Phương pháp chi phí du hành theo vùng được áp dụng để xây dựng đường cầu và ước lượng giá trị du lịch – giải trí, lượng hóa được tổng giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên và môi trường c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ BÍCH LÂN
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ KINH TẾ TỪ HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ
DU LỊCH CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HÒN BÀ,
HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2019
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ BÍCH LÂN
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ KINH TẾ TỪ HOẠT ĐỘNG GIẢI TRÍ
DU LỊCH CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HÒN BÀ,
HUYỆN CAM LÂM, TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Quyết định giao đề tài: 636/QĐ-ĐHNT ngày 18/7/2017
Quyết định thành lập hội đồng: 1126/QĐ-ĐHNT ngày 06/9/2019
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHẠM HỒNG MẠNH Chủ tịch Hội Đồng:
PGS.TS HỒ HUY TỰU Phòng Đào tạo Sau Đại học:
KHÁNH HÒA - 2019
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phân tích giá trị kinh tế từ hoạt động giải trí du lịch của khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, tháng 7 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Bích Lân
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý phòng, ban trường Đại học Nha Trang, Khoa Kinh tế đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Phạm Hồng Mạnh
đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp
đỡ này
Tôi xin gửi lời cảm ơn Ban quản lý dự án Phát triển tỉnh Khánh Hòa và các đồng nghiệp đã hỗ trợ về mặt thời gian, công việc để tôi thực hành trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, tháng 7 năm 2019
Học viên
Nguyễn Thị Bích Lân
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG .ix
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ x
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN .x
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU .1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu .2
1.2.1 Mục tiêu chung .2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể .2
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu .3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu .3
1.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu .3
1.5 Kết cấu luận văn .3
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU .5
2.1 LÝ THUYẾT VỀ ƯỚC LƯỢNG PHÚC LỢI TRONG KINH TẾ MÔI TRƯỜNG 5
2.2 LÝ THUYẾT VỀ TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG .7
2.3 PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM) .8
2.4 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 12
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 2 16
Trang 8CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU 17
3.2 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ 18
3.3 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC 20
3.3.1 Bản câu hỏi 20
3.3.2 Mẫu nghiên cứu 21
3.3.3 Mô hình kinh tế lượng 21
3.3.4 Nguồn số liệu sử dụng 24
3.3.5 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu 25
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 3 25
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 26
4.1.1 Vị trí địa lý 26
4.1.2 Lịch sử hình thành 27
4.1.3 Giá trị tài nguyên nhân văn của KBTNN Hòn Bà 28
4.1.4 Đặc điểm khí hậu 30
4.1.5 Đặc điểm thủy hải văn 33
4.1.6 Sự đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà 35
4.1.7 Hoạt động du lịch 38
4.1.8 Đặc điểm kinh tế xã hội 40
4.2 PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ GIẢI TRÍ CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HÒN BÀ 41
4.2.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 41
4.2.2 Hoạt động du lịch của du khách tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà 47
4.2.3 Đánh giá của du khách về hoạt động du lịch tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà 51
4.2.4 Ước lượng giá trị cảnh quan môi trường tại Hòn Bà 52
Trang 94.3 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU DU LỊCH CỦA DU
KHÁCH TẠI HÒN BÀ .61
4.3.1 Phân tích tương quan .61
4.3.2 Phân tích hồi quy .61
4.4 ƯỚC LƯỢNG GIÁ SẴN LÒNG TRẢ CỦA DU KHÁCH .66
4.4.1 So sánh giá sẵn lòng trả so với chi phí thật tế đã chi trả .66
4.4.2 Sự sẵn lòng chi trả thêm để góp phần cải tạo môi trường, cảnh quan của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà 67
4.4.3 Sự sẵn lòng chi trả thêm cho chi phí lưu trú tại Hòn Bà .69
TÓM LƯỢC CHƯƠNG 4 70
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 71
5.1 KẾT LUẬN .71
5.2 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH .72
5.2.1 Quan điểm phát triển về du lịch của Nha Trang – Khánh Hòa .72
5.2.2 Những khuyến nghị chính sách để phát triển bền vững về tài nguyên du lịch của khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà .73
5.2.3 Một số giải pháp khác 75
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI .79
TÀI LIỆU THAM KHẢO .80 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CVM : Contingent Valuation Method Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên DLST : Du lịch sinh thái
ĐDSH : Đa dạng sinh học
GNP : Gross National Product Tổng thu nhập quốc dân
GDP : Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GEF : Global Environmental Facility Quỹ Môi trường toàn cầu
ITCM : Individual Travel Cost Method Phương pháp chi phí du hành cá nhân IUCN : The World Conservation Union Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới
MPI : Ministry of Planing and
Investment Bộ kế hoạch và đầu tư
SDC : Swiss Agency for Development
and Cooperation Cơ quan hợp tác & phát triển Thụy Sỹ ZTCM : Zonal Travel Cost Method Phương pháp chi phí du hành theo vùng TCM : Travel Cost Method Phương pháp chi phí du hành
UNDP : United Nations Development
Programme Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
WB : World Bank Ngân hàng thế giới
WTP : Willingness to Pay Giá sẵn lòng trả
UBND : Ủy ban nhân dân
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Số liệu du lịch Khánh Hòa từ năm 2012 – 2018 39
Bảng 4.2 Thông tin mẫu điều tra .42
Bảng 4.3 Đặc điểm nơi đến của du khách .45
Bảng 4.4 Bảng thống kê số lần đến Hòn Bà của mẫu điều tra .46
Bảng 4.5 Lý do đến Hòn Bà xét về khía cạnh giới tính của du khách .49
Bảng 4.6 Sự khác biệt về thu nhập với lý do chọn Hòn Bà của du khách .50
Bảng 4.7 Nguồn gốc khách du lịch .53
Bảng 4.8 Tỷ lệ viếng thăm của khách du lịch .53
Bảng 4.9 Chi phí du lịch theo vùng của du khách 54
Bảng 4.10 Tổng chi phí du hành và chi phí du hành trung bình của du khách .55
Bảng 4.11 Mối quan hệ giữa chi phí du hành và tỷ lệ viếng thăm 56
Bảng 4.12 Hai trường hợp của phương trình hồi quy xây dựng đường cầu giải trí 56
Bảng 4.13 Ước tính giá trị giải trí và thặng dư tiêu dung 58
Bảng 4.14 Ước tính giá trị giải trí .60
Bảng 4.15 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình .61
Bảng 4.16 Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu du lịch của du khách tại Hòn Bà .62
Bảng 4.17 Kết quả mô hình hồi qui phụ 63
Bảng 4.18 Thống kê so sánh giữa giá sẵn lòng chi trả và giá thật tế đã chi trả cho chuyến đi 67
Bảng 4.19 Ước tính chi phí trả thêm cho cải tạo môi trường, cảnh quan của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà 69
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Đặc điểm về giới tính trong mẫu điều tra .43
Biểu đồ 4.2 Đặc điểm về độ tuổi trong mẫu điều tra .43
Biểu đồ 4.3 Đặc điểm về trình độ học vấn trong mẫu điều tra .43
Biểu đồ 4.4 Đặc điểm về công việc trong mẫu điều tra .44
Biểu đồ 4.5 Đặc điểm về tình trạng hôn nhân trong mẫu tra .44
Biểu đồ 4.6 Đặc điểm về tình trạng thu nhập trong mẫu điều tra .45
Biểu đồ 4.7 Thời gian di chuyển đến Hòn Bà của du khách 46
Biểu đồ 4.8 Mục đích của chuyến tham quan tại Hòn Bà 47
Biểu đồ 4.9 Hình thức đến Hòn Bà của mẫu điều tra .47
Biểu đồ 4.10 Lý do chủ yếu của du khách khi đến tham quan Hòn Bà .48
Biểu đồ 4.11 Ý định viếng thăm Hòn Bà trong tương lai của mẫu điều tra 51
Biểu đồ 4.12 Cảm nhận của du khách về cảnh quan Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà .51
Biểu đồ 4.13 Những tồn tại còn gặp phải của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà .52
Biểu đồ 4.14 Thống kê về sự sẵn lòng trả thêm chi phí để góp phần cải tạo môi trường, cảnh quan của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà .67
