Các công trình nghiên cứu ở trong nước * Văn hoá và tác động của hội nhập quốc tế đến văn hoá Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện lịch sử cụ t
Trang 1- -
NGUYÔN V¡N TïNG
THANH NI£N QU¢N §éI NH¢N D¢N VIÖT NAM GI÷ G×N B¶N S¾C V¡N HO¸ D¢N TéC TRONG
HéI NHËP QUèC TÕ HIÖN NAY
LUËN ¸N TIÕN SÜ TRIÕT HäC
Hµ NéI - 2011
Trang 2BỘ QUỐC PHÕNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
- -
NGUYỄN VĂN TÙNG
THANH NI£N QU¢N §éI NH¢N D¢N VIÖT NAM GI÷ G×N B¶N S¾C V¡N HO¸ D¢N TéC TRONG
HéI NHËP QUèC TÕ HIÖN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 3Lêi cam ®oan
T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c sè liÖu, kÕt qu¶ nªu trong luËn
¸n lµ trung thùc, cã nguån gèc xuÊt xø râ rµng
Tác giả luận án
Trang 4Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN
TỘC VIỆT NAM VÀ VAI TRÕ THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN
2.1 Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam và tác động của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam 24 2.2 Thực chất giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam và vai trò thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay 59
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI
THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC TRONG HỘI NHẬP
3.1 Thực trạng thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế và nguyên
3.2 Những nhân tố tác động và một số vấn đề đặt ra đối với thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay 114
Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT
HUY VAI TRÒ THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
4.1 Phương hướng phát huy vai trò thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc
4.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay 133
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 163
Trang 5Số thứ tự Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Bản sắc văn hoá dân tộc Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Cách mạng xã hội chủ nghĩa Chính trị quốc gia
Chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa đế quốc Chủ nghĩa xã hội Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Diễn biến hoà bình
Đảng Cộng sản Việt nam Hội nhập quốc tế
Khoa học xã hội, nhân văn Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân Việt nam Thanh niên quân đội
Thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam Trang
Xã hội chủ nghĩa
BSVHDT BSVHDTVN CMXHCN CTQG CNCS CNĐQ CNXH CNH, HĐH DBHB ĐCSVN HNQT KHXH, NV Nxb
QĐNDVN TNQĐ TNQĐNDVN
Tr
XHCN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bản sắc văn hoá dân tộc là giá trị cốt lõi nhất của nền văn hoá, thể hiện tâm hồn, cốt cách, tình cảm, lý trí, sức mạnh của dân tộc, tạo nên chất keo kết nối các cộng đồng người gắn bó, đoàn kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Những giá trị của BSVHDT là một trong những động lực to lớn đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia dân tộc BSVHDT Việt Nam được hình thành, phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước và quá trình xây dựng CNXH Bản sắc đó thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, được bao thế hệ vun đắp, hun đúc tạo nên sức sống mãnh liệt giúp cộng đồng các dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách để tồn tại, không ngừng lớn mạnh và phát triển bền vững Nó là niềm tự hào của mọi người dân Việt Nam, là nguồn sức mạnh vô địch đảm bảo cho dân tộc Việt Nam trường tồn, phát triển trong mọi thời đại lịch sử
Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” diễn ra trong xu thế HNQT ngày càng sâu rộng Bên cạnh những thời cơ cần tận dụng để phát triển, đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ về nguy cơ nhạt dần, dẫn đến mất BSVHDT Những thách thức đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cho toàn Đảng, toàn dân ta là phải tìm lời giải để vừa tích cực HNQT phát triển đất nước, vừa phải chú trọng giữ gìn BSVHDT Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới Bởi lẽ, các thế lực thù địch đang ra sức lợi dụng HNQT, sử dụng nhiều thủ đoạn mới tinh vi trong chiến lược “DBHB” để chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có trọng điểm chúng
