1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sổ tay nuôi một số đối tượng thủy sản nước ngọt tập 1 nguyễn khắc hường biên dịch

316 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 316
Dung lượng 18,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó qua mỗi năm vào mùa đông hoặc trước khi thả giống nuôi cần vét sạch bùn ao, phơi nắng đáy ao, cải tạo chất đáy, tốt nhất dùng vôi sống làm vệ sinh đìa, một mặt để tiêu diệt các ký

Trang 1

ế B ộ THỦY S Á N

TRUNG TÂM KHUYỂN NGU QUỐC GIA

Trang 3

Chịu trách nhiệm nội dung: Trần Văn Quỳnh

Nguyễn Thị Thu Hằng Nguyễn Thu Hằng

Đỗ Thi Viêt Oanh

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Đ ề góp phần cung cấp kiến thức và kinh nghiệm sản xuất đến đông đảo bà con nông ngư dân cũng như các cán bộ kỹ thuật thủy sản

và những người làm công tác khuyến ngư trong cả nước Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia tổ chức biên dịch một số tài liệu của Trung Quốc - đất nước có truyền thống, kinh nghiệm lâu dời về nuôi trồng thuỷ sản vồ đã có một quá trình hỗ trợ, hợp tác với chúng ta về kỹ thuật trong lĩnh vực này.

Cuốn sách “S ổ tay nuôi m ộ t s ố đối tượng thuỷ sản nước n g ọ t”

là tiếp theo của cuốn “SỔ tay nu ô i m ột s ố đối tượng thuỷ sản nước

m ặ n ” đã xuất bản năm 2005 Nội dung sách giới thiệu kiến thức cơ bản của m ột sô' loài thủy sản nước ngọt đã được nuôi ở Trung Quốc, gồm: cá mó, cá chình, cá : ngạnh mõm dài, cá nheo miệng to, cá quả,

cá sộp, cá chạch, lươn Với từng đối tượng, sẽ giói thiệu các nội dung

về đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi, phương pháp phòng trị bệnh.

Do đây là cuốn sách được biên dịch từ tài liệu đã sản xuất cách đây ít lâu, nên những thông tin mới chưa được cập nhập, bổ sung Khi tham khảo, mong bạn đọc chú ý vận dụng cho phù hợp với tình hình

cụ th ể của địa phương, đơn vị - nhất là trong việc sử dụng hoá chất, kháng sinh đ ể phòng bệnh cho cá nuôi Không được dùng các loại hoá chất, kháng sinh bị cấm sử dụng trong nuôi trổng thuỷ sản theo Quyết định số 07/2005/QĐ-BTS ngày 241212005 của Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản.

Rất mong bạn dọc góp ý đ ể việc xuất bản các tài kiệu kỹ thuật phục vụ công tác khuyến ngư ngày càng tốt hơn.

Xin chân thành cảm on.

TRẦN VĂN QUỲNH Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia

Trang 5

Chương I

NUÔI CÁ MÓ

I ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

1.1 Vị tr í p h ân loại

Cá mó (Siniperca) còn gọi là cá hoa quế, cá hạnh, thuộc

họ cá mú (Serranidae) bộ cá vược (Perciformes) Giống cá mó

có nhiều loài như cá mó mắt to (S.kneri), cá mó mõm vênh

(S.chuatsi) Cá có thịt ngon, thành phần dinh dưỡng phong

phú, rất được nhiều người ưa chuộng Tuy nhiên giải quyết vấn đề thức ăn cho cá rất khó, hiện nay đang triển khai việc nuôi và cho đẻ nhân tạo

1.2 Đặc điểm sinh trưởng

Tốc độ sinh trưởng của cá mó tương đối nhanh, cá có thể

đẻ trong năm từ 50 - 100g trứng Năm thứ 1 cá có thể đạt đến

Trang 6

cỡ 500g, sang năm thứ 3 đạt đến 1 - l,5kg; từ năm thứ 4 trở đi tốc độ tăng trưởng giảm mạnh Do đó, cá mó nuôi 2 - 3 tuổi là hiệu quả hơn cả Hiện nay thường dùng giống cho đẻ sớm, đến cuối năm có cá đạt cỡ 500g để cung cấp cho thị trường.

1.3 M ồi ăn

Cá m ó là loài ăn thịt Cá con vừa nở ra không lâu, có thể nuốt sống luôn những loài cá giống khác Người ta dùng cá con để cho ăn, hiệu quả rất tốt Lúc cá đạt đến 4cm, chuyển sang ăn tôm nhỏ là chính; khi lớn trên 10cm, chuyển sang cho ăn cá nhỏ, có lúc chúng ăn thịt lẫn nhau

Cá m ó có dạ dày hình cầu, vách rất dày và có thể dãn ra tuỳ theo lượng thức ăn Cá m ó bắt mồi dựa vào cơ quan cảm giác K hi nuôi nhân tạo cá mó, có thể dùng cá tạp ngoài tự nhiên nhỏ hoặc cá nuôi để cho ăn; hoặc dùng cá diếc, cá rô phi sản xuất cá con để nuôi cá mó Nói tóm lại, chọn nuôi cá

mó, trước tiên phải tính đến thức ăn và phải căn cứ vào khả năng cung cấp thức ăn mới xác định lượng cá nuôi

1.4 N guồn cá giống

Cá giống có thể bắt từ thiên nhiên, cũng có thể tiến hành cho đẻ nhân tạo Cá mó đực 3 tuổi, cá cái 4 tuổi mới thành thục Lượng chứa trứng tuỳ kích thước và tuổi cá có sự sai khác, thường từ 400.000 - 1.500.000 trứng Mùa đẻ từ đầu tháng 6 đến hết tháng 8; cá đẻ rộ vào tháng 8 Ở tình trạng tự nhiên cá thường đẻ làm 3 đợt, bãi đẻ trứng ở nơi nước chảy, thời gian đẻ vào ban đêm

Trang 7

1.5 Cho đẻ n h ân tạo

Cho cá mó đẻ nhân tạo, trước tiên phải nuôi kích dục cá

bố mẹ, sau đó dùng phương pháp tiêm não thuỳ thể vói liều lượng 10 - 21mg/kg là cá có thể tự đẻ trứng Nhiệt độ nước từ

26 - 28°c, sau khi tiêm 24 - 27 giờ cá sẽ đẻ trứng Trứng cá

nổi, vỏ trứng dày, mật độ lớn, do vậy nếu nước tĩnh trứng sẽ chìm xuống đáy Thông thường khi ấp trứng cần tăng tốc độ nước chảy làm cho trứng được đảo đều Trứng thụ tinh xong qua 3 - 4 giờ nở ra cá con Sau khi bọc noãn hoàng tiêu hết, cá con có thể chủ động bắt mồi, cần kịp thời bón thức ăn, tránh hiện tượng ăn thịt đồng bọn xảy ra

1.6 Nguồn cá bố mẹ

Cá bố mẹ bắt được bằng các loại phương tiện nào, bất kể địa phương nào, cần nhất là phải khoẻ mạnh, không bị thương tổn Trải qua thời gian nuôi ngắn khoảng 30 - 35 ngày có thể kích dục cho đẻ trong năm

II NUÔI CÁ MÓ THƯƠNG PHẨM

2.1 Điều kiện ao, đìa

Ao, đìa nuôi cá mó so với các loài cá khác yêu cầu cao hơn, chủ yếu phải có chất nước tốt, diện tích và mức nước sâu thích hợp, chất bùn tương đối ít, v.v cụ thể như sau:

2.1.1 Nguồn nước và chất nước

Nguồn nước phải đầy đủ, chất nước của nguồn nước phải tốt, lượng oxy tương đối cao (DO lớn hơn 4mg/l), không bị ồ nhiễm, không có chất độc, cấp và thoát nước phải tiện lợi

Trang 8

ao cạn là thích hợp, vì cá m è hoa, mè trắng là các loại cá nổi trên m ặt, đặc biệt là cá m è hoa bơi lội rất nhanh, ao cạn m ột chút có lợi cho việc cá m ó bắt mồi; nếu lấy cá tầng đáy làm thức ăn, ao cần sâu hơn, tỷ lệ độ dốc là 1: 1,5 - 2,5, đáy đìa dốc nghiêng về phía cửa cống, để tiện việc bắt cá Trong đìa tốt nhất trồng m ột ít cỏ nước, có lợi cho cá mó nghỉ ngơi và bắt mồi.