Biểu đồ 4.15 Mức độ sẵn lòng chi trả thêm chi phí để góp phần cải tạo môi trường, cảnh quan của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà .68
Biểu đồ 4.16 Mức giá sẵn lòng chi trả thêm để góp phần cải tạo môi trường, cảnh quan của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà .69
Biểu đồ 4.17 Thống kê sự sẵn lòng chi trả khi chi phí khách sạn tăng 69
Hình 2.1 Đường cầu giải trí và thặng dư tiêu dùng của phương pháp TCM 9
Hình 2.2 Khung phân tích của nghiên cứu 15
Hình 4.1 Suối Đá Giăng .29
Hình 4.2 Nhiệt độ trung bình các tháng từ năm 2014 – 2017 .30
Trang 13Hình 4.3 Độ ẩm không khí trung bình các tháng từ năm 2014-2017 31
Hình 4.4 Số giờ nắng trung bình các tháng từ năm 2014 - 2017 .31
Hình 4.5 Lượng mưa trung bình các tháng từ năm 2014-2017 .32
Hình 4.6 Đường cầu giải trí của du khách với chi phí thời gian bằng tổng thu nhập trung bình/ngày 57
Hình 4.7 Đường cầu giải trí của du khách với chi phí thời gian bằng 1/3 tổng thu nhập trung bình/ngày 59
Hình 4.8 Biểu đồ phân tán phần dư .64
Hình 4.9 Đồ thị Histogram .64
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu .17
Trang 14TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài nghiên cứu về đánh giá giá tri ̣du lịch – giải trí của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà nhằm đánh giá tiềm năng du lic̣h và ước tính giá tri ̣giải trí du lic̣h của
du khách trong nước khi đến tham quan nơi đây Phương pháp chi phí du hành theo vùng được áp dụng để xây dựng đường cầu và ước lượng giá trị du lịch – giải trí, lượng hóa được tổng giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên và môi trường của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà
Mục tiêu chính của đề tài nhằm phân tích giá trị kinh tế từ hoạt động giải trí du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa, trên cơ sở
đó đề xuất các chính sách cho việc sử dụng tài nguyên ở Hòn Bà để phát triển du lịch Xuất phát từ yêu cầu và mục tiêu đề tài, nghiên cứu đã đạt được những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về ước lượng phúc lợi trong kinh tế môi trường, lý thuyết về tổng giá trị kinh tế, phương pháp chi phí du hành Bên cạnh đó, đề tài đã tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến đánh giá giá trị giải trí bằng phương pháp chi phí du hành, làm nền tảng và định hướng cho đề tài nghiên cứu
Thứ hai, đề tài đã khái quát qui trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu,phương pháp chọn mẫu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu nghiên cứu
Thứ ba, đề tài đã khái quát về địa điểm nghiên cứu, phân tích giá trị giải trí cuả Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà bằng phương pháp chi phí du hành theo vùng Kết quả nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cầu giải trí của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà bao gồm: Chi phí thay thế, Nghề nghiệp, Chi phí chuyến đi, Hôn nhân, Thu nhập Qua kết quả phân tích hồi quy ta thấy các yếu tố tác động đến cầu du lịch lần lượt mạnh nhất là nghề nghiệp, thứ hai là hôn nhân, thứ ba là chi phí thay thế, thứ
tư là chi phí chuyến đi và yếu nhất là thu nhập giá trị cảnh quan môi trường của Hòn
Bà tính dưới dạng tiền tệ 1.308,762 triệu đồng, đây chính là giá trị mà Hòn Bà đem lại cho nền kinh tế trong một năm Thặng dư của du khách là 1.314,089 triệu đồng (đối
Trang 15với trường hợp chi phí thời gian bằng toàn bộ tổng thu nhập trung bình ngày) Trong trường hợp chi phí thời gian bằng một phần ba tổng thu nhập trung bình ngày thì giá trị giải trí được ước tính là 1.198,211 triệu đồng và thặng dư tiêu dùng là 1.204,345 triệu đồng
Thứ tư, đề tài đã đưa ra những khuyến nghị chính sách để phát triển các quỹ bảo vệ môi trường, đầu tư phát triển du lịch sinh thái kết hợp với bảo tồn
Từ khóa: phương pháp chi phí du hành, giá trị giải trí, du lịch sinh thái
Trang 17CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang tăng cường xu thế và hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, du lịch… trong đó, du lịch đóng vai trò quan trọng cả trên phương diện kinh tế lẫn văn hóa Tuy nhiên, ngành du lịch nước ta vẫn đối mặt với nhiều thách thức như điều kiện giao thông thấp kém, tỷ lệ lao động đã đào tạo trong ngành du lịch còn thấp, tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch ngày càng gia tăng… làm cho giá trị kinh tế của các khu du lịch ngày càng giảm
Môi trường là một yếu tố quan trọng trong hệ thống kinh tế và nền kinh tế sẽ không thể hoạt động bình thường nếu thiếu các yếu tố tài nguyên môi trường Con người hưởng thụ nét đẹp của tự nhiên nhưng không phải ai cũng hiểu hết được giá trị
mà nó mang lại Đại đa số còn chưa nhận thức đúng mức, vẫn coi tài nguyên, môi trường là cái mà ―thiên nhiên ban tặng Chính vì vậy, họ khai thác sử dụng để phục
vụ tối đa cho nhu cầu của mình mà không nghĩ đến việc gìn giữ, bảo tồn các giá trị tự nhiên Một nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là giá trị của tài nguyên thiên nhiên thường bị ẩn sau một số giá trị khác, hàng hóa chất lượng môi trường chưa được định giá trên thị trường Một trong những phương pháp định giá hàng hóa môi trường được
sử dụng rộng Phương pháp chi phí du hành dựa vào cách con người đi du lịch để từ đó tính được chi phí mà họ sẵn sàng bỏ ra để có thể được hưởng thụ vẻ đẹp tự nhiên Đó chính là giá của hàng hóa chất lượng môi trường và trên cơ sở đó có thể xây dựng được đường cầu du lịch – giải trí môi trường này (G.R Parsons, 2004)
Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà có tổng diện tích tự nhiên trên 19.000ha, nằm trên địa bàn bốn huyện: Cam Lâm, Diên Khánh, Khánh Sơn, Khánh Vĩnh Khu bảo tồn này cách thành phố Nha Trang khoảng 30 km theo đường chim bay, có độ cao tuyệt đối 1.578m Nơi đây có khí hậu mát mẻ quanh năm, độ ẩm cao, được ví như "Đà lạt thứ hai" của miền Trung Hòn Bà được bác sĩ Alexandre Yersin khám phá vào năm 1863 và ông đã cho xây dựng khu nghiên cứu, thực nghiệm nhiều loại cây thuốc có giá trị
Tuyến đường lên đỉnh Hòn Bà khá dài và qua nhiều vị trí có cảnh quan đẹp, khí hậu mát mẻ, có suối chảy, cây rừng phong phú, thuận lợi cho việc tổ chức thành điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí Nhằm khai thác triệt để khả năng sẵn có của khu vực này, tạo thêm các điểm tham quan du lịch phục vụ du khách, UBND tỉnh Khánh Hòa đã cho phép lập dự án quy hoạch chi tiết điểm dừng chân du lịch trên đỉnh Hòn Bà
Trang 18Ngày 9/5/2018, Sở NN&PTNT Khánh Hòa đã báo cáo Thường trực UBND tỉnh
đề án cho thuê môi trường rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà để kinh doanh du lịch sinh thái sau khi nghe báo cáo, UBND tỉnh Khánh Hòa đề nghị Sở NN&PTNT phối hợp các sở ngành liên quan suy nghĩ giải pháp để đảm bảo mục tiêu cao nhất là bảo vệ rừng đặc dụng
Hiện nay, Hòn Bà đã được khai thác cho phát triển du lịch Tuy nhiên, hoạt động việc khai thác giá trị sinh thái của tài nguyên này chưa được đánh giá đúng mức Giá trị kinh tế của tài nguyên Hòn Bà nói chung và từ khía cạnh du lịch nói riêng sẽ có nguy cơ sở dụng quá mức và bị đánh giá dưới mức khan hiếm Nếu có thể giải quyết hài hòa giữa phát triển du lịch và bảo tồn, thì chắc chắc tỉnh Khánh Hòa sẽ có thêm một địa điểm du lịch thu hút khách và có nguồn kinh phí để bảo tồn nguồn đa dạng sinh học tại nơi đây
Do vậy, để đánh giá được những lợi ích kinh tế của khu bảo tồn thiên nhiên Hòn
Bà mang lại từ hoạt động giả trí du lịch thì việc hình thành đề tài “Phân tích giá trị kinh tế từ hoạt động giải trí du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa” là hết sức cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu này nhằm phân tích giá trị kinh tế từ hoạt động giải trí du lịch tại
khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa, trên cơ sở đó đề xuất các chính sách cho việc sử dụng tài nguyên ở Hòn Bà để phát triển du lịch
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1) Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu giải trí của du khách tham quan du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà;
2) Ước lượng giá trị giải trí du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà;
3) Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm sử dụng và tái tạo tài nguyên du lịch Hòn Bà
1.2.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi sau:
1) Những yếu tố ảnh hưởng đến cầu giải trí của du khách khi đến du lịch tại Khu bảo Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu giải trí của du khách tham quan du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà?
