Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 8 phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng hiện nay trên thế giới: phân tích bằng chỉ số kỹ thuật, phân tích sự chuyển dịch trun
Trang 1NHIỆM VỤ LUẬN ÁN THẠC SĨ
Họ và tên: NGUYỄN SỸ VĨNH PHÚ Phái: nam
Sinh ngày : 01-01-1974 Nơi sinh: Quảng NamChuyên ngành: QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Mã số:
I Tên đề tài: Ước lượng giá các cổ phiếu đã niêm yết và phân tích lựa chọn
phương pháp định giá tương đốiâ thích hợp
II Nhiệm vụ và nội dung:
• Lựa chọn phương pháp ước lượng giá cổ phiếu hợp lý trong điều kiện hiện nay ở Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phồ Hồ Chí
• Nhận ra những yếu tố làm ảnh hưởng giá chứng khoán hiện nay ngoài các yếu tố về tài chính doanh nghiệp
• Đề xuất cách công bố thông tin hợp lý
III Ngày giao nhiệm vụ: 01-11-2002
IV Ngày hoàn thành nhiệm vụ:
V Cán bộ hướng dẫn: Giáo sư PHẠM PHỤ
VI Họ và tên cán bộ chấm nhận xét 1:
VII Họ và tên cán bộ chấm nhận xét 2:
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CÁN BỘ NHẬN XÉT 1 CÁN BỘ NHẬN XÉT
2
Nội dung và Đề cương luận văn Thạc sĩ đã được thông qua hội đồng chuyên
ngành
TRƯỞNG PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH CHỦ NHIỆM NGÀNH
Trang 2iV
TÓM TẮT
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động hơn 02 năm qua đã đạt được một số thành công nhất định và đang từng bước dần ổn định Bên cạnh đó, với tính chất là một thị trường mới nổi, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có nhiều bước thăng trầm khác nhau và đã thể hiện sự thiếu ổn định , đồng thời chưa đạt được một số mục tiêu đề ra ban đầu Một trong những vấn đề tồn tại là giá chứng khoán thay đổi nhiều và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bất thường mà nguyên nhân chính là sự thiếu định hướng trong công tác tư vấn và định giá chứng khoán đã góp phần gây nên tâm lý hoang mang của nhà đầu tư
Vì vậy, Luận văn Thạc sĩ với đề tài:” Ước lượng giá các cổ phiếu đã niêm yết và phân tích lựa chọn phương pháp định giá tương đối thích hợp” hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc cải thiện các vấn đề còn vướng mắc trện thị trường về vấn đề định giá chứng khoán, cải thiện tình trạng thông tin công bố trên thị trường hiện nay
Viet Nam stock has come into operation for more than two years and also get some predetermined objectives Otherwise, as a emerging market, the stock market has performed its lack of stability and others targets had been written down before hasn’t been fulfilled One of these problems is that stock prices fluctuate in wide range and strongly affected by other elements than financial statistical report At the present, the stock valuation study has not been performed by any stock company on the stock market
This study subjected “ Valuation of stock trading on Viet Nam stock market and analyzing, selecting the fairly proper stock valuation method“ aims at bringing some more contribution into solving problem of stock valuation on and improving public information on the market
Trang 3iVIII
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Bối cảnh……….1
1.2 Phát biểu vấn đề……… ……….2
1.3 Các mục tiêu nghiên cứu………3
1.4 Phương pháp nghiên cứu ………4
1.5 Hạn chế vấn đề… ……… 5
1.6 Tóm tắt luận văn……….5
Chương 2:TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG GIÁ CHỨNG KHOÁN 2.1 Chứng khoán và Thị trường chứng Khoán……….6
1 Lịch sử Thị trường Chứng khoán……….6
2 Các loại chứng khoán thông dụng…… ……….6
2.2 Các phương pháp lượng giá chứng khoán……… 7
1 Phân tích tài chính……… 7
2 Phân tích môi trường………8
3 Phân tích công nghiệp……… 9
4 Phân tích công ty………11
2.3 Các Mô hình định giá trong phân tích cơ bản………12
1 Mô hình chiết khấu cổ tức……… …………12
2 Mô hình chiết khấu dòng thu nhập……….13
3 Mô hình chiết khấu luồng tiền tự do DCF……… ……….14
4 Mô hình chiết khấu tài sản ròng……… 18
5 Phân tích tỷ số trực tiếp……….19
6 Đánh giá chung về phân tích cơ bản………20
2.4 Ước lượng giá chứng khoán ở Thị trường mới nổi……… 21
2.5 Thông tin chứng khoán ở Thị trường mới nổi………23
Trang 4iVIII
Chương 3: GIỚI THIỆU VỀ TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG
KHOÁN VÀ THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ CHỨNG KHOÁN
3.1 Thị trường vốn ở Việt Nam……… 25
3.2 Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM………26
3.3 Các công ty chứng khoán và thực trạng định giá chứng khoán ………30
3.4 Thông tin chứng khoán ở Thị trường chứng khoán Việt Nam……….33
3.5 Giới thiệu một số tổ chức niêm yết……….36
CHƯƠNG 4: ƯỚC LƯỢNG GIÁ MỘT SỐ CỔ PHIẾU NIÊM YẾT TRÊN TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 4.1 Sơ bộ lựa chọn 03 mô hình để lượng giá chứng khoán……….37
4.2 Phân tích chung về môi trường và hoạt động các tổ chức niêm yết………… 37
4.3 Lượng giá cổ phiếu công ty cổ phần cơ điện lạnh……….……….41
1 Phân tích môi trường……….……….41
2 Phân tích công nghiệp……… 42
3 Phân tích công ty……….43
4.3 Lượng giá cổ phiếu công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông….….… 45
4 Phân tích môi trường……….…………46
5 Phân tích công nghiệp……….46
6 Phân tích công ty……….47
4.4 Lượng giá cổ phiếu công ty cổ phần giấy Hải Phòng……….…………48
7 Phân tích môi trường……….48
8 Phân tích công nghiệp……….……… 48
9 Phân tích công ty………49
4.5 Lượng giá cổ phiếu công ty cổ phần giao nhận ngoại thương….…….….…52
10 Phân tích môi trường………52
Trang 5iIX
11 Phân tích công nghiệp……… 52
12 Phân tích công ty……….………53
4.6 Lượng giá cổ phiếu công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An 13 Phân tích môi trường………55
14 Phân tích công nghiệp……… 55
15 Phân tích công ty……….56
4.6 Lượng giá cổ phiếu công ty cổ phầnkhách sạn Sài Gòn……….… 58
16 Phân tích môi trường……… 58
17 Phân tích công nghiệp……… 58
18 Phân tích công ty……….59
Chương 5: PHÂN TÍCH, SO SÁNH VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ HỢP LÝ 5.1 Phân tích và lựa chọn mô hình định giá cơ bản tương đối hợp lý……….62
5.2 Ý Kiến chuyên gia……….66
5.3 Cách công bố thông tin và những thông tin tài chính cần công bố………… 66
5.4 Những vấn đề tồn tại………69
Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến giá chứng khoán ngoài yếu tố tài chính doanh nghiệp……….70
6.1 Tóm tắt và kết luận……… 73
6.2 Các kiến nghị………74
6.3 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu………75
DANH SÁCH CÁC PHỤ LỤC PHỤ LỤC 3-1: Các công ty chứng khoán hiện nay……… 80
PHỤ LỤC 3-2: Các công ty niêm yết……… 82
PHỤ LỤC 4-1: Tổng kết tài chính và lượng giá chứng khoá REE……….104
PHỤ LỤC 4-2: Tổng kết tài chính và lượng giá chứng khoá SAM………108
Trang 6iX
PHỤ LỤC 4-1: Tổng kết tài chính và lượng giá chứng khoá HAP………112
PHỤ LỤC 4-1: Tổng kết tài chính và lượng giá chứng khoá TMS………116
PHỤ LỤC 4-1: Tổng kết tài chính và lượng giá chứng khoá LAF……… 120
PHỤ LỤC 4-1: Tổng kết tài chính và lượng giá chứng khoá SGH… ………….123
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ Hình 1.1:Sơ đồ phương pháp nghiên cứu……… 3
Hình 2.1:Tỷ lệ P/E phân loại theo các ngành công nghiệp tại Mỹ……… 9
Hình 2.2: Chu kỳ kinh doanh và sự thăng trầm các ngành kinh doanh ………….10
Hình 2-3: Các giai đoạn của đời sống ngành……… 11
Hình 3.1: Tổng khối lượng giao dịch theo nhà đầu tư năm 2002……….29
Hình 5-1: Chỉ số VIỆT NAM index………71
Hình 5-2: Giá chứng khoán trên thị trường của 6 loại cổ phiếu ……….72
DANH SÁCH CÁC BẢNG Bảng 2-1: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong đến giá chứng khoán……….12
Bảng 2-2: Xếp hạng doanh nghiệp……….15
Bảng 2-3: Tính điểm theo các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp……….16
Bảng 2-4: Hệ số P/E của các thị trường châu Á……….17
Bảng 2-5: Chỉ tiêu đánh giá các doanh nghiệp ngành nông lâm nghiệp……….76
Bảng 2-6: Chỉ tiêu đánh giá các doanh nghiệp ngành thương mại dịch vụ ………77
Bảng 2-7: Chỉ tiêu đánh giá các doanh nghiệp ngành xây dựng……… ………78
Bảng 2-8: Chỉ tiêu đánh giá các doanh nghiệp ngành công nghiệp……….……….79
Bảng 4-1: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam……… 39
Bảng 4-2: Tăng trưởng GDP các nước châu Á………39
Bảng 4-3: Tỷ lệ thất nghiệp tại Việt Nam………40
Bảng 4-4: Tổng kết bảng điểm theo chỉ số tài chính doanh nghiệp của REE……… 43
Trang 7iII
Bảng 4-5: Kết quả tính giá trị Cổ phiếu REE……….44 Bảng 4-6: Tổng kết bảng điểm theo chỉ số tài chính doanh nghiệp của SAM …….46 Bảng 4-7: Kết quả tính giá trị Cổ phiếu SAM ………47 Bảng 4-8: Sản lượng công nghiệp giấy………49 Bảng 4-9: Tổng kết bảng điểm theo chỉ số tài chính doanh nghiệp của HAP ……….50 Bảng 4-10: Kết quả tính giá trị Cổ phiếu HAP ……….….51 Bảng 4-11: Tổng kết bảng điểm theo chỉ số tài chính doanh nghiệp của TMS …….53 Bảng 4-12: Kết quả tính giá trị Cổ phiếu TMS ……….54 Bảng 4-13: Sản lượng điều xuất khẩu……….……… 55 Bảng 4-14: Tổng kết bảng điểm theo chỉ số tài chính doanh nghiệp của LAF ………56 Bảng 4-15: Kết quả tính giá trị Cổ phiếu LAF ……….………….57 Bảng 4-16: Lượng khác quốc tế vào Việt Nam………58 Bảng 4-17: Tổng kết bảng điểm theo chỉ số tài chính doanh nghiệp của SGH…… 59 Bảng 4-18: Kết quả tính giá trị Cổ phiếu SGH ……… 61 Bảng 5-1: Tổng hợp ý kiến chuyên gia……….65
CÁC TỪ VIẾT TẮT
CK: Chứng khoán
CP: Cổ phiếu
DDM: Mô hình chiết khấu dòng cổ tức
DFCF: Mô hình chiết khấu dòng tiền tự do
ĐTCK: Tạp chí Đầu tư Chứng khoán
HAP: Cổ phiếu công ty cổ phần giấy Hải Phòng
LAF: Cổ phiếu công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long An
REE: Cổ phiếu công ty cổ phần cơ điện lạnh
SAM: Cổ phiếu công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông
SGH: Cổ phiếu công ty cổ phần khách sạn Sài Gòn
TMS: Cổ phiếu công ty cổ phần giao nhận ngoại thương
TTGDCK:Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
TTCK: Thị trường chứng khoán
TTV: Thị trường vốn
Trang 8Chương 1: Giới thiệu chung 1
Chương 1: GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 BỐI CẢNH :
Việt Nam đã trải qua hơn 16 năm đổi mới kể từ năm 1986 đến nay Theo đó, nền kinh tế Việt Nam đã có phát triển với tốc độ tăng trưởng khá cao - trên 6% trở lên trong 10 năm qua Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá, sự cạnh tranh về kinh tế giữa các nước ngày càng trở nên khốc liệt và nền kinh tế Việt Nam đã bộc lộ những điểm yếu về tỷ lệ đầu tư thấp và khả năng cạnh tranh kém trên thương trường quốc tế
Để thực hiện các chiến lược kinh tế đề ra thành công, đòi hỏi một nhu cầu về vốn đầu tư rất lớn để phát triển Tỷ lệ đầu tư hiện nay ở Việt Nam chỉ ở mức 20% GDP thấp so với yêu cầu phát triển và so với các nước khác trong khu vực (xấp xỉ 30%) Vì vậy, yêu cầu Việt Nam cần thiết phải xây dựng chiến lược tài chính đúng đắn và hiệu quả nhằm phát huy các nguồn lực trong và ngoài nước , với nội lực phải tài trợ ít nhất 50% nhu cầu vốn phát triển Theo đó, thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng cần phải được phát triển để đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và của chính phủ.TTCK được xem như là giải pháp nhằm: (1) Tăng cường khả năng huy động vốn trong dân, thu hút thêm nguồn đầu
tư nước ngoài (FPI)
(2) Hình thành một thị trường đầu tư đa dạng nhằm xã hội hoá đầu tư, khuyến khích tiết kiệm để đầu tư, lưu động hoá vốn đầu tư, lưu chuyển và thị trường hoá các khoản nợ của các doanh nghiệp
(3) Tạo áp lực cạnh tranh lên các doanh nghiệp, buộc công khai hoá thông tin hoạt động và tài chính, lành mạnh hoá tài chính doanh nghiệp
Để chuẩn bị cho sự hình thành và phát triển của TTCK, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nghị định số 48/1998-CP về TTCK và quyết định số 127/1998/QĐ-TTg để thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán tại Hà Nội và Tp.HCM Năm
1996, Uỷ ban CK nhà nước (UBCKNN) đã được thành lập nhằm chuẩn bị các bước để hình thành TTCK Việt nam Tháng 7 năm 2000, Trung tâm giao dịch
CK thành phố Hồ Chí Minh (TTGDCK) cũng đã chính thức mở cửa hoạt động Đến cuối năm 2002, có 20 công ty niêm yết trên TTGDCK với giá trị niêm yết đạt trên 1.016 tỷ đồng và 41 loại trái phiếu, với giá trị niêm yết đạt 4.201tỷ đồng Tuy nhiên, qua hơn 02 năm, bên cạnh những thành công ban đầu, TTGDCK cũng đã biểu hiện một số vấn đề yếu kém sau đây:
+ Chức năng hoạt động của thị trường sơ cấp: trong thời gian qua, rất ít tổ chức
niêm yết thực hiện huy động vốn đầu tư qua việc phát hành CP mới trên sàn
Trang 9Chương 1: Giới thiệu chung 2
giao dịch mà TTGDCK chỉ thiên về hoạt động mua bán CP đã niêm yết,
tăng tính thanh khoản cho các CP này
+ Xã hội hoá đầu tư, lưu động hoá: hiện nay các tổ chức niêm yết chỉ là
doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hoá có quy mô nhỏ, không tiêu biểu
cho tổng thể kinh tế Việt Nam Số lượng các nhà đầu tư ít, đa phần là
các cá nhân có tính đầu cơ hoặc đầu tư ngắn hạn thiếu “kỹ năng nghề
nghiệp” Các nhà đầu tư nước ngoài ít thấy xuất hiện
+ Thúc đẩy sự cạnh tranh của các doanh nghiệp: do cách công bố thông tin,
sự minh bạch của thông tin, thiếu khả năng định giá vv… làm cho giá CK
như chưa phản ánh được tiềm lực của Công ty nên TTCK chưa góp phần
thúc đẩy sự cạnh tranh
“Nói chung, có thể cho rằng trong thời gian vừa qua, TTCK Việt Nam là thị
trường hoạt động kém hiệu quả và chỉ dành cho các nhà đầu cơ đa phần
không có trình độ hoặc thiếu trình độ chứ rất ít những nhà đầu tư CK”
(Cường, Kiên –Chuyên viên CK, 2002)
Theo dõi tình hình biến động giá cổ phiếu (CP) trong thời gian qua, điều dễ
nhận thấy là giá CP của các công ty niêm yết trên thị trường có xu hướng
biến động lớn và có “tính bầy đàn” Chỉ số VN Index có xu hướng phân tán
khỏi giá trị trung bình lớn (tăng nhanh trong thời gian đầu, đạt 504 điểm vào
tháng 6-2001 và giảm đến dưới 164 điểm vào tháng 2-2003) Tình trạng
biến động trên cho thấy giá CK hiện nay như không phụ thuộc vào cung cầu
của thị trường cũng như thực trạng hoạt động kinh doanh của các công ty
Về mặt phân tích CK, hầu như các nhà đầu tư, các công ty CK, các tổ chức tham
gia TTCK chỉ phán đoán giá CK một cách cảm tính cá nhân mà có rất ít người
nghiên cứu một cách cơ bản để ước lượng giá trị nội tại của các CP dựa vào
phân tích cơ bản Các công ty CK hiện nay chưa thực hiện vai trò của nhà tư vấn,
cơ bản chỉ thực hiện lệnh mua bán cho nhà đầu tư Vì vậy, việc ước lượng giá
CK hiện nay thực sự là một nhu cầu và rất có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư ,
các công ty CK cũng như chính cơ quan quản lý điều hành thị trường
Đương nhiên, vấn đề định giá CP là một vấn đề hết sức khó khăn, đặc biệt
ở những thị trường mới nổi nói chung và Việt Nam nói riêng Vì vậy vấn đề
đặt ra là, phải chăng có thể vận dụng những phương pháp định giá CP phổ
biến trên thế giới cho các CK ở Việt Nam, ở TTGDCK và phương pháp nào
là tương đối thích hợp hơn cả Trong bối cảnh đó, đề tài: “Ước lượng giá các
CP đã niêm yết và phân tích lựa chọn phương pháp định giá tương đối thích
hợp” đã được hình thành nhằm đưa ra một số gợi ý bước đầu liên quan đến vấn
đề định giá CP
Trang 10Chương 1: Giới thiệu chung 3
1.2 PHÁT BIỂU VẤN ĐỀ
Từ những phân tích sơ bộ trên về mặt đầu tư và quản lý đầu tư, vấn đề cần
phải đặt ra ở đây là:
1) Tại sao giá CK ở TTGDCK biến động lớn trong một khoảng thời gian
ngắn và nó có phản ánh đúng thực trạng tài chính của các doanh nghiệp?
2) Liệu có thể ước lượng giá được các CP đã được niêm yết trên thị trường
trong bối cảnh tài chính doanh nghiệp Việt Nam hiện nay hay không?
3) Với thực trạng thông tin trên TTCK Việt Nam hiện tại, liệu có thể đáp
ứng được yêu cầu của các nhà môi giới đầu tư và nhà đầu tư CK trên thị
trường để ước lượng giá của các CP niêm yết trên TTGDCK một cách
nghiêm túc hơn và hợp lý hơn hay không?
1.3 CÁC MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Để góp phần trả lời các câu hỏi trên, các mục tiêu nghiên cứu đặt ra cho
luận văn này là:
1) Thử ước lượnng giá một số cổ phiếu đã niêm yết trên TTGDCK
2) Từ đó để phân tích để đề xuất phương pháp ước lượng giá tương đối hợp
lý hơn cho các cổ phiếu đã niêm yết
3) Nhận ra những yếu tố làm ảnh hưởng giá CK hiện nay ngoài các yếu tố
về tài chính doanh nghiệp cũng như cách công bố và thông tin trên TTCK
hiện cần phải thay đổi như thế nào để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu cho việc
định giá
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này nhằm mục đích phân tích và ước lượng
giá CK của 06 CP niêm yết trên TTGDCK từ tháng 8 năm 2001 về trước bao
gồm: HAPACO, SAM, REE, TMS, LAF, SGH
1.4.2 Phương pháp thực hiện: Các bước thực hiện của quá trình nghiên cứu
được mô tả theo sơ đồ 1.1 Thông qua việc tổng quan các phương pháp đã
biết và phổ biến, sơ bộ phân tích chọn 04 mô hình cơ bản dùng để định giá
dài hạn các CP Sau đó ước lượng giá CP theo các phương pháp đã chọn
và so sánh với giá thị trường của các CP Phân tích môi trường kinh doanh,
phân tích công nghiệp và kết hợp với việc lấy ý kiến chuyên gia để nhận
ra các yếu tố tác động bên ngoài vấn đề tài chính doanh nghiệp Phương
pháp phân tích chủ yếu ở đây là phương pháp “giả thực nghiệm” Từ đó,
Trang 11Chương 1: Giới thiệu chung 4
đề xuất phương pháp ước lượng giá CP thích hợp hơn cho các CP cũng như
cách công bố thông tin hợp lý hơn trên TTGDCK
Sơ đồ 1.1: Các bước thực hiện 1.4.3 Nguồn dữ liệu:
Nguồn dữ liệu sơ cấp : phỏng vấn một số nhà đầu tư , lấy ý kiến chuyên gia
cũng như các nhà môi giới CK hiện nay trên thị trường
Tổng quan về TTCK và các
phương pháp định giá CP biến động giá của một số CP Thực trạng TTGDCK và sự
So sánh các kết quả, phân tích các
yếu tố ảnh hưởng khác
Thu thập số liệu về tài chính và biến động giá của 06 CP
Định giá 06 CP theo 3 phương
pháp đã chọn sơ bộ
Sơ bộ chọn 3 phương pháp định giá
Khảo sát ý kiến chuyên gia và các doanh nghiệp
Lựa chọn và đề xuất phương
pháp ước lượng giá, cách công
bố thông tin hợp lý
Thảo luận nhóm để hiệu chỉnh
các kết quả
Kết luận và Kiến nghịMục tiêu nghiên cứu
Trang 12Chương 1: Giới thiệu chung 5
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập thông qua các Công ty môi giới CK, tài liệu của
UBCKNN, các tạp chí, từ các cơ quan nghiên cứu, quản lý kinh tế tại Thành Phố
Hồ Chí Minh và Trung ương, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, các đề tài
nghiên cứu trước đây về TTCK
1.5 HẠN CHẾ VẤN ĐỀ:
Do đây là đề tài nghiên cứu dựa vào thực trạng hoạt động của TTCK và thực
trạng tài chính của các doanh nghiệp có CP niêm yết trong thời gian qua nên
được hạn chế trong phạm vi sau:
+ Đối tượng nghiên cứu là các CP được niêm yết chính thức trên TTGDCK
từ tháng 7 năm 2001 trở về trước Không áp dụng kết quả nghiên cứu
cho các CP giao dịch tự do không niêm yết trên TTGDCK
+ Đề tài được nghiên cứu trong thời gian hoạt động của TTGDCK từ tháng
7 năm 2000 đến tháng 12 năm 2002
+ Có một số giả định đặt ra nhằm đơn giản hoá quá trình tính toán giá CP,
đồng thời sẽ không bao gồm việc đưa các yếu tố ngoài vấn đề tài chính
của doanh nghiệp vào quá trình tính toán
+ Các kết luận và đề nghị hy vọng sẽ có ích các công ty CK và các doanh
nghiệp có CP niêm yết trên TTGDCK, các nhà đầu tư cũng như các cấp
có thẩm quyền đối với TTGDCK
1.6 NỘI DUNG LUẬN VĂN:
Mở đầu là chương giới thiệu sơ lược về nội dung, mục tiêu , phương pháp và
phạm vi nghiên cứu của cá nhân Sau phần giới thiệu chung, chương 2 trình
bày các phương pháp ước lượng giá CK trên thế giới Chương 3 nhằm giới
thiệu TTGDCK và các công ty niêm yết là đối tượng nghiên cứu Chương 4
là chương trọng tâm tính toán giá CP theo các phương đã sơ bộ lựa chọn
Chương 5 nhằm mục đích so sánh và lựa chọn phương pháp thích hợp ước
lượng giá CK trên TTGDCK hiện nay Phần cuối cùng là chương 6 nêu ra
kết luận và một số vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu
Trang 13Chương 2: Tổng quan về các phương pháp ước lượng giá CK 6
Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ƯỚC
LƯỢNG GIÁ CK 2.1 CK VÀ TTCK
2.1.1 Lịch sử TTCK:
Lịch sử hình thành TTCK bắt đầu từ thế kỷ XV Năm 1608, TTCK Amsterdam (Hà Lan) được thành lập tại Hà Lan TTCK cũng đã ra đời tại Pháp năm 1808, tại Anh năm 1773, ở Mỹ năm 1792 Tại Trung Quốc, ngày 19-12-1990 TTCK Thượng Hải ra đời và ngày 01-07-1991, TTCK Thẩm Quyến mở cửa hoạt động Tại Thái Lan, TTCK mở cửa phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 30-4-1975
Ngày nay, các trung tâm giao dịch chứng khoán đã được thiết lập tại hầu hết các nước trên thế giới với những quy mô khác nhau Các chỉ số CK của các thị trường lớn quan trọng được xem như là chỉ số kinh tế thể hiện “ sức khoẻ kinh tế “ của từng quốc gia, từng khu vực và toàn thế giới Một số các chỉ số của các thị trường lớn: NYSE, NASDAQ, LONDON, FRANKFURT, TOKYO, HONG KONG…được toàn thế giới kinh tế theo dõi từng giờ
Trong các TTCK trên thế giới, TTCK NewYork (NYSE) được xem là lớn nhất, vào thời điểm cuối năm 2000, có khoảng 26 tỷ CK được giao dịch trên sàn.Tổng giá trị giao dịch một tháng của NYSE vào khoảng 1 nghìn tỷ USD, tổng giá trị CK niêm yết trên thị trường của NYSE khoảng13 nghìn tỷ USD
2.1.2 Các loại CK thông dụng:
Các loại CK được đưa vào giao dịch tại các TTGDCK chia thành hai loại:
CK nợ và CK vốn
• CK nợ: là các chứng chỉ vay tiền do chính phủ, các công ty cổ phần phát hành
CK nợ do chính phủ phát hành thường bao gồm các loại trái phiếu khác nhau:
+Tín phiếu kho bạc: thông thường đây là loại trái phiếu do chính phủ ban
hành và có thời hạn đáo hạn dưới một năm (3 tháng, 6 tháng, 9 tháng )
+Trái phiếu kho bạc: đây là loại trái phiếu có thời gian đáo hạn lớn hơn 01
năm (có thể 20, 30 năm).Vì vậy lãi suất thường cao hơn tín phiếu kho bạc
+Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu được phát hành có thời gian đáo
hạn thường dài (10 năm hoặc lâu hơn)
CK nợ do công ty phát hành bao gồm các loại trái phiếu sau đây:
+Trái phiếu đảm bảo (Secured bond): là trái phiếu vay nợ có thế chấp bằng
tài sản của đơn vị phát hành
Trang 14Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 7
+Trái phiếu không có đảm bảo (Debenture): là trái phiếu do tổ chức phát
hành và được đảm bảo dựa trên uy tín của Công ty chứ không phải bằng
tài sản
+Trái phiếu chuyển đổi (Convertible bond): là loại trái phiếu có thể
chuyển đổi thành CP của Công ty trong thời điểm được ấn định trước
+ Trái phiếu thu nhập (Income bond): Còn gọi là trái phiếu điều chính
+Trái phiếu có thể mua lại (Callable bond): là trái phiếu mà trong điều
khoản phát hành có ghi rõ tổ chức phát hành có quyền mua lại trái phiếu
này vào một thời điểm trước ngày đáo hạn
+ Trái phiếu có thể bán lại (Put bond): là trái phiếu mà điều khoản phát
hành có quy định người sở hữu có thể bán lại trái phiếu cho tổ chức phát
hành trước khi đáo hạn
• CK sở hữu: chia làm hai loại
+ CP ưu đãi (preferred stock): là loại CP quy định rõ tỷ lệ cổ tức tối thiểu
mà người sở hữu có thể nhận được, cổ phần ưu đãi phải được ưu tiên trả
cổ tức trước CP phổ thông
+ CP phổ thông (common stock): là loại CP thể hiện quyền sở hữu của cổ
đông đối với công ty tuỳ thuộc vào tỷ lệ cổ phần nắm giữ trong công ty
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP LƯỢNG GIÁ CHỨNG KHOÁN:
2.2.1 Phân tích tài chính:
Trong TTCK, khi thông tin phản ánh đầy đủ và tức thời vào giá cả CK làm
cho giá cả “gần” với giá trị nội tại CK Vì vậy đối với TTCK có hiệu quả,
giá cả sẽ quay về với giá trị nội tại của CK Nếu nhà đầu tư nào phát hiện
ra CK bị vượt giá hay mất giá sẽ có quyết định đầu tư để kiếm lời Nhưng
theo lý thuyết thị trường hiệu quả, không thể dựa vào nghiên cứu thông tin
để kiếm lời trên trung bình Đó chính là nghịch lý cơ bản Do đó, người ta
vẫn giả định rằng TTCK là gần với TTCK hiệu quả nhưng không hoàn hảo,
có nghĩa không phải tất cả các CK đều phản ánh đúng giá trị nội tại của nó
Vì vậy, cần thiết phải có phân tích tài chính trong TTCK
Có hai loại phân tích: : phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật Phân tích kỹ
thuật dựa vào những thay đổi trong quá khứ của giá cả CK để dự đoán giá
cả hiện tại và tương lai với quan điểm cho rằng những biến động trong quá
khứ sẽ được lặp lại trong tương lai Phân tích kỹ thuật thường phổ biến đối
với các TTCK có lịch sử kinh tế phát triển mạnh, ổn định lâu dài và nhằm
mục đích mua bán ngắn hạn để thu lợi trong thời gian ngắn Có rất nhiều
Trang 15Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 8
phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng hiện nay trên thế giới: phân
tích bằng chỉ số kỹ thuật, phân tích sự chuyển dịch trung bình của giá CK
(moving average), phân tích mối liên hệ CK (relative strengh), Phân tích
hình thái (formation)…Đối với những TTCK mới nổi, việc sử dụng phương pháp
kỹ thuật để phân tích giá cả CK hầu như không khả thi bởi đây là thị trường chưa
ổn định, lên xuống thất thường, giá CK thường hay bị nhiễu bởi các thông tin
không chính thức Vì vây, xu thế giá cả khó có thể dự đoán trước được bằng
phân tích kỹ thuật Phân tích cơ bản là phương pháp phân tích tương lai phát
triển của công ty để lượng giá CP Vì vậy, phân tích cơ bản liên quan đến môi
trường bên ngoài, môi trường công nghiệp và môi trường nội tại của công ty
2.2.2 Phân tích môi trường:
Môi trường hoạt động của công ty có những tác động nhất định đến kết quả kinh
doanh của công ty Những tác động của môi trường bên ngoài bao gồm:
+ Tác động của nền kinh tế toàn cầu: môi trường kinh tế toàn cầu có ảnh
hưởng nhiều hay ít đến khả năng sản xuất và do đó là lợi nhuận của
công ty Vì vậy, triển vọng kinh tế toàn cầu phát triển tăng hay giảm sẽ
ảnh hưởng đến lợi nhuận của mỗi CP
+ Tác động của các yếu tố chính trị: mối liên lạc chính trị giữa các quốc gia
cũng tạo nên những ảnh hưởng lớn đến các chỉ số kinh tế, chỉ số CK
+ Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái: ảnh hưởng quan trọng đến khả năng
cạnh tranh về giá cả của hàng hoá
+ Tổng sản phẩm quốc nội GDP: Sự tăng trưởng của GDP cho thấy nền
kinh tế đang phát triển theo chiều hướng tốt hay xấu Đó là dấu hiệu để
công ty mở rộng hay thu hẹp hoạt động Một chỉ số khác được sử dụng
tương đối phổ biến là tổng sản phẩm công nghiệp
+ Tỷ lệ thất nghiệp: Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phản ánh nền kinh tế
đang hoạt động hết công suất hay không, do đó cũng sẽ liên quan đến
GDP, liên quan đến khả năng tiêu dùng của người dân
+ Tỷ lệ lạm phát: Tỷ lệ lạm phát cao hay thấp cho thấy sự sản xuất dư thừa
hay thiếu so với nhu cầu của thị trường Những tín hiệu này giúp xác
định khả năng mở rộng hay thu hẹp đầu tư trong tương lai
+ Tỷ lệ lãi suất: Tỷ lệ lãi suất cao sẽ làm giảm giá trị hiện tại của dòng
tiền tệ tương lai Do đó, sẽ làm giảm sức hấp dẫn của cơ hội đầu tư,
đồng thời người tiêu dùng sẽ giảm mức chi tiêu mà chuyển sang hình
thức tiếp kiệm tại ngân hàng Vì vậy, cơ hội thành công trong kinh doanh
của công ty sẽ thấp xuống và ngược lại
Trang 16Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 9
+ Lòng tin của người tiêu dùng: Sự lạc quan và bi quan của người tiêu dùng
và nhà sản xuất sẽ ảnh hưởng đến mức độ tiêu dùng hàng hoá, mức độ
sản xuất của công ty
+ Chính sách dài hạn của chính phủ: Chính sách dài hạn của chính phủ có
ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế trên phương diện vĩ
mô và tác động đến từng doanh nghiệp ở tầm mức vi mô Trong đó rất
quan trọng là mức thâm hụt ngân sách của chính phủ, chính sách tài
chính , đặc biệt là chính sách thuế và chính sách tiền tệ
Đối với những TTCK đã phát triển lâu dài và ổn định, các yếu tố về môi
trường có ảnh hưởng rất quan trọng đến hoạt động của thị trường Đối với
các TTCK mới nổi, các yếu tố về môi trường có tác động đến thị trường
nhưng mức độ ảnh hưởng thì khác nhau, đôi lúc các tác động của môi
trường có thể đi ngược với quy luật tác động như trên các TTCK ổn định
2.2.3 Phân tích công nghiệp:
Môi trường công nghiệp sẽ có ảnh hưởng riêng đối với các công ty hoạt
động trong ngành công nghiệp đó Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy:
các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp và cùng
môi trường hoạt động sẽ có cùng một số đặc điểm chung về thị trường, về
tỷ lệ tăng trưởng, về rủi ro và suất thu lợi yêu cầu gần giống nhau
Hình 2-1: Tỷ lệ P/E của các ngành công nghiệp tại Mỹ năm 1990
Nguồn: U.S Comments, 3/1999
Sự phân loại ngành công nghiệp rộng hay hẹp cũng dẫn đến các chỉ tiêu nói trên
sẽ khác nhau (xem hình 2-1) Nếu việc phân loại các Công ty trong cùng một
ngành công nghiệp càng chặt chẽ và chi tiết bao nhiêu thì ước đoán về tỷ lệ tăng
trường và suất thu lợi yêu cầu càng có mức độ tin cậy cao bấy nhiêu
Trang 17Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 10
Việc phân tích công nghiệp chủ yếu tập trung vào việc phân tích rủi ro của
ngành công nghiệp, tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp, suất thu lợi hiện
tại Những thông số trên được rút ra qua việc nghiên cứu: chu kỳ kinh doanh,
vòng đời của sản phẩm, mối liên hệ trong ngành công nghiệp
Chu kỳ kinh doanh: Chu kỳ kinh doanh là những chu kỳ phát triển của nền kinh
tế mang tính chất tuần hoàn lặp lại mặc dù thời đoạn và mức độ thăng trầm có
khác nhau (xem hình 2-2) Nếu công ty hoạt động trong một ngành công nghiệp
nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế, sự phụ thuộc của doanh số và
lợi nhuận Công ty theo chu kỳ kinh doanh sẽ rất lớn Bên cạnh đó, những ngành
công nghiệp mà mức độ nhạy cảm đối với chu kỳ kinh doanh ở mức trung bình
hoặc yếu, chu kỳ kinh doanh sẽ ít ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của Công
ty Ba thông số cơ bản được sử dụng để xác định mức độ nhạy cảm thu nhập của
công ty đối với chu kỳ kinh doanh: mức độ nhạy cảm của doanh số, đòn cân định
phí, đòn cân tài nợ
Hình 2-2: Chu kỳ kinh doanh của Mỹ từ năm 1967 đến 1998 thể hiện qua
GDP & Sự thăng trầm của các ngành kinh doanh theo chu kỳ kinh doanh
Nguồn: Business Cycle Indicator, 2/1999
Như vậy, phân tích chu kỳø kinh doanh cần làm rõ: chu kỳ kinh doanh ở hiện tại
và thay đổi trong tương lai, mức độ nhạy cảm của ngành công nghiệp đối với
chu kỳ kinh doanh
• Chu kỳ đời sống ngành: Đời sống của một ngành công nghiệp chia làm 04
giai đoạn (xem hình 2-3)
Trang 18Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 11
Hình 2-3: Các giai đoạn đời sống của ngành
+ Giai đoạn khởi đầu (Start-up Stage): giai đoạn này thường bắt đầu với việc ra
đời một sản phẩm mới hoặc một công nghệ mới
+ Giai đoạn phát triển vững chắc (Consolidation stage): trong giai đoạn này, sản
phẩm mới đã được thiết lập, ngành công nghiệp bắt đầu phát triển, Công ty
đã vượt qua giai đoạn này sẽ trở nên ổn định và thị phần sẽ dễ dàng dự báo
+ Giai đoạn ổn định lâu dài (Maturity stage): giai đoạn này sản phẩm đã đạt
đến mức thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của thị trường, không thể đầu tư thêm
mở rộng sản xuất Do đó, trong giai đoạn này, tỷ lệ chi cổ tức là cao nhất
+ Giai đoạn suy giảm (Decline relative stage): giai đoạn này sản phẩm đã trở
nên lỗi thời, bị sự cạnh tranh của sản phẩm mới thay thế, tốc độ phát triển rất
thấp và giảm dần
• Mối liên hệ trong ngành công nghiệp: Mối liên hệ trong một ngành công
nghiệp bao gồm có 05 yếu tố: mối đe doạ gia nhập ngành của các đối thủ khác,
sự cạnh tranh của các đối thủ hiện hữu trong ngành, áp lực của các sản phẩm
thay thế, quyền mặc cả của khách hàng, quyền mặc cả của nhà cung cấp Việc
phân tích mối liên hệ trong ngành công nghiệp giúp cho nhà đầu tư đánh
giá triển vọng phát triển của doanh nghiệp trong ngành, rủi ro phát triển và
lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai
2.2.4 Phân tích công ty:
Phân tích công ty bao gồm: công nghệ quản trị doanh nghiệp, chất lượng
nhân sự, công nghệ sản xuất, phân tích các tỷ số tài chính
+ Chính sách quản trị doanh nghiệp: quản trị doanh nghiệp đóng vai trò to
lớn đối với sự thành công của doanh nghiệp Sự yếu kém về quản lý
doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nên sự yếu kém về
chất lượng cạnh tranh của các doanh nghiệp ở thị trường mới nổi
Trang 19Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 12
+ Chất lượng nhân sự: chất lượng nhân sự được đánh giá qua hiệu suất lao
động của người lao động trong doanh nghiệp Phân tích chất lượng nhân
sự giúp cho nhà đầu tư nhìn rõ hơn về khả năng tăng trưởng của doanh
nghiệp ở tương lai
Bảng 2-1: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên
trong đến giá CK
(Nguồn: Phụ, Phạm - Tài liệu hướng dẫn giảng dạy TTCK)
+ Công nghệ sản xuất: việc lựa chọn công nghệ sản xuất phù hợp là điều
kiện tiên quyết đánh giá doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trên thị
trường và khả năng nâng cao hiệu suất lao động
+ Phân tích các tỷ số tài chính: việc đánh giá các tỷ số tài chính thông qua
việc xem xét và phân tích các bảng báo cáo kết quả kinh doanh, bảng
cân đối kế toán, bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
2.3 CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH GIÁ TRONG PHÂN TÍCH CƠ BẢN:
2.3.2 Mô hình chiết khấu cổ tức- DDM: Công thức chung của mô hình
D 1 D 2 D 3
Vo = + + + … (2.1)
(1 + k) ( 1 + k) 2 (1+k) 3
Trong đó : Vo: giá trị của CK ở thời điểm hiện tại
Di, Pi: cổ tức, giá CK ở thời điểm Ti
k : suất thu lợi yêu cầu ứng với rủi ro của từng CK
Trang 20Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 13
Mô hình chiết khấu cổ tức dựa trên cơ sở tính chiết khấu dòng tiền thu nhập
của từ cổ tức trong tương lai.Do việc ước lượng đến vô hạn giá trị cổ tức là
điều không thể Vì vậy, các nhà phân tích sẽ làm đơn giản hoá quá trình tính
toán bằng các giả thuyết sau:
• Cổ tức tăng vĩnh viễn với tỷ lệ g:
Đây là trường hợp đặc biệt của trường hợp vừa nêu trên Khi đó giá CK
được xác định như sau:
Do (1+g)
Vo = với g < k (2.2)
(k – g)
Khi k> g vĩnh viễn, cổ tức nhận được của cổ đông sẽ càng lớn đến giá trị vô
tận Đây là trường hợp không thể xảy ra đối với bất kỳ loại CP nào
• Mô hình cổ tức tăng trưởng theo hai giai đoạn (The two- stage growth
Model):
Trong mô hình này, chúng ta giả định rằng trong giai đoạn đầu tiên, tỷ lệ
tăng trưởng cổ tức của công ty là g1 trong suốt thời kỳ t năm Sau đó tỷ lệ
tăng trưởng cổ tức vĩnh viễn là g2 trong thời gian sau thời kỳ t Giá trị hiện
tại của CP sẽ được xác định theo công thức sau:
Do(1+ g 1 ) 1+g 1 T 1 + g 1 T Do(1+ g 2 )
Vo = x 1- + ( 2-3)
k – g 1 1 + k 1 + k k - g 2
Điều kiện để áp dụng công thức (2.3) là: g2 < k nghĩa là tỷ lệ tăng trưởng
vĩnh viễn của cổ tức phải nhỏ hơn tỷ lệ chiết khấu
Trong trường hợp đặc biệt, khi g1 = k, ta có:
Do (1+g 2 )
Vo = Do * T + (2.4)
(k – g 2)
• Vấn đề tính toán tỷ lệ tăng trưởng cổ tức và tỷ lệ chiết khấu: Hệ số chiết tính
rủi ro k của CK i sẽ là tổng hợp của hai thông số: rủi ro về giá trị thời gian của
tiền tệ và rủi ro của chính CK i Có nhiều mô hình để tính hệ số chiết khấu rủi ro
k, trong đó mô hình CAPM (Capital asset pricing model) thường được áp dụng
phổ biến nhất trên thế giới Theo mô hình CAPM, suất thu lợi yêu cầu ứng với
rủi ro của CK i được xác định bởi công thức (2-5) Trong đó, việc xác định Rf
thường được dựa vào tỷ lệ lãi suất của kho bạc nhà nước trong thời gian ngắn
hạn Tại Mỹ, Rf sẽ là tỷ lệ lãi suất của trái phiếu kho bạc trong vòng 90 ngày
Trang 21Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 14
Việc đánh giá các hệ số ß (bê ta) và hệ số Rm thường được các công ty CK tính
toán theo phương pháp hồi quy dựa vào số liệu quá khứ của thị trường
R i = R f + β(R m – R f ) (2.5)
Trong đó: Ri :suất thu lợi yêu cầu ứng vơi rủi ro của CK i
Rf: tỷ lệ lãi suất không rủi ro (risk – free interest rate)
Rm: suất khiết khấu lợi nhuận ứng với rủi ro có hệ thống của tập thị trường (market portfolio)
β: hệ số đo lường sự phụ thuộc của suất thu lợi của CK i đối với
những rủi ro có hệ thống của tập thị trường
Trong điều kiện TTCK đã có quá trình hoạt động lâu dài, ổn định và hiệu quả
Hệ số rủi ro CK thường được xác định theo mô hình CAPM và mô hình Index
Model là dễ dàng và độ chính xác cao Tuy nhiên, hoàn cảnh TTCK Việt Nam,
do số lượng các tổ chức niêm yết quá ít và giá tất cả các cổ phiếu niêm yết trên
thị trường hầu như tăng giảm đồng biến như nhau (Hình 5-1, trang ), không đủ
đa dạng để tạo nên một tập danh mục thị trường (market portfolio) có thể triệt
tiêu các yếu tố rủi ro hệ thống (nonsystematic risk) mà chỉ chứa đựng các yếu tố
rủi ro có hệ thống (systematic risk), một yếu tố quan trọng theo định nghĩa của
CAPM (Tại TTCK Hoa Kỳ, tập danh mục thị trường phổ biến là tập chứng
khoán S&P 500 bao gồm hơn 500 CK rất đa dạng) Do đó, Rm vẫn chứa đựng các
yếu tố rủi ro có hệ thống Đồng thời, trong mô hình CAPM, hệ số bêta xác định
sự phản ứng của CK i đối với những rủi ro hệ thống của tập danh mục thị trường,
khi thị trường ổn định lâu dài, hệ số Bê ta xác định theo số liệu quá khứ sẽ đáng
tin cậy hơn Trong khi tại TTCK Việt Nam chỉ bắt đầu hoạt động 02 năm, tình
hình diễn biến thị trường phức tạp và không ổn định, biên độ dao động giá nhỏ
(thường là +-2%), có quá nhiều biến động trong thời gian ngắn như vậy sẽ khiến
cho việc tìm hệ số β mất hết ý nghĩa do hệ số β nếu tìm được sẽ không thoả mãn
các điều kiện của mô hình CAPM Vì vậy, việc dựa vào mô hình CAPM và
Index Model để tính hệ số k là không thực tế
Thông thường đối với các ngành công nghiệp “truyền thống” ở TTCK mới nổi,
việc đánh giá suất thu lợi yêu cầu của cổ đông thông qua việc đánh giá, xếp
hạng tài chính doanh nghiệp và lãi suất của thị trường Vì vậy, có thể linh hoạt
vận dụng tiêu chí đánh giá tín dụng doanh nghiệp kết hợp tâm lý của công chúng
đầu tư để xác định hệ số rủi ro của CP như sau (Phương pháp xếp hạng doanh
nghiệp này đã được giới thiệu bởi Công ty CK đệ nhất)
• Căn cứ xếp hạng doanh nghiệp: Dựa vào tiêu chuẩn đánh gía tín dụng của
Ngân hàng nhà nước và các tiêu chuẩn quốc tế (theo nghiên cứu của Standard
&Poor, Damodaran) kết hợp với đánh giá theo mức rủi ro của quốc gia và tỷ lệ
tăng trưởng GDP có điều chỉnh phù hợp thực trạng kinh tế Việt Nam Cụ thể: các
Trang 22Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 15
chỉ tiêu thanh khoản, cân nợ và hoạt động dựa vào tài liệu hướng dẫn của ngân
hàng nhà nước Các chỉ tiêu doanh lợi dựa vào các chuẩn mực quốc tế có kết
hợp tham khảo đến một số các doanh nghiệp (hơn 50 doanh nghiệp – chủ yếu là
các doanh nghiệp nằm trong khu vực kinh tế Bình Dương, Tp.HCM, Đồng Nai,
đặc biệt có một số các công ty niêm yết trên TTCK hiện nay như: REE,
GEMARDEPT, BIBICA…) hoạt động trong nhiều ngành kinh tế khác nhau theo
tính chất đặc thù theo lĩnh vực hoạt động và quy mô doanh nghiệp Cụ thể theo
các ngành: Nông –Lâm-Ngư nghiệp; Thương mại-dịch vụ; xây dựng; Công
nghiệp và theo quy mô lớn, vừa, nhỏ
Việc đánh giá các trọng số (hệ số) trong bảng 2-3 dựa vào nghiên cứu của tổ
chức Moodys và Damodaran (www.moodys.com ) trên 7441 doanh nghiệp cho
thấy: tầm quan trọng ảnh hưởng của quản trị các tỷ số nợ chiếm khoảng 30%,
khả năng quản trị sản xuất kinh doanh chiếm khoảng 25% và khả năng quản trị
các chỉ tiêu lợi nhuận chiếm khoảng 45% đối với quản trị rủi ro và đảm bảo sự
thành công khi đầu tư vào một dự án, kết hợp cùng tham khảo ý kiến của các
nhà tài chính 50 doanh nghiệp cùng sự tư vấn cùng các chuyên viên CK công ty
CK FSC, công ty kiểm toán và tư vấn (A&C), công ty kiểm toán và dịch vụ tin
học ( AIS) đã thống nhất cho điểm các trọng số như trong Bảng 2-3
Bảøng 2-2: Xếp hạng doanh nghiệp
Chỉ số Xếp loại
• Nguồn dữ liệu: Bảng cân đối kế tốn, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh,
Bảng lưu chuyển tiền tệ, Các thơng tin phi tài chính khác
Dựa trên những căn cứ này, Doanh nghiệp được xếp hạng tài chính theo 06 loại
thứ hạng từ cao xuống thấp: AA; A; BB; B; CC; C
• Phương pháp tính tốn:Chọn Bảng tính (bảng 2-5, 2-6, bảng 2-7, bảng 2-8,
trang 7 ) cĩ ngành nghề và quy mô về vốn của tổ chức niêm yết Tính các chỉ
tiêu trong bảng tính dựa trên báo cáo tài chính doanh nghiệp
So sánh số liệu các chỉ tiêu vừa tính tốn được với các số liệu của bảng 2-2,
trang 15 để xác định mức độ tín nhiệm A, B, C, D, E tương ứng Sau khi đã xác
Trang 23Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 16
định được mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp qua từng chỉ tiêu, căn cứ vào
bảng 2-3 để tính tốn điểm số của doanh nghiệp (cột điểm số = Hệ số x Ðiểm
số theo mức độ tín nhiệm của từng chỉ tiêu tương ứng):
Sau khi đã tổng cộng điểm số của doanh nghiệp, dựa vào bảng dưới đây để xếp
hạng doanh nghiệp:
Bảøng 2-3: Bảng tính điểm theo các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp
Chỉ tiêu Hệ Số Ðiểm MỨC ÐỘ TÍN NHIỆM
A B C D E
Các chỉ tiêu doanh lợI - - - -
• Nhận xét: Tiêu chuẩn đánh giá theo ngành như trên rộng và mang tính khái
quát cao, trong khi các tổ chức niêm yết hoạt động trong những ngành công
nghiệp hẹp, do đó cần có một sự điều chỉnh phù hợp với từng doanh nghiệp
Theo kết quả xếp hạng về rủi ro của quốc gia của tổ chức Moodys - (Việt
Nam hạng B1), xếp hạng tỷ suất rủi ro của trái phiếu chính phủ là 9% Vì
thế, ta chọn tỷ suất lơiï nhuận không rủi ro là 9%
Trang 24Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 17
Tham khảo thái độ đánh giá lợi nhuận yêu cầu yêu cầu của cổ đông đối với
việc xếp hạng tài chính doanh nghiệp bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp
trên 70 nhà đầu tư trên TTGDCK hiện nay (chỉ có 30 nhà đầu tư có khả
năng hiểu rõ và đánh giá được tài chính doanh nghiệp), theo cách đánh giá
thái độ rủi ro từng với mức điểm xếp hạng tài chính doanh nghiệp, nhận
được phân bố của suất lợi nhuận yêu cầu theo điểm số tài chính Dùng hồi
quy tuyến tính để vẽ đường đồ thị biểu thị sự phụ thuộc như hình vẽ 2-4 Từ
đó, ta tìm được phương trình biểu thị tuyến tính suất thu lợi nhuận yêu cầu
theo chỉ số tài chính như sau:
k = 0.288 –0.0011*M (2.6)
Với M : điểm số tài chính của doanh nghiệp
Bảøng 2-4: Đánh giá xếp hạng doanh nghiệp
106 – 130 BB Ðây là DN hoạt động hiệu quả, cĩ tiềm năng phát triển Tuy nhiên cịn một số hạn chế về tiềm lực tài chính và
tồn tại những nguy cơ tiềm ẩn Rủi ro trung bình
81 – 105 B DN loại này hoạt động chưa hiệu quả, khả năng tự chủ tài chính thấp, cĩ nguy cơ tiềm ẩn RủI ro trung bình
56 – 80 CC Ðây là DN cĩ hiệu quả hoạt động thấp, tình hình tài chính yếu kém, thiếu khả năng tự chủ tài chính Rủi ro
cao
< = 55 C
Nằm trong loại này là DN cĩ tình hình kinh doanh thua
lỗ kéo dài, tình hình tài chính yếu kém, khơng cĩ khả năng tự chủ tài chính, đang đứng trước nguy cơ phá sản
Rủi ro rất cao
• Nhận xét: Để tính suất thu lợi yêu cầu theo xếp hạng tài chính doanh
nghiệp, ta đã giả thiết các về chỉ tiêu về tài chính doanh nghiệp đã bao hàm
mọi rủi ro của doanh nghiệp trong quá khứ theo từng ngành công nghiệp
Trang 25Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 18
khác nhau Tuy nhiên, việc đánh giá này còn một số các điều chỉnh nhỏ
tương ứng với việc xem xét từng trường hợp của các công ty
Suất thu lợi yêu cầu
20%
9%
80 180 Điểm số tài chính DN
Hình 2-4: Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của suất thu lợi yêu cầu đối với điểm
số tài chính của doanh nghiệp theo thống kê
Việc tính toán cổ tức của CK trong tương lai: phụ thuộc vào sự ước lượng của
mỗi nhà phân tích đối với dòng thu nhập trong tương lai của công ty
• Đánh giá chung về mô hình DDM: Mô hình DDM là mô hình đơn giản, dễ
tính toán Tuy nhiên việc tìm các thông số đầu vào cho mô hình tính toán là
vấn đề khó khăn do:
+ Mô hình DDM chỉ có thể áp dụng đối với các Công ty có thực hiện việc
chia cổ tức Không áp dụng được với công ty không chia cổ tức
+ Việc tính toán hệ số chiết khấu rủi ro và ước đoán cổ tức trong tương lai dài
hạn là khó khăn do độ chính xác thấp và phụ thuộc vào sự chủ quan cảm
nhận của nhà phân tích
+ Việc đơn giản hoá mô hình DDM bằng các giả thuyết: tỷ lệ tăng trường cổ
tức vĩnh viễn là hằng số, mô hình hai giai đoạn…không phù hợp nhiều với
thực tế, kết quả tính toán có thể sai lệch với thực tế
Vì vậy, Mô hình DDM thường được áp dụng đối với CP các công ty hoạt
động trong các lĩnh vực công nghiệp thiết yếu cho đời sống công cộng như
điện, nước, cung cấp xăng dầu, siêu thị … có lịch sử tăng trưởng cổ tức ổn
định và ít thay đổi, ít chịu tác động của các yếu tố bên ngoài như kinh tế…
2.3.3 Mô hình chiết khấu dòng thu nhập EPS :
Theo mô hình này, giá trị hiện tại của CP xác định theo công thức:
P=EPS 1 /(1+k)+EPS 2 /(1+k) 2 +…+EPS t /(1+k) t +P n /(1+k) t (2.7)
Trong đó: P : giá trị hiện tại của CP
EPSi: giá trị thu nhập trong năm thứ i của CP
k: suất lợi nhuận yêu cầu ứng với rủi ro của CP
Pn: Giá CK ở thời điểm thứ t
Trang 26Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 19
Trong mô hình này, giả định không cần quan tâm đến cổ tức vì chính sách chia
cổ tức phụ thuộc vào hội đồng cổ đông Từ năm thứ t trở đi, thu nhập EPStb của
công ty coi như không đổi
2.3.4 Mô hình chiết khấu luồng tiền tự do DCF hai giai đoạn ( the two
- stage FCFE Model):
Trong mô hình này, giá trị hiện tại của CP xác định theo dòng tiền tự do:
P = FCF 1 /(1+k) + FCF 2 /(1+k) 2 +….+ FCF t /(1+k) t + FCF t *(1+g)/({k-g)*(1+k) t } (2 8)
Trong đó: P: giá trị CK tại thời điểm hiện tại
FCFt: luồng tiền tự do trên mỗi CP ở thời điểm t
k: suất thu lợi yêu cầu ứng với rủi ro của CK
g: tỷ lệ tăng trưởng vĩnh viễn của dòng tiền tệ FCF từ năm thứ t
Mô hình trên nhấn mạnh ước lượng dòng tiền tự do của công ty vì việc ước
lượng giá trị EPS còn phụ thuộc vào chế độ kế toán được áp dụng Ta giả
định từ năm thứ t trở đi, dòng tiền tự do tăng trưởng vĩnh viễn với tốc độ g
2.3.5 Mô hình lượng giá CP bằng giá trị tài sản ròng có hiệu chỉnh:
Theo mô hình này, giá CP công ty sẽ xác định như sau:
Giá CP = (Tổng giáù trị tài sản - tổng nợ + giá trị lợi thế của công ty)/
tổng số CP lưu hành (2.9)
Giá trị tài sản ròng dựa trên các giá trị sổ sách của Công ty sẽ không cho các kết
quả chính xác bởi các lý do độ tin cậy của số liệu, chế độ kế toán Do đó, thường
được đo bằng giá trị thay thế nội tại (replacement cost)- giá trị còn lại sau khi
bán hết tất cả các tài sản của công ty và tiến hành trả hết các khoản nợ của
công ty Giá trị lợi thế của Công ty có thể xác định bằng chi phí cần thiết để xây
dựng nên thương hiệu, uy tín và và vị trí của công ty trên thị trường và được
đánh giá bởi các tổ chức định giá tài chính uy tín hoặc bằng tích số giữa tổng tài
sản và tỷ suất lợi nhuận siêu ngạch (bằng hiệu số tỷ suất lợi nhuận công ty và tỷ
suất lợi nhuận của ngành)…
2.3.6 Phân tích trực tiếp tỷ số (The Multiple analysis):
• Tỷ lệ P/E: Được tính bằng giá CK hiện tại chia cho phần lợi tức sau thuế trên
mỗi CP Những CP có tỷ số P/E cao thường được đánh giá là những CK tăng
trưởng ( Growth stock) và lợi nhuận kỳ vọng cao Đây thường là những công ty
thuộc ngành công nghệ mới, sản phẩm mới nhưng rủi ro cũng cao Vì thế sau đó
giá các CK này sẽ có chiều hướng đi xuống Những CK có tỷ số P/E thấp thông
thường được xem như là những CK giá trị (Valued stock), có lợi nhuận kỳ vọng
Trang 27Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 20
thấp, thuộc các ngành công nghiệp trong giai đoạn ổn định, triển vọng phát triển
kém nhưng rủi ro thấp, nên sau đó giá các CK này sẽ có xu hướng tăng lên
• Tỷ lệ P/CF : Dòng tiền tệ hoạt động được xem là thông tin trung thực hơn về lợi
nhuận của công ty do không bị ảnh hưởng bới các nguyên tắc của kế toán như
ghi nhận doanh thu, ghi nhận chi phí, mô hình khấu hao tài sản cố định…Tỷ lệ
P/CF được tính toán bằng giá trị hiện tại của CP chia cho dòng tiền tệ hoạt động
ở năm hiện tại tính trên một CP
• Tỷ số P/S: Tỷ số giá P/S tính toán bằng giá trị hiện tại của CP chia cho giá trị
doanh thu hằng năm trên mỗi CP của công ty Tỷ số P/S áp dụng để nhấn mạnh
tiềm năng phát triển của Công ty có khả năng tăng trưởng cao do không thể căn
cứ vào lợi nhuận hiện tại Tỷ số P/S cao thể hiện sự tin tưởng của nhà đầu tư vào
khả năng phát triển của công ty và ngược lại tỷ số P/S thấp cho thấy niềm tin
của nhà đầu tư vào khả năng phát triển của công ty thấp
• Tỷ số P/B: Tỷ số giá P/S tính toán bằng tỷ số giá trị hiện tại của CP chia
cho thư giá của công ty vào thời điểm đó Cũng như tỷ số P/S, tỷ số P/B cao
cho thấy công ty được đánh giá tốt Tỷ số P/B thấp cho thấy công ty chỉ
được đánh giá theo giá trị tài sản hiện tại của công ty
Việc phân tích các tỷ số P/E, P/B, P/CF, P/S nhằm các mục đích như sau: ước
đoán giá CK trong vòng một năm tới, đánh giá tốc độ tăng trưởng của Công ty
trong từng giai đoạn, so sánh giữa các Công ty với nhau (thường là cùng hoạt
động trong cùng một ngành) và giữa công ty với các chỉ số trung bình chung của
ngành Nhìn chung, cách phân tích dựa vào các chỉ số P/S,P/CF, P/S, P/B như
trên chỉ được áp dụng trong điều kiện thị trường đã phát triển lâu dài và ổn định,
giá CK trên thị trường thể hiện tương đối gần với giá trị nội tại của Công ty
• Đánh giá CP qua tỷ số PEG: Tỷ số PEG được đo bằng giá trị P/E chia cho
tốc độ tăng trưởng của EPS Tỷ số PEG thường được áp dụng tương đối phổ
biến trên thế giới cho các công ty vừa và nhỏ trong giai đoạn phát triển
Nếu tỷ số PEG nằm trong khoảng dao động xung quanh 1 là chấp nhận
được Nếu PEG nhỏ hơn 1, có nghĩa CPù đang được định giá trên thị trường
thấp hơn giá trị nội tại của nó Nếu PEG lớn hơn 1 thì kết luận rằng CP
đang được định giá cao hơn giá trị nội tại của nó Phương pháp này không
áp dụng cho các công ty hoạt động trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng, khoan
và khai thác dầu mỏ, địa ốc cũng như đối với các công ty đang bị thua lỗ và
các công ty không tăng trưởng
2.3.7 Đánh giá chung về phân tích cơ bản:
1) Phân tích cơ bản là phương pháp định giá CK dài hạn dựa vào “sức
khoẻ” tài chính hiện tại và dự báo tương lai phát triển của Công ty
Trang 28Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 21
1) Hiệu quả hoạt động của Công ty phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố bên
ngoài và nội tại Công ty Vì vậy, để đánh giá hết hiệu quả đầu tư vào
một công ty, nhà đầu tư hoặc người phân tích tư vấn đầu tư cần phải nắm
hết các thông tin thể hiện các khía cạnh ảnh hưởng đến hoạt động của
Công ty
2) Nhìn chung quá trình tính toán các mô hình phân tích cơ bản là dễ dàng
nhưng việc ước lượng các giá trị đầu vào của doanh nghiệp là vấn đề
khó khăn và phức tạp Hơn nữa, độ tin cậy của các số liệu đầu vào còn
phụ thuộc vào ước lượng chủ quan của người phân tích
2.4 ƯỚC LƯỢNG GIÁ CK Ở THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI:
2.4.1 Ước lượng giá CK ở thị trường mới nổi (Emerging markets):
Tại các TTCK đã phát triển, việc định giá CK thực hiện bằng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau và thực hiện bởi các tổ chức chuyên nghiệp Để
có kết quả có độ tin cậy cao, người ta sử dụng nhiều phương pháp để tính
toán, sau đó so sánh các kết quả với nhau để chọn lấy kết quả cuối cùng
tương đối hợp lý Đối với các nhà đầâu tư quan tâm đến việc đầu tư dài hạn
và kỳ vọng sinh lợi từ CP, phân tích cơ bản thường được ứng dụng Nhìn
chung, khi yếu tố môi trường kinh doanh ổn định, ít có nhiều biến động bất
ngờ, việc ước lượng các thông số đầu vào trong mô hình định giá cơ bản sẽ
dễ dàng hơn Đối với các nước đang phát triển, TTCK thường được hình
thành và phát triển chậm và được gọi là thị trường mới nổi (Emerging
markets) Điển hình như : TTCK Trung Quốc, TTCK Việt Nam …
+Xét về tính ổn định và phát triển của thị trường: Thị trường mới nổi thường
là các thị trường không hiệu quả Các yếu tố trực tiếp tác động đến hoạt
động của thị trường như môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh… chưa
được hoàn thiện nên thường có những đột biến bất ngờ thiếu ổn định,
thường mang tính đầu cơ, phát triển rất khó khăn và dễ bị nguy cơ sụp đổ
+ Xét về yếu tố kinh tế vĩ mô: nền kinh tế các nước này đang phát triển và
thường ở khoảng cách xa so với các nước công nghiệp phát triển Do đó sẽ
gặp rất nhiều khó khăn do cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hoá, dễ gặp
các rủi ro và thiếu tính ổn định trong quá trình phát triển
Chính vì vậy, việc định giá CK ở TTCK mới nổi khó khăn hơn rất nhiều
Phân tích kỹ thuật hầu như không thể áp dụng một cách hiệu quả Ngoài ra,
việc đề xuất mô hình định lượng cơ bản cho kết quả tương đối chính xác và
độ tin cậy cao cũng là vấn đề khó khăn và trở ngại đối với nhà đầu tư
Ở các thị trường mới nổi, thông thường để xác định giá CK mới phát hành,
nhà đầu tư thường tìm cách xác định giá trị của doanh nghiệp và có nhiều
Trang 29Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 22
phương pháp được áp dụng Điểm chung của các phương pháp này vẫn tập
trung vào việc xác định giá trị tài sản cố định và giá trị tài sản vô hình củûa
doanh nghiệp Giá trị tài sản cố định được xác định thông qua việc kiểm
toán tất cả các tài sản cố định mà công ty đang sở hữu sau khi trừ đi các
khoản nợ của công ty Việc xác định giá trị tài sản vô hình của công ty là
phức tạp và thường không có công thức chung nào áp dụng cho tất cả các
doanh nghiệp Một số phương pháp thường được áp dụng là: phương pháp
xác định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp bằng cách so sánh lợi thế của
doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong cùng một ngành kinh
doanh, phương pháp chiết khấu dòng tiền tệ tạo ra nhãn hiệu hàng hoá của
Công ty, phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp…
Trong các thị trường mới nổi, giá CK thường thay đổi với biên độ dao động lớn
trong thời gian đầu Sự không ổn định giá CK cho thấy việc ước lượng giá CK tại
các thị trường mới nổi thường chịu sự chi phối của các yếu tố khác ngoài các yếu
tố được liệt kê ở trên Đi sâu vào thực trạng định giá ở các thị trường mới nổi,
thực tế hiện nay, nhà đầu tư thường quan tâm vào khả năng sinh lời hiện tại của
doanh nghiệp thông qua tỷ số P/E Tỷ số P/E thấp cho thấy kỳ vọng sinh lời
trong tương lai của doanh nghiệp thấp và thường nhà đầu tư thường chấp nhận tỷ
lệ P/E khoảng từ 10 đến 30
Bảng 2.1: Hệ số P/E của các thị trường châu Á – năm 1992
Stt Thị trường Số công ty niêm yết P/E
Trang 30Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 23
Để dễ dàng so sánh, đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển
như Mỹ, thường các nhà đầu tư hướng mục tiêu đầu tư vào các doanh
nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp mới như công nghệ phần
mềm, công nghệ sinh học …các ngành đang phát triển sản phẩm “mới” Tuy
nhiên các doanh nghiệp này cũng sẽ có kỳ vọng lợi nhuận cao - tỷ số P/E
thường rất cao (đạt đến 160 như CP của Cisco System), giá các loại CK này
thường cao hơn rất nhiều so với giá CK các ngành công nghiệp phục vụ
công cộng có tỷ số P/E thấp
Như vậy xu hướng đánh giá CK ở tại các thị trường mới nổi sẽ không
khuyến khích việc đầu tư vào các doanh nghiệp thuộc các ngành công
nghiệp mới đang phát triển Vì thường trong giai đoạn khởi đầu của một
ngành công nghiệp, mặc dù tốc độ phát triển cao nhưng rủi ro lớn, đồng thời
trong thời gian này, lợi nhuận hầu như phải tập trung vào việc đầu tư và
phát triển
2.5 THÔNG TIN CHỨNG KHOÁN Ở THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI:
TTCK hoạt động dựa trên niềm tin của nhà đầu tư và thông tin trên TTCK
chính là nền tảng cơ bản xây dựng nên niềm tin thông qua hai vai trò:a) thứ
nhất giúp các nhà kinh doanh CK hiểu đúng chất lượng CK, hình thành nên
các quyết định đầu tư mua bán trên thị trường, b) thứ hai là giúp cho các
nhà quản lý thị trường giám sát hoạt động của thị trường nhằm đưa ra các
biện pháp quản lý phùø hợp để đảm bảo tính hiệu quả và an toàn của thị
trường
Do vậy, nguồn thông tin TTCK hiệu quả phải: truyền bá, cung cấp đầy đủ
các thông tin quy định về luật tham gia vào TTCK Hướng dẫn, phổ biến
kiến thức đầu tư cho nhà đầu tư Cung cấp đầy đủ các công cụ, số liệu để
nhà đầu tư quyết định đầu tư Thông tin phải trung thực, chính xác và kịp
thời cảnh báo cho các nhà đầu tư về các xu hướng xấu xuất hiện trên thị
trường và biện pháp ngăn ngừa chúng
Có hai nguồn thông tin trên TTCK: nguồn thông tin cung cấp bởi cơ quan quản
lý điều hành thị trường và nguồn thông tin cung cấp bởi tổ chức niêm yết, các tổ
chức tư vấn đầu tư, các công ty môi giới CK… Thông tin cung cấp bởi các cơ
quan quản lý điều hành thị trường bao gồm các thông tin về môi trường pháp lý,
cơ chế, chính sánh điều hành và phương thức vận hành thị trường, hoạt động của
thị trường, các thông tin hoạt động của tổ chức niêm yết… Thông tin được cung
cấp bởi các tổ chức môi giới tư vấn đầu tư bao gồm các thông tin về diễn biến
giá CK, các thông tin về nghiên cứu phân tích công nghiệp, phân tích môi
trường, các thông tin đánh giá xu hướng giá cả của thị trường, các số liệu thống
kê dự báo về hoạt động của thị trường…
Trang 31Chương 2: Tổng quan về các phương pháp lượng giá CK 24
Đối với các TTCK mới nổi, thông tin CK được đánh giá là thiếu hiệu quả do
một số các nguyên nhân sau:
+ Môi trường pháp lý cho hoạt động của TTCK đang dần xây dựng và phần
lớn chưa được hoàn chỉnh Các cơ quan điều hành thị trường còn thiếu kinh
nghiệm trong việc điều hành TTCK
+ Thiếu sự tham gia đánh giá mức độ tín nhiệm của các tổ chức đánh giá uy
tín trên thế giới Do tính chất là thị trường mới nổi nên thường không thu
hút các tổ chức nghiên cứu CK có uy tín và kinh nghiệm trên thế giới
+Thiếu sự ghi nhận những phản hồi từ thị trường và nhà đầu tư Vì vậy,
thông tin thường chỉ có tính chất một chiều Trong giai đoạn đầu, hầu hết
các thị trường mới nổi mang tính chất đầu cơ, vì vậy các nguồn thông tin
dễ bị nhiễu và thiếu tính trung thực
Hậu quả của chất lượng kém về thông tin trên thị trường đã tạo ra các hiện
tượng đầu cơ trục lợi, gây xáo trộn và tạo ra các cuộc khủng hoảng thậm chí
đổ vỡ thị trường, đặc biệt là các nước đang phát triển
Trang 32Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 25
Chương 3: GIỚI THIỆU VỀ TTGDCK VÀ THỰC TRẠNG
ĐỊNH GIÁ CK
3.1 THỊ TRƯỜNG VỐN Ở VIỆT NAM
Thị trường vốn (TTV) của một quốc gia bao gồm hai loại hình: TTV trực tiếp
thông qua TTCK và TTV gián tiếp thông qua trung gian tài chính là hệ thống ngân hàng và các loại hình công ty tài chính phi ngân hàng Về phương diện quản lý vĩ mô, TTV gián tiếp là có thể điều khiển được, còn TTCK vận hành theo cơ chế tự điều chỉnh, bám sát thị trường và ít chịu sự can thiệp trực tiếp từ quản lý vĩ mô Tuy nhiên giữa TTV gián tiếp và thị trường vốn trực tiếp, luôn luôn có sự ảnh hưởng lẫn nhau theo nguyên tắc “bình thông nhau”
Về lý thuyết, đối với một nền kinh tế, tại một thời điểm nào đó: tổng số dòng tiền tiết kiệm sẽ bằng tổng số dòng tiền đầu tư Thực tế ở nền kinh tế Việt Nam, dòng tiền tiết kiệm luôn luôn lớn hơn dòng tiền đầu tư (năm 2002, tổng vốn đầu
tư phát triển của Việt Nam là 180.4 nghìn tỷ đồng chiếm 30.51% GDP, trong khi
tổng số tiết kiệm ước chiếm 69.85% GDP – Nguồn: Kinh tế Việt Nam & Thế Giới 2002-2003) Điều đó thể hiện hệ thống tài chính Việt Nam đã bộc lộ những yếu
kém trong việc huy động vốn đầu tư phát triển, không lưu chuyển được toàn bộ dòng tiền tiết kiệm sang dòng tiền đầu tư Tại Việt Nam, trong thời gian trước tháng 7 năm 2000, thị trường vốn chủ yếu tập trung vào các hoạt động của các ngân hàng thương mại và các Công ty tài chính Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, thị trường vốn Việt Nam đã bộc lộ nhiều nhược điểm:
(1) Đối với hệ thống ngân hàng thương mại: hệ thống ngân hàng thương mại chưa
nằm ở thế cạnh tranh nên chưa có nỗ lực hạ thấp chi phí và lợi nhuận Tổng số nợ khó đòi trong các ngân hàng thương mại chiếm tỷ lệ cao (xấp xỉ 17% năm 2000) Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ lệ cao (10% năm 2001) hơn mức an toàn cho phép, chưa đạt được chỉ tiêu an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế (vốn tự có trên tổng dư nợ là 8%) Xếp loại các ngân hàng thương mại Việt Nam theo tổ chức Fitch Rating là D, E trong bảng
xếp loại từ A đến E (Nguồn: ĐTCK132) Lượng vốn ngắn hạn tồn đọng
nhiều trong khi các doanh nghiệp lại thiếu vốn để sản xuất kinh doanh (năm 2002, tổng nguồn vốn huy động của toàn ngành ngân hàng đạt 283 nghìn tỷ đồng, tổng dư nợ cho vay là 269 nghìn tỷ đồng, trong đó vay dài
hạn là 107.600 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 38% - Nguồn: Kinh tế Việt Nam & Thế Giới 2002-2003) Như vậy có thể nói, lượng vốn lưu chuyển trên TTV
gián tiếp đã quá tải so với năng lực của các ngân hàng thương mại
(2) Nhu cầu vay vốn đầu tư dài hạn để phát triển là cần thiết Tuy nhiên,
trong các năm trước đây, tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn chỉ chiếm xấp
Trang 33Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 26
xỉ 30% tổng số tín dụng, chủ yếu từ nguồn vốn ngân sách uỷ thác thông
qua các ngân hàng thương mại quốc doanh
(3) Đối với các Công ty tài chính và cho thuê tài chính hoạt động tại Việt
Nam, do các trở ngại về mặt thủ tục pháp lý và luật lệ ban hành nên hoạt
động kém hiệu quả, đóng góp rất ít vào hoạt động của thị trường vốn tại
Việt Nam Doanh số hoạt động của các Công ty tài chính hằng năm chỉ đạt
khoảng vài chục tỷ đồng (Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam, 2002)
Khi TTCK tại Việt Nam mở cửa hoạt động, TTV trực tiếp sẽ tạo điều
kiện khai thông dòng chảy vốn trong nền kinh tế đất nước Trong đó vốn
tiết kiệm trong dân sẽ được huy động, giảm áp lực dư vốn cho vay của các
ngân hàng thương mại, bổ sung thêm một công cụ điều hành chính sách tiền
tệ, hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, chuyển vốn ngắn hạn sang dài
hạn và giảm cán cân chênh lệch rất lớn giữa nguồn vốn tiết kiệm và nguồn
vốn đầu tư
3.2 TTGDCK:
3.2.1 Sự hình thành TTGDCK:
Trước các yêu cầu bức xúc về TTV và nhằm chuẩn bị cho ra đời TTCK tại Việt
Nam, Chính phủ đã ban hành nghị định số 75/CP ngày 28-11-1996 về việc thành
lập Uỷ ban chứng khoán nhà nước Cơ sở pháp lý để TTCK Việt Nam hoạt động
là QĐ số 48/NĐ-CP ngày 17-07-1998 về TTCK và quyết định số 127/1998 lập
02 Trung tâm giao dịch CK Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Bên cạnh đó,
chính phủ cũng ban hành “ Quy chế thành viện, niêm yết , công bố thông tin và
giao dịch CK “ ban hành cuối tháng 3/1999
Ngoài ra các văn bản , nghị định nói trên còn có các văn bản nghị định khác
liên quan đến hoạt động của thị trường như sau: Nghị định 01/2000-CP ban
hành ngày 13-1-2000 về việc phát hành trái phiếu chính phủ Quyết định số
04/1999/QĐ-UBCK1 ngày 27/03/1999 về việc ban hành quy chế thành viên,
tổ chức niêm yết, quy chế thông tin niêm yết trên Trung tâm giao dịch CK
và các nghị định, văn bản pháp luật khác…Các văn bản nghị định nói trên
đã tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành nên TTCK Việt Nam và TTGDCK
3.2.2 Quá trình hoạt động của TTGDCK:
• Ngày khởi đầu hoạt động: ngày 20-07-2000 TTGDCK đã chính thức mở cửa
hoạt động và ngày 28-07-2000, phiên giao dịch đầu tiên đã được thực hiện
Với hai loại phiếu đầu tiên được niêm yết trên thị trường của Công ty cơ
điện lạnh REE và Công ty cổ phần cáp và vật liệu viễn thông SAM
Trang 34Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 27
• Chỉ số chính thức của thị trường: chỉ số VnIndex được tính như sau:
ΣP1i x Q1i
VN index =
Σ P0i x Q0i
P1i: giá hiện hành của CP i, Q1i: khối lượng CP đang lưu hành của CP i
P0i: giá của CP i thời kỳ gốc, Q0i: khối lượng CP i thời kỳ gốc
• Nguyên tắc khớp lệnh: hệ thống giao dịch theo nguyên tắc khớp lệnh định
kỳ giao dịch khớp lệnh 1 lần vào lúc 11(h) sáng trong một ngày Giá được
chọn trên cơ sở giá của lệnh giao dịch khối lượng nhiều nhất Thứ tự ưu tiên
khớp lệnh: lệnh được khớp sẽ được ưu tiên theo thứ tự: ưu tiên về giá - giá
tốt nhất (đối với lệnh bán là thấp nhất và đối với lệnh mua là giá cao nhất)
Nếu hai mức giá có cùng khối lượng bằng nhau thì sẽ xét tới yếu tố giá, giá
được khớp sẽ là giá gần với mức đóng cửa phiên giao dịch trước nhất, ưu
tiên về thời gian - nếu cùng mức giá thì lệnh nào nhập vào hệ thống giao
dịch trước thì sẽ được ưu tiên thực hiện trước Ưu tiên về khối lượng- trường
hợp cùng mức giá, cùng thời gian đặt lệnh thì sẽ xét đến khối lượng gần
nhất so với khối lượng dự kiến được giao dịch
• Số lần giao dịch : trong khoảng thời gian từ ngày 28-07-2000 đến ngày
01-03-2002:giao dịch 03 phiên một tuần Từ ngày 01-03-2001 đến tháng
12-2002: giao dịch 5 phiên / tuần
Đến thời điểm 31-12-2002, đã có 20 Công ty tham gia niêm yết trên TTGDCK
và 41 loại trái phiếu giao dịch Tổng khối lượng niêm yết là 99.963.340 cổ phiếu
và 42.013.380 trái phiếu Tổng giá trị niêm yết trên thị trường là 5.200 tỷ đồng,
trong đó CP là 999 tỷ đồng và trái phiếu là 4.200 tỷ đồng TTGDCK đã tổ chức
thành công 452 phiên giao dịch với tổng khối lượng CK được giao dịch là 35,645
triệu CP và 1,321 triệu trái phiếu Tổng giá trị giao dịch là 1.028,55 tỷ đồng,
trong đó giao dịch CP chiếm 88.5% Trong năm 2000, 2001, 22002, bình quân
giá trị giao dịch chứng khoán trong một phiên lần lượt là 1,3 tỷ đồng; 6,1 tỷ đồng
và 4,587 tỷ đồng (Nguồn: TTGDCK)
3.2.3 Biến động giá CK trong thời gian qua:
Để xem xét, tình hình biến động giá, ta xem xét chỉ số VN Index trong cacù
khoảng thời gian như sau (hình 5-1, trang 72, 73 ):
Từ tháng 7 năm 2000 đến tháng 3 năm 2001: khởi đầu của chỉ số VN Index
là 100 điểm Trong thời gian tiếp theo, chỉ số VN Index tăng dần đều đặn
và đạt đến 260 điểm vào cuối tháng 03 năm 2001 Nguyên nhân tăng giá
CK trong giai đoạn này được cho là do tác động của quy luật cung cầu, cầu
Trang 35Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 28
về CK tăng cao trong khi cung rất thấp, số lượng hàng hoá trên thị trường
rất ít, khối lượng niêm yết Điều đó càng kích thích nhu cầu mua CK tăng
lên Kết quả là chỉ số VN Index tăng liên tục, giá các loại CK tại các phiên
giao dịch luôn luôn đạt mức cao nhất theo biên độ giá
Từ tháng 4 năm 2001 đến tháng 3 năm 2002: Đây là giai đoạn giá CK có
nhiều biến động nhất theo hướng giảm nhanh Chỉ số VN Index đạt đến
571.04 điểm vào ngày 25 tháng 6 năm 2001 Sau đó giá CK bắt đầu giảm
dần cho đến tháng 3 năm 2002, chỉ số VN Index đạt xấp xỉ 200 điểm
Nguyên nhân là sau một thời gian tăng giá liên tục đạt đến đỉnh điểm, các
loại CP niêm yết được tung ra bán, cung lớn hơn cầu
Từ tháng 4 năm 2002 đến tháng 12 năm 2002: Đây là giai đoạn giá CK ít
thay đổi, chỉ số VN Index dao động xung quanh giá trị 170 điểm vào tháng 3
năm 2002 Cho đến cuối năm 2002, chỉ số VN Index chỉ đạt 182,65 điểm
Một đặc điểm khác trong thời gian qua là giá của tất cả các loại CK gần
như là tăng giảm đồng biến ( xem hình 5-2, trang 73 )
3.2.4 Một số nhận định chung về TTCK Việt Nam
Kể từ ngày 20 tháng 07 năm 2000 đến nay, TTGDCK đã đi vào hoạt động
hơn 02 năm Trong thời gian vừa qua, TTCK đã có một số thành công bước
đầu như sau: Hình thành nên TTCK tại Việt Nam, tạo điều kiện hình thành
và phát triển thị trường vốn trực tiếp, khơi thông thêm một kênh thu hút vốn
đầu tư và phát triển, thúc đẩy sự cạnh tranh của các doanh nghiệp, thúc đẩy
quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo hàng hoá cho
thị trường, tạo một bước ngoặc lớn trong nhận thức về kinh doanh và công
khai tài chính của doanh nghiệp, góp phần tạo nên những công cụ điều tiết
thị trường tài chính của chính phủ
Tuy nhiên, bên cạnh đó, TTCK cũng đã bộc lộ các các hạn chế sau:
+ Chức năng thị trường sơ cấp còn yếu, nếu không nói là hầu như không có,
do hầu hết các doanh nghiệp niêm yết hầu như không có nhu cầu huy
động vốn mới để đầu tư phát triển ngoại trừ lợi nhuận giữ lại hằng năm
được bổ sung tăng vốn điều lệ Đến nay, mới chỉ có một công ty HAPACO
thực hiện việc huy động bằng việc phát hành 1 triệu CP mới vào tháng 3
năm 2002, thu được 32.36 tỷ đồng (nguồn: TTGDCK)
+ “Chức năng làm kênh huy động vốn đầu tư và phát triển của chính phủ và
doanh nghiệp chưa đúng như mong muốn Cụ thể, quy mô thị trường còn
nhỏ bé với tổng giá trị thị trường khoảng 3.400 tỷ đồng CP và 3.000 tỷ
đồng trái phiếu, chưa thật sự trở thành kênh dẫn vốn quan trọng của nền
kinh tế, trong đó các CP niêm yết chưa thật sự đa dạng và chưa phải là CP
Trang 36Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 29
của các công ty lớn” (Bằng, Vũ –Phó chủ tịch UBCKNN, 2002) Tình hình
phát hành và giao dịch trái phiếu của chính phủ hầu như bị “đóng băng “
mặc dù trước đó trái phiếu của chính phủ được hy vọng là mặt hàng chủ
lực của thị trường (Trong năm 2002, TTGDCK đã tổ chức 24 đợt đấu thầu
trái phiếu chính phủ, chỉ có 12 đợt thành công, các đợt còn lại không có
thành viên nào tham gia, tổng cộng chỉ có 321 tỷ đồng trái phiếu trúng
thầu trong gần 10.000 tỷ đồng trái phiếu mang ra đấu thầu…Hiện nay trên
TTCK có 28 trái phiếu được niêm yết nhưng giao dịch trái phiếu rất hạn
chế - Nguồn: TTGDCK) Số lượng hàng hoá trên thị trường hiện nay quá ít
(Đến cuối năm 2002, chỉ riêng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá
đã có gần 900 công ty, trong đó có hơn 100 công ty có vốn điều lệ hơn 10
tỷ đồng Tại Hà nội có đến 107 công ty cổ phần có vốn điều lệ trên 10 tỷ
đồng – Nguồn ĐTCK 138) Tổng khối lượng giao dịch rất thấp (năm 2002,
bình quân tổng giá trị giao dịch mỗi phiên là 4,587 tỷ đồng – Nguồn:
TTGDCK) Giá CP biến động quá lớn (ngày 25-6-2001, giá CP REE là
95.000 đồng; ngày 30-01-2002, giá CP REE chỉ còn là 27.300 đồng)
+ Chưa thúc đẩy sự đầu tư và phát triển nhiều của các doanh nghiệp so với
tiềm năng thật sự Hầu hết các công ty trong thời gian qua đều có tốc độ
tăng trưởng nhanh, tuy nhiên hết thẩy đều dựa vào các ưu thế kinh doanh
trước đây, hiện nay “ luồng tiền đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết
đang bị chựng lại do lúng túng trong khâu giải quyết đầu ra của các dự án
đầu tư phát triển” (Cao Nguyên, Trần – UBCKNN, 2002)
+” Hệ thống giao dịch, thanh toán, công bố thông tin, giám sát thông tin chỉ
dừng ở mức ban đầu Công chúng đầu tư chủ yếu là nhà đầu tư cá thể, còn
thiếu vắng các nhà đầu tư có tổ chức, các quỹ đầu tư, dẫn đến tính chuyên
nghiệp của thị trường thấp Khung pháp lý và trình độ quản lý, điều hành
kinh doanh của các bên tham gia thị trường còn nhiều bất cập” (Bằng,Vũ –
Phó chủ tịch UBCKNN, 2002) Công tác thông tin TTCK còn rất nhiều hạn
chế về tính minh bạch, làm xói mòn niềm tin nhà đầu tư như việc công ty
CP đồ hộp Hạ Long cố tình che dấu sự việc gian lận thuế VAT, công ty
BIBICA công bố mập mờ lợi nhuận trong quý 1 năm 2002, các công ty
chậm trễ trong việc nộp báo cáo tài chính theo quy định của
UBCKNN…Công tác tuyên truyền và phổ biến hoạt động của TTCK còn
yếu, số lượng nhà đầu tư tham gia vào thị trường còn ít và chiếm phần lớn
là các cá nhân đầu tư mang sắc màu đầu cơ nhiều hơn (đến cuối năm
2002, số lượng tài khoản của các nhà đầu tư tại các công ty chứng khoán
là 13.000 và chỉ có 500 đến 600 thường xuyên giao dịch và chỉ có 30 nhà
đầu tư có tổ chức) “Thị trường vắng bóng các định chế tài chính chuyên
nghiệp như quỹ đầu tư, công ty định mức tín nhiệm” (Cao Nguyên, Trần–
UBCKNN, 2002)
Trang 37Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 30
13.30%
86.70%
Nước ngoài Trong nước:
Hình 3.1: Tổng khối lượng giao dịch của nhà đầu tư năm 2002
(Nguồn: TGDCK)
3.3 CÁC CÔNG TY CK & THỰC TRẠNG ĐỊNH GIÁ CK HIỆN NAY
3.3.1 Nghiệp vụ của các Công ty CK:
Hoạt động tư vấn: là các hoạt động phân tích, đưa ra các khuyến nghị liên
quan đến CK, công bố, phát hành các phân tích có liên quan đến CK
Hoạt động môi giới: là hoạt động giúp cho các nhà đầu tư đưa yêu cầu mua
và bán CK đến với thị trường giao dịch
Nghiệp vụ tự doanh (dealing on own accounts): Công ty CK có thể tự mình
mua hay bán CK cho bản thân Công ty để kiếm lợi nhuận
Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành (underwriting): giúp cho các tổ chức phát
hành CK thực hiện các thủ tục trước khi chào bán CK ra thị trường bao
gồm:bảo lãnh với cam kết chắc chắn, bảo lãnh với cố gắng cao nhất,
phương thức bán hết cả hoặc không bán gì, phương thức tối thiểu – tối đa
Nghiệp vụ quản lý các danh mục đầu tư (investment portfoliomanagement)
nhằm quản lý vốn của khách hàng thông qua việc mua bán hoặc nắm giữ
các CK vì quyền lợi của khách hàng
3.3.2 Các Công ty CK hiện nay:
Cho đến thời điểm cuối năm 2002, đã có 09 Công ty CK được thành lập:
Công ty CK Đệ Nhất, Công ty CK Thăng Long, Công ty CK Ngân hàng đầu
tư và phát triển, Công ty CK Á Châu, Công ty CK Sài Gòn, Công ty CK Bảo
Việt, Công ty CK ngân hàng công thương, Công ty CK ngân hàng nông
nghiệp và phát triển nông thôn (xem phụ lục 3-1, trang 83)
Bên cạnh đó, uỷ ban CK nhà nước cũng cho phép 03 chi nhánh ngân hàng
nước ngoài là Deusch bank và HSBC, Standard Chartered Bank được phép
lưu ký CK của nhà đầu tư nước ngoài Ngân hàng đầu tư và phát triển được
chỉ định làm ngân hàng thanh toán
Trang 38Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 31
Như vậy hầu hết các Công ty chứng khoán hiện nay đều đăng ký đầây đủ
các hoạt động nghiệp vụ của một Công ty môi giới CK Tuy vây, thực tế
hiện nay, “các công ty CK chỉ mới triển khai nghiệp vụ môi giới là chủ yếu,
trong khi thị trường đòi hỏi phải triển khai đầu đủ các nghiệp vụ kinh doanh
như bảp lãnh phát hành, đại lý phát hành, tư vấn đầu tư, tự doanh, số lượng
các nhân viên có trình độ nghiệp vụ và giấy phép hành nghề quá ít ).” (Cao
Nguyên, Trần – Vụ trưởng Vụ phát triển thị trường, UBCKNN, 2002) Đồng
thời, “theo đánh giá của nhiều người tham gia thị trường trong thời gian qua,
các công ty CK đã thực hiện khá tốt nghiệp vụ môi giới cho khách hàng Tuy
nhiên với nghiệp vụ tư vấn đầu tư, dường như chưa có công ty nào đáp ứng
được nhu cầu của nhà đầu tư và đạt được sự tín nhiệm của họ…Đối với khách
hàng khi tiếp cận TTCK, đương nhiên muốn được tư vấn chứng khoán nhưng
thực tế nhân viên tư vấn cũng chỉ giới thiệu qua loa về tình hình thị trường,
về các công ty niêm yết và cung cấp vài bản cáo bạch , vài bản báo cáo tài
chính và những lời giải thích sơ sài” (Thăng Long, Trần, 2002) Nguyên
nhân chính của tình trạng hiện nay là do: (1) Trình độ chuyên môn của các
nhân viên tư vấn chưa cao;(3) Việc đầu tư nhiều vào công tác tư vấn sẽ tăng
chi phí; (4) Nguồn thông tin các công ty CK nhận được từ các tổ chức niêm
yết quá ít, đồng thời “ bản thân công ty CK dù có muốn xử lý thông tin thô
từ các tổ chức niêm yết qua việc phân tích, bình luận diễn giải cho nhà đầu
tư hiểu thêm cũng không dám vì sợ bị khiển trách, kiểm điểm Điều này vô
hình dung triệt tiêu và trò nhà tư vấn của công ty CK” (Uyên Nguyên, Phạm
– Phó Giám đốc Công ty CK Bảo Việt, 2002)
3.3.3 Thực trạng định giá chứng khoán hiện nay:
Đối với các thị trường chứng khoán đã phát triển, việc định giá chứng
khoán thường do các tổ chức định mức tín nhiệm, các công ty CK, các công
ty nghiên cứu thị trường thực hiện bằng cách xây dựng một hệ thống các chỉ
số thị trường như chỉ số sức mạnh tương đối, chỉ số lợi nhuận mỗi cổ phần,
hệ số alpha, hệ số bêta, xây dựng hệ thống các nhóm ngành, đánh giá và cụ
thể hoá các yếu tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến thị trường bằng
các chỉ số thực tế…để giúp nhà đầu tư đánh giá đúng chất lượng chứng
khoán khi thực hiện các quyết định đầu tư
Tại Việt Nam, nhu cầu định giá CK đầu tiên xuất phát từ việc cần thiết
phải định giá giá trị doanh nghiệp nhà nước được cổ hoá bởi vì đây là
nguồn hàng chủ yếu cung cấp cho TTCK Thế nhưng tiến độ cổ phần hoá
rất chậm bởi “nguyên nhân chính là ách tắt trong việc xác định giá trị doanh
nghiệp, nếu không giải quyết được vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp thì
khó lòng đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá”(Đức Pháp, Quách – Vụ trưởng vụ
chính sách tài chính Bộ tài chính-2001) Để định giá CP các công ty đưa vào
Trang 39Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 32
niêm yết trên TTGDCK, các nhà quản lý thị trường dựa vào giá tham chiếu
bằng thư giá của CK Việc xác định giá tham chiếu của các CP thiếu cơ sở
thực tế (giá tham chiếu của các chứng khoán REE, HAP là 10.000 đ/CP) như
vậy đã bỏ qua nhiều lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp khiến cho giá
tham chiếu thấp hơn giá trị nội tại của CP dẫn đến xuất hiện các trào lưu
nhất thời trong việc mua vào CK và tình trạng ghìm giữ không bán CK, gây
nên “cơn sốt” cầu CK Sau đó, kể từ việc phát hành CP công ty nhựa Đà
Nẵng vào ngày 30-11-2002, TTGDCK thực hiện việc thả nổi giá tham chiếu
trong lần giao dịch đầu tiên ( thực chất là xác định theo giá thị trường),
nhưng trong điều kiện thiếu thông tin về tổ chức niêm yết đã khiến giá CP
của các công ty lần đầu niêm yết đều dao động mạnh (giá phiên giao dịch
đầu tiên của DPC ngày 30-11-2002:35.000đ/CP, đến ngày 30-01-2002 là
23.500 đ/CP) Để cải tiến tình hình, ngày 12-09-2002, Bộ Tài Chính ban
hành thông tư 79/2002/TT-BTC quy định việc xác định giá trị doanh nghiệp
theo hai phương pháp: theo giá trị tài sản cho các doanh nghiệp hoạt động
trong các ngành sản xuất kinh doanh, phương pháp chiết khấu dòng tiền
ròng được áp dụng đối với những doang nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
dịch vụ, tư vấn, du lịch Tuy vậy, trong điều kiện tài chính doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay và sự thiếu vắng hầu hết các tổ chức định mức tín
nhiệm, các tổ chức định giá chuyên nghiệp, việc xác định tương đối chính
xác giá trị của doanh nghiệp theo hai phương thức trên là điều khó khăn
Nhu cầu thứ hai của định giá CK là thực hiện việc mua bán của các tổ chức
niêm yết trên sàn giao dịch Đối với hoạt động trên TTGDCK hiện nay, do
“ đa phần chỉ có các nhà đầu cơ, đồng thời kiến thức nhà đầu tư chưa cao,
quan niệm đầu tư, đầu cơ lẫn lộn và không vững chắc”(Kiên Cường–Chuyên
viên CK-ĐTCK150) nên việc định giá CK đều phụ thuộc chủ yếu vào các
công ty CK với tư cách là những nhà tư vấn cho khách hàng Tuy nhiên căn
cứ vào thực tế hoạt động hiện nay của hầu hết các công ty CK, việc định
giá CK hầu như không có do chất lượng hoạt động tư vấn kém vì “khi hoạt
động tư vấn chưa có hệ thống các chỉ số để làm chuẩn mực khi phân tích cơ
bản, không có cơ sở để xác định vị thế của tổ chức niêm yết so với các công
ty khác trong ngành, cũng như toàn thể thị trường hoạt động tư vấn còn
mang tính cảm tính, chưa có cơ sở chính thúc do đó chưa thuyết phục các nhà
đầu tư” (Cường, Kiên, 2002) Hậu quả thể hiện trong việc phát hành thêm 1
triệu CP của Công ty HAPACO vào tháng 3 năm 2002, sự yếu kém nghiệp
vụ của công ty CK bảo lãnh phát hành về việc xác định giá tham chiếu CK
mới phát hành đã khiến cho CK của công ty đã rớt giá 44% chỉ trong phiên
giao dịch ngày 19-12-2001 (từ 97.500 đ/CP xuống 55.000 đ/CP và giá phát
hành CK HAP mới đã giảm xuống 32.000 đ/CP thay vì 50.000 đ/CP như đã
định trước đây) Trước những bức xúc trên về vấn đề định giá CK, một số
Trang 40Chương 3: Giới thiệu về TTGDCK và thực trạng định giá CK 33
các cá nhân đã thử áp dụng một vài phương pháp phân tích cơ bản nhằm
ước lượng một số CK niêm yết (Nguồn: ĐTCK 81, 82, 145, 144) Tuy vậy,
việc áp dụng các kết quả nghiên cứu riêng lẻ trên là hạn chế vì phương
pháp luận để tìm ra các thông số đầu vào xuất phát từ cảm nhận cá nhân
hơn là từ cơ sở thực tế, đồng thời việc chọn các kết quả định giá cao nhất
trong các mô hình cơ bản làm giá trị nội tại của CP là không chính xác Như
vậy, có thể kết luận về thực trạng định giá CK ở Việt Nam hiện nay: “Tại
Việt Nam, do chưa hình thành các tổ chức chuyên nghiệp trong các phân tích
cơ bản nên khó kết luận giá CP là cao hay thấp, đúng hay chưa đúng gía trị
nội tại “ (Việt Thắng, Trần – Phó phòng phân tích và tư vấn đầu tư công ty
chứng khoán ngân hàng Đầu tư & phát triển, 2002)
3.4 THÔNG TIN CK Ở TTCK VIỆT NAM:
Đối với TTCK Việt Nam hiện nay, nguồn thông tin CK chính thức cho nhà
đầu tư đến từ hai nguồn: nguồn cung cấp bởi TTGDCK và nguồn cung cấp
bởi các Công ty CK
3.4.1 Nguồn thông tin đến từ TTGDCK
Chủ yếu là thông tin về các căn bản pháp lý và luật quy định đến hoạt động
của thị trường (Nghị định 48-CP, các quyết định 127-CP…); Các biện pháp
quản lý và điều chỉnh hoạt động của thị trường (điều chỉnh biên độ dao
động giá, thay đổi số lần khớp lệnh giao dịch …); Các thông tin về hoạt động
hằng ngày của thị trường (giá mua bán, khối lượng giao dịch…); Các biện
pháp cảnh cáo CK đang giao dịch (cảnh cáo CK HAP, ngừng giao dịch CK
CAN vì vi phạm nguyên tắc công bố thông tin, do vi phạm quy chế công bố
thông tin…); Các thông tin liên quan đến các tổ chức niêm yết (các báo cáo
về tài chính, về kết quả hoạt động kinh doanh, các thông báo về phương
hướng hoạt động kinh doanh, tin liên quan đến cuộc họp của hội đồng quản
trị, đại hội cổ đông, phát hành CP mới…); Các thông tin hướng dẫn kiến thức
về đầu tư CK thông qua bản tin TTCK
Bên cạnh đó, thông tin từ TTGDCK đã thể hiện một số hạn chế như sau:
(1) TTGDCK không thực hiện việc công bố các dự thảo sửa đổi luật ( dự
thảo NĐ thay thế NĐ 48/1998/NĐ-CP ), các dự định về việc điều chỉnh
các biện pháp hành chính quản lý thị trường, thiếu sự tiếp thu ý kiến
phản hồi đóng góp của nhà đầu tư
(2) Các thông tin về giao dịch CK hằng ngày của TTGDCK thiếu sự tổng
hợp và phân tích các chỉ số CK khiến nhà đầu tư mất phương hướng,
nguồn thông tin không được công bố rộng rãi đến nhà đầu tư (“ xu hướng