Xung quanh bờ ao không nên có cây to để tránh ánh sáng

bị che chắn và có gió thổi mạnh, ảnh hưởng đến quang hợp của thực vật phù du và của dòng không khí với m ặt nước, ảnh hưởng đến việc nâng cao độ hòa tan oxy

2.1.4 Cải tạo nền đáy ao, đìa

Yêu cầu ao, đìa nuôi cá mó có chất bùn ít, độ sâu của lớp bùn dưới 20cm Trừ một số ao mới, còn các ao khác sau khi

Trang 9

qua một giai đoạn nuôi cá đều có tích luỹ xác chết sinh vật, phân cá, thức ăn thừa v.v , thêm vào hỗn hợp bùn cát, đáy ao dần dần tích lũy thành một lớp bùn dày nhất định, đối với cá

mó thì lợi ít mà hại nhiều Do đó qua mỗi năm vào mùa đông hoặc trước khi thả giống nuôi cần vét sạch bùn ao, phơi nắng đáy ao, cải tạo chất đáy, tốt nhất dùng vôi sống làm vệ sinh đìa, một mặt để tiêu diệt các ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh trong bùn ao, mặt khác có lợi cho việc nâng cao độ pH

và độ cứng của nước ao

2.1.5 Trang bị điện, máy

Tuỳ theo kỹ thuật nuôi và yêu cầu của kế hoạch nuôi để triển khai quy mô cho cá ăn thức ăn nhân tạo Cần căn cứ vào trình độ và quy mô sản xuất để trang bị máy sục khí, máy chế biến thức ăn và các thiết bị khác, vừa có lợi để nâng cao trình độ sản xuất, vừa có lợi để đẩy mạnh nghề nuôi cá

mó theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất

2.2 Nuôi cá mó giống

Nuôi dưỡng cá mó giống ở trại nuôi cá Việc nuôi con giống cá mó không giống như các loài cá nước ngọt khác là dùng phương pháp trực tiếp cho ăn thức ăn công nghiệp bán trên thị trường hoặc dùng nước béo để nuôi dưỡng Kỹ thuật nuôi tốt trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận trong việc nuôi

cá mó

Nuôi cá giống bao gồm 2 bộ phận: nuôi cá con và nuôi cá một tuổi

Trang 10

2.2.1 N uôi cá bột và cá hương

Cá bột vừa chui ra khỏi vỏ trứng thân thể mềm yếu, so với cá nhà nhỏ hơn, chiều dài thân khoảng 4mm Sau khi nuôi 50 - 60 giờ, cá bắt đầu mở mồm bắt thức ăn, chuyển vào giai đoạn nuôi dưỡng cá giống

( ỉ ) N uôi dưỡng cá giống: Có hai cách nuôi là: nuôi nước

chảy và nuôi nước tĩnh Nuôi nước chảy lại chia ra dùng bình

ấp và nước vòng; nuôi nước tĩnh lại chia ra nuôi trong bể xi

mó vừa mói ra khỏi bình ấp tiếp tục cho vào bể vòng dùng nhân công khống chế nước chảy Nuôi giống ban đầu, m ật độ thả nuôi từ 5.000 - 10.000 cá thể/m2, tuỳ theo độ lớn lên của

cá mà dần dần giảm bớt Cứ 5 ngày cần kết hợp việc phân loại

cỡ cá mú giống chuyển bể vòng 1 lần, đồng thời chà rửa chất bẩn bám vào thành và đáy bể Cá mó rất tham ăn, tốt nhất nên dừng lại một thời gian để cho cá ăn trước khi chuyển bể vòng, tránh gây tổn thất không cần thiết do cá giống bạo thực

- Nuôi nước tĩnh: Nuôi cá mó giống trong nước tĩnh thường dùng bể xi măng, diện tích bể 30 - 50 m2, độ sâu 0,8 - lm , đáy

bể có thể làm một ít rạn đá cho giống với tự nhiên Trước khi thả giống nuôi, cần phải tiệt trùng triệt để đáy đìa, mật độ thả

Trang 11

nuôi 7.000con/m3, khi cá lớn đến cỡ l,5cm chuyển ra nuôi ở lồng lưới, hiệu quả càng tốt.

(2) Bón thức ăn: Cá mó là điển hình loại cá ăn thịt, từ khi

mở miệng đã ăn được cá sống và ăn thịt cả đồng loại, đó là bản năng của chúng Do đó nắm vững thời gian mở miệng bắt mồi của cá giống thật chính xác, chọn cá để làm thức ăn và kịp thời cung ứng thức ăn vừa miệng là mấu chốt thành công trong việc nuôi cá mó giống

- Xác định thời gian bắt đầu ăn: Nhìn chung, ở các mức nhiệt độ nước: 23,5 - 25°c, 24 - 2Ố,5°C và 26 - 29°c,

tương ứng với thời gian từ trứng thụ tinh đến lúc giống mở

m iệng là: 112 - 120 giờ, 105 - 115 giờ và 90 - 98 giờ, lúc này con giống hoạt động lanh lợi, có thể chủ động bắt mồi

- Chọn lựa thức ăn cá vừa miệng: Kích thước cá làm thức

ăn trực tiếp ảnh hưởng đến sự bắt mồi và tỉ lệ sống của con giống cá mó Trong sản xuất, chọn loại cá có thân hình dài và dẹp, các loại cá vền giống bơi lội yếu được dùng làm thức ăn

mở miệng cho cá mó giống Tốt nhất là dùng cá giống vừa nở

ra khỏi vỏ trứng 8 giờ, lúc đó rất vừa miệng cho cá mó nuốt luôn cả con Nếu bón bằng cá lớn hơn miệng cá mó giống, làm cho nó không thể nuốt hết được, không chỉ làm ảnh hưởng đến

sự bơi lội của cá mó giống mà thịt cá rơi rụng còn làm thối nước, dẫn đến sinh bệnh cá Cá mó giống nếu trong 3 - 5 ngày vẫn không bắt được cá thức ăn vừa miệng thì hoạt động trở nên chậm chạp, thân gầy yếu, thậm chí ăn thịt đồng bọn, đồng thời có hiện tượng cá mắc nghẹn mà chết

- Sản xuất cá con làm thức ăn: Một điều kiện bắt buộc là khe miệng và chiều cao của cá dùng làm thức ăn phải không

Trang 12

cùng tuổi với cá mó giống (tức là cá làm thức ăn phải ở một giai đoạn phát dục nhất định, ở đây thích hợp nhất là lúc vừa

vỡ vỏ trứng, m ói có thể làm cho cá mó nuốt được)

Việc sản xuất cá con làm thức ăn cần căn cứ vào thời gian sản xuất giống cá mó, tình hình và số lượng phát dục (nhiều, ít) để tiến hành sản xuất đổng bộ, nhằm bảo đảm khi cá giống dùng làm thức ăn vừa vỡ vỏ trứng cũng là lúc cá mó giống vừa

mở miệng, nhất là đối với cá mó giống ở giai đoạn cuối Trong ao, đìa nuôi nên có đủ các loại cá làm thức ăn kích thước khác nhau để đáp ứng kịp thời nhu cầu cá mó giống

(3) Khẩu phần ăn hàng ngày: Cá mó giống có ngày tuổi

không giống nhau thì thức ăn hàng ngày và kích cỡ cá làm thức ăn là không bằng nhau Cá mó giống bắt mồi như sau: trong 2 ngày đầu, khẩu phần 2 - 3 con, ăn chậm chạp; từ 2 - 4 ngày tuổi, khẩu phần 4 - 5 con; từ 5 - 8 ngày tuổi, khẩu phần 8 - 1 2 con; từ 8 - 12 ngày tuổi, khẩu phần 1 0 - 1 6 con; từ

1 4 - 1 5 ngày tuổi, khẩu phần 1 5 - 2 0 con Tốc độ bắt m ồi tuỳ theo chiều dài của cá tăng lên mà tăng nhanh

Cá m ó giống ăn no, bụng phình to, có hình thoi, bắp đuổi hơi cong Ở tình trạng nước chảy, cá dựa vào vách hồ, yên lặng, không động đậy hoặc xuôi theo dòng nước; nếu cá bị đói, thân thể dẹp bằng Chỉ cần thả thức ăn vào bên trong bể vòng, có thể phán đoán mồi cá thức ăn có đủ hay không

(4) Phương thức bắt mồi: Trong quá trình nuôi cá giống

mó, có thể thấy rõ cá con nuốt m ồi cá từ đuôi lên, thường thường là m ột nửa con cá ở trong, còn m ột nửa con lộ ra ngoài miệng, vừa ăn, vừa bơi, vừa tiêu hóa, cuối cùng vất bỏ đầu cá

ra, có lúc còn treo đầu cá lủng lẳng trên gai nắp mang sau, (có người lầm tưởng là ký sinh trùng), lúc đó cần chú ý, nếu thấy

Trang 13

như vậy không cần dùng thuốc để xử lý, qua một thời gian, đầu cá thức ăn sẽ tự red ra.