ưu tiên là làm phai nhạt lý tưởng cách mạng của thế hệ trẻ thông qua tuyên truyền, thâm nhập văn hoá phẩm độc hại, từng bước phủ nhận hệ giá trị của BSVHDT Chúng phá hoại mối đoàn kết quân dân, phủ nhận những thành quả cách mạng hào hùng của thế hệ cha anh, sử dụng thủ đoạn “phi chính trị hoá
Trang 7quân đội”, tạo ra sự “vô cảm về chính trị” nhằm từng bước thực hiện ý đồ: “dùng cộng sản con diệt cộng sản cha”, phá hoại sự nghiệp cách mạng nước ta
Thanh niên QĐNDVN là lực lượng nòng cốt, trực tiếp thực hiện thắng lợi chức năng, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó cho quân đội Họ là lực lượng
cơ bản giữ gìn và phát huy bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và của nhân dân trong giai đoạn cách mạng hiện nay Trước đây trong chiến tranh giải phóng dân tộc, tuổi trẻ quân đội đã kế thừa, phát huy cao độ BSVHDT, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thấm nhuần sâu sắc lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, khắc phục mọi khó khăn, chiến đấu và chiến thắng mọi
kẻ thù, xây dựng nên truyền thống “Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[72, tr.351-352] Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN diễn ra trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng, với những biến động phức tạp khó lường đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi TNQĐ không chỉ có bản lĩnh chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ quân sự, mà còn phải tinh thông về văn hoá, tham gia giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Thực trạng những năm gần đây, phần lớn TNQĐNDVN đã phát huy vai trò nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, góp phần quan trọng vào giữ gìn BSVHDT và bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” Tuy nhiên, TNQĐNDVN cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế về nhận thức, về hiệu quả trong thực hiện giữ gìn BSVHDT Một
bộ phận TNQĐ có những biểu hiện sai lệch chuẩn mực giá trị về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống Hiện trạng đó, nếu không được khắc phục kịp thời sẽ làm phai nhạt, xói mòn hệ giá trị chuẩn mực trong BSVHDT, ảnh hưởng không nhỏ đến bản chất, truyền thống quân đội, đến hình ảnh tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” và chất lượng thực hiện các nhiệm vụ được giao trong giai đoạn cách mạng mới
Trang 8Tình hình trên đây đang đặt ra những yêu cầu mới hết sức cấp thiết về lý luận, thực tiễn phải nghiên cứu, luận giải, đề ra những giải pháp mang tính khả thi, đảm bảo cho TNQĐNDVN phát huy hơn nữa vai trò người “chiến sĩ văn hoá” Nâng cao nhận thức, hành động tham gia giữ gìn BSVHDT, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong điều kiện lịch sử mới
Với những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề “Thanh niên Quân đội nhân dân
Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu của luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Mục đích:
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn về thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay, đề xuất phương hướng và một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò thanh niên QĐNDVN tham gia giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong HNQT hiện nay
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là TNQĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu của luận án là thanh niên QĐNDVN, nhưng chủ yếu tập trung ở các đơn vị chủ lực và học viên đào tạo sĩ quan trong các nhà trường quân đội khu vực phía bắc của nước ta, thời gian khảo sát chủ yếu từ 2001 đến nay
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng tổng hợp các phương pháp cụ thể khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh, điều tra xã hội học, phương pháp chuyên gia…
