các công trình của Kawkami, Dickson và Fortiter

Xét về cấu trúc và nguyên lý hoạt động của nghề lưới đáy cũng tương đồng với nghề lưới kéo đáy nên tác giả tìm hiểu kết quả nghiên cứu từ các nghề tương tự để có

cơ sở, phương pháp luận cho riêng mình

Các tác giả Madsen & Holst (2002) sử dụng tấm lưới mắt lưới hình vuông nhằm làm thoát cá tuyết chưa trưởng thành ở nghề lưới kéo đáy khai thác cá tuyết biển Baltic Kết quả cho thấy đối với cùng kích thước mắt lưới, mắt lưới hình vuông cho chiều dài

ở 50% khả năng lọc cá lớn hơn hình thoi có cùng kích thước cạnh mắt lưới [25]

Broadhurst, Laesen, Kenelly & Mcshane (1999) đã nghiên cứu sử dụng tấm lưới

có mắt lưới hình vuông ở đụt kéo tôm khu vực vịnh Vincent Australia Kết quả cho thấy khối lượng cá khai thác ngoài ý muốn giảm đến 96,9% Số lượng cá thể tôm (đối tượng đánh bắt chính) giảm đi 12%, tuy nhiên tổng khối lượng tôm không thay đổi Điều này cho thấy kích thước tôm đánh bắt ở đụt lưới có thể chèn tấm lưới hỗn hợp mắt lưới hình vuông cho số lượng tôm khai thác được có kích thước trung bình lớn hơn [24]

Mục đích thống kê lại các ngư cụ do con người đã tạo và sử dụng để bảo tồn di sản văn hóa nghề cá, trên cơ sở đó tìm tòi và phát triển ra các ngư cụ mới Các nhà khoa học trên thế giới đưa ra nhiều quan điểm phân loại khác nhau như:

Trang 16

 Năm 1952 Umali đã phân loại ngư cụ trên bán đảo Phần Lan theo nguyên tắc thứ tự chữ cái La - tinh

 Phân loại theo đối tượng đánh bắt, Kaieski đã phát triển các dạng ngư cụ khai thác từ đơn giản đến phức tạp

 Voinhicanhic - Mirski (1963); Nikonorov (1969); Lucaesev, Phomtirev (1970),

đã thống nhất nhau trên một số dấu hiệu chính để đưa ra cách phân loại ngư cụ Theo cách phân loại của ông Mirski, ngư cụ được chia thành 6 nhóm dựa trên các dấu hiệu đặc biệt của nguyên lý đánh bắt như sau [17]:

Nhóm I: Ngư cụ đóng (hoặc lưới đóng)

Nhóm II: Ngư cụ lọc

Nhóm III: Ngư cụ kéo

Nhóm IV: Ngư cụ cố định hoặc ngư cụ bẫy

Nhóm V: Ngư cụ Câu

Nhóm VI: Dạng khai thác đặc biệt

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Về nghiên cứu ngư cụ khai thác cá nội địa ở nước ta cũng có rất nhiều đề tài nổi bật nhất là “ Ngư cụ khai thác cá nước ngọt” của Nguyễn Duy Chỉnh - NXB Nông nghiệp, “ Bộ sưu tập ngư cụ nội địa vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, Nhưng đối với những đề tài nghiên cứu thiết kế mô hình các ngư cụ nội địa để lưu giữ và bảo tồn thì hiện nay vẫn chưa thực hiện được

+ “ Ngư cụ khai thác cá nước ngọt” của Nguyễn Duy Chỉnh có thể được xem là

một trong những quyển sách giới thiệu một cách hệ thống các loại ngư cụ khai thác cá nước ngọt ở nước ta Tác giả đã chia ngư cụ khai thác ra làm 4 bộ: Bộ ngư cụ đóng, bộ ngư cụ lọc, bộ câu, bộ lưới liên hợp khai thác cá hồ chứa [4]

 Ngoài ra Nguyễn Duy Chỉnh cùng với Trần Đức Phúc đã cùng nhau nghiên cứu

ra “Phương pháp liên hợp Khai thác cá ở hồ chứa” Tác giả đã tổng hợp lại một số nghề khai thác cá truyền thống ở các hồ chứa và cung cấp cho người đọc một số hiểu biết về phương pháp thiết kế công cụ nghề lưới liên hợp cùng những kinh nghiệm tổ chức đánh bắt, mà tác giả đã rút kết được trong quá trình thực nghiệm và ứng dụng trong sản xuất

ở nhiều hồ chứa nước ta [5]

+ Chi tiết hơn là “Bộ sưu tập ngư cụ nội địa vùng đồng bằng sông Cửu Long” của

Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II đã hệ thống hóa lại các thông tin cần thiết trên từng ngư cụ khai thác thủy sản nội địa ở đồng bằng sông Cửu Long Viện nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II đã tập hợp được trên 120 loại ngư cụ khác nhau và được phân

Trang 17

thành 13 nhóm: Thu nhặt, vợt xúc, ngư cụ sát thương, câu, bẫy, lưới vây, ngư cụ kéo, ngư cụ đẩy, vó, ngư cụ chụp, lưới túi, nhóm ngư cụ khác [6]

Bên cạnh đó còn có những cuốn Tạp chí khoa học nghiên cứu về nguồn lợi thủy sản trong đầm Thủy Triều Từ đó mới thấy được rằng nguồn lợi thủy sản trong đầm dần trở nên suy giảm nghiêm trọng Với đề tài: “Hiện trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản tại đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” nhóm tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Nhật Như Thủy đã nghiên cứu hiện trạng nuôi trồng

và khai thác thủy sản trong đầm Thủy Triều và đưa ra những nguyên nhân dẫn đến tình trạng sản lượng đánh bắt bị suy giảm Kết quả được trình bày trong bài báo cáo này là một phần kết quả của đề tài “Triển khai các mô hình phục hồi và quản lý rừng ngập mặn

và thảm cỏ biển ở khu vực đầm Thủy Triều” được thực hiện bởi Viện Hải Dương học giai đoạn 2012 -2014, do Sở Khoa học và Công nghệ quản lý [21]

Cùng một địa điểm nghiên cứu là đầm Thủy Triều, nhưng đối với nhóm tác giả: Phan Đức Ngại, Võ Sĩ Tuân, Nguyễn Văn Long đã nghiên cứu “Đặc trưng khai thác động vật đáy có giá trị kinh tế chủ yếu đầm Thủy Triều, Khánh Hòa” Nội dung của đề tài nghiên cứu này là xác định được 11 loài động vật đáy có giá trị kinh tế ở trong đầm Thủy Triều, sản lượng khai thác động vật đáy chiếm ưu thế vào mùa khô Tuy nhiên, thành phần và sản lượng nguồn lợi đáy có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng Nguyên nhân có thể do thời gian khai thác các loài quá cao Kết quả nghiên cứu này cung cấp

cơ sở Khoa học cho việc nghiên cứu sâu hơn về chuỗi thức ăn, lưới thức ăn và cung cấp

dữ liệu cho quy hoạch, phân vùng và khai thác nguồn lợi thủy sản hợp lý [13]

Ngoài ra, đề tài “Nghiên cứu tính chọn lọc của nghề lưới đáy khai thác tại cửa biển Thuận An, tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp quản lý” của Võ Giang đánh giá

rõ nhất về hiện trạng của nghề đáy khai thác thủy sản tại vùng cửa biển Thuận An, đánh giá tính chọn lọc với một số loài khai thác chính của nghề đáy, từ đó đề xuất giải pháp quản lý nhằm giảm tác động nghề đáy đối với nguồn lợi thủy sản

Nhìn chung, nguồn lợi thủy sản hiện nay ở nước ta nói chung, ở đầm, vùng nước nội địa nói riêng đang suy giảm trầm trọng Nguyên nhân chính ở đây là do sự quản lý chưa chặt chẽ của các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ nguồn lợi Chính vì thế, trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này và đưa ra một số giải pháp quản lý hiệu quả:

 “Giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ Nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy triều” của Đặng Ngọc Tính Ông đã nghiên cứu thực trạng khai thác trong đầm Thủy triều, tác động của nghề khai thác như lờ dây, lặn đáy, lưới rê, đến nguồn lợi thủy sản trong đầm, từ đó đưa ra các giải pháp quản lý hiệu quả [16]

Trang 18

 “Giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở đầm Nha Phu” của Trần Huy Tác giả nghiên cứu được các nghề đánh bắt chủ yếu trong đầm gồm có lờ dây, đăng, nò, lưới rê, Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu cơ cấu nghề, thực trạng nghề

và những thuận lợi, khó khăn với khai thác thủy sản trong đầm Với phần thực trạng nghề, tác giả đã nêu rất rõ về thực trạng nguồn lợi, tàu thuyền, về ngư cụ, lao động, sản lượng và kích thước của đối tượng khai thác, về công tác quản lý Từ đó đưa ra các giải pháp để quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở Đầm Nha Phu một cách hiệu quả [11]

Nói đến vấn đề điều tra các ngư cụ khai thác nội địa truyền thống ở nước ta thì rất phong phú và đa dạng Ở mỗi vùng miền, tuy có nhiều ngư cụ giống nhau về tên, cấu trúc và kỹ thuật đánh bắt, nhưng có những nơi họ có những ngư cụ rất khác

 “Điều tra các dụng cụ khai thác thủy sản của tỉnh Bắc Giang” của Nguyễn Văn Đào (2007) Đồ án tập trung chủ yếu điều tra, sưu tầm, hệ thống lại những ngư cụ góp phàn bảo tồn, lưu giữ làm hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa Cung cấp những hiểu biết cần thiết về các ngư cụ mà họ từng sử dụng hằng ngày để nuôi sống gia đình

 “Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống trong các vùng nước nội địa của tỉnh Quảng Nam” của Nguyễn Như Sơn Nội dung của đề tài này chủ yếu sưu tầm và hệ thống lại một cách khoa học các loại ngư cụ nghề cá nước ngọt đã và đang sử dụng ở Quảng Nam Trong đề tài này, tác giả đã phân loại các ngư cụ ra làm bảy nhóm có khác với quan điểm của Mirski gồm: Ngư cụ sát thương; ngư cụ chụp, lùa cá; ngư cụ bẫy; ngư cụ đóng; ngư cụ lọc; nghề câu; và nhóm ngư cụ đánh bắt đặc biệt Ngoài ra, tác giả trình bày rất chi tiết và cụ thể từng nghề đánh bắt trong những nhóm ngư cụ đó [14]

 “Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên” của Đặng Văn Cường Tác giả đã điều tra, phân tích và tổng hợp lại tất cả các ngư cụ khai thác cá truyền thống đã và đang còn sử dụng ở huyện Tuy An, đồng thời cũng đưa

ra những biện pháp phù hợp bảo tồn các ngư cụ và giúp cho địa phương có sự quản lý chặt chẽ hơn [3]

 “Điều tra ngư cụ nghề cá nội địa huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên” của Phan Đức Thịnh Đối tượng nghiên cứu của đồ án này là các ngư cụ truyền thống trong vùng nước ngọt ở các địa phương huyện Sông Hinh mang tính tập trung và phổ biến Từ đó, tác giả

đã thành lập danh mục các ngư cụ truyền thống và thiết lập mối quan hệ giữa cấu trúc ngư cụ, phương pháp khai thác và đối tượng đánh bắt [20]

 “Điều tra các dụng cụ khai thác thủy sản truyền thống trong các vùng nước lợ, nước ngọt của tỉnh Phú Yên” của Hồ Mạnh Tuấn Nội dung chính của đề tài này chủ yếu là điều tra, hệ thống lại các ngư cụ khai thác cá nội địa của tỉnh Phú Yên Các ngư

Trang 19

cụ được điều tra trong đề tài này cũng chủ yếu giống với các ngư cụ ở các đề tài nghiên cứu trên [23]

 “Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa” của Lê Quang Anh Với các mục tiêu: Điều tra, xây dựng lại các dụng cụ khai thác

ở địa phương nhằm giúp cho địa phương quản lý, khôi phục, giữ gìn và bảo tồn những hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa; Nghiên cứu, phân tích cấu trúc ngư cụ, kỹ thuật khai thác để cải tiến và phát triển các ngư cụ nhằm mang lại hiệu quả đánh bắt cao; Đồng thời đồ án cung cấp tư liệu phục vụ công tác giáo dục và tuyên truyền bà con nông ngư dân ở huyện Ninh Hòa, góp phần nâng cao nhận thức của họ và có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản [1]

 Trần Văn Phước (2011) đã nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi thủy sản khai thác bằng nò sáo tại thôn Tân Đảo - Đầm Nha Phu, tỉnh Khánh Hòa Kết quả đã chỉ ra được sản phẩm khai thác bằng nò sáo rất đa dạng gồm 63 loài thuộc 49 giống, 30 họ và 10 bộ Kích thước khai thác bằng nò sáo rất nhỏ so với kích thước khai thác cho phép, đồng thời sản lượng thủy sản khai thác của các nò rất thấp

 “Điều tra các dụng cụ khai thác thủy sản trong thủy vực sông Cái và sông Tắc” của Lê Văn Thiên Bằng các kiến thức chuyên ngành, tác giả đã điều tra, sưu tầm, hệ thống lại những ngư cụ truyền thống góp phần bảo tồn, lữu trữ làm hiện vật có giá trị lịch sử, văn hóa, cung cấp những kiến thức, những hiểu biết cần thiết về ngư cụ mà họ từng sử dụng hằng ngày để nuôi sống gia đình Đồng thời, đồ án góp phần như một tài liệu tham khảo với nhiều mục tiêu khác nhau và giúp cho việc quản lý, bảo vệ, khai thác nguồn lợi thủy sản trong thủy vực sông Cái và sông Tắc Nha Trang một cách hiệu quả

và bền vững [19]

 Nhận xét

Hiện nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về thiết kế sa bàn các ngư cụ nội địa truyền thống của Việt Nam Phần lớn, các đề tài chỉ dừng lại ở mức điều tra, hệ thống lại các ngư cụ nội địa, để đánh giá tình trạng hoạt động của các ngư cụ đó Đa phần các nhà nghiên cứu đều chỉ chú trọng vào việc đánh giá xem các ngư cụ đó có ảnh hưởng đến nguồn lợi như thế nào, có làm cho nguồn lợi ở vùng đánh bắt đó bị suy giảm hay không và đưa ra những biện pháp, những kiến nghị nhằm bảo tồn nguồn lợi thủy sản mà chưa một ai quan tâm đến việc đưa ra các giải pháp để bảo tồn các ngư cụ nội địa mà ông cha ta đã và đang sử dụng nhằm giữ gìn, lưu trữ và bảo tồn nét đẹp văn hóa của nước nhà

Nhờ những nghiên cứu này, mà tôi có thể kế thừa một số kiến thức về các ngư cụ nội địa, cấu tạo, kỹ thuật khai thác, vùng đánh bắt để xem chúng đã và đang hoạt động

ở những vùng nào, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi khảo sát thực tế và đồng thời

Trang 20

giúp tôi có thể hoàn thành đồ án này Qua những nghiên cứu đó, tôi mới thống kê được tất cả các ngư cụ nội địa đã và đang còn hoạt động ở những vùng nước nội địa của Việt Nam, đặc biệc là ở Khánh Hòa Từ đó, ta mới xác định được khu vực để thực hiện nghiên cứu đề tài một cách dễ dàng hơn

1.2 Thực trạng nghề cá nội địa trong nước

Hoạt động khai thác thủy sản ở Việt Nam có thể phân thành khai thác biển và khai thác nội địa Tuy nhiên, vấn đề hiện nay ô nhiễm nguồn nước có liên quan trực tiếp đến nghề cá nội địa

Theo số liệu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (BNN&PTNT), Việt Nam

có khoảng 2.360 con sông, trong đó có 106 sông chính, từ 3 - 5 nghìn hồ chứa các loại, trên 700 loài và phân loài thuỷ sản, cho thấy đây là tiềm năng nguồn lợi thủy sinh nội địa rất phong phú và đa dạng Nghề cá nội địa, nhất là trên các đồng bằng hay xuất hiện

lũ, vùng canh tác lúa ở đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng, là một nguồn quan trọng cung cấp các sản phẩm thủy sản, đem lại dinh dưỡng và thu nhập thời

vụ cho người dân nông thôn [2]

Qua một số nghiên cứu cho thấy, nghề cá nội địa có ý nghĩa quan trọng lớn đối với người nghèo ở nhiều vùng của Việt Nam, không chỉ đối với các ngư dân chuyên nghiệp

mà còn đối với những gia đình lựa chọn việc đánh bắt cá là một phần trong các chiến lược mở rộng sinh kế Mặt khác, nghề cá nội địa cũng đã góp phần tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam

Cũng theo số liệu của Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản, bình quân các bãi đánh bắt khai thác thủy sản nội địa ước tính khai thác được khoảng 200.000 tấn/năm Tuy nhiên, Ủy hội Sông Mekong lại ước tính bình quân sản lượng khai thác thủy sản nội địa

ở các vùng đồng bằng châu thổ của Việt Nam có thể lên đến từ 300.000 đến 900.000 tấn/năm Điều này cho thấy, tiềm năng khai thác thuỷ sản ở Việt Nam còn rất lớn, nhưng hiện nay, sản lượng khai thác thủy sản nội địa lại đang có xu hướng giảm, nhất là ở trên các sông, hồ, đầm phá lớn Nếu như sản lượng khai thác nội địa năm 2001 đạt 243.000 tấn, thì đến năm 2012, con số này chỉ còn 204.000 tấn [2]

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sản lượng thuỷ sản khai thác nội địa có xu hướng ngày càng giảm, như: Sử dụng chất nổ, xung điện, ngư cụ đánh bắt không theo đúng quy định… Nhưng trong đó, nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm nguồn nước, làm cho môi trường thuỷ sinh thay đổi Nhìn chung, hiện tượng ô nhiễm bắt nguồn từ việc sử dụng các hóa chất trong nông nghiệp và các dự án kiểm soát lũ làm mất môi trường sinh sản và sinh trưởng của các loài cá tại địa phương, cá di trú cũng như các loài thủy sinh

Trang 21

khác Những mối đe dọa này đặc biệt nghiêm trọng đối với các hộ nghèo có sinh kế phụ thuộc vào hoạt động đánh bắt thủy sản

1.3 Vài nét chung về đầm Thủy Triều

1.3.1 Vị trí địa lý

Đầm Thủy Triều nằm trên địa bàn huyện Cam Lâm bao gồm các xã Cam Hải Đông, Cam Hải Tây, Cam Hòa, Cam Thành Bắc và thị trấn Cam Đức, cùng với một phần nhỏ thuộc phường Cam Nghĩa của thành phố Cam Ranh Trải dài qua các xã, phường như vậy nên đầm Thủy Triều có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế cũng như đời sống của gần 4.000 hộ gia đình nơi đây Đầm Thủy Triều có chiều dài 15 km, diện tích khoảng 2.500 ha, độ sâu trung bình 1,5 m và lớn nhất 4 m, là quần thể đầm phá đặc trưng của hệ sinh thái vùng đất ngập nước Đầm có nguồn thức ăn phong phú, đa dạng, chế độ thủy văn, thủy triều thuận lợi, tạo điều kiện cho các loài thủy sản sinh sống và phát triển

Hình 1.2: Bản đồ vị trí địa lý của đầm Thủy Triều

(Nguồn: Internet) 1.3.2 Khí hậu

Khí hậu vùng Đầm Thủy Triều là nhiệt đới gió mùa, đặc trung cơ bản là nền nhiệt

độ cao và lượng mưa trung bình thấp nhất tỉnh, gió Tây khô nóng nhưng không kéo dài (dưới 15 ngày/năm), tháng nóng nhất là tháng 5,tháng 6, tháng 7 và tháng 8 Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, các tháng còn lại thì nắng ấm Bão cũng có thể xuất hiện trùng vào các tháng 9, tháng 10 và tháng 11 [15]

Trang 22

1.3.3 Chế độ thủy văn

Thủy triều thiên về nhật triều không đều, trong tháng có từ (16÷22) ngày nhật triều, có 2 lần triều cường và triều kém Thời kì triều kém có thêm một con nước nhỏ Thời gian triều dâng lâu hơn triều rút [15]

1.3.4 Nguồn lợi thủy sản

Trong đầm vẫn tồn tại hơn 100 loài thủy sản khác nhau, trong đó cá chiếm tỷ lệ lớn Các loài thủy sản thường xuất hiện và là nguồn khai thác chính của các hộ dân bao gồm: tôm đất, ghẹ, cá liệt, cá bống, cá đục, Trong mùa mưa bão, sóng gió lớn, một số loài cá sống ở ngoài khu vực đầm đi di cư vào để trú ẩn và tìm kiếm thức ăn làm cho sản lượng đánh bắt và thành phần loài phong phú và đa dạng hơn [15]

Đầm có nhiều hệ sinh thái như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, vùng đáy mềm là nơi

cư trú, kiếm ăn, sinh sản và ương giống của các loài thủy sản Trong đó, có nhiều nhóm thủy sản có giá trị như thân mềm (phi, sò huyết, sò lông), giáp xác (ghẹ xanh, ghẹ ba chấm, cua, tôm đất và tôm bạc), cá (cá bống, cá dìa, cá giò, cá đối, cá lá và cá liệt) Ngoài các đối tượng tôm, cá và động vật thân mềm, rong câu tự nhiên cũng là một nguồn lợi đáng kể của đầm Rong câu được khai thác bằng tay, nên khi mùa vụ đến, những người dân không làm nghề khai thác tôm, cá cũng có thể tham gia hoạt động này Tuy nhiên, nguồn lợi rong câu thường biến động theo thời gian (đặc biệt theo mùa) và không gian

1.3.5 Hệ sinh thái rừng ngập mặn

Các kết quả khảo sát cho thấy rừng ngập mặn tự nhiên trong đầm Thủy Triều hầu như không còn, chỉ còn lại các dải cây ngập mặn nhỏ hẹp phân bố dọc theo đường bờ phía Đông của đầm thuộc xã Cam Hải Đông, hoặc phân bố rải rác trên các bờ ao, đìa nuôi thủy sản ở các xã Cam Hải Đông, Cam Hải Tây và Cam Hòa

Diện tích rừng ngập mặn ở đầm Thủy Triều hiện nay đã bị suy giảm rất nhiều so với trước Nguyên nhân chính làm mất rừng ngập mặn là do tình trạng phá rừng lấy đất làm nhà ở, khu dân cư, đường xá, đặc biệt là phong trào phá rừng ngập mặn ồ ạt để xây dựng các ao đìa nuôi tôm Hiện nay, có một số dải cây Đước hoặc Đưng được trồng phân tán dọc theo bờ đầm và trong ao, đìa bỏ hoang ở vùng đỉnh đầm, thuộc xã Cam Hải Đông và Cam Hòa Tuy nhiên, diện tích rừng trồng còn rất ít ỏi và phân tán

1.3.6 Khai thác thủy sản

Theo số liệu thống kê của Hội nông dân địa phương, vùng đầm thủy triều có 721

hộ làm nghề khai thác thủy sản, trong đó Cam Hải Đông có số hộ khai thác nhiều nhất (180 hộ) tương ứng với số lao động là 470 người Sản lượng khai thác thủy sản của 6

xã, phường ven đầm trong năm 2016 là 2.000 tấn, bao gồm một số loài cá, giáp xác và

Trang 23

động vật thân mềm, trong đó xã Cam Hải Đông có sản lượng cao nhất Ngư cụ khai thác

chủ yếu ở đầm Thủy Triều hiện nay là lờ dây 260 chiếc, lưới các loại 410 chiếc, ngoài

ra còn bắt gặp một số loại ngư cụ khác như te, xiệp, rớ, nò, nhưng số lượng không

đáng kể

1.4 Tổng quan về các loại ngư cụ nghiên cứu

1.4.1 Nghề lưới đáy

Lưới đáy là loại ngư cụ hoạt động theo nguyên lý lọc nước lấy cá Cá được lùa vào

lưới dưới tác dụng của dòng chảy và bị giữ lại ở phần đụt lưới Vùng đánh bắt chủ yếu

của nghề này thường ở những vùng cửa sông, đầm, Gồm có các kiểu lưới đáy sau:

Lưới đáy 2 thân, lưới đáy cọc dài, lưới đáy cọc ngắn, lưới đáy thuyền, lưới đáy tôm,

Khi chưa có sự phát triển của lưới kéo, thì lưới đáy có hình dạng như một cái túi

khổng lồ Cấu tạo gồm thân lưới và đụt lưới

Hình 1.3: Cấu tạo lưới đáy không có cánh lưới

(Nguồn: Internet)

1 Que ngáng 3 Chì

2 Dây neo 4 Phao thùng Khi nghề lưới kéo phát triển, ngư dân đã biết áp dụng vào lưới đáy với việc lắp

phần cánh lưới nhằm hướng cá vào phần thân đồng thời tăng sản lượng đánh bắt Nhìn

tổng thể thì lưới đáy có cấu tạo gần tương tự với lưới kéo Chỉ khác ở tính năng đánh

bắt, lưới đáy thì đánh bắt thụ động ở 1 vị trí nhất định, còn lưới kéo thì có thể di chuyển

Lưới đáy gồm 2 phần chính: Áo lưới và trang thiết bị phụ tùng Phần áo lưới có thể đan

hoặc ghép từ những tấm lưới chuẩn lại với nhau, cơ bản gồm 3 phần chính: Cánh lưới,

Thân lưới, và Đụt lưới Mỗi phần lưới ứng với mỗi nhiệm vụ khác nhau và giống với

lưới kéo

Trang 24

Hình 1.4: Cấu tạo lưới đáy khi lắp cánh lưới

(Nguồn: Internet)

1 Dây thắt đụt 3 Cọc cắm

2 Thân lưới 4 Dây neo Phần cánh lưới là phần hướng cá vào trong thân lưới, chiều dài cánh thường dài từ (5÷7)m Phần thân lưới là phần giữ, lùa và hướng cá vào đụt Do đánh bắt thụ động và phụ thuộc vào tốc độ dòng chảy, nên chiều dài thân được yêu cầu phải đảm bảo cá ít có khả năng vượt thoát ngược trở lại ra miệng lưới đáy Do vậy người ta thiết kế thân lưới đáy có chiều dài chiếm tỷ lệ khá lớn so với chiều dài vàng lưới, thường gần một nữa chiều dài vàng lưới đáy Tùy vào các loại đáy mà có nhiều thân hay ít thân Ứng với mỗi thân là kích thước mắt lưới khác nhau và giảm dần tới đụt lưới 2a = (15÷20)mm, nhằm làm giảm lực cản cho lưới và tiết kiệm nguyên vật liệu, nhưng cũng không được lớn hơn diện tích mặt cắt ngang của cá Độ thô chỉ lưới của cánh lưới và thân lưới hầu như gần giống nhau Còn phần đụt lưới là bộ phận giữ và gom cá với kích thước mắt lưới nhỏ, phần lớn để cho cá không thể thoát ra khỏi lưới Thực tế người ta nhận thấy rằng một đối tượng đánh bắt nào đó (cá, tôm, ) một khi đã vào đến phần đụt thì có xu hướng tìm cách thoát ra mạnh nhất, do vậy yêu cầu khi chọn kích thước mắt lưới đụt phải đảm bảo sao cho cá không thể chui ra khỏi mắt lưới và cũng không được đóng dính vào mắt lưới Ngoài ra, lưới đáy còn được trang bị các trang thiết bị phụ tùng nhằm để hổ trợ cho lưới như phao, chì, giềng phao, giềng chì, dây neo, cọc cắm, Phao, chì có nhiệm

vụ giúp cho miệng lưới đáy có độ mở nhất định Giềng phao và giềng chì được làm từ Nylon Chiều dài giềng phao và giềng chì của lưới đáy bằng nhau Giềng nên chọn có

độ bền nhất định vì nếu độ bền không đủ sẽ dẫn đến đứt và rách lưới Dây neo thường

Trang 25

được làm bằng dây tổng hợp (nilon, polyethylene, ) Yêu cầu đối với dây neo là phải chịu được kéo căng khi nước tác dụng lên lưới Dây neo được thả phía trước miệng lưới đáy và nên thả đủ dài để tránh tình trạng rê neo (cày neo) Dây neo được cắm ngược chiều với dòng chảy để cọc cắm có thể đứng chắc khi dòng chảy mạnh

Đối với cọc cắm là những công cụ cần thiết để ổn định vị trí và hình dạng của miệng lưới đáy Tùy theo khu vực, độ sâu, tốc độ dòng chảy mà người ta lắp lưới đáy vào cọc hoặc neo hoặc bè Do đó mà lưới đáy được gọi theo nhiều tên gọi khác nhau: Lưới đáy cọc, lưới đáy neo, lưới đáy bè Vật liệu được là những cây gỗ thẳng, dài (thường bằng gỗ dừa, cau, bạch đàn, ) có độ dẽo cao và chịu được nước Chiều cao cọc phải đủ cao sao cho có thể cắm vững chắc sâu xuống nền đáy và ló lên khỏi mắt nước khi triều cường cao nhất

Tuy lưới đáy ở mỗi nơi có những tên gọi khác nhau, nhưng nhìn chung các ngư dân đều có cách đánh bắt gần giống nhau Đối với lưới đáy cọc, trước khi đánh bắt mọi ngư dân đều kiểm tra lưới, vá các chổ lưới bị rách, thay thế các bộ phận bị hư hỏng nặng

và kém an toàn Đồng thời kiểm tra các cọc đáy xem có bị mục, gãy, hoặc dây cáp căng cọc bị đứt hay không để kịp thơi sửa chữa Sau đó chuyển lưới đến điểm thả đáy Khi lưới đã được chuyển đến điểm thả đáy, thì buộc thuyền vào cọc đáy, tiếp đến đưa hai đầu cánh (2 cặp điêu) về hai bên cọc rồi liên kết với nài

Chờ khi nước hạ thấp, dòng chảy vừa đủ để cho lưới trôi về phía sau thì tiến hành tháo tay quay tời (thả mép sắt), ấn nhẹ cây chui, điêu lưới sẽ tự động tuột theo cọc xuống đến độ sâu đã định Khi đó, dưới tác dụng của dòng chảy, miệng lưới từ từ mở ra, kéo theo lưới (đã được dắt trên rượng trước đó) sẽ lần lượt tuột xuống nước và trôi dần về phía sau Khi lưới đã làm việc ổn định, ta thắt đáy đụt lại, rồi buộc dây đổ đụt vào rượng Tiếp đến là thời gian chải đáy, thời gian chải đáy tùy thuộc vào chu kỳ thay đổi chiều dòng chảy, tốc độ dòng chảy và mật độ cá vào đáy, mà có thời gian chải đáy khác nhau

Sau thời gian chải đáy nhất định nào đó, thì ta tiến hành đổ đụt Trước hết ta dùng ghe lần theo dây đổ đụt (dây thắt đáy đụt), dùng dây này kéo đụt lên thuyền Tiếp đó tháo miệng đụt (hoặc mở miệng rọ) rồi trút cá ra Sau cùng chuyển lưới vào bờ là hết một con nước khai thác lưới đáy

1.4.2 Nghề lưới rê

Lưới rê là loại ngư cụ đánh bắt theo nguyên lý đóng, chặn ngang đường di chuyển của cá, cá mắc lại vào lưới Đối tượng đánh bắt của nghề này rất đa dạng và phong phú, gồm các đàn cá sống ở các tầng nước khác nhau, thậm chí cả các loài nhuyễn thể, giáp

Trang 26

xác di chuyển qua vùng đánh bắt thì đều bị giữ lại Thông thường nghề này, ngư dân họ đánh bắt quanh năm

Quá trình hình thành và phát triển nghề khai thác cá bằng lưới rê đã tạo ra nhiều loại lưới có đặc trưng khác nhau về cấu tạo, phương thức hoạt động, đối tượng đánh bắt, kích cỡ cá khai thác và vật liệu chế tạo lưới, v.v… Vì vậy, cần phải tiến hành phân loại ngư cụ theo những dấu hiệu đặc trưng làm cơ sở cho việc nghiên cứu tính toán thiết kế, trao đổi thông tin, chuyển giao công nghệ, hoàn thiện cấu trúc và kỹ thuật khai thác Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại lưới rê, thông thường có những loại như: Lưới rê cố định, lưới rê trôi, lưới rê ba lớp, lưới rê túi, lưới rê ghẹ, Nhưng loại lưới Rê thông dụng nhất hiện nay là lưới Rê đơn và lưới Rê ba lớp

Đối với lưới Rê đơn là loại lưới có cấu tạo đơn giản nhất, gồm những tấm lưới đồng loại hình chữ nhật cùng kích thước mắt lưới và độ thô chỉ lưới được lắp ghép trên khung dây giềng, giềng trên lắp phao, giềng dưới lắp chì hoặc không lắp chì

Chiều dài mỗi tấm thường L = (40  80)m Với chiều dài này thuận tiện trong thi công lắp ráp, khai thác, sửa chữa và bảo quản lưới Các tấm lưới được liên kết bằng dây giáp (dây dé) với nhau tạo thành vàng lưới Chiều dài mỗi vàng lưới phụ thuộc vào trình

độ cơ giới tàu thuyền, độ rộng ngư trường và nhân lực Chiều cao lưới phụ thuộc độ sâu ngư trường và đối tượng

Lưới rê đánh bắt theo nguyên lý đóng nên kích thước mắt lưới phải phù hợp với đối tượng đánh bắt Nó quyết định đến hiệu quả đánh bắt của lưới Chỉ lưới phải đủ bền khi cá mắc lưới ngoài ra nó phải mãnh và mềm mại để cá dễ mắc lưới Ngày nay các loại sợi, chỉ tổng hợp như PA, PE, PVD đáp ứng đủ yêu cầu trên Việc nhuộm màu sắc chỉ lưới ngoài nhiệm vụ để chống mục rã của sợi nó còn là yếu tố quyết định đến hiệu quả đánh bắt vì qua tập tính đối tượng càng khó phát hiện lưới càng dễ mắc lưới

Hệ thống dây giềng bao gồm giềng phao, giềng chì, giềng biên ngoài ra còn có giềng dắt và giềng phụ Giềng phao, giềng chì gồm 2 sợi (giềng băng và giềng luồn) Khi lắp ráp dây giềng có thể lắp trực tiếp hoặc thông qua phân tổ Nếu là dây xe xoắn phải lắp 2 dây ngược chiều xoắn để chống xe giềng khi dòng chảy mạnh

Phụ tùng bao gồm phao, chì Phao, chì của lưới rê có các loại sau: Phao con được buộc trực tiếp vào giềng phao Phao ganh dùng để khống chế độ sâu làm việc của lưới

hoặc tăng lực nổi dự trử Thường buộc nổi qua dây phao ganh Ngày nay người ta có xu

hướng chế tạo giềng nỗi đóng vai trò của phao để dễ cơ khí hóa Chì: Pb, đất nung, kim

loại, chủ yếu dạng hình trụ, hình ống

Đối với lưới Rê ba lớp có cấu tạo gồm 3 tấm lưới rê đơn có kích thước mắt lưới, đường kính chỉ lưới, hệ số rút gọn khác nhau được lắp chung nhau trên cùng hệ thống

Trang 27

khung dây giềng Rê ba lớp được sử dụng phổ biến ở Việt Nam Hai lớp ngoài có kích thước mắt lưới lớn, lớp ở giữa có kích thước mắt lưới nhỏ và lắp chùng so với hai lớp bên ngoài Với kết cấu như vậy lưới rê ba lớp cho phép nhiều loại đối tượng dễ dàng đi qua lớp lưới có kích thước mắt lưới lớn và bị lớp lưới có kích thước mắt lưới nhỏ, luồn sang lớp lưới ngoài đối diện tạo thành túi và giữ chặt lấy cá Vì vậy, cá đóng lưới rê ba lớp khó thoát ra ngoài hơn lưới rê đơn

Hình 1.5: Lưới rê 3 lớp [17]

Chiều dài lưới rê không nhất thiết là phải dài bao nhiêu thì vừa, chiều dài lưới rê phụ thuộc vào mức rộng lớn của khu vực khai thác, thủy vực càng rộng thì cho phép sử dụng lưới càng dài Chiều cao lưới rê phụ thuộc vào độ sâu ngư trường khai thác và tầng nước mà đối tượng khai thác thường hoạt động

Màu sắc chỉ lưới thường phù hợp với màu nước của vùng đánh bắt, để cho cá không phát hiện, dễ đóng vào lưới hơn

Hệ thống dây cơ bản của lưới rê 3 lớp là giềng phao và giềng chì chúng liên kết với nền lưới, chịu tải trọng chính của toàn bộ lưới và giúp lưới ổn định hình dạng khi làm việc Giềng phao và giềng chì ở lưới rê gồm hai dây có đường kính như nhau và có chiều xoắn ngược nhau để tránh hiện tượng lưới xoắn vào dây giềng trong quá trình làm việc Phao, chì của lưới giúp cho lưới có lực nổi và lực chìm để lưới có hình dạng như một tường lưới khi làm việc trong nước

Cần phải xác định được dòng chảy để đặt lưới Khi thả lưới phải theo hướng sao cho thuyền luôn luôn ở dưới hướng gió so với lưới, để mạn thuyền không đè lên lưới, tránh sự cố lưới bị quấn vào chân vịt Cho thuyền chạy chậm, thả phao tiêu đầu lưới (hoặc phao đèn) và đá dằn đầu lưới Thả lưới theo thứ tự đã sắp xếp, thả đến khi hết lưới Sau khi thả lưới xong là thời gian ngâm lưới, lưới thường được ngư dân ngâm trong khoảng 2 - 4 giờ sau đó thu lưới lên để đánh tiếp mẻ khác (không nên ngâm lưới lâu hơn thời gian quy định để tránh cho sản phẩm dễ bị ươn thối và có thể điều chỉnh quá trình hoạt động của lưới)

Trang 28

Phát tín hiệu cho các tàu đánh cá khác (đặc biệt là tàu lưới giã tôm, giã cá) phải tránh sang hướng khác, nếu phát hiện những tàu có xu hướng dắt lưới cắt ngang đường lưới rê hoặc tiến hành các hoạt động đánh bắt trong vùng làm việc của đường lưới rê Sau thời gian ngâm lưới, tiến hành thu lưới theo trình tự: Thu lưới từ phía đầu lưới dưới hướng gió, để tránh thuyền trôi đè lên lưới, gây khó khăn khi thao tác Gỡ xong sản phẩm (mực, cá) phải gỡ hết các túi lưới bị xoắn, sau đó, gỡ thật sạch các loại rác, cua, ốc gai còn vướng trên lưới Thu lưới đến đâu phải xếp ngay ngắn giềng phao, giềng chì và thịt lưới vào vị trí đặt lưới đến đấy Tránh dẫm đạp nhiều lần lên lưới sẽ làm rối lưới và gây khó khăn cho lần thả lưới sau

1.4.3 Nghề lưới chặn

Lưới chặn là dải lưới hình chữ nhật, hoặc dùng các loại mành, tre, nứa chặn lại Với chiều dài tùy thuộc vào điều kiện kinh tế hoặc diện tích của vùng đánh bắt, chiều cao lưới từ (3÷4)m Vật liệu của lưới thường là lưới mùng, có kích thước mắt lưới rất nhỏ để tránh cá thoát ra ngoài

Lưới được giăng dài theo bờ, có kết cấu như một tường lưới nhờ những cọc cắm được làm bằng tre, nứa, hoặc những cành cây gỗ dài chắc chắn

Nghề lưới chặn đánh bắt phụ thuộc vào thủy triều Thường vào tháng 6 đến tháng

10 (âm lịch) là mùa đánh bắt của nghề này, các tháng còn lại tôm cá không nhiều nên ít người kéo lưới

Việc thả lưới được tiến hành khi thủy triều xuống, là thời điểm của những người làm nghề lưới chặn bắt đầu công việc Một đầu lưới được nhận dưới bùn sâu khoảng 20-

30 cm, đầu còn lại chỉ cần dùng chân đạp sơ qua để tránh gây khó khăn cho công đoạn kéo lưới Việc nhận lưới này là một khâu khá quan trọng, phải nhận cho kỹ và khéo như vậy mới bắt được cá nếu không cá sẽ dễ thoát ra ngoài

Sau khi hoàn tất việc nhận lưới, là thời gian ngâm lưới, đến khi nào thủy triều lên

và dòng nước đứng yên, không chảy nữa) Đây chính là lúc kéo lưới

Một ngày con nước lên xuống tới 2 lần, trong khi đó cá, tôm thì hoạt động chủ yếu vào ban đêm nên đa phần những người làm nghề này không kéo lưới vào ban ngày mà chỉ kéo vào ban đêm Công đoạn kéo lưới mất hàng giờ đồng hồ, lưới kéo lên sẽ cột vào những cây sào được cắm thành hàng giúp cho lưới thẳng và không bị tuột, khi đó cá, tôm,… sẽ không thể thoát ra ngoài được

Trang 29

Hình 1.6: Người ngư dân kéo lưới khi thủy triều rút

(Nguồn: Internet)

Cuối cùng là công đoạn bắt cá Công đoạn này rất vất vả do lưới nằm trên bãi bùn nên khó khăn trong việc di chuyển Một tay giũ tấm lưới, tay còn lại thì bắt cá nếu cá nhiều có thể dùng vợt để vớt cá lên Giũ tới đâu nhận lưới tới đó Khi thu cá xong, người ngư dân sẽ thu lưới đồng thời thu những cọc cắm mang về

Ngày đăng: 17/02/2021, 11:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Quang Anh (2008), “Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống tại huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa”, Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống tại huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Lê Quang Anh
Năm: 2008
2. Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam (20/02/2013), Ngành thủy sản nội địa và vấn đề đặt ra, truy cập ngày 12/05/2019, tại trang web http://dangcongsan.vn/kinh-te/nganh-thuy-san-noi-dia-va-van-de-dat-ra-171662.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thủy sản nội địa và vấn đề đặt ra
3. Đặng Văn Cường (2008), “Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên”, Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên
Tác giả: Đặng Văn Cường
Năm: 2008
4. Nguyễn Duy Chỉnh, “Ngư cụ khai thác cá nước ngọt” - NXB Nông Nghiệp - 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngư cụ khai thác cá nước ngọt"”
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp - 1982
5. Nguyễn Duy Chỉnh, Trần Đức Phúc, “Phương pháp liên hợp Khai thác cá ở hồ chứa” - NXB Nông nghiệp - 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp liên hợp Khai thác cá ở hồ chứa”
Nhà XB: NXB Nông nghiệp - 1979
6. Nguyễn Nguyễn Du, Claire Smallwood, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Xuân Trinh, Nguyễn Trọng Tính, Bộ sưu tập ngư cụ nội địa vùng đồng bằng sông Cửu Long, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II - 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ sưu tập ngư cụ nội địa vùng đồng bằng sông Cửu Long
9. Võ Giang (2007), “Nghiên cứu tính chọn lọc của nghề lưới đáy khai thác tại cửa biển Thuận An, tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp quản lý”, Luận văn Thạc sĩ ngành Kỹ thuật Khai thác Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính chọn lọc của nghề lưới đáy khai thác tại cửa biển Thuận An, tỉnh Thừa Thiên Huế và đề xuất giải pháp quản lý
Tác giả: Võ Giang
Năm: 2007
11. Trần Huy (2013), “Giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở Đầm Nha Phu”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở Đầm Nha Phu
Tác giả: Trần Huy
Năm: 2013
12. Diên Khánh, Nhọc nhằn mưu sinh ở đáy đầm Thủy Triều, truy cập ngày 15/5/2019, tại trang web https://baomoi.com/nhoc-nhan-muu-sinh-o-day-dam-thuy-trieu/c/21370463.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhọc nhằn mưu sinh ở đáy đầm Thủy Triều
13. Phan Đức Ngại, Võ Sĩ Tuân, Nguyễn Văn Long (2016), “Đặc trưng khai thác động vật đáy có giá trị kinh tế chủ yếu đầm Thủy Triều, Khánh Hòa”, Tạp chí khoa học và Công nghệ biển, tập 16, số 4, trang 445-454 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng khai thác động vật đáy có giá trị kinh tế chủ yếu đầm Thủy Triều, Khánh Hòa"”, "Tạp chí khoa học và Công nghệ biển
Tác giả: Phan Đức Ngại, Võ Sĩ Tuân, Nguyễn Văn Long
Năm: 2016
14. Nguyễn Như Sơn (2007), “Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống trong các vùng nước ngọt, lợ của tỉnh Quảng Nam”, Đồ án tốt nghiệp ngành Khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra các dụng cụ khai thác cá truyền thống trong các vùng nước ngọt, lợ của tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Như Sơn
Năm: 2007
15. Lê Văn Tám và Trần Văn Việt (2014), “Đánh giá tình trạng khai tác ruốc bằng nghề lưới đáy ở vùng ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 33, trang 116-121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tình trạng khai tác ruốc bằng nghề lưới đáy ở vùng ven biển Đồng bằng Sông Cửu Long"”, "Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ
Tác giả: Lê Văn Tám và Trần Văn Việt
Năm: 2014
16. Đặng Ngọc Tính (2016), “Giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều tỉnh Khánh Hòa”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Thủy Triều tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Đặng Ngọc Tính
Năm: 2016
19. Lê Văn Thiên (2008), “Điều tra các dụng cụ khai thác thủy sản trong thủy vực sông Cái và sông Tắc” Đồ án Tốt nghiệp chuyên ngành Khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra các dụng cụ khai thác thủy sản trong thủy vực sông Cái và sông Tắc
Tác giả: Lê Văn Thiên
Năm: 2008
20. Phan Đức Thịnh (2008), “Điều tra ngư cụ nghề cá nội địa huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên”, Đồ án tốt nghiệp ngành Khai thác thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ngư cụ nghề cá nội địa huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên
Tác giả: Phan Đức Thịnh
Năm: 2008
21. Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Nhật Như Thủy (2013), “Hiện trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản tại đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa”, Tạp chí khoa học và Công nghệ biển, tập 13, số 4, trang 397-405 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng nuôi trồng và khai thác thủy sản tại đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa"”, "Tạp chí khoa học và Công nghệ biển
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Nhật Như Thủy
Năm: 2013
22. Phạm Văn Thương, Lê Tân Phú (2008), Đa dạng sinh học ở các thủy vực nước ngọt nội địa và phương hướng khai thác, Tiểu luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học ở các thủy vực nước ngọt nội địa và phương hướng khai thác
Tác giả: Phạm Văn Thương, Lê Tân Phú
Năm: 2008
23. Hồ Mạnh Tuấn (2007), “Điều tra các dụng cụ khai thác thủy sản trong các vùng nước ngọt, lợ của tỉnh Phú Yên”, Đồ án tốt nghiệp chuyên ngành Công nghệ khai thác thủy sản, Trường đại học Nha Trang.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra các dụng cụ khai thác thủy sản trong các vùng nước ngọt, lợ của tỉnh Phú Yên
Tác giả: Hồ Mạnh Tuấn
Năm: 2007
24. Broadhurst, Larsen, Kennelly & McShane (1999), Use and success of composite square -mesh codens in reducing by catch and in improving size - selectivity of prawns in Gulf St.Vincent, South Australia. Fish. Bull, 97(3): 434-448 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use and success of composite square -mesh codens in reducing by catch and in improving size - selectivity of prawns in Gulf St.Vincent, South Australia. Fish. Bull
Tác giả: Broadhurst, Larsen, Kennelly & McShane
Năm: 1999
25. Madsen & Holst (2002), Escape windows to improve the size selectivity in the Baltic cod trawl fishery. Fish. Res, 57: 223-235 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Escape windows to improve the size selectivity in the Baltic cod trawl fishery. Fish. Res
Tác giả: Madsen & Holst
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w