TÊN ĐỀ TÀI : ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG LIỆT NỬA NGƯỜI DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG THIẾT BỊ QUANG CHÂM LASER BÁN DẪN LOẠI 10 ĐẦU CHÂM II.. NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG Nhiệm vụ của đề tài : Nghiên c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
E ☯ D
HỒ DUY THANH
ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG LIỆT NỬA NGƯỜI
DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG THIẾT BỊ QUANG CHÂM LASER BÁN DẪN
LOẠI 10 ĐẦU CHÂM
LUẬN ÁN CAO HỌC
CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT LASER
MÃ SỐ: 207 - 07
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
02.2002
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
Người nhận xét 1:
Người nhận xét 2:
Luận án cao học này được bảo vệ tại HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN ÁN CAO HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
ngày tháng năm 2002
Có thể tham khảo luận án này tại thư viện trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP HCM
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NHIỆM VỤ LUẬN ÁN CAO HỌC
Họ và tên học viên : Hồ Duy Thanh Phái: Nam
Ngày tháng năm sinh : 01/07/1959
Nơi sinh : Đạo Thạnh, Mỹ Tho
Chuyên ngành : Kỹ thuật Laser
I TÊN ĐỀ TÀI :
ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG LIỆT NỬA NGƯỜI DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG THIẾT BỊ QUANG CHÂM LASER BÁN DẪN LOẠI 10 ĐẦU CHÂM
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG
Nhiệm vụ của đề tài :
Nghiên cứu sử dụng phương pháp quang châm laser bán dẫn thông qua thiết bị laser bán dẫn công suất thấp loại10 đầu châm trong điều trị di chứng liệt nửa người do tai biến mạch máu não
c Đánh giá hiệu quả điều trị, thời gian điều trị, các biến chứng có thể xảy ra, giá thành điều trị…
c Rút ra những kết luận đối với phương pháp điều trị mới về di chứng liệt nửa
người do TBMMN gây nên
III NGÀY GIAO NHIỆM VỤ :
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ :
Trang 41 PGS BS TRẦN VĂN KỲ – Hội Y Dược học cổ truyển TP Hồ chí Minh
2 TS HUỲNH QUANG LINH – Phòng thí nghiệm Công nghệ Laser, trường Đại học Bách khoa, TP Hồ Chí Minh
VI HỌ VÀ TÊN CÁN BỘ CHẤM NHẬN XÉT:
1 aa
2 aa
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
CÁN BỘ NHẬN XÉT
Nội dung và đề cương Luận án Cao học đã được thông qua Hội đồng chuyên ngành
Ngày tháng năm 2002
PGS.TS Trần Minh Thái
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa cao học và thực hiện luận án tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn về chuyên môn cũng như sự hỗ trợ mọi mặt của nhiều giáo sư, đồng nghiệp và gia đình Tự đáy lòng mình tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với:
- GS.TS Trần Minh Thái, trưởng phòng thí nghiệm Công nghệ Laser –
Trường Đại học Bách khoa, đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
- PGS.BS Trần Văn Kỳ đã hỗ trợ về chuyên môn y học, mở ra một hướng
ứng dụng mới của khoa học hiện đại, cụ thể là lĩnh vực Laser, để phát triển y học cổ truyền
- TS Huỳnh Quang Linh đã hỗ trợ cố vấn về phần chuyên môn kỹ thuật và
hoàn thiện bản thảo về nội dung cũng như hình thức
- BAN LÃNH ĐẠO và tập thể cán bộ công nhân viên Bệnh viện Y học Cổ
truyền tỉnh Tiền Giang đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được đi học, tham gia thực hành điều trị và sử dụng số liệu kết quả điều trị theo phương pháp mới cho phần kết quả của luận án
- Tập thể thầy cô giáo phòng thí nghiệm Công nghệ Laser – Trường Đại
học Bách khoa đã giúp đỡ trong thời gian học tập
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình đã hỗ trợ động viên về mọi mặt tinh thần cũng như vật chất để tôi yên tâm học tập và hoàn thành luận án
Hồ Duy Thanh
Trang 6MỤC LỤC
I Tổng quan về tai biến mạch máu não và di chứng 5
I.1.1 Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới 5
I.1.3 Hội chứng thần kinh thường gặp trong tai biến mạch máu não 7
I.1.4 Chẩn đoán và điều trị tai biến mạch máu não theo y học hiện đại 13
II.Tổng quan về thiết bị quang châm bằng Laser bán dẫn công suất thấp loại
II.1 Tổng quan về phương pháp quang châm bằng laser bán dẫn 25
II.2 Đặc điểm về kỹ thuật của thiết bị quang châm bằng Laser bán dẫn loại 10 đầu
châm 32
CHƯƠNG III: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
II.2.1 Làm bệnh án khám và theo dõi điều trị 36
Trang 7I Tổ chức thực hiện 45
III.1 Kết quả thống kê điểm đầu vào – đầu ra theo phương pháp
III.1 Kết quả phục hồi chức năng vận động 53 III.2 Kết quả điều trị các triệu chứng và di chứng kèm theo 55
III.4 Về tai biến các phản ứng phụ xảy ra trong quá trình thực hiện
III.5 So sánh hồi cứu với kết quả điều trị tại Bệnh viện bằng phương pháp
châm cứu cổ truyền trước khi sử dụng phương pháp quang châm bằng
III.5 Đối chiếu kết quả điều trị bằng các phương pháp khác tại những
cơ sở, viện, bệnh viện YHCT trong điều trị di chứng tai biến mạch
PHỤ LỤC 3: THỐNG KÊ HỒI CỨU 30 BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG
LIỆT NỬA NGƯỜI DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO BẰNG CHÂM CỨU
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
Tai biến mạch máu não (TBMMN) là danh từ chung chỉ các tổn thương của não, màng não gây nên bởi sự hư biến của mạch máu não
do nhiều nguyên nhân khác nhau
Từ nhiều thập kỷ cho đến nay TBMMN vẫn là một vấn đề thời sự, đặc biệt trong điều kiện môi trường sống và nhịp độ làm việc của cuộc sống hiện đại như hiện nay