Sở dĩ có hiện tượng cá mó giống nuốt thức ăn cá bắt đầu

từ đuôi, là do cá con khi vừa mới nở ra khỏi vỏ trứng, sắc tố

đã có nhưng hoạt động của mắt chưa bắt đầu Do đó, cá mó nhận ra và bắt mồi dựa vào xúc giác và sự vận động của con mồi, ở đây thức ăn là cá còn rất nhỏ lại vận động bằng phần đuôi, nên cá giống mó nuốt từ đuôi con mồi lên Cá mó giống qua 7 - 1 0 ngày nuôi dưỡng, chiều dài toàn thân trên 16mm, có ngoại hình giống cá lớn, chưa có vảy, nhưng mắt và

hệ thống đường bên của nó đang hoàn thiện, phản ứng đối vói bên ngoài ngày càng nhạy cảm, lúc này cá mó con có thể dựa vào xúc giác và thị giác để bắt mồi, phương thức bắt mồi thay đổi, từ chỗ nuốt mồi cá từ phần đuôi chuyển sang nuốt từ phần đầu Bón cho cá mó ăn cá con của cá mè hoa, mè trắng mới

nở là chính, nhưng do kích thước của mó giống không đồng đều, nên cần dùng cả cá vền giống lớn để cho cá mó kích thước nhỏ ăn nhằm đạt đến yêu cầu sinh trưởng đổng đều của con giống mó

Trải qua thời gian nuôi 1 3 - 1 5 ngày, cá mó giống đạt đến

cỡ 2,5 - 3,5cm, đã hết giai đoạn nuôi cá bột và cá hương có thể chuyển sang nuôi cá giống

Trang 14

quản lý; nếu trực tiếp thả vào ao nuôi thành cá thương phẩm thì cá vẫn còn nhỏ, năng lực bắt mồi và phòng vệ dịch hại còn yếu sẽ dẫn đến tỷ lệ sống thấp Do đó, cần đem cá con nuôi lớn thành cá giống có kích thước lớn hơn.

Phương thức nuôi cá giống có 4 loại: nuôi ao chuyên, nuôi ghép, nuôi lưói chắn, nuôi lồng lưới Nuôi chuyên ở ao, tỷ lệ sống tương đối cao, có khi đạt đến 90% Nuôi lưới bao tỷ lệ sống thấp hơn, khoảng 20 - 40%

(1) N uôi ao chuyên:

- Điều kiện ao cá và thả nuôi: diện tích ao không nên quá lớn, khoảng 0,05 - 0,2ha là vừa, nước sâu l,5m , cống cấp thoát nước tiện lợi, thường xuyên giữ cho nước chảy yếu là tốt nhất, m ật độ con giống m ỗi l.OOOm2 nuôi 300 - 4.500 con Trước khi thả giống nuôi, ao phải tiệt trùng, tiêu độc m ột cách nghiêm túc

- Bón thức ăn: khẩu phần ăn yêu cầu rất nghiêm túc: cần mồi sống; cần vừa miệng; không có gai cứng nhọn; phải cung ứng kịp thời

- Lượng thức ăn: cho cá ăn lượng thức ăn 5 - 10% của tổng trọng lượng cá nuôi trong ao Cũng có thể kiểm mật độ dư thừa của cá làm thức ăn, dự tính trước mức ăn cho 2 - 3 ngày, cần bổ sung thêm lượng cá làm thức ăn vừa miệng cá mó

- Thời gian cho ăn: cách 5 ngày cho cá mó ăn một lần bằng cá làm thức ăn, vì sau 2 - 3 ngày bón, hoạt động của cá làm thức ăn tương đối chậm chạp, cá mó bắt mồi đặc biệt rộ lên, nếu thời gian quá dài dễ dẫn đến việc bắt m ồi khó khăn

và tăng thêm sự tiêu hao năng lượng; ngoài ra việc phải bón quá nhiều cá thức ăn dẫn đến tiêu hao oxy, làm quá tải ao nuôi, không có lợi đối với sự sinh trưởng của cá mó

Trang 15

Chú ý khi nuôi cá giống phải cần một lượng rất lớn cá làm thức ăn, có 4 cách giải quyết để có một lượng lớn giống cá làm thức ăn như sau:

+ Nuôi ở ao sở tại: lọi dụng các ao sở tại để nuôi, có thể giải quyết thức ăn cho con giống cá mó ở thời gian đầu Phương pháp là khi thả nuôi cá mó con 10 -1 5 ngày, trước đó phân đợt thả vào ao các loại cá giống mè hoa, mè trắng, vền, trắm cỏ v.v mật độ 3 - 5 triệu con/ha, cho nước phì vấo ao, đồng thời mỗi ngày phun nước đậu, khi cá làm thức ăn đến cỡ l,5cm là đúng lúc thả cá mó xuống ao có thức ăn vừa miệng.+ Phân chia các ao nuôi cá làm thức ăn theo tỉ lệ 1: 1 - 2 Nuôi những loài cá mà cá mó thích ăn, vừa dễ cho đẻ, vừa dễ bắt như cá diếc, cá vền, cá mè hoa, cá mè trắng v.v , mỗi hecta thả nuôi 750 ngàn cá con Các cá giống khác thả nuôi trong các ao theo quy định chung, về sau chia ra từng giai đoạn kéo lưới, dựa trên nguyên tắc thu ít một, thu làm nhiều lần, lọc ra những con có kích thước vừa miệng để bón cho cá

mó Nói chung cứ nửa tháng kéo lưói một lần, những lần cuối

có thể bắt nhiều hơn một chút, không những bảo đảm cho việc nuôi cá m ó giai đoạn cuối có thức ăn đầy đủ, lại làm cho cá giống trong ao thức ăn giai đoạn cuối sinh trưởng tốt Cách này vừa đảm bảo cân bằng sinh thái vừa nâng cao được hiệu quả kinh tế nuôi trong ao, đìa

+ Nuôi con giống cá nhà có kích thước nhỏ: Trong ao, nuôi cá nhà một tuổi, mật độ cao, không cùng thời gian, chia đợt để đánh bắt con nhỏ, để lại con lớn, thu đủ số lượng có kích cỡ vừa miệng bón cho giống cá mó ăn Phương pháp này đảm bảo cung cấp cá làm thức ăn cho cá mó và sử dụng được triệt để ao, nâng cao hiệu quả của ao nuôi cá giống

Trang 16

+ Sử dụng cá tạp: Phương pháp này có thể không tăng thêm đồng vốn thu hoạch cá mó mà chỉ nâng cao lợi ích của

ao, đìa

(2) Các phương thức nuôi khác:

- Nuôi ghép: bao gồm hai loại nuôi ghép ao cá bố mẹ và

cá trưởng thành, thời gian thả nuôi nói chung mỗi năm 6 - 7 tháng, cá con có kích thước 2,5 - 3,5cm, mỗi hecta thả với mật

độ 4.000 - 7.000 con Nuôi ghép thường không cho ăn, lợi dụng cá tạp sẵn có ở trong ao để làm thức ăn Nếu như lượng

cá tạp thiên nhiên ở trong ao nhiều thì thả vào lượng cá mó

nhiều Trong quá trình nuôi cần chú ý đến 3 điểm:

+ Trong ao nuôi ghép không thích hợp cho việc nuôi các giống cá con khác, đề phòng chúng ăn thịt lẫn nhau, con lớn

ăn con bé;

+ Cá mó rất nhạy cảm với các loại thuốc, không cẩn thận

có thể dẫn đến cả đàn cá mó bị hại Vì vậy, khi sử dụng thuốc cần chọn lọc, đồng thời cần tính toán chính xác lượng thuốc

sử dụng, nhất là khi thời tiết có nhiệt độ cao, thường dùng với liều lượng thấp hoặc ngừng không sử dụng;

+ Cá mó yêu cầu lượng oxy hoà tan cao hơn so vói các loại cá nhà nên rất dễ nổi đầu, do đó trong nuôi ghép chất nước không quá phì, đặc biệt chú ý đến nuôi cá mó trưởng thành Vì vậy, định kỳ thêm nước mới, giữ cho nước được trong sạch, lượng oxy hoà tan cao cũng là m ột trong những biện pháp quyết định việc thành, bại của nuôi ghép

- Nuôi lưới chắn: Lợi dụng những mương, rạch hoặc sông nhỏ, dùng lưới chắn ngang, có nhiều cá tạp thiên nhiên,

Trang 17

lượng oxy hoà tan so với ao, đìa có ưu việt hơn Thả một lượng nhất định cá mó con xuống, vừa có thể lợi dụng được

cá tạp ở sông, lại vừa thu hoạch cá mó có giá trị kinh tế cao Nói chung mỗi hecta thả nuôi 3.000 - 5.000 con

- Nuôi lồng lưới: Kích thước lồng lưới 50 - 100 m2 là vừa, mắt lưới tuỳ theo kích cỡ của cá mó và cá làm thức ăn mà quyết định Vị trí đặt lưới cần chọn thuỷ vực đạt các yêu cầu

là tránh hướng gió, hướng về phía mặt trời, mặt nước rộng, có dòng nước hơi chảy, đáy lổng cách mặt đáy nước ít nhất > 0,5m Mật độ thả nuôi 20 - 40 con/m2

Quản lý việc nuôi của phương thức này trên cơ bản giống như nuôi ao chuyên

2.2.3 Quản lý

Trong thời gian nuôi dưỡng cá con, cần tiến hành quản lý chi tiết, triệt để các yêu cầu về: tiệt trùng nước nuôi, các mầm bệnh không mang vào ao giống; khống chế chất nước, kịp thời

xử lý ô nhiễm; cho sinh sản cá làm thức ăn kịp thòi vứi nhu cầu nuôi cá giống; trước khi dùng cá làm thức ăn để cho ăn cần phải tiệt trùng nghiêm ngặt; phun thuốc tiệt trùng ao nuôi theo định kỳ, thiết thực làm tốt công việc phòng trị bệnh cho

cá nhằm nâng cao tỉ lệ sống của cá giống

( ỉ) Quẩn lý công việc thường ngày

Hàng ngày vào sáng, trưa và chiều đi kiểm tra, quan sát tình hình hoạt động bắt mồi của cá, biến hoá của chất nước, đồng thời định giờ đo nhiệt độ nước, pH nước, ghi chép cẩn thận Ao, đìa nuôi dưỡng cá mó, mới đầu mức nước hơi cạn, ở

50 - 70cm là tốt, vì lúc đó cá có thân thể tương đối nhỏ, năng lực hoạt động còn yếu Để tăng thêm hàm lượng oxy hoà tan

Trang 18

và không gian hoạt động của cá, mỗi tuần lấy thêm nước mới

2 lần, mỗi 2 tuần thay nước 1 lần, bảo đảm cho chất nước trong sạch, khống chế độ trong 40cm Căn cứ vào tình hình thực tế m à định ra số lần thêm nước và lượng nước thêm bao nhiêu Cá mó rất nhạy cảm với độ axit của chất nước, cho nên cứ cách m ột thời gian lại bón thêm vôi để điều chỉnh độ

pH Cá mó khổng chịu được oxy thấp, trong ao nuôi tốt nhất trang bị thiết bị tăng oxy Lúc trời nóng bức, giữa trưa m ở máy độ 1 - 2 giờ, nửa đêm lúc 2 - 5 giờ m ở máy khoảng 2 giờ Bảo đảm lượng oxy hòa tan đầy đủ là biện pháp quan trọng để nâng cao tỷ lệ sinh trưởng và tỷ lệ sống Trong quá trình nuôi, còn phải tuân theo nguyên tắc “không bệnh sớm phòng”, “có bệnh sớm trị” định kỳ phun thuốc, làm tốt công tác tiệt trùng diệt tạp

(2) Dồn ao qua đông giống cá mó

Cuối thu đầu đông, nhiệt độ nước hạ thấp đến 10°c, bắt đầu dồn ao M ục đích dồn ao chủ yếu tiến hành phân loại cá giống không cùng kích cỡ, tính số nuôi trữ lại, tiện việc tiêu thụ hoặc thả nuôi Thông qua dồn ao, tìm hiểu tình hình sản xuất cá giống trong năm đó, tổng kết kinh nghiệm, lên k ế hoạch sản xuất cho năm sau, kịp thời tu sửa lại ao, đìa, chuẩn

bị cho k ế hoạch của năm sau

Lúc dồn ao cần chú ý mấy điểm:

+ Khi dồn ao tiến hành vào lúc trời tối, nhiệt độ ở

khoảng 10°c N ếu nhiệt độ nước hơi cao, năng lực hoạt

động của cá m ạnh, tiêu hao năng lượng lớn, trong quá trình thao tác cá dễ bị thương; nhiệt độ hơi thấp, nếu có tuyết rơi hoặc đóng băng không nên dồn ao, để tránh cho cá khỏi bị chết rét;

Trang 19

+ Trước khi kéo lưới độ nửa tháng, cần khống chế số lượng cá làm thức ăn trong ao Thao tác kéo lưới, bắt cá, chọn cá, vận chuyển v.v nên nhẹ nhàng, tránh làm cho cá

bị thương Giống cá mú bố mẹ hoặc cá mó lớn có thể bắt kịp thời dồn ao Lúc kéo lưới cần đặc biệt chú ý đề phòng thiếu oxy gây cá chết;

+ Chọn ao cá để nuôi qua đông có hướng mặt trời chiếu vào, tránh gió, diện tích 0,1 - 0,2ha, nước sâu trên 2m Cá

mó giống có kích thước 10 - 15cm, thả nuôi mật độ 450.000

- 750.000 con/ha

Vẫn tăng cường quản lý cá mó dồn ao, làm cho chất nước giữ có độ phì nhất định, đồng thời trong ao thả cá làm thức ăn với số lượng nhất định Mùa đông cần đề phòng ao cá giống thiếu oxy, cần dùng biện pháp tăng lượng oxy

2.3 Nuôi cá mó thương phẩm

Mấy năm gần đây, nghề nuôi cá mó thương phẩm phát triển rất nhanh, chủ yếu là nuôi ao, đìa, hình thức nuôi cá chuyên, nuôi ghép và luân chuyển v.v

2.3.1 Nuôi chuyên

Ao, đìa nuôi chuyên cá mó phân ra: cá con trong năm trực tiếp nuôi thành cá thương phẩm và cá 1 tuổi nuôi thành cá thương phẩm

(1) Cá mó con trong năm nuôi thành cá thương phẩm: Sử

dụng cá mó con (hoặc cá có kích thước hơi to) trực tiếp nuôi thành cá thương phẩm, là một hình thức nuôi rất phổ biến Hình thức này chỉ cần bón cá làm thức ăn cho đầy đủ, sản lượng trong một đơn vị diện tích tương đối cao

Trang 20

- Thả nuôi cá giống: để bảo đảm tỷ lệ sống, cần thả nuôi

cá có kích cỡ trên 3cm, mỗi một hecta thả nuôi 1 5 - 2 5 ngàn con cỡ cá 3 - 4cm,

- N guồn cá làm thức ăn: ao, đìa chỉ nuôi cá mó, m ật độ cao, cần nhiều lượng thức ăn, để giải quyết có thể thông qua việc nuôi dưỡng, đánh bắt trong tự nhiên và thu m ua

- N uôi ao nuôi thương phẩm: Nuôi cá làm thức ăn lúc đầu (tức trước khi thả nuôi cá mó giống 1 5 - 2 0 ngày, lợi dụng ao, đìa thời gian này nuôi trước cá làm thức ăn) vói m ật

độ 7,5 - 12 triệu con/ha, cung cấp cho cá mó ăn ở giai đoạn đầu Để giảm giá thành thức ăn, có thể tính đến việc trong ao nuôi cá m ó nuôi ghép m ột số cá bố mẹ của cá làm thức ăn có khả năng đẻ nhanh Trong điều kiện cho phép, m ỗi hecta thả 3.000 - 6.000 đôi cá rô phi hoặc 7.500 con cá diếc loại 2 tuổi, dùng đời sau của chúng làm thức ăn sống cung cấp cho

cá m ó bắt ăn Cũng có thể dùng lưới có kích cỡ phù hợp chia

ao ra làm 2 bộ phận, m ột bên nuôi cá mó, m ột bên nuôi cá

bố m ẹ làm thức ăn; cá con sinh ra, chui qua lưới thưa trỏ thành thức ăn cho cá mó Cá bố mẹ trong trường hợp này tốt nhất dùng phương pháp nuôi cường hoá, thúc đẩy sự phát dục của tuyến sinh dục, tăng cao lượng trứng đẻ, nâng cao tỷ

lệ ấp nở, làm cho nguồn thức ăn của cá mó luôn luôn dồi dào, thúc đẩy sự sinh trưởng của cá mó, hiệu quả nuôi trồng rất cao

- Nuôi ao ghép liền nhau: Khi nuôi cá mó vói quy m ô lớn

để giải quyết cá làm thức ăn phải dùng phương pháp nuôi ao chuyên Cứ 1 hecta ao nuôi đơn thuần cá mó cần ghép nuôi

3 - 4,5 hecta ao nuôi cá làm thức ăn, chia đợt đánh bắt, khi

Trang 21

cần mói kéo lưới, bảo đảm cho cá làm thức ăn và cá mó sinh trưởng đồng bộ Dùng cách điều chỉnh mật độ và lượng thức

ăn cho ăn để khống chế sinh trưởng và kích thước của cá làm thức ăn

- Đánh bắt trong thủy vực tự nhiên: Nếu trại nuôi cá mó ở gần bên hổ, ao, hổ chứa nước v.v , noi có mặt nước lớn, có nguồn lợi cá thiên nhiên làm thức ăn phong phú có thể làm thức ăn bổ sung để nuôi cá mó

- Thu mua: Trong sản xuất thức ăn, nếu gặp phải thức ăn kém chất lượng, ảnh hưởng của khí hậu, bệnh hại, cần kịp thời

tổ chức thu mua; bảo đảm cá làm thức ăn cung ứng liên tục, tránh không làm ảnh hưởng đến việc nuôi cá mó

