Trong Tư pháp quốc tế, khi một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh, Tòa án của các nước có liên quan đều có thể có thẩm quyền giải quyết. Vì vậy, việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong trường hợp này là rất quan trọng. Trước khi có Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015), trường hợp giới hạn thẩm quyền của Tòa án đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài chưa được quy định một cách hệ thống. Với BLTTDS 2015, chúng ta đã có những quy định khá đầy đủ về các trường hợp giới hạn thẩm quyền của Tòa án đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, khi so sánh với các quốc gia khác trên thế giới thì vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề, sau đây nhóm em xin chọn đề tài: “Bình luận về quy định xác định thẩm quyền xét xử của tòa án Việt Nam trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” để tìm hiểu và làm rõ.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong Tư pháp quốc tế, khi một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh, Tòa án của các nước có liên quan đều có thể có thẩm quyền giải quyết Vì vậy, việc xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia trong trường hợp này là rất quan trọng Trước khi có Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015), trường hợp giới hạn thẩm quyền của Tòa án đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài chưa được quy định một cách hệ thống Với BLTTDS 2015, chúng ta đã có những quy định khá đầy đủ về các trường hợp giới hạn thẩm quyền của Tòa án đối với vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, khi so sánh với các quốc gia khác trên thế giới thì vẫn tồn tại những hạn chế nhất định Nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề, sau đây
nhóm em xin chọn đề tài: “Bình luận về quy định xác định thẩm quyền xét xử của tòa án Việt Nam trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015” để tìm hiểu và
làm rõ
NỘI DUNG
I Những vấn đề lý luận chung trong việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
1 Một số khái niệm liên quan
1.1.Thẩm quyền xét xử của toà án nhân dân
Thẩm quyền dân sự của tòa án là quyền xem xét, giải quyết các vụ việc: hôn nhân và gia đình, lao động… và quyền ra các quyết định khi xem xét giải quyết các vụ việc đó theo thủ tục Tố tụng dân sự của tòa án
Việc xác định một cách khoa học và hợp lý thẩm quyền dân sự của Tòa
án tránh được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ quan nhà nước giữa các Tòa án với nhau và xác định các điều kiện cần thiết bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình
1.2.Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế
Trang 2Thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là thẩm quyền của Tòa án tư pháp của một nước nhất định đổi với việc xét xử các vụ án dân sự quốc tế cụ thể Thẩm quyền này của Tòa án phụ thuộc vào quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên về vấn đề này và pháp luật tố tụng dân sự của quốc gia đó Nhìn chung, thẩm quyền xét xử vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài của Tòa án chia thành: thẩm quyền xét xử chung và thẩm quyền xét xử riêng biệt
1.3 Quy tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế
Xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế là xác định thẩm quyền của tòa án một nước khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Để xác định thẩm quyền xét xử dân sự quốc tế của Tòa án Việt Nam trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cần phải dựa trên quy tắc:
Thứ nhất,Tòa án Việt Nam có thể căn cứ vào các quy định trong ĐƯQT.Căn cứ vào Khoản 3 Điều 2 Bộ luật TTDS 2015 quy định: “Bộ luật tố tụng dân sự được áp dụng đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa làm thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế” Ví
dụ như các Hiệp định tương trợ tư pháp về các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình giữa Việt Nam và các nước; hiệp định thương mại,…để xác định thẩm quyền Thứ hai, trong trường hợp không có điều ước quốc tế về xác định
thẩm quyền hoặc có điều ước quốc tế mà không có quy định về thẩm quyền
thì tòa án Việt Nam căn cứ vào các dấu hiệu xác định thẩm quyền trong hệ thống văn bản pháp luật trong nước để xem xét thẩm quyền của mình Việc
xác định thẩm quyền được chia thành hai loại thẩm quyền chung (Điều 469
Bộ luật tố tụng dân sự 2015) và thẩm quyền riêng (Điều 470 Bộ luật tố tụng dân sự 2015)
II Quy định của pháp luật về xác định thẩm quyền xét xử của Tòa
án Việt Nam trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Trang 31.Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được xác định thuộc thẩm quyền chung của Tòa án của một quốc gia khi vụ việc đó có bất kỳ một “yếu
tố liên quan” hay “mối liên hệ mật thiết” đến quốc gia đó Đặc điểm của loại thẩm quyền chung là: một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam thì cũng có thể thuộc thẩm quyền của Tòa
án nước ngoài liên quan Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 469 BLTTDS 2015 Theo đó, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
Thứ nhất, bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt
Nam (Điểm a Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015) Đây là trường hợp thẩm quyền của Tòa án được xác định theo dấu hiệu lãnh thổ, sử dụng nguyên tắc
“nơi cư trú của bị đơn” để làm căn cứ Đây là nguyên tắc khá phổ biến được
áp dụng trong pháp luật các quốc gia trên thế giới Nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử theo nơi cư trú của bị đơn mang tính uyển chuyển hơn nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử theo quốc tịch, hướng đến sự thuận lợi cho sự thực thi quá trình tố tụng cũng như khả năng thực thi bản án được tuyên, tiến tới việc đảm bảo quyền lợi của các đương sự trong vụ việc dân sự được giải quyết cách thuận lợi hơn, tuy nhiên nó cũng hạn chế quyền xét xử của quốc gia đó
Thứ hai, Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn
là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện ở Việt Nam đối với các
vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam (Điểm b Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015) Thay vì bị đơn là cơ quan, tổ chức nước ngoài có “trụ sở chính” tại Việt Nam như một điều kiện ràng buộc của BLTTDS 2004, Khoản 1 Điều 469 BLTTDS
2015 quy định rõ bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam, sự thay đổi này giúp người khởi kiện dễ dàng thực hiện quyền khởi kiện của mình
Trang 4Điều luật này phù hợp với Luật chuyên nghành về việc cơ quan, tổ chức nước ngoài phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam
Thứ ba, bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm c Khoản 1 Điều
469 BLTTDS 2015) Đây là trường hợp thẩm quyền của Toà án được xác định theo dấu hiệu nơi có tài sản Tài sản của bị đơn không phân biệt là động sản hay bất động sản Chỉ cần tài sản nằm trên lãnh thổ Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó
Điểm a Khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015 quy định: “Vụ án dân sự đó
có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam” Theo đó, đối với những vụ việc mà bị đơn là người nước ngoài, người
không có quốc tịch mà có liên quan đến quyền đối với bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam thì chỉ có Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết Đối với trường hợp này thì chúng ta sẽ đề cập kỹ hơn ở mục thẩm quyền riêng của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Thứ tư, vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt
Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam (Điểm d Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015) Trường hợp này thường gặp hai vụ việc: Một là vụ việc ly hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài mà nguyên đơn hoặc bị đơn ở nước ngoài hoặc các bên đương sự đều ở nước ngoài; Hai là vụ việc ly hôn giữa các bên đương sự là người nước ngoài và người nước ngoài đang cư trú, làm việc tại Việt Nam và được cấp thẻ thường trú, tạm trú hoặc được cấp giấy miễn thị thực có thời hạn không quá 5 năm…)
Thứ năm, Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm
dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam (Điểm đ Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015)
Trang 5Quan hệ xảy ra ở Việt Nam: Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết khi đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ phải xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam.Việc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết đối với những vụ việc dân sự về quan hệ dân sự xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam là nhằm mục đích đảm bảo trật tự quản
lí xã hội của nhà nước, ngoài mục đích này thì cũng còn khá nhiều các thuận lợi khác đối với việc giải quyết vụ việc dân sự đó Cụ thể, vì quan hệ đó xảy
ra trên lãnh thổ của Việt Nam nên trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng liên quan đến việc xác định những vấn đề liên quan đó sẽ dễ dàng hơn Mặt khác, khi quan hệ đó xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam thì khả năng lớn là quan hệ đó sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam (toàn bộ hoặc ở một khía cạnh nào đó của quan hệ), hay nói cách khác pháp luật áp dụng là pháp luật Việt Nam, điều này sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi khi Tòa án Việt Nam là Tòa án có thẩm quyền giải quyết
Thứ sáu, vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam (Điểm e Khoản 1 Điều 469 BLTTDS 2015) Toà án Việt Nam
có thẩm quyền giải quyết vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi
cư trú tại Việt Nam Thực tiễn cho thấy có rất nhiều vụ việc xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam Như vậy, để bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam thì Toà án Việt Nam phải có thẩm quyền giải quyết Như vậy sẽ thuận lợi hơn cho họ về mặt không gian, thời gian và chi phí trong tố tụng
Trang 6Quy định này là một bước tiến bộ của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong điều kiện Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ với quốc tế, những quan hệ dân sự xảy ra bên ngoài lãnh thổ Việt Nam diễn ra ngày càng phổ biến
2 Thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài (Đ470 BLTTDS năm 2015)
Căn cứ Khoản 1 Điều 470 BLTTDS 2015, những vụ án dân sự có yếu
tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
Thứ nhất, vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất
động sản có trên lãnh thổ Việt Nam Quy định này phù hợp với các HĐTTTP
mà Việt Nam đã ký kết và nguyên tắc chung của pháp luật dân sự Việt Nam
Cụ thể: Trong quan hệ tài sản, dù chủ thế có quốc tịch khác nhau nhưng các bên luôn quan tâm hướng tới đối tượng chung là tài sản Do đó dấu hiệu nơi
có tài sản khi áp dụng sẽ ít gây tranh cãi và khách quan nhất Đặc biệt, do tính chất đặc thù của BĐS là gắn bó với lợi ích, chủ quyền quốc gia nên chỉ Tòa
án nơi có BĐS mới có thẩm quyền giải quyết Điều này cũng phù hợp với chế
độ pháp lý về sở hữu tài sản là BĐS ở Việt Nam Điều 53, 54 Hiến pháp 2013
và Điều 4 Luật Đất đai 2013 ghi nhận Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Từ đó suy ra, tranh chấp liên quan đến quyền đối với nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, các tài sản gắn liền với nhà,công trình đó;tài sản khác gắn liền với đất đai (gọi chung là BĐS) trên lãnh thổ Việt Nam cũng phải do Nhà nước Việt Nam quản lí
Thứ hai, vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài
hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, sinh sống lâu dài ở Việt Nam Việc áp dụng dấu hiệu nơi cư trú chung của hai vợ chồng vào thời điểm ly hôn là phù hợp bởi loại việc này mang tính nhân thân nên tòa án có
Trang 7thẩm quyền phải là tòa án nước nơi có hiện diện của quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng Điều này giúp cho việc làm rõ sự thật của vụ án tinh gọn và khách quan Ngoài ra, quy định nhằm bảo vệ lợi ích của bên Việt Nam trong
ly hôn và bảo vệ trật tự công của Việt Nam Tuy nhiên thực tế cho thấy khi không có ĐƯQT, việc áp dụng quy định này gặp không ít khó khăn Đó là các trường hợp đối với vụ án tòa án Việt Nam xác định thuộc thẩm quyền riêng biệt của mình và đưa ra phán quyết, nhưng các quốc gia khác cũng cho rằng thẩm quyền giải quyết thuộc về tòa án nước họ
Thứ ba, vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam
để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam Đây là quy định hợp lý, thể hiện sự tôn trọng ý chí của các bên trong việc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp Đó là vụ án thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 469 của Bộ luật này; có văn bản quy phạm pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên quy định các bên đương sự có quyền lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết
vụ án đó
Căn cứ khoản 2 Điều 470 BLTTDS 2015, những việc dân sự có yếu
tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
Thứ nhất, các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp
luật dân sự quy định tại Khoản 1 Điều này Theo đó, các việc dân sự có yếu tố nước ngoài liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam, vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài,… thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của tòa án Việt Nam Quy định này là phù hợp bởi tính chất của các loại vụ việc như đã phân tích ở trên
Thứ hai, xác định một sự kiện pháp lý nếu sự kiện đó xảy ra trên lãnh
thổ Việt Nam Ở đây sử dụng dấu hiệu nơi xảy ra sự kiện Quy định như vậy
có cơ sở bởi Tòa án Việt Nam sẽ là tòa án có điều kiện thuận lợi để xác minh,
Trang 8thu thập chứng cứ cho việc giải quyết khi vụ việc xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam
Thứ ba, việc tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú
tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam thì tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt, trừ trường hợp ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có quy định khác Bởi nếu việc tuyên bố mất tích, hạn chế đó có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam thì sẽ có sự ảnh hưởng nhất định đến công dân, do đó thẩm quyền được quy định riêng biệt cho Tòa án Việt Nam Đồng thời, Tòa án Việt Nam cũng có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thu thập chứng cứ Hơn nữa, việc tuyên bố này có liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của chủ thể trên lãnh thổ Việt Nam nhưng lại được thực hiện tại quốc gia khác thì các đương sự sẽ phải yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận quyết định, việc này không thuận tiện cho các đương sự Vì vậy, tòa án VN hoàn toàn có thẩm quyền riêng biệt trong việc tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên
bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ
Thứ tư, tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự (NLHVDS), mất NLHVDS nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam Như đã phân tích ở trên, việc tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế NLHVDS, mất NLHVDS sẽ do tòa án Việt Nam thực hiện bởi nó cũng gắn liền với lợi ích của công dân, nhà nước Việt Nam, cũng như tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác minh, thi hành bản án và đảm bảo quyền lợi cho đương sự
Thứ năm, việc công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ,
công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam (điểm đ Khoản 2 Điều 470 BLTTDS) Tài sản trên lãnh thổ Việt Nam sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, hơn nữa khi tài
Trang 9sản là bất động sản thì có thể ảnh hưởng đến lợi ích công của nhà nước nên tòa án Việt Nam sẽ có thẩm quyền trong việc công nhận tài sản trên lãnh thổ Việt Nam là tài sản vô chủ cũng như công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý tài sản vô chủ để đảm bảo lợi ích của nhà nước không bị ảnh hưởng
III Thực tiễn việc thực hiện và Đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam trong BLTTDS 2015
1.Thực tiễn việc thực hiện quy định của pháp luật về xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam trong BLTTDS 2015
Việc phân định thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng khi giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam đã thể hiện một bước phát triển trong việc xây dựng các quy định của luật tố tụng dân sự Tuy nhiên, mục đích cuối cùng của việc phân định này cũng là nhằm giải quyết có hiệu quả các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đó
Do các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài liên quan tới nhiều quốc gia khác nhau nên dựa vào nguyên tắc chủ quyền quốc gia, sẽ xuất hiện khả năng tòa án nhiều nước có thẩm quyền xét xử đối với cùng một loại việc Nói cách khác, các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài hoàn toàn có thể phụ thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhiều nước Vì thế, nếu đương sự nộp đơn khởi kiện ở nhiều nước thì kết quả một vụ việc sẽ tồn tại nhiều phán quyết được tuyên bởi tòa án nước khác nhau Với việc quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam khi giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài thì vụ việc đó hoàn toàn cũng có thể thuộc thẩm quyền giải quyết của một tòa án nước khác
Từ đó, có trường hợp phán quyết đưa ra bởi Tòa án ở các quốc gia là khác nhau hay còn gọi là hiện tượng đa phán quyết, dẫn đến việc thi hành những phán quyết này khó có khả năng thực hiện trên thực tế, Cũng vì vậy, quyền và lợi ích của công dân, của Nhà nước cũng chưa có cơ chế chắc chắn
để đảm bảo một cách hoàn toàn
Trang 102 Đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về xác định thẩm quyền xét
xử của Tòa án Việt Nam trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015
Thứ nhất, hoàn chỉnh các tiêu chí xác định thẩm quyền của Tòa án
trong Tư pháp quốc tế Qua việc nghiên cứu pháp luật một số nước và một số ĐƯQT đa phương có quy định xác định thẩm quyền của Tòa án dựa trên tiêu chí quốc tịch, tiêu chí mối liên quan của vụ việc đối với lãnh thổ của quốc gia
có tòa án và tiêu chí thỏa thuận chọn tòa án của các đương sự, đối chiếu với pháp luật của Việt Nam thấy rằng, hiện nay Việt Nam chưa xây dựng được hoàn chỉnh các tiêu chí xác định thẩm quyền của Tòa án đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước ta hiện nay đang hội nhập sâu rộng với đời sống kinh tế quốc tế, thì cần hoàn thiện pháp luật của Việt Nam xác định thẩm quyền của Tòa án trong Tư pháp quốc tế
Thứ hai, ký kết hoặc tham gia các ĐƯQT về tương trợ tư pháp Không
phải tất cả các Hiệp định đều có quy định để loại trừ hẳn tranh chấp về thẩm quyền vì trong nhiều hiệp định vẫn có quy định đối vói vụ việc có cùng các bên đương sự và cùng 1 nội dung nhưng cơ quan tư pháp của 2 nước đều có thẩm quyền.Vì vậy, nghiên cứu để trong các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam có thể ký kết sau này sẽ khắc phục được hạn chế trên, giúp cho giải quyết triệt để vấn đề xung đột thẩm quyền của cơ quan tư pháp các quốc gia liên quan
Thứ ba, có kế hoạch đào tạo, nâng cao kiến thức của cán bộ, công chức
ngành Tòa án Cần phải có chương trình, kế hoạch cụ thể đào tạo kiến thức về pháp luật Quốc tế, đặc biệt là thẩm quyền của Tòa án trong Tư pháp quốc tế, kiến thức về ngoại ngữ, tin học trong điều kiện hội nhập kinh tế Phân công các Thẩm phán chuyên trách giải quyết các vụ án, vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Do các vụ án, vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài mang tính đặc thù, đòi hỏi Thẩm phán ngoài việc nắm chắc pháp luật trong nước còn phải