1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những vấn đề cơ bản của các lý thuyết kinh tế đinh sơn hùng, trương thị hiền

212 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 212
Dung lượng 7,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói rằng giá trị là một trong những phạm trù cơ bản của lý luận kinh tế.Những tư tưởng chủ yếu của các nhà kinh tế học kiệt xuât về vân đề này có thể được trình bày khái quát theo

Trang 1

TS Đ IN H SƠN H Ù N G - TS TRƯ ƠNG T H Ị H IỂ N

Trang 2

Những vấn đề cơ bản của các

LÝ THUYẾT KINH TẾ

Trang 3

NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HƠP TP Hồ CHÍ MINH HOAN NGHÊNH BẠN ĐỌC GÓP Ý PHÊ BÌNH

Trang 5

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TỂ

LỜI GIỚI THIỆU

Cứ mỗi lần khủng hoảng kinh tế, có nhiều người xem xét lại giá trị các lý thuyết kinh tế Cuộc khủng hoảng kinh

tê toàn cầu lần này, người ta đã phê phán lý thuyết kính tế

tự do mới và tìm đọc lại lý thuyết kinh tế của C.Mác Nhu cầu nhận thức xu hướng phát triển kinh tế trong thời đại hiện nay, ngoài các nguồn thông tin cần thiết ra

còn cần phải nhìn lại lịch sử phát triển kinh tế Nhu cầu

này không chỉ đối với các chuyên gia kinh tế, mà,rất cần đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh' viên thuộc

lĩnh vực kinh tế Đáp ứng nhu cầu ấy, cuốn “Những vấn đề

cơ bản của các Lý thuyết kinh t ế ” của Tiến sĩ Đinh Sơn

Hùng và Tiến sĩ Trương Thị Hiền là tài liệu tham khảo bổ ích Đây là cuốn sách được viết dưới dạng chuyên đề lý thuyết kinh tế theo tiến trình lịch sử kinh tế.

Theo kinh nghiệm các chuyên gia, muốn “tiêu hóa” được

các vấn đề cơ bản của các lý thuyết kinh tế, cần có Phương pháp luận khoa học Theo đó, quá trình phát triển kinh tế thị trường phải được coi là “quá trình lịch sử - tự nhiên ”,

trong đó cỏ tác động quy luật kinh tế khách quan với tác động chủ quan của con người Do đó, sự phát triển kinh tế

là kết quả tác động tổng hợp của quy luật kinh tế với vai trò Nhà nước, là kết quả của mối liên hệ giữa lý thuyết kinh tế với chính sách kinh tế.

Trang 6

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

Với phương pháp luận đúng không những có thể tiếp nhận những tri thức đã trình bày, mà còn có thể phát hiện những hạn chế và thiếu sót của cuốn sách đ ể góp phần hoàn thiện hơn.

Hà Nội, ngày 13 tháng 6 năm 2009

GS TS Trần Ngọc Hiên

Trang 7

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

LỜI NÓI ĐẦU

Việc biên soạn cuốn sách này nhằm những mục đích chính sau đây:

- Cung cấp cho người đọc những hiểu biết cơ bản về các

lý thuyết kinh tế đã và đang tồn tại trong lịch sử, qua đó thấy được sự phát triển của khoa học kinh tế và trạng bị những kiến thức làm cơ sở đi sâu nghiên cứu các môn khoa học về kinh tế thị trường.

- Đáp ứng yêu cầu về tài liệu học tập môn Kinh tế chính trị và Lịch sử các học thuyết kinh tế của cao học và nghiên cứu sinh khoa học kinh tế.

- Là tài liệu bổ ích và cần thiết cho sinh viên khi học môn Kinh tế chính trị và môn Lịch sử các học thuyết kinh tế.

Vì thời gian, tài liệu có hạn, do đó cuốn sách có thể còn

có những hạn chế và thiếu sót Rất mong nhận được sự góp

ý của bạn đọc.

CÁC TẤC GIẢ

Trang 8

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

MỤC LỤC

Lời giới thiệu của GS TS Trần Ngọc Hiên 5

Lời nói đ ầ u 7

I Những lý luận về giá t r ị 9

II Những lý luận về thu nhập: tiền lương, lợi nhuận, địa tô, lợi tức 28

III Những lý luận về tiền t ệ 54

IV Những luận điểm chính trong lý thuyết kinh tế của John Maynar Keynes và phái K eynes 82

V Những lý thuyết về tái sản xuất, tăng trưởng và phát triển kinh t ế 102

VI Thị trường và vai trò của nhà nước 135

VII Một sô' trường phái kinh tế cơ b ả n 195

Tài liệu tham khảo c h ín h 210

Trang 9

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

I NHỮNG LÝ LUẬN VE GIÁ TRỊ

ít có ai trong học thuyết kinh tế của mình lại không đề cập đên phạm trù giá trị của vật phẩm Có thể nói rằng giá trị là một trong những phạm trù cơ bản của lý luận kinh tế.Những tư tưởng chủ yếu của các nhà kinh tế học kiệt xuât về vân đề này có thể được trình bày khái quát theo thứ tự thời gian như sau:

L Thời Cổ đại với đại biểu xuất sắc là Aristote (384-322 trước Công nguyên) đã phân biệt giá trị sử dụng và giá trị trao đổi của vật phẩm Ông cũng thấy được sự bằng nhau trong trao đổi hàng hóa Ông nói rằng mặc dù trên quan điểm giá trị sử dụng thì các hàng hóa khác nhau, nhưng muôn thực hiện trao đổi thì phải có cái gì đó bằng nhau, cùng loại với nhau và ông cho rằng đó là tiền tệ

2 Thời Trung cổ, đại biểu là Saint Thomas d’Aquin (1225-1274) Trong thời kỳ này thuyết “Giá cả công bằng” chiếm vị trí đặc biệt trong các quan điểm kinh tế Thuyết này có hai điểm cần lưu ý:

- Khi nói “Giá cả công bằng” là có ý nói giá cả trung bình phù hợp với hao phí lao động Khi giải quyết vấn đề, cái gì làm cơ sở cho giá cả công bằng?, Thomas d’Aquin lấy sự hao phí lao động làm cơ sở của giá cả Có lẽ ông là người đầu tiên nêu lên khái niệm giá trị lao động

- “Giá cả công bằng” được giải thích một cách chủ quan căn cứ vào lợi ích của mỗi đẳng cấp Ớ đây họ muốn chứng minh tính hợp pháp của hiện tượng: một hàng hóa như nhau được trả bằng một số lượng tiền khác nhau "

Trang 10

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

- Giá trị là hình thái lao động xã hội

- Giá trị trao đổi là cái biểu hiện ra trong quá trình trao đổi, tức tiền tệ Và lao động cụ thể nhất định (khai thác bạc) là nguồn gốc của giá trị tự nhiên

3.2 Ông nghiên cứu vấn đề giá cả và phân chia giá cả

làm hai loại:

- Giá cả chính trị (tức giá cả thị trường)

- Giá cả tự nhiên (giá trị)

Theo ông, giá cả chính trị phụ thuộc nhiều vào tình trạng ngẫu nhiên, do đó khó xác định Còn giá cả tự nhiên

do thời gian hao phí lao động quyết định và năng suât lao động có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với sự hao phí đó

3.3 Ông nói, lao động là cha, đất là mẹ của của cải vật

chât Và ông xác định lượng giá trị của hàng hóa bằng hai nhân tố: lao động và tự nhiên