2) Giá trị giải trí du lịch tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà từ hoạt động giải trí
du lịch hiện nay là bao nhiêu?
3) Các hàm ý chính sách nào nhằm sử dụng bền vững tài nguyên du lịch Hòn Bà
Trang 191.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Chủ thể mà đề tài hướng tới là việc xác định giá trị kinh tế từ hoạt động giải trí du lịch của khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà
+ Khách thể mà đề tài hướng tới là các vấn đề liên quan đến việc xác định giá trị kinh tế như chi phí du hành, các điều kiện kinh tế tự nhiên – xã hội của khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà
1.4 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp đánh giá giá trị giải trí tài nguyên môi trường của kinh tế môi trường để thực hiện mục tiêu nghiên cứu Trong đó mô hình chi phí du hành theo vùng được lựa chọn và sử dụng Phương pháp này phù hợp với đặc điểm và tính chất của địa điểm nghiên cứu Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà – là địa điểm du lịch Bên cạnh đó, phương pháp phân tích thống kê được sử dụng để ước lượng mức giá sẵn lòng trả của khách du lịch cho việc tái tạo cảnh quan và bảo vệ môi trường tại đây Ngoài ra, phương pháp phân tích định lượng thông qua kỹ thuật hồi qui đa biến cũng được sử dụng để nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến cầu giải trí du lịch của du khách đối với Hòn Bà
Phương pháp nghiên cứu chi tiết của đề tài luận văn được trình bày chi tiết
trong chương 2 của luận văn
1.5 Kết cấu luận văn
Đề tài nghiên cứu gồm có 5 chương:
Chương 1: Trình bày những nội dung cơ bản của nghiên cứu bao gồm lý do chọn
đề tài, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trang 20Chương 2: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết về đo lường phúc lợi kinh tế, tổng giá trị kinh tế, phương pháp chi phí du hành, tóm tắt các nghiên cứu trước về chủ
đề có liên quan
Chương 3: Các bước thực hiện phương pháp chi phí du hành theo vùng và mô tả
dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu theo cơ sở lý thuyết và dữ liệu nghiên cứu để trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Chương 5: Đưa ra kết luận và đề xuất chính sách từ kết quả nghiên cứu
Trang 21CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 LÝ THUYẾT VỀ ƯỚC LƯỢNG PHÚC LỢI TRONG KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Trong kinh tế học, phúc lợi của một vật nào đó được xem là những gì mà người
ta sẵn lòng trả để có nó, với những giả định cho trước về phân phối thu nhập và thông tin sẵn có Trong đánh giá về chất lượng môi trường, không thể đánh giá phúc lợi trực tiếp bằng cách sử dụng những kỹ thuật thị trường vì không có thị trường cho những người mua và người bán chất lượng môi trường Vì thế qua cách nhìn kinh tế học vi
mô, đánh giá phúc lợi trong kinh tế môi trường sẽ dựa trên lý thuyết về đường cầu
Theo N Gregory Mankiw (2014), cầu là khái niệm biểu thị mong muốn mua và
sự sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu, thể hiện tác động của giá tới lượng cầu Phản ứng của lượng cầu đối với sự thay đổi giá là sự vận động dọc theo đường cầu, khi giá cả tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại Chính vì thế, đường cầu là đường dốc xuống về bên phải như hình vẽ
Sự thay đổi giá của hàng hóa sẽ gây ra sự vận động dọc theo đường cầu, không làm đường cầu dịch chuyển Ngoài giá, các yếu tố như thu nhập, thị hiếu, giá của hàng hóa liên quan, v.v thay đổi thì đường cầu sẽ dịch chuyển sang trái hoặc sang phải theo lượng cầu Áp dụng vào kinh tế học môi trường, sử dụng đồ thị đường cầu để biểu thị giá sẵn lòng trả (WTP) của con người đối với một hàng hóa môi trường; sử dụng phương pháp tính toán WTP cho việc giảm ô nhiễm/ cải thiện chất lượng môi trường bởi vì giá thị trường của hàng hóa này không hiện hữu Có nhiều kỹ thuật khác nhau
để đánh giá WTP nhưng có thể phân thành hai cách tiếp cận:
+ Cách tiếp cận dùng giá thị trường để phản ánh WTP Cách này đo lường thiệt hại dưới dạng mất mát thu nhập hoặc sản lượng, năng suất bị giảm và chi tiêu cần thiết
để bù đắp thiệt hại môi trường Đây là phương pháp đo lường WTP trực tiếp
Trang 22+ Cách tiếp cận tính WTP của cá nhân thông qua hành vi tiêu dùng của họ hoặc hỏi trực tiếp Cách này sử dụng khi không có thị trường thực hoặc giá thị trường phầnnào phản ánh được giá trị môi trường Đây là phương pháp đo lường WTP gián tiếp
Tương ứng với hai cách tiếp cận có những kỹ thuật cụ thể để đánh giá cho các vấn đề môi trường như sau:
Phương pháp trực tiếp (sử dụng giá thị trường)
Phương pháp gián tiếp (sử dụng giá sẵn lòng trả)
1 Thay đổi năng suất 1 Chi tiêu bảo vệ/ giảm thiệt hại
2 Chi phí chăm sóc sức khỏe 2 Đánh giá hưởng thụ
3 Thiệt hại vốn nhân lực 3 Thị trường đại diện
4 Chi phí thay thế/ phục hồi thiệt hại, tài sản,
kinh doanh 4 Đánh giá ngẫu nhiên
Phương pháp ước lượng trực tiếp tuy sử dụng giá thị trường để đánh giá nhưng
nó không hoàn toàn phản ánh giá sẵn lòng trả WTP của con người cho việc cải thiện chất lượng môi trường Phương pháp gián tiếp khắc phục được hạn chế đó của phương pháp trực tiếp thông qua đo lường WTP bằng sự thay đổi thặng dư tiêu dùng (lợi ích ròng của một người có được từ tiêu dùng một lượng hàng hóa) Lý thuyết kinh tế khẳng định rằng lợi ích xã hội ròng của một hàng hoá hoặc dịch vụ bằng với tổng của thặng dư của người sản xuất và thặng dư tiêu dùng (Boardman et al, 1996) Trong trường hợp hàng hóa tư nhân, thặng dư tiêu dùng là sự khác nhau giữa giá sẵn lòng trả cho một lượng hàng hóa và giá mà người đó thực trả; được đo bằng diện tích nằm dưới đường cầu, trên đường giá, giới hạn bởi lượng hàng hóa từ 0 đơn vị đến đơn vị được tiêu thụ
Trong trường hợp hàng hóa công, phải tìm ra WTP của con người thay vì dùng giá thị trường, người sử dụng sẽ được hỏi WTP về lượng hàng hóa đã có sẵn thông tin, cách đo lường có thể giống như cách đo lường thay đổi thặng dư tiêu dùng cho hàng hóa tư nhân
Khó khăn của phần lớn các phương pháp đo lường phúc lợi là dựa trên việc thiết lập thị trường giả định để suy ra giá sẵn lòng trả WTP, bởi vì WTP không chỉ phản ánh sở thích và thu nhập mà còn phản ánh những giá trị không sử dụng như giá trị nhiệm ý, giá trị hiện hữu, giá trị lưu truyền, giá trị hỗ trợ Việc xác định tùy thuộc vào nhiều điều kiện phức tạp như cần kỹ thuật kinh tế lượng cao, đo lường các biến số
Trang 23không dễ dàng, nhận thức của các cá nhân về môi trường là chủ quan và chưa chắc phản ánh được giá trị, thiên lệch trong nghiên cứu, v.v Tuy nhiên, đo lường phúc lợi
là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học môi trường, nó đánh giá được những giá trị vô hình mà trước đấykhông thể thực hiện được, đóng góp hữu ích cho phân tích lợi ích chi phí và rất có ý nghĩa khi làm nền tảng cho các quyết định chính sách
2.2 LÝ THUYẾT VỀ TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Một số giá trị vô hình của những hàng hóa môi trường như không khí hay nước sạch không thể lượng hóa được, nhưng xuất phát từ nhận thức của xã hội về các lợi ích của chất lượng môi trường, các giá trị này tồn tại dưới hai nguồn: giá trị sử dụng và giá trị tồn tại Giá trị sử dụng đề cập đến sự hữu dụng đề cập đến sự hữu dụng hay lợi ích nhận được từ việc sử dụng hoặc tiếp cận một hàng hóa môi trường Giá trị tồn tại là sự thỏa dụng hay lợi ích nhận được từ một hàng hóa môi trường đơn giản qua sự tồn tại của nó như một hàng hóa hay dịch vụ Mitchell và Carson (1989) đo lường tổng giá trị