5 Những đóng góp về khoa học của luận án
Làm rõ quan niệm về giữ gìn BSVHDT và vai trò thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra đối với thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của thanh niên
QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Cung cấp một số vấn đề lý luận, thực tiễn về vai trò của thanh niên QĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
Góp phần giúp lãnh đạo chỉ huy trực tiếp quản lý lực lượng TNQĐ, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện để phát huy vai trò của TNQĐ giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy chủ nghĩa xã hội khoa học, trong nghiên cứu khoa học ở các học viện, nhà trường và đơn vị cơ sở QĐNDVN
7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm: Mở đầu; 4 chương (8 tiết); kết luận; danh mục công trình khoa học đã công bố; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Những vấn đề có liên quan đến đề tài đã được nghiên cứu
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
* Văn hoá và tác động của hội nhập quốc tế đến văn hoá
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng vào điều kiện lịch sử cụ thể của cách mạng nước ta, ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta ngay từ đầu đã khẳng định vị trí vai trò và tầm quan trọng của văn hoá với sự nghiệp cách mạng, với sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, khẳng định và đề cao sức mạnh dân tộc, BSVHDT trong tiến trình cách mạng, coi đây là yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng ở mọi giai đoạn
Từ việc nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của văn hoá với sự phát triển xã hội, ĐCSVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện tầm nhìn cách mạng
và khoa học về chiến lược văn hoá đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, coi đó là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài Trong đường lối chung lãnh đạo cách mạng, phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta đều có chiến lược, định hướng phát triển văn hoá phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cách mạng Giai đoạn đấu tranh giành độc lập dân tộc, ngay khi cách mạng chưa thành công Đảng đã đề ra “Đề cương văn hoá Việt Nam” năm 1943 với đặc trưng cơ bản của nền văn hoá “Dân tộc- khoa học- đại chúng” Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã phân tích sâu sắc diễn biến tình hình, nêu lên những nhiệm vụ cơ bản trên mặt trận văn hoá, thức tỉnh và tập hợp rộng rãi trí thức Việt Nam vào sự nghiệp cứu quốc dưới ngọn cờ của Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp góp phần quan trọng đưa cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đến thắng lợi Sau đề cương, tác phẩm: “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”, Cố Tổng Bí thư Trường Chinh
Trang 11đã phân tích sâu sắc những quan điểm cơ bản của Đảng về văn hoá nêu trong đề cương, xác định lập trường mác xít kiên định khi phân tích, lên án văn hoá thực dân phong kiến; khẳng định vai trò của văn hoá cách mạng và phương pháp khoa học biện chứng trong việc xác định nội dung, tính chất và nhiệm vụ của nền văn hoá mới Việt Nam Tác phẩm nhấn mạnh lập trường văn hoá cách mạng, phân tích làm sáng tỏ tính dân tộc, khoa học và đại chúng của nền văn hoá Việt Nam làm cơ sở để định hướng phát triển văn hoá và sáng tác của văn nghệ
sĩ, đảm bảo cho văn hoá luôn là động lực chủ yếu, khai thác phát huy mọi tiềm năng về trí tuệ, tinh thần, vật chất của nhân dân, tạo sức mạnh cho dân tộc vượt qua mọi thử thách để không ngừng phát triển Đánh giá ý nghĩa và giá trị lịch sử của đề cương cũng như công lao to lớn của Cố Tổng Bí thư Trường Chinh với sự nghiệp văn hoá, giáo sư Nguyễn Đức Bình khẳng định: “Đề cương văn hoá Việt Nam vào thời điểm 50 năm trước chính là đỉnh cao của trí tuệ đương thời, là nhận thức sắc bén về tình hình, là dự báo khoa học về tương lai, là sức mạnh tinh thần to lớn mà đất nước đang cần”[8, tr 519]
Thời kỳ đổi mới, vẫn trên tinh thần cơ bản của đề cương văn hoá vạch ra, Đảng ta đã tiếp tục phát huy tinh thần dân tộc trong bối cảnh lịch sử mới, nhấn mạnh vai trò tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hoá mới, nhằm tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, nhân đạo, dân chủ và tiến bộ Đặc biệt, trước xu thế toàn cầu hoá và HNQT ngày càng sâu rộng, bên cạnh thời
cơ và vận hội lớn giúp nước ta phát triển, rút ngắn khoảng cách với các nước trong khu vực và quốc tế, đã đặt ra những thách thức không nhỏ đối với phát triển văn hoá, cũng như giữ gìn BSVHDT Các Hội nghị lần thứ tư khoá VII, lần thứ năm khoá VIII của Ban Chấp hành Trung ương đã khẳng định vai trò nền tảng tinh thần của văn hoá, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, không những vừa phải xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, hiện đại, mà còn vừa phải đảm bảo giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc, kiên định và giữ vững định hướng XHCN trong quá trình phát triển
Trang 12Cùng với tăng cường quảng bá văn hoá, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với nước ngoài, làm cho cộng đồng thế giới ngày càng hiểu sâu sắc hơn về đất nước, con người Việt Nam, phải đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn hoá, khoa học công nghệ hiện đại của thế giới nhằm phát triển, hoàn thiện văn hoá Việt Nam tương xứng với tầm vóc, với sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng XHCN Khẳng định nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc xét về thực chất là sự cụ thể hoá đường lối văn hoá của Đảng ta đề ra từ khi thành lập với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH Giữ vững sự ổn định, phát triển bền vững đất nước trong xu thế HNQT, trên cơ sở giữ gìn, phát huy BSVHDT và dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Chỉ có như vậy, chúng ta vừa tận dụng được
cơ hội phát triển đất nước, tiến kịp yêu cầu phát triển chung của khu vực và quốc
tế, vừa giữ vững BSVHDT, không bị hoà tan, đánh mất BSVHDT
Như vậy, quan điểm cơ bản của Đảng ta về văn hoá, bản sắc văn hoá thể hiện ở nhiều văn kiện, trong các thời kỳ cách mạng, phản ánh tầm nhìn chiến lược, sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng Những quan điểm cụ thể, trực tiếp chỉ đạo và định hướng sự nghiệp cách mạng nói chung, phát triển văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá nói riêng
* Về bản sắc văn hoá dân tộc
Trên cơ sở phương pháp luận Mác - Lênin, quan điểm, đường lối của Đảng ta về văn hoá và phát triển văn hoá trong các giai đoạn cách mạng, gần đây
có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước bàn về văn hoá phát triển trong HNQT, đưa ra các cách tiếp cận khác nhau về văn hoá và BSVHDT,
về mối quan hệ giữa giữ gìn BSVHDT với hội nhập, giao lưu văn hoá quốc tế
Quan điểm mang tính định hướng, khái quát và rất sâu sắc về văn hoá, bản sắc văn hoá, mối quan hệ giữa văn hoá và đổi mới, cố Thủ tướng Phạm Văn
Đồng đã viết cuốn sách “Văn hoá và đổi mới” (1995) Trong cuốn sách này, cố
Thủ tướng đã đề cập quan điểm khoa học về văn hoá, vai trò to lớn của văn hoá
Trang 13và bản sắc văn hoá trong trường kỳ hình thành phát triển dân tộc, luận giải một cách khoa học và sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và đổi mới, giữa lịch sử và văn hoá, qua đó gợi ra những quan điểm có tính chất mở đường về sự cần thiết, mục tiêu, thực chất của việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình đổi mới đất nước, tích cực mở rộng HNQT Đây là những định hướng rất quan trọng cho quá trình nghiên cứu, quán triệt và hiện thực hoá quan điểm của Đảng, góp phần xây dựng phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong hội nhập quốc tế
Bàn về BSVHDT, vai trò văn hoá với sự phát triển đất nước, mối quan hệ giữa giao lưu hội nhập với giữ gìn bản sắc văn hoá trong xu thế mới để phát triển
văn hoá, có các công trình khoa học: “Bản sắc dân tộc của văn hoá”(1990) của
Đỗ Huy và Trường Lưu; “Văn hoá với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo
định hướng XHCN” (1998) của Lê Quang Thiêm; “Xây dựng nền văn hóa mới ở nước ta hiện nay”(1992) của Nguyễn Duy Quý và Đỗ Huy, “Văn hoá và phát triển”(2000) của Nguyễn Hồng Phong, “Phát huy nội lực văn hoá trong quá trình phát triển” (2000) của Phạm Duy Đức …Trong các công trình này, đi từ
việc giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển, các tác giả không chỉ đưa
ra quan niệm về bản sắc văn hoá, đặc trưng và vai trò to lớn của nó với văn hoá dân tộc; mà còn thống nhất khẳng định, vai trò của văn hoá với sự phát triển đất nước là rất lớn, các nền văn hoá không tồn tại biệt lập, tách rời các nền văn hoá khác mà luôn có sự giao lưu, thâm nhập lẫn nhau giữa các nền văn hoá Vì vậy, một mặt cần phải mở rộng giao lưu, hội nhập để phát triển, nâng tầm văn hoá, mặt khác phải chú ý giữ gìn BSVHDT, bởi theo các tác giả:
Giữ gìn BSVHDT không đồng nghĩa với sự đóng kín và kỳ thị đối với các nền văn hoá khác Các nền văn hoá luôn trao đổi lẫn nhau Các nền văn minh nhân loại cho thấy sự giao lưu làm cho các nền văn hoá cùng phát triển nhanh hơn, khi sự giao lưu đứt đoạn thì các nền văn hoá cũng phát triển chậm lại và rơi vào tình trạng trì trệ [39, tr.355]
Trang 14Cùng với hướng tiếp cận trên, các công trình nghiên cứu do hai tác giả chủ biên: “Vai trò của văn hoá trong hoạt động chính trị của Đảng ta hiện nay”(2000) của Trần Văn Bính, “Văn hoá chính trị và việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay”(1995), của Phạm Ngọc Quang, đã khẳng
định vai trò to lớn của văn hoá đối với sự hình thành và phát huy phẩm chất năng lực người cán bộ, từ đó hình thành các phẩm giá như ý thức cộng đồng, lòng tự hào dân tộc, lương tâm, trí tuệ, niềm tin…Muốn vậy trong quá trình xây dựng phát triển cần có sự giao lưu, tiếp nhận những giá trị tinh hoa của văn hoá nhân loại trên cơ sở những giá trị truyền thống của dân tộc Đặc biệt, các công trình
nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”(1997); của Lê Như Hoa: “Bản sắc dân tộc trong lối sống hiện đại”(2003); “Bản sắc dân
tộc và hiện đại hoá trong văn hoá”(2000) của Hoàng Trinh; “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”(2001) của
Nguyễn Khoa Điềm; “Một số vấn đề về công tác lý luận tư tưởng và văn
hoá”(2005) của Giáo sư Nguyễn Đức Bình…Trong các công trình này, tác giả
đã đi sâu phân tích và đưa ra các quan niệm khoa học khác nhau trong tiếp cận văn hoá, vai trò, cấu trúc, chức năng của văn hoá; luận giải cội nguồn hình thành
ý thức dân tộc và bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam; khẳng định sức mạnh của văn hoá, của bản sắc văn hoá trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá và phát triển, văn hoá với các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là kinh tế, chính trị, xã hội; khẳng định trong tình hình hiện nay, hiện đại hoá chỉ có thể thành công nếu bản sắc dân tộc được sử dụng như một động lực chủ yếu, đồng thời BSVHDT cũng chỉ có thể được phát huy trong một đất nước hiện đại hoá
Các nhà khoa học từ những góc nhìn khác nhau đã đưa ra các luận chứng khoa học để luận giải, khẳng định và chứng minh mối quan hệ biện chứng của hai mặt trong quá trình hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam luôn xuyên suốt
Trang 15lịch sử dân tộc, chính nó là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định giúp dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn thử thách khó khăn trường tồn và phát triển bền vững cho đến ngày nay Lịch sử quá trình phát triển, bồi đắp hệ thống giá trị tinh hoa của bản sắc văn hóa Việt Nam cho thấy, trong quá trình chống chọi với sự đồng hoá, xâm lăng về văn hoá của ngoại bang, dân tộc ta một mặt vẫn giữ được bản sắc văn hoá của mình, mặt khác đã tiếp biến văn hoá bên ngoài để thường xuyên làm giàu BSVHDT mình Điều đó cho thấy, ngay từ rất sớm cha ông ta đã thường xuyên tiếp nhận sự giao lưu văn hoá dân tộc với các nền văn hoá khác, qua đó nâng BSVHDT lên tầm cao mới, khẳng định bản lĩnh, cốt cách của con người và cộng đồng dân tộc Việt Nam trước các nền văn hoá khác
Về vai trò tư tưởng lý luận với văn hoá, Giáo sư Nguyễn Đức Bình đã đi sâu phân tích làm sáng tỏ về cơ sở lý luận thực tiễn trong quan điểm, đường lối của Đảng về tư tưởng văn hoá, BSVHDT trong bối cảnh toàn cầu hoá; mối quan
hệ văn hoá tư tưởng chính trị trong cuộc đấu tranh về tư tưởng lý luận hiện nay, đặc biệt đi sâu phân tích làm rõ về thực chất của HNQT, thời cơ và thách thức với các nước phát triển trong quá trình toàn cầu hoá, tạo cơ sở lý luận cho việc làm rõ sự cần thiết giữ gìn BSVHDT hiện nay
Gần đây, công trình: “Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 Những vấn đề phương pháp luận”[29] do PGS, TS Phạm Duy Đức làm chủ biên Công trình này gồm nhiều bài viết của các nhà khoa học, trong đó có các bài tiêu biểu của Đỗ Huy, Trần Văn Bính, Phạm Duy Đức… Trong các bài này tác giả
đã đề cập về thế giới quan, phương pháp luận khoa học để phát triển nền văn hoá Việt Nam trong xu thế HNQT ngày càng sâu rộng Các tác giả trên cơ sở tổng kết thực tiễn 25 năm xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc, làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn của nền văn hoá, vai trò lãnh đạo quản lý của Đảng Nhà nước về văn hoá, chỉ rõ các mối quan hệ văn hoá với các lĩnh vực kinh tế xã hội, chỉ rõ quan điểm giải pháp có tính đột phá để phát
Trang 16triển nền văn hoá dân tộc trong thập kỷ tới Những vấn đề cơ bản trên của các nhà khoa học là cơ sở phương pháp luận rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, tiếp thu và vận dụng sáng tạo vào phát triển nền văn hoá, giữ gìn BSVHDT Việt Nam giai đoạn hiện nay
* Về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Liên quan đến vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá trước xu thế toàn cầu hoá, ngày 20 tháng 10 năm 2007 Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo khoa học “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá” Hội thảo đã đề cập nhiều vấn đề về toàn cầu hoá, nhất là sự tác động ảnh hưởng tới các lĩnh vực chính trị, văn hoá, xã hội; trong đó văn hoá là lĩnh vực bị ảnh hưởng lớn nhất, trực tiếp nhất Trên cơ sở đó, hội thảo đã trao đổi, đưa ra nhiều khía cạnh, nhiều góc tiếp cận về đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đưa ra một số kiến nghị về chủ trương, chính sách văn hoá nhằm giữ gìn và phát huy BSVHDT trong xu thế toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá, HNQT và giữ gìn BSVHDT luôn có mối quan hệ chặt chẽ, nhất là khi toàn cầu hoá và HNQT ngày càng phát triển gia tăng về tính chất và phạm vi thì càng đặt ra yêu cầu bức thiết đối với mỗi quốc gia trong giữ gìn
BSVHDT Điều này được chứng minh thông qua hội thảo quốc tế “Việt Nam
học” lần thứ ba tổ chức tháng 12 năm 2008, tại Viện Khoa học xã hội Việt Nam,
thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Trong hội thảo vấn đề văn hoá được đưa ra thảo luận rộng rãi và sâu sắc, với nhiều tham luận của các nhà nghiên cứu trong
nước; trong đó đáng chú ý một số tham luận tiêu biểu: “Sự tiếp biến văn hoá Việt
Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX” của Nguyễn Thị Đảm - Đại học Sư
phạm Huế, “Giao lưu, tiếp biến văn hoá và bảo tồn bản sắc văn hoá Việt Nam
trong toàn cầu hoá” của Nguyễn Thế Cường- Đại học Kiến trúc thành phố Hồ
Chí Minh, “Giao lưu văn hoá Việt Nam và thế giới” của Phạm Đức Dương- Hội Khoa học Đông Nam Á- Việt Nam, “Văn hoá và lối sống của thanh niên Việt
Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNQT” của Phạm Hồng Tung- Đại học
Trang 17Quốc gia Hà Nội …Các tác giả đã tập trung đi sâu các góc độ tiếp cận cụ thể về văn hoá, qui luật giao lưu, tiếp biến văn hoá, văn hoá với thanh niên trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNQT, từ đó luận giải yêu cầu và đòi hỏi bức thiết cần phải bảo tồn, giữ gìn bản sắc văn hoá, lịch sử truyền thống dân tộc trong