3.4 Theo ông giá trị có thể biểu hiện dưới hình thức

khẩu phần thực phẩm, tức là quy giá cả tự nhiên vào một mức tiền lương nhất định

Trang 11

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

Tóm lại, theo w Petty giá trị của hàng hóa không chỉ

do lao động mà còn do tự nhiên, tiền lương quyết định

4 Francois Quesnay (1694-1774), ông cho rằng:

4.1 Sự mua bán phải được cân bằng ở hai bên, “hành

động chung giữa hai bên” chỉ là trao đổi giá trị với giá trị ngang giá, những giá trị đó đã tồn tại trước khi có trao đổi

và trao đổi không làm cho tài sản tăng lên Nghĩa là giá trị chỉ được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất chứ không được tạo

ra trong lĩnh vực lưu thông

4.2 Có hai nguyên tắc hình thành giá trị tương ứng vổi

hai lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp

Trong lĩnh vực công nghiệp, giá trị hàng hóa bằng tổng chi phí sản xuất, bao gồm chi phí về nguyên liệu, tiền lương công nhân, tiền lương nhà tư bản công nghiệp và chi phí đài thọ cho tư bản thương nghiệp Do đó nếu hạ thấp chi phí sản xuất thì giá cả hàng hóa sẽ giảm xuống Và công nghiệp

là lĩnh vực không tạo ra sản phẩm thuần túy

Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, giá trị hàng hóa bằng tổng chi phí như trên cộng với sản phẩm thuần túy Như vậy sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong nông nghiệp, nông nghiệp mới tạo ra chât mới Bởi vậy, việc hạ thấp chi phí sản xuất nông phẩm không làm giảm giá trị của nông phẩm, mà chỉ làm tăng địa tô

5 Anne Bobert Jacques Turgor (1727-1771)

Ông là một trong những người đầu tiên bênh vực cho

lý luận chủ quan về giá trị Theo ông phải phân biệt hai loại giá trị: giá trị chủ quan (nghĩa là một người nào đó

Trang 12

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

đánh giá một vật phẩm nào đó) và giá trị khách quan, tức ý nghĩa khách quan của vật phẩm: nó được đánh giá ở trên thị trường (giá trị trao đổi) Turgor cho rằng giá trị trao đổi phụ thuộc vào giá trị chủ quan Nghĩa là giá trị không phải do lao động quyết định mà do sự ích lợi của vật phẩm quyết định

6 Adam Smith (1723-1790)

So với w Petty và phái trọng nông thì lý thuyết giá trị

- lao động của A Smith có những bước tiến đáng kể Lý luận giá trị của ông có những luận điểm cơ bản sau:

6.1 Ông phân biệt rõ ràng khái niệm giá trị sử dụng

và giá trị trao đổi Ông khẳng định, giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi và bác bỏ lý luận về sự ích lợi được phổ biến rộng rãi trong thế kỷ 18

6.2 Ông chỉ ra rằng, tất cả các loại lao động sản xuât

đều tạo ra giá trị và lao động là thước đo cuối cùng của giá trị

Khi phân tích giá trị hàng hóa, ông còn cho rằng trong kinh tế hàng hóa giản đơn giá trị được biểu hiện ở giá trị trao đổi của hàng hóa, trong quan hệ số lượng với hàng hóa khác, còn trong nền sản xuất hàng hóa phát triển nó được biểu hiện ở tiền Ông chỉ ra lượng giá trị hàng hóa là do hao phí lao động trung bình cần thiết quyết định và trong cùng một thời gian, lao động phức tạp sẽ tạo ra được một lượng giá trị nhiều hơn lao động giản đơn

6.3 Ông nêu lên hai định nghĩa về giá trị: thứ nhất, giá

trị do lao động hao phí đ ể sản xuất ra hàng hóa quyết định Lao động là thước đo thực tế của mọi giá trị; thứ hai, giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được bằng hàng

Trang 13

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

hóa này quyêt định Từ định nghĩa này ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế hàng hóa giản đơn Còn trong nền kinh tế thị trường, giá trị do các nguồn thu nhập tạo thành, nó bằng tổng của ba yếu tô": tiền lương, lợi nhuận và địa tô

Ông cho rằng tiền lương là thước đo lý tưởng của giá trị

Để chông lại những khả năng lên xuống của tiền lương, Smith nêu lên sự giải thích về mặt tâm lý: có thể nói rằng bât cứ ở dâu 'và lúc nào cũng vậy, đối với công nhân thì sô" lượng lao động như nhau có giá trị như nhau

Xuất phát từ đó, một sô" học giả cho Smith là người sáng lập ra phương pháp chủ quan về lý luận giá trị, xem luận đề của Smith gần giống như lý luận của trường phái Áo

7 David Ricardo (1772-1823)

Nếu như A Smith sô"ng trong thời kỳ công trường thủ công phát triển mạnh mẽ thì D Ricardo sô"ng trong thời kỳ cách mạng công nghiệp Lý luận giá trị của ông gồm những luận điểm sau đây:

7.1 Ông trình bày lý luận giá trị bắt đầu từ sự phê

phán A Smith, ông chỉ rõ rằng cần vứt bỏ định nghĩa thứ hai của Smith về giá trị, là định nghĩa không đúng, và trong khi quy định giá trị chỉ cần căn cứ vào định nghĩa thứ nhâ"t.7.2 A Smith cho rằng giá trị được phân chia ra thành các nguồn thu nhập và giá trị do các nguồn thu nhập quyết định Phê phán nguyên lý đó của Smith, Ricardo nói, giá trị không phụ thuộc vào tiền lương, khi tăng lương thì giá

Trang 14

TS Đỉnh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

tri không tăng mà chỉ giảm bớt lợi nhuận thôi Nhưng sau này khi tiếp tục vấn đề thì Ricardo lại kết luận, sự lên xuống của tiền lương ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa

7.3 A Smith chỉ ra rằng trong xã hội nguyên thủy, giá

trị mới do lao động quyết định, còn trong xã hội TBCN, giá trị do các nguồn thu nhập quyết định Ricardo nói rằng không những trong kinh tế hàng hóa giản đơn mà cả trong xã hội TBCN giá trị cũng do lao động quyết định

7.4 về cơ cấu giá trị, khi xác định giá trị hàng hóa, Ricardo không những tính đến lao động hiện tại, mà còn tính đến lao động quá khứ chi phí vào nguyên liệu, máy móc chứ không loại c ra khỏi giá trị hàng hóa như A Smith đã làm Tuy nhiên ông chưa phân tích sự chuyển dịch

c vào sản phẩm mổi diễn ra như thế nào

7.5 Ông có ý định nêu lên lao động giản đơn và lao

động phức tạp, quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn

Ngoài ra, ông cũng nói đến lao động cần thiết quyết định giá trị và ông cho rằng hao phí lao động trong “điều kiện xấu nhất” là lao động xã hội cần thiết

7.6 Ông cho giá trị là một phạm trù vĩnh viễn, là thuộc

tính của mọi vật, ngay cả những vật không dùng để bán Vì vậy theo ông thì không có mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị

sử dụng

7.7 Ông chủ yếu phân tích tỷ lệ số lượng của các giá trị trao đổi và phân biệt giá trị thực tế (giá trị vốn có của hàng hóa) với giá trị tương đối (giá trị trao đổi) Và theo ông có hai nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị:

