NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG Nhiệm vụ của đề tài : Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp trong chữa trị lâm sàng trên số lương bệnh nhân đả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
E ☯ D
TRẦN QUANG THẢO
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ HẬU MÔN BẰNG LASER BÁN DẪN CÔNG
SUẤT THẤP TRONG CHỮA TRỊ LÂM SÀNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT LASER
MÃ SỐ: 207 - 07
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2002
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Người hướng dẫn khoa học 1: GS.BS PHẠM VĂN CỰ
Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS TRẦN MINH THÁI
Luận án cao học này được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN ÁN CAO HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
ngày tháng năm 2002
Có thể tham khảo luận án này tại thư viện trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP HCM
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
E ☯ D NHIỆM VỤ LUẬN VĂN CAO HỌC
Họ và tên học viên : TRẦN QUANG THẢO Phái : Nam
Ngày tháng năm sinh : 24 – 5 – 1971
Nơi sinh : Bình Đức,Long Xuyên, Angiang
I TÊN ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ HẬU MÔN BẰNG LASER BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP TRONG CHỮA TRỊ LÂM SÀNG
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG
Nhiệm vụ của đề tài :
Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp trong chữa trị lâm sàng trên số lương bệnh nhân đảu lớn để có thể đánh giá về hiệu quả điều trị của phương pháp này
Nhiệm vụ cụ thể sau đây :
1) Xây dựng hoàn chỉnh phương pháp nghiên cứu điều trị lâm sàng bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn làm việc ở dãi sóng hồng ngoại gần với công suất thấp
2) Xây dựng qui trình điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp
3) Thiết kế qui trình theo dõi các chỉ tiêu cần thiết phục vụ cho công tác điều trị, cũng hnư việc đánh giá kết quả điều trị, phạm vi chỉ định trong điều trị
4) Thiết kế qui trình theo dõi các tai biến cũng như các phản ứng phụ xảy
ra trong quá trình điều trị cũng như sau khi kết thúc điều trị
5) Tổ chức thực hiện điều trị lâm sàng theo phương thức ngoại trú Trên cơ sở kết quả điều trị lâm sàng, tiến hành đánh giávề hiệu quả chữa trị của
phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ
Trang 41) Người hướng dẫn khoa học 1: GS.BS PHẠM VĂN CỰ
2) Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS TRẦN MINH THÁI
VI HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ CHẤM NHẬN XÉT
1) Người nhận xét 1:
2) Người nhận xét 2:
CÁN BỘ HƯƠNG DẪN
GS.BS PHẠM VĂN CỰ PGS.TS TRẦN MINH THÁI
CÁN BỘ NHẬN XÉT
CB nhận xét 1 CB nhận xét 2
Nội dung và đề cương Luận văn cao học đã được thông qua Hội đồng chuyên ngành
Ngày tháng năm 2002 Phòng QLKH – SĐH Chủ nhiệm ngành
PGS.TS TRẦN MINH THÁI
Trang 5Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả luận văn
Trần Quang Thảo
Trang 6Để hoàn thành khóa cao học và thực hiện luận án tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn về chuyên môn cũng như sự hỗ trợ mọi mặt của nhiều giáo sư, đồng nghiệp và gia đình Tự đáy lòng mình tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với:
- GS.BS Phạm Văn Cự, đã hỗ trợ về chuyên môn y học, mở ra
một hướng ứng dụng mới của khoa học hiện đại, cụ thể là lĩnh vực Laser, để phát triển y học cổ truyền
- Phó Giáo sư Trần, trưởng phòng thí nghiệm Công nghệ Laser –
Trường Đại học Bách khoa, đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
- TS Huỳnh Quang Linh đã hỗ trợ cố vấn về phần chuyên môn
kỹ thuật và hoàn thiện bản thảo về nội dung cũng như hình thức
- BAN LÃNH ĐẠO và tập thể cán bộ công nhân viên Hội Đông
Y Việt Nam Tỉnh An Giang đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được đi học, tham gia thực hành điều trị và sử dụng số liệu kết quả điều trị theo phương pháp mới cho phần kết quả của luận án
- Tập thể thầy cô giáo phòng thí nghiệm Công nghệ Laser –
Trường Đại học Bách khoa đã giúp đỡ trong thời gian học tập
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình đã hỗ trợ động viên về mọi mặt tinh thần cũng như vật chất để tôi yên tâm học tập và hoàn thành luận văn này
Trần Quang Thảo
Trang 7Các bệnh về hậu môn trực tràng như trĩ, rò hậu môn .là những bệnh rất hay gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới
Một vài số liệu sau đây giúp ta hiểu thêm về vai trò kinh tế của căn bệnh này Theo Johanson năm 1990 ở Mỹ tốn 2 tỷ USD chi phí cho bệnh hậu môn, riêng bệnh trĩ hậu môn có 10 triệu người đến khám Ở Pháp trong 12 tháng (từ tháng 7 – 1983 đến tháng 7 – 1984) ngành dược bán ra 36 triệu viên thuốc chữa táo bón
Ơû nước ta, cổ nhân có câu : “thập nhân cửu trĩ – Mười người chín người bị trĩ” Theo tài liệu cho biết, khi tiến hành khám bệnh cho 3364 cán bộ nhân viên khoẻ mạnh của một nhà máy, thấy có bệnh trĩ tới 1180 người, chiếm tới 35%
Nếu lấy tỷ lệ thấp nhất 30% thì ở Việt Nam có trên hai mươi triệu người bị bệnh trĩ
Theo quan điểm hiện nay, trĩ là một tổ chức huyết quản, đa phần là tĩnh mạch, xuất hiện ở cơ thể ngay từ lúc sơ sinh (xem thêm phần sinh lý bệnh trang ); đó là tổ chức sinh lý bình thường và có vai trò bịt kín hậu môn khi cần Chỉ khi nào trĩ có những biểu hiện quá mức (đau, sa ra ngoài, chảy máu .) tức là trở thành bệnh lý mới cần điều trị
Bệnh trĩ hậu môn rất đa dạng và diễn biến khá phức tạp Điều này được thể hiện ở các đặc điểm sau đây :
− Bệnh trĩ được chia làm 04 dạng :
+ Trĩ nội
+ Trĩ ngoại
+ Trĩ hỗn hợp : khi các búi trĩ nội ở độ 4 sẽ liên kết với búi trĩ ngoại + Trĩ kết hợp : các búi trĩ nội ngoại cùng có trên bệnh nhân nhưng không liên kết với nhau.Biểu diễn về thực thể của 04 dạng này hoàn toàn khác nhau
+ Trĩ vòng : thường có các búi trĩ lớn nhỏ nằm xen kẽ với các búi trĩ chính – còn gọi là búi trĩ phụ Khi các búi trĩ chính, phụ đều to ra và liên kết với nhau thì gọi là trĩ vòng
− Trĩ nội và trĩ ngoại đều được phân ra thành 04 độ (từ độ I đến độ IV) khác nhau ;
Chính sự đa dang này và diễn biến phức tạp của bệnh trĩ, dẫn đến tình trạng để điều trị bệnh trĩ hậu môn phải sử dụng nhiều phương pháp điều trị khác nhau như :
Trang 8− Dùng thủ thuật như : tiêm xơ, thắt búi trĩ, làm đông bằng nhiệt, làm đông bằng lạnh
− Dùng phẫu thuật cắt trĩ : phẫu thuật bằng dao kinh điển, phẫu thuật bằng
dao điện, phẫu thuật bằng laser công suất lớn
− Điều trị bằng YHCT, gồm : thuốc uống, thuốc ngâm, thuốc bôi
Tuy có nhiều phương pháp nhưng chưa có phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn nào được xem là hoàn chỉnh
Trong bối cảnh ấy, phòng Thí nghiệm công nghệ laser trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh đề xuất phương pháp sử dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh trĩ hậu môn nhằm khắc phục những nhược điểm củacác phương pháp điều trị hiện nay, để nâng cao hiệu quả trong điều trị bệnh trĩ hậu môn – một căn bệnh mà số lượng bệnh nhân mắc phải không nhỏ
Trên mặt lý luận phương pháp này có nhiều điểm ưu việt, nhưng trên mặt điều trị lâm sàng, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này
Chính vì vậy, mục tiêu chính của bản luận văn này là : “ Nghiên cứu sử dụng
phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp trong chữa trị lâm sàng trên số lương bệnh nhân đảu lớn để có thể đánh giá về hiệu quả điều trị của phương pháp này”
Để thực hiện tốt mục tiêu chính trên đây, cần phải hoàn chỉnh các nhiệm vụ cụ thể sau đây :
− Xây dựng hoàn chỉnh phương pháp nghiên cứu điều trị lâm sàng bệnh trĩ
hậu môn bằng laser bán dẫn làm việc ở dãi sóng hồng ngoại gần với công suất thấp
− Xây dựng qui trình điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất
thấp
− Thiết kế qui trình theo dõi các chỉ tiêu cần thiết phục vụ cho công tác điều
trị, cũng như việc đánh giá kết quả điều trị, phạm vi chỉ định trong điều trị
− Thiết kế qui trình theo dõi các tai biến cũng như các phản ứng phụ xảy ra
trong quá trình điều trị cũng như sau khi kết thúc điều trị
− Tổ chức thực hiện điều trị lâm sàng theo phương thức ngoại trú Trên cơ sở
kết quả điều trị lâm sàng, tiến hành đánh giávề hiệu quả chữa trị của phương pháp điều
trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp
Trang 9Lời nói đầu
1.1.4 Bệnh trĩ hậu môn – trực tràng theo y học cổ truyền 11 1.2 Các phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn – trực tràng 14
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ LÂM SÀNG 21
2.2 Qui trình chọn đối tượng đưa vào diện nghiên cứu điều trị 21
2.5.1 Đánh giá hiệu quả điều trị các triệu chứng cơ năng 27 2.5.2 Đánh giá hiệu quả điều trị các triệu chứng thực thể 27
Trang 102.5.3 Đánh giá về huyết áp, nhịp tim và nhiệt độ 27
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ TRÊN LÂM SÀNG 29
3.5 Phản ứng phụ, tai biến trong quá trình điều trị và sau khi điều trị 58
Trang 11CHƯƠNG 4 NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN 62
4.3 Nhận xét về qui trình điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser BDCST 64
4.4.4 Về tai biến, phản ứng phụ trong và sau khi kết thúc điều trị 67
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 74
Phụ lục 1 MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH
Phụ lục 2 PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ HẬU MÔN BẰNG LASER
BÁN DẪN CÔNG SUẤT THÂP
Phụ lục 3 QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ HẬU MÔN BẰNG LASER
BÁN DẪN CÔNG SUẤT THÂP
Phụ lục 4 BẢNG THỐNG KÊ : Điểm phần trăm của phân phối t
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 12CHỈÅNG 1
TỔNG QUAN MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TRỰC TIẾP
ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Đại cương về bệnh trĩ hậu môn – trực tràng
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu – mô học – sinh lý của vùng hậu môn–trực tràng
1.1.1.1 Về giải phẫu học :
Trực tràng là đoạn cuối của ống tiêu hóa, gồm hai phần là trực tràng chậu hông (trên hoành chậu hông) và trực tràng tầng sinh môn (dưới hoành chậu hông) – phần liên quan trực tiếp với bệnh trĩ, còn gọi là ống hậu môn Theo giải phẩu học, ống hậu môn có chiều cao khoảng 2 – 3 cm từ bờ hậu môn đến đường lược, nhưng trên lâm sàng ống hậu môn (phẫu thuật) cao 4 – 5 cm (từ bờ hậu môn đến bờ trên cơ thắt trong trong khi giới hạn trên của ống hậu môn giải phẩu là đường lược)
− Hệ thống cơ :
Ống hậu môn được bao quanh bởi hai loại sợi cơ : thớ sợi cơ vòng (cơ tròn trong, cơ tròn ngoài) và thớ sợi cơ dọc (phức hợp dọc)
+ Cơ tròn trong : có hình ống dẹt, cao 2,5 – 3 cm, dày 1,5 – 5 mm, loại cơ trơn, giữ vai trò chủ đạo trong động tác đại tiện, do hệ thần kinh tự chủ chi phối
+ Cơ tròn ngoài : có hình ống, bao bọc toàn bộ cơ tròn trong, loại cơ vân, do thần kinh trung ương chi phối Gồm ba bó : bó dưới da, bó nông và bó sâu Trong động tác đại tiện, cơ tròn ngoài có vai trò hỗ trợ cho cơ tròn trong
+ Phức hợp cơ dọc : do lớp cơ dọc của thành trực tràng tạo thành, ở phía dưới, sau khi xuyên qua cơ tròn trong trở thành cơ dưới niêm mạc cố định niêm mạc ống hậu môn và các búi trĩ nội vào cơ tròn trong (còn gọi là dây chằng Park) Khi dây chằng này bị chùng giãn hay đứt sẽ làm các búi trĩ và niêm mạc
hâu môn sa xuống
(Xem hình trang sau)
Trang 13− Hệ thống mạch máu :
+ Động mạch trực tràng được cung cấp máu từ 3 nguồn động mạch trĩ trên, động mạch trĩ giữa và động mạch trĩ dưới có nguồn gốc lần lượt từ động mạch treo tràng trên, động mạch hạ vị và động mạch thẹn trong Chức năng cấp huyết chủ yếu là từ động mạch trực tràng trên Ngoài ra các nhánh tận của nó còn thông với nhau và thông thẳng với tĩnh mạch trĩ
+ Tĩnh mạch có hai mạng lưới tĩnh mạch Mạng lưới tĩnh mạch trĩ trong ở khoang cạnh hậu môn dưới niêm mạc cách bờ hậu môn 3–4 cm, lớn hơn
mạng lưới tĩnh mạch trĩ ngoài, tập trung chủ yếu ở các đệm hậu môn Mạng lưới tĩnh mạch này có nhiều giãn tĩnh mạch lớn (phình Duret) nhiều đoạn nhận máu trực tiếp từ động mạch Máu từ đây qua tĩnh mạch trực tràng trên đổ về tĩnh mạch
cửa (gan) Mạng lưới tĩnh mạch trĩ ngoài ở khoang cạnh hậu môn dưới da Máu
ở đây qua tĩnh mạch trực tràng dưới đổ vào tĩnh mạch hạ vị về tĩnh mạch chủ dưới Hai mạng lưới tĩnh mạch này thông nhau qua cơ tròn trong
Điểm nổi bật của vùng này là có nhiều mạch máu, hồ huyết, shunt – đường rẽ tắt (phình Duret) tập trung ở lớp hạ niêm, lại có nhiều tổ chức thần kinh, sợi cơ, sợi chun tạo nên tổ chức rất giống tổ chức cương, thường ở các vị trí trái
ngang, phải trước và phải sau có chức năng khép kín hậu môn như vậy trĩ là một
trạng thái sinh lý bình thường Đây cũng là những vị trí hay gặp nhất của trĩ nội
− Hệ thống thần kinh :
+ Vận động : Cơ tròn trong bị chi phối từ các hạch mạc treo tràng dưới (hệ giao cảm) và đám rối Meissner và Auerbach (hệ phó giao cảm) – trong thành ruột Cơ tròn ngoài bị chi phối bởi dây thần kinh trĩ dưới (S2 – S3) và nhánh cơ tròn phụ (thuộc thần kinh thẹn trong) Cơ nâng hậu môn nhận thần kinh vận động từ gốc S4
+ Cảm giác : trực tràng có bộ phận cảm giác căng chướng Ống hậu môn có rất nhiều tổ chức thần kinh biệt hóa và chưa biệt hóa Đường hướng tâm theo dây thần kinh thẹn trong
Khi kích thích hệ phó giao cảm làm tăng cử động, trương lực, giãn cơ vòng kích thích bài tiết (kích thích hệ giao cảm kết quả ngược lại)
(Xem hình trang sau)
1.1.1.2 Về mô học :
− Tổ chức của lớp lót lòng ống hậu môn thay đổi từ trong ra ngoài, tế bào hình trụ (ở trên đường lược) chuyển dần qua lớp tế bào chuyển tiếp rồi đến tế bào gai, biểu bì (không có nang lông và tuyến bã), sau đó là da thường nối liền tầng sinh môn
Trang 14− Caùc tónh mách cụa máng löôùi tónh mách tró trong cuõng nhö nhöõng tónh mách khaùc cụa heô cöûa khođng coù van neđn khođng hán cheâ maùu chạy ngöôïc lái nhö caùc tónh mách heô chụ
− Phađn boâ cụa heô thaăn kinh cạm giaùc : töø tređn ñöôøng löôïc cạm giaùc ñau khođng roõ raøng, coù cạm giaùc caíng chöôùng Phía döôùi ñöôøng löôïc, phađn bieôt ñöôïc cạm giaùc ñau, noùng lánh vaø caíng töùc (aùp löïc)
1.1.1.3 Veă sinh lyù :
Chung qui, chöùc naíng sinh lyù cụa haôu mođn ñoøi hoûi cạm giaùc nguyeđn vén
trong tröïc traøng vaø oâng haôu mođn Cô thaĩt trong giöõ vai troø quan tróng trong cô cheâ
töï chụ coøn cô thaĩt ngoaøi hoát ñoông thöôøng trong tình tráng khaơn caâp vôùi thôøi gian khoạng 01 (moôt) phuùt Vai troø ñieău khieơn cụa voõ naõo khođng phại laø chính trong ñái tieôn vì söï moùt ưa vaø söï ñieău khieơn cuoôc ưa khođng caăn voû naõo taôp trung cao ñoô Maịt khaùc, khi tụy soâng vuøng thaĩt löng – cuøng bò thöông toơn thì khođng sao traùnh ñöôïc tình tráng tieđu tieơu khođng töï chụ Luùc ñoù söï ñái tieôn seõ xạy ra dóc theo oâng haôu mođn ñaõ môû roông Nhö vaôy, trung tađm ñieău khieơn co – giaõn cụa cô troøn (trong)
ôû vuøng tụy thaĩt löng–cuøng cụa coôt soâng [5]
1.1.2 Ñaịc ñieơm beônh hóc
1.1.2.1 Nguyeđn nhađn vaø yeâu toâ thuaôn lôïi :
Coù nhieău nguyeđn nhađn gađy neđn tró haôu mođn, nhöng trong nhieău tröôøng hôïp khođng xaùc ñònh cú theơ vaø roõ raøng neđn ñöôïc gói laø beônh tró hay tró nguyeđn
Trực tràng Tế bào hình trụ Tế bào hạch sợi thần
kinh
Vùng trung gian Tế bào chuyển
tiếp
Đầu tk tự do (đau) Tiểu thể sinh dục (cọ sát)
Ống hậu môn Tế bào gai biểu bì
Thể golgi (áp lực) Thể Meissner (sờ) Thể Krausse, đầu thần kinh tự do
Mép hậu môn Tế bào gai biểu bì Thể golgi (áp lực) Thể Meissner (sờ)
Da tầng sinh môn Da bình thường Đám rối lông
Đầu thần kinh tự do
Hình 1-3 Cấu trúc mô học và phân bố thần
kinh của trực tràng
Trang 15phát
Khi nguyên nhân rõ ràng gọi là trĩ triệu chứng hay trĩ thứ phát:
− Viêm đại tràng mạn tính và táo bón kinh niên Đây là nguyên nhân được nói đến nhiều nhất
− Tăng áp lực trong xoang bụng : những bệnh nhân ho nhiều do viêm phế quản mạn, giãn phế quản, những người lao động nặng có tăng áp lực xoang bụng
− Tư thế đứng : khi nằm áp lực tĩnh mạch trĩ là 25 cm nước, tăng vọt lên
75 cm nước khi đứng (gấp 3 lần) Đã có bằng chứng cho thấy áp lực này gia tăng rõ rệt ở những bệnh nhân bệnh trĩ so với người không bệnh [37]
− Chèn ép tĩnh mạch : ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, tử cung đổ sau, thai lớn nhiều tháng đều cản trở máu tĩnh mạch hồi lưu là những nguyên nhân được xác minh rõ ràng
Một số nhà lâm sàng còn cho rằng bệnh trĩ hậu môn là do tăng áp lực tĩnh mạch cửa [40], nhưng theo [45] không có sự liên quan giữa bệnh trĩ hậu môn và tình trạng giãn tĩnh mạch vùng hậu môn trực tràng với tình trạng xơ gan, giãn tĩnh mạch thực quản và bệnh lý đường tiêu hoá do tang áp tĩnh mạch cửa Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cuing như các nhà lâm sàng đều thống nhất với nhau bệnh trĩ hậu môn không phải là u mạch hay là nhiễm trùng thứ phát từ tuyến Hermann và Destosses Ngoài ra, còn có những yếu tố khác được một số tác giả gọi là căn nguyên như yếu tố di truyền, trạng thái tâm lý căng thẳng, thời tiết
1.1.2.2 Sinh lý bệnh :
Có những giả thuyết khác nhau về cơ chế sinh bệnh trĩ hậu môn [10]:
− Thuyết cơ học : Cho rằng mạng lưới tĩnh mạch nằm ở mặt phẳng sâu của lớp dưới niêm mạc, các tĩnh mạch này được giữ tại chỗ bởi các sợi dây chằng sợi cơ (dây chằng Park), có tính đàn hồi Khi có hiện tượng thoái hóa keo (bắt đầu từ độ tuổi 20) thì các dây chằng chùng nhẽo dần Khi đã có sự chùng nhẽo của các dây chằng nếu có áp lực trong xoang bụng tăng lên như do táo bón kinh niên, hay do rối loạn đại tiên thì các búi trĩ nội căng phồng to Lúc đầu, các búi trĩ còn nằm trong lòng ống hậu môn hay lấp ló ở rìa hậu môn nhưng khi các dãi treo đã đứt hẳn thì chúng sa ra ngoài và gần như nằm thường xuyên ngoài ống hậu môn
− Thuyết huyết động học : cho rằng trong lớp dưới niêm mạc của phần thấp dưới trực tràng và của ống hậu môn có rất nhiều khoang mạch Vách các khoang mạch này có chỗ dày chỗ mỏng, tạo nên tổ chức hang; ở đây có sự thông
Trang 16nối giữa động mạch và tĩnh mạch Chúng có tính chất cương nên có chức năng
như cái đệm, giữ vai trò khép kín hậu môn Mạng mạch trong lớp dưới niêm của
ống hậu môn được xem như là một ngã tư đường của một mạng tuần hoàn rộng lớn :
+ Trên là các tĩnh mạch đổ máu về hệ cửa
+ Dưới là các tĩnh mạch của các cơ thuộc chi dưới và tầng sinh môn + Trước là đám rối niệu – sinh dục
+ Sau là các khoang tĩnh mạch ở chung quanh và trong lòng ống tủy Khả năng phồng xẹp của các khoang mạch máu ở lớp dưới niêm mạc ống hậu môn thể hiện chức năng “vị trí ngã tư đường” nói trên Khi một mạch máu bị tắc thì mạng mạch này đóng vai trò bù trừ, nhưng khi vượt quá giới hạn bù trừ thì xuất hiện bệnh trĩ hậu môn
Nói chung, tùy từng cơ địa, trong mỗi trường hợp, một yếu tố có thể là chủ yếu, có sự hỗ trợ của những yếu tố khác nhưng đều đưa đến sự ứ đọng máu tại các mạng lưới tĩnh mạch làm cho các tế bào nội môi bị thiếu oxy đưa đến một loạn rối loạn có tính dây chuyền Khởi đầu là rối loạn tuần hoàn đưa đến tình trạng ứ máu do những yếu tố : thần kinh cơ của mạch máu bị tê liệt, tăng độ nhớt của máu, bạch cầu bám vào thành mạch nhiều hơn, tế bào nội mô phì đại làm cản trở lưu thông máu, mạch máu bị chèn ép do nước tràn tổ chức kẽ Rồi từ đấy dẫn
đến tình trạng rối loạn chuyển hóa và gây tổn thương tổ chức [1] Đó là tạo ra Yếu tố hoạt hóa tiểu cầu (PFA) và acid arachidonic – đây là tiền chất của
Prostaglandins (gây đau) Khi PAF được tạo ra sẽ làm kết tụ, vón tiếu cầu Dưới
tác dụng của những chất phóng xuất từ tiểu cầu như Yếu tố tăng trưởng, thromboxan, serotonin .gây ra tình trạng giãn mạch (gây phù nề và rỉ dịch) Mặt khác các bạch cầu đa nhân trung tính và bạch cầu ái toan tiết ra các gốc tự
do và các enzym thủy phân protéin ( như elastase, collagenase .) làm tổn
thương mô Thông thường quá trình này là cần thiết để lành vết thương nhưng do
sự ứ đọng máu tại các búi trĩ nên quá trình này hình thành một vòng xoắn bệnh lý (Xem hình 1-5)
Trang 17Tröôøng Ñái hóc Baùch Khoa – 2002 6
Huyết khối
Phù, rỉ dịch
Chảy máu
Hình 1-4 Sơ đồ cơ chế sinh bệnh của bệnh trĩ hậu môn
Tổ n thương mô
Thiế u oxy tế bào nộ i mô
Giãn mạ ch trĩ
Men ly giải
Bám dính bạ ch cầ u
PFA
Vón tụ tiể u cầ u
Các thành phầ n sinh họ c.
Các yế u tố hóa hướng độ ng Các yế u tố tăng trưởng
Sa trĩ
Chảy máu
Tổ n thương Colagen
Huyế t khố i
Trang 181.1.2.3 Phân biệt theo giới tính :
Theo y văn nước ngoài, bệnh trĩ hậu môn thường gặp ở nữ giới nhiều hơn nam giới Tuy nhiên theo các tài liệu nghiên cứu trong nước ta hiện nay thì đa số bệnh nhân đến khám bệnh trĩ hậu môn là nam giới, có thể là do bệnh nhân nữ ngại ngùng, do còn có quan niệm sai lầm về bệnh trĩ hậu môn như bệnh trĩ hậu môn là do bị lây lan từ người này sang người khác, bệnh trĩ hậu môn là dơ dáy, bẩn thỉu .tạo ra tâm lý e ngại cho phần đông bệnh nhân nhất là bệnh nhân nữ
1.1.2.4 Phân loại và giải phẫu bệnh lý :
− Diễn tiến của bệnh :
Hình 1-5 Quá trình diễn tiến từ độ I đến độ IV của bệnh trĩ hậu môn [17]
Cũng như đa số các bệnh lý khác, bệnh trĩ hậu môn cũng diễn tiến từ từ, từ nhẹ đến nặng, từ ít đến nhiều Nhưng bệnh trĩ hậu môn lại có đặc điểm riêng biệt Đó là, khởi đầu chỉ là một búi trĩ nội (hay ngoại) đơn thuần, không gây khó chịu gì đáng kể cho sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân ngoại trừ thỉng thoảng ra máu tươi khi đi tiêu hay đau thốn hoặc ngứa ngáy vùng hậu môn – trực tràng (trĩ độ I) Dần dần trĩ sa giãn nhiều hơn, lúc đó khi đi tiêu bệnh nhân có cảm giác vướng và nhận thấy búi trĩ sa ra ngoài rồi tự rút lên khi đi tiêu xong – đối với trĩ nội, hoặc búi trĩ sa phồng nhiều hơn – đối với trĩ ngoại Lúc bấy giờ, thường sẽ có thêm một vài búi trĩ nữa và các búi trĩ có khuynh hướng liên kết với nhau Bệnh nhân thấy khó chịu hơn không nhiều chỉ là chảy máu thường xuyên hơn, đi tiêu vướng hơn, đau thường hơn (trĩ độ II) Nếu không được điều trị, các búi trĩ sẽ liên kết với nhau tạo thành búi to hơn, bệnh nhân sẽ thấy búi trĩ to hơn dễ sa ra ngoài hơn bên cạnh biểu hiện cơ thể mệt mỏi hơn, khả năng làm việc sút giảm Các búi trĩ sa ra khó vào hơn không tự vào như trước kèm các triệu chứng đau và chảy máu gia tăng nhiều hơn (trĩ độ III) Đa số bệnh nhân đến cơ sở y tế khám và điều trị ở giai đoạn này Thường ở giai đoạn sau (trĩ độ IV), các búi trĩ liên kết với
Trang 19nhau thành trĩ vòng hoặc thành trĩ hỗn hợp sa ra tự nhiên khi đi lại nhiều, khi tiểu tiện; chảy máu nhiều .hoặc các búi trĩ sa ngẹt cũng là lý do khiến bệnh nhân đến khám bệnh nhưng ít hơn Quá trình diễn tiến của bệnh được minh hoạ bằng hình 1– 5
− Phân loại :
Theo quan niệm đa số hiện nay, ngày nay búi trĩ được phân ra làm hai
loại căn cứ vào đường lược : trĩ nội và trĩ ngoại
Bên cạnh các kiểu phân loại khác như :
+ Trĩ sinh lý – Trĩ bệnh lý
+ Trĩ huyết quản – Trĩ niêm mạc
+ Trĩ cấp, mạn – Trĩ chảy máu
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu trong nước, tần suất trĩ nội khoảng 55%, trĩ ngoại khoảng 15%, trĩ hỗn hợp và trĩ kết hợp chiếm khoảng 30% [22],[6] Chúng
được phân độ như sau :
− Trĩ nội :
+ Độ 1 : các búi trĩ căng phồng trong ống hậu môn, chưa sa ra ngoài + Độ 2 : các búi trĩ sa ra ngoài khi tăng áp lực hậu môn nhưng tự rút lên
+ Độ 3 : như độ 2 nhưng không tự rút lên , bệnh nhân phải nhét vào + Độ 4 : các búi trĩ nằm hẳn ở ngoài, có nhét búi trĩ cũng sa ra ngoài
− Trĩ ngoại [33]:
+ Độ 1 : búi trĩ ngoại phồng lên
+ Độ 2 : búi trĩ ngoại phồng lên với tĩnh mạch ngoằn ngoèo
Trang 20+ Độ 3 : búi trĩ ngoại nhồi máu, đau chảy máu
+ Độ 4 : búi trĩ ngoại nhồi máu, đau, sưng viêm nhiều
− Giải phẫu bệnh :
+ Trĩ nội : bắt nguồn từ khoang cạnh hậu môn dưới
niêm mạc, là các mạng lưới tĩnh mạch mạch máu ở các gối
Thomson phì đại, phía trên đường lược, phủ bởi niêm mạc
Thường xuất hiện ở vị trí phải trước (right anterior), phải sau
(right posterior) và trái ngang (left lateral) Đây là các búi trĩ
chính Thường xác định vị trí của búi trĩ theo giờ thí dụ 3h, 6h,
9h ., trong tư thế bệnh nhân nằm ngửa
+ Trĩ ngoại : bătõ nguồn từ khoang cạnh hậu môn dưới da, có ba biểu hiện lâm sàng :
c Mảnh da thừa (thường ở vị trí trước giữa) là di chứng của trĩ huyết
khối, thường không có triệu chứng (có tác giả gọi là u trĩ xơ hóa [15])
d Máu tụ tầng sinh môn (trĩ huyết khối)
e Kết hợp với trĩ nội (trĩ kết hợp)
Những dạng khác :
− Trĩ vòng : thường có các búi trĩ lớn nhỏ nằm xen kẽ với các búi trĩ chính – còn gọi là búi trĩ phụ Khi các búi trĩ chính, phụ đều to ra gọi là trĩ vòng
− Trĩ hỗn hợp : khi các búi trĩ nội ở độ 4 sẽ liên kết với búi trĩ ngoại
− Trĩ kết hợp : các búi trĩ nội ngoại cùng có trên bệnh nhân nhưng không liên kết với nhau
− Huyết khối trĩ nội sa không đẩy lên được : gây đau dữ dội, đôi khi kèm theo bí tiểu do phản xạ, có thể hoại thư kèm theo xuất huyết hay nhiễm
trùng [7]
1.1.2.5 Vị trí các búi trĩ :
Trĩ nội thường gặp ở các vị trí phải sau, phải trước và trái ngang Theo
[18] khoảng 37,8% búi trĩ cách rìa hậu môn dưới 2 cm; 56,8% cách rìa hậu môn 3
– 4cm; 5,4% cách rìa hậu môn trong vòng 6 cm; trên 6 cm không có búi trĩ nào
1.1.3 Triệu chứng – biến chứng – chẩn đoán :
1.1.3.1 Triệu chứng :
Trang 21− Cơ năng :
+ Chảy máu : Là triệu chứng phổ biến nhất, là một trong những lý do
đưa bệnh nhân đến khám và cũng là một trong những chỉ định điều trị
Lúc đầu, máu chảy ít, chỉ xuất hiện khi đi tiêu và cũng chỉ thỉng thoảng, khi táo bón, khi lao động nặng Lúc này đi tiêu thấy một vài tia máu nhỏ dính vào phân hay giấy chùi Về sau, khi đi tiêu máu chảy từng giọt hay thành tia như cắt cổ gà Nặng hơn máu chảy ngoài lúc đi tiêu như khi đi lại nhiều, như khi làm việc nặng có khi chỉ cần đi tiểu thì máu cũng chảy
+ Đau : thường ít khi đau Nhưng trong số các chứng bệnh vùng hậu
môn trực tràng gây đau thì phải kể ngay đến bệnh trĩ [8] Khi đau là có tắc mạch
hay búi trĩ sa ra ngoài bị tắc nghẽn, nhiễm trùng hay nứt hậu môn kèm theo
− Thực thể :
+ Trĩ ngoại : nhìn thấy rìa lỗ hậu môn có những chỗ phồng lên làm
da mất nếp nhăn Tùy theo giai đoạn của bệnh, có thể thấy tắc mạch, nhiễm trùng, lở loét hay xơ hóa tạo thành những mẩu da thừa (còn gọi là đuôi da – skin tag)
+ Trĩ nội : ở độ I, II không nhìn thấy gì, ở độ III, IV mới nhìn đã thấy
các búi trĩ nằm ngoài hậu môn hay khi tăng áp lực ống hậu môn
+ Thăm trực tràng : cảm giác được những búi trĩ phồng dưới tay + Soi hậu môn : là phương pháp chẩn đoán chắc chắn nhất khi các búi trĩ còn nằm trong ống hậu môn Búi trĩ có màu đỏ tím được niêm mạc che phủ, các búi trĩ nổi to ở các vị trí nói ở trên (mục 3.2.a)
− Toàn thân :
Thường tổng trạng không thay đổi đáng kể ở trĩ bệnh, tuy nhiên có thể gặp trường thiếu máu nhược sắc do chảy máu nhiều, kéo dài
1.1.3.2 Chẩn đoán phân biệt :
− Chảy máu trực tràng : là những triệu chứng phổ biến của trĩ, nhưng
cũng là triệu chứng của những bệnh khác như :
+ Pô-lip đại tràng
+ Viêm loét đại tràng, trực tràng
+ Ung thư trực tràng
Vì vậy khi chẩn đoán bệnh trĩ hậu môn cần phải loại trừ những nguyên nhân trên dựa vào khám trực tràng bằng tay, soi hậu môn – trực tràng, soi đại
Trang 22tràng, chụp cản quang đại tràng
− Búi trĩ sa ra ngoài : phải phân biệt với sa trực tràng dựa vào dấu hiệu
trĩ vòng có những ngấn ngăn cách giữa các búi trĩ và có màu đỏ tím Trong hki sa trực tràng xếp theo những vòng tròn đồng tâm, màu hồng Búi trĩ sa ra ngoài chỉ 1–2 cm còn khối trực tràng sa có thể đến 5–10 cm hay hơn
Chung qui, các chẩn đoán chủ yếu cần loại trừ :
− Polype : lành tính hay ác tính
− Ung thư đại trực tràng
− Viêm đại trực tràng xuất huyết
− Bệnh Crohn (viêm đoạn ruột hồi – regional ileitis)
− U nhầy, u sùi hậu môn
1.1.3.3 Biến chứng :
− Nhiễm trùng của trĩ là viêm khe, viêm nhú Biểu hiện lâm sàng là
cảm giác ngứa ngáy hay nóng rát Thăm trực tràng bệnh nhân rất đau Soi hậu môn thấy các nhú phù nề, sưng to màu trắng, các khe nằm giữa các búi trĩ loét nông, màu đỏ
− Tắc mạch trĩ ngoại có thể là do vỡ các tĩnh mạch hoặc là do hiện
tượng đông máu trong lòng mạch Khi thăm khám lâm sàng ở vùng rìa hậu môn có một khối sưng màu xanh nhạt, to hay nhỏ hơn hạt đậu, sờ thấy căng Bệnh nhân đau rát Tắc mạch trĩ nội ít hơn nhiều so với trĩ ngoại Bệnh nhân đau sâu bên trong, có cảm giác cộm trong lòng ống hậu môn Âún tay vào thành trực tràng khi khám trong, cảm giác được một khối cứng, nhỏ, ranh giới rõ rệt Soi hậu môn thấy búi trĩ có một khối phồng lên màu xanh nhạt
− Nghẹt là khi búi trĩ hay vòng trĩ sa ra ngoài, mạch máu có thể bị tắc
gây phù nề không thể tự thụt vào trong lòng ống hậu môn Nghẹt có thể một phần, một nửa hay toàn bộ chu vi hậu môn.bệnh nhân rất đau đớn.Trĩ sa nghẹt đẩy lên rất khó hoặc là hoàn toàn không đẩy lên được nhất là loại trĩ vòng chủ yếu là do phù nề Trĩ sa nghẹt hoặc là giảm sưng nề dần và rồi đẩy lên được, hoặc là bị hoại tử, lở loét và nhiễm khuẩn Đây là trường hợp cần xử trí cấp cứu ngoại khoa trì hoãn
1.1.4 Bệnh trĩ hậu môn – trực tràng theo y học cổ truyền
Y học cổ truyền quan niệm bệnh trĩ hậu môn thuộc phạm vi ngoại chứng Tuy nhiên xét về nguồn gốc và cơ chế bệnh sinh thì đại trường có bệnh chủ yếu là biểu hiện ra đường đại tiện, theo quan hệ biểu lý với nhau, có liên quan mật
Trang 23thiết với tạng phủ : giữa đại trường với tỳ, vị, thân và khí huyết Nếu khí của phế không giáng xuống được thì thường có đại tiện không thông Đồng thời đại trường có quan hệ với thận, nếu thận thủy không đủ, thì tân dịch ở ruột yếu kém cũng có thể gây chứng đại tiện bí kết Còn nếu tỳ vị hư yếu, sự sự tiêu hóa kém cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến đại trường, làm cho công năng truyền đạo bất thường Còn nếu huyết bị nhiệt, làm hại đến huyết mạch sẽ gây ra chứng đại tiện ra máu
Như vậy, bệnh trĩ hậu môn phát sinh không chỉ đơn giản chỉ do bệnh lý tại chỗ mà còn do cơ thể âm dương, khí huyết không điều hòa Bên ngoài do lục
dâm, bên trong do thất tình [3]
1 Ngoại tà : thấp nhiệt sinh kiết lỵ, kiết lỵ rặn lâu ngày sinh bệnh trĩ
2 Đại trường tích nhiệt : đại tiện táo bón lâu ngày sinh bệnh trĩ
3 Tỳ vị mất điều hòa, thấp nhiệt dồn xuống giang môn, khí huyết hư hao, đại tiện mót rặn thành bệnh trĩ
4 Ăn uống không điều hòa, khi no quá, khi đói quá, uống rượu, ăn nhiều thức ăn cay nóng gây táo bón lâu ngày thành bệnh trĩ
5 Lao động nặng nhọc, ngồi xổm, phụ nữ có thai hay nín nhịn đại tiện lâu ngày gây bệnh trĩ
Một trong những nguyên nhân gây bệnh thường gặp thấp nhiệt trường vị Theo Hải Thượng Lãn Ông [34] nguyên nhân gây bệnh là do phòng dục quá độ hay ăn uống nhiều thức ăn ngọt béo, là vì no say rổi nhập phòng, tinh khí ra thời mạch yếu, chất độc của rượu lẫn đi, hay là tinh khí đã xuống mà giữ lại không cho ra, như vậy thì tinh khí ngừng lại sang bên đại tràng rồi ra chỗ đi tiêu mà thành chứng trĩ, còn chứng lậu là trĩ lâu ngày có lỗ trũng loét ra mà chảy nước và mủ Đã vì tửu sắc thời bởi thấp nhiệt mà thành bệnh, ngoài ra còn do trong tích nhiệt độc, hay là ngoài cảm nhiễm phong thấp
Còn chứng trĩ lậu của trẻ em, bởi lúc thụ thai người mẹ ăn nhiều thức nóng, thức nướng hay rượu, lúc sinh rồi thời nhiệt ở tạng tâm tryền sang tạng phế rồi ra đại tràng mà thành bệnh
Hải thượng lãn ông phân ra trĩ lậu có các thứ : bên chỗ đi tiêu mọc ra như vú con chuột, mà có máu đặc chảy ra là “mẫu trĩ”, nếu sưng lên mà trổ ở trong là
“tẫn trĩ”, ăn no ngồi lâu là “khí trĩ”, đi tiêu ra máu loãng là “ huyết trĩ”, vì uống rượu nhiều là “tửu trĩ” Lại có chứng chỗ đi tiêu mọc nhọt, ngứa rồi mới đau là chứng “tràng phong trĩ”, vì sắc dục quá độ mà lay động huyết mạch là “mạch trĩ”, hai bên đi cầu lú ra như hai cái vú cái to cái nhỏ là “thư hùng trĩ”
Trang 24Trong Trung Y học khái luận [36] bệnh trĩ hậu môn thuộc chứng hậu bệnh đại trường Khi đại trường nóng nhiệt thì miệng khô môi dộp, đại tiện bí, hậu môn sưng đau, nếu có thấp nhiệt chứa đọng lại, thì phần nhiều đi đại tiện phân sệt hôi thối, màu như tương, mạch sác, rêu lưỡi vàng khô, đái ngắn són, chỗ cuối cùng của trực trường hoăc trong hay ngoài hậu môn lở loét, chảy nước, lâu ngày không khỏi, làm thành chứng tạng độc hay trĩ lậu Nếu phần huyết bị nhiệt, làm hại đến huyết lạc thì đại tiện ra huyết
Có ba cơ chế chính gây nên bệnh trĩ hậu môn:
− Khi hư hạ hãm (khí trung tiêu) nguyên nhân là do ngồi nhiều làm khí trệ, lo nghĩ nhiều hại tỳ, ăn uống không điều độ làm ảnh hưởng công năng vận hóa
− Thấp nhiệt trường vị : ẩm thực thái quá và phòng dục quá độ sinh thấp hay tích nhiệt hại đại tràng, làm hao tổn thận đưa đến trĩ
− Khi huyết hư ứ huyết thường là do suy nhược cơ thể, tiêu chảy kiết lỵ táo bón kéo dài, hàn thấp đại tràng, trở ngại vận hóa khí huyết gây nên trĩ
Trên lâm sàng phân ra làm ba thể [6] :
− Thể ứ huyết : thể này thường kèm theo bệnh lý nứt kẽ gâyđau ngứa khó chịu Đi tiêu xong máu ra từng giọt hoặc nặng có thể thành tia
− Thể thấp nhiệt : ở thể này bệnh nhân đi tiêu trĩ sa ra ngoài, nóng rát trong hậu môn, có thể có máu trong hậu môn Bệnh này thường xảy ra ở những người nhập phòng sau khi uống rượu hoặc ăn nhiều gia vị cay nóng
− Thể khí huyết đều hư : bệnh thường đi tiêu trĩ sa ra ngoài không tự co kéo dài nhiều năm, đại tiện ra máu gây thiếu máu, cơ thể suy nhược ăn ngủ kém mệt mỏi, sắc mặt trắng, đại tiện có khi bón như phân dê có khi phân nát
Vì vậy trong Y học cổ truyền bệnh trĩ được điều trị như sau (xem thêm phần tổng quan điều trị) :
− Toàn thân : điều chỉnh công năng tạng phủ hư bổ, thực tả bằng những phương thang tương ứng
− Tại chỗ : rửa, đắp, giặt thuốc, bôi thuốc (được gọi khô trĩ tán), cột thắt trĩ gây hoại tử, [33]
− Châm cứu [24]
Tuy nhiên do cách phân loại bệnh trĩ hậu môn của Y học cổ truyền không cho thấy được chính xác mức độ tổn thương thực thể của bệnh nên trong nghiên cứu y học về bệnh trĩ hậu môn từ trước đến nay trong nước để đảm bảo được tính
Trang 25chính xác về giải phẫu và sinh lý bệnh, các nhà nghiên cứu chỉ sử dụng cách định bệnh và phân loại theo Y học hiện đại (như phần 1.1.2.4 đã đề cập)
1.2 Các phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn – trực tràng
1.2.1 Y học hiện đại điều trị bệnh trĩ hậu môn
1.2.1.1 Phương pháp điều trị bảo tồn nội khoa :
Bao gồm dùng thuốc toàn thân như Daflon 500mg, Ginkor fort hay tại chỗ : dùng thuốc đạn đặt hậu môn hay thuốc mỡ như Preparation – H, Proctolog có chứa vitamine P (flavonoides, rutosoides), có tác dụng tăng trương lực tĩnh mạch, giảm phù nề sung huyết, kết hợp điều trị triệu chứng giảm đau, kháng viêm và điều hòa vận chuyển đường ruột cùng với ngâm rửa hậu môn bằng nước ấm Phương pháp này điều trị cho khoảng 70–80% bệnh nhân
1.2.1.2 Phương pháp điều trị thủ thuật :
Chủ yếu tác động vào gốc búi trĩ, làm giảm hay triệt đường máu đến đồng thời tạo nút xơ cố định búi trĩ vào thành ống hậu môn Aïp dụng cho khoảng 15–20% bệnh nhân Bao gồm những thủ thuật chính như : tiêm xơ, thắt vòng cao
su, quang đông bằng tia hồng ngoại, đốt diện, cắt lạnh, cắt cơ tròn trong Được chỉ định cho trĩ nội độ 1 (chảy máu), trĩ nội độ 2, trĩ nội độ 3 với các chống chỉ định : trĩ ngoại, trĩ độ IV hay các độ khác nhưng có kèm trĩ ngoại phì đại, trĩ tắc mạch (nghẹt), kèm bệnh cấp tính ở ống hậu môn, bệnh nhân có rối loạn đông máu, suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) Tuy nhiên, tỷ lệ khỏi thấp hơn và tái phát cao hơn phẫu thuật, mặc dù ít gây khó chịu cho bệnh nhân hơn [26],[45]
1.2.1.3 Phương pháp điều trị phẫu thuật :
Mục đích của hết các búi trĩ, giảm hoặc triệt hẳn đường máu đến để điều trị và tránh tái phát, đồng thời hạn chế tối đa các biến chứng, di chứng Khoảng 5–10% bệnh nhân với các phương pháp điều trị trên Các chỉ định chính bao gồm : trĩ nội độ 4; tụ máu trĩ, trĩ nghẹt, tắc mạch (mổ cấp cứu trì hoãn); trĩ phối hợp với nứt kẽ hậu môn, rò hậu môn, hẹp hậu môn; trĩ nội độ 3 không đáp ứng với các phương pháp điều trị nội khoa, thủ thuật; trĩ tái phát nặng kèm các biến chứng của lần điều trị trước Thường với điều trị bằng phẫu thuật thì bệnh nhân đáp ứng tốt hơn, ít khi cần phải điều trị bổ sung thêm [26][45][39]
1.2.1.4 Những biến chứng sau điều trị ngoại khoa bệnh trĩ [21]:
Biến chứng trong điều trị ngoại khoa (điều trị bằng thủ thuật và phẫu thuật) tùy thuộc vào từng kỹ thuật phẫu thuật, thắt, tiêm xơ Có biến chứng gần và biến chứng
xa
Trang 26− Biến chứng gần : thường gặp là đau và bí đái Đau với nhiều mức độ
khác nhau, 70–75% là đau vừa, bệnh nhân đau từng đợt ngắt quãng, cảm giác khó chịu, tức, mót rặn và giật ở hậu môn Cảm giác rát bỏng hậu môn ít gặp hơn 5–8% Đau nhiều khiến bệnh nhân vật vã chiếm 3–5% hay kèm với bí đái Chảy máu cũng là biến chứng có thể gặp sau điều trị ngoại khoa, dù điều trị bằng phương pháp phẫu thuật nào, chiếm tỷ lệ 0,6–0,8% Chảy máu ngay sau mổ rất ít gặp, thường là chảy máu thứ phát vào những ngày rụng trĩ Biến chứng gần khác gặp trong điều trị ngoại khoa là vạt da thừa sau những ngày rụng trĩ, gây cộm ở hậu mosân và bẩn vết thương sau khi đi tiêu Abcès và nhiễm trùng sau mổ rất hiếm gặp
− Biến chứng xa hay gặp là xơ hóa và chít hẹp hậu môn làm cho bệnh
nhân khó đi tiêu kể cả khi phân mềm và hậu môn mất tính tự chủ gây ra chứng rỉ dịch trực tràng hoặc nước phân (10–13%), hoặc chảy phân lỏng mất tự chủ (25–30%)
1.2.2 Y học cổ truyền điều trị bệnh trĩ
Y học cổ truyền điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng nhiều cách có thể chia thành như : châm cứu, uống thuốc, ngâm thuốc, đắp thuốc, xông bôi thuốc, nhưng có thể xếp vào hai phương pháp chính : điều trị bảo tồn và điều trị không bảo tồn
1.2.2.1 Điều trị bảo tồn :
Thông thường là sử dụng thuốc thang Tùy theo thể lâm sàng có những
phương thang khác nhau [12] như :
− Thể huyết ứ : Pháp điều trị là Lương huyết chỉ huyết hoạt huyết khử,
với phương thang Hoạt huyết địa hoàng thang gia giảm hoặc Tứ vật đào hỗng thang gia giảm
− Thể thấp nhiệt : Pháp điều trị là Thanh nhiệt lợi thấp chỉ thống, với
phương thang Chỉ thống thang gia giảm hoặc Ngoại khoa kim thiên phương thang gia giảm
− Thể khí huyết đều hư : Pháp điều trị là Bổ khí huyết thăng đề khí
trung tiêu, với phương thang Bổ trung ích khí thang gia giảm
Ngoài những phương pháp trên, Một số thầy thuốc Đông y có kết hợp thêm loại cao tiêu viêm, giảm đau và còn dùng dùng châm cứu các huyệt như Trường cường (XVIII 1), Thứ liêu (VII 33), Yêu du (XIV 2), Huyết hải (IV 10),
Hội dương (VII 35) [9] [42] để điều trị với công dụng Ích khí thăng đề, điều đạt
khí cơ hay Thanh trường trường chỉ huyết, sơ phong hành khí nhưng tất cả đều
Trang 27nhìn nhận một số người bệnh có thể tiêu búi trĩ, song vẫn có khả năng tái phát, tác dụng trị gốc tương đối kém hơn các phương pháp khác [25]
Nhìn chung, cách điều trị này có tính chất hổ trợ cho điều trị không bảo tồn Đến nay chưa thấy có tài liệu nào nghiên cứu hiệu quả của phương thức điều trị này
1.2.2.2 Điều trị không bảo tồn : thường dùng thuốc Y học cổ truyền bôi
(sau đây sẽ gọi tắt là thuốc bôi) lên các búi trĩ làm cho các búi trĩ hoại tử, rụng đi hoặc dùng cách cột thắt tại chân búi trĩ gây hoại tử rụng [18] nhưng cách này ít
được các thầy thuốc YHCT sử dụng hơn
Theo Hoàng Bảo Châu [3] điều trị bảo tồn bệnh trĩ hậu môn bằng thuốc
Y học cổ truyền có kết quả đối với trĩ độ I, II còn đối với trĩ độ III, IV kết quả thấp Riêng đối với phương pháp điều trị không bảo tồn dùng thuốc bôi (Khô Trĩ Tán B, C tỷ lệ khỏi 75% – 80%, riêng Khô Trĩ Tán A, trong công thức có thạch tín, tỷ lệ khỏi đạt 94,5%) cho kết quả kém với trĩ nội xơ chai và không kết quả với trĩ ngoại và trĩ vòng Biến chứng luôn có cuả phương pháp này là sưng phù búi trĩ nhiều gây đau và bí đái (100%) Bên cạnh đó, qua thực tế điều trị chúng tôi còn nhận thấy còn có những biến chứng khác ít gặp hơn như chảy máu, nhiễm trùng, xơ hóa búi trĩ…
Như vậy, các phương pháp thủ thuật, phẫu thuật cùa YHHĐ và điều trị không bảo tồn của YHCT chỉ áp dụng được đối với trĩ nội, còn trĩ ngoại chỉ có thể điều trị bằng thuốc uống hay phẫu thuật
Rõ ràng, tuy có nhiều cách điều trị bệnh trĩ hậu môn nhưng chỉ có một vài cách là phổ biến như thuốc toàn thân, thuốc tại chỗ (thuốc đặt hậu môn của YHHĐ và thuốc bôi của YHCT), cột thắt búi trĩ, tiêm xơ và phẫu thuật Nhưng chưa có cách điều trị nào là hoàn hảo, chúng đều gây đau và có những biến cố và tai biến trong quá trình điều trị, và điều bệnh nhân mong muốn là bệnh không tái phát thì không phải lúc nào cũng có được
1.2.3 Sử dụng laser trong điều trị bệnh trĩ hậu môn :
Trong những năm gần đây, ở các nước tiên tiến đã sử dụng kỹ thuật laser trong điều trị bệnh trĩ hậu môn Việc này được tiến hành theo ba hướng :
− Sử dụng laser công suất lớn trong phẫu thuật cắt trĩ (thông dụng hiện nay là laser CO2)
− Sử dụng hiệu ứng quang đông làm xơ búi trĩ
− Sử dụng laser công suất thấp trong điều trị bệnh trĩ hậu môn
Trang 281.2.3.1 Phẫu thuật cắt trĩ bằng laser CO 2 :
Khi sử dụng laser CO2 trong phẫu thuật cắt trĩ được tiến hành theo :
− Phương pháp Milligan – Morgan : áp dụng cho các búi trĩ to có đường kính từ 1 – 2,5 cm
− Phương pháp Whitehead cải tiến : đối với các búi trĩ to có đường kính lớn hơn 2,5 cm
Năm 1989 Skobelkin O.K và cộng sự đã tiến hành sử dụng laser CO2 cắt trĩ cho 484 bệnh nhân tại bệnh viện hậu môn của Cộng hoà Liên bang Nga [48]
Năm 1992 Eddy báo cáo đã thực hiện phẫu thuật cắt trĩ cho 1450 ca bằng laser CO2, tại Hội nghị Laser và ngoại khoa của Mỹ [50]
Thành phố Hồ Chí Minh lần đầu sử dụng laser CO2 trong phẫu thuật cắt trĩ, được tiến hành vào năm 1991 do đoàn bác sĩ Đài Loan thực hiện tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương
Sau đấy, Trung tâm Vật lý y sinh, Tp Hồ Chí Minh tổ chức triển khai sử dụng laser CO2 trong cắt trĩ ở một số tỉnh phía Nam [2][11]
Kết quả điều trị ở các cơ sở cho biết khi sử dụng laser CO2 trong phẫu thuật cắt trĩ có những ưu và nhược điểm sau đây :
− Ưu điểm :
+ Không hoặc rất ít chảy máu trong khi mổ
+ Vết mổ ít đau, ít sưng, ít nhiễm trùng
+ Thời gian nằm viện ngắn
− Khuyết điểm :
+ Có biến chứng từ nhỏ (như bí tiểu) đến lớn (như mô hạt sinh mủ ở mép vết mổ, mất cơ vòng .)
+ Phương tiện cồng kềnh, khó thao tác
+ Giá thành điều trị cao
Phẫu thuật cắt trĩ bằng laser CO2 chỉ tiến hành ở các trung tâmy tế lớn, vì những lý do sau :
− Phải có phòng mổ theo các các chỉ tiêu riêng của nó
− Mỗi ê kíp mổ gồm 03 người : phẫu thuật viên chính, phẫu thuật viên phụ, kỹ thuật viên (hoặc bác sĩ ) gây mê hoặc gây tê
Trang 29Các điều trình bày trên đây cho thấy phương pháp phẫu thuật cắt trĩ bằng laser CO2 không thể trang bị cho tuyến cơ sở Mặt khác Brisinda G [40] đã nhận định : không có sự khác biệt về kết quả so với phương pháp mổ kinh điển
1.2.3.2 Sử dung hiệu ứng quang đông làm xơ búi trĩ :
Hiệu ứng quang đông tổ chức xảy ra khi mật độ công suất làm xơ búi trĩ có đường kính nhỏ hơn 1 cm hoặc các phần còn sót lại không thể cắt bằng laser
CO2
Để thực hiện hiệu ứng quang đông thường sử dụng laser CO2 và laser YAG – Nd (làm việc ở bước sóng 1,06 μm – hồng ngoại gần, mắt thườngkhông nhìn thấy được) Đầu ra của laser này được nối liền với một đoạn sợi quang học
Cả hai loại laser nói trên đều cồng kềnh, khó thao tác
Cũng cần nói thêm, laser CO2 làm việc ở bước sóng 10,6 μm và laser YAG – Nd làm việc ở bước sóng 1,06 μm Hai bước sóng trên mắt người không nhìn thấy được Do đó, trong nhiều trường hợp người ta sử dụng laser khí He – Ne làm việc ở bước sóng 632,8 nm – màu đỏ rực, để dẫn đường
1.2.3.3 Sử dụng laser công suất thấp trong điều trị bệnh trĩ hậu môn :
Việc sử dụng laser công suất thấp được tiến hành theo hai hướng
Ở Việt Nam, đã sử dụng laser khí He – Ne trong điều trị bệnh trĩ tai bệnh viện đa khoa Thái Bình
Chế độ điều trị ở đây khá đặc biệt : mỗi ngày thực hiện hai lần điều trị, mỗi lần điều trị 5 – 7 phút Đối với trĩ nội, búi trĩ nằm sâu trong ống hậu môn, sử dụng dụng cụ mở hậu môn để chiếu chùm tia laser khí He – Ne làm việc ở bước sóng 632,8 nm sâu vào bên trong Kết quả điều trị rất khả quan
Khi sử dụng laser khí He – Ne làm việc ở bước sóng 632,8 nm trong điều trị bệnh trĩ hậu môn có ưu điểm và nhược điểm sau đây
Trang 30− Ưu điểm :
+ Khi thực hiện điều trị không gây đau
+ Tránh lây lan những bệnh truyền qua đường máu
+ Thực hiện giảm đau, chống viêm, giả phù nề khá tốt
− Nhược điểm :
+ Bước sóng 632,8 nm có độ xuyên sâu thấp, lớn nhất là 5mm Điều này sẽ gặp khó khăn khi thực hiện điều trị các búi trĩ nội ở sâu bên trong ống hậu môn
+ Laser khí He-Ne có công suất phát xạ cố định không điều biến được Điều này dẫn đến độ linh động trong điều trị kém
Hướng thứ hai :
Ý tưởng sử dụng Laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh trĩ hậu môn được đề xuất đầu tiên do Trần Minh Thái (Phòng thí nghiệm Công nghệ laser trường Đại học Bách khoa Tp HCM) [29] Hàng loạt công trình kế tiếp [14]
[30][31] nhằm hoàn chỉnh cơ sở lý luận của phương pháp điều trị và công nghệ
chế tạo thiết bị
Ở phương pháp sử dụng laser bán dẫn làm việc ở dải sóng hồng ngoại gần với công suất thấp, do phòng thí nghiệm công nghệ laser Trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh đề xướng có những đặc điểm quan trọng sau đây :
− Ở đây sử dụng hai loại laser bán dẫn làm việc ở hai bước sóng khác nhau :
+ Bước sóng 780 nm – bước sóng đầu tiên của dải hồng ngoại gần – màu đỏ nhạt
+ Bước sóng 940 nm – bước sóng có khả năng xuyên sâu đến 4 – 5
cm, nhưng mắt thường không nhìn thấy
Khi kết hợp hai bước sóng trên với nhau để điều trị bệnh trĩ, thì :
@ Đáp ứng mọi vị trí của búi trĩ trong ống hậu môn
@ Có tia dẫn đường, giúp người sử dụng thiết bị dễ dàng trong thao tác
− Khi kết hợp hai bước sóng trên điều trị trực tiếp lên búi trĩ, sẽ tạo ra hiệu ứng hai bước sóng làm cho hiệu ứng kích thích sinh học xảy ra nhanh hơn và mạnh hơn Đây là hiệu ứng chính để điều trị trực tiếp búi trĩ
Trang 31− Kết hợp sử dụng tác dung điều trị của huyệt theo Đông y trong điều trị bệnh trĩ hậu môn
− Khi thực hiện điều trị, bệnh nhân không có cảm giác đau, chỉ thấy cảm giác nóng ấm dễ chịu ở vùng hậu môn Hơn nữa tránh được sự lây lan những căn bệnh truyền qua đường máu
Từ n.hững điều phân tích trên đây, chúng tôi nhận thấy, phương pháp điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn làm việc ở dải sóng hồng ngoại gần với công suất thấp, do phòng thí nghiệm công nghệ laser Trường Đại học Bách Khoa Tp Hồ Chí Minh đề xướng, có nhiều điểm ưu việt hơn so với các phương pháp chính vì vậy, chúng tôi chọn phương pháp này sử dụng trong nghiên cứu điều trị bệnh trĩ hậu môn
Về chi tiết của phương pháp này, chúng tôi trình bày ở phần phụ lục
Trang 322.2 Qui trình chọn đối tượng đưa vào diện nghiên cứu điều trị
2.2.1 Xác định cỡ mẫu nghiên cứu điều trị lâm sàng
Việc xác định cỡ mẫu nghiên cứu điều trị lâm sàng được tiến hành theo biểu thức dưới đây [20] :
Trong biểu thức trên :
P1 là tỷ lệ điều trị khỏi và giảm của các phương pháp điều trị khác, thực hiện trước chúng tôi
P2 là tỷ lệ điều trị khỏi và giảm mà chúng tôi mong muốn đạt được băng phương pháp laser bán dẫn là 85%, tức là P2 = 0,85
Độ tin cậy 95%, tức là đô sai số α = 0,05
PHƯƠNG PHÁP SỐ LƯỢNG TỶ LỆ
Đốt điện trực tiếp [10] 800 93%
Thắt thun vòng cao su [10] 1074 60%
−
2 1 2
1
2 2
1 1
) (
) 1
( )
1 (
Z Z
P P
P P
P P
53245
)70,028()80,045()60,01074()93,0800()57,053()75,0246
++
×+
×+
×+
×+
×+
Trang 33Như vậy, để đạt yêu cầu về mặt thống kê số lượng mẫu cần phải đạt là trên 140 bệnh nhân
2.2.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh
2.2.2.1 Thăm khám lâm sàng
Việc chọn bệnh nhân để đưa vào nghiên cứu điều trị, dựa trên kết quả :
− Thăm khám lâm sàng : triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể
− Thăm khám cận lâm sàng
Vì ở Tp Long Xuyên hiện nay chi phí khám nội soi hậu môn trực tràng còn cao so với thu nhập đại đa số bệnh nhân, nên để chẩn đoán định bệnh (phân loại, xác định độ trĩ, vị trí phân bố của các búi trĩ) chúng tôi kết hợp thăm hỏi các
triệu chứng cơ năng nơi bệnh nhân với thăm khám lâm sàng (đều có dùng ngón
tay khám trực tràng nếu không có chống chỉ định)
Tất cả các bệnh nhân đến khám bệnh tại Phòng Thừa kế chẩn trị của Hội YHCT An Giang sau khi được chẩn đoán là bệnh trĩ hậu môn đều được mời tham gia nghiên cứu Số bệnh nhân này đều chấp nhận không dùng thuốc đặc trị bệnh trĩ, điều trị liên tục không gián đoạn và được theo dõi trong suốt thời gian điều trị và sau khi kết thúc điều trị bằng bệnh án chuyên khoa
2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Các bệnh nhân có một trong các yếu tố sau đây sẽ không được mời tham gia nghiên cứu : bệnh trĩ có kèm dò (rò) hậu môn, bệnh trĩ ở thai phụ, bệnh trĩ kèm theo bệnh ác tính
Bệnh nhân sẽ bị loại khỏi diện đánh giá kết quả nghiên cứu nếu trong quá trình điều trị có dùng thuốc điều trị bệnh trĩ hậu môn hoặc dùng thuốc điều trị khác có ảnh hưởng đến bệnh trĩ hoặc bệnh nhân điều trị gián đoạn không liên tục hoặc điều trị dưới 10 lần
2.2.2.3 Tiêu chuẩn đánh giá mức độ bệnh của bệnh nhân :
Để việc nghiên cứu được chính xác, chúng tôi tiến hành chấm điểm bệnh trạng của bệnh nhân lúc nhập viện, sau mỗi tuần điều trị và khi kết thúc điều trị theo thang điểm sau :
− Đi tiêu vướng
+ Không có : 0 điểm (bệnh nhân đi tiêu thông suốt, phân tròn)
Trang 34+ Vướng ít : 1 điểm (bệnh nhân phải gắng sức ít)
+ Vướng nhiều : 4 điểm (bệnh nhân phải gắng sức nhiều)
− Đau vùng hậu môn trực tràng
+ Không đau : 0 điểm
+ Dị cảm : 1 điểm (bao gồm: ngứa, cộm, khó chịu ở hậu môn) + Đau ít : 2 điểm (bao gồm: đau thốn, tư thế chưa thay đổi) + Đau khá : 3 điểm (đau khiến bệnh nhân phải đổi tư thế)
+ Đau nhiều : 4 điểm (đau khiến bệnh nhân rên la .)
− Chảy máu hậu môn trực tràng
+ Không có : 0 điểm
+ Dính giấy chùi : 1 điểm (kể cả khi máu dính phân)
+ Chảy từng giọt : 2 điểm
+ Chảy thành tia : 3 điểm
+ Chảy tự nhiên : 4 điểm
Trang 35nắn vùng tổn thương (có dùng ngón tay khám trực tràng nếu không có chống chỉ định)
2.3.1.1 Triệu chứng cơ năng :
Cần chú ý đến các triệu chứng chính sau đây :
− Chảy máu : là triệu chứng có sớm nhất và cũng là triệu chứng thường
gặp
− Sa trĩ : cũng là triệu chứng thường gặp Tuỳ theo độ nặng của bệnh
mà biểu hiện lâm sàng khác nhau
− Đau : thường thì bệnh trĩ hiếm khi gây đau, triệu chứng này xuất hiện
khi búi trĩ bị thuyên tắc, hay trĩ kèm rách, viêm nhiễm hậu môn
2.3.1.2 Triệu chứng thực thể :
− Nhìn : tách rộng hai mông quan sát, thường thấy :
+ Mảnh da thừa thường là do trĩ ngoại cũ đã thuyên tắc Các mảnh da thừa này không đáng ngại trừ khi có triệu chứng
+ Trĩ nội sa Nếu trĩ bị nghẽn hoặc bị thuyên tắc thường có màu xanh đậm, có hình bầu dục, cứng, đụng vào rất đau ; nếu có thuyên tắc lan rộng và có bội nhiễm thì cùng quanh hậu môn sẽ bị sưng ; nếu trĩ có hoại tử thì có màu đen ở giữa, lở loét cũng dễ thấy
+ Trĩ ngoại
− Thăm bằng ngón tay : đánh giá xem có bướu bên trong hậu môn hay
không, xem lòng hậu môn có thông tốt không và tình trạng cơ thắt ra sao, số lượng, vị trí và tình trạng của các búi trĩ nội
Từ kết quả thăm khám trên đây đi đến chẩn đoán bệnh
2.3.2 Xây dựng phác đồ điều trị
Việc điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp, được tiến hành theo phương thức :
− Sử dụng quang trị liệu bằng laser bán dẫn điều trị trực tiếp búi trĩ
− Sử dụng quang châm bằng laser bán dẫn tác động lên các huyệt kinh điển để điều trị bệnh trĩ
Chính vì vậy, việc xây dựng phác đồ điều trị có hai phần
2.3.2.1 Đối với quang trị liệu
Trang 36− Khi điều trị trĩ nội : sử dụng đầu quang trị liệu dành cho trĩ nội với các thông số sau đây :
+ Tần số điều biến từ số 4 đến số 6
+ Công suất phát xạ để từ số 7 đến số 9
+ Thời gian điều trị là 30 phút
− Khi điều trị trĩ ngoại: sử dụng đầu quang trị liệu dành cho trĩ ngoại với các thông số sau đây :
+ Tần số điều biến từ số 6 đến số 8
+ Công suất phát xạ để từ số 6 đến số 8
+ Thời gian điều trị là 30 phút
− Khi điều trị trĩ vòng kết hợp hai loại đầu nói trên
− Khi điều trị trĩ hỗn hợp : đầu tiên tiến hành điều trị trĩ ngoại trước Sau đấy, thực hiện điều trị trĩ nội
− Khi điều trị trĩ kết hợp : ưu tiên cho loại trĩ có triệu chứng nặng hơn
2.3.2.2 Đối với quang châm
− Thông thường chúng tôi chọn các huyệt dưới đây để thực hiện điều trị + Trường cường (XIV 1) tần số 6 – 8, công suất phát xạ từ 6 – 9 tiến hành điều trị trong 30 phút
+ Yêu du (XIV 2) tần số 6 – 8, công suất phát xạ từ 6 – 9 tiến hành điều trị trong 30 phút
+ Trung liêu (VII 33) tần số 4 – 6, công suất phát xạ từ 6 – 9 tiến hành điều trị trong 30 phút
− Khi trĩ xuất huyết : thay Trung liêu bằng Huyết hải (IV 10) tần số 6 –
8, công suất phát xạ từ 6 – 9 tiến hành điều trị trong 30 phút
− Khi trĩ sưng đau : thay Trung liêu bằng Hội dương (VII 35) tần số 6 –
8, công suất phát xạ từ 6 – 9 tiến hành điều trị trong 30 phút
− Khi trĩ đồng thời sưng đau và xuất huyết thì tuỳ triệu chứng nào nặng hơn mà sử dụng Hội dương hay Huyết hải
2.3.3 Các bước trong điều trị
2.3.3.1 Tâm lý liệu pháp
Giải thích cho bệnh nhân rõ về phương pháp điều trị, dự tính thời gian
Trang 37điều trị, một số diễn biến có thể xảy ra trong quá trình điều trị, nhằm tạo ra sự an tâm cho bệnh nhân, để được sự cộng tác chặt chẽ của họ tring quá trình trị liệu
2.3.3.2 Thực hiện điều trị
− Kiểm tra mạch, nhiệt độ, huyết áp trước điều trị
− Giúp bệnh nhân nằm nghiêng một bên, thả lỏng toàn thân, tay bệnh nhân kéo nhẹ nếp mông Kiểm tra lâm sàng, đánh giá tình hình bệnh
− Tiến hành quang trị liệu tại các búi trĩ, quang châm các huyệt
− Sau khi kết thúc điều trị dùng chất bôi trơn thoa trong ống hậu môn
− Kiểm tra mạch, nhiệt độ, huyết áp sau khi điều trị
2.3.3.3 Phương thức hỗ trợ
− Hàng ngày bệnh nhân nên làm vệ sinh hậu môn bằng nước sạch sau khi đi tiêu
− Tập thể dục nhẹ nhàng, có thể nằm kê mông thở bốn thì kết hợp co thắt cơ vùng hậu môn, thực hiện chế độ sinh hoạt, thực dưỡng hợp lý
− Ngâm hậu môn bằng nước ấm pha muối loãng (0,9-1%) khi búi trĩ sưng đau
2.3.4 Liệu trình điều trị
− Mỗi ngày thực hiện một lần điều trị Thời gian cho mỗi lần là 30 phút
− Một liệu trình điều trị gồm 24 lần điều trị
− Trong đó cứ sau 07 lần điều trị và sau 24 lần điều trị tiên hành khám toàn diện và đánh giá tổng thể bằng cách cho điểm và ghi vào bảng đánh giá
2.4 Các chỉ tiêu cần được theo dõi trên lâm sàng
Các chỉ tiêu sau đây cần được theo dõi :
− Sinh hiệu (mạch, nhiệt độ, huyết áp) trước và sau mỗi lần điều trị
− Cảm giác vướng khi đi tiêu
− Cảm giác đau rát, khó chịu vùng hậu môn
− Tình trạng chảy máu của búi trĩ
− Tình trạng sa giãn của búi trĩ
− Sự co rút của búi trĩ qua khám nghiệm lâm sàng
Trang 38− Trạng thái bệnh nhân bao gồm ăn, ngủ, sinh hoạt
− Các tai biến xảy ra trong quá trình điều trị
− Các phản ứng xảy ra sau khi kết thúc điều trị
2.5 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả trong điều trị
2.5.1 Đánh giá hiệu quả điều trị các triệu chứng cơ năng
− Chảy máu, máu tụ, sung huyết
− Sa trĩ
− Đau rát hậu môn
2.5.2 Đánh giá hiệu quả điều trị các triệu chứng thực thể
− Kích thước của búi trĩ Tình trạng sa giãn, chảy máu, máu tụ, sung huyết của búi trĩ
− Viêm tấy, nhồi máu (nếu có) của búi trĩ
− Các triệu chứng khác kèm theo như rối loạn trong đại tiện, trương lực
cơ thắt hậu môn, nứt rách hậu môn
2.5.3 Đánh giá về huyết áp, nhịp tim và nhiệt độ
2.5.4 Đánh giá ghi nhận chủ quan về ăn ngủ và sức khoẻ tổng thể của bệnh nhân
2.5.5 Đánh giá tổng thể và hiệu quả điều trị
Khi kết thúc điều trị, chúng tôi tiến hành chấm điểm bệnh trạng của bệnh nhân lúc xuất viện và phân ra ba mức độ như sau :
− Khỏi (0 điểm) :
+ Triệu chứng cơ năng mất hẳn
+ Các búi trĩ nhỏ lại về trạng thái sinh lý bình thường không phồng, không sa ra
+ Vành hậu môn co gọn
+ Không có biến chứng hay phản ứng phụ do điều trị gây nên
− Giảm (từ 1 điểm đến điểm) :
+ Triệu chứng cơ năng mất hẳn
+ Các búi trĩ nhỏ lại nhiều nhưng chưa khỏi hẳn
Trang 39+ Vành hậu môn co gọn
+ Không có biến chứng hay phản ứng phụ do điều trị gây nên
− Không kết quả (trên điểm):
+ Triệu chứng cơ năng giảm đi rõ rệt
+ Các búi trĩ có giảm kích thước nhưng còn to
+ Vành hậu môn chưa co gọn
Trang 4011, đường Nguyễn Du, Tp Long Xuyên, An Giang
Hình 3-1 Trang thiết bị phòng Laser bán dẫn điều trị bệnh trĩ
Hình 3.2 Bệnh nhân đang được điều trị bệnh thiết bị Laser bán dẫn
Thực hiện điều trị bệnh trĩ hậu môn được tiến hành tại phòng riêng (xem hình 3.1) Phương thức thực hiện điều trị bệnh trĩ hậu môn bằng laser bán dẫn công suất thấp được trình bày ở hình 3.2