xã hội chung như sau:
Tổng giá trị của chất lượng môi trường = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại
Giá trị sử dụng xuất phát trực tiếp từ việc tiêu thụ các dịch vụ do môi trường tự nhiên cung cấp gọi là giá trị sử dụng trực tiếp, khi đánh giá sẽ giúp xác định giá sẵn long trả để duy trì hoặc cải thiện chất lượng môi trường Nếu sự hữu dụng có được từ việc thưởng thức chất lượng mỹ quan của môi trường thì đó là giá trị sử dụng gián tiếp
Giá trị tồn tại gồm hai động cơ: tiêu dùng của người khác và gìn giữ cho thế hệ tương lai Tiêu dùng của người khác là cá nhân đánh giá một hàng hóa công vì lợi ích
mà nó mang lại cho người khác, sự hữu dụng nhận được có tính phụ thuộc lẫn nhau Gìn giữ cho thế hệ tương lai là ý thức phải bảo tồn môi trường cho các thế hệ tương lai
và công nhận giá trị nội tại của tài nguyên thiên nhiên
Trong bất kì phương pháp ước lượng phúc lợi xã hội nào cũng tồn tại một số khó khăn, nhất là đối với các giá trị lợi ích vô hình như trên, vì chúng không được trao đổi trên thị trường nên phải tìm cách lượng hóa chúng với những giá trị bằng tiền tương đương Đối với một số phương pháp việc ước lượng đã lượng hóa được những giá trị phúc lợi vô hình này, kể cả khái niệm về giá trị tồn tại Smith and Krutilla (1982) đã xếp các phương pháp đo lường phúc lợi về môi trường thành hai nhóm chung nhất: cách tiếp cận liên hệ vật chất và cách tiếp cận liên hệ hành vi, trong đó các giá trị phúc lợi vô hình được xem xét nhiều hơn ở cách tiếp cận liên hệ hành vi
Trang 24Cách tiếp cận liên hệ vật chất đo lường các lợi ích dựa trên mối quan hệ vật chất giữa một tài nguyên môi trường và người sử dụng tài nguyên đó, tiêu biểu là phương pháp hàm thiệt hại sử dụng mối quan hệ hàm số để đo lường lượng giảm thiệt hại từ việc làm giảm chất gây ô nhiễm do chính sách mang lại, giá trị lợi ích sẽ được lượng hóa thành tiền qua lượng giảm thiệt hại này
Cách tiếp cận liên hệ hành vi để lượng hóa các lợi ích thông qua những quan sát hành vi trong các thị trường thực tế hoặc những câu trả lời từ khảo sát các thị trường giả định cho các hàng hóa môi trường Ngoài ra, phương pháp này còn giải quyết giữa hành vi hoặc các trả lời được liên kết chặt chẽ như thế nào với hàng hóa môi trường Các phương pháp đánh giá được chia thành các phương pháp trực tiếp gồm: dựa vào thông tin thị trường thực sự có phương pháp trưng cầu dân ý và với dữ liệu thị trường giả định có phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM); các phương pháp gián tiếp, gồm: phương pháp chi tiêu bảo vệ (AEM), phương pháp chi phí du hành (TCM) và phương pháp giá hưởng thụ (HPM)
Trong phạm vi của luận văn, tác giả sử dụng phương pháp chi phí du hành để đánh giá các lợi ích môi trường của một điểm du lịch
2.3 PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM)
Đây là phương pháp lâu đời nhất trong các phương pháp đánh giá hàng hóa và dịch vụ phi thị trường Phương pháp này được phát triển chính thức từ năm 1966 bởi Clawson và Knetsch dựa trên ý tưởng của Harold Hotelling (1947) Phương pháp này
sử dụng mối quan hệ bổ sung giữa chất lượng của một tài nguyên thiên nhiên và giá trị
sử dụng cho mục đích vui chơi giải trí của nó, đo lường giá trị sử dụng của một khu vực giải trí hay một địa điểm lịch sử, cũng như ước lượng những gia tăng trong giá trị
sử dụng nếu địa điểm đó được cải tạo Khi một người muốn sử dụng các dịch vụ vui chơi giải trí của một địa điểm thì người đó phải đến đó, chi phí du hành khi đến địa điểm được xem như giá ẩn hay giá thay thế của chuyến đi; những thay đổi trong chi phí du hành sẽ dẫn đến một sự biến đổi trong số lượng các chuyến đi; quan sát các biến đổi này qua nhiều cá nhân sẽ ước lượng được các hàm cầu và giá trị của điểm du lịch Kỹ thuật điều tra dựa trên cơ sở phỏng vấn khách du lịch tại điểm vui chơi giải trí
để thu thập các thông tin về chuyến đi (chi phí, khoảng cách từ nơi xuất phát đến điểm
du lịch, mục đích của chuyến đi và các điểm đến khác trong chuyến đi) và các đặc điểm kinh tế xã hội khác (thu nhập, tuổi, giới tính) Phương pháp chi phí du hành có
Trang 25hai dạng chính: mô hình chi phí du hành theo vùng (ZTCM) và mô hình chi phí du hành theo cá nhân (ITCM)
Hình 2.1 Đường cầu giải trí và thặng dư tiêu dùng của phương pháp TCM
Đường cầu giải trí biểu diễn mối quan hệ giữa số du khách tham gia và chi phí
để thực hiện hoạt động giải trí Đó là giá sẵn lòng trả (WTP) của du khách cho việc cải thiện chất lượng môi trường và thặng dư tiêu dùng là phần diện tích nằm dưới đường cầu trên đường giá như trên đồ thị
Chi phí du hành theo vùng (ZTCM) chia nơi xuất phát của du khách thành các vùng, lấy biến phụ thuộc là tỉ lệ du khách (số chuyến đi từ một vùng nhất định trong khoảng thời gian nhất định trên tổng dân số của vùng đó) Đường cầu về chuyến đi cho một địa điểm vui chơi giải trí từ vùng j sẽ xác định như sau:
Vj/Pj = f (Cj, Xj) (1) Trong đó, Vj là tổng số chuyến đi của các cá nhân từ vùng j đến điểm vui chơi giải trí trên đơn vị thời gian; Pj là dân số vùng j; Cj là chi phí du hành từ vùng j đến điểm vui chơi giải trí; Xj thể hiện các đặc điểm kinh tế xã hội của vùng j Tỉ lệ Vj/Pj là
số chuyến đi trên đơn vị dân số, thường được giả định là 1000 người, ở vùng j Ước lượng giá trị cảnh quan và thặng dư của du khách: đường cầu du lịch cũng chính là đường giá sẵn lòng trả biên tế cho dịch vụ tham quan du lịch của du khách Như vậy giá trị cảnh quan của địa điểm du lịch được đánh giá như tổng giá sẵn lòng trả của dukhách, sẽ được đo bằng phần diện tích nằm bên dưới đường cầu Phần diện tích phía dưới đường cầu có dạng hình tam giác, nên có thể được tính bằng phương pháp tính diện tích tam giác Dựa vào đường cầu đã được xây dựng, có thể ước lượng thặng dư của du khách Thặng dư của du khách chính là phần diện tích tam giác phía trên đường thẳng nằm ngang tương ứng với chi phí và phía dưới đường cầu
Trang 26Chi phí du hành cá nhân (ITCM) xác định biến phụ thuộc là số lần đến điểm du lịch của mỗi du khách trong một khoảng thời gian nhất định, có đường cầu như sau:
Vi = f (TCi, Xi) (2) Trong đó, Vi là số lần tham quan trong một khoảng thời gian nhất định bởi cá nhân i đến điểm du lịch; TCi là chi phí chuyến đi của cá nhân i đến điểm du lịch, Xi là tất cả các yếu tố khác quyết định đến số lần tham quan của cá nhân i Giá trị ước lượng của thặng dư tiêu dùng cá nhân hàng năm (ICS) cho cá nhân i sẽ là nguyên hàm:
Nhân ICSi trên với số các nhân đến điểm du lịch hàng năm ta được tổng thặng
dư tiêu dùng hàng năm cho một điểm du lịch
Nếu ở ZTCM phải xác định và phân chia các vùng của du khách để tính chi phí thì ITCM cần xác định từng loại du khách và thời gian tham quan của họ Tùy vào mục đích nghiên cứu và hoàn cảnh cụ thể mà các nhà nghiên cứu lựa chọn cho mình phương pháp phù hợp giữa ZTCM và ITCM Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, phương pháp ZTCM sẽ phù hợp hơn ITCM vì không phải đa số người dân đều
có điều kiện và khả năng đi du lịch nhiều lần tại một địa điểm và trong một năm, mặc
dù ở phương pháp này luôn cho ra R2 bị chệch cao hơn dẫn đến việc ước lượng có thể cao quá mức nếu các vùng không được xác định chính xác
2.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA MỘT ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
Các yếu tố ảnh hưởng tới cầu giải trí du lịch của du khách đối với một điểm du lịch bao gồm các yếu tố sau:
Cầu giải trí du lịch: Là biến phụ thuộc, thể hiện tỉ lệ viếng thăm của du khách đối với từng vùng khác nhau
Thời gian di chuyển: là biến số thể hiện thời gian tính bằng giờ từ nơi đến của
du khách đến địa điểm du lịch, kỳ vọng mang dấu âm (-) Từ lý thuyết và thực tiễn cho thấy, khoảng cách nơi đến hay thời gian di chuyển của du khách càng lớn thì cầu về giải trí của du khách càng giảm Chính vì vậy, biến số này rất cần được kiểm định trong nghiên cứu của luận văn
Chi phí du lịch: Là biến thể hiện toàn bộ chi thực tế và chi phí cơ hội mà du khách bỏ ra đi du lịch, kỳ vọng mang dấu âm (-) Trong lý thuyết kinh tế, đối với hàng hóa thông thường, giá càng cao thì cầu thường có xu hướng giảm xuống Do vậy,
Trang 27trong nghiên cứu kỳ vọng rằng, khi chi phí du lịch càng cao, tỉ lệ viếng thăm của du khách giảm xuống
Chi phí thay thế: biến số này được hiểu là chi phí bỏ ra để đi du lịch đến địa điểm thay thế, kỳ vọng mang dấu dương (+) Trong lý thuyết kinh tế, chi phí của một loại hàng hóa càng cao thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng chuyển sang tiêu dùng một loại hàng hóa thay thế khác và ngược lại Trong các nghiên cứu thực nghiệm trứơc đây của Trần Võ Hùng Sơn & Phạm Khánh Nam (2001), của Phạm Hồng Mạnh (2008)…đã cho thấy chi phí đến địa điểm thay thế của du khách càng cao, tỉ lệ viếng thăm của du khách đến địa điểm du lịch được xác định càng cao và ngược lại Do vậy, trong nghiên cứu này chi phí thay đến địa điểm thay thế được kỳ vọng mang dấu dương
Tuổi của du khách: Biến số tuổi tính từ năm sinh của du khách và kỳ vọng mang dấu dương (+) Thực tiễn cho thấy, những du khách có tuổi đời lớn hơn thường
đã có công việc ổn định và điều kiện về thu nhập để đi du lịch Mặt khác, theo các nghiên cứu thực nghiệm trước đây như của Trần Võ Hùng Sơn, Phạm Khánh Nam (2001), Phạm Hồng Mạnh (2008)…cho rằng tuổi của du khách sẽ đồng biến với cầu đi
du lịch Trong nghiên cứu, biến số này được giả định là tuổi của du khách có quan hệ thuận chiều với cầu giải trí du lịch của du khách
Giới tính: là biến giả, nhận giá trị 1 nếu du khách là nam giới, nhận giá trị 0 cho
du khách là nữ giới, kỳ vọng dấu hệ số hồi quy (-) Do đặc điểm giới tính, nữ giới thường phải đảm nhận các công việc gia đình và vì vậy ít có điều kiện để đi du lịch hơn nam giới Vì vậy, đặc điểm của giới tính cũng rất cần được kiểm định trong nghiên cứu này
Tình trạng hôn nhân: là biến thể hiện đặc điểm về hôn nhân của du khách, nhận giá trị 1 nếu du khách đã có gia đình, nhận giá trị 0 những trường hợp khác, kỳ vọng dấu hệ số hồi quy (+) Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây đã cho thấy bằng chứng, biến số tình trạng hôn nhân có tác động thuận chiều đến cầu giải trí của du khách Vì vậy trong nghiên cứu, biến số này được kỳ vọng tác động dương đến tỉ lệ viếng thăm của du khách
Trình độ học vấn: thể hiện số năm đi học trung bình của du khách, kỳ vọng mang dấu dương (+) Khi trình độ học vấn của du khách càng cao, càng có điều kiện
để tìm kiếm những công việc có thu nhập cao hơn và có điều kiện để đi du lịch Do đó, trong nghiên cứu này, biến số trình độ học vấn được kỳ vọng có quan hệ cùng chiều với cầu giải trí của du khách
Trang 28 Nghề nghiệp: là biến thể hiện đặc trưng nghề nghiệp của du khách Du khách có nghề nghiệp ổn định thường có điều kiện về thời gian và thu nhập, chẳng hạn như: kinh doanh buôn bán, công viên chức hay nhân viên văn phòng Vì vậy, họ thường có những điều kiện đi du lịch nhiều hơn những du khách có nghề nghiệp không ổn định
Thu nhập: là biến thể hiện thu nhập thực tế của du khách Thu nhập này là thu nhập từ các hoạt động nghề nghiệp chính thức và phi chính thức Kỳ vọng trong kết quả mô hình mang dấu dương (+) Các nghiên cứu của Phạm Hồng Mạnh (2008), Trương Ngọc Phong (2010) hay Trần Võ Hồng Sơn (2001)… cho thấy, thu nhập của du khách càng cao càng có nhiều điều kiện để đi du lịch Do vậy, trong nghiên cứu biến số này đuợc kỳ vọng tác động thuận chiều đến tỉ lệ viếng thăm Nha Trang của du khách
Nguồn: Xây dựng của tác giả
Hình 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu giải trí du lịch
2.5 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp chi phí du hành (TCM) để đánh giá giá trị tài nguyên và môi trường của nhiều địa điểm khác nhau, ở các mốc thời gian khác nhau như:
Trần Võ Hùng Sơn và Phạm Khánh Nam (2002) nghiên cứu về giá trị giải trí của cụm đảo san hô Hòn Mun, tỉnh Khánh Hòa bằng phương pháp chi phí du hành, so
Trang 29sánh lợi ích giữa việc mở rộng cảng Nha Trang và thành lập khu bảo tồn biển Nghiên cứu thực hiện với cả khách du lịch trong và ngoài nước, cho thấy cầu giải trí của Hòn Mun phụ thuộc vaò chi phí du hành, chi phí đến điểm thay thế, thu nhập và các đặc điểm kinh tế xã hội; thu nhập có tác động dương lên số lần viếng thăm, chi phí du hành tác động nghịch lên số lần du lịch đến Hòn Mun nghĩa là khi khách du lịch phải trả chi phí càng cao thì họ sẽ giảm số lần tham quan; chi phí đến điểm thay thế và cầu
du lịch không có mối liên hệ thống kê với nhau mặc dù hệ số mang dấu mong đợi, do khó khăn trong quá trình lấy mẫu; biến ‘nam giới’ có dấu dương và có ý nghĩa thống
kê, điều này cho thấy nam giới đi du lịch đến Hòn Mun nhiều lần hơn phụ nữ do vấn
đề không bình đẳng trong giới tính; biến tuổi không có tác động rõ ràng lên cầu du lịch; biến trình độ học vấn tác động âm nhưng không có ý nghĩa thống kê Kết quả ước lượng cho thấy giá trị giải trí sản sinh ra cho nền kinh tế của Hòn Mun trong năm 2000 vào khoảng 260 tỷ đồng, giá trị này sẽ mang lại nguồn lợi chính cho khu bảo tồn biển
ở Hòn Mun nếu nó được thiết lập; thặng dư người tiêu dùng được ước tính vào khoảng 45,4 tỷ đồng, đây là giá trị mà khách du lịch đạt được khi vui vui chơi tại Hòn Mun, trong đó lợi ích bình quân của khách ngoại quốc đạt được gấp đôi so với khách trong nước, chứng tỏ khách du lịch ngoại quốc cảm thấy thú vị hơn với Hòn Mun Tuy nhiên, vấn đề tiềm tàng có thể xảy ra là lợi ích giải trí bị giảm lớn hơn doanh thu của cảng mới nếu mở rộng cảng Nha Trang nên cần phải xem xét lại
Nguyễn Mạnh Hùng (2014) đánh giá giá trị cảnh quan của Vườn Quốc Gia Ba
Vì bằng phương pháp chi phí du hành theo vùng Nghiên cứu đã xây dựng hàm cầu du lịch và tính được tổng giá trị giải trí của Vườn Quốc Gia Ba Vì năm 2013 là 3,91 tỷ đồng, tổng thặng dư tiêu dùng của du khách đến tham quan là 3,88 tỷ đồng Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ thực hiện với khách du lịch trong nước, không khảo sát với khách nước ngoài
Một số nghiên cứu sử dụng kết hợp cả hai phương pháp: đánh giá ngẫu nhiên (CVM) và chi phí du hành (TCM) để đo lường giá trị giải trí, ước lượng lợi ích cải thiện chất lượng môi trường và giá sẵn lòng trả của du khách cho việc này:
Trần Thị Thu Hà và Vũ Tấn Phương (2005) đánh giá gía trị cảnh quan của vườn Quốc gia Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà bằng phương pháp chi phí du hành theo vùng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng cách từ vùng du lịch tới điểm du lịch càng ngắn tỷ lệ dân cư của vùng tới thăm điểm du lịch càng cao; tổng chi phí du hành của các du khách có sự khác biệt giữa các vùng và tỷ lệ thuận với khoảng cách; giá trị cảnh quan cũng như thặng dư người tiêu dùng của vườn Quốc gia Ba Bể cao hơn khoảng 3 lần so với hồ Thác Bà nguyên nhân do hoạt động du lịch sinh thái của
Trang 30vườn Quốc gia Ba Bể diễn ra sớm, có quy mô và cơ sở vật chất tốt hơn, chứng tỏ du khách đánh giá cảnh quan nơi này cao hơn hẳn Phương pháp CVM được dùng để ước lượng mức sẵn lòng trả (WTP) để bảo vệ cảnh quan tại 2 nơi này của du khách, ở VQG Ba Bể, du khách nước ngoài sẵn lòng trả 90.000đ/ người, khách nội địa khoảng 21.300đ/ người, ở hồ Thác Bà, du khách nội địa sẵn lòng trả 8.600đ/ người; điều này cho thấy hầu hết du khách sẵn sàng trả cao hơn mức phí vào cửa để được thưởng thức cảnh quan và góp phần cải tạo, duy trì, bảo vệ cảnh quan
Phạm Hồng Mạnh (2007) nghiên cứu giá trị giải trí du lịch của du khách trong nước với khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang Kết quả nghiên cứu thấy được giá trị giải trí rất lớn trong năm 2007 của vịnh Nha Trang là 23.281 tỷ đồng, thặng dư tiêu dùng là 7.760 tỷ đồng, giá trị này lớn hơn doanh thu của ngành du lịch và đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế nơi đây; phương pháp CVM được sử dụng để xác định mức sẵn lòng trả của du khách với việc thành lập quỹ bảo vệ môi trường của vịnh Nha Trang: trung bình 7.875đ/ người/ 1 đêm tại khách sạn, tổng mức sẵn lòng trả của du khách là khoảng 21.224 tỷ đồng Nghiên cứu đã chỉ ra đây là một nguồn lực tài chính khá lớn
mà du khách trong nước sẵn lòng chi trả cho việc duy trì cảnh quan, tái tạo và bảo vệ tài nguyên môi trường của vịnh Nha Trang
Phạm Hồng Mạnh và Trương Ngọc Phong (2010) đã ước lượng giá trị của việc cải thiện chất lượng môi trường tại cụm đảo Hòn Mun Bằng việc sử dụng phương pháp chi phí du lịch (du hành) theo vùng (ZTCM) để xây dựng đường cầu giải trí của
du khách khi viếng thăm Hòn Mun Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sau 7 năm thành lập và đi vào hoạt động thì giá trị của việc cải thiện chất lượng môi trường tại cụm đảo này giai đoạn 2000 - 2007 ước đạt con số 28,3 tỷ đồng Đây không phải là giá trị tổng thể của việc cải thiện chất lượng môi trường mà chỉ là một phần giá trị nhìn từ khía cạnh giải trí du lịch của du khách nội địa
Thông qua việc tổng quan các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước, tác giả tiếp thu các công trình nghiên cứu và rút ra một số nhận xét sau:
- Phương pháp TCM có hai cách tiếp cận bằng hai mô hình ZTCM và mô hình ITCM nhưng hầu hết các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận bằng một mô hình Đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà thì ước lượng giá trị kinh tế bằng mô hình nào là hợp
lý và hiệu quả hơn Tác giả quyết định tiếp cận từ hai hướng để có cái nhìn khái quát
- Tác giả cũng tiếp thu từ các nghiên cứu trước đây và lựa chọn mô hình cho hai cách tiếp cận như sau: tác giả chia khách du lịch đến Hòn Bà thành 5 vùng và hàm cầu
đề xuất là VR = a + b.TC (với VR là tỷ lệ du khách của mỗi vùng; TC là tổng chi phí trung bình cho cả chuyến đi của du khách)
Trang 31- Các nghiên cứu liên quan có đề cập đến WTP để bảo tồn tài nguyên bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên Tuy nhiên, do những hạn chế chủ quan cũng như khách quan nên tác giả không đi sâu vào vấn đề này Trong nghiên cứu của mình, tác giả vẫn điều tra về mức phí mà du khách sẵn lòng trả để bảo tồn Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà để góp phần hoàn thiện kết quả nghiên cứu
- Nha Trang là điểm đến du lịch nổi tiếng của Việt Nam, tại đây có rất nhiều địa điểm hấp dẫn du khách đến tham quan chứ không chỉ là loại hình du lịch sinh thái Đây cũng là điểm khó khăn của tác giả khi thực hiện nghiên cứu này khi xác định các chi phí du lịch Tác giả quyết định sử dụng phương pháp bóc tách chi phí thông qua bảng câu hỏi điều tra, phần phải lưu ý khi xây dựng bảng câu hỏi
Từ những đánh giá ở phần trên, tác giả có cơ sở đưa ra khung phân tích cho nghiên cứu như sau:
Hình 2.2 Khung phân tích của nghiên cứu
Phương pháp chi phí
Đường cầu theo phương pháp ZTCM
Vùng 1 Vùng 2
Vùng 4
Vùng 3
Vùng 5
Vj/Pi = f(Cij, Xi,) hay V/P = a + b*TC
Tổng thặng dư tiêu dùng của du khách
WTP – giá sẵn lòng trả để bảo tồn môi trường
Trang 32TÓM LƯỢC CHƯƠNG 2
Chương 2 trình bày các nội dung cơ bản và lý thuyết liên quan đến ước lượng phúc lợi trong kinh tế môi trường, phương pháp chi phí du hành và các nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài để hình thành khung phân tích và nhận diện cơ hội nghiên cứu Trên cơ sở đó để đề xuất mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến cầu giải trí tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, quy trình nghiên cứu và phương pháp thu thập, xử lý số liệu trong chương tiếp theo
Trang 33CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU
Để đạt được các mục tiêu của đề ra thì qui trình nghiên cứu của đề tài được tổ chức hai giai đoạn bao gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính bao gồm 2 nội dung cơ bản là nghiên cứu các cơ sở lý thuyết của mô hình chi phí du hành theo vùng ZTCM (Zonal Travel Cost Method), và cầu giải trí du lịch, đồng thời tổng quan về các kết quả nghiên cứu trước đây nhằm hình thành khung phân tích và xác định mô hình nghiên cứu của đề tài
Nguồn: Xây dựng của tác giả
Sơ đồ 3.1 Quy trình nghiên cứu
Bước tiếp theo là tổ chức phỏng vấn thử tại Hòn Bà để bước đầu khám phá những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động giải trí du lịch và giá sẵn lòng trả của du khách Cùng với những kết quả nghiên cứu trước của các tác giả khác thì việc phỏng
Phỏng vấn thử N=50
Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu giá trị tài nguyên môi trường (Lý thuyết giá trị tài nguyên môi trường, mô hình ZTCM)
Định hướng
mô hình lý thuyết
Bản câu hỏi mẫu
Ước lượng giá trị cảnh quan du lịch của du khách
Hoàn thiện bản câu hỏi
Đưa ra gợi ý chính sách về phát triển
Trang 34vấn thử còn là cơ sở để xây dựng bảng câu hỏi điều tra phục vụ cho quá trình nghiên cứu định lượng tiếp theo Toàn bộ qui trình nghiên cứu này được tóm tắt trong sơ đồ 2.1 Qui trình nghiên cứu nêu trên
3.2 NGHIÊN CỨU SƠ BỘ
Bảng câu hỏi sơ bộ được thiết kế để xem xét và đánh giá về hành vi du lịch của
du khách trong nước Các câu hỏi được lựa chọn đưa vào bảng câu hỏi sơ bộ được tổng hợp từ ba nguồn: (i) từ các nghiên cứu trước; (ii) từ ý kiến tư vấn của giáo viên hướng dẫn và (iii) từ kết quả của việc phân tích phỏng vấn Các thông tin cơ bản trong bảng câu hỏi bao gồm: mục đích của chuyến du lịch tại Hòn Bà, chi phí cho chuyến du lịch, những hoạt động du lịch của du khách tại Hòn Bà, những thông tin cá nhân của
du khách như: tuổi, thu nhập, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, giới tính và một số thông tin cá nhân khác Ngoài ra, để xác định mức sẵn lòng trả của du khách cho hoạt động bảo tồn Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, những thông tin về giá sẵn lòng trả của
du khách cũng được đưa vào bảng câu hỏi
Mục tiêu của việc nghiên cứu sơ bộ là bước đầu nhận dạng những nhân tố nào ảnh hưởng đến giá trị giải trí du lịch và giá sẵn lòng trả của du khách ở các địa điểm khác nhau, các độ tuổi khác nhau, v.v…khi thực hiện du lịch tới Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, cụ thể:
- Nhận dạng xem có phải yếu tố về môi trường, cảnh quan của Hòn Bà nói chung
Trong phỏng vấn sơ bộ, nghiên cứu đã chọn 50 du khách trong nước từ các nơi khác nhau để thực hiện phỏng vấn Kết quả của phỏng vấn sơ bộ cho thấy:
- Mục đích để du khách đến Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà: Lý do chủ yếu là
du lịch nghỉ ngơi, tham quan, giải trí vì Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn bà có thời tiết ấm
áp, phong cảnh núi rừng hùng vĩ Đến Hòn Bà để được hưởng một bầu không khí
Trang 35trong lành Cầu về du lịch của du khách đối với Nha Trang nói chung và Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà nói riêng là có thực
- Về hình thức di chuyển: Du khách ở các tỉnh phía bắc đi từ 01 đến 04 người thường đi bằng đường hàng không, ngoài ra còn di chuyển bằng tour du lịch Những
du khách ở phía nam, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền trung gần thành phố Nha Trang thì đi bằng nhiều hình thức khác nhau như máy bay, tàu lửa, ô tô
- Những đặc điểm về kinh tế xã hội của du khách: Du khách đến Nha Trang làm nhiều nghề nghiệp khác nhau như: giáo viên, nhân viên văn phòng, nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu….Độ tuổi của du khách từ 16 đến 60 tuổi; trình độ học vấn của họ cũng rất đa dạng từ phổ thông trung học đến sau đại học Đa phần họ là những người
đã có gia đình
- Những thông tin về chi phí du lịch: Du khách đều cho rằng những chi phí cơ bản của chuyến du lịch bao gồm: chi phí đi lại, chi phí phòng nghỉ tại khách sạn, chi phí cho ăn uống, những chi phí cho việc mua quà hay đồ lưu niệm, v.v Đại đa số khách được phỏng vấn cho rằng nếu không đi du lịch tại Hòn Bà họ sẽ ở nhà làm việc hoặc đi du lịch một nơi khác với mức chi phí bằng hoặc cao hơn mức chi phí bỏ ra cho chuyến du lịch tại Hòn Bà
- Về thu nhập của du khách: Thu nhập hàng tháng của du khách cũng rất khác nhau, phổ biến từ 3 triệu đồng đến 50 triệu đồng Những người có thu nhập trung bình thường là học sinh sinh viên, nhân viên văn phòng, nhân viên kinh doanh Đa phần những đối tượng này thực hiện đến Hòn Bà không qua tour du lịch Bên cạnh đó, những du khách có thu nhập cao hơn thường là du khách đến từ Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, đa phần trong số họ là doanh nhân hoặc công chức Họ thường tổ chức đi du lịch theo gia đình đến Hòn Bà
- Những thông tin đánh giá cảnh quan môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà của du khách: Du khách cho rằng cảnh quan đẹp, môi trường trong lành sạch
sẽ và họ thích nhất ở Hòn Bà có thời tiết mát mẻ, phong cảnh núi rừng hùng vĩ, sự đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà và không hài lòng vì môi trường cảnh quan chưa được hấp dẫn, sản phẩm du lịch chưa phong phú, chi phí các dịch vụ cao, thói quen xả rác bừa bãi của du khách
- Giá sẵn lòng trả của du khách cho quỹ phát triển môi trường của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà: Để nhận dạng về giá sẵn lòng trả của du khách về việc đóng góp
Trang 36quỹ phát triển môi trường cho Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tác giả đã khảo sát về những phương cách đóng góp của họ Đa số họ đều sẵn lòng trả thêm các khoản phí để bảo vệ môi trường biển của Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà Cách thức mong muốn đóng góp của các du khách này cũng rất khác nhau, như: đóng thêm phí thông qua các tour du lịch, đóng thêm phí thông qua việc trả tiền phòng khách sạn, đóng thêm phí vào các dịch vụ nhà hàng
Có thể nói rằng, việc nghiên cứu sơ bộ đã bước đầu nhận dạng các đặc điểm kinh
tế xã hội của du khách, những hoạt động giải trí du dịch của du khách đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà Đồng thời, kết quả phỏng vấn sơ bộ đã bước đầu nhận dạng
về giá sẵn lòng trả và cách thức đóng góp của du khách cho quỹ phát triển môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà Tất cả những yếu tố trên sẽ là cơ sở quan trọng trong việc thiết kế bảng câu hỏi điều tra phục vụ cho quá trình nghiên cứu tiếp theo
3.3 NGHIÊN CỨU CHÍNH THỨC
3.3.1 Bản câu hỏi
Bản câu hỏi là một công cụ dùng để thu thập các thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề nghiên cứu của đề tài Từ việc nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thí điểm để xây dựng và điều chỉnh bảng câu hỏi phù hợp với thời gian thực hiện và mục tiêu nghiên cứu của đề tài Bản câu hỏi sẽ tập trung vào việc thu thập các thông tin quan trọng mà mục tiêu nghiên cứu của đề tài đã đặt ra Xuất phát từ mục tiêu của đề tài mà bảng câu hỏi (Phụ lục 1) được thiết kế với các nội dung chủ yếu sau đây:
Phần thứ nhất: những câu hỏi về đặc điểm kinh tế xã hội của khách du lịch như: tên, tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa phương, v.v…Phần này cung cấp những thông tin quan trọng phản ánh một cách tổng quan các đặc tính của khách du lịch để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Phần thứ hai: là những câu hỏi về hoạt động giải trí du lịch của du khách như: chi phí du hành tại Hòn Bà, chi phí tham quan, số lần viếng thăm Hòn Bà, các hoạt động giải trí của du khách tại địa điểm du lịch, v.v… Nội dung của phần này là cung cấp những thông tin về chi phí du hành của du khách đối với từng khu vực Đây chính
là cơ sở cho việc ước lượng đường cầu giải trí du lịch đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà và tính toán thặng dư tiêu dùng của du khách ở từng vùng
Phần thứ ba: Trong phần này những câu hỏi sẽ tập trung mô tả về giá trị tài nguyên môi trường của Hòn Bà, áp lực và những vấn đề môi trường đối với Khu bảo tồn thiên
Trang 37nhiên Hòn Bà trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là kinh tế du lịch để du khách có thể thấy được những lợi ích bị mất đi nếu như tài nguyên môi trường của Hòn Bà bị suy thoái và sẽ chung tay trong việc phục hồi tài nguyên môi trường cảnh quan của Hòn Bà, khả năng đóng góp về mặt tài chính cho mục tiêu cải thiện cảnh quan môi trường của Hòn Mức sẵn lòng trả trong bảng câu hỏi được thiết kế để mở cho du khách tự đưa ra mức sẵn lòng trả của mình và một hình thức khác là đóng góp qua giá phòng lưu trú của khách Ngoài ra, các phương án đóng góp khác cũng được đưa vào để xác định khả năng thu được mức sẵn lòng trả của du khách
3.3.2 Mẫu nghiên cứu
- Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu:
Chọn mẫu là quá trình chọn lựa một bộ phận tương đối nhỏ từ một tổng thể, với
tư cách là đại diện cho tổng thể nghiên cứu Chọn mẫu nghiên cứu là phương pháp ưu việt hơn phương pháp điều tra tổng thể Việc chọn mẫu được tiến hành điều tra các đối tượng mang tính đại diện cho tổng thể Sau khi có thông tin thu được từ mẫu nghiên cứu sẽ suy rộng cho các đặc tính của tổng thể nghiên cứu Cụ thể, mẫu nghiên cứu trong đề tài mẫu được chọn bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện
- Kích thước mẫu cần thu thập: Trong phân tích thống kê kích thước mẫu cần thu thập phải đủ lớn để đạt được mục tiêu của đề tài và cần phải đạt được độ tin cậy nhất định Trong nghiên cứu phương pháp chọn mẫu thuận tiện được lựa chọn và kích thước mẫu điều tra được dựa vào các cơ sở chủ yếu của mô hình ước lượng Trong nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) thì số mẫu tối thiểu cho một biến cần ước lượng trong phân tích hồi quy là 10 (Hanke, Reitsch & Wichern, 2000, tr 107 – 108) Tabachnick và Fidell (1991) thì cho rằng, số mẫu tối thiểu trong phân tích hồi quy OLS bằng 50 + 5k (với k là số biến độc lập) Tuy nhiên, xuất phát từ đặc điểm của tổng thể nhằm đảm bảo tính đại diện, nâng cao độ tin cậy trong kết quả phân tích, nghiên cứu thực hiện khảo sát 250 du khách trong nước khi thực hiện các hoạt động giải trí du lịch tại Hòn Bà
3.3.3 Mô hình kinh tế lượng
Từ cơ sở lý thuyết đã trình bày, cũng như từ việc tổng quan các nghiên cứu liên quan trên cho thấy các nghiên cứu thực nghiệm khi đánh giá hay ước lượng giá trị tài nguyên môi trường đối với thị trường không hiện hữu đều sử dụng phương pháp TCM hay phương pháp CVM Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu giải trí của du khách chủ yếu
Trang 38là các đặc điểm kinh tế xã hội, như: đặc điểm về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập, chi phí du lịch hay chi phí thay thế Chính vì vậy, trong nghiên cứu này sẽ kế thừa về khung phân tích và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây để đánh giá giá trị cảnh quan môi trường đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà dưới khía cạnh giải trí
du lịch
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hai loại mô hình kinh tế lượng để tìm ra những nhân tố kinh tế xã hội có tác động thực sự đến cầu du lịch và giá sẵn lòng trả của khách du lịch tại Hòn Bà, đồng thời xác định xác suất sẵn lòng trả của du khách cho quỹ phát triển môi trường tại Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà
Từ các mô hình này sẽ phục vụ cho việc gợi ý các chính sách về phát triển du lịch sinh thái bền vững Những mô hình này bao gồm: (i) Mô hình hồi qui đa biến xác định những nhân tố tác động đến cầu giải trí du lịch của du khách tại Hòn Bà; (ii) Mô hình hồi quy đơn biến về xây dựng đường cầu giải trí du lịch của du khách đối với Khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà Các biến cụ thể đưa vào những mô hình kinh tế lượng này được diễn giải cụ thể dưới đây
Mô hình hồi quy đa biến xác định những yếu tố ảnh hưởng tới cầu giải trí du lịch của du khách
Để thiết lập mô hình nhằm tìm ra những mức độ của các yếu tố ảnh hưởng tới cầu giải trí du lịch của du khách khi thực hiện hoạt động tại Hòn Bà, mô hình hồi quy
đa biến được xác định có các dạng như sau:
N - Là số lần thực hiện du lịch giải trí tại Hòn Bà
TIME – Là biến thời gian di chuyển của du khách đến Hòn Bà, tính bằng giờ
Trang 39TC – Là biến chi phí du lịch của du khách Kỳ vọng của biến số này mang dấu
âm (-) Theo lý thuyết kinh tế cùng với kết quả các nghiên cứu trước đó cho rằng chi phí du lịch sẽ nghịch biến với số lần đi du lịch của du khách
STC – Biến chi phí đến địa điểm du lịch thay thế Kỳ vọng của biến này mang dấu âm (-) Theo những kết của nghiên cứu trước, cùng với lý thuyết kinh tế cho rằng biến số chi phí đến địa điểm du lịch thay thế có quan hệ nghịch biến với số lần du lịch tại địa điểm nghiên cứu
AGE - Biến số tuổi tính từ năm sinh của du khách Kỳ vọng mang dấu (+) Cũng theo điều tra cùng với các nghiên cứu về giá trị giải trí du lịch khác, cho rằng tuổi của
du khách sẽ đồng biến với số lần đi du lịch
MR – Là biến giới tính (Biến giả), nhận giá trị 0 nếu du khách là nữ, nhận giá trị
1 nếu du khách là nam Kỳ vọng mang dấu (+) Cũng theo điều tra mức về hoạt động
du lịch và các nghiên cứu khác cho rằng tại các nước khu vực Châu Á, phụ nữ nói chung là ít có điều kiện đi du lịch Đây chính là tư tưởng “trọng nam” nên hệ quả là phụ nữ có cơ hội ít hơn nam giới trong việc đi du lịch
MAR – Biến tình trạng hôn nhân (là biến giả), nhận giá trị 0 nếu du khách chưa
có gia đình và giá trị 1 nếu du khách đã có gia đình Kỳ vọng mang dấu dương (+) Theo điều tra cùng với kết quả của các nghiên cứu trước đó, cho rằng biến số tình trạng hôn nhân có quan hệ đồng biến với số lần du lịch của du khách, bởi đa phần những người đã có gia đình họ thường có cuộc sống ổn định và do vậy họ có nhu cầu, điều kiện đi du lịch nhiều hơn
EDU - Là biến thể hiện số năm đi học của du khách Kỳ vọng mang dấu dương (+) Trình độ học vấn của du khách càng cao càng có khả năng được giao lưu và điều kiện đi du lịch ở nhiều nơi Nghiên cứu giả định rằng trình độ học vấn của du khách có mối quan hệ đồng biến với số lần đi du lịch
PRO – Là biến giả, thể hiện tình trạng nghề nghiệp của du khách Biến số này nhận giá trị bằng 1 nếu du khách làm công việc kinh doanh buôn bán, bằng 0 cho những trường hợp còn lại; nhận giá trị bằng 1 nếu du khách làm công nhân viên chức nhà nước và bằng không cho những trường hợp còn lại ; nhận giá trị bằng 1 nếu du khách làm công việc văn phòng và bằng không cho những trường hợp còn lại
IN – Biến số thu nhập của du khách Kỳ vọng nghiên cứu mang dấu dương (+) Theo kinh nghiệm và kết quả điều tra cùng với những nghiên cứu khác về giá trị giải trí cho rằng biến số thu nhập sẽ đồng biến với số lần thực hiện du lịch của du khách
Trang 40ε là sai số ngẫu nhiên của hàm hồi qui tổng thể khi các giả định truyền thống của hàm hồi qui tổng thể được thoả mãn
Mô hình hồi quy đơn biến ước lượng đường cầu giải trí của du khách
Đường cầu giải trí du lịch của du khách được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa tỉ lệ viếng thăm của du khách với chi phí du hành Việc ước lượng đường cầu có thể bằng mô hình hồi qui tuyến tính hoặc hồi quy bán logarit, có dạng sau:
VR là tỉ lệ viếng thăm của du khách Tỉ lệ viếng thăm của du khách ở từng vùng được tính toán dựa trên số liệu thu thập được từ nguồn số liệu thứ cấp của Sở Du lịch Khánh Hòa Tỉ lệ viếng thăm của mỗi vùng được tính toán bởi công thức:
Trong đó:
VRi : là tỉ lệ viếng thăm của du khách vùng i
Ni : là số lượt khách trung bình trong một năm của vùng i
Pi : là dân số trưởng thành của vùng i
TC – là biến số chi phí du lịch của du khách Kỳ vọng của biến chi phí du lịch trong mô hình này mang dấu âm (-)
3.3.4 Nguồn số liệu sử dụng
+ Dữ liệu thứ cấp: Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, định hướng phát triển, số liệu về du lịch ở Hòn Bà được thu thập từ các báo cáo của UBND tỉnh Khánh Hòa, UBND huyện Cam Lâm, Cục Thống kê tỉnh Khánh Hòa qua các năm
Thông tin về giá vé tàu, xe, máy bay đi đến Hòn Bà thu thập từ trang điện tử của các hãng phương tiện trên; giá vé phòng khách sạn lấy từ số liệu du lịch của UBND tỉnh Khánh Hòa qua các năm Tình hình về dân cư và lao động của các tỉnh, thành phố
ở Việt Nam được lấy từ Niên giám thống kê của tỉnh Khánh Hòa năm 2018 Khoảng cách từ mỗi vùng đến Hòn Bà tham khảo bằng phần mềm Google Map Ngoài ra, bài nghiên cứu còn tham khảo thêm các thông tin từ các trang điện tử, sách báo và báo cáo chuyên đề về Hòn Bà
i
i i
P N