- Bón thức ăn: số lần cho ăn nói chung cần linh hoạt, căn

cứ vào nhiệt độ nước, mật độ cá làm thức ăn trong ao nuôi, tốc

độ sinh trưởng, khí hậu v.v Nếu nhiệt độ nước tương đối cao, sinh trưởng của cá mó nhanh, tốt nhất mỗi ngày cho ăn một lần; sau tháng 9, nhiệt độ nước hạ thấp, tốc độ sinh trưởng của cá mó chậm lại, cho ăn giảm bớt, về sau 5 - 7 ngày hoặc nửa tháng cho ăn một lần, lượng bón cần duy trì nguyên tắc trong ao luôn có mật độ cá làm thức ăn nhất định tạo cơ hội bắt mồi của cá mó tăng lên, kích thước cá làm thức ăn bằng 30 - 59% chiều dài cá mó là phù hợp để vừa miệng Đồng thời cần thường xuyên kiểm tra tình trạng sinh trưởng và bắt mồi của cá

mó, chú ý tói có sự chênh lệch của sinh ưưởng để khi bón thức

ăn nên kèm theo cá thức ăn không cùng kích thước, bảo đảm cho cá mó luôn có thức ăn đầy đủ, vừa miệng Trước khi bón cá làm thức ăn phải tiến hành diệt trùng

- Khống chế chất nước: Ao nuôi chuyên cá mó, do mật độ thả cao, lượng cho ăn nhiều, thức ăn thừa và phân thải ra đã

Trang 22

làm cho chất nước ảnh hưởng rất lớn, ngoài yêu cầu ao, đìa có

hệ thống thoát nước tốt, định kỳ thay nước trong cả quá trình nuôi để đảm bảo hàm lượng oxy hoà tan trên 4 mg/1 còn phải trang bị m áy sục khí Cuối xuân và mùa hạ mỗi ngày vào lúc

1 2 - 1 5 giờ và trong trường hợp khí hậu đặc biệt, (vào thời gian quá nửa đêm đến khi mặc trời mọc), giờ chạy m áy cần căn cứ vào tình hình cụ thể mà xác định, đồng thời định kỳ phun nước vôi để khống chế chất nước, các biện pháp quản lý khác cơ bản giống như nuôi cá nhà

(2) Cá m ó một tuổi nuôi thành cá thương phẩm: Cá m ó 2

tuổi mói đạt đến kích cỡ cá thương phẩm Ở điều kiện nuôi ao

hổ hoặc thủy vực thiên nhiên, cá mó 1 tuổi cũng có thể đạt đến quy cách thương phẩm Điều đó có quan hệ mật thiết tói phương pháp nuôi và điều kiện khí hậu Nuôi cá mó ở vùng khí hậu ấm áp, kỳ sinh trưởng dài, chu kỳ nuôi trứng ngắn Trong sản xuất cũng thường dùng cá lớn 1 tuổi làm cá mó giống, năm thứ hai mói nuôi thành cá mó thương phẩm

- Chuẩn bị trước khi thả nuôi: Trước khi thả nuôi, làm vệ sinh tu sửa ao, đìa, ủi xúc bùn thối quá nhiều, đắp lại bờ và nền dốc ao, kiểm tra hệ thống cấp thoát nước, tiến hành tiệt trùng tiêu độc đổ giết chết vi khuẩn và ký sinh trùng gây hại Làm vệ sinh ao, đìa có thể dùng clorua vôi, clorin, thuốc diệt trùng v.v nhưng dùng vôi sống cũng tốt, dẫn nước (nước sâu

lm ) ngâm đìa, dùng 1.800 - 2.250kg/hecta Vôi sống cho vào

1 ít nước, sau khi toả hết nhiệt đem rải ra toàn đìa, đcd cho chất thuốc tiêu hết, mới thả cá nuôi

- Thả nuôi cá giống: kích thước thả nuôi cá mó giống (cỡ 50-100g/con) Mỗi hecta thả 7.500 - 10.500 con, thích hợp thả nuôi ở nhiệt độ thấp (5-6°C) Lúc này năng lực hoạt động của

Trang 23

cá mó tương đối yếu, dễ bắt, mức độ bị thương nhỏ, có thể giảm bớt phát bệnh và tỷ lệ chết của giai đoạn nuôi dưỡng, đổng thòi thả nuôi sớm cũng có thể cho ăn mồi sớm, kéo dài được thời kỳ sinh trưởng Cần tiến hành thả nuôi cá giống vào lúc thời tiết tốt (nếu trời rét, lạnh, có tuyết không nên thả nuôi,

để tránh rét cóng làm chết cá khi bắt và vận chuyển) Trước khi cho cá giống xuống ao cần phải tiến hành tiêu độc

- Thức ăn: Trước khi thả cá mó vào nuôi, cần thả trước một số lượng cá giống nhà hoặc cá tạp thiên nhiên có kích thước < 60% chiều dài cá giống mó để làm thức ăn Sau 3 tháng, cần thả vào ao nuôi cá mó cá giống lượng thức ăn bằng

5 - 6% trọng lượng cá mó, bao gồm các loại cá mè hoa, mè trắng, cá vền, cá chép, cá diếc v.v Trong 2 - 3 tháng có thể lại không thả mồi ăn, nhưng cần định kỳ kiểm tra tình hình cá

mó ăn mồi; Sau 6 tháng, cá mó ăn mồi sinh trưởng tốt, lên cân mỗi ngày, thì cứ 2 - 5 ngày cho ăn 1 lần cá có kích thước lớn,

để thoả mãn yêu cầu sinh trưởng của cá mó

- Quản lý: nuôi cá mó thương phẩm cũng giống như nuôi các loại cá nhà:

+ Cần tăng cường quản lý hàng ngày;

+ Cần có người chuyên môn phụ trách;

+ Tăng nhiệt độ nước lên cao;

+ Khi cá mó lớn lên cần phân giai đoạn chêm thêm nước mói.Nói chung vào mùa xuân và mùa thu, cứ 10 - 20 ngày thêm một lần nước, mỗi lần thêm 30 - 40cm nước Mùa hạ chăm thay nước, 5 - 7 ngày thay 1 lần Nếu có điều kiện nên giữ cho nước chảy nhẹ thì hiệu quả nuôi càng tốt Cần tuần tra

ao, đìa, tiến hành công tác phòng trị bệnh

Trang 24

2.3.2 N uôi ghép

Chủ yếu là nuôi ghép giữa ao nuôi cá thương phẩm và

ao nuôi cá b ố m ẹ Lúc nuôi ghép cá mó, cần khống ch ế kích thước của nó, lấy nguyên tắc tránh không làm nguy hại đến

cá nuôi chính (kích thước nhỏ nhất cá giống chính thả vào

so với cá mó giống > 1 , 5 lần) Nói chung 1 hecta thả 600 -

800 con cá m ó cỡ 3 - 5cm hoặc 250 - 300 con cỡ 10 - 16cm Lượng thả nuôi cụ thể căn cứ vào số lượng cá tạp thiên nhiên trong ao (nhiều, ít) m à tăng giảm, vừa lợi dụng đầy

đủ nguồn lợi cá tạp thiên nhiên lại vừa đáp ứng nhu cầu không tăng thêm thức ăn Ở gần sông, hồ có điều kiện thường xuyên m ở cống lấy giống, đưa cá tạp vào để cung cấp thức ăn cho cá mó A o nuôi ghép không thích hợp với việc thả cá con mè trắng, m è hoa v.v , vì cá m ó có tốc độ sinh trưởng nhanh, có thể nuốt được cá giống nhà có kích thước ngắn hơn Cá m ó có yêu cầu oxy so với các loại cá nhà cao hơn, do đó ao nuôi ghép chất nước không nên quá béo, cần định kỳ bổ sung thêm nước mới Đ ối với m ột số thuốc, cá mó tương đối nhạy cảm, lúc cho thuốc nên đặc biệt thận trọng

2.3.3 N uôi luân chuyển

( ỉ ) N uôi luân chuyển cá mó với tôm càng N hật Bản: Từ

đầu tháng 5 thả nuôi cá mó con đến đầu tháng 1, chu kỳ nuôi

5 - 6 tháng, bắt ra bán đã được 70 - 80% cá mó đạt quy cách thương phẩm, còn lại 20 - 30% chưa đủ quy cách thương phẩm được tiếp tục nuôi dưỡng Dùng ao, đìa nuôi cá làm thức ăn và

ao, đìa nuôi cá mó bỏ không thả nuôi tôm càng Nhật Bản, đến tháng 4 - 5 năm sau bắt tôm bán ra chợ Nói chung mật độ nuôi

Trang 25

cá mó mỗi hecta từ 12.000 - 15.000 con, cỡ 3 - 4cm; mật độ tôm càng xanh 120.000 - 150.000 con, cỡ tôm trên l,5cm Việc quản lý kỹ thuật nuôi luân chuyển cũng giống như nuôi một đối tượng.

(2) N uôi luân chuyển cá mó và tôm càng xanh: Tôm càng

xanh không chịu được rét Vào cuối thu, đầu đông khi nhiệt

độ nước xuống dưới 15°c, cần kịp thòi tháo cạn nước bắt cá đem bán Như vậy ao, đìa trên thực tế sử dụng có nửa năm (từ tháng 5 đến tháng 10) Sử dụng ao nuôi tôm càng xanh bỏ không vào mùa đông để nuôi cá mó Giai đoạn này nuôi cá

mó rất hợp lý, ao có nhiều thức ăn, nuôi đến tháng 4 - 5 năm sau, bắt bán, giá tương đối cao Tôm càng xanh giống thả nuôi tháng 5 năm sau, cỡ 2 - 3cm, mỗi hecta thả nuôi 180.000 - 220.000 con Giai đoạn cuối của nuôi luân chuyển có thể nuôi ghép cá mè hoa và mè trắng, sử dụng để khống chế lượng phù

du sinh vật trong ao, đìa Giống cá mó thả nuôi đến trung tuần tháng 10, tiến hành tháo cạn ao bắt cá, cỡ cá 0,15 - 0,25

kg/con, mỗi hecta thả nuôi 3.800 - 4.500 con Trong quá trình nuôi cần giữ cho nước luôn sạch và mới, hàm lượng oxy phong phú, tạo điều kiện cho cá mó sinh trưởng Nói chung mùa đông cứ 15 - 20 ngày cho thêm một lần nước mới, sang mùa xuân thì 7 - 10 ngày 1 lần, mỗi lần thêm lượng nước cao

0,1 - 0,3m

2.3.4 Đánh bắt và vận chuyển cá mó

Đánh bắt, vận chuyển và tiêu thụ là khâu trọng yếu trong sản xuất, nuôi dưỡng cá mó, nó trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận, do đó cần xem đây làm một khâu quan trọng của việc nuôi cá

Trang 26

(1) Đ ánh bắt: Đ ánh bắt cá mó nuôi chủ yếu dùng các

loại lưới vùi kéo, lưới cản, tháo cạn nước bắt cá Do giá của

cá m ó thương phẩm đã chết thấp hơn so với cá còn sống, do

đó trong thao tác đánh bắt hết sức thận trọng, giữ cho cá không bị thương hoặc thiếu oxy, tận dụng m ọi khả năng đem

cá sống đến chợ

(2) Vận chuyển: Vận chuyển cá mó cần căn cứ vào kích

thước, số lượng và cự ly xa gần mà chọn đồ chứa cá, công cụ vận chuyển và biện pháp vận chuyển tương ứng

- Vận chuyển cá mó con: Dùng bọc nilông bơm oxy và nước, vận chuyển tương đối tốt Lượng oxy tiêu hao của cá

mó cao, mật độ vận chuyển cần giảm hơn so với cá nhà, thông thường túi khí 30cm X 30cm, mỗi một túi đựng 500 - 2.000 con cỡ 2,0 - 3,0cm; 300 - 400 con cỡ 5cm, thòi gian vận chuyển 4 - 5 giờ Thời gian vận chuyển càng dài, mật độ càng phải giảm bót Khi dùng túi khí vận chuyển, cần tránh nhiệt

độ cao, tránh ánh sáng mặt trời chiếu thẳng vào cá làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sống

- Vận chuyển cá 1 tuổi, cự ly ngắn có thể dùng đồ đựng rộng miệng (như thùng sắt, túi vải bạt V V ) để vận chuyển Vận chuyển đi xa hoặc vừa, dùng xe vận tải chở cá sống, tốt nhất nên chọn ngày đẹp trời, nhiệt độ nước 10°c Khi khí hậu quá lạnh hoặc quá nóng đều không thể vận chuyển

- Vận chuyển cá mó thương phẩm cần dùng 2 bộ thiết bị tăng oxy Khí hậu có nhiệt độ cao nên m ang theo vật dụng giảm nhiệt, thường thường nên vận chuyển vào buổi sáng sớm, cá sống trực tiếp chỏ đến chợ, bảo đảm chất lượng cá mó thương phẩm để nâng cao hiệu quả kinh tế

Trang 27

2.4 Phòng, trị bệnh

Trong công tác phòng, trị bệnh cá mó cần quán triệt phương châm phòng bệnh toàn diện, tích cực trị liệu, đồng thời tuân theo nguyên tắc “không bệnh nên phòng trước”, “có bệnh nên trị sớm”

2.4.1 Địch hại

( ỉ) Chủng loại địch hại: địch hại đối với trứng và giống cá

mó có rất nhiều như ấu trùng hoặc thành thể tôm cá con, côn trùng nước và phù du sinh vật nhỏ (rận nước)

(2) Phương pháp phòng trị:

1 Dùng nước để ấp trứng phải qua lưới lọc sợi nilông cỡ mắt lưới 80 -100

2 Định kỳ dùng các hoá chất được phép sử dụng để xử lý nguồn nước dùng ấp trứng, tiêu diệt bọn rận nước và các loại địch hại khác

2.4.2 Bệnh do nấm

Bệnh nấm nguy hại cho cá mó con, cá trưởng thành và cả

trứng cá Bệnh do các loại nấm mang (Branchiomyces spp.)

và nấm thủy my thuộc họ Saprolegniaceae, bộ Saprolegniales gây nên

( ỉ) Bệnh nấm thủy mi:

- Dấu hiệu bệnh lý: Sợi nấm hình ống, không có vách ngăn tế bào, làm thành một thể có nhiều nhân bào; một đầu sợi nấm bám vào vết thương trên thân cá, có nhiều nhánh ăn sâu vào tổ chức tế bào da thịt, còn đầu bên kia tách rcd cơ thể

Trang 28

cá, dài có thể đến 3cm; có thể nhìn bằng mắt thường khuẩn lạc thành một búi tựa bông vải màu trắng xám, làm cho thân

cá phải mang quá nặng nhiều khuẩn ti, bci lội chậm chạp, cuối cùng gầy yếu rồi chết

- Phương pháp điều trị:

* Trứng cá ấp nước chảy: Trước tiên dùng nước sạch rửa qua trứng, sau đó nhúng rửa, trứng cá bằng chất diệt khuẩn được phép sử dụng (theo chỉ dẫn), cho ấp trứng bể vòng

* Xử lý diệt trùng trên toàn ao cũng bằng các hoá chất được phép sử dụng vói các liều lượng theo chỉ dẫn

* Dùng nước muối ăn 2 - 3% tắm cho cá 5 - 10 phút, hoặc dùng dấm 1% tắm cho cá 5 phút, đều đạt được kết quả tốt

(2) Bệnh nấm mang:

- Dấu hiệu bệnh lý: Nấm mang cá chủ yếu do bào tử nấm xâm nhập trực tiếp mà truyền bệnh Khuẩn ti luồn vào tổ chức mang không ngừng sinh trưởng, theo mạch máu của mang chia nhánh, hoặc xuyên vào xương sụn phá hoại tổ chức mang, làm cho cá thở khó khăn, bơi lội chậm chạp, m ất đi năng lực bắt mồi Chất nhầy trên m ang tăng nhiều, lúc bệnh nặng, cá mó thiếu máu nặng, toàn bộ mang biến thành màu xám nhạt

Khi chất nước biến thối, đặc biệt trong nước có hàm lượng chất hữu cơ cao, rất dễ xảy ra bệnh này

- Phương pháp điều trị:

* Nuôi giống bể vòng: dùng Penicillin G hòa nước rồi phun, liều dùng 400 ngàn IU hoặc 0,25ppm, hiệu quả rất tốt

Trang 29

* Nuôi giống trong ao, đìa: dùng vôi sống 450ppm hoặc clorua vôi 40ppm để tiêu diệt nấm mang.

2.4.3 Bệnh do vi khuẩn

( ỉ) Bệnh trắng đuôi:

- Bệnh chứng: Lúc mới phát bệnh, gốc vây lung và bắp đuôi của cá bệnh xuất hiện điểm trắng Tuỳ tình hình bệnh

phát triển lan dần nhanh ra, bề mặt thân ở giữa vây lưng và

vây hậu môn cùng vây đuôi đều biến màu trắng Cá bệnh nặng vây đuôi lở loét hoặc rách khuyết, đầu cá bệnh chúc xuống, phần đuôi vênh lên, dốc ngược trong nước, có lúc hơi nhảy lung tung cho đến chết

(2) Bệnh thối rữa mang:

- Dấu hiệu bệnh lý: trên hai mang của cá có những điểm

trắng thối rữa, có nhiều dịch nhầy và vật bám Trên thân cá thường có nhiều rận nước và ký sinh trùng bám

Trang 30

* Dùng thuốc và hoá chất được phép sử dụng để tắm cho

cá hoặc xử lý ao

2.4.4 B ệnh do trùng lông (Cilỉophora)

Bệnh trùng lông là m ột loại bệnh gây nguy hiểm ở giai

đoạn cá mó con, chủ yếu do trùng miệng lệch, trùng bánh xe, trùng quả dưa, trùng loa kèn v.v ký sinh gây nên thân cá biến đen, không bắt mồi, bơi nghiêng hoặc bơi ngửa trên mặt nước, cá yếu dần rồi chết

( ỉ ) Bệnh trùng miệng lệch:

- Dấu hiệu bệnh lý: Trùng ký sinh ở da và mang làm cho da

và mang bị kích thích và phá hoại, gây cho cá tiết nhiều chất nhầy, biến thành màu trắng và một lớp màng mỏng màu xám, khi bệnh nặng cá nổi lên m ặt nước, thở khó, nắp mang hiện ra màu đỏ vàng, không bao lâu cá sẽ chết, tỷ lệ chết trên 90%

Trang 31

(2) Bệnh do trùng bánh xe:

- Dấu hiệu bệnh lý: Bệnh chủ yếu gây nguy hại đến cá

con, cá giống Lúc ký sinh nghiêm trọng có thể gây cho chỗ

bị trùng ký sinh có chất nhầy tăng nhiều, cá bơi lội chậm chạp, hô hấp khó khăn rồi chết, nói chung khống có chứng trạng gì đặc biệt

- Phương pháp phòng trị:

* Phòng trị giống trùng miệng lệch

* Dùng nước muối ăn 1 - 3% tắm cho cá 3 - 5 phút

(3) Bệnh do trùng quả dưa:

- Dấu hiệu bệnh lý: Khi bị trùng ký sinh, cá mó con và cá

mó lớn đều phát bệnh, chủ yếu là gây nguy hại cho con giống Bệnh thường xuất hiện vào các tháng 5 - 6 , lúc nhiệt độ nước lên 15 - 25°c cá mó hay mắc bệnh

Trùng quả dưa nhờ bào nang và ấu trùng truyền bệnh

Âu trùng của trùng quả dưa chủ yếu xâm nhập vào cơ thể cá qua da hoặc qua tổ chức biểu bì mang để hút dinh dưỡng Lúc bệnh nặng, trên tổ chức da cá, vây, mang nổi đầy mụn, mỗi m ột mụn làm thành m ột điểm trắng, đồng thời có nhiều chất nhầy Kiểm tra dưói kính hiển vi thấy có trùng lớn hình cầu, cá gầy, bơi lội khác thường, cuối cùng hô hấp khó khăn rồi chết

- Phương pháp phòng trị:

* Tăng cường quản lý, giữ cho môi trường nước tốt, để tăng cường sức đề kháng của cá

Trang 32

* Dùng nitrat thuỷ ngân nồng độ 0,2 - 0,25ppm tắm cho

cá trong 5 - 1 0 phút, cách 1 ngày tắm 1 lần, tiến hành 3 - 5 lần

có thể khống chế bệnh Cần chú ý khi nồng độ 0,15ppm, trong

4 giờ bắt đầu cá chết, quá 24 giờ tỷ lệ chết lên 100%

* Ao phun hoá chất cho phép sử dụng để diệt trùng

* Hạ thấp mực nước, nâng cao nhiệt độ nước, lúc nhiệt độ

nước lên trên 28°c, trùng quả dưa ngừng sinh trưởng, tự roi

rụng khỏi cơ thể cá

2.4.5 Bệnh do giun sán

(1) Bệnh sán:

- Dấu hiệu bệnh lý: Bệnh do sán ký sinh ở bộ phận mang

cá gây nên Lúc còn ít thể hiện bệnh trạng không rõ, khi cá bị

ký sinh nhiều làm cho tơ mang sưng lên, thiếu máu và dễ sinh bệnh do vi khuẩn Bệnh không chỉ làm cho cá con chết nhiều

* Trước khi thả cá con nuôi, dùng thuốc tím (K M n04) nồng độ 15 - 20ppm tắm trong 1 5 - 3 0 phút để giết chết sán

ký sinh trên thân cá mó

Trang 33

* Dùng thuốc đặc hiệu Mê trùng linh (loại hình B) nồng

độ 0,4ppm phun tất cả ao (không thể dùng thuốc này với các loại thuốc có tính kiềm, thời kỳ an toàn sau khi dùng thuốc là

7 ngày, cách 3 - 5 ngày lại dùng 1 lần)

* Cần xử lý tốt nguồn nước nuôi và thức ăn để không cho gây bệnh truyền nhiễm

(2) Bệnh giun tròn:

- Dấu hiệu bệnh lý: ở giữa các tia vây đuôi, vây hậu mỏn

và vây lưng hoặc xoang bụng vì có trùng ký sinh mà sinh viêm và sung huyết, trừ việc ảnh hưởng sinh trưởng ngoài ra còn gây chết cá

- Phương pháp phòng trị: dùng vôi sống để làm vệ sinh ao,

hồ giết chết ấu trùng và kí chủ trung gian

2.4.6 Bệnh do động vật giáp xác gây nên

( ỉ) Bệnh trùng m ỏ neo

- Dấu hiệu bệnh lý: Do trùng mỏ neo ký sinh gây ra, nơi

ký sinh bị viêm đỏ, tổ chức bị hoại thư dễ lây lan ra xung quanh Cá con bỏ ăn, bơi lội chậm chạp, mất thăng bằng, thậm chí trùng mỏ neo chui vào ký sinh ở nội tạng, cá bệnh không bao lâu sẽ chết

- Phương pháp phòng trị:

* Xử lý tốt nguồn nước nuôi

* Định kỳ tiệt trùng ao nuôi và cá làm thức ăn mua về cần tiệt trùng rồi mới cho cá ăn

Trang 34

* Nuôi bể vòng có thể dùng muối ăn nồng độ lOppm phun

cả toàn bể

* Dùng thuốc tím (K M n04) lOppm phun vào bể vòng

* Dùng thuốc tím ìoppm tắm cá 15 phút và thay nước

(2) Bệnh rận cá Trung Hoa:

- Dấu hiệu bệnh lý: Khi cá đạt được trên lOcm, có lúc trên

m ang cá phát hiện ký sinh trùng rận cá, khi còn ít không thấy biểu hiện gì, nếu nhiều làm cho hô hấp khó khăn, cá cảm thấy bực bội không yên, làm cho cá lớn gầy yếu và lớn chậm

- Phương pháp phòng trị: Xử lý phun hoá chất, vôi toàn

ao theo hướng dẫn của kỹ thuật viên Dùng trùng khắc tinh

số I (chuyên dùng cho cá m ó, cá chình) nồng độ 0,125ppm,

5 ngày sau lại dùng giảm đi một nửa một lần, không được dùng đồng thời với vôi sống và các thuốc tiệt trùng khác có tính kiềm

- Phương pháp phòng trị:

Hiện nay không có cách điều trị lý tưởng

Trang 35

* Dùng Sulfat thuỷ ngân nồng độ 0,1 ppm phun trên toàn

ao, có hiệu quả nhất định.

* Dùng mê bào linh nồng độ 0,1 ppm, phun trong toàn ao

(2) Bệnh bại huyết:

- Dấu hiệu bệnh lý: Do 1 loại vi khuẩn đơn bào gây bệnh,

có kèm theo ký sinh trùng Lâu nay bệnh này bạo phát dữ dội trong sản xuất cá mó giống gây tổn thất nặng nề

Ở cá bệnh trên nắp mang hoặc gốc vây xuất hiện sung huyết, màu sắc gan biến nhạt, xoang bụng có tích nước, bệnh này lây lan nhanh, tỷ lệ chết cao

* Dùng clorin phun toàn đìa

* Dùng “khuẩn độc uy” nồng độ 0,3 - 0,5ppm phun toàn đìa, cách ngày 1 lần, dùng liều 2 lần

* Tiêm giống tiêu diệt khuẩn sống

2.5 Phương thức nuôi khác

Phương thức nuôi cá mó ngoài cách nuôi ao, đìa ra còn có phương thức nuôi vây lưới, nuôi lồng lưới, nuôi chắn lưới ngang sông suối, nuôi ghép trong hồ sen v.v

Trang 36

2.5.1 Nuôi bằng vây lưới

Chọn hồ ao, m ặt nước lớn, hồ chứa nước để định vị trí vây lưới, tiến hành lấy cá mó làm đối tượng nuôi là chính

Ư u điểm lớn nhất, có điều kiện chất nước tốt, hàm lượng oxy hoà tan cao, đổng thời nguồn cá tạp thiên nhiên rất phong phú Do đó, nuôi cá mó vây lưới không cần (hoặc

m ột số ít) nuôi ghép cá làm thức ăn, chỉ cần ở khu vực xung

quanh lưới vây đặt m ột vị trí để bắt cá, hàng ngày đánh bắt

cá tạp nhỏ thiên nhiên thả vào trong lưới làm thức ăn sống cho cá

( ỉ ) Đặc điểm của nuôi cá mó vây lưới:

* Chọn nơi có diện tích thủy vực lớn, lượng oxy hoà tan cao, điều kiện m ôi trường tốt, có lợi cho cá mó sinh trưởng

* Cá làm thức ăn thiên nhiên phong phú, đồng thời được không ngừng bổ sung, lọi dụng cá có giá trị thấp chuyển thành sản phẩm có giá trị cao

* Nuôi cá mó lưới vây thường ở vị trí thuỷ vực có tính

không khép kín, dễ bị ảnh hưởng của các yếu tố do con người

và thiên nhiên như thuyền bè, gió bão, nước lũ, nước ô nhiễm

V V

(2) Chọn khu vực đặt vây lưới:

Căn cứ vào đặc điểm nuôi cá mó vây lưới, nên chọn thuỷ vực có nước sâu 1,5 - 3m, đáy bằng phẳng, có cỏ dưới

Trang 37

nước rậm rạp, dòng chảy bình ổn, chất nước sạch, không có nước bị ô nhiễm chảy vào, nguồn cá làm thức ăn phong phú.

