1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sổ tay nuôi một số đối tượng thủy sản nước ngọt tập 2 nguyễn khắc hường biên dịch

141 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 6,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không được dùng các loại hóa chất, kháng sinh bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sàn theo Quyết định s ố 07Ỉ2005IQĐ-BTS ngày 241212005 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản.. * Chuẩn bị ao đìa: Tr

Trang 1

THƯ VIỆN

ĐẠI HỌC NHA TRANG ỮY SAN

639.31

s 450

T.2

Trang 3

Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Huy Điền

Nguyễn Thị Thu Hằng Nguyễn Thu Hằng

Đỗ Thị Việt Oanh

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Đ ể góp phần cung cấp kiến thức và kinh nghiệm sản xuất đến đông đảo bà con nông ngư dân cũng như các cán

bộ kỹ thuật thủy sản và những người làm công tác khuyến ngư trong cả nước Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia tổ chức biên dịch một sô' tài liệu của Trung Quốc - đất nước cố truyền thống, kinh nghiệm lâu đời về nuôi trồng thủy sản và

đ ã có một quá trình hỗ trợ, hợp tác với chúng ta về kỹ thuật trong lĩnh vực này.

Cuốn sách “SỔ tay nuôi một sô' đối tượng thủy sản nước ngọt” tập 2 là tiếp theo cuốn “S ổ tay nuôi một số đối tượng thủy sản nước mặn ” xuất bản năm 2005 và cuốn “S ổ tay nuôi m ột sô' đối tượng thủy sản nước ngọt” tập 1 ị gồm các chương I, II, III, IV, V, VI, VII, VIII, IX, X) xuất bản năm 2006 Nội dung sách Tập 2 tiếp tục giới thiệu một sô'loài thủy sản nước ngọt đã được nuôi ở Trung Quốc, đó là: Chương XI - Cá vược đen miệng rộng, Chương XII - Cá nheo đuôi chẻ có chấm và Chương XIII -

Cá nóc nước ngọt Với từng đối tượng, s ẽ giới thiệu các nội dung về đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi, phương pháp phòng trị bệnh, giá trị kinh tế.

Do đây là cuốn sách được biên dịch từ tài liệu đã xuất bản cách đây ít lâu, nên có những thông tin mới chưa được cập nhật, bổ sung Khi tham khảo, mong bạn đọc chú ý

Trang 5

vận dụng cho phù hợp với tình hình cụ th ể của địa phương, dơn vị - nhất là trong việc sử dụng hóa chất, kháng sinh đ ể phòng trị bệnh cho cá nuôi Không được dùng các loại hóa chất, kháng sinh bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sàn theo Quyết định s ố 07Ỉ2005IQĐ-BTS ngày 241212005 của

Bộ trưởng Bộ Thủy sản.

Rất mong bạn đọc góp ỷ đ ể việc xuất bản các tài liệu

kỹ thuật phục vụ công tác khuyến ngư ngày càng tốt hơn Kin chân thành cảm ơn.

NGUYỄN HUY ĐIỀN Giám đốc Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia

Trang 6

Chương XI

NUÔI C Á VƯỢC ĐEN MIỆNG RỘNG

Cá vược đen miệng rộng có tên khoa học Micropterus salmoides là loài cá nước ngọt có nguồn gốc từ Bắc Mỹ,

thuộc họ cá mặt trời, bộ cá vược Nhập vào Đài Loan từ thập kỷ 70 và từ những năm 80 của thế kỷ trước nhập vào Trung Quốc đại lục Cá có thịt ngon, mềm được thị trường châu Á hoan nghênh

Trang 7

I ĐẶC TÍNH SINH VẬT HỌC

1.1 Đặc điểm sinh thái

Cá vược đen miệng rộng thuộc loài cá nước ấm, nhiệt

độ thích hợp 20 - 30°c, nhiệt độ thấp hơn 10°c hoặc cao hơn 30°c bắt mồi giảm, nhiệt độ nước ở 1 - 36°c vẫn có thể

sống Yêu cầu của lượng oxy hòa tan trong nước là từ l,5mg/l trở lên, so với loài cá mó sức chịu đựng ngưỡng oxy thấp mạnh hơn nhiều

Cá vược đen miệng rộng là loài cá ăn thịt, chủ yếu là

ăn cá tạp, có tính tranh cướp mồi Giai đoạn cá con ăn luân trùng, râu ngành, chân chèo, giun chỉ; giai đoạn cá lớn ăn cá con, tôm nhỏ, côn trùng Trong điều kiện nuôi nhân tạo, có thể dùng cá tạp nhỏ băm cho ăn Thời kỳ cá con có thể luyện cho ăn thức ăn nhân tạo dạng hạt Cá thể lớn có thể đạt 9,7kg Cá nuôi một năm đạt quy cách thương phẩm 0,6 - 0,8kg

1.2 Tập tính sinh hoạt

Cá vược đen miệng rộng sống ở nước có độ đục thấp, trong thuỷ vực có thực vật thuỷ sinh phân bố như ở khu vực nước cạn của hồ chứa nước, đầm hồ (sâu độ 1 -3m), khe suối, vùng sông nước lặng, hổ ao v.v Cá thường núp mình dưới khe đá, lùm cây, khu vực hoạt động của cá tương đối hẹp Nuôi ở ao hồ, cá thích môi trường nước yên tĩnh,

không đục, chất đáy bùn cát hoặc cát, hoạt động ở tầng

Trang 8

nước giữa và tầng đáy Cá tương đối hiền hoà, không thích nhảy nhót, dễ bị kích động, phạm vi nhiệt độ thích hợp rất rộng; nhiệt độ nước 1 - 36°c đều có sinh trưởng, nhiệt độ

trên 10°c bắt đầu bắt mồi, nhiệt độ nước thích hợp nhất là

20 - 30°c Yêu cầu chất nước có lượng oxy hòa tan trên

I, 5mg/l Cá vược đen miệng rộng tuy là chuyển sống trong nước ngọt, nhưng theo kết quả thí nghiệm khi độ muối 10%, pH 6 - 8,5 vẫn có thể thích ứng được

II KỸ THUẬT NUÔI

2.1 Điều kiện ao, hồ nuôi

Để tiện việc thao tác khi nuôi, diện tích ao, hồ không cần quá lớn, ao nuôi cá thương phẩm không nên vượt quá

6670 m2 Ao hình chữ nhật bằng đất hoặc bể xi măng đều được, phổ biến là ao đất, chất đáy tốt, trên nền đáy phủ thêm một lớp cát mịn càng tốt Đáy ao bằng phẳng, không lậu nước, có ít bùn nhão, sâu độ 2m Nguồn nước ao cần đầy đủ, chất nước tốt, cấp thoát nước thuận lợi, không ô nhiễm, ánh sáng chiếu vào ao đầy đủ, có nước chảy yếu càng tốt Xây dựng hệ thống cấp thoát nước hoàn thiện để việc cấp thoát nước thuận tiện và đặt thêm máy sục khí

2.2 Phương thức nuôi

Phương thức nuôi gồm: nuôi đơn và nuôi ghép và có thể nuôi lồng lưới

Trang 9

* Chuẩn bị ao đìa: Trước khi thả giống nuôi cần phải

phơi đáy ao đìa sau đó cho nước vào 5cm, dùng 80kg vôi bón cho một mẫu Trung Quốc (667 m2) để làm vệ sinh đìa Sau khi tiệt trùng tiêu độc ao (khoảng 1 tuần), thêm vào 50 - 80cm nước, bón phân chuồng mục 250kg làm cho chất nước béo lên