Theo [1] cho biết, đối với các nước phát triển TBMMN là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau ung thư và tim mạch Tỷ lệ mắc bệnh TBMMN ở các nước phát triển rất cao Ởû Hoa Kỳ, cứ 100.000 người dân có 749 người bị TBMMN Tổng chi phí chung (nội trú và phục hồi chức năng) của Hoa Kỳ cho TBMMN là 17 tỷ USD trong một năm [2] Năm 1976 tỷ lệ TBMMN ở Pháp là 60/1000 dân và 50% thành tàn phế Ở Pháp chi phí cho TBMMN chiếm 2,5 – 3% tổng chi phí y tế trong cả nước [3]
Ở Việt Nam tuy chưa có số liệu mang tính chất toàn quốc về vấn đề này, nhưng ở một số bệnh viện lớn đã có số liệu thống kê cụ thể
Ở bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố Hồ Chí Minh trong 10 năm tiếp nhận 2.962 bệnh nhân TBMMN Trong đó, bệnh nhân nam chiếm 60%, bệnh nhân nữ chiếm 40% và tỷ lệ tử vong chiếm 30% [3] Ở bệnh viện Bạch Mai Hà Nội từ năm 1991 đến năm 1993 tiếp nhận 613 bệnh nhân bị TBMMN [1] Các số liệu trên cho chúng ta thấy, số bệnh nhân bị TBMMN ở Việt Nam là không ít, và có khuynh hướng ngày càng nhiều
Từ tình hình trên, bệnh TBMMN đã được y học và ngành y tế của thế giới đặc biệt quan tâm Trong những năm qua nhiều hội nghị và hội thảo quốc tế tập trung thảo luận và nghiên cứu vấn đề này Ở đây có thể nêu một số trường hợp để minh họa :
- 1981: hội nghị tại Tokyo nghiên cứu về dược học và các loại thuốc làm giàu oxy cho mạch máu não
Trang 9- 1982: tại Monte Carlo bàn về bệnh lý học mạch máu não và bệnh lý học của não ở người lớn tuổi
- 1984: tại Bắc Kinh thảo luận về thiếu máu não cục bộ vv… Các nghiên cứu cơ bản xung quanh hoạt động cung cấp mau cho não đều nhằm tìm ra phương pháp hữu hiệu phòng ngừa , ngăn chận và điều trị TBMMN cũng như tai biến do nó gây ra
Bên cạnh đấy, từ năm 1975 sự ra đời của các phương pháp chẩn đoán mới như : chụp cắt lớp vi tính bằng X quang (CT Scan) hoặc cộng hưởng từ hạt nhân(MRI), siêu âm màu, chụp mạch mã hóa, … đi đôi với tiến bộ trong hồi sức cấp cứu, phẫu thuật thần kinh, và việc đẩy mạnh các biện pháp dự phòng đã mang lại những kết quả to lớn trong chẩn đoán và điều trị TBMMN
Chính vì vậy trong nhiều năm qua tỷ lệ tử vong đã giảm 30%
ở các nước Âu Mỹ Ở Nhật Bản mỗi năm hạ được 7% tỷ lệ tử vong, Hoa Kỳ giảm được 5% mỗi năm Đây là một thành tựu cực kỳ lớn [9]
Tuy nhiên, số bệnh nhân còn lại sau khi qua giai đoạn hiểm
nghèo vẫn còn để lại di chứng nặng nề: đó là liệt nửa người kèm theo và
không kèm theo :
- Liệt dây thần kinh số VII trung ương, đưa đến miệng bị méo
- Rối loạn về ngôn ngữ : nói khó và không nói được nhiều từ hoặc mất ngôn ngữ
- Rối loạn cơ vòng : tiêu tiểu không tự chủ
- Huyết áp cao, tiểu đường…
Cho đến nay, việc điều trị di chứng liệt nửa người do TBMMN được tiến hành theo hai hướng :
Hướng thứ nhất : việc điều trị được tiến hành theo y học hiện
đại bao gồm : uống thuốc tây dược, xoa bóp và tập vận động cho bệnh nhân [4] Trên thực tế hiệu quả phương pháp điều trị này không cao nên không đáp ứng được nhu cầu chữa trị cho bệnh nhân Ở các nước phát triển, người ta có thể tiến hành phẫu thuật cấy ghép phục hồi thần kinh
Trang 10Hướng thứ hai: việc điều trị di chứng liệt nửa người do
TBMMN được tiến hành theo y học cổ truyền bao gồàm châm cứu kết hợp với dùng thuốc Đông dược Hướng điều trị này được tiến hành ở nhiều nước phương đông và mang lại kết quả tương đối nhất quán
Có thể liệt kê một số công trình trong lĩnh vực này ở tại Việt Nam trong những năm gần đây như sau:
• Ở [5] trong nghiên cứu điều trị di chứng liệt nửa người
do TBMMN sử dụng hào châm, thủy châm, nhu châm, châm kim dài xuyên huyệt
• Ở [6] sử dụng điện châm, hào châm kết hợp với thuốc dân tộc trong điều trị liệt nửa người do TBMMN
• Ở [7] sử dụng trong điều trị điện châm và thủy châm
Kết quả điều trị của các công trình trên cho thấy: các hình
thức châm cứu khác nhau đã đem lại những kết quả đáng kể trong điều trị di chứng liệt nửa người do TBMMN, và cho đến nay là phương pháp duy nhất cho kết quả tương đối nhất quán
Trong bài tổng kết về hoạt động trong điều trị của Hội châm
Việt Nam, Giáo sư bác sĩ Nguyễn Tài Thu – Chủ tịch Hội cho biết: kết
quả điều trị khỏi và giảm trong phục hồi di chứng liệt nửa người do TBMMN bằng châm cứu đạt 85,3% [8] Từ đó chúng ta thấy, ở Việt Nam phương pháp châm cứu thật sự đóng vai trò quan trọng trong điều trị phục hồi chức năng liệt nửa người do TBMMN
Bên cạnh ưu điểm cơ bản vừa nêu, phương pháp châm cứu có một số nhược điểm khi sử dụng trong việc điều trị di chứng liệt nửa người do TBMMN Đó là :
• Phương pháp thường gây cho bệnh nhân cảm giác đau và sợ, đặc biệt khi châm các huyệt ở vùng mặt để trị liệt dây thần kinh số VII Hơn nữa việc điều trị di chứng liệt nửa người do TBMMN được tiến hành trong thời gian dài cho nên cảm giác này sẽ gây nên một tâm lý không thoải mái trước khi điều trị
Trang 11• Nếu như kim châm sát trùng không hoàn hảo thì dễ dàng tạo ra sự lây lan các căn bệnh truyền nhiễm nguy hại như : viêm gan siêu vi B, HIV, … từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác, hoặc từ bệnh nhân sang người điều trị Mối e ngại trên càng gia tăng khi lượng thông tin đại chúng về các căn bệnh truyền nhiễm trên ngày càng rộng rãi
• Châm cứu truyền thống đòi hỏi kỹ thuật (châm kim, vê kim) và kinh nghiệm của người điều trị cao nên việc phổ biến rộng rãi gặp không ít khó khăn
• Không thực hiện được đối với bệnh nhân bị liệt nửa người
do TBMMN kèm theo bị tiểu đường
Từ những phân tích trên đây, chúng ta thấy cần thiết phải cải tiến hoặc tìm ra phương pháp điều trị hoàn hảo hơn nhằm phát huy vai trò của y học cổ truyền trong việc phục hồi di chứng liệt nửa người do TBMMN Chính sự kết hợp giữa y học cổ truyền và thành tựu của khoa học hiện đại trong phương pháp quang châm bằng laser bán dẫn đã đưa
ra một giải pháp hiệu nghiệm và nghiên cứu ứng dụng phương pháp đó trong điều trị di chứng liệt do TBMMN cũng chính làø mục đích của bản luận án này
Trang 12CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
I TỔNG QUAN VỀ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO VÀ DI
CHỨNG
I.1 THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
I.1.1 Định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới [10]
“Tai biến mạch máu não là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót chức năng thần kinh, thường là khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong trong 24 giờ, các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương”
I.1.2 Về phương diện dịch tễ học [10]
I.1.2.1 Ở nước ngoài :
a) Từ các công trình nghiên cứu trong 2 thập kỷ 1970 - 1990 ở Âu - Mỹ, người ta rút ra được kết luận sau :
- Tai biến mạch máu não đã và đang giảm, kể từ 50 năm trở lại đây
- Tỷ lệ tử vong đã bắt đầu giảm từ đầu thế kỷ và giảm đều hàng năm từ năm 1945
- Tỷ lệ bệnh mới mắc từ năm 1980 đến nay có chiều hướng tăng lên, nhưng tỷ lệ tử vong vẫn tiếp tục giảm làm cho nhu cầu phục hồi di chứng sau tai biến mạch máu não gia tăng
b) Tỷ lệ tai biến mạch máu não ở các nước Châu Phi đang phát triển có tỷ lệ gần giống như ở Châu Âu
c) Riêng ở Châu Á tỷ lệ tai biến mạch máu não thay đổi từng nước :
Trang 13- Các nước có nền công nghiệp phát triển như : Nhật, Hàn Quốc, tỷ lệ giống với Âu Mỹ (tỷ lệ tử vong đã và đang giảm)
- Tỷ lệ tai biến mạch máu não ở các nước kém phát triển hơn tăng lên hàng năm
Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh đến tai biến mạch máu não ở người trẻ – đối tượng có khả năng điều trị khỏi cao và cũng là đối tượng cống hiến cho xã hội nhiều nhất (Nhật 2,7%, Ấn Độ 11 - 30%, Pháp 5%, )
I.1.2.2 Ở Việt Nam [10] :
TỶ LỆ
Thời gian khảo sát
I.1.2.3 Các yếu tố nguy cơ [17]
- Cao huyết áp là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của tai biến mạch máu não đối với mọi nơi trên thế giới, chiếm 55,19% trong nghiên cứu của Đại học Y dược Tp.HCM
- Hút thuốc, chế độ ăn nhiều mỡ, uống rượu, cơn choáng thiếu máu não, bệnh lý tim mạch, tiểu đường, lần lượt theo thứ tự là các yếu tố nguy cơ sau cao huyết áp
- Mắc các bệnh nhiễm trùng, tình trạng kinh tế xã hội thấp kém cũng đóng vai trò đáng kể
- Tỷ lệ di chứng vừa và nặng chiếm 75% ở miền Nam (Đại học
Y dược), nhưng ở 2 miền Bắc, Trung chiếm 68,42% lại là di chứng nhẹ
và vừa
I.1.2.4 Các dạng chủ yếu của bệnh tai biến mạch máu não và tỷ lệ của nó[11]
Trang 14PHÂN LOẠI BỆNH 756 trường hợpđột quỵ 179 trường hợp Autoopsy
- Huyết khối vữa xơ động mạch 244 (32%) 21 (12,0%)
- Trạng thái lỗ khuyết 129 (18%) 34 (18,5%)
- Chảy máu tăng huyết áp 84 (11%) 28 (15,5%)
- Vỡ phình mạch và thủ thuật
I.1.3 Hội chứng thần kinh thường gặp trong tai biến mạch máu não (nguyên nhân gây ra di chứng) [10,11]
Những hội chứng thường gặp của các tai biến mạch máu não xảy
ra ở khu vực tưới máu trên lều tiểu não và ở khu vực tưới máu dưới lều
A- Tai biến ở vùng trên lều :
Phần não bộ ở trên lều thì được tưới máu bởi bốn cặp động mạch não trước, não giữa, não sau, mạch mạc trước và từng động mạch một thì lại cho ra những nhánh trung ương và những nhánh võ
1/ Hội chứng của động mạch não trước :
* Nếu tắc một động mạch não trước :
- Liệt và mất cảm giác của chi dưới đối bên, chi trên đối bên có thể bị yếu tại gốc
- Rối loạn cơ vòng
- Mất định danh xúc giác ở nửa người bên trái do tổn thương thể trai
- Rối loạn ngôn ngữ nếu tổn thương ở bên trái
* Nếu tắc cả hai động mạch não trước :
Trang 15- Liệt 2 chi dưới
- Nặng hơn, bệnh nhân có thể rơi vào trạng thái mất khả năng nói và bất động
- Rối loạn trí nhớ
2/ Hội chứng của động mạch não giữa :
* Tắc gốc của động mạch não giữa có thể gây một nhủn não toàn bộ do tắc cả 2 loại nhánh trung ương và vỏ :
- Liệt đồng đều nửa thân đối bên
- Mất cảm giác nửa thân đối bên
- Bán manh đồng danh đối bên
- Mất ngôn ngữ toàn bộ (nếu thương tổn ở bán cầu ưu thế bên
trái)
* Tắc các nhánh trung ương của động mạch não giữa :
- Liệt nặng và đồng đều nửa thân đối bên
- Không có rối loạn cảm giác kèm theo
- Rối loạn vận ngôn nếu thương tổn ở bán cầu ưu thế
* Tắc các nhánh vỏ của động mạch não giữa :
- Liệt và mất cảm giác không đồng đều ở nửa người đối bên, mặt và tay bị nặng hơn chân
- Có thể có bán manh đồng danh đối bên
- Xoay mắt, xoay đầu về bên thương tổn (xoay về bên nửa thân
không bị liệt)
- Nếu tổn thương bán cầu ưu thế bên trái có thể có :
+ Mất ngôn ngữ Broca (tắc nhánh trên) hoặc mất ngôn ngữ wernioke (tắc nhánh dưới)
Trang 16+ Hội chứng Gerstmann (mất khả năng viết và tính toán, mất khả
năng phân biệt bên phải và bên trái, mất nhận thức về các ngón chân, ngón tay)
- Nếu tổn thương bán cầu ưu thế bên phải có thể có :
+ Mất nhận thức về tình trạng bệnh tật của bản thân
+ Mất nhận thức về nửa người bên liệt (bệnh nhân cho rằng chân
tay liệt là của người khác)
+ Mất nhận thức về khoảng không gian bên trái
3/ Hội chứng của động mạch mạch mạc trước :
- Liệt đồng đều nửa thân đối bên (do thương tổn bó tháp, khi
bó này chạy xuống dưới và ra phía sau của nửa sau của cánh tay sau)
- Mất toàn bộ các loại cảm giác ở nửa thân đối bên (do tổn
thương các tia đồi thị trên, vốn nằm ở đoạn đồi vân của cánh tay sau)
- Bán manh đồng danh đối bên (do tổn thương một trong ba
cấu trúc sau đây : Tia thị, thể gối ngoài, dải thị)
Trong thực tế thì tắc động mạch mạch mạc trước cũng có khi:
- Hoặc chỉ cho bệnh cảnh liệt đồng đều ở nửa thân đơn độc
(không có bán manh đồng danh, không có mất cảm giác nửa thân)
- Hoặc cho bệnh cảnh liệt đồng đều nửa thân đơn độc (không
có bán manh đồng danh, không có mất cảm giác nửa thân)
- Hoặc cho bệnh cảnh liệt đồng đều nửa thân có kèm theo một trong hai triệu chứng nêu trên
- Hoặc hoàn toàn im lặng, không bộc lộ triệu chứng trên lâm sàng
4/ Hội chứng của động mạch não sau :
Tùy theo nhánh nào của động mạch não sau bị tắc mà ta có thể gặp một trong những hội chứng sau :
- Hội chứng đồi thị do tác động mạch đồi thị - Thể gối :
Trang 17+ Mất toàn bộ cảm giác nông sâu ở nửa thân người đối bên và về sau có thể xuất hiện thêm triệu chứng tăng cảm giác đau bệnh lý ở nửa thân này
+ Yếu nhẹ nhất thời nửa người đối bên nhưng không có dấu hiệu bệnh lý tháp kèm theo
+ Rối loạn vận động kiểu múa vờn - múa giật thất điều bàn tay + Thường có thêm triệu chứng bán manh đồng danh
- Hội chứng của động mạch thủng của đồi thị thì chủ yếu gồm những rối loạn ngoại tháp như múa vung hay múa vờn nửa thân người, có hay không có mất cảm giác sâu kèm theo, run và thất điều nửa thân người
- Hội chứng vỏ của động mạch não sau :
+ Bán mạch đồng danh đối bên (nếu tắc một động mạch não sau) hoặc mù vỏ não (nếu tắc cả hai bên)
+ Mất khả năng đọc chữ viết, mất định danh (nếu tắc động mạch
não sau ở bán cầu ưu thế)
+ Mất khả năng nhận biết khuôn mặt
B- Tai biến ở vùng dưới lều :
Thân não được tưới máu bởi các động mạch cột sống, động mạch thân nền và động mạch não sau, và trên mặt cắt ngang người ta
phân biệt 3 vùng tưới máu cho từng tầng một của thân não (cuống, cầu
não và hành tủy)
1/ Hội chứng tai biến tại cuống não :
- Nếu thương tổn một bên thì có thể có liệt dây sọ số III cùng
bên và liệt nửa người đối bên (hội chứng Weber), hoặc liệt dây sọ số III
cùng bên và hội chứng tiểu não động trạng đối bên
- Nếu thương tổn cả hai bên, có thể có liệt cử động nhìn liên hợp đọc, có thể có hôn mê và co cứng kiểu mất não
2/ Hội chứng tai biến tại cầu não :
Trang 18- Nếu thương tổn một bên ở vùng tưới máu của các nhánh cạnh đường giữa thì có : Liệt III ngoại biên và liệt VI cùng bên với thương tổn
- Liệt nửa thân người đối bên thương tổn :
Nếu thương tổn ở cả hai bên trong vùng tưới máu của các nhánh cạnh đường giữa, thì bệnh nhân rơi vào bệnh cảnh của hội chứng
bị khóa :
+ Liệt tứ chi
+ Liệt mặt và liệt dây sọ số VI cả hai bên
+ Bệnh nhân tỉnh nhưng không nói được và chỉ có thể liên lạc với xung quanh bằng cử động mắt dọc đứng
- Thương tổn trong khu vực tưới máu của các nhánh chu vi ngắn cho ta triệu chứng :
+ Cùng bên với thương tổn là hội chứng tiểu não
+ Rung giật nhãn cầu và liệt dây thần kinh VII ngoại biên
+ Đối bên với thương tổn là mất cảm giác đau nóng, lạnh nửa thân người, có thể mất chức năng nhìn liên hợp ngang
- Thương tổn do tắc toàn bộ động mạch thân nền, có thể : + Hôn mê
+ Liệt tứ chi
+ Liệt nhiều dây sọ và hội chứng giả hành
3/ Hội chứng tai biến tại vùng hành tủy :
- Hội chứng Wallenberg là do nhủn hành tủy trong vùng tưới máu của các nhánh chu vi ngắn :
+ Cùng bên với thương tổn là mất cảm giác nửa mặt, liệt các dây
IX, X, rung giật nhãn cầu, hội chứng tiểu não và hội chứng Claude - Bernard - Horner
Trang 19+ Đối bên với thương tổn có mất cảm giác nóng, lạnh, đau của nửa thân người
- Trường hợp nhủn hành tủy trong khu vực của các nhánh cạnh đường giữa, thì bệnh nhân bị liệt nửa người đối bên thương tổn
(không có liệt mặt) Mất cảm giác vị trí ngón và cảm giác rung âm thoa
nửa thân người đối bên và liệt dây XII ngoại biên cùng bên thương tổn
4/ Hội chứng tai biến tại tiểu não :
- Đau đầu đột ngột ở vùng chẩm
- Buồn nôn và nôn, mất thăng bằng
- Nói ngọng, kiểu vận ngôn, run giật nhãn cần
- Triệu chứng tiểu não động trạng ở một bên
C- Những điểm cần nhớ trong thực hành :
1/ Liệt nửa người đồng đều, nặng nề, kèm hôn mê sớm trong vài ngày đầu, nghĩ nhiều đến một xuất huyết não hoặc tắc toàn bộ động mạch cảnh trong có phù não nặng
2/ Liệt nửa người không đồng đều, nghĩ đến thương tổn ở vỏ
não :
a) Nếu tay và mặt bị nặng hơn chân, gợi ý tai biến ở nhánh vỏ của động mạch não giữa
b) Nếu chân bị liệt nặng hơn, gợi ý tai biến ở vùng tưới máu của
động mạch não trước
3/ Liệt nặng nề nửa thân người kèm mất cảm giác nửa thân, bán manh đồng danh gợi ý tai biến của :
a) Nhủn não rộng do tắc toàn bộ động mạch não giữa
b) Xuất huyết sâu do vỡ động mạch đậu vân
c) Nhủn não do tắc động mạch mạch mạc trước
4/ Liệt đồng đều nửa người đơn độc, gợi ý thương tổn ở bao trong, thường là bệnh cảnh của tắc các nhánh trung tâm của động mạch
Trang 205/ Yếu nửa thân người kín đáo không có dấu hiệu bệnh lý tháp, rối loạn trầm trọng cảm giác nửa thân người, nghĩ nhiều tới thương tổn vùng đồi thị
6/ Liệt nửa người, liệt một hay nhiều dây sọ phía đối bên liệt là đặc thù của thương tổn tại thân não
7/ Mất ngôn ngữ (Broca, Wernicke), gợi ý thương tổn vỏ, dưới
vỏ ở bán cầu ưu thế, trường hợp bán cầu không ưu thế - bệnh nhân không nhận biết được nửa bên bị liệt, không nhận biết về trạng thái bệnh tật của mình
I.1.4 Chẩn đoán và điều trị tai biến mạch máu não theo y học hiện đại
I.1.4.1 Chẩn đoán :
a) Phân loại : Có 2 loại :
- Thiếu máu não cục bộ (nhũn não)
- Xuất huyết não
b) Sơ đồ chẩn đoán tai biến mạch máu não và nguyên nhân (Hội đột quỵ thế giới công bố tháng 2/1994)
Xem sơ đồ ở trang tiếp theo
Trang 21SƠ ĐỒ CHẨN ĐOÁN TAI BIÉN MẠCH MÁU NÃO
(Hội đột quỵ thế giới công bố tháng 2/1994)
ĐỘT NGỘT XUẤT HIỆN TRIỆU CHỨNG
THẦN KINH KHU TRÚ
95% DO MẠCH MÁU 5% KHÔNG DO MẠCH MÁU
15% XUẤT HUYẾT 85% TMCT
- Cơn động kinh -U
-Mất MyClin -Tâm lý
- Xuất huyết trong não
- Xuất huyết dưới màng nhệnh
- Xuất huyết dưới màng cứng
- Xuất huyết ngoài màng cứng
BỆNH XƠ CỨNG
MẠCH MÁU NÃO
ĐỘNG MẠCH XUYÊN (HỐC)
- Tắc động mạch xuyên <0,2mm
- d hốc não < 1,5mm
- Rung nhì -Bệnh van tim -Huyết khối van -Bệnh khác
- Bóc tách -Viêm động mạch -Đau ½ đầu -Dị dạng mạch máu
Lưới máu Tắc động mạch
Trang 22c) Chia độ liệt : Di chứng thường xảy ra sau khi bị TBMMN là các thể liệt Theo MRC (Medical Research Council), tình trạng liệt được chia theo các cấp độ sau :
* Đánh giá tình trạng liệt
• Vận động : theo MRC
- Yếu vừa, giảm 25% sức cơ (liệt độ 1) 4 điểm
(hoạt động được nhưng yếu khi đối kháng)
- Yếu trung bình, giảm 50% sức cơ (liệt độ 2) 3 điểm (Co duỗi, vận động được nhưng không cầm được đồ vật)
- Yếu nặng, giảm 75% sức cơ (liệt độ 3) 2 điểm
- Cử động nhẹ khi kích thích (liệt độ 4) 1 điểm
• Ngôn ngữ :
- Nói rõ, nói cả câu dễ dàng 5 điểm
- Nói ngọng, nói khó, nói lắp 2 điểm
• Tri thức:
- Hỏi trả lời , đáp ứng chậm 2 điểm
I.1.4.2 Tiến trình chẩn đoán [12]:
Theo tiêu chuẩn chẩn đoán sau, dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
a Thiếu máu não cục bộ (nhũn não) :
Triệu chứng lâm sàng :
Trang 23+ Xảy đến theo diễn tiến từng nấc một, đôi khi có cơn thoáng thiếu máu não xảy ra trước đó
+ Có tiếng thổi dọc theo các động mạch của cổ
+ Không có bệnh tim gây thuyên tắc
• Tiêu chuẩn phụ : + Tuổi trên 55
+ Cao huyết áp + Tai biến xảy đến trong đêm + Liệt trên một phạm vi rộng lớn nhưng không có rối loạn tri giác
+ Có dấu hiệu xơ mỡ mạch vành hoặc các mạch ở chi dưới + Có tăng lipid máu, có đái tháo đường
b Xuất huyết não :
Triệu chứng lâm sàng :
+ Tai biến xảy đến nhanh chóng không theo kiểu từng nấc + Rất hay gặp triệu chứng rối loạn tri giác – ý thức và nhức đầu (50% các trường hợp) và các cơn co giật (10%)
+ Có tiền sử cao huyết áp + Có dấu hiệu màng não + CT scanner sớm vẫn là yếu tố chẩn đoán xác định duy nhất
Cận lâm sàng : hỗ trợ cho chẩn đoán tai biến mạch máu não [13]
Nhập viện : Chụp cắt lớp không tiêm cản quang trong 24 giờ
đầu để loại trừ chảy máu
Trang 24Xét nghiệm tìm nguyên nhân :
- Xét nghiệm về máu chảy, máu đông
- Tim :
+ Điện tâm đồ để phát hiện rối loạn nhịp
+ Echo tim để phát hiện bệnh lý van tim
+ Holter để phát hiện rối loạn nhịp kịch phát
- Mạch :
+ Siêu âm Doppler để phát hiện hẹp, tắc hoặc xơ vữa
+ Chụp động mạch (ở người yếu, thể trạng xấu)
+ Doppler xuyên sọ (ở người yếu, thể trạng xấu)
- Chụp động mạch cấp cứu nếu nghi ngờ bệnh lý động mạch
(phình, bóc tách, )
- Xét nghiệm miễn dịch
- Xét nghiệm men
Trang 25BIỂU HIỆN LÂM SÀNG THIẾU MÁU CỤC BỘ XUẤT HUYẾT
- Khu vực hệ cảnh
- Khu vực sống nền
- Không rõ
- Thường lan tỏa ưu thế một bên
4.Dấu hiệu màng não - Không - Hay gặp
6.Dấu toàn thân - Không sốt - Sốt
- BC
I.1.4.3 Điều trị
Nguyên tắc cơ bản là xử lý đúng trong giai đoạn cấp tính nhất là khi có hôn mê Dù chảy máu hay nhũn não cũng là tai biến mạch máu não nên đều cũng có thể áp dụng một số biện pháp tương tự như : tích cực chống phù não, đảm bảo thông khí, dinh dưỡng, chống loét, chống bội nhiễm Khi biết thật chính xác nguyên nhân có thể dùng thuốc chống đông trong tắc mạch não do bệnh hẹp van 2 lá, loạn nhịp hoàn toàn, dùng thuốc hạ áp cho những bệnh nhân trẻ tuổi bị cơn tăng huyết áp, phẫu thuật u mạch hoặc bọc máu tụ, giãn mạch não cho những bệnh nhân nhũn não do xơ vữa động mạch có tiền sử thiểu năng tuần hoàn não rõ rệt Đi đôi với các phương pháp trên cần chú ý đến phương pháp phục hồi chức năng vận động trong những giai đoạn cấp cũng như lâu dài sau này hạn chế sự tàn phế đến mức thấp nhất
Trang 26I.2 THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN [15]
I.2.1 Quan niệm
Theo Đông y, tai biến mạch máu não thuộc chứng Trúng phong Trong Y kinh Hồi tập nói : “Có người thốt nhiên ngã lăn ra cứng đờ, hoặc một bên bị liệt không cử động được, hoặc chân tay không co lại được, hoặc mê không biết gì, hoặc chết hoặc không chết, thông thường gọi đó là Trúng phong”
I.2.2 Nguyên nhân gây bệnh
Chủ yếu là nội phong: đàm hóa hỏa sinh phong
- Ảnh hưởng khí hậu : Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa
- Sinh hoạt mất bình thường : Uống rượu nhiều, ăn nhiều đồ
ngon béo hoặc dâm dục quá độ
- Tinh thần bị kích thích : Thất tình quá độ, quá mừng, quá
giận, tinh thần bỗng nhiên gặp phải sự kích thích hoặc luôn bị căng thẳng làm cho khí huyết âm dương trong người bị rối loạn mất thăng bằng
Những nhân tố trên, thực tế vốn không phải đơn độc mà gây nên bệnh, thường làm nhân quả lẫn nhau, trong đó thì sự kích thích và căng thẳng của tinh thần là nhân tố quyết định gây bệnh, chẳng qua vì thể chất người ta khác nhau, đối với sự phản ứng kích thích từ ngoài vào cũng không giống nhau, vì thế mà triệu chứng thể hiện cũng có nặng nhẹ khác nhau Người xưa căn cứ vào chứng hậu khác nhau biểu hiện
trên lâm sàng, mà chia nguyên nhân bệnh ra : Ngoại phong (tức là chân
trúng phong) và Nội phong (tức là loại Trúng phong) Về chứng hậu chia
ra : Trúng kinh, trúng lạc, trúng tạng, trúng phủ Ranh giới giữa trúng phủ và trúng tạng rất khó mà phân biệt chẩn đoán
I.2.3 Bệnh sinh theo y học cổ truyền [23]:
Tai biến mạch máu não biểu hiện trên lâm sàng rất phong phú dưới nhiều dạng khác nhau từ những triệu chứng không đặc hiệu
Trang 27như hoa mắt, chóng mặt, cảm giác tê ở một phần cơ thể cho đến hôn mê, liệt nữa người vì thế việc mô tả toàn bộ các thể lâm sàng y học cổ truyền của tai biến mạch máu não không thật sự dễ dàng có thể thấy xuất hiện những thể lâm sàng sau đây :
I.2.3.1 Trong đợt tai biến mạch máu não :
a Trúng lạc (trúng phong ở lạc):
- Bệnh nhân đột ngột ghi nhận da tê dại kèm các chứng đầu váng, đau, hoa mắt Triệu chứng này có thể thóang qua rồi biến mất hoặc kéo dài
b Trúng kinh (trúng phong ở kinh lạc):
Do cảm phải gió độc tà khí ở ngoài, phong đàm thừa cơ tấu lý xâm nhập vào kinh lạc
c Trúng tạng :
Là bệnh đã vào sâu bên trong ngũ tạng, bệnh nhân đột nhiên ngã lăn ra mê man bất tỉnh, chia làm 2 thể bế chứng và thoát chứng :
Trang 28- Bế chứng (thực chứng) : Gồm Hàn bế và Nhiệt bế :
+ Hàn bế :
Do đàm trọïc thượng nghịch đi lên làm nghẽn tâm khiếu
Triệu chứng : Hôn mê, á khẩu, sắc mặt trắng nhạt, môi tím, tứ chi lạnh, đàm nhiều, rêu lưỡi trắng nhầy, mạch trầm hoạt
+ Nhiệt bế :
Do dương khí thịnh quá đi ngược lên làm bế tắc tâm thần Triệu chứng : Đột nhiên ngã lăn ra không còn ý thức, bất tỉnh nhân sự, hàm răng cắn chặt, tay nắm chặt, mặt đỏ, thở ồn ào, khò khè, đại tiểu tiện bí kết, lưỡi rút lại, rêu vàng dày, mạch huyền hoạt
- Thoát chứng (hư chứng):
Bệnh thuộc ở tạng tâm và thận, do khí âm thương tổn không đưa lên được, khí dương thì quá vượng, không kéo xuống được làm cho âm dương bất túc
Triệu chứng : Bệnh nhân đột nhiên ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự, hôn mê rất sâu, mắt nhắm, mồm há, hô hấp yếu, chân tay lạnh, 2 bàn tay xòe ra, đái són và mồ hôi đọng từng giọt hoặc nhờn như dầu, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng trơn, mạch vi tuyệt
Những triệu chứng thường gặp trong tai biến mạch máu não như đột ngột té ngã hôn mê, liệt nữa người, liệt mặt hoặc có khi chỉ là một tình trạng hoa mắt, chóng mặt,… những biểu hiện nói trên được thấy trong:
• Đột ngột té ngã hôn mê : Y học cổ truyền xếp vào chứng Thiên phong, trúng phong
• Hoa mắt, chóng mặt : Y học cổ truyền xếp vào chứng Huyễn vựng
• Bán thân bất toại, khẩu nhãn oa tà : Y học cổ truyền xếp vào chứng Nuy
Trang 29• Tê tay chân : Y học cổ truyền xếp vào chứng Ma mộc (khí huyết tắt kinh lạc) có thể do ngoại tà hoặc đờm thấp
Nguyên nhân của bệnh lý này theo Y học cổ truyền có thể là :
• Do ngoại nhân chủ yếu là phải hóa nhiệt và sinh phong
• Do thất tình (nội nhân) như : giận, lo sợ gây tổn thương
3 tạng Tỳ, Can, Thận
• Do mắc bệnh lâu ngày (nội thương ) làm cơ thể suy yếu, Thận âm, thận dương suy Thận âm suy hư hỏa bốc lên, thận dương suy chân dương nhiễu loạn ở trên
• Do yếu tố di truyền hoặc dị dạng bẩm sinh (Tiên thiên bất túc)
• Do ăn uống không đúng cách sinh đàm thấp, làm tắt trở kinh lạc
• Do chấn thương gây huyết ứ tắt, kinh lạc không thông
Trang 30SƠ ĐỒ BỆNH LÝ TBMMN THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN [23]
NGOẠI NHÂN
(Nhiệt - phong)
TIÊN THIÊN BẤT TÚC
THẤT TÌNH
(Giận, lo sợ, stress)
BỆNH LÂU NGÀY
THỂ CHẤT YẾU
ĂN UỐNG KHÔNG ĐÚNG CÁCH
Thận dương
hư Thận âm hư Can âmhư Tỳ hư
CHẤN THƯƠNG
Hư hỏa bốc lên Đờm thấp Huyết ứ
Thiên phong – Nuy chứng – Ma mộc
Huyễn vựng
Trang 31I.2.3.2 Giai đoạn sau tai biến mạch máu não – di chứng của tai biến mạch máu não
Ở giai đoạn này có 2 loại di chứng cần được quan tâm : Đó là
di chứng thần kinh (chủ yếu là vận động) và tâm thần Do bệnh trở thành mạn tính và ảnh hưởng nhiều đến can và thận nên triệu chứng y học cổ truyền trong giai đoạn này chủ yếu gồm ; cân nuy, cốt nuy, kiện vong (do tinh của thận không đủ nuôi tâm) Những bệnh cảnh lâm sàng thường xuất hiện là :
a Can thận âm hư (chiếm đa số các trường hợp) :
• Sắc mặt sạm, mặt má thường ửng hồng
• Răng khô, móng khô, gân gồng cứng co rút lại
• Đau nơi eo lưng, tiểu đêm, tiêu bón, ngủ kém
• Thường nóng trong người dễ bực dọc, bứt rứt
• Lưởi đỏ, bệu Mạch trầm sác vô lực
b Thận âm dương lưỡng hư :
• Sắc mặt tái xanh hoặc đen sạm
• Răng khô, móng khô, gân gồng cứng co rút lại
• Đau nơi eo lưng, tiểu đêm, ngủ kém
• Không khát, ít uống nước, sợ lạnh
• Lưởi nhợt bệu, mạch trầm nhược
c Đờm thấp (bệnh nhân béo bệu)
• Người béo thừa cân lưỡi dày to
• Bệnh nhân thường ít than phiền về triệu chứng đau đầu (nếu có thường là cảm giác nặng đầu) nhưng dễ than phiền về tê nặng các chi
Trang 32• Thường hay kèm tăng Cholesterol máu Mạch hoạt
II TỔNG QUAN VỀ THIẾT BỊ QUANG CHÂM BẰNG LASER
BÁN DẪN CÔNG SUẤT THẤP LOẠI 10 ĐẦU CHÂM
II.1 Tổng quan về phương pháp quang châm bằng laser bán dẫn
II.1.1 Sơ lược về ứng dụng của Laser trong y học
Nguyên tắc làm việc của Laser dựa trên hiện tượng khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ cưỡng bức (LASER - Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation) do nhà vật lý thiên tài Einstein đề ra từ năm 1917 Đó một thiết bị tạo ra nguồn sáng đơn sắc nhân tạo với tính chất đặc biệt mà những nguồn sáng tự nhiên cũng như nhân tạo trước đó không thể nào có được Đó là độ đơn sắc cao, độ định hướng lý tưởng, tính kết hợp cao, khả năng tập trung năng lượng lớn…
*Độ định hướng lý tưởng: Tia Laser phát ra hầu như dưới dạng chùm
sáng song song Tuy nhiên do ảnh hưởng nhiễu xạ ở các biên chùm tia, tia Laser phát ra dưới một góc nhất định Góc phát xạ của chùm tia Laser có thể đạt giá trị nhỏ vào cỡ vài phút góc (1 độ góc = 60 phút góc) có trường hợp chỉ vài giây góc Nhờ thế Laser có thể chiếu đi được xa, phục vụ việc đo, định hướng chính xác
* Tính đơn sắc cao: Độ đơn sắc của một nguồn sáng được hiểu là chùm
sáng có một màu và khả năng tập trung vào màu đó Với khái niệm đó, Laser là nguồn sáng đơn sắc đặc trưng mà không nguồn sáng nào khác có thể so sánh được
* Tính kết hợp cao: Tính kết hợp của ánh sáng được hiểu là sự hoạt
động nhịp nhàng của các photon trong chùm sáng ấy Độ nhịp nhàng càng cao thì tính kết hợp càng cao, ngược lại nêu photon hoạt động một cách hỗn loạn thì tính kết hợp bằng không Do tia Laser sinh ra do
Trang 33phát xạ cưỡng bức, các photon trong chùm tia Laser giống hệt nhau Nếu xem ánh sáng có bản chất sóng, tính kết hợp của Laser được thể hiện qua sự công hưởng có các sóng dao động cùng biên độ và cùng pha
Công suất phát xạ lớn: Công suất phát xạ của Laser thay đổi tùy thuộc vào từng loại Laser cụ thể Có những loại Laser làm việc ở chế độ xung công suất đạt cỡ (1-100) triệu KW như Laser thủy tinh Nd, Laser làm việc ở chế độ liên tục có công suất phát xạ đến 1000KW
Laser có thể làm việc ở hai chế độ: xung và liên tục
Cho đến nay, những ứng dụng của Laser đã tạo ra hoặc góp phần tạo ra những thành tựu cực kỳ to lớn của nền khoa học hiện đại ngày nay Lĩnh vực mà Laser được ứng dụng rất phong phú, từ các ngành kỹ thuật (cơ khí, viễn thông, đo lường, kỹ thuật hạt nhân…) cho đến sự góp mặt đắc lực của Laser trong y sinh học, đặc biệt trong y học ngoại khoa
Ứng dụng của Laser trong y học đã hình thành ngay từ những ngày đầu ra đời của chiếc Laser hồng ngọc đầu tiên Tuy nhiên chỉ có những năm gần đây, khi sợi quang học mềm ra đời, Laser mới thật sự đóng vai trò quan trọng trong y học Cùng với sợi quang học mềm, sự tìm kiếm các chất nhạy cảm quang (PDT) với bước sóng nhất điïnh đã mở ra một tiềm năng to lớn cho việc ứng dụng Laser trong y học
Thực tế trên thế giới đã hình thành một ngành y học mới- ngành
y học Laser với chức năng nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật Laser phục vụ cho việc chẩn đoán và điều trị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc chăm sóc sức khỏe cho con người
Trong y học, Laser được nghiên cứu ứng dụng theo hai hướng sau đây:
• Sử dụng Laser như một công cụ dùng để nghiên cứu đối tượng sinh học phục vụ cho việc chẩn đoán
Trang 34• Sử dụng Laser như một công cụ dùng để điều trị Hướng này phát triển rất nhanh, đa dạng và được chia thành hai nhóm:
- Nhóm thứ nhất: Sử dụng Laser công suất lớn trong điều trị
Các ứng dụng thuộc nhóm này xuất hiện rất sớm, cơ bản dựa vào hiệu ứng bốc bay hơi tổ chức, hiệu ứng quang đông, hiệu ứng quang bóc lớp… để thực hiện các thủ thuật ngoại khoa khác nhau
- Nhóm thứ hai: Sử dụng Laser công suất thấp trong điều trị
Các ứng dụng thuộc nhóm này trong thời gian gần đây phát triển khá nhanh dựa trên kết quả nghiên cứu cơ bản của hiệu ứng kích thích sinh học, hiệu ứng quang hóa, quang sinh… để kích thích các quá trình trao đổi chất, tăng cường hoạt động hệ miễn dịch, nâng cao sức đề kháng các tổ chức sinh học
II.1.2 Giới thiệu phương pháp Quang châm bằng laser bán dẫn
Phương pháp “Quang châm bằng Laser bán dẫn” là một sự kết hợp hài hòa giữa y học cổ truyền đông phương và thành tựu khoa học hiện đại Từ lâu châm cứu cổ truyền đã đóng một vai trò quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ sức khỏe cộng đồng và là phương pháp điều trị không dùng thuốc có hiệu quả cao trong điều trị nhiều chứng và bệnh mà Tây y gặp khó khăn Trong tinh thần hiện đại hóa nền y học cổ truyền đó, phòng thí nghiệm “Kỹ thuật Laser” trường Đại học Kỹ thuật, nay là phòng thí nghiệm Công nghệ Laser trường Đại học Bách khoa tp HCM đã đề xướng dùng tia Laser bán dẫn công suất thấp thay thế cho kim châm và từ năm 1988 đã chế tạo ra thiết bị quang châm đầu tiên, bước đầu thử nghiệm thành công trên thỏ và sau đó, đã kết hợp cùng một số cơ sở điều trị nghiên cứu: những kết quả ban đầu trong những năm đầu của thập niên 90 thật sự đã chứng minh hiệu quả cao của thiết
bị và phương pháp “Quang châm bằng Laser bán dẫn” ra đời từ đó !
Trang 35Thiết bị quang châm bằng Laser bán dẫn do phòng thí nghiệm Công nghệ Laser Trường Đại Học Bách khoa tp.HCM chế tạo có những tính chất đặc trưng riêng, được thể hiện qua các điểm sau đây:
a) Nguyên tắc làm việc của thiết bị quang châm bằng Laser bán dẫn được dựa trên các nguyên lý cơ bản của châm cứu cổ truyền phương Đông Điều này thể hiện qua:
i Quang châm bằng Laser bán dẫn được hiện trên cơ sở lý thuyết Kinh – Lạc – Huyệt của Y học phương Đông
Điều trị theo phương pháp quang châm bằng Laser bán dẫn giống như phương pháp châm cổ điển ở chỗ lấy huyệt làm vị trí cơ bản để tác động lên cơ thể, đồng thời vận dụng triệt để những quy luật của châm cứu trong việc chọn huyệt và phối hợp huyệt để điều trị Tuy quang châm bằng Laser bán dẫn ngoài việc sử dụng huyệt để điều trị còn tận dụng tác động sinh học tích cực của ánh sáng đơn sắc để nâng cao hiệu quả chữa trị Trong những năm gần đây phòng thí nghiệm Công nghệ Laser đã tiến hành khảo sát một cách hệ thống về tương tác của tia Laser bán dẫn làm việc ở dãy sóng hồng ngoại lên cơ thể sống trên hai mặt lý thuyết và thực nghiệm và thu được nhiều kết quả thú vị Trên cơ sở nguyên tắc đó, quang châm bằng Laser bán dẫn đã thực hiện được phương châm kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại
ii Phối hợp huyệt trong điều trị
Phương pháp quang châm bằng Laser bán dẫn đã tận dụng triệt để và hoàn hảo quy luật phối huyệt trong châm cứu trên hai mặt:
- Không gian: tác động lên nhiều huyệt ở các vị trí khác nhau trên cơ
thể để cùng làm một nhiệm vụ là điều trị một bệnh cụ thể nào đó
- Thời gian: sự tác động trên được tiến hành cùng một lúc hoặc theo
một thời biểu nào đó để tạo ra sự cộng hưởng tối ưu trong điều trị
Trang 36iii Phối hợp các thủ pháp châm cứu
Phương pháp quang châm bằng Laser bán dẫn có thể thực hiện hoặc phối hợp các phép châm như: bổ, tả, bình bổ, bình tả,… một cách hoàn hảo thông qua các thông số:
- Tần số điều biến chùm tia
- Công suất phát xạ
- Thời gian điều trị
của các đầu châm Các đầu châm này hoàn toàn giống nhau về: Công suất phát xạ, tần số điều biến và góc phát xạ Nhưng giữa chúng có sự độc lập đối với nhau Điều này có nghĩa: đối với đầu châm thứ nhất có thể thực hiện châm bổ; trong khi ấy có thể thực hiện châm tả đối với đầu châm thứ hai
Như chúng ta đã biết, y thuật châm cứu phương Đông rất chú trọng đến thao tác kích thích huyệt vị, nhằm đạt được sự điều hòa khí huyết và sơ thông kinh lạc để chữa bệnh mà thuật ngữ chuyên môn gọi là: bổ pháp – tả pháp
Trong châm cứu cổ truyền bằng kim:
• Bổ pháp là phương pháp châm với liều lượng kích thích nhẹ nhàng, êm ái và từ từ nhằm mục đích tăng cường bồi bổ chính khí
• Tả pháp là phương pháp châm với liều lượng kích thích mạnh nhanh, nhằm xua đuổi tà khí
Dựa vào các quy ước vừa nêu ở trên, các phương pháp bổ tả trong quang châm bằng Laser bán dẫn được thực hiện bằng cách thay đổi 3 thông số sau đây: công suất phát xạ, tần số điều biến và thời gian điều trị Cụ thể như sau:
Trang 37Công suất phát xạ Tần số điều biến Thời gian điều trị
Quang châm
thuần bổ
Từ thấp đến trung bình
Từ cao hạ về trung bình
(20-30)phút
Quang châm
thuần tả
Từ trung bình đến cao
Từ trung bình hạ về thấp
(15-20)phút
Quang châm
bình bổ bình tả
Quy ước: Thấp (1,2,3,4) – trung bình (5,6) – cao (7,8,9,10)
iv Khái niệm đắc khí trong quang châm
Khi thực hiện quang châm bằng Laser bán dẫn, đầu châm được đặt trên bề mặt da mà nơi đấy phía dưới có huyệt cần châm Chùm tia Laser bao giờ cũng bao trùm huyệt cần châm Khi trục quang học đầu châm trùng với huyệt cần châm thì huyệt nhận được công suất phát xạ của Laser lớn nhất
Như chúng ta đã biết ATP là phân tử cung cấp năng lượng cho hầu như mọi phản ứng sinh hóa trong tế bào
Kết quả nghiên cứu ở [27] cho thấy đã tính toán thu được lượng phân tử ATP có thể tổng hợp được khi chiếu tia Laser mô sống (cụ thể là huyệt cần châm tức là nơi có hoạt tính chuyển đổi cao)
Những điều trình bày trên đây chính là khái niệm đắc khí trong quang châm bằng Laser bán dẫn
Mặt khác, kết quả tính toán cũng cho thấy: hàm lượng ATP do bước sóng 940nm tổng hợp nên lớn hơn nhiều lần so với bước sóng 630nm Điều này là cơ sở cho sự khác biệt quan trọng giữa quang châm
Trang 38bằng Laser bán dẫn với Laser châm bằng laser khí He-Ne làm việc ở bước sóng 630nm
Những điều trình bày ở các phần trên đây chính là những điểm tương đồng của phương pháp quang châm bằng Laser bán dẫn với phương pháp châm cứu truyền thống phương Đông
b) Hiệu ứng kích thích sinh học của tia Laser bán dẫn
Khi tia Laser có công suất thấp tác động lên huyệt với một công suất trong khoảng (10-4 - 100) W/cm2 với thời gian chiếu từ 10 giây đến hàng chục phút, hiệu ứng kích thích sinh học sẽ xảy ra thông qua hàng loạt phản ứng quang sinh và quang hóa
Hiệu ứng kích thích sinh học của Laser bán dẫn làm việc ở dãy sóng hồng ngoại gần đã được phòng thí nghiệm Công nghệ Laser khảo sát bằng thực nghiệm và bằng lý thuyết và bước đầu đã thu được một số kết quả quan trọng [26] Trên cơ sở đó, Ta có thể rút ra kết luận, tia Laser bán dẫn làm việc ở dãy sóng hồng ngoại gần đóng vai trò điều hòa chức năng của cơ thể ở mức độ tế bào, mức độ mô và tổng thể toàn bộ thể trạng Nói chung tác dụng đó có ý nghĩa tích cực đối với các hệ cơ quan Đây chính là điểm ưu việt cơ bản của quang châm bằng Laser bán dẫn so với châm cứu truyền thống
Ở đây cần nhấn mạnh trở lại, khi thực hiện quang châm bằng
Laser bán dẫn, hai quá trình : tác dụng điều trị của huyệt và hiệu ứng
kích thích sinh học xảy ra đồng thời Đó chính là ưu thế của quang châm
nhằm nâng cao hiệu quả điều trị
Trang 39c) Tác dụng kim quang học trong quang châm bằng Laser bán dẫn
Trong thiết bị quang châm bằng Laser bán dẫn do phòng thí nghiệm “công nghệ Laser” chế tạo, Laser bán dẫn làm việc ở bước sóng 940nm
Kết quả tính toán bằng lý thuyết và bằng thực nghiệm [26] cho thấy, bước sóng 940nm có độ xuyên sâu vào cơ thể tốt nhất điều này kết hợp với kỹ thuật điều biến và tự thay đổi công suất phát xạ, độ xuyên sâu của bước sóng 940nm vào cơ thể có thể đạt được (4-6)cm
Trên thực tế, bước sóng 940nm của Laser bán dẫn thực hiện tốt các vấn đề sau :
- Đáp ứng tốt các độ nông sâu khác nhau của huyệt trên thân người
- Thực hiện hoàn hảo các cú pháp châm : bổ, tả, bình bổ, bình tả, …
II.2 Đặc điểm về kỹ thuật của thiết bị quang châm bằng Laser bán dẫn loại 10 đầu châm
II.2.1 Tính năng
Thiết bị này dùng để điều trị theo phương pháp quang châm bằng laser bán dẫn Thiết bị quang châm bằng laser bán dẫn loại mười đầu châm mang lại hiệu quả cao trong điều trị các chứng và bệnh sau đây :
• Liệt nửa người do tai biến mạch máu não
• Đau vùng thắt lưng do vôi hóa - thoái hóa - gai ở nhiều đốt sống lưng phần dưới
v.v…
Hình dáng thiết bị quang châm bằng laser bán dẫn loại mười đầu châm được trình bày ở hình sau:
Trang 40II.2.2 Đặc điểm kỹ thuật
• Đầu châm là laser bán dẫn làm việc ở bước sóng 940 nm Bước sóng này là tối ưu đáp ứng khả năng đạt đến độ sâu của các huyệt trên cơ thể người
• Công suất phát xạ của laser có thể thay đổi từ 0 đến 12 mV
• Tần số điều biến có thể thay đổi từ 5 Hz đến 100 Hz
• Có bộ phận kiểm tra sự hoạt động của thiết bị (đèn tín hiệu) và đầu châm (TEST)
• Bán kính của chùm tia tại bề mặt da : (1,5 - 3) mm
• Bộ phận định thời gian phục vụ cho điều trị (5, 10, 15, 20, 25 và
30 phút hiện bằng số) Sau khi kết thúc thời gian điều trị, thiết bị tự động ngắt nguồn cung cấp cho laser; đồng thời có tiếng nhạc báo cho người điều trị biết thời gian điều trị đã kết thúc
• Điện thế cung cấp cho thiết bị:
AC - 220 V / (50 - 60) Hz ; DC - 12V (ắc quy)
• Kích thước của máy : (480 x 330 x 120) mm
• Trọng lượng của máy : 4,0 kg