Trang 15

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYỀT KỈNH TẾ

- Đối với hàng hóa khan hiếm thì không phải lao động

quyết định giá trị, giá cả hàng hóa, mà chính bản thân giá trị sử dụng quyết định giá cả hàng hóa

- Đốì với những hàng hóa phổ cập thì giá trị do lao động quyết định

Vậy theo ông, giá trị do hai nhân tô" quyết định: lao động là nhân tô" chủ yếu và quyết định, nhưng sự khan hiếm cũng ảnh hưởng đến giá trị hàng hóa

7.8 Ricardo còn cho rằng lượng giá trị không chỉ do lao động quyết định mà còn do phạm vi và thời gian lưu thông của tư bản quyết định, theo ông thời gian chu chuyển của tư bản là nhân tô" quyết định giá trị của hàng hóa Và tốc độ chu chuyển của tư bản như nhau, thì giá trị sẽ tỷ lệ thuận với chi phí lao động

Tóm lại, D Ricardo cho rằng giá trị do lao động, tiền lương, sự khan hiếm và thời gian chu chuyển của tư bản quyết định Do vậy K Marx thì cho rằng Ricardo là nhà lý luận giá trị lao động còn một sô nhà kinh tê học khác lại xếp ông vào đội ngũ các nhà lý luận về chi phí sản xuât

8 Jean Baptiste Say (1767-1832)

Nhiều nhà kinh tê" gọi J Say là “hoàng tử của khoa học kinh tế ”, là người kê" tục ưu tú của A Smith

Trái lại, Marx gọi Say là “hoàng tử lô bịch của khoa học”, là kẻ chủ yếu đã tầm thường hóa các học thuyêt của Smith

Chúng ta hãy xem xét quan điểm về giá trị của Say

Trang 16

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

8.1 Theo ông, giá cả là thước đo giá trị, còn giá trị là

thước đo ích lợi của sản phẩm Do đó ích lợi của sản phẩm càng nhiều thì giá trị của sản phẩm càng cao Và của cải càng nhiều thì giá trị càng lớn

Giữa Say và Ricardo đã có cuộc tranh luận nổi tiếng

về vấn đề giá trị Trong cuộc tranh luận này, Say cho rằng

sự ích lợi của những giá trị sử dụng khác nhau có thể như

nhau, nhưng có hai loại ích lợi: ích lợi không mất tiền mua,

không tôn sức lực như không khí; ích lợi mất tiền mua làích lợi cần có chi phí sản xuất

<

Vàng thuộc loại ích lợi phải trả tiền hoàn toàn, còn sắt chỉ phải trả 1/2.000 Do vậy vàng mắc hơn sắt

8.2 Trong “lý luận ba nhân tố ”, Say nêu lên ba nhân tố

tham gia vào việc tạo ra giá trị là: lao động, tư bản và đất đai Và theo lý luận này thì có ba hình thức thu nhập phù hợp với ba nguồn gốc của giá trị: thứ nhất, lao động của công nhân tạo nên tiền lương; thứ hai, tư bản tạo nên lợi nhuận; thứ ba, tự nhiên tạo nên địa tô

Mỗi một nhân tô đó chỉ đưa lại một ích lợi nhất định

8.3 Ông cho rằng, giá trị được xác định trên thị trường,

hay giá trị chỉ được xác định trong trao đổi và thước đo giá trị của đồ vật là sô" lượng các vật mà người khác đồng ý đưa ra để “đổi lấy ” đồ vật nói trên Nói cách khác, theo Say, giá trị hàng hóa được xác định bởi quan hệ cung cầu

8.4 Trong thuyết “hiệu suất của tư bản”, J Say nói

rằng: nếu đầu tư thêm tư bản vào sản xuất thì sẽ làm tăng thêm sản phẩm phù hợp với sự tăng thêm giá trị, máy móc

Trang 17

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

đã tham gia vào việc sản xuất sản phẩm thì cũng có nghĩa

là nó thaưi gia vào việc tạo nên giá trị

Tóm lại, theo J Say, nhân tô" nào tham gia vào việc tạo

ra sản phẩm thì nhân tô" đó cũng tham gia vào việc tạo ra giá trị và làm tăng giá trị lên

9 Pierr Joseph Proudon (1809-1865)

Lý luận giá trị là phần quan trọng trong lý thuyết kinh

tế của Proudon

9.1 Theo ông, giá trị là một phạm trù trừu tượng, vĩnh

viễn Nó bao gồm hai tư tưởng là tư tưởng giá ưị sử dụng và

tư tưởng giá trị trao đổi Hai tư tưởng này đôi lập nhau, thể hiện hai xu hướng là sự dư thừa và sự khan hiếm, giá trị sử dụng là hiện thân của sự dồi dào, còn giá trị trao đổi là biểu hiện của sự khan hiếm, thành thử giá trị sử dụng và giá trị biểu hiện hai khuynh hướng đối lập: dồi dào và khan hiếm

Đó là một mâu thuẫn, nó có thể được xóa bỏ bằng trao

đổi ngang giá, thông qua việc xác lập “giá trị câu thành”.9.2 Trung tâm lý luận giá trị của Proudon là “giá trị câ"u thành” hay “giá trị xác lập” Theo ông, sự trao đổi trên thị trường người ta có sự lựa chọn đặc biệt về sản phẩm Một loại hàng hóa nào đó đi vào lĩnh vực tiêu dùng, đã qua thị trường, được thị trường thử thách, và xã hội thừa nhận - trở thành giá trị, là giá trị câu thành Ngược lại, những hàng hóa bị đẩy ra, không được thị trường và xã hôi chấp nhận, ông cho rằng cần phải câu t h à ^ ^ g | à p ^ ^ d ç : giá trị, làm thê nào cho hàng hóa chắdchắitdưỢeíhựGÌụẶa,

đi vào lĩnh vực tiêu dùng

Trang 18

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

Như vậy, trong “giá trị cấu thành”, Proudon muôn giải quyết mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi Vì ông cho rằng sản xuất hàng hóa là mặt tốt song mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị sử dụng là mặt xấu Do vậy phải phát triển sản xuất hàng hóa, nhưng phải xóa bỏ mặt xấu là mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi

Tóm lại, trong quan điểm của mình, Proudon coi nguồn gốc của giá trị là trao đổi và lao động

10 K arl M arx (1818-1883)

Marx nghiên cứu tất cả các phạm trù kinh tế trên cơ sở

lý luận giá trị của lao động

Marx khẳng định, chất (hay thực tế) của giá trị là lao động Và lượng giá trị được quyết định bởi thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết giản đơn trung bình

Theo Marx, lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Bằng lao động cụ thể người lao động sản xuất hàng hóa tạo

ra giá trị sử dụng và bằng lao động trừu tượng người lao động tạo ra giá trị của hàng hóa Và toàn bộ giá trị hàng hóa gồm: c + V + m

11 Trường phái “tân cổ điển” ra đời vào cuối thê kỷ XIX đầu thế kỷ XX Các nhà kinh tê của trường phái này phân tích kinh tế chủ yếu trong lĩnh vực trao đổi, lưu thông

và nhu cầu

Đối tượng nghiên cứu của họ là các đơn vị kinh tế riêng biệt (vi mô), từ đó rút ra những kết luận cho toàn xã hội (vĩ mô)

Trang 19

Những vấn đề cơ bản cứa các LÝ THUYẾT KINH TẾ

Các nhà kinh tế trường phái “cổ điển mới” ủng hộ lý thuyết giá trị - chủ quan

Trường phái “tân cổ điển” phát triển ở nhiều nước như các phái “giới hạn ”: thành Viene (Áo), Mỹ, thành Lausanne (Thụy Sĩ), Cambridge (Anh)

a) Lý thuyết “ích lợi giới hạn”.

Để phân tích giá trị sử dụng, K Menger (1840-1921)

đã vận dụng thuyết nhu cầu của H Gossen (1810-1858), ông nhấn mạnh nhu cầu có cường độ khác nhau, và nếu được tuần tự thỏa mãn thì cường độ sẽ giảm xuống Từ đó

K Menger chỉ ra là, cùng với đà tăng lên của vật để thỏa mãn nhu cầu, “mức độ bão hòa” về vật phẩm tăng lên, còn mức độ cấp thiết của nhu cầu thì giảm xucíng Do vậy, vật sau đưa ra để thỏa mãn nhu cầu có ích lợi ít hơn vật trước Với một lượng sản phẩm nhất định thì vật phẩm cuối cùng

là “vật phẩm giới hạn”; ích lợi của nó là “ích lợi giới hạn”

Nó quyết định ích lợi chung của tất cả các vật khác (Theo

họ, ích lợi là đặc tính cụ thể của vật, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người)

Trang 20

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

đó quyết định ích lợi của tất cả các vật phẩm khác.

Số lượng vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu tỷ lệ thuận

với “mức độ bão hòa” về vật phẩm và tỷ lệ nghịch với mức độ cấp thiết của nhu cầu

Nếu số sản phẩm cứ tăng lên mãi thì “ích lợi giới hạn”

có thể dẫn đến không Trong ví dụ trên vì nước có quá nhiều, nên không còn khan hiếm nữa, do vậy nước chỉ có ích lợi trừu tượng, tức ích lợi chung

Trang 21

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT k i n h t ế

Trên cơ sở ỉý luận “ích lợi giới hạn” phái thành Viene xây dựng lý luận “giá trị giới hạn” Lý luận này phủ nhận

lý luận giá trị của lao động

Theo quan điểm của phái này thì “ích lợi giới hạn”, tức ích lợi của sản phẩm cuối cùng quyết định giá trị sản phẩm Vì vậy, “giá trị giới hạn” chính là giá trị của “sản phẩm giới h ạn ” “Giá trị giới hạn” này quyết định giá trị của tât cả các sản phẩm khác Trong ví dụ, “ích lợi giới hạn” là 1 Vậy giá trị của mỗi thùng nước đều là một

b) Giá trị trao đổi.

K Menger cho rằng giá trị trao đổi là chủ quan, yếu tố tâm lý, nhu cầu đóng vai trò quan trọng Theo K Menger

sở dĩ hai người trao đổi sản phẩm cho nhau, chỉ vì cả hai đều tin rằng sản phẩm mà mình bỏ ra đối với mình, ít giá trị hơn so với sản phẩm mà mình thu về Như vậy khi trao

đổi, các cá nhân tính toán căn cứ vào nhu cầu, tức là so

sánh giữa sản phẩm mình sẽ có sau khi trao đổi với nhu cầu

của bản thân Nếu có lợi anh ta mới chịu trao đổi.

Ví dụ hai nông dân A và B đều có bò và ngựa Nông dân

A nhiều bò và ít ngựa nên ông sắp xếp thứ tự giá trị như sau:

Trang 22

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

Nông dân B có nhiều ngựa, ít bò nên thang giá trị được sắp xếp như sau:

Vì ít ngựa, nhiều bò nên nông dân A đánh giá giá trị giới hạn của ngựa cao hơn của bò Nông dân B thì ngược lại Cả hai người này do thứ tự thang bậc giá trị giữa ngựa

và bò là khác nhau nên họ cho rằng trao đổi sẽ có lợi cho họ

Cụ thể, khi trao đổi lần thứ nhất, A mất con bò thứ 7 với giá trị là 4, nhưng thêm một con ngựa thứ tư giá trị là 6 Với B cũng vậy, anh ta mất con ngựa thứ 7 với giá trị là 4 nhưng thêm một con bò thứ 4 với giá trị là 6 Như vậy mỗi người đều lợi 2

Nếu trao đổi lần thứ 2 thì A bỏ ra 1 con bò nữa với giá trị là 5 và thu về con ngựa nữa có giá trị là 5 Đối với B cũng vậy Vì thế không ai lời hay lỗ trong lần trao đổi này.Trái lại nếu trao đổi lần thứ 3 A mất thêm 1 con bò có giá trị 6 và thu về 1 con ngựa có giá trị 4, lỗ mất 2 B cũng vậy, mất thêm 1 con ngựa có giá trị 6 và thu về 1 con bò có giá trị 4, lỗ mât 2 Do vậy sẽ không có sự trao đổi

Trang 23

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

Từ đó K Menger chỉ ra hai điều kiện để hành vi trao đổi thực hiện được là:

- Cả hai người đều phải có lợi trong trao đổi

- Sản phẩm dư thừa của người này là khan hiếm của người kia và ngược lại

Theo K Menger, hành vi trao đổi tạo ra ích lợi nên phải quan niệm như nó có tính chất sản xuất

c) Các hình thức giá trị.

Lý luận giá trị của K Menger được Bohm Bawerh (1851- 1914) tiếp tục phân tích, ông đã phân loại các hình thức giá trị thành giá trị khách quan và giá trị chủ quan

Giá trị khách quan xuất phát từ tác dụng của một vật trong việc mang lại cho ta một kết quả cụ thể Ví dụ, củi đem đốt sẽ cho ta một nhiệt lượng Như vậy nói đến giá trị khách quan là nói đến mối quan hệ giữa vật và kết quả xuất phát từ việc sử dụng vật đó Mối quan hệ này không bao hàm những phán đoán chủ quan của con người

Trái lại, giá trị chủ quan xuất phát từ sự tiêu dùng những kết quả mà sản phẩm đó mang lại cho con người và con người quyết định sử dụng nó như thế nào Trong ví dụ trên củi đem đốt cho nhiệt lượng là giá trị khách quan, tức tương quan giữa nhiệt lượng và sô" lượng củi đem đốt là giá frị khách quạn, nhưng nếu ta phán đoán sô" nhiệt lượng đó giúp

ta sử dụng vào việc'gì, như để sưởi âm chẳng hạn, thì có nghĩa là người ta đề cập đến giá trị chủ quan

Từ sự phân biệt trên, Bohm Bawerk cho rằng, một vật phẩm có thể có 4 hình thức giá trị:

Trang 24

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

- Giá trị sử dụng chủ quan.

- Giá trị trao đổi chủ quan

- Giá trị sử dụng khách quan

- Giá trị trao đổi khách quan

Căn cứ của sự phân chia này là nơi nhận sản phẩm, của cải tới tay ai? Và ông nêu 2 ví dụ sau đây để làm rõ vấn đề

Ví dụ 1 Làm thế nào để xác định giá trị của tủ sách?

Ông căn cứ vào chỗ ai sẽ là chủ sở hữu của nó Nếu chủ của nó là một nhà trí thức thì ông xác định tủ sách có giá trị sử dụng Còn nếu chủ của nó là một nhà buôn, thì ông xác định tủ sách cọ giá trị trao đổi Cả nhà trí thức và nhà buôn đều là chủ quan, vậy tủ sách có giá trị sử dụng chủ quan và giá trị trao đổi chủ quan

Ví dụ 2 Một mét khôi củi có có chứa nhiệt lượng nhất

định Nếu đốt củi để tạo ra nhiệt lượng rồi dùng vào một công việc nào đó thì ông định giá trị sử dụng khách quan Trái lại, nếu chỉ căn cứ vào số nhiệt lượng chứa đựng để tính toán rồi đem củi đổi lấy vật khác thì định giá trị trao đổi khách quan

d) Sự tách rời giá trị với lợi ích.

Theo Von Wieser (1851-1926) giữa giá trị và ích lợi có

sự tách biệt

Khi số lượng sản phẩm càng tăng lên để thỏa mãn nhu cầu thì “ích lợi giới hạn” sẽ giảm dần “giá trị giới h ạn ” cũng giảm và do vậy tổng “giá trị giới hạn” cũng giảm Theo ví dụ về các thùng nước, thì thùng thứ 4 là “sản phẩm

Trang 25

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

giới hạn” có giá trị là 1 Vậy giá trị tổng cộng của 4 thùng nước là: 1 X 4 = 4 Như vậy số lượng hàng hóa tăng lên thì giá trị hàng hóa sẽ giảm Từ đó ông cho rằng muôn có nhiều giá trị phải tạo ra sự khan hiếm

Tuy nhiên, nếu căn cứ trên ích lợi, thì tuy 4 thùng nước

là như nhau về phẩm chất và công dụng, nhưng vì mỗi thùng

nước được sử dụng vào những mục đích khác nhau với nhu

cầu và cường độ nhu cầu cũng khác nhau nên ích lợi tổng

cộng của 4 thùng nước là: 9 + 4 + 2 + 1 = 16

Nếu sô"sản phẩm tăng lên mãi thì “ích lợi giới hạn” có thê tiến tới không Ông nói rằng lúc đó vật chỉ có ích lợi trừu tượng (tức là nói ích lợi chung) chứ không có ích lợi cụ thể nữa (tức là ích lợi gắn với một sô" lượng vật phẩm nhất định) Khi vật có ích lợi trừu tượng thì ích lợi đó không tạo

và tăng năng suât lao động sống; hoặc là tăng sô" người

làm việc trong lĩnh vực sản xuât vật chât; hoặc là kêt hợp cả hai

Trang 26

TS Đinh Scm Hùng - TS Trương Thị Hiền

Quan điểm thứ hai, xem xét phạm trù giá trị trên cơ sở của chi phí sản xuất Theo quan điểm này, những yếu tố nào tham gia vào quá trình tạo ra vật phẩm, thì đồng thời những yếu tô" đó cũng tham gia vào quá trình tạo ra giá trị

và làm tăng giá trị Phần lớn các nhà kinh tế học, kể cả các nhà kinh tế của trường phái chính hiện đại ủng hộ quan điểm này Nhìn chung, những người bảo vệ quan điểm này cho rằng, có ba nhân tố cơ bản đồng thời tham gia vào quá trình tạo ra giá trị, đó là: lao động, tư bản và đâ"t đai.Quan điểm này gợi cho chúng ta là, trong mỗi thời điểm nhất định của nền kinh tế quốc dân (cũng như của mỗi ngành nghề, mỗi doanh nghiệp) ba yếu tô" trên đều tồn tại với giới hạn nhâ"t định, do vậy, thứ nhất, để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, phải biết lựa chọn mục tiêu cũng như những thứ tự ưu tiên để sử dụng tiềm năng giới hạn của nền kinh tế đạt hiệu quả cao nhâ"t Thứ hai, quá trình tổ chức lao động và quản lý sản xuât, kinh doanh phải đảm bảo được sự kết hợp tối ưu các yếu tô" của tiềm năng giới hạn để mỗi yếu tô" đều được sử dụng với hiệu quả cao nhâ"t Nhờ đó mà chi phí sản xuât ngày càng thâ"p, còn kết quả đưa lại ngày càng cao Thứ

ba, mỗi yếu tô" có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị, làm tăng của cải của xã hội, vì vậy trong mỗi thời kỳ sản xuât, kinh doanh phải đánh giá đúng vai trò của mỗi yếu tô Qua đó có những cách thức thích hợp tác động vào mỗi yếu tô" và sử dụng từng yếu tô" một cách có hiệu quả nhât Thứ tư, tăng năng suất lao động là con đường cơ bản

để hạ thâp chi phí sản xuâ"t, tăng GNP và tăng thu nhập thực tê" của dân cư

Trang 27

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KỈNH TẾ

Quan điểm thứ ba, là lý thuyết giá trị - chủ quan Có hai luận điểm cần lưu ý trong nội dung của lý thuyết này

Đó là, thứ nhất, giá trị của vật phẩm do ích lợi của vật phẩm đối với nhu cầu cụ thể quyết định Thứ hai, số’ lượng của một loại vật phẩm càng tăng lên dồi dào thì nhu cầu đôi với loại vật phẩm đó càng trở nên ít cấp thiết hơn Và giá trị của loại vật phẩm đó càng ít đi

Quan điểm này làm nảy sinh những gợi ý cơ bản sau:

- Muôn thu được lợi nhuận cao, các nhà sản xuất kinh doanh phải luôn luôn nắm vững diễn biến của cung, cầu về hàng hóa trên thị trường Qua đó quyết định sản xuất cái gì

và đưa đến phân đoạn nào của thị trường để tiêu thụ trong thời điểm nhất định

- Việc đa dạng hóa mặt hàng, và cải tiến không ngừng mẫu mã, hình thức, chất lượng hàng hóa là những yếu tô" quyết định cho doanh nghiệp chiếm ưu thế trong cạnh tranh tiêu thụ hàng hóa trên thị trường

- Mỗi doanh nghiệp luôn tồn tại đồng thời với hai tư cách: người mua và người bán trên hai thị trường đầu vào

và đầu ra Do đó để có thể thu được lợi nhuận cả khi bán lẫn khi mua, doanh nghiệp phải có quyết định chính xác: thời điểm, số lượng, giá cả, thị trường mua và bán hàng hóa

Ngoài ra lý thuyết này còn giúp ta giải thích các hiện tượng như: đầu cơ, tích trữ, tại sao vật phẩm của cải thuộc loại kém công dụng hơn lại có thể có giá trị cao hơn

Trang 28

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

II NHỮNG LÝ LUẬN VE THU NHẬP

Lợi ích kinh tế biểu hiện tập trung ở thu nhập và thu nhập là động lực kinh tế kích thích con người nâng cao hiệu quả trong hoạt động thực tiễn Sự đa dạng trong đời sống kinh tế - xã hội đưa đến kết quả là các nguồn thu nhập được hình thành cũng khác nhau và quan điểm về chất và

về lượng của các nhà kinh tế đối với các nguồn thu nhập cũng khác nhau

Aristote, Saint Thomas d’Aquin lúc đầu phủ nhận, phản đối việc trao đổi với mục đích làm giàu Nhưng sau đó Thomas d’Aquin lại cho rằng lợi nhuận thương nghiệp là hoàn toàn hợp pháp

Đối với địa tô, Thomas d’Aquin cho rằng, địa tô là thu nhập từ ruộng đất do vậy đó là tặng phẩm của Thượng đế

và vì thế không mâu thuẫn với lòng từ thiện

Những người trọng thương với quan điểm cơ bản cho rằng tiền tệ (vàng, bạc) là nội dung căn bản của của cải và lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá Họ cho rằng không một người nào thu được lợi nhuận mà lại không làm thiệt hại kẻ khác Vì vậy của cải của quốc gia chỉ có thể tăng lên bằng con đường ngoại thương Do đó ngoại thương phải tổ chức như thê nào để đảm bảo xuất siêu

Những người trọng nông cho rằng trao đổi không hề làm tăng của cải lên Vì vậy lợi nhuận thương nghiệp có được chẳng qua là nhờ các khoản tiết kiệm chi phí thương mại Phái trọng nông cho là sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

Trang 29

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KỈNH TẾ

về tiền lương, Francois Quesnay (1694-1744) cho răng: tât cả những người có liên quan đên công nghiệp (gồm những nhà tư bản chủ xí nghiệp và công nhân) đều

nhận được thu nhập dưới hình thức tiền lương Sự khác

nhau giữa chủ xí nghiệp và công nhân chỉ là ở chỗ: công nhân nhận lương từ chủ xí nghiệp, còn chủ xí nghiệp thì

tự trả lương cho mình, về phương diện sô" lượng, tiền lương của chủ xí nghiệp thường phải phù hợp với giá trị tư liệu sinh hoạt của họ Do đó, F Quesnay cho rằng lợi nhuận hình thành là do thu nhập vượt quá tiền lương Như vậy, sô" trội hơn đó có thể có trong những trường hợp đặc biệt

do địa vị lũng đoạn hay là do thuê" quan cao Và trong cả hai trường hợp, lợi nhuận đều hình thành do không có tự do cạnh tranh

Đó là những luận điểm còn tương đô"i tản mạn về thu nhập Phần sau đây chúng ta xem xét quan điểm đã có hệ thống của các nhà kinh tế về vân đề này

1 luận về tiền lương, lợi nhuận

và địa tô của w Petty.

ỉ ỉ Ông xác định tiền lương là khoản giá trị những tư

liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu cho công nhân Tiền lương không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu về vật chất Nếu tiền lương cao, công nhân không muôn làm việc, họ thích uống rượu say Do vậy muốn công nhân làm việc thì phải hạ thấp tiền lương xuống mức tối thiểu Ông phản đối kịch liệt những trường hợp tăng tiền lương quá cao w Petty là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền mong cho lý thuyết “quy luật sắt về tiền lương”

Trang 30

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

1.2 w Petty nói rằng: phải tính toán các khoản thu chi của địa chủ Trong nông nghiệp có thể quy những khoản thu chi đó theo một đơn vị đo lường hiện vật Trong thực tế, chủ trại đo lường chi phí nguyên liệu, thức ăn gia súc; còn tiền lương, tức là thu nhập của nông nghiệp, cũng được đo lường bằng ngũ cốc Theo Petty, địa tô là số chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm và chi phí sản xuất (gồm chi phí: tiền lương 4 - giống má)

- Ông coi lợi tức là tô của tiền và cho rằng nó lệ thuộc

vào mức địa tô (trên đất mà người ta có thể dùng tiền vay

để mua) Ông nói, lợi tức là sô" tiền thưởng, trả cho sự nhịn

ăn tiêu, coi lợi tức cũng như tiền thuê ruộng Mức lợi tức

phụ thuộc vào những điều kiện tự phát, những điều kiện này quyết định vận mệnh của sản xuất nông nghiệp

Petty phản đôi việc chính phủ quy định mức lợi tức không được phép vượt quá con số cần thiết Theo Petty, người ta không nên tự ý hạn chế lợi tức, vì lợi tức do tự nhiên quyết định; mặc dù có sự hạn chế, nhưng khi cần thiết thì lợi tức sẽ cao hơn bất cứ mệnh lệnh nào

Như vậy, theo Petty, người có tiền có thể sử dụng nó bằng hai cách để có thu nhập Cách thứ nhất là dùng tiền mua đâ"t đai nhờ đó có địa tô Cách thứ hai là mang gửi vào ngân hàng để thu lợi tức

2 Adam Smith.

Những vân đề kinh tế căn bản của Chủ nghĩa tư bản

được Smith giải thích theo quan điểm thu nhập Ông lấy

học thuyết về thu nhập làm cơ sở giải thích các quan hệ phân phối, kết câu giai câ"p

Trang 31

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

Trên cơ sở lý luận về thu nhập, Smith chia xã hội thành

ba giai cấp:

- Những người chiếm hữu ruộng đất

- Các nhà tư bản công, nông, thương nghiệp

- Những người công nhân

Và gắn liền với ba giai cấp đó là ba hình thức thu nhập: địa tô, lợi nhuận, tiền lương

2.1 Tiền lương.

Theo Smith trước xã hội tư bản, tiền lương ngang bằng với sản phẩm lao động Nghĩa là khi làm việc bằng tư liệu sản xuất của mình, người lao động nhận được sản phẩm toàn vẹn của lao động của họ Smith quan niệm tiền lương

là thu nhập của bất cứ người lao động nào

Trong xã hội tư bản, người công nhân trở thành lao động làm thuê thì tiền lương của họ không phải là toàn bộ giá trị sản phẩm lao động của họ sản xuất ra nữa, mà chỉ là một bộ phận giá trị đó Cơ sở tiền lương là giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và con cái anh ta để được tiếp tục đưa ra thay thế trên thị trường lao động Ông nghiên cứu mức bình thường của tiền lương

và chỉ ra giới hạn tối thiểu của nó Theo ông nếu tiền lương thấp hơn mức tối thiểu này là thảm họa cho sự tồn tại của dân tộc

A Smith đã chỉ ra những nhân tô' ảnh hưởng tới tiền lương Trước hết tiền lương phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phản ánh trình độ phát triển kinh tế của

mỗi nước Biểu hiện ở chỗ ông phân biệt 3 loại quốc gia:

Trang 32

TS Đinh Sơn Hùng TS Trương Thị Hiền

loại thứ nhất là những nước mà ở đó, tiền lương được tăng lên cùng với sự tăng của tư bản Loại thứ hai là những nước

mà ở đó, tiền lương không thay đổi vì tư bản không thay đổi Loại thứ ba là những nước mà ở đó, tiền lương sụt xuống cùng với sự giảm sút của tổng tài sản, và có thể xuống thấp hơn mức sống tối thiểu

Như vậy, mức lương phụ thuộc vào tốc độ tăng của cải của đất nước Do đó, Smith chống lại việc công nhân tổ chức công đoàn, vì theo ông thì dường như công đoàn không làm tăng thêm tài sản quốc dân Ông cho rằng chính công nhân mới là người quan tâm đến việc tăng tài sản và tư bản.Smith cho rằng, mức lương phụ thuộc vào quỹ tiền lương Quỹ tiền lương được chia cho số lượng công nhân vì vậy công đoàn không có tấc dụng trong việc đấu tranh đòi tăng lương Theo Smith, quy mô của tư bản giữ vai trò quyết định trong việc quy định lượng tiền lương

Trong một nước, nhân tô" ảnh hưởng tới tiền lương phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của lao động của con người, điều kiện làm việc, tính chất công việc, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp Ông chỉ rõ rằng trong những ngành mà điều kiện sản xuất ít thuận lợi hơn, thì lao động cần được trả công cao hơn Quy mô tiền lương phải gắn liền với việc học tập

Smith cho rằng tiền lương là giá cả của lao động và ông nghiên cứu tiền lương trong cơ chế thị trường tự do Theo ông có một cơ chế chi phối tiền lương vận động như sau: tăng lương dẫn đến tăng tỉ sô" sinh đẻ, tăng cung lao động, tăng cạnh tranh giữa công nhân để bán lao động Giảm tiền lương dẫn đên giảm tỉ sô" sinh, giảm cung lao động,

Trang 33

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT k i n h t ế

cạnh tranh giữa những nhà tư bản để mua lao động làm cho

tiền lương tăng lên

A Smith là người ủng hộ trả lương cao Theo ông, tiền lương cao sẽ tạo khả năng tăng trưởng kinh tế vì mức lương cao tương đối là nhân tố kích thích công nhân tăng năng suất lao động Điều đó tạo điều kiện tăng tích lũy tư bản và tăng nhu cầu về lao động Ông phê phán quan điểm cho rằng trả lương cao làm cho công nhân lười biếng và không khuyến khích lao động Ông vạch rõ rằng, nhà tư bản không sợ gì việc trả lương cao cho công nhân, vì cơ chế tự phát của thị trường lao động sẽ điều chỉnh mức tiền lương thích đáng

2.2 Lợi nhuận.

1 Một mặt A Smith cho.rằng, lợi nhuận là một bộ phận của sản phẩm do công nhân sản xuât ra Mặt khác ông cũng cho rằng, nguồn gôc của lợi nhuận là do toàn bộ

tư bản đẻ ra, cả trong lĩnh vực sản xuất lẫn trong lĩnh vực lưu thông đều tạo ra lợi nhuận Ông coi lợi nhuận trong phần lớn trường hợp chỉ là món tiền thưởng cho việc mạo hiểm và cho lao động khi đầu tư tư bản; lợi nhuận là một trong những nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập cũng như của mọi giá trị trao đổi

2 A Smith cho rằng lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ nó Do vậy lượng lợi nhuận và lợi tức có quan hệ tỉ

lệ thuận với nhau

3 A Smith cũng đã nhìn thây xu hướng bình quân hóa

tỉ suất lợi nhuận và xu hướng tỉ suâ't lợi nhuận giảm sút do khôi lượng tư bản đầu tư tăng tăng lên

Trang 34

TS Đinh Sơn Hùng TS Trương Thị Hiền

2.3 Địa tô.

A Smith coi địa tô cũng giống như lợi nhuận về nguồn gốc, là khoản khầu trừ trong sản phẩm của lao động, về mặt lượng nó là số dôi ra ngoài tiền lương của công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản Theo A Smith lao động trong nông nghiệp là lao động có năng suất cao hơn so với trong công nghiệp Vì trong nông nghiệp có sự giúp đỡ của giới tự nhiên Trong công nghiệp thu nhập được chia thành tiền lương và lợi nhuận, cốn trong nông nghiệp thu nhập được chia thành tiền lương, lợi nhuận và địa tô Như vậy theo ông, độc quyền

tư hữu ruộng đất là điều kiện chiếm hữu địa tô

Theo Smith, mức tô trên mảnh đất là do thu nhập của mảnh đất đó mang lại và địa tô trên những ruộng canh tác cây chủ yếu (cây lương thực, thức ăn cho súc vật) quyết định địa tô trên ruộng trồng cây khác; địa tô là kết quả chứ không phải là nguyên nhân của giá cả nông phẩm cao Ông coi địa tô là kết quả của giá cả độc quyền

Ông cho rằng địa tô là phạm trù vĩnh viễn và chứng

minh lợi ích của chủ đất phù hợp với lợi ích xã hội.

Ông đã phân biệt địa tô và tiền tô Theo ông tiền tô bằng địa tô cộng với lợi tức tư bản đầu tư cải tạo đất đai.Ông nghiên cứu đến địa tô chênh lệch I nhưng không nghiên cứu địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối

3 D Ricardo.

3.1 Tiền lương.

Ông coi lao động là hàng hóa vì vậy tiền lương là giá

cả của lao động Ông phân biệt hai loại “Giá cả tự nhiên”

Trang 35

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

và “giá cả thị trường” (tức tiền lương) của lao động Theo ông, giá cả thị trường của lao động được xác định trên cơ sở giá cả tự nhiên và xoay quanh giá cả tự nhiên Giá cả tự nhiên của hàng hóa lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình anh ta Ông cũng chỉ ra cấu thành tư liệu sinh hoạt cho người công nhân phụ thuộc vào yếu tố lịch sử, truyền thông dân tộc, nhưng ông chỉ tính mức tư liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu về mặt sinh lý Và ông cho rằng tiền lương ở mức độ tối thiểu

là quy luật chung, tự nhiên cho mọi xã hội

Theo ông sự tăng tự nhiên của dân số có tác dụng quyết định trong việc điều tiết tiền lương Ông cho rằng tiền công cao sẽ làm cho nhân khẩu tăng nhanh, dẫn đến cung về lao động cao hơn cầu về lao động, làm cho tiền cồng phải hạ xuống, đời sống của công nhân xâu đi là kết quả tất yếu của việc tăng nhân khẩu

Ở những luận điểm trên về tiền lương, cho thấy D Ricardo ủng hộ lý thuyết “quy luật sắt của tiền lương” và chịu ảnh hưởng của quy luật về nhân khẩu của Malthus.Ông cho rằng tăng lương làm cho lợi nhuận giảm, đồng thời ông phân tích tiền công thực tế và xác định nó như một phạm trù kinh tế, ông nhấn mạnh rằng lượng hàng hóa người công nhân mua được, bằng tiền công chưa quyết định địa vị

xã hội của người đó, sự quyết định tình cảnh của công nhân phụ thuộc vào mối tương quan giữa tiền lương và lợi nhuận Ông ủng hộ việc nhà nước không can thiệp vào hoạt động của thị trường lao động, phê phán sự giúp đỡ đối với người nghèo vì theo ồng làm như vậy sẽ ngăn cản hoạt động của quy luật tự nhiên

Trang 36

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

3.2 Lợi nhuận.

Ông cho rằng giá trị được tạo ra gồm tiền lương và lợi

nhuận Mối quan hệ giữa hai nhân tố này là năng suất lao

động tăng thì tiền lương giảm và lợi nhuận tăng.

Theo Ricardo, lợi nhuận là phần dôi ra ngoài tiền lương,

là phần còn lại của nhà tư bản sau khi trả lương cho công nhân.Ông đã có những nhận xét tiến gần đến sự hình thành lợi nhuận bình quân, khi ông nói rằng tư bản có đại lượng như nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau

Ông thấy xu hướng giảm sút lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến đổi thu nhập giữa 3 giai cấp, địa chủ, công nhân và nhà tư bản Ông cho rằng do quy luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm, giá cả nông phẩm tăng lên, làm cho tiền lương tăng

và địa tô tăng còn lợi nhuận không tăng Như vậy địa chủ

là người có lợi, công nhân không có lợi cũng không bị hại, còn nhà tư bản thì bị thiệt vì tỷ suất lợi nhuận giảm xuống

3.3 Địa tô.

Ông lập luận rằng do “đất đai canh tác hạn c h ế ”, “độ màu mỡ của đất đai giảm sút”, “năng suất đầu tư bất tương xứng”, trong khi đó dân scí tăng nhanh làm nảy sinh nạn khan hiêm tư liệu sinh hoạt Điều này buộc xã hội phải canh tác trên ruộng đất xấu Và theo ông giá trị nông phẩm

do mức hao phí lao động trên đất đai xấu nhất quyết định, đât đai xấu nhât không thu được địa tô Còn đất đai tốt, trung bình phải nộp tô vì trên đất đai đó, người ta sản xuất nhiều sản phẩm hơn nhưng với mức hao phí lao động như ở đất đai xâu Do đó trên đất đai tốt, người ta thu được một

số dư thừa, khoản đó trả cho chủ đất gọi là địa tô

Trang 37

Những vấn đề cơ bản của các LÝ THUYẾT KINH TẾ

Một sô người coi địa tô là dâu hiệu giàu có, phồn vinh của xã hội Ricardo chứng minh hoàn toàn ngược lại rằng địa tô là bằng chứng của sự bần cùng Nếu nhiều đất đai phì nhiêu thì có thể không cần cày cấy đất đai xấu và lúc

đó giá trị lúa mì sẽ hạ xuống, địa tô cũng sẽ giảm xuống Địa tô càng cao thì xã hội càng thiếu nhiều lúa mì

Theo ông, nếu kỹ thuật trong nông nghiệp phát triển,

độ màu mỡ của đất đai tăng lên thì địa tô sẽ giảm đi, vì đất đai xâu có thể không được canh tác

Ông gắn liền địa tô với “quy luật màu mỡ đất đai ngày càng giảm ” Ông cho rằng nếu màu mỡ của đất đai không giảm thì không có địa tô Ông đặt câu hỏi: tại sao xã hội phải canh tác các đất đai khác nhau? Và trả lời: Vì tư bản mới đầu tư đưa lại hiệu suất kém Nếu như sản phẩm tăng lên nhịp nhàng cùng với sự hoạt động của tư bản thì chỉ cần canh tác những mảnh đất tốt là đủ

Ông phân biệt sự khác nhau giữa địa tô và tiền tô Ông cho tiền tô là khái niệm rộng hơn địa tô, vì ngoài địa tô ra,

trong tiền tô còn bao gồm lợi nhuận của tư bản đầu tư vào

ruộng đất

Trong lý luận địa tô của mình, Ricardo phủ nhận địa tô tuyệt đôi và chỉ thừa nhận địa tô chênh lệch I, còn địa tô

chênh lệch II thì không được nói đến.

4 Henri - Saclơ Kêri (1793-1879)

Ông lây “quy luật phân phối ” làm cơ sở trình bày thuyêt

“hòa hợp lợi ích”, là một trong những thuyết trung tâm trong lý luận kinh tế của ông

Trang 38

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

Theo “quy lụật phân phôi”, cùng với sự phát triển của năng suất lao động, phần của người công nhân tăng lên về

tỉ lệ cũng như về tổng số Còn phần của nhà tư bản thì tăng lên về tổng số, nhưng lại giảm về tỉ lệ

Kêri khẳng định rằng CNTB càng phát triển thì tình

hình của giai cấp công nhân không những được cải thiện,

mà phúc lợi của họ thậm chí còn tăng nhanh hơn thu nhập của nhà tư bản.

Ông cho rằng, với sự phát triển của năng suất lao động

thì những chi phí để tái sản xuất ra hàng hóa, kể cả tư liệu sản xuất, giảm xuống Điều đó dẫn tới giá trị của tư bản

giảm xuông, lợi tức giảm xuống Còn giá trị của lao động

và phần của nó trong sản phẩm lại tăng lên

về vấn đề địa tô, ngược lại với Ricardo, Kêri lấy ví dụ nước Mỹ để khẳng định rằng ở đâu việc canh tác cũng bắt đầu từ những khoảnh đất đồi, dễ làm, nhưng ít phì nhiêu,

và chỉ dần dần mới chuyển sang canh tác những vùng đồng bằng phì nhiêu hơn

Theo Kê ri, chủ đất đai nhận được tiền thuê ruộng, dưới hình thức địa tô chỉ là để bù lại những chi phí mà họ hay ông cha họ đã bỏ ra làm cho đất đai trở nên canh tác được.Kêri cho là sự tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp đã làm giảm lượng lao động cần thiết để làm cho một mảnh ruộng trở nên canh tác được Do đó giá trị của tư bản đầu tư vào ruộng đất giảm đi, phần của địa chủ cũng giảm xuống, còn phần của công nhân tăng lên, trong khi thu nhập của cả hai đều tăng lên tuyệt đối

Trang 39

Những vấn đề cơ hản của cúc LÝ THUYẾT KINH TẾ

5 K Marx.

5.7 Tiền lương.

về bản chất của tiền lương dưới CNTB, theo Marx, tiền lương là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của sức lao động biểu hiện ra bên ngoài như

là giá cả của lao động

Giá trị sức lao động, gồm cắc yếu tố sau đây hợp thành:

- Giá trị những tư liệu sinh hoạt vật chất và tinh thần cho người công nhân và gia đình họ

- Những phí tổn đào tạo

Đó là mặt lượng của tiền lương dưới CNTB

Marx nghiên cứu hai hình thức cơ bản của tiền lương là tiền lương theo thời gian và tiền lương theo sản phẩm; tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế Và theo Marx xu hướng sụt tiền lương thực tế là xu hướng có tính quy luật của sự vận động của tiền lương dưới CNTB

5.2 Lợi nhuận, lợi tức, địa tô.

Nguồn gốc của lợi nhuận, lợi tức, địa tô theo Marx đều

do lao động của người công nhân làm thuê tạo ra trong lĩnh vực sản xuất và bị nhà tư bản, địa chủ chiếm đoạt

Như vậy về bản chất, lợi nhuận, lợi tức, địa tô đều là

những hình thức biểu hiện cụ thể và khác nhau của giá trị

thặng dư Do vậy thu nhập hình thành nên từ lợi nhuận, lợi

tức, địa tô là thu nhập ăn bám, bóc lột lao động làm thuê

Trên cơ sở phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư

bản khả biến, Marx nghiên cứu tỷ suẫt lợi nhuận; sự hình

Trang 40

TS Đinh Sơn Hùng - TS Trương Thị Hiền

thành tỷ suất lợi nhuận bình quân dưới tác động cạnh tranh

giữa các ngành sản xuất khác nhau; xu hướng giảm sút của

tỷ suất lợi nhuận dưới CNTB.

Sự vận động của tỷ suất lợi tức dưới CNTB theo Marx cũng có xu hướng giảm sút Và Marx vạch ra hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến xu hương giảm sút của tỷ suất lợi tức dưới CNTB

Đôi với địa tô, theo Marx gồm có địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối

Địa tô chênh lệch được Marx cắt nghĩa, là phần lợi nhuận dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, thu được trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn; nó là sô" chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung quyết định bởi điều kiện sản xuâ"t trên ruộng đất xâu nhất và giá cả sản xuất

cá biệt trên ruộng đâ"t hạng trung bình và hạng tốt

Địa tô chênh lệch gắn liền vơi sự độc quyền kinh doanh ruộng đất theo lôi CNTB

Có hai loại địa tô chênh lệch: địa tô chênh lệch I, là địa tô chênh lệch đạt được trên những miếng đất có độ màu mỡ tự nhiên trung bình và tốt, có vị trí gần thị trường tiêu thụ; địa tô chênh lệch II là địa tô do thâm canh mà có.Địa tô tuyệt đôi, theo Marx, là sô" chênh lệch giữa giá

tộ nông phẩm và giá cả sản xuâ"t chung do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp tạo ra và bị chủ ruộng đất chiếm lây

Địa tô tuyệt đôi gắn liền với quyền tư hữu ruộng đất

Ngày đăng: 17/02/2021, 10:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w