* Thả nuôi con giống: Tiến hành thử nước trước là tốt

nhất, cách làm: trước khi thả giống 1 - 2 ngày, thả nuôi trước một con giống cá vược đen miệng rộng, khống chế phạm vi hoạt động của nó, để tiện việc quan sát Khi xác định nước ao không còn chất độc nữa, là có thể chính thức thả giống Thời gian thông thường vào tháng 5, nhiệt độ

nước ổn định trên 15°c, sinh vật phù du trong ao phát triển

đã đạt đến điểm cao là lúc thả giống tốt nhất Mật độ thả phải xem kích thước con giống, cùng với các điều kiện ao đìa mà định Con giống có kích thước nhỏ, ao có điều kiện tốt có thể thả nhiều hơn một ít; giống có kích thước lớn, ao

có điều kiện kém nên thả ít hơn Nói chung cá giống cỡ 5cm trong 667 m2 thả nuôi độ 2.000 con; ao có điều kiện thiết bị tốt có thể thả 3.000 - 4.000 con giống Nếu có thể, nên thả nuôi ghép các loại cá tầng giữa và tầng mặt như cá

mè trắng, cá mè hoa, cá trắm cỏ, cá vền để chúng làm vệ

sinh dọn sạch thức ăn thừa và điều chỉnh chất nước Ngoài

ra, lúc thả nuôi, phải chú ý việc làm cho cá ở một ao có

kích thước đồng đều, tránh kích cỡ không bằng nhau sẽ xuất hiện hiện tượng ăn thịt đồng bọn

2.2.1 Ao nuôi đối tượng chính

Trang 10

* Cho ăn: Cá vược đen miệng rộng có tập tính tranh ăn

mồi sống, do trong nuôi dùng thức ăn là mồi chết và cho ăn thức ăn tổng họp dạng viên vì vậy đều phải qua luyện ăn Khi luyện ăn có thể trong mỗi lần cho ăn tạo ra một tín hiệu

âm thanh, sau đó rãi thức ăn, lúc vãi thức ăn vào nước tạo ra một loại cảm giác bơi lội, có thể nhử cho cá đến tránh để

cướp thức ăn Nhu cầu về đạm ở cá vược đen miệng rộng

rất cao, cần lượng đạm 40 - 50%, trong sản xuất có thể bón các loại thức ăn sau đây:

Cho ăn đầy đủ, đồng thòi đề phòng quá lượng Cụ thể lúc cho ăn cần kiên nhẫn, lần thứ nhất vãi cho ăn xong mới vãi lần sau Cho đến khi cá trong ao không tranh nhau cưóp mồi nữa mới thôi Cho ăn phân vào các buổi sáng và chiều mỗi bữa một lần, lúc nhiệt độ nước 20 - 25°c, lượng thức ăn hàng ngày bằng 10 - 15% trọng lượng cá trong ao Nhưng cần theo dõi tình hình bắt mồi, hoạt động của cá và biến hóa của khí hậu Hệ số thức ăn 7,5 - 8

Trang 11

* Công việc quản lý hàng ngày: Công việc quản lý hàng

ngày trực tiếp liên quan đến lợi nhuận và sản lượng của cá thương phẩm Công việc bao gồm: hàng ngày tuần tra ao

cá nuôi, quan sát tình trạng biến hóa của chất nước, hoạt động của đàn cá, tránh làm cho nước ao quá đục hoặc quá béo, độ trong nước 30 cm là vừa Nếu ao không có nước chảy, ít nhất mỗi tuần cần thêm một lần nước bằng 10 - 20% lượng nước ao, khi khí hậu nóng bức cần cho thêm nước mới vào, sử dụng máy sục khí hợp lý để cải thiện điều kiện oxy và giữ gìn chất nước tốt Kịp thời phát hiện vấn đề tìm biện pháp giải quyết Cần nghiêm túc phòng ngừa thuốc trừ sâu, các loại thuốc có hại chảy vào ao để tránh làm chết

cá, nhất là cá con rất nhạy cảm đối với thuốc trừ sâu (chỉ một ít thuốc có thể giết chết toàn bộ ao cá); đồng thời cần tránh dùng một loại thức ăn (trong thức ăn nên thêm một ít vitamin và muối khoáng đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng bình thường) Kịp thời phân chia đàn giảm bớt mật độ nuôi, tránh hiện tượng sai biệt về kích thước cá thể dẫn đến hiện tượng ăn thịt đồng loại Nói chung tuỳ tình hình cụ thể khoảng 1 - 2 tháng tiến hành phân loại chọn cá có cùng kích cỡ nuôi chung 1 ao để tránh hiện tượng cá lớn nuốt cá

bé Công tác phân nuôi cần tiến hành vào buổi sáng khi có khí trời tốt, không nên phân nuôi vào lúc thời tiết nóng nực hoặc lạnh buốt Thường xuyên quan sát và đo kiểm tra chất nước, kịp thcd dùng vôi và các loại thuốc để tiệt trùng tiêu độc, làm giàu oxy, cải thiện chất nước với mục đích phòng trị bệnh

Trang 12

Ở trong điều kiện ao nuôi cá chính có nuôi thêm cá vược đen mõm rộng một lượng thích hợp; vừa có thể tiêu diệt được các loài tôm cá tạp, côn trùng thuỷ sinh, động vật đáy, v.v sống trong ao, giảm bớt ảnh hưởng của chúng đối với cá thả nuôi, lại có thể tăng thêm thu nhập cá vược đen miệng rộng, nâng cao lợi nhuận của ao cá Nói chung trong 667m2 thả nuôi 30 - 40 con cá, không bón một thứ thức ăn nào, đến cuối năm có thể thu hoạch 15 - 20kg cá vược đen miệng rộng Nếu trong điều kiện ao nuôi thích hợp, cá tạp nhiều, mật độ nuôi ghép vược đen miệng rộng sẽ tăng nhiều, nhưng không nuôi cá quả, cá chình, v.v nó là các loại cá ăn thịt Ngoài ra ao giống hoặc ao đã nuôi ghép không nên nuôi ghép thêm cá vược đen miệng rộng để tránh làm tổn hại đến giống cá nhỏ Lúc nuôi ghép cần chú ý: nước ao không thể quá béo; lượng cá thả phải vừa đủ, giai đoạn đầu nuôi ghép, kích thước của giống nuôi chính cần lớn hơn 3 lần kích thước cá vược đen miệng rộng; cá vược đen miệng rộng đặc biệt là cá con tương đối mẫn cảm đối với thuốc trừ sâu và thuốc phòng trị bệnh cá.

2.2.3 Nuôi ghép trong lồng lưới

* Tuyển chọn thủy vực: nên chọn hồ chứa nơi đặt lồng

lưới nuôi cá vược đen miệng rộng, tiện việc quản lý, không

bị ô nhiễm, diện tích hồ chứa trên 30ha, để tiện việc di chuyển lổng lưới Thủy vực đặt lồng lưới nên rộng rãi, có

2.2.2 Nuôi ghép trong ao

Trang 13

ánh sáng mặt trời, kín gió, chất đáy là cát sạn đá, mực nước thấp nhất không thấp hơn 4m, độ trong nước trên 60cm, thuỷ vực có nước hơi chảy là tốt.