(3) Lắp đặt vây lưới:

Diện tích lưới vây 0,2 - lha là vừa, dùng sợi nilông 3 x 4

để dệt, lấy sào tre (hoặc bằng cột bê tông) làm giá đỡ, dùng sào tre cắm sâu, cách nhau 2m, xuống đáy hồ sâu l,5m làm trụ đỡ, sau đó lấy lưới nilông chế thành vây lưói, bề cao của lưói 4 - 5m (lấy mức nước cao nhất, sóng cao nhất và độ cao

cá nhảy v.v để xác định độ cao lưới vây) Dây giềng trên và giềng dưới của lưới dùng dây nilông cỡ 50 X 3 Giềng trên nhô lên trên mặt trước l,5m và cố định trên giá

(4) Thả nuôi cá giôhg:

Để lợi dụng nguồn nước có thức ăn phong phú, cần nuôi ghép các loại cá có kích cỡ lớn một lượng thích hợp như cá vền, cá trắm cỏ, cá mè hoa, cá mè trắng v.v Kích thước cá thả nuôi ghép ít nhất > 1 ,5 lần kích thước cá mó giống Kích

cỡ cá mó giống thả nuôi 50 - 60g/con, nói chung mỗi hecta thả nuôi 75 - 135 kg Cá trắm cỏ chiếm 25% tổng số cá nuôi ghép, cá vền 15%, cá mè trắng, cá mè hoa, cá trắm 10% Lượng thả nuôi thích hợp căn cứ vào điều kiện môi trường của cá nuôi và nguồn lợi sinh vật để xác định Thời gian thả nuôi từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau Tốc độ sinh trưởng cá

mó tương đối khá, trong tình trạng thức ăn đầy đủ, trải qua

10 tháng nuôi, nói chung có thể đạt được 500g/con

(5) Quản lý nuôi, cho ăn:

Trang 38

Nội dung chủ yếu của việc quản lý nuôi, cho ăn gồm các khâu sau: bảo vệ thiết bị lưới, cho ăn và công việc quản lý hàng ngày, phòng trị bệnh cá.

* Lắp đặt lưới bảo vệ: Điều kiện quyết định đầu tiên là dùng lưới ngăn không cho cá nhảy ra Cần thường xuyên kiểm tra thiết bị lưới (bao gồm cả đá chặn), nếu phát hiện có hư hỏng cần kịp thời sửa chữa bổ sung

* Bón thức ăn và quản lý hàng ngày: Sau khi thả con giống, cần kịp thời cho ăn Ở quanh lưới có đặt lờ để bắt cá tạp, bảo đảm thức ăn cho cá mó đầy đủ, hệ số thức ăn bình thường là 4 - 8 Cá nuôi ghép 3 - 1 0 tháng cần cho ăn cỏ và thức ăn tinh, cỏ m ọc dưới nước đến m ùa phát triển rộ cần lấy vào cho cá ăn, thức ăn tinh là phụ, vào m ùa xuân và thu thì lấy thức ăn tinh làm chính N ên thường xuyên kiểm tra m ật độ thức ăn cá m ó, m ỗi ngày kiểm tra tình hình bắt

m ồi của cá m ó, cần kịp thời dọn sạch những thức ăn thừa, thường xuyên chà rửa những vật bám và cỏ nước bám trên thân lưới để làm cho nước được lưu thông bình thường Gặp khi gió bão lớn cần phải phòng chống tối đa cá chạy, bảo đảm an toàn cho sản xuất

* Phòng trị bệnh cá: Nuôi cá lưới vây ít phát sinh bệnh hơn so vói nuôi cá ao, đìa, nhưng m ột khi phát sinh cá bệnh việc trị liệu tương đối khó khăn, cho nên cần thận trọng cào vét bùn thối, tiệt trùng cá giống và kịp thời công việc trị liệu

2.5.2 Nuôi bằng lồng lưới

Khi nuôi lồng lưới cần sử dụng những điều kiện của thuỷ vực có ưu điểm tốt như ao hồ, hồ chứa nước, đầm phá, cửa

Trang 39

sông, có nhiều đặc điểm sản xuất cơ động linh hoạt, đầu tư ít, thiết bị đơn giản, dễ thao tác, thêm vào đó diện tích lồng lưới nhỏ Cá nuôi trong lổng lưới được khống chế một cách chủ động, chất bài tiết có thể thuận lợi thoát ra ngoài, làm cho chất nước trong lồng lưu thông sạch sẽ, tăng thêm cơ hội bắt mồi của cá mó, lại giảm bớt năng lượng bị tiêu hao do bắt thức ăn, làm cho cá mó sinh trưởng càng nhanh Mặt khác nuôi lổng lưới cá mó vừa có lợi để một lượng lớn cá được huấn luyện cho ăn nhân tạo, vừa có thể nuôi với mật độ cao, giảm bớt giá thành thức ăn Ngoài ra nuôi lồng lưới lất dễ thao tác đánh bắt, để phân cấp nuôi cho ăn, có thể giải quyết vấn

đề nuôi cá mó bằng ao, đìa năng suất đánh bắt thấp và chủ động được trong việc đánh bắt đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường

( ỉ) Chọn thủy vực: Nuôi cá mó lồng lưới nên chọn thuỷ

vực có mặt nước rộng rãi, có dòng chảy nhất định, chất nước trong sạch (độ trong lớn hơn 35cm), mực nước thấp nhất 2m, không bị ô nhiễm, ảnh hưởng của sóng gió ít

(2) C h ế tạo và lắp đặt lồng lưới: Lổng lưới cấu tạo bằng

những tấm lưới nilông, quy cách 1 - 15 m2 không đều nhau Trong thực tế sản xuất, lổng lưới 2 - 4m2 là tương đối tốt, rất tiện lợi khi tập cho cá ăn thức ăn nhân tạo Do lồng lưới dùng thả nuôi từ cá con đến cá thương phẩm nên chia ra làm 3 - 4 giai đoạn tiến hành, vì vậy có các kích thước không giống nhau Mắt lưới to nhỏ để bảo đảm cho dòng nước trong, ngoài chảy lưu thông, cá làm thức ăn không chạy thoát được Nếu thả cá mó con cỡ 4 - 5cm, chọn loại

Trang 40

có 15 - 20 m ắt lưới/cm 2, khi cá mó đạt đến 8 - 10cm, chọn dòng m ắt lưới 0,8 - lcm ; khi cá mó đạt đến trọng lượng độ 100g, cá có phao m iệng m ở (hoặc có nắp đậy) khung lồng

có thể dùng tre nhỏ (hoặc các vật liệu khác) để tạo thành

Độ sâu phần ngập nước của lổng lưới là 1,2 - l,5 m , độ cao

ở trên m ặt nước là 0,3 - 0,5m Lồng lưới mới trước khi thả nuôi 7 - 1 0 ngày, cho xuống nước lắp đặt hoàn tất, để trên thân lồng có bám một ít rong rêu làm cho cá khỏi bị xây xát Phương hướng đặt lồng lưới vuông góc với dòng nước, lúc đặt nhiều lổng lưới, cự ly không nên quá gần

(3) Phương thức nuôi: Có thể chia thành nuôi m ột đối

tượng và nuôi ghép Nuôi m ột đối tượng là đem cá giống

m ó thả vào lồng lưới m ới chuyên nuôi cá mó, ngoài ra có lồng nuôi cá làm thức ăn kèm theo, sau đó căn cứ tình hình bắt m ồi và sinh trưởng của cá mà định thời gian thả thức ăn

N uôi ghép thì dùng biện pháp nuôi cá mó cùng với cá làm thức ăn và thả không cùng m ột lúc, không có lồng nuôi cá làm thức ăn riêng Trong nuôi ghép, thích hợp nhất là thả nuôi cá mè hoa, cá mè trắng để làm cá thức ăn, như thế trong lồng nuôi ghép các loại cá mè bắt mồi tảo phù du, cá

m ó lại bắt cá mè để ăn thịt

(4) M ật độ thả nuôi: Căn cứ vào phương pháp nuôi, nguồn

cá giống, điều kiện thức ăn m à quyết định Nếu nuôi m ột đối tượng vào mùa xuân, m ật độ thả giống cá mó 30 - 40 con/m2,

cỡ cá 50 - 80g hoặc vào khoảng tháng 5 - 7 thả cá trong năm

m ật độ độ 300 con/m2, cỡ 2,5 - 3,5cm; mật độ thả 150 - 200 con/m 2, cỡ 3,5 - 5cm; thả 50 - 80 con, cỡ 8 - 10cm Khi trọng

Ngày đăng: 17/02/2021, 09:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm