Việc tìm hiểu những đặc tính được ưa thích của sản phẩm kem ăn từ khách hàng và kế hoạch tung sản phẩm mới là một trong những bước quan trọng trong quá trình cách tân sản phẩm mới và đó
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
TRƯƠNG TẤN THÔNG
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ĐƯỢC ƯA THÍCH TRÊN SẢN PHẨM KEM ĂN TỪ KHÁCH HÀNG VÀ KẾ HOẠCH TUNG SẢN PHẨM MỚI CHO
UNILEVER
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ NGÀNH: 12.00.00
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP HỒ CHÍ MINH, Tháng 3 năm 2003
Trang 2Đại Học Quốc Gia Tp.Hồ Chí Minh
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: TRƯƠNG TẤN THÔNG Phái: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 27-12-1973 Nơi sinh: Sài Gòn
số:12.00.00
I TÊN ĐỀ TÀI:
KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ ƯA THÍCH TRÊN SẢN PHẨM KEM ĂN VÀ
KẾ HOẠCH TUNG SẢN PHẨM MỚI CHO UNILEVER
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
-Tìm những đặc tính của sản phẩm kem ăn được ưa thích từ khách hàng -Aùp dụng kết quả khảo sát để phát triển sản phẩm mới có các đặc tính được ưa thích
-Kế hoạch tung sản phẩm kem mới
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ:
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ:
V HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: 1 PGS.TS BÙI NGUYÊN HÙNG
Nội dung và đề cương luận văn thạc sĩ đã được Hội Đồng Chuyên Ngành thông qua
TRƯỞNG PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH Ngày Tháng Năm
Trang 3Lời Cảm Ơn
Xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Thầy Bùi Nguyên Hùng và Thầy Ngô Đình Dũng trong suốt quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của Chị Hoàng Thị Thanh Hà ( Trưởng nhãn hàng kem Paddle Pop công ty Wall’s Việt Nam), Anh Marius De Beer (Trưởng phòng marketing công ty Wall’s Việt Nam) cùng các đồng nghiệp
ở công ty Wall’s Việt Nam trong thời gian qua để luận văn thạc sĩ này được hoàn tất
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô ở khoa quản lý công nghiệp, phòng quản lý khoa học – sau đại học, trường đại học Bách khoa TP.Hồ Chí Minh đã giảng dạy, truyền đạt và hỗ trợ tận tình trong suốt khóa học và quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ này
Xin chân thành cảm ơn các bạn ở lớp cao học quản trị doanh nghiệp K11 đã nhiệt tình giúp đỡ trong suốt khóa học vừa qua
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 3 năm 2003 Người thực hiện luận văn
Trương Tấn Thông
Trang 4ABSTRACT
Product innovation is now critical in the drive to create insurmountable competitive barriers and to build on current advantages for businesses Through the innovation, new markets and new products will be done to enhance the ability to compete Especially for fast food category like ice cream category, how
to create the products to respond to changing needs with outstanding developments which delight consumers is a big concern
As ice cream leader on the world generally and in Vietnam particularly, Wall’s have been enjoyed its successful achievement since the time it joined Vietnam However, to maintain this position in Vietnam market, Wall’s must understand and communicate well with Vietnam consumers that is also the first condition to develop the product right and adapt market right
My thesis-understanding the characters of ice cream concerned by consumers and planning to launch it to consumers is also aspiration to reach this purpose The thesis would be a proposal based on the real situation and theory study which could be a valuable reference and moreover, quite feasible and applicable for Wall’s Vietnam
Trang 5Lời nói đầu
Ngày nay, các doanh nghiệp luôn xem việc cách tân sản phẩm là mục tiêu hàng đầu trong quá trình xây dựng lợi thế cạnh tranh cho mình Thông qua việc cách tân sản phẩm, các doanh nghiệp sẽ sở hữu được những bí quyết, những sản phẩm mới- đây chính là công cụ làm tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp và mở ra nhiều cơ hội tốt để doanh nghiệp xâm nhập vào các thị trường mới Đặc biệt với các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành thực phẩm ăn liền như kem ăn thì việc trả lời câu hỏi “ làm thế nào để tung ra những sản phẩm mới đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của khách hàng trong môi trường kinh doanh khốc liệt như hiện nay là?” là điều trăn trở của các doanh nghiệp
Là một doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh kem ăn hàng đầu thế giới, Wall’s đã từng bước xâmnhập vào thị trường Việt Nam Bước đầu đã gặt hái được
những thành công ở thị trường mới này Tuy nhiên, để chinh phục thị trường này, Wall’s cần phải hiểu những nhu cầu, những mong muốn và cả văn hoá ẩm thực của người Việt Nam nữa Đó cũng là điều kiện tiên quyết cho sự cách tân sản phẩm thành công
Việc tìm hiểu những đặc tính được ưa thích của sản phẩm kem ăn từ khách hàng và kế hoạch tung sản phẩm mới là một trong những bước quan trọng trong quá trình cách tân sản phẩm mới và đó là công trình nghiên cứu được đề cập trong luận văn này- luận văn được nghiên cứu trong điều kiện thực tế ở thị trường thành phố Hồ Chí Minh
Với sự đầu tư nghiên cứu bài bản và nghiêm túc, tôi hy vọng rằng luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho công ty Wall’s Việt Nam nói riêng và các doanh nghiệp thực phẩm nói chung trong tình hình kinh doanh hiện nay
Trang 6MỤC LỤC CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do hình thành đề tài 1
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Phạm vi đề tài 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT I phát triển sản phẩm mới 4
1 Sản phẩm mới 4
2 Hình thành ý tưởng 5
3 Sàng lọc ý tưởng 7
4 Soạn thảo dự án và thẩm định dự án 8
5 Phát triển sản phẩm 9
6 Thử nghiệm trên thị trường 9
7 Thương mại hoá sản phẩm 10
II quảng cáo sản phẩm 11
1 Khái niệm về quảng cáo 11
2 Mục tiêu quảng cáo 11
3 Xác định ngân sách cho quảng cáo 13
4 Thông điệp quảng cáo 14
5 Quyết định phương tiện quảng cáo 16
6 Lựa chọn phương tiện quảng cáo 17
i Báo 17
ii Tạp chí 18
iii Thư gửi trực tiếp 19
iv Truyền hình 20
Trang 7v Radio 21
vi Quảng cáo ngoài trời 21
III Định giá sản phẩm 22
1 Định giá theo giá thành 22
2 Định giá theo cạnh tranh 24
3 Định giá theo giá trị 25
IV Kênh phân phối cho sản phẩm 26
1 Khái niệm về phân phối 26
2 Chức năng của kênh phân phối 26
3 Số cấp của kênh phân phối 28
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 1 Nghiên cứu định tính 30
2 Thực hiện nghiên cứu định tính 31
3 Nghiên cứu định lượng 32
4 Thực hiện nghiên cứu định lượng 32
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1 Kết quả nghiên cứu định tính 35
Những đặc tính của sản phẩm được ưu thích bởi khách hàng và thói quen giải trí trên các phương tiện truyền thông 35
2 Ý tưởng mới 36
3 Phát triển các mẫu sản phẩm khác nhau trên các ý tưởng mới 36
4 Kết quả nghiên cứu định lượng 38
Kem dừa lá dứa 39
Kem cacao vỏ sôcôla đậu phộng 40
Kem đào miếng dâu 41
Kem dừa nhân lá dứa vỏ sôcôla cốm 42
Kem vanilla sợi dừa phủ sôcôla cốm 43
Trang 8Kem vanilla phủ sôcôla đậu phộng 44
Mẫu kem ăn đang được yêu thích nhất 45
Mẫu kem của đối thủ cạnh tranh 46
CHƯƠNG5: KẾ HOẠCH TUNG SẢN PHẨM MỚI 1 Xác định sản phẩm 49
2 Xác định giá cho sản phẩm 50
3 Quảng cáo cho sản phẩm 51
4 Kênh phân phối cho sản phẩm 58
CHƯƠNG 6:KẾT LUẬN 61 PHỤ LỤC
Nội dung hướng dẫn thảo luận nhóm I.1 Phiếu đánh giá cảm quan sản phẩm I.2 Phiếu thăm dò ý kiến khách hàng I.11
Tỉ suất lợi nhuận (RGP%- ratio of gross profit) sản phẩm I.16 Kết quả khảo sát phiếu đánh giá cảm quan sản phẩm .II.1
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 91 LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI
Sau hàng loạt của những thất bại khi tung các sản phẩm mới ra thị trường của
công ty Unilever Điều đó đã phần nào minh chứng cho sự quay lưng của khách
hàng Việt Nam hôm nay đối với các sản phẩm kem ăn chất lượng cao, mẫu mã
châu Aâu mà công ty từng tự hào là những sản phẩm chiến lược trong tập sản
phẩm kinh doanh của mình ở Việt Nam
Sự quay lưng lại với các sản phẩm của mình đối với khách hàng Việt Nam
hôm nay, buộc công ty phải nhìn lại mình Công ty không thể sản xuất sản
phẩm theo quan niệm và ý tưởng của khách hàng Aâu, Mỹ như trước đây
Bởi vì ngày nay trong quá trình hội nhập với thế giới, đã làm cho khách
hàng người Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp xúc với một khối thông tin dồi dào
Do đó, trong suy nghĩ, quan niệm và sở thích của khách hàng về một sản phẩm
lý tưởng đã thay đổi rất nhiều, đặc biệt là ở giới trẻ-chúng càng có những quan
niệm và sở thích về một sản phẩm lý tưởng đối với họ đã trở nên rất “khác
biệt”, rất “lập dị” và cũng rất “ khó hiểu” Đối với các nhà kinh doanh việc
nắm bắt những nhu cầu và quan niệm mới này là một trong những yếu tố quyết
định sự thành công trong quá trình cạnh tranh chinh phục khách hàng của họ
Vậy để lôi cuốn và giử lại khách hàng cho mình, Unilever nhất định phải
cách tân sản phẩm của mình ( innovation) thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu
và quan niệm của khách hàng Để thực hiện việc cách tân sản phẩm một cách
hiệu quả Unilever cần phải khảo sát và tìm hiểu khách hàng Việt Nam về
những quan niệm, sở thích mới đối với sản phẩm kem ăn lý tưởng của họ ngày
nay
Trang 10Trong bối cảnh đó, cùng với mong muốn vận dụng các kiến thức lĩnh hội từ
khoá học vào phục vụ công tác thực tế của mình thuộc lĩnh vực nghiên cứu sản
phẩm mới, tôi chọn đề tài ‘tìm hiểu những đặc tính mới của sản phẩm kem ăn
và các yếu tố nhằm thu hút sự quan tâm của khách hàng “
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
- Vận dụng cơ sở lý thuyết về nghiên cứu thị trường và phát triển sản
phẩm mới để tìm ra sản phẩm có những đặc tính tạo nên sự quan tâm
của khách hàng
- Vận dụng cơ sở lý thuyết về quảng cáo để lập kế hoạch quảng cáo cho
sản phẩm mới
3 PHẠM VI ĐỀ TÀI:
- Mặc dù thị trường trọng điểm của Việt Nam là Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn đề tài chỉ nghiên cứu tại thị
trường thành phố Hồ Chí Minh
Đối với sản phẩm kem ăn của Unilever hiện nay thì khách hàng chủ yếu là
trẻ em Theo những khảo sát trước đây của Unilever thì đối tượng mua kem
ăn chủ yếu ở Việt Nam chiếm trên 80 % là trẻ em tuổi từ 8 đến 15 Do thời
gian hạn chế nên đề tài cũng tập trung khảo sát trên đối tượng khách hàng
trẻ em tuổi từ 8 đến 15
4 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
- Để tìm ra sản phẩm kem ăn có các đặc tính tạo nên sự thú vị và quan
tâm của khách hàng, tác giả sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu định
Trang 11tính với kỹ thuật phỏng vấn nhóm để tìm ra những tiêu chí và ý tưởng
mới về một sản phẩm kem ăn lý tưởng cho khách hàng
Từ những tiêu chí và ý tưởng này tác giả sẽ phát triển một số mẫu sản
phẩm, sau đó tác giả sẽ khảo sát lại khách hàng với những mẫu sản
phẩm này dựa trên những tiêu chí đã được đưa ra bởi khách hàng trong
quá trình phỏng vấn nhóm trước đó để đánh giá và tìm ra mẫu sản phẩm
được yêu thích nhất
- Để đưa ra ý tưởng cho kế hoạch quảng cáo sản phẩm mới, tác giả sử
dụng thông tin trong quá trình phỏng vấn nhóm và khảo sát khách hàng
bằng bảng câu hỏi để phân tích vàđưa ra kế hoạch cho quảng cáo
Trang 12- Qui trình thực hiện đề tài theo sơ đồ
Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu lý thuyết ( cơ sở lý luận về phát triển sản phẩm và quảng cáo)
Tìm hiểu đặc tính của sản phẩm tạo nên sự yêu thích cho khách hàng
Đưa ra các ý tưởng mới
Phát triển các mẫu sản phẩm khác nhau trên các ý tưởng mới
Xác định mẫu sản phẩm được yêu thích
Đưa ra ý tưởng chuẩn bị cho kế hoạch cho kế hoạch quảng cáo sản phẩm
Qui trình thực hiện đề tài
Trang 13CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
1 SẢN PHẨM MỚI
Sản phẩm mới theo quan niệm của ta trước đây là những sản phẩm mới hoàn
toàn, sản phẩm cải tiến….thông qua những nỗ lực nghiên cứu phát triển của
công ty Ngày nay, khi nói đến sản phẩm mới thì điều đầu tiên đặt ra cho các
nhà sản xuất đó là liệu sản phẩm chúng ta quan niệm là mới thì với những suy
nghĩ và quan niệm của khách hàng nó có còn mới, có thật sự hấp dẫn hay
không? Nếu có, thì đó mới thật sự gọi là mới, là điều mong muốn ở các nhà sản
xuất
Booz, Allen & Hamilton đã phát hiện ra sáu loại sản phẩm mới theo góc độ
chúng có tính chất mới mẻ đối với công ty và đối với thị trường Đó là:
+ Sản phẩm mới đối với thế giới: Những sản phẩm mới tạo ra một thị trường
hoàn toàn mới
+ Chủng loại sản phẩm mới: Những sản phẩm mới cho phép công ty xâm nhập
vào thị trường đã có sẵn lần đầu tiên
+ Bổ sung chủng loại sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới bổ sung thêm
vào các chủng loại sản phẩm đã có của công ty ( Kích cở, hương vị, )
+ Cải tiến sửa đổi nbững sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới có những
tính năng tốt hay giá trị nhận thức được lớn hơn và thay thế những sản phẩm
hiện có
+ Định vị lại: Những sản phẩm hiện có được nhắm vào những thị trường hay
khúc thị trường mới
Trang 14+ Giảm chi phí; Những sản phẩm có tính năng tương tự với chi phí thấp hơn
Công ty thường theo đuổi cả một doanh mục những sản phẩm mới này
2 HÌNH THÀNH Ý TƯỞNG
Quá trình phát triển sản phẩm mới bắt đầu từ việc tìm kiếm ý tưởng Việc tìm
kiếm không thể là vu vơ Ban lãnh đạo tối cao phải xác định những sản phẩm
và thị trường cần chú trọng
+ những nguồn ý tưởng sản phẩm mới:
Những nguồn ý tưởng sản phẩm mới có thể nảy sinh từ nhiều nguồn: khách
hàng, các nhà khoa học, đối thủ cạnh tranh, nhân viên của công ty….Quan điểm
marketing khẳng định rằng những nhu cầu và mong muốn của khách hàng là
nơi hợp logic để bắt đầu tìm kiếm những ý tưởng sản phẩm mới Hippel đã
chúng minh rằng phần lớn những ý tưởng về các sản phẩm công nghiệp bắt
nguồn từ khách hàng Những công ty kỹ thuật có thể đạt được rất nhiều khi
nghiên cứu một nhóm khách hàng nhất định của mình, những người sử dụng
chủ chốt, cụ thể là những người sử dụng các sản phẩm của công ty một cách
tân tiến nhất và ý thức được những cải tiến cần thiết trước những khách hàng
Các công ty có thể phát hiện những nhu cầu và mong muốn của khách hàng
thông qua các cuộc thăm dò khách hàng, trao đổi nhóm tập trung vào những
thư góp ý và khiếu nại của khách hàng Nhiều ý tưởng hay nhất nảy sinh khi
yêu cầu khách hàng trình bày những vấn đề liên quan đến những sản phẩm
hiện có Chẳng hạn như một công ty ô tô có thể hỏi người mới mua xem họ
thích và không thích những điểm nào ở chiếc xe, có thể cải tiến những chổ nào
và họ sẽ trả bao nhiêu tiền cho những cải tiến đó Cuộc thăm dò như vậy sẽ
cho ra rất nhiều ý tưởng để cải tiến sản phẩm sau này
Trang 15Các công ty cũng dựa vào những nhà khoa học, các kỹ sư, những người thiết kế
và các nhân viên của công ty để khai thác các ý tưởng sản phẩm mới Những
công ty thành công đã xây dựng một nề nếp của công ty khuyến khích mọi
nhân viên của công ty tìm kiếm những ý tưởng mới để cải tiến sản phẩm và
dịch vụ của họ
Các công ty có thể tìm kiểm ý tưởng hay qua khảo sát sản phẩm và dịch vụ của
đối thủ cạnh tranh Qua những nhà phân phối, những người cung ứng và các đại
diện bán hàng có thể tìm hiểu xem các đối thủ cạnh tranh đang làm gì Họ có
thể phát hiện ra khách hàng thích gì ở sản phẩm mới của đối thủ cạnh tranh
Họ có thể mua sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh tháo tung chúng ra nghiên
cứu và làm ra các sản phẩm tốt hơn Chiến lựợc của họ là chiến lược phỏng tạo
và cải tiến chứ không phải đổi mới sản phẩm
Các đại diện bán hàng và những người trung gian của công ty là nguồn ý tưởng
sản phẩm mới rất tốt Họ có điều kiện mắt thấy tai nghe những phàn nàn của
khách hàng Họ thường hay biết được trước tiên những diễn biến cạnh tranh
Ngày càng nhiều công ty huấn luyện và khen thưởng các đại diện bán hàng,
người phân phối và các đại lý của mình về việc tìm được các ý tưởng mới…
PHƯƠNG PHÁP HÌNH THÀNH Ý TƯỞNG
Những ý tưởng thực sự hay đều nảy sinh từ nguồn cảm hứng, Tuy nhiên có một
số phương pháp “ sáng tạo” có thể giúp các cá nhân hay tập thể hình thành
những ý tưởng tốt hơn Dưới đây là một số phương pháp hình thành ý tưởng phổ
biến:
+ Liệt kê thuộc tính
Phương pháp này đòi hỏi phải liệt kê những thuộc tính chủ yếu của một sản
phẩm hiện có rồi sau đó cải tiến từng thuộc tính để tìm ra một sản phẩm cải
Trang 16tiến Osborn đã đưa ra ý kiến là có thể tìm được những ý tưởng hữu ích bằng
cách đặt những câu hỏi sau đây đối với một sự vật và các thuộc tính của nó: Bổ
sung thêm những công dụng khác chăng? Thay đổi cho thích hợp chăng? Làm
to hơn chăng? Thay thế chăng? Bố trí lại chăng? Đảo ngược lại chăng? Kết hợp
chăng?
+ Phát hiện nhu cầu/ vấn đề
Việc phát hiện nhu cầu/vấn đề bắt đầu từ người tiêu dùng khi được hỏi về
những nhu cầu/ vấn đề đối với sản phẩm hiện tại sẽ là những ý tưởng hay cho
các sản phẩm mới Ví dụ, họ có thể được hỏi về những vấn đề khi sử dụng một
sản phẩm hay một sản phẩm cụ thể Phương pháp này còn có thể sử dụng theo
chiều ngược lại Người tiêu dùng nhận được những bảng kê những vấn đề và sẽ
cho biết theo suy nghĩ của họ những sản phẩm nào có những vấn đề gì Chẳng
hạn như vấn đề:” cách đóng gói không phù hợp khi xếp lên giá” có thể làm
cho người tiêu dùng kể ra những mặt hàng như thức ăn cho chó mèo và những
thứ ngũ cốc khô để ăn sáng Những người làm marketing thực phẩm có thể
nghĩ đến chuyện xâm nhập các thị trường đó với những gói hàng kích thước
nhỏ hơn
+ Động não
có thể kích thích nhóm sáng tạo bằng phương pháp động não do Alex Osborn
đưa ra Nhóm động não thường từ sáu đến mười người Vấn đề được đặt ra cụ
thể Các buổi hợp chỉ kéo dài khoảng một giờ Người chủ trì có ý kiến mở đầu
là” hãy nhớ rằng chúng ta cần càng nhiều ý tưởng càng tốt, càng rộng càng tốt
và nhớ rằng chưa cần đánh giá” Các ý tưởng bắt đầu tuôn ra, ý tưởng này làm
nãy sinh các ý tưởng khác, và trong vòng một giờ có thể có hàng trăm ý tưởng
Trang 17mới được ghi lại bằng máy ghi âm Để cho cuộc hợp có hiệu quả tối đa Osborn
đưa ra bốn ý tưởng chủ đạo sau:
- Không phê phán; Phải loại bỏ những ý kiến phê phán các ý tưởng
ngay cả sau một thời gian
- Tự do thoải mái: ý tưởng càng rộng lớn càng tốt
- Khuyến khích số lượng: càng nhiều ý tưởng thì càng nhiều khả năng
có những ý tưởng hữu ích
- Khuyến khích kết hợp và phát triển ý tưởng: những người tham dự có
thể kết hợp những ý tưởng của những người khác thành những ý
tưởng mới
3 SÀNG LỌC Ý TƯỞNG
Mục đích của giai đoạn hình thành ý tưởng là sáng tạo ra thật nhiều ý tưởng
Mục đích của giai đoạn tiếp theo là giảm bớt số ý tưởng xuống còn vài ý tưởng
hấp dẫn và có tính thực tiễn Giai đoạn loại bớt ý tưởng đầu tiên là giai đoạn
sàng lọc
Khi sàng lọc các ý tưởng công ty phải tránh hai kiểu sai lầm Bỏ sót- sai lầm
xảy ra khi công ty gạt bỏ một ý tưởng hay Việc dễ nhất có thể làm được là tìm
ra những thiếu sót trong các ý tưởng của người khác Có những công ty giật
mình khi xem lại một số ý tưởng mà họ đã gạt bỏ
Sai lầm để lọt lưới xảy ra khi công ty để cho một ý tưởng tồi đi vào giai đoạn
phát triển và thương mai hoá
Mục đích của việc sàng lọc là loại bỏ những ý tưởng tồi càng sớm càng tốt Lý
do là chi phí phát triển sản phẩm tăng lên đáng kể qua mỗi giai đoạn phát triển
tiếp theo Khi sản phẩm bước vào những giai đoạn cuối, ban lãnh đạo cảm thấy
mình đã đầu tư quá nhiều vào việc phát triển sản phẩm đó, nên phải tung nó ra
Trang 18bán để gỡ lại một phần vốn đầu tư Nhưng như vậy có nghĩa là thả những đồng
tiền trong túi mình ra để rồi đuổi bắt những đồng tiền còn chưa thấy bóng dáng
nó ở đâu, nên giải pháp thực tế là không được để cho những ý tưởng sản phẩm
yếu kém được tiếp tục triển khai
4 SOẠN THẢO DỰ ÁN VÀ THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
Bây giờ cần phải biến những ý tưởng lọt qua vòng lựa chọn thành những dự án
hàng hoá Hầu hết các công ty đều yêu cầu trình bày dự án hàng hoá theo một
mẫu thống nhất để ban phụ trách sản phẩm mới có thể xem xét Nội dung trình
bày phải nói lên được ý tưởng sản phẩm mới, thị trường mục tiêu và tình hình
cạnh tranh, ước tính sơ bộ quy mô thị trường, giá bán sản phẩm, thời gian và chi
phí phát triển, chi phí sản xuất và tỷ suất lợi nhuận Sau đó ban phụ trách sẽ
xem xét tững dự án sản phẩm mới đối chiếu với các tiêu chuẩn và chọn ra dự
án hấp dẫn lớn nhất, phù hợp với những mục tiêu của công ty
5 PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM
Khi dự án sản phẩm đó được thông qua Tiếp đến giai đoạn nghiên cứu và phát
triển thành sản phẩm vật chất Bước này đòi hỏi phải có sự nhảy vọt về vốn
đầu tư cho việc nghiên cứu và phát triển Giai đoạn này sẽ trả lời ý tưởng sản
phẩm đó, xét về mặt kỹ thuật và thương mại, có thể biến thành một sản phẩm
khả thi không
Phòng nghiên cứu và phát triển sẽ phát triển một hay nhiều dạng mẫu vật chất
theo những ý tưởng của sản phẩm Họ hy vọng rằng, sẽ tìm được một nguyên
mẫu mà người tiêu dùng thấy rằng nó có đủ những thuộc tính then chốt được
mô tả trong ý tưởng sản phẩm và có thể sản xuất trong phạm vi chi phí sản xuất
đã dự toán
Trang 19Việc phát triển nguyên mẫu thành công phải mất nhiều ngày, tuần, tháng,
thậm chí nhiều năm Những người nghiên cứu phát triển không mhững thiết kế
được những tính năng cần thiết, mà còn phải biết cách truyền đạt những khía
cạnh tâm lý thông qua những tín hiệu vật lý Điều này đòi hỏi phải biết người
tiêu dùng phản ứng thế nào với màu sắc, kích thước, trọng lượng và các đặc
điểm vật lý khác Những người làm marketing phải cung cấp cho cho cán bộ kỹ
thuật những thông tin về các thuộc tính mà người tiêu dùng mong muốn về
cách thức người tiêu dùng xét đoán về những thuộc tính đó
Khi làm các nguyên mẫu phải đưa chúng đi thử nghiệm về các chức năng một
cách nghiêm ngặt và thử nghiệm với người tiêu dùng
6 THỬ NGHIỆM TRÊN THỊ TRƯỜNG
Sau khi ban lãnh đạo hài lòng với những kết quả về chức năng và tâm lý của
sản phẩm, thì có thể xác định cho sản phẩm đó tên nhãn hiệu, bao bì và một
chương trình marketing sơ bộ để thử nghiệm nó trong điều kiện thực hơn đối
với người tiêu dùng Mục đích của việc tìm hiểu trên thị trường là để tìm hiểu
xem người tiêu dùng cùng đại lý phản ứng như thế nào đối với việc xử lý, sử
dụng mua lập lại sản phẩm thực sự đó và thị trường lớn đến mức độ nào
Không phải công ty nào cũng chọn con đường thử nghiệm trên thị trường Tuy
nhiên, hầu hết các công ty đều biết việc thử nghiệm trên thị trường cung cấp
những thông tin có giá trị về người mua, các đại lý, hiệu quả của chương trình
marketing, tiềm năng của thị trường và nhiều vấn đề khác
Số lượng thử nghiệm trên thị trường chịu ảnh hưởng một bên là chi phí và rủi ro
của vốn đầu tư, và một bên là sức ép thời gian và chi phí nghiên cứu Những
sản phẩm có vốn đầu tư/ rủi ro cao cần được thử nghiệm trên thị trường tới mức
độ đủ để không phạm sai lầm Chi phí thử nghiệm trên thị trường sẽ bằng một
Trang 20tỷ lệ phần trăm không đáng kể của tổng chi phí của dự án Những sản phẩm có
rủi ro lớn tức là những sản phẩm tạo ra những loại sản phẩm mới hay có những
tính chất mới cần được thử nghiệm trên thị trường nhiều hơn những sản phẩm
cải tiến
7 THƯƠNG MẠI HOÁ SẢN PHẨM
Thử nghiệm trên thị trường có lẽ đã cung cấp đầy đủ thông tin để ban lãnh đạo
quyết định xem có nên tung sản phẩm mới ra không Nếu công ty tiếp tục
thương mại hoá thì nó phải chịu những khoản chi phí lớn nhất từ trước đến giờ
Công ty sẽ ký hợp đồng sản xuất hay xây dựng hoặc thuê một cơ sở sản xuất có
quy mô tương xứng Bên cạnh đó là chi phí đầu tư cho quảng cáo và kích thích
tiêu thụ sản phẩm mới
Trước tiên, công ty cần phải thông qua quyết định thời điểm tung hàng hoá
mới ra thị trường Công ty cũng phải quyết định có cần tung hàng hoá ra thị
trường ở một địa phương hay một khu vực nào đó, ở nhiều khu vực, trên
phạm vi toàn quốc hay trên phạm vi quốc tế Hoàn toàn không phải công ty
nào cũng có niềm tin, phương tiên và khả năng để tung ngay ra thị trường
toàn quốc những mặt hàng mới Thông thường họ xác định lịch tiến độ tuần
tự khai phá các thị trường Trong nhóm những thị trường lần lượt được khai
phá, công ty phải lựa chọn những thị trường có lợi nhất và tập trung nỗ lực
chính của mình nhằm khuyến khích tiêu thụ vào đó Kế đến, công ty phải
soạn thảo kế hoạch hành động để lần lược tung sản phẩm mới ra các thị
trường Cần lập dự toán cho những yếu tố khác nhau của hệ thống
marketing mix và các biện pháp khác Đối với mỗi thị trường mới công ty
phải soạn thảo một kế hoạch marketing riêng
Trang 21CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢNG CÁO
1 QUẢNG CÁO
Quảng cáo là những hình thức truyền thông không trực tiếp, được thực hiện
thông qua những phương tiện truyền tin phải trả tiền và xác định rõ nguồn kinh
phí
Để một chiến dịch quảng cáo đạt được hiệu quả, doanh nghiệp phải ra bốn
quyết định lớn Quyết định thứ nhất là xác định rõ mục tiêu quảng cáo Quyết
định này sẽ tác động tới tất cả các quyết định khác Chẳng hạn, thông điệp
quảng cáo phải phù hợp với mục tiêu quảng cáo Ngân sách cũng phụ thuộc
một phần vào các mục tiêu đang theo đuổi Cuối cùng các quyết định về các
phương tiên truyền thông ( quảng cáo ở đâu) sẽ phụ thuộc vào các đối tượng
khán, thính giả mục tiêu và mục tiêu quảng cáo
2 MỤC TIÊU QUẢNG CÁO
Mục tiêu quảng cáo là nhiệm vụ truyền thông cụ thể được thực hiện với một
đối tượng khán, thính giả cụ thể trong một khoảng thời gian cụ thể Các mục
tiêu quảng cáo có thể được phân loại theo mục đích chính như: thông báo,
thuyết phục hay nhắc nhở
Quảng cáo thông báo được sử dụng chủ yếu khi giới thiệu một sản phẩm mới
Chức năng của nó là thông tin với mọi người về sản phẩm, các đặc điểm và lợi
Trang 22ích của sản phẩm để họ quan tâm tới việc mua sản phẩm đó Mục tiêu trong
trường hợp này là tạo ra nhu cầu ban đầu
Quảng cáo thông báo cũng có thể cho khách hàng biết về cách sử dụng một
sản phẩm, mô tả các dịch vụ hiện có, giới thiệu các công dụng mới của một sản
phẩm và công bố những thay đổi về giá Đôi khi người quảng cáo sử dụng
quảng cáo nhằm giảm bớt những lo ngại của khách hàng về một sản phẩm và
công dụng của nó Quảng cáo thông báo có thể đạt hiệu quả trong việc khắc
phục những ấn tượng xấu Một số doanh nghiệp sử dụng quảng cáo thông báo
để xây dựng hình ảnh doanh nghiệp họ
Quảng cáo thuyết phục trở nên quan trọng hơn khi sự cạnh tranh tăng lên
Những người sử dụng quảng cáo để thuyết phục mọi người mua sản phẩm của
họ thay gì mua sản phẩm cạnh tranh khác Mục tiêu của doanh nghiệp trong
trường hợp này là tạo ra nhu cầu có lựa chọn
Quảng cáo thuyết phục nhằm thay đổi cảm nhận của khách hàng về sản phẩm
và các thuộc tính của sản phẩm Có thể sử dụng nó để thuyết phục người mua
hàng chuyển từ một sản phẩm cạnh tranh sang sản phẩm của doanh nghiệp
mình, hoặc thuyết phục họ mua ngay sản phẩm, hoặc chỉ đơn giản là thuyết
phục họ chấp nhận lời chào bán hàng
Quảng cáo so sánh là một loại quảng cáo thuyết phục, trong đó doanh nghiệp
trực tiếp so sánh nhãn hiệu của họ với một hoặc nhiều nhãn hiệu khác Mục
tiêu là làm cho người tiêu dùng chuyển từ một nhãn hiệu cạnh tranh sang sản
phẩm của công ty
Quảng cáo nhắc nhở được sử dụng cho các sản phẩm bảo hoà, trong trường hợp
khách hàng đã biết biết đến sản phẩm đó, các tác dụng của sản phẩm và hầu
hết là tác động đến những người sử dụng trung thành Mục tiêu của quảng cáo
Trang 23nhắc nhở là làm cho người tiêu dùng thường xuyên nghĩ tới sản phẩm Quảng
cáo nhắc nhở có thể diễn ra dưới hình thức các thông tin nhắc nhở rằng họ có
thể cần tới sản phẩm trong thời gian tới hoặc mục tiêu của hình thức quảng cáo
này tạo ra hình ảnh sản phẩm trong tâm trí của người mua hàng trong thời gian
không sử dụng sản phẩm thường xuyên
Xác định ngân sách cho quảng cáo
Có bốn phương pháp phổ biến trong xác định ngân sách này:
♦ Xác định % trên doanh thu: Phương pháp tính theo tỉ lệ phần trăm là
phương pháp được chấp nhận phổ biến nhất đối với nhiều công ty vì
tính chất đơn giản khi tính toán của nó
Hạn chế của phương pháp này ở chỗ các quyết định về ngân sách lại chỉ dựa
vào kinh nghiệm có được từ thành quả bán hàng trong quá khứ Chính vì vậy
phương pháp này thường bỏ qua các yếu tố đột biến trong tương lai
♦ Xác định theo số tiền có được: Đây là phương pháp thường được sử
dụng bởi các công ty mới thành lập số vốn hạn chế và chưa có kinh
nghiệm về chiêu thị, truyền thông trong quá khứ, thông thường ngân
sách này được xây dựng cho thời kỳ vài năm đầu tiên
♦ Xác định theo cạnh tranh: Là một phương pháp thụ động trong xác định
ngân sách với mục đích là nhằm để đối phó với các hoạt động truyền
thông của đối thủ
♦ Xác định theo nhiệm vụ: Là phương pháp xây dựng ngân sách dựa vào
việc phân tích xem công việc nào cần được thực hiện rồi từ đó mới xác
định số tiền cần chi tiêu cho chiêu thị là bao nhiêu
Thông điệp quảng cáo
Trang 24Ngân sách quảng cáo và các mục tiêu quảng cáo rõ ràng vẫn chưa đủ để bảo
đảm thành công Hai doanh nghiệp có thể cùng đầu tư số tiền như nhau trong
quảng cáo nhưng họ có thể thu được các kết quả khác nhau Một thông điệp
sáng tạo và tin xảo có thể quan trọng hơn số tiền đầu tư Quảng cáo chỉ có thể
thành công nếu gây được sự chú ý của mọi người và thông điệp được truyền
đạt một cách hiệu quả Tạo ra thông điệp tốt là một trong những yếu tố sống
còn của chiến lược quảng cáo thành công Các thông điệp quảng cáo phải giàu
tính tưởng tượng, thú vị và thoả mãn được khán, thình giả
Mục đích quảng cáo là làm cho mọi người nghĩ đến hoặc hưởng ứng sản phẩm
hay doanh nghiệp theo một cách nhất định Mọi người phải tin rằng có một lợi
ích nào đó đối với họ, nếu không họ sẽ không chú ý đến quảng cáo Do đó việc
tạo ra một thông điệp hiệu quả bắt đầu từ việc xác định những lợi ích thu hút
khách hàng trong bản tin quảng cáo Doanh nghiệp nên phát thảo rõ ràng và
trực tiếp các lợi ích mà doanh nghiệp muốn nhấn mạnh trong bản tin quảng
cáo Sau đó, những lợi ích này cần đưa vào cuộc sống với một khái niệm sáng
tạo có tính độc đáo và không thể quên
Một cách để xác định các lợi ích mà một quảng cáo có thể nhấn mạnh là đặc ra
câu hỏi: tại sao người ta phải mua sản phẩm hay dịch vụ của tôi? Việc đặc câu
hỏi này buộc người chủ hay người quản lý phải suy nghĩ về tất cả các lợi ích
của sản phẩm hoặc dịch vụ của họ theo quan điểm của khách hàng Khách
hàng sẽ quan tâm và đánh giá điều gì? Đặc điểm nào sẽ làm khách hàng thích
sản phẩm này hơn các sản phẩm khác? Các câu hỏi sẽ xác định các lợi ích phải
nhấn mạnh trong thông điệp quảng cáo
Các thông điệp quảng cáo có ba đặc điểm là:
Trang 251 Giàu ý nghĩa, chỉ ra các lợi ích làm cho sản phẩm được ưu chuộng hoặc
có tính hấp dẫn đối với người tiêu dùng
2 Đáng tin cậy, để những người tiêu dùng sẽ tin rằng sản phẩm hay dịch
vụ sẽ tạo ra những lợi ích hứa hẹn
3 Độc đáo, cho mọi người thấy sản phẩm tốt hơn các nhãn hiệu cạnh tranh
khác như thế nào
Nếu muốn đạt được hiệu quả, quảng cáo phải được mọi người coi là một nguồn
thông tin đáng tin cậy Người ta phải tin rằng bản quảng cáo truyền đạt thông
tin một cách trung thực Những người mua hàng sử dụng nhiều nguồn thông tin
khác nhau, do đó để cho mọi người tin tưởng, thông điệp phải nhất quán với
các nguồn thông tin khác đó
Trình bày thông điệp, sắc thái được sử dụng ( quả quyết, hài hước, nghiêm
túc, ) và cách thức trình bày ( màu sắc, hình ảnh minh hoạ, tiêu đề, bản sao,…)
cũng sẽ ảnh hưởng tới tác động của bản tin quảng cáo đối với đối tượng khán,
thính giả mục tiêu của thông điệp
3 QUYẾT ĐỊNH PHƯƠNG TIỆN QUẢNG CÁO
Một doanh nghiệp phải xem xét nhiều yếu tố khi quyết định quảng cáo ở đâu
Bốn yếu tố chính ảnh hưởng tới lựa chọn phương tiện quảng cáo là:
1 Các thói quen về phương tiện truyền thông của người tiêu dùng mục tiêu
sẽ ảnh hưởng tới sự lựa chọn phương tiện quảng cáo Ví dụ, radio và
truyền hình là những phương tiện tốt nhất để đến vời thanh niên
2 Tính chất của sản phẩm Một số sản phẩm và thông điệp phù hợp với
các phương tiện truyền thông nhất định so với các sản phẩm và thông
Trang 26điệp khác Chẳng hạn, tốt nhất là quảng cáo thời trang trên các tạp chí in
màu, nhưng truyền hình có hiệu quả cao hơn đối với việc giới thiệu máy
ảnh chụp lấy ngay
3 Các loại thông điệp khác nhau có thể đòi hỏi các phương tiện truyền
thông khác nhau Một thông điệp công bố việc bán hàng vào ngày mai
sẽ đòi hỏi tính tức thời của radio hoặc báo chí, trong khi đó một thông
điệp chứa nhiều dữ liệu kỹ thuật sẽ cần nhiều không gian văn bản và
hình ảnh, do đó các tạp chí hay thư trực tiếp là phù hợp hơn
4 Chi phí là yếu tố chính trong quá trình lựa chọn phương tiện quảng cáo
Ví dụ, truyền hình là phương tiện rất tốn kém, còn chi phí quảng cáo
trên báo thấp hơn nhiều Doanh nghiệp không chỉ phải xem xét tổng chi
phí của phương tiện truyền thông, mà phải xem xét chi phí trên đầu
người tiếp nhận được quảng cáo ( thường được xác định bằng “chi phí
trên nghìn người” nhận được quảng cáo)
4 LỰA CHỌN PHƯƠNG TIỆN QUẢNG CÁO
1.1 Báo
Các tờ báo gồm nhật báo có lưu lượng lớn và các tờ báo tuần, báo địa
phương hoặc báo khu vực và bất kì số đặc biệt nào do một tờ báo phát hành
Trang 27Linh hoạt Kịp thời Phạm vi bao trùm thi trường Sự chấp nhận rộng rãi Khả năng tin cậy cao
Ngắn hạn Chất lượng báo in thấp
Một sồ ưu nhược điểm của báo chí khi chọn làm phương tiện quảng cáo
Một lợi ích quan trọng của việc sử dụng báo hoặc các hình thức ấn phẩm
quảng cáo là thông điệp quảng cáo được viết ra và do đó thông điệp tồn tại
lâu hơn, chi tiết hơn so với thông điệp quảng cáo trên truyền hình hoặc
radio Người đọc có thể cắt tin quảng cáo và giữ lại tham khảo hoặc làm vật
nhắc nhở Doanh nghiệp có thể sử dụng tin quảng cáo trên báo như một bộ
phận quảng cáo trưng bày tại địa điểm kinh doanh
Như vậy : Báo có tính linh hoạt và phổ biến rộng rãi đồng thời thông điệp
quảng cáo có thể được xem lại nhiều lần
1.2 Tạp chí
Các tạp chí thường đến với một nhóm độc giả đặc thù quan tâm đến các
sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể Nhiều tạp chí được lưu hành rộng rãi, nhưng
cũng có một vài tạp chí được lưu hành với quy mô hẹp hơn, chỉ phục vụ thị
trường đặc thù hoặc thị trường khu vực Các tạp chí cũng là cơ hội để quảng
cáo màu sắc, đạt hiệu quả thu hút khách hàng nhưng cũng đồng nghĩa với chi
phí cao hơn
Trang 28Ưu điểm Nhược điểm
• Tính lựa chọn cao về vị trí
địa lí và đối tượng người đọc
• Tin cậy và uy tín
• Chất lượng bản in cao
• Vòng đời kéo dài
• Người đọc quan tâm
• Thời gian từ khi quảng cáo đến khi mua hàng kéo dài
• Một vài số tạp chí quảng cáo có thể bị bỏ qua
• Không đảm bảo về chỗ quảng cáo trong tạp chí
Một số ưu và nhược điểm của tạp chí khi chọn làm phương tiện
quảng cáo
1.3 Thư gửi trực tiếp
Thư gửi trực tiếp bao gồm thư, tài liệu quảng cáo, giới thiệu, giấy thông báo
hay bất kì vật phẩm quảng cáo nào khác có thể được gửi tới từng khách hàng
Phương tiện này có thể là những tờ bướm không tốn kém, được gửi tới tất cả
các gia đình trong vùng cho đến những lá thư viết cho cá nhân được gửi tới một
số người hoặc một số doanh nghiệp được lựa chọn
Nhiều doanh nghiệp thiết lập danh mục, địa chỉ thư dựa trên các nguồn
thông tin của chính họ - các khách hàng , nhà cung cấp, những người sẽ điền
vào các phiếu dự thi, các danh thiếp nhận được tại các cuộc trưng bày thương
mại hoặc các sự kiện khác, danh sách hội viên, danh sách cử tri Công cụ này
Trang 29có thể đảm bảo truyền thông chính xác đến các nhóm đối tượng khách hàng
mục tiêu được lựa chọn với mức chi phí tương đối cao
• Linh hoạt
• Lựa chọn độc giả
• Không có quảng cáo cạnh
tranh trên cùng phương tiện
• Tính riêng biệt cho cá nhân
• Chi phí tương đối cao
• Dễ bị coi là thư quấy rầy
Một số ưu nhược điểm của thư gửi trực tiếp khi được chọn làm phương
tiện quảng cáo
1.4 Truyền hình
Truyền hình là phương tiện truyền thông phổ biến, do phạm vi tuyên
truyền và tác động của nó Sự kết hợp hình ảnh và âm thanh tạo ra cơ hội để
doanh nghiệp giới thiệu thông điệp của mình với tác động lớn Truyền hình có
thể giới thiệu sản phẩm tại nhà của khách hàng mục tiêu Tuy vậy, đây là một
phương tiện cần nhiều kinh phí trả cho thời gian truyền sóng và để làm một
quảng cáo có chất lượng
• Kết hợp hình ảnh, âm thanh và sự
cử động, rất sống động
• Chi phí cao
• Aán tượng lướt qua nhanh
Trang 30• Thu hút các giác quan
• Mức chú ý cao
• Tính lựa chọn khán giả không cao
Một số ưu nhược điểm của truyền hình khi được chọn làm phương tiện
quảng cáo
1.5 Radio
Radio được coi là một phương tiện truyền thông phổ biến Nó có thể
truyền tin tới thính giả bất cứ lúc nào –ở nhà, trên đường đi, tại phòng làm
việc, khu vui chơi Các đài phát thanh thường giúp khách hàng chuẩn bị bản tin
quảng cáo và các bản tin quảng cáo có thể thay đổi nhanh chóng Đây là sự lựa
chọn linh hoạt và không tốn kèm như truyền hình
• Số lượng người sử dụng lớn
• Tính lựa chọn cao về vị trí địa lí,
đối tượng người nghe
• Chi phí thấp
• Chỉ giới thiệu bằng âm thanh
• Không thu hút sự chú ý bằng truyền hình
• Thông điệp lướt nhanh
Một số ưu nhược điểm của Radio khi được chọn làm phương tiện quảng
cáo
1.6 Quảng cáo ngoài trời
Trang 31Quảng cáo ngoài trời bao gồm các biển quảng cáo, các phương tiện vận tải
hành khách (như xe buýt), bến xe và nhà ga, điểm trung chuyển khách, sân bay
và taxi
Các biển hiệu đặt đúng vị trí tại các khu vực tập trung giao thông, có tầm
nhìn rõ ràng có thể mang lại thông tin cho rất nhiều khách hàng tiềm năng
Chìa khóa để quảng cáo ngoài trời có hiệu quả là tạo ra thông điệp ngắn gọn
Nó phải thu hút sự chú ý của người qua đường và gây ấn tượng khi nhìn thoáng
qua một lần
• Linh hoạt
• Tần suất lặp cao
• Chi phí thấp
• Không lựa chọn đối tượng
• Hạn chế tính sámg tạo
Một số ưu nhược điểm của quảng cáo ngoài trời khi được chọn làm
phương tiện quảng cáo
Nhìn chung, các biển quảng cáo ngoài trời tạo ra hình ảnh nổi bật trong thời
gian dài Quảng cáo trên phương tiện vận chuyển hành khách theo tuyến tạo cơ
hội truyền tin tới cùng một nhóm người với tần suất cao –hai lần một ngày đối
với người đi làm bằng phương tiện vận chuyển hành khách Do không cho các
biển hiệu và thông điệp quảng cáo ngoài trời hạn chế, nên hình thức quảng cáo
này thường là phương tiện bổ sung, chứ không phải là phương pháp chính để
tiếp cận khách hàng mục tiêu
Trang 331 TÌM SẢN PHẨM CÓ NHỮNG ĐẶC TÍNH TẠO SỰ QUAN TÂM CỦA KHÁCH HÀNG VÀ THÓI QUEN GIẢI TRÍ TRÊN CÁC PHƯƠNG TIÊN TRUYỀN THÔNG,
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
- Phát hiện các thuộc tính mới, các giả thiết có thể làm cơ sở cho nghiên cứu định lượng sau này
- Tìm hiểu về thái độ, hành vi của đối tượng khách hàng, tìm hiểu về lối sống
- Tạo ra các thông tin hỗ trợ cho việc thiết kế bảng câu hỏi trong những nghiên cứu định lượng
- Thử nghiệm 1 ý tưởng mới hay một sản phẩm mới
- Làm sáng tỏ thêm các kết quả nghiên cứu định lượng
Thông tin thu thập được trong các dự án nghiên cứu định tính là những thông tin bên trong của người tiêu dùng Những thông tin này không thể thu
Trang 34thập được thông qua các kỹ thuật phỏng vấn thông thường mà thông qua kỹ thuật thảo luận
Để thực hiện đề tài này, phương pháp thảo luận nhóm được chọn cho việc thu thập thông tin định tính
Thảo luận nhóm là kỹ thuật thu thập thông tin phổ biến nhất trong các dự án nghiên cứu định tính Việc thu thập thông tin được thực hiện thông qua hình thực thảo luận nhóm giữa đối tượng nghiên cứu với nhau Trong quá trình nghiên cứu, người nghiên cứu luôn tìm cách đào sâu bằng các câu hỏi gợi ý tiếp cho thảo luận sâu hơn Người điều khiển đóng vai trò quan trọng đối với sự thành công của nhóm thảo luận Thông tin cần thu thập trong các cuộc thảo luận nhóm có thoả mãn mục tiêu nghiên cứu hay không tuỳ thuộc vào khả năng ứng xử của người của người điều khiển chương trình
Thực hiện nghiên cứu định tính
Quá trình nghiên cứu này sẽ giúp cho tôi hiểu rỏ hơn về đối tượng nghiên cứu của mình Qua đó tôi sẽ nắm bắt được quan niệm, nhận thức, mong muốn của khách hàng về sản phẩm kem ăn Thông tin này sẽ giúp cho tôi trong việc xây dựng bảng câu hỏi trong phần khảo sát định lượng ở phần sau
Trong phần nghiên cứu định tính tôi sử dụng kỹ thuật diễn dịch chủ yếu là nhân cách hoá nhãn hiệu và nhận thức chủ đề để tìm những đặc điểm của sản phẩm kem ăn mà khách hàng quan tâm
• Đối tượng nghiên cứu:
4 nhóm khách hàng tuổi từ 8 đến 15
Trang 35- Tất cả đều sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh
- Đây là những người thích ăn kem
- Không tham gia vào các phỏng vấn tương tự ít nhất sáu tháng
- Biểu lộ bản thân rõ ràng và rành mạch
• Địa điểm khảo sát
- Việc nghiên cứu được thực hiện trong ở research room của công ty Unilever Vietnam
• Thời gian
- Từ 2h15 đến 3h30 của các ngày từ ø 23/11/2002- 5/12/2002
• Việc khảo sát được thực hiện dựa trên bảng hướng dẫn nhằm khai thác đúng thông tin muốn khảo sát
Kết quả nghiên cứu định tính:
Tóm lại qua quá trình thảo luận giữa các nhóm Phần lớn các em đã đưa ra những tiêu chí như sau cho sản phẩm kem tạo nên sự quan tâm và yêu thích ở các em
• Hình ảnh của của sản phẩm kem ăn
(Mới lạ, độc đáo, vui nhộn tạo sự tò mò, thích thú và thách thức muốn khám phá…)
• Màu sắc của kem ăn
(Nhiều màu sắc, vui nhộn )
• Kem phải mịn màn và xốp dẽo
• Kem tạo cảm giác mát lạnh đã khát và ngọt ngào
• Kem có nhiều hương vị mới lạ, độc đáo và quý hiếm
• Kem phải có hương vị đậm đà của sữa
• Hương vị của kem có sự phối hợp hài hoà
Trang 36• Hình ảnh bao bì phải đẹp, ấn tượng, mới lạ độc đáo và nhiều màu sắc
• Khi được hỏi về một cái tên cho sản phẩm thì các em đặc ra rất nhiều tên thú vị như phù thuỷ, tên giết người, tên cướp, phi thuyền, vủ trụ, hành tinh Hầu hết những cái tên này đều nói lên điều gì đó rất huyền
mí, muốn chinh phục và khám phá Tuy nhiên các em đều đồng ý nhiếu nhất ở những cái tên như: vũ trụ, hành tinh, phi thuyền…
• Khi được hỏi về thói quen trong sinh hoạt giải trí đối với TV đều trả lời rằng : Các em rất thích xem TV và các em xem TV mỗi ngày, Nhưng phần lớn các em chỉ xem TV khi rảnh rõi Hầu như kênh truyền hình nào các em cũng xem
• Khi được hỏi về các chương trình phát thanh hầu hết các em đều thích nghe các chương trình đọc chuyện em nghe, các chương trình văn nghệ thiếu nhi, văn học tuổi xanh…
• Khi được hỏi về các loại tạp chí hay sách báo mà các em thích đọc thì hầu như các em đều trả lời đó là các loại truyện tranh, báo khăn quang đỏ, báo mực tím, báo nhi đồng…
3 Ý TƯỞNG MỚI
Từ kết quả nghiên cứu định tính, thông qua cuộc họp cách tân (innovation meeting) của công ty Nhóm cách tân đã thống nhất đưa ra 6 mẫu sản phẩm có
khả năng thực hiện sản xuất với điều kiện cơ sở vật chất hiện có
Có 6 mẫu thực được đưa ra khảo sát gồm:
- Kem cacao vỏ sôcôla đậu phộng
- Kem đào miếng dâu
- Kem dừa nhân lá dứa vỏ sôcôla cốm
Kem vanilla phủ sôcôla đậu phộng
Trang 37- Kem dừa lá dứa
- Kem vanilla sợi dừa phủ sôcôla cốm
4 PHÁT TRIỂN CÁC MẪU SẢN PHẨM KHÁC NHAU TRÊN CÁC Ý TƯỞNG MỚI
Kết quả nghiên cứu của phòng R & D đã cho ra các sản phẩm theo các ý tưởng như sau:
5 XÁC ĐỊNH MẪU SẢN PHẨM ĐƯỢC YÊU THÍCH
Nghiên cứu định lượng:
phương pháp nghiên cứu định lượng
Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính ở trên Người nghiên cứu thiết kế bảng câu hỏi để tiến hành nghiên cứu định lượng Phương pháp phỏng vấn trực tiếp và cảm quan trên mẫu được chọn Để giúp công ty tìm ra các mẫu sản phẩm được khách hàng yêu thích nhất
Thực hiện nghiên cứu định lượng
Thiết kế mẫu:
Việc xác định phương pháp chọn mẫu phụ thuộc vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu của đề tài Có hai phương pháp chọn mẫu cơ bản bao gồm lấy mẫu theo xác suất là lấy mẫu phi xác suất
Phương pháp chọn mẫu theo theo xác suất:
Bao gồm các phương pháp ngẫu nghiên đơn giản, hệ thống, phân tầng, theo nhóm Chọn mẫu theo xác suất là phương pháp mà người nghiên cứu biết trước được xác suất tham gia vào mẫu của các phần tử lấy mẫu theo xác suất gắn chặt với một hệ thống chi chiết chính xác, không cho phép lựa chọn tùy tiện hay thiên kiến Điều này cho phép chúng ta tính tóan được quy mô trong đó trị
Trang 38số mẫu khác với trị số tổng thể Tuy nhiên phương pháp này cần có một khung
mẫu hòan chỉnh và cần có một danh sách đầy đủ các thành phần tổng thể Do
đó trong phạm vi đề tài này không thể sử dụng phương pháp này
Phương pháp lấy mẫu phi xác suất
Bao gồm các phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phán đóan, phát triển
mầm, theo lớp Phương pháp lấy mẫu phi xác suất là phương pháp chọn mẫu
một cách ngẫu nhiên hay có mục đích những thành phần đặc biệt của mẫu
theo cách thức không ngẫu nhiên ( một mẫu có thể lựa chọn một cách ngẫu
nhiên khi các khi các đơn vị mẫu được chọn một cách thích hợp) Phương pháp
lấy mẫu phi xác suất có ưu điểm là tiết kiệm được thời gian và chi phí Đề tài
này áp dụng hình thức chọn mẫu phi xác suất với phương pháp chọn mẫu theo
quota và dùng biến kiểm sóat khu vực dân cư để giảm bớt các sai số:
Trang 39Xác định kích thước mẫu:
Độ tin cậy của của thông tin sẽ phụ thuộc vào kích thước mẫu được chọn
Vấn đề lấy mẫu là lấy mẫu bao nhiêu còn tùy thuộc vào nhiêu yếu tố Khi
chúng ta tăng kích thước mẫu thì độ tin cậy của thông tin được tăng theo Tuy
nhiên, khi tăng kích thước mẫu thì xuất hiện lọai sai số do không lấy mẫu tăng
Sai số này có thể do thông tin phản hồi, lỗi do thu thập dữ liệu Nếu tăng mẫu
thì đòi hỏi phải tăng chi phí, thời gian và nguồn lực lớn Nhưng mẫu nhỏ thuận
lợi về chi phí và thời gian thì thông tin được độ tin cậy thấp, giá trị nghiên cứu
thấp Do nguồn lực và thời gian giới hạn, cỡ mẫu ước lượng sẽ là 200 mẫu
Cách lấy mẫu
Để tiết kiệm chi phí và thời gian Tôi tiến hành phân chia các quận trong
thành phố Hồ Chí Minh thành 3 nhóm có mức thu nhập tương đương nhau như
sau:
- Nhóm 1: 1,3,5,10, Phú Nhuận
- Nhóm 2: Gò Vấp, Tân Bình, Bình Thạnh
- Nhóm 3: 2,4,6,8,9,11,12
Trang 40Nhóm 1 1.087.378 53
Các đối tượng được phỏng vấn và cảm quan trực tiếp trên tững mẫu thực
Phỏng vấn khách hàng trên mẫu thực
Kết quả nghiên cứu định lượng