* Đặt lồng lưới: lồng lưới dùng những mảnh lưới kẽm

ghép lại, kích thước 6m X 4m X 2.5m, diện tích không nên quá lớn tiện cho việc quản lý Mắc lưới hình vuông, mắt to 1,4cm X 2,6cm, có thể nuôi cá vược đen miệng rộng cỡ 10cm Nguyên liệu tấm lưới dùng dây thép 0,3mm, dùng dây thép mạ kẽm, có thể kéo dài tuổi thọ của lồng lưới trong nước Kết cấu lồng lưói dùng khung nổi có thể lấy tre

lồ ô hoặc thép ống để chế thành Lồng lưới thả xuống nước sâu độ l,3m, độ cao trên mặt nước 0,35m Lổng lưới mới trước khi thả cá vào nuôi phải thả ngâm nước 7 - 1 0 ngày cho rong bám để tránh làm cho thân cá bị xây xát Hướng xếp hàng lồng lưới thẳng góc với phương hướng nước chảy, lồng sắp thành 2 hàng, mỗi hàng 24 lồng và có hình chữ nhật Giữa các lồng lưới và các dãy lồng có một lối đi, chiều rộng l,lm dùng ván lát lối đi, bên dưới dùng phuy dẩu, thùng nhựa hoặc khối nhựa xốp để làm phao, làm cho lối đi và lồng lưới nổi Trên lồng làm nhà quản lý và phòng sinh hoạt cho công nhân nuôi cá, dùng thuyền cơ động để làm công cụ đi lại, nên tránh sự quấy rối từ ở bên ngoài Lồng lưới dùng mỏ neo và dùng dây neo kéo buộc lên bờ để

cố định, cũng có thể di động tuỳ lúc

* Thả giống cá: cá bột trải qua nuôi độ 2 tháng, lúc đại

bộ phận cá có kích thước trên 10cm thì có thể phân nuôi vào lồng lưới, mật độ thả nuôi là 100 - 200 con/m2 Lúc phân nuôi, nên đem cá có kích cỡ giống nhau nuôi chung

Trang 14

một lồng lưới lợi cho cá sinh trưởng, giảm bớt cá ăn thịt đồng bọn, nâng cao tỷ lệ sống Khi phân nuôi thao tác cần nhẹ nhàng, cố gắng không làm cá bị tổn thương, thời gian tốt nhất tiến hành vào 6 giờ sáng Giống cá thả nuôi cần dùng thuốc xử lý tiệt trùng, đề phòng bệnh tật cá Tiệt trùng

có thể dùng dung dịch muối ăn 3% hoặc dùng chlorua vôi l,5g trong 100kg nước để tắm, thời gian tắm xem mức độ chịu đựng của thân cá mà định, nói chung là 5 - 20 phút Trước khi thả cần kiểm tra lổng lưới có bị rách hỏng hay không, đề phòng cá thoát đi mất

* Cho ăn mồi: dùng cá tạp ở địa phương, cũng có thể

cá tạp nhỏ ở các kho đông lạnh, có giá bán thấp Mồi ăn cắt khúc to nhỏ hoặc băm ra dựa vào kích thước lớn nhỏ của cá nuôi mà định Tùy theo quy cách cá giống vừa thả nuôi, thường cắt khúc dài độ 0,5cm, và căn cứ vào kích thước của thân cá lớn lên mà thân cá làm thức ăn tăng dần lên cỡ lcm, l,5cm, 2cm

Nói chung, khi thả nuôi cần ngừng cho ăn 2 - 3 ngày, vì lúc vừa mới thả cá chưa thích ứng, không thể lập tức đến đớp mồi Ngày thứ 4 bắt đầu tập ăn, trước tiên cho một ít cá băm khúc cho thêm nước khuấy đều rãi làm nhiều lần, làm cho nước trong lồng lưới có sóng động, vì sau khi ngừng cho ăn, cá bị đói, rất dễ tranh cướp mồi Luyện ăn mồi độ 1 tuần, hầu hết cá có thể lại tranh cướp thức ăn

Cho ăn theo phương pháp "bốn định":

Định vị, những mảnh cá nhỏ cần đặt vào giữa lồng lưới, không nên vớt ra bốn bên hoặc 1 góc của lồng lưới để thân

cá bị thương tổn do tranh cướp mồi

Trang 15

Định giờ, về mùa hạ, nước lên cao ngày cho cá ăn 2 lần, vào 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, lượng thức ăn cơ bản giống nhau Mùa xuân, mùa thu, nhiệt độ ở 10°c trở lên, lúc 5 giờ buổi chiều cho ăn một lần Mùa đông nhiệt độ nước dưới

thức ăn

Định chất: thức ăn cho cá ăn cần tươi, mới, hoặc đã cấp đông, không nên cho ăn cá làm thức ăn bị ươn thối để tránh làm cá nuôi bị chết

Định lượng: căn cứ vào tình hình khí hậu, nhiệt độ nước, chất nước, chủ yếu nhất là căn cứ vào tình trạng cá

ăn mồi và tình hình tăng lên của thể trọng mà quyết định lượng thức ăn Giai đoạn cá con cho ăn 8 - 10% trọng lượng thân, giai đoạn cá lớn cho ăn 5 - 8% trọng lượng thân, hệ số thức ăn trung bình là 6

* Quản lý hàng ngày:

1 Siêng cho ăn: lúc cá có thân tương đối nhỏ, mỗi ngày

có thể xem tình hình cụ thể bón ãn nhiều lân, tuỳ theo sự lớn lên của thân cá, giảm dần đến còn 1 - 2 lần, lượng cho

ăn tuỳ tình hình cụ thể mà định, nói chung nuôi lồng lưới so với nuôi ao có hơi nhiều một ít

2 Siêng chà rửa lồng: lồng lưới rất dễ bị các loại rong tạp hoặc các loại sinh vật bám khác bám vào, che lấp mắt lưới, ảnh hưởng nước lưu thông, dẫn đến cá chết ngạt vì thiếu oxy Cho nên cần thường xuyên chà rửa lồng lưới làm cho nước được lưu thông, khoảng 10 ngày rửa một lần

Trang 16

3 Siêng san lồng: sau khi nuôi một giai đoạn, thân thể

cá phát triển không đồng đều, những cá thể nhỏ tranh không được mồi ăn, sẽ ảnh hưởng sinh trưởng, lúc thả nuôi mật độ lớn, nếu cho ăn không đủ, dẫn đến cá ăn thịt đổng bọn Cho nên cần kịp thời phân lồng, nuôi mật độ thưa ra Chọn những con có cùng kích thước nuôi chung, để tránh hiện tượng cá lớn nuốt cá bé

4 Năng phòng bệnh: cần cho cá ăn thức ăn tươi mới, sạch sẽ, đồng thời định kỳ dùng chất men trộn với thức ăn cho ăn để trợ tiêu hóa Trong các tháng từ 5 - 9 là mùa hay sinh bệnh, cần dùng các loại thuốc sunfa hoặc thuốc kháng sinh trộn lẫn với thức ăn cho cá ăn

5 Siêng tuần tra lồng lưới: thường xuyên kiểm tra tình

hình rách hư của lổng ỉưôi, đề phòng cắ chạy thoát đi

Phòng chống bão lụt, khi mùa có bão cần gia cố neo,dây buộc thuyền, di chuyển lổng đến nơi an toàn

2.3.4 Phồng trị bệnh

Cá vược đen miệng rộng có sức đề kháng bệnh rất khỏe, nói chung ít phát bệnh nhưng do nuôi nhiều nên việc dùng lại những ao cũ dẫn đến môi trường nước bị ô nhiễm, quản

lý kỹ thuật không chu đáo, bệnh tật sẽ phát sinh phát triển Sau đây giới thiệu một số bệnh thường gặp:

(11 Bênh do vi khuẩn gây nên:

1 Bệnh thối m ang:

- Dấu hiệu bệnh lý: Thân cá bệnh bị thâm đen, cá rời đàn bơi một mình trên mặt nước, quanh bờ ao hoặc trên

Trang 17

lồng lưới, phản ứng chậm chạp đối với môi trường, ăn uống không mạnh Mang bị chảy nước, phát sinh màu trắng hoặc có những vệt thâm màu bùn, mang bị thối rữa

và hoại tử

Mầm bệnh: do vi khuẩn hình trụ

Tình trạng lan truyền: nhiệt độ 23 - 30°c, cá con và cá

lớn đều phát bệnh Sau cơn mưa lớn, lúc nhiệt độ nước trở lại bình thường bệnh này sẽ phát sinh Cá nuôi ao hoặc nuôi lồng lưới đều mắc bệnh này Bệnh này rất nguy hại, lúc nghiêm trọng sẽ gây ra cá chết hàng loạt

- Phương pháp phòng trị:

1 Chú ý thả nuôi mật độ không nên quá lớn, không cho

ăn thức ăn biến chất, không vệ sinh, kịp thời vất bỏ thức ăn thừa thãi trong ao hoặc trong lồng lưới Chú ý khống chế chất nước, kịp thời thay nước mới Khi đánh bắt và vận chuyển không để cho thân cá bị tổn thương Xung quanh lồng lưới có treo các bao chứa chlorua vôi để sát trùng thường xuyên

2 Dùng 1 - l,2g chlorua vôi hoặc 0,2 - 0,3g chlorin hoặc 2 - 4g ngũ bội tử cho mỗi khối nước phun rải đều toàn

ao Nuôi lồng lưới có thể tăng lên nồng độ gấp 2 -3 lần, hoặc dùng dung dịch muối ăn 2 - 4% tắm cho cá 1 0 - 3 0 phút hoặc có thể thay mới lồng lưới

3 Đồng thời tiệt trùng nước nuôi, cho uống thuốc kháng sinh như oxytetracycline, erythromycin, doxycyclinum,

Trang 18

norfloxacin mỗi kg trọng lượng cá dùng 20 - 30 mg thuốc, hoặc loại thuốc sunfa dùng 50 - 100 mg thuốc cho 1 kg trọng lượng cá Trộn thuốc với thức ăn, cho ăn liên tục trong 4 - 6 ngày hoặc dùng ngư tật ninh loại số 2 trộn với thức ăn cho ăn, mỗi 500kg cá dùng 1 gói, liên tục trong 5 ngày, hiệu quả rất tốt.

2 Bệnh lở mồm:

- Dấu hiệu bệnh lý: ở góc môi, biểu bì bị trắng và lở loét, một số cá bệnh từ mút mõm đến nhãn cầu cũng phát sinh màu trắng, nhìn thấy cá dưới nước rất rõ Khi cá há miệng, trong xoang miệng, biểu bì giữa hàm trên và hàm dưới phát sinh sung huyết, khi quá nặng biểu bì bị lở loét, chỗ lở loét có thể nhìn thấy khối vi khuẩn màu vàng

Mầm bệnh: do vi khuẩn hình trụ gây nên

Tình trạng lan truyền: cá con và cá trưởng thành, cá nuôi lổng bị rất nghiêm trọng Nhiệt độ phát bệnh giống

như ở bệnh lở mang, có lúc 2 loại bệnh này cùng xuất hiện,

nguy hại rất lớn, tỷ lệ cá chết rất cao

- Phương pháp điều trị: giống như bệnh lở mang

3 Bệnh trắng da:

- Dấu hiệu bệnh lý: lúc mới phát bệnh, trên da ở lưng,

bên hông và bụng xuất hiện điểm trắng, sau đó lan dần ra, hình thành những vệt đen, trắng hình bầu dục không quy tắc, khi nặng toàn thân cá biến trắng, các chỗ bệnh tróc da,

Trang 19

có lúc bị ra máu phát viêm, cá bệnh thường bơi chậm chậm trên mặt nước, không bao lâu cá sẽ chết.

Mầm bệnh: do vi khuẩn hình que gây trắng da

Tình trạng lan truyền: Bệnh này lưu hành vào các tháng

từ 4 - 6, chủ yếu gây bệnh cho cá con, nuôi lồng ít phát hiện Bệnh này thường phát bệnh cùng với các bệnh lở mang, lở mồm, nguy hại tương đối lớn

- Phương pháp điều trị: giống như bệnh lở mang

4 Bệnh lở loét da:

- Dấu hiệu bệnh lý: bệnh mới phát, trên da cá thường

có 1 đến nhiều vệt đỏ, sau đó tuỳ theo tình hình bệnh tiến triển, các vệt đỏ phát triển thành những vệt hình tròn hoặc hình bầu dục hoặc những chỗ bệnh lan ra không ngừng, giống như bệnh phong, cùi, sưng lên sung huyết, vảy và tia vây rơi ra, cơ bắp thối rữa, lúc bệnh nặng quá trơ ra cả xương Vết bệnh to, nhỏ và số lượng ở mỗi cá bệnh có khác nhau, nơi xuất hiện chỗ bệnh hiện có lúc ở đầu, lưng

và bên hông

Mầm bệnh: do một loại vi khuẩn đơn bào ký sinh gây nên.Tình trạng lan truyền: bệnh này gây nguy hại ở cá lớn, thường hàng năm cứ đến tháng 9 cho đến tháng 4 sang năm bệnh phát sinh Cá bị thương thường dễ bị mắc bệnh này

Cá nuôi trong ao và lồng lưới đều phát sinh bệnh này Nếu

có thêm bệnh nấm thủy mi càng làm cá chết hàng loạt Lúc nghiêm trọng tỷ lệ chết lên đến 80%

Trang 20

- Phương pháp phòng trị:

1 Khi đánh bắt, vận chuyển nên tránh làm bị thương cá Mùa đông, xuân cần giữ cho nước trong sạch, lúc nhiệt độ

nước 10°c trở lên cần giảm bớt lượng thức ăn bón.

2 Lúc thả cá vào ao hoặc lồng lưới: dùng nước muối ăn

2 - 4% hoặc chlorua vôi 12 ppm tắm cho cá trong 5- 20 phút

3 Cho cá uống các loại thuốc doxycyclinnum, norfloxacin và các loại thuốc sulfa v.v hoặc ngư tật ninh - 3 Phương pháp cho uống cùng liều lượng giống như dùng chữa bệnh thối mang Đồng thời, ở ao dùng chlorua vôi

1 - l,2ppm hoặc ngũ bội tử 2 - 4g/m3, lượng thuốc dùng ở

lổng lưới so với ao đìa cao gấp 3 lần

4 Tiêm phòng vắcxin: lấy gan, tụy, thận và các tổ chức

ở chỗ không nhiễm bệnh của cá bị bệnh trộn nước muối sinh lý tỷ lệ 1:10 chà nát vật phẩm, lọc, để ở nhiệt độ không

thay đổi 60 - 65°c, sau khi qua 2 - 2,5 giờ, lấy ra cho thêm

vào 0,2% formalin Mỗi con tiêm 0,2 - 0,3ml, sức ngừa

Trang 21

vàng nhạt chảy ra từ hậu môn, mở ra thấy trong xoang bụng

có đầy nước, nước đó sau mấy phút đọng lại thành "dạng keo thạch", ống tiêu hoá có màu đỏ tím, mổ ống tiêu hóa

ra, thấy đầy chất nhầy, tế bào thượng bì trong vách ruột bị hoại tử roi ra, cá có bệnh nặng thì toàn bộ vách xoang ruột sung huyết, gan tạng hoại tử

Mầm bệnh: do vi khuẩn gây nên

Tình trạng lan truyền: Cả năm đều có thể phát hiện bệnh; vào mùa hè tương đối nghiêm trọng, phát hiện tương đối cấp, nguy hại lớn

Trang 22

Tình hình lan truyền: Bệnh này chủ yếu nguy hại ở cá giống dưới 5cm Thời gian lưu hành từ tháng 4 - 6 , lúc bệnh nặng có thể gây chết.

- Phương pháp phòng trị:

1 Khống chế chất nước, không nên quá béo Mật độ thả không nên quá dày

2 Dùng hợp chất (5:2) 0,7ppm sunfat đồng và sunfat sắt phun rải toàn ao

3 Dùng dung dịch muối ăn 3 - 4% tắm cá trong thời

gian độ 5 phút

4 Dùng lá cây sầu đông (Melỉa azedarach L.) 50g/m3

nước đun sôi, phun rải toàn ao

7 Bệnh trùng quả dưa:

- Dấu hiệu bệnh lý: có thể nhìn thấy bằng mắt thường những nang bào dạng một chấm nhỏ màu trắng xuất hiện trên da, tia vây Lúc ký sinh nhiều, có thể tiết ra nhiều chất nhớt, trên da cá bị bệnh như phủ lên một lóp màng màu trắng xám

Mầm bệnh: do trùng quả dưa xâm nhập vào da và mang gây nên

Tinh hình lan truyền: ở tất cả các giai đoạn mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu ở cá giống cỡ 3 - 4cm Nhiệt độ nước lưu

hành là 15 - 25°c Bệnh này thường thấy có ở cá nhỏ nuôi

trong ao có mật độ dày

Trang 23

- Phương pháp phòng tri:

Mỗi ngày dùng ớt cay 0,3 - 0,4g và gừng khô 0,15g sắc thành dung dịch cho mỗi khối nước ao, phun rải toàn ao liên tục 3 ngày

8 Bệnh trùng loa kèn hình cốc:

- Dấu hiệu bệnh lý: trên thân cá bị bệnh ký sinh màu đen, cá tách đàn bơi trên mặt nước, giống như cá nổi đầu vì thiếu oxy, nhưng khi bổ sung thêm nước và sục khí mà cá vẫn nổi đầu Ở mang, da, tia vây có bám một lớp màng nhỏ như bông gòn màu trắng xám, đem ra quan sát dưới kính hiển vi thấy có vô số trùng hình cốc

Mầm bệnh: do trùng hình cốc ký sinh

Tình hình lan truyền: bệnh này chủ yếu là ở cá con cỡ 5cm trở lại Bệnh lưu hành vào mùa hạ và mùa thu Lúc phát bệnh tỷ lệ cảm nhiễm đến 90 - 100% có thể gây chết cá

- Phương pháp phòng trị: giống như bệnh trùng bánh xe

9 Bệnh trùng mỏ neo:

- Dấu hiệu bệnh lý: cá bị bệnh cảm thấy không yên,

không muốn ăn Trên da có trùng mỏ neo ký sinh, viêm da sưng đỏ, xuất hiện từng vệt màu đỏ, kế tiếp tổ chức bị hoại

tử, tạo điều kiện cho nấm thủy mi và vi khuẩn xâm nhập vào da

Mầm bệnh: do trùng mỏ neo ký sinh

Trang 24

Tình trạng lan truyền: trong suốt cả năm bệnh đều có thể phát sinh, vào các mùa xuân, hạ, thu rất nặng Các giai đoạn cá đều phát sinh, cá lớn có tỷ lệ chết không cao, nhưng cá tương đối gầy, nhìn bên ngoài cá không đẹp mắt, mất giá trị thương phẩm.

- Phương pháp phòng trị:

1 Dùng vôi sống để làm vệ sinh ao, giết chết ấu trùng

và trùng đã lớn Dùng dung dịch muối ăn 3 - 4% tắm cho giống trước khi thả trong 5 phút, hoặc dùng thuốc tím 15 -

20 ppm tắm cho cá trong thời gian 0,5 - 1 giờ

2 Dùng lá tùng đuôi ngựa (dương liễu) 25g cho một khối nước, giã nhỏ lấy nước phun rải toàn ao

(3) Bênh do nấm:

10 Bệnh nấm thủy mi:

- Dấu hiệu bệnh lý: trên các vết thương hở chỗ rụng vảy

có nấm bám vào từng búi hình trắng xám như bông gòn Cá bệnh không muốn ăn, suy nhược cơ thể, nổi lên mặt nước

và cuối cùng sẽ chết

Mầm bệnh: do nấm thuỷ mi ký sinh

Tình trạng lan truyền: bệnh này chủ yếu lan truyền vào hai mùa đông, xuân Trứng cá và phôi trong giai đoạn đầu đều phát sinh bệnh tật Trên thân cá bị thương hoặc các vết ngứa lở đều bị cảm nhiễm, dẫn đến cá chết

Trang 25

- Phương pháp phòng trị:

1 Dùng dung dịch muối ăn 4% tắm cho cá từ 3 - 5 phút

2 Dùng muối ăn, soda 400g/m3 nước, phun rải toàn ao.(4) Các bênh tât khác:

11 Bệnh cong xương:

Xương đốt sống của cá phát sinh dị thường, bị uốn cong Nguyên nhân phát sinh không rõ, có thể là lúc ấp trứng xảy ra sự phân cắt khác thường mà gây nên Trước mắt không có phương pháp để chữa trị Mắc bệnh này cá sinh trưởng rất chậm, không thích hợp cho việc nuôi dưỡng,

vì vậy lúc thả cá cần chọn ra và loại bỏ

12 Bệnh do thiếu dinh dưỡng:

- Dấu hiệu bệnh lý: Cá bệnh thường lớn rất chậm, màu

sắc đen tối, thuỷ tinh thể của nhãn cầu bị đục, một số cá bị bệnh có thân thể màu trắng bạch, gan mất máu v.v Đây là một dạng bệnh lý tổng hợp, do thiếu dinh dưỡng gây nên

- Phương pháp phòng trị: bổ sung thêm vitamin c và

các loại vitamin dùng cho gia súc, cho thêm 15 - 20g thuốc vào 100 kg thức ăn, liên tục trong một tuần

2.3.5 Thu hoạch và vận chuyển

Bán cá vược đen miệng rộng sống giá cả tương đối cao, cho nên khi bắt và vận chuyển cô' giữ cho cá tươi sống Để

Trang 26

đảm bảo vận chuyển sống cá thương phẩm, khi đánh bắt thao tác cần rất thận trọng, nhẹ nhàng Trước khi đánh bắt cần giảm bớt mức nước thích hợp, rồi dùng lưới thưa kéo để bắt cá Trước khi kéo lưới, cần chuẩn bị một ao rộng cá có

hệ thống cấp thoát nước dễ dàng Cá bắt lên để cung ứng cho thị trường trước hết thả nuôi tạm 1 - 2 ngày, để cho cá bài tiết các chất còn trong ruột, rồi sau đó mới vận chuyển đến các ncú để tiêu thụ

* Công cụ vận chuyển và đồ chứa cá: đồ chứa cá và

công cụ để vận chuyển có các loại thùng chứa nước, thùng làm bằng bạt nhựa, thuyền thông đáy để chuyển cá, v.v không kể là loại nào chứa cá, trước khi vận chuyển đều cần kiểm tra cẩn thận, phải sạch sẽ, vệ sinh, không lậu nước Nếu thùng bằng nhựa trước tiên phải ngâm thử nước, rửa sạch Có nẻ nứt hoặc có lỗ lậu nước phải kịp thời khâu vá lại hoặc loại bỏ đi

Nhiệt độ nước khi vận chuyển 12 - 18°c là tốt Nhiệt

độ nước quá thấp dễ làm cho cá bị cóng; nhiệt độ nước quá cao, làm cho cá hoạt động hăng, rất dễ va chạm lẫn nhau sinh bị thương và gây thiếu oxy Khi vận chuyển cần chuẩn bị nước đá cục để làm giảm nhiệt độ nước tăng lên dẫn đến cá chết

* Vận chuyển giống: dùng túi nylông là tốt Vận chuyển

đường dài nên chuẩn bị túi nylông, bình chứa oxy và thùng đựng nước, v.v để thay nước khi đi trên đường Mật độ vận chuyển có thể tham khảo mật độ vận chuyển giống của các loài cá nhà khác

Trang 27

* Vận chuyển cá thương phẩm: dùng thùng nhựa và túi

nhựa lớn để vận chuyển Thùng bằng nhựa để vận chuyển đường ngắn có chiều cao và đường kính độ 90cm; thùng hình tròn hoặc hình vuông có chiều cao, chiều dài và chiều rộng 90cm Mỗi thùng có thể đựng được 400 - 500 kg nước

và cá thương phẩm 50 - 75kg Bên trong thùng gỗ tốt nhất

có lưới ngăn cách đề phòng cá bị thương vì cọ xát nhau và

cá nhảy ra Bên trong thùng làm bằng nhựa cần có dụng cụ sục khí, hoặc máy tăng dưỡng khí

Túi nylông vận chuyển có bơm oxy, thích hợp cho việc vận chuyển đường xa Đề phòng gai vây lưng của cá đâm thủng nylông làm lậu nước, lậu khí cho nên chọn loại dày, chắc chắn Có những địa phương dùng túi cao su có bổ sung khí oxy và thêm nước đá, hiệu quả rất tốt

Trang 28

Chương XII

NUÔI CẢ NHEO ĐUÔI CHẾ c ó CHẤM

Cá nheo đuôi chẻ có chấm có tên khoa học là Letalurus punctatus Trong phân loại học cá nheo đuôi chẻ có chấm

thuộc họ cá hồi, bộ cá nheo Cá nheo đuôi chẻ có chấm là một loại cá da trơn, có nguồn gốc Bắc Mỹ, du nhập vào Trung Quốc từ năm 1984

I ĐẶC TRƯNG SINH VẬT HỌC

1.1 Đặc điểm sinh thái

Cá nheo đuôi chẻ có chấm có đặc tính chịu rét và chịu nóng rất khỏe, nhiệt độ nước từ 1 - 39,5°c đều có thể sống lại được Yêu cầu lượng oxy hòa tan trong nước không cao,

ở độ oxy hòa tan trên 2,5mg/l là có thể sống bình thường,

khi thấp tới 0,8mg/l cá bắt đầu nổi đầu và chết Cá sinh trưởng nhanh, nuôi 2 năm có thể đạt được kích thước thương phẩm (trên 500g) đồng thời tuyến sinh dục đạt đến

độ thành thục Nhiệt độ thích nghi nhất 20 - 34°C; khi nhiệt

độ xuống đến 0°c cá nằm phục dưới đáy ao không động

đậy và thở yếu Cá thích sống ở tầng đáy có chất đáy là cát

sỏi và đá cục

Trang 29

Cá nheo đuôi chẻ có chấm là loài cá ăn tạp, được luyện cho ăn thực vật là chủ yếu Trong thủy vực thiên nhiên cá

ăn mồi là sinh vật đáy, côn trùng ở nước, các mảnh vụn hữu

cơ và tảo

I 2 Tập tính sinh hoạt và sinh trưởng

Là loài cá ăn tạp, sức kháng bệnh rất khỏe, tính thích nghi rất rộng, lớn nhanh, thịt mềm và ngon, dinh dưỡng phong phú, giá trị kinh tế cao

Là loài cá tầng đáy, thích sống noi môi trường có bóng

tối, phạm vi nhiệt độ thích hợp 0 - 38°c, ở 5°c bắt đầu bắt

mồi Nhiệt độ thích nghi sinh trưởng 18 - 30°c, độ pH 6 - 8,5,

lượng oxy hòa tan 3mg/l Trong điều kiện nuôi ao, cá sinh trưởng nhanh, trong năm thứ 1, cá thể lớn có chiều dài thân

14 - 20cm, trọng lượng thân 30 - lOOg; năm thứ 2, cá thể lớn

đạt đến chiều dài 40 - 55cm và trọng lượng thân 800 - 1.500g

Là loài cá ăn tạp, khi thân dài 5 - 6cm, chủ yếu ăn động vật phù du như luân trùng, râu ngành, chân mái chèo, v.v ; khi chiều dài thân lOcm đến giai đoạn cá lớn ăn sinh vật đáy, côn trùng và thức ăn động vật Khi nuôi nhân tạo cho ăn thức ăn tổng hợp dạng viên

II KỸ THUẬT NUÔI

Cá nheo đuôi chẻ có chấm có thể nuôi ao đìa, cũng có thể nuôi trong sông ngòi, hồ đầm, hồ chứa; đồng thời cá nuôi mật độ cao vói nước chảy, nuôi lồng lưới và nuôi công

Trang 30

nghiệp hóa Hiện nay có 2 hình thức nuôi chính là nuôi ao

và nuôi trong lồng lưới

2.1 Nuôi ao đìa

2.1.1 Thả giống cá

Diện tích ao nuôi 0,2 ha trở lên, nước sâu l,5m, nguồn nước đầy đủ, cấp thoát nước tiện lợi, không bị ô nhiễm, mỗi 0,667 ha trang bị một máy sục khí Trước khi thả nuôi dùng vôi sông, chlorua vôi để tiệt trùng Phương thức nuôi có 2 loại: nuôi một đối tượng và nuôi ghép nhiều đối tượng Mật

độ thả nuôi cụ thể như sau:

Phương thức nuôi cá nheo đuôi chẻ có chấm (con/ha)

Nuôi 1 đối tượng

-Kích thước cá nheo đuôi chẻ có chấm được thả nuôi là

15 - 20cm/con, các loại cá nuôi khác có quy cách thả là 30 - 50g/con Thời gian thả giống cá nói chung là từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, hoặc thả những con có kích thước lớn từ ao nuôi cá giống trực tiếp chuyển vào nuôi cá thương phẩm

2.1.2 Quản lý sản xuất hàng ngày

* Kiên trì tuần tra ao: vào sáng, trưa, chiều mỗi ngày,

quan sát tình hình bắt mồi và hoạt động, ghi lại cẩn thận vào nhật ký nuôi cá

Trang 31

* Phương pháp huấn luyện: trước mỗi lần vận chuyển,

xuất ao hoặc chọn lọc cá cần tiến hành huấn luyện, nếu không thì cá dễ bị xây xát mà gây chết Phương pháp huấn luyện với thao tác huấn luyện cho cá nhà giống nhau Lần thứ nhất, kéo lưới cho cá vào lồng lưới, không làm bất kỳ thao tác nào, buổi chiều thả trả lại ao cũ Buổi sáng ngày thứ 2 lại kéo lưới cho cá vào lồng lưới, buổi chiều có thể chọn lọc cá hoặc vận chuyển đi Sau khi thao tác kết thúc dùng dung dịch muối ăn 2 - 3% để tắm cá 5 -10 phút, đồng thời dùng vôi sống hoặc chlorua vôi phun rải toàn ao 2 - 3 ngày, mỗi ngày 1 lần

* Điều chỉnh độ pH: định kỳ nửa tháng dùng vôi sống

50 - 100mg/l vãi trên toàn ao một lần, điều chỉnh độ pH đến môi trường kiềm yếu để ức chế sự sinh trưởng của vi khuẩn trong nước

* Kịp thời khống chế mực nước: khí hậu, nhiệt độ vào

mùa xuân lên cao tương đối nhanh, mực nước ao nên để thấp, khống chế 0,8 - lm; mùa đông nhiệt độ thấp, trời

lạnh, cá dễ bị chết cóng, mực nước ao nên tăng lên ở mức

cao nhất

* Cho thêm nước mới: Mùa có nhiệt độ cao, cá hoạt

động mạnh cần cho thêm một lần nước; còn nếu chất nước biến hóa nhanh, cần cho thêm nước thường xuyên, có thể

3 - 5 ngày cho thêm một lần nước Lượng nước cho thêm mỗi lần căn cứ vào độ béo, màu sắc nước, chất nước của nước ao mà định Nói chung mỗi lần cho thêm lượng nước

20 - 35cm, giữ vững độ trong của nước 20 - 25cm

Trang 32

* Quy định giờ mở máy sục khí: thông qua việc làm xáo

động nước tầng trên và tầng dưới, xúc tiến sự giao lưu hỗn hợp của thể nước làm tăng thêm độ hòa tan oxy của tầng đáy Khi trời râm mát mở máy vào buổi sáng sớm hôm sau

và nếu trời mưa liên tục hoặc nước ao quá béo để đề phòng

cá nổi đầu cần mở máy sau nửa đêm hôm sau

* Đề phòng trước: nên đề phòng trước bệnh cá lan

truyền; kết hợp sử dụng biện pháp bên ngoài phun rải, bên trong uống thuốc là có thể phòng trị phát sinh bệnh tật hiệu quả Bên ngoài môi trường thường dùng thuốc để phun rải như vôi sống, chlorua vôi v.v , thuốc uống (bên trong) thường dùng Oxytetracyclin, v.v

2.2 Nuôi lồng lưới

2.2.1 Chọn thủy vực và kết cấu tổ hợp lồng lưới

* Chọn thuỷ vực: cần có giao thông thuận tiện, mặt

nước rộng rãi, tránh gió, hướng về mặt trời, môi trường yên tĩnh, không bị ô nhiễm, nước hơi chảy, độ trong của nước

độ lm, nước sâu trên 4m, độ pH 5 - 8; độ hòa tan oxy 5mg/l trở lên, diện tích mặt lồng có tỷ lệ với diện tích thuỷ vực lớn hơn 1: 300

* Kết cấu tổ hợp lồng lưới sắp xếp thành hàng trên mỗi

667 m2 tạo thành một tổ lồng lưới, cự ly giữa các tổ lồng lưới 100m trở lên Để thích ứng với sự thay đổi của mực nước nên dùng kiểu lồng lưới có bề nổi, kích thước của lồng

Trang 33

lưới có 5 mặt là 3m X 4m X 2,5m Lồng lưới làm bằng những tấm lưới cước không mắt dệt có mắt lưới 2a = 1,5; 2,5; 4; 5cm.

2 2 2 N u ô i c á g iố n g c ó k ích thư ớ c lớn

Trước khi thả giống cá vào lồng, đem lồng lưới mới chuẩn bị thả giống cho vào nước ngâm 7 -1 0 ngày để sinh vật bám vào nhằm giảm bớt ma sát của lồng lưới đối với thân cá nuôi Cá giống sau khi thả vào lồng nên cho ăn sớm, cho ăn loại thức ăn tổng hợp dạng hạt có chất lượng cao và vừa miệng cá Lúc đầu, ở giữa lồng cách mặt nước 50cm, treo một mâm để thức ăn hình tròn có đường kính

lm, làm cho cá dần dần tập trung đến mâm để ăn mồi Lợi dụng cách cho ăn để tiến hành thuần hóa, sau khi cá nổi lên mặt nước, tranh ăn, chạy đến mâm ăn Thường thả cá vào lồng vào tháng 7 cỡ 5 - 6cm, qua 3 tháng nuôi (tháng 8 - 1 0 )

có trọng lượng tăng trung bình có thể đạt đến 50 - 100g; tỷ

lệ sống qua đông cao

Thời gian giống cá thả vào lồng, lúc có nhiệt độ nước

15°c trở lên là phù hợp Lúc đó cá vẫn ở giai đoạn sinh

trưởng bắt mồi, khôi phục nhanh, bệnh tật ít, tỷ lệ sống cao Không nên vận chuyển cá trong thời gian qua đông có nhiệt độ nước tương đối thấp Lúc đó sức hoạt động của cá

ít, sau khi thả vào lồng lưới, một mặt cá ngừng bắt mồi, ỏ trong trạng thái nửa ngủ đông, mặt khác ảnh hưởng đến môi trường nước và sóng gió, thể lực tiêu hao rất lớn, không dễ khôi phục, phát sinh bệnh tật không dễ điều trị,

tỷ lệ chết cao

Trang 34

2.2.3 Q uản lý sả n x u ấ t h àn g ngày

* Giữ vững trực ban 24/24 giờ, mỗi ngày ghi lại nhật

ký nuôi trồng, gồm các hạng mục: nhiệt độ nước, lượng thức ăn bón, tình hình bắt mồi và hoạt động của cá, tình hình cá chết, để kịp thời phân tích và giải quyết vấn đề Phát hiện cá chết phải kịp thời vớt ra ngoài đưa ra xa bờ và

ao, chôn sâu

* Cứ 10 ngày kéo lồng lưới luyện cá 1 lần, để tăng sự hoạt động của cá, tăng cường thể chất, lấy mẫu cân trọng lượng, đồng thòi căn cứ vào tình hình sinh trưởng mà điều chỉnh số lượng thức ăn cho ăn

* Định thời gian chà rửa lổng lưới, thay lồng, trừ bỏ vật bám lồng lưới đề phòng vi khuẩn, ký sinh, thân cá bị cảm nhiễm Thời gian dài lồng lưới ngâm trong nước hấp thụ vật bài tiết của cá cùng vật ô nhiễm trong nước, có nhiều loài tảo hình sợi sinh nhiều, nên làm ảnh hưởng sự trao đổi nước, làm sản sinh nhiều loài vi khuẩn gây chết cá, cá sống trong môi trường như vậy dẫn đến phát sinh bệnh tật

* Điều chỉnh nhiệt độ: mặc dù cá nheo đuôi chẻ có chấm thích nghi nuôi dưỡng ở mật độ cao, nhưng không có nghĩa thả càng dày càng tốt (vì trong một lồng số lượng cá nuôi quá nhiều, ăn không đồng đều, kích thước không đều,

sự tăng trưởng bình quân chậm; số lượng nuôi quá ít, tranh cướp thức ăn không dữ, tăng trưởng chậm, lợi nhuận thấp)

Do đó, mỗi tháng trong giai đoạn sinh trưởng của cá đều cần tiến hành điều chỉnh về kích thước, số lượng, hoặc

Trang 35

phân chia chọn lọc, để làm cho đàn cá có mật độ tốt nhất,

cá lớn nhanh

Mật độ thả nuôi các kích thuớc khác nhau

của cá nheo đuôi chẻ có chấm

III THỨC ĂN VÀ CHO ĂN

3.1 Thức ăn

Khi cá nheo đuôi chẻ có chấm có chiều dài thân dưới

5 - 6 cm ăn phù du động vật là chủ yếu như luân trùng, râu ngành, v.v Cho nên dùng phương pháp gây nước béo để thả nuôi cá giống Cỡ sau 5 - 6 cm cá bắt đầu chuyển vào ăn tạp, lấy những mảnh vụn hữu cơ làm chính; nuôi thâm canh thì hoàn toàn dựa vào thức ăn tổng hợp Do đó căn cứ vào nhu cầu dinh dưỡng của cá, để lập ra một công thức chăm sóc khoa học, đây là mấu chốt thành bại của nuôi trồng

3 1 1 L ư ợ n g đ ạ m và a x it a m ỉn cầ n th iế t

Gọi là lượng đạm cần thiết là chỉ việc thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu axit amin, đồng thời thu được hàm lượng tối thiểu mà có sinh trưởng tốt nhất Lượng đạm cần thiết cho

cá con ở giai đoạn có trọng lượng thân 8 -50g là 35 - 41%;

từ 50g trở lên lượng đạm 25 - 35% Cá nheo đuôi chẻ có chấm cần 10 loại axit amin không thay thế

Trang 36

3.1.2 N ă n g lượng

Năng lượng là nền tảng quan trọng để duy trì sự sống, sinh trưởng, phát dục Chỉ tiêu năng lượng trong thức ăn được thể hiện theo tỷ lệ DPE, trong đó DP là chỉ chất đạm

có thể tiêu hóa, DE là chỉ năng lượng tiêu hóa của tỷ lệ đó

là của cá nheo đuôi chẻ có chấm, giai đoạn cá con thì số trị

này tương đối cao.

3.1.3 C h ấ t k h o á n g

Chất khoáng cá chủ yếu hấp thụ được từ thức ăn Chức năng chủ yếu của chất khoáng tham gia hình thành xương, một thành phần quan trọng của các men và hoocmôn, điều tiết thẩm thấu và cân bằng độ pH trong cơ thể Nhu cầu chất khoáng của cá nheo đuôi chẻ có chấm như sau:

Nhu cẩu chất khoáng của cá nheo đuôi chẻ có chấm

Trang 37

trao đổi chất, sinh đẻ, hình thành các loại men, v.v Nhu cầu vitamin đối với cá nheo đuôi chẻ có chấm như sau:

Nhu cầu vitamin đối với cá nheo đuôi chẻ có châm

Vitamin hòa tan

N Tỷ lệ

công thức

Bột cá

Bột đạm

Bánh đậu phụ

Bánh dầu

Hèm rượu

Bột xương

Cám gạo

Chất phụ gia

Thức ăn cá con

Thức ăn cá lớn

26 10

8 4

28 25

10 22

5 5

13 17

5 12

5 5

Chú thích: Chất phụ gia bao gồm vitamin c , khoáng tổng hợp, chất kết

Trang 38

đi vòng quanh để quan sát tình hình bắt mồi và hoạt động của cá), định chất (bảo đảm thức ăn toàn điện, tưcd mới, không sinh mốc, không có mùi lạ, viên thức ăn vừa cỡ miệng, ít bột dính theo), định giờ và định lượng (cá nheo là loại cá có dạ dày, bình thường lượng mỗi lần cho ăn bằng

1 - 2% trọng lượng thân; thực phẩm từ khi bắt mồi qua ruột đến khi bài tiết ra cần đến 6 - 8 giờ, mỗi ngày nên duy trì cùng một thời gian cho ăn có thể cá ăn tốt, bảo đảm men tiêu hóa trong thân cá tương quan, và đạt đến giá trị cao nhất, trong tỷ lệ tiêu hóa thức ăn) Hai bữa ăn của giai đoạn

cá lớn cách nhau 8-10 giờ, giai đoạn cá giống thời gian cho

ăn cách nhau 5 - 6 giờ

Liều lượng thức ăn của cá nheo đuôi chẻ có châm Nhiệt

độ

Giai đoan cá con

(5 - 50g)

Giai đoạn cá lớn (50g trỏ lẽn)

hoặc không cho ăn

Trang 39

ngắn hơn, thả thức ăn nhanh hơn, cho ăn đến giai đoạn sau, thời gian cách nhau lại dài hơn, tức kỹ thuật cho ăn theo thứ

tự "ít - nhiều - ít" "chậm - nhanh - chậm", đến khi khoảng 80% số cá không tranh cướp thức ăn thì ngừng cho thức ăn

IV PHÒNG TRỊ BỆNH CÁ

Phòng trị bệnh cá là một khâu quan trọng trong quá trình nuôi dưỡng, nhất là nuôi ở mật độ cao, cần thiết thực hiện công tác phòng trị bệnh, lấy phương châm "không bệnh phòng trước, có bệnh sớm trị, phòng nặng hơn trị"

4.1 Bệnh do dinh dưỡng

- Nguyên nhân:

1 Mất cân bằng đạm và năng lượng: Trong thức ăn năng lượng quá nhiều, dẫn đến sự tổng hợp đạm (protit) bị trở ngại, mất đi sự điều chỉnh việc thay đổi dinh dưỡng, chất béo thừa Khi tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh dễ phát sinh bệnh này

2 Trong thức ăn thiếu hoặc không đủ vitamin: Ngoài những chứng bệnh nói trên ra, có lúc còn kèm theo bệnh thối vây, rụng đuôi, 2 mắt bị lồi ra v.v

- Dấu hiệu bệnh lý: Cá bị bệnh, nhìn bên ngoài thấy cơ thể mập to, thể hình thô ngắn, bụng to thân tròn, tay đỡ cá

có vẻ nhẹ, dưới hàm sung huyết; khi mổ bụng quan sát thấy tim, gan to, mỡ tương đối nhiều Cá bệnh nặng có thể thấy ở

Trang 40

vách ruột, gan đều nhiễm mỡ, có lúc trong xoang bụng có nước máu, ống tiêu hóa sung huyết, sử dụng các loại chất kháng sinh để trị liệu hiệu quả rất kém, thậm chí vô hiệu.

- Phương pháp trị liệu: kiểm tra phân tích các tiêu chuẩn dinh dưỡng, đáp ứng các chất dinh dưỡng theo nhu cầu sinh trưởng của cá

độ nước 30°c, chủ yếu ở cá giống lOcm trở lại, cá con 3 - 4

tháng tuổi cũng dễ nhiễm bệnh Quá trình sinh bệnh nói

chung độ 3 - 7 ngày, tỷ lệ chết 95 - 100%, cá không chết

Ngày đăng: 17/02/2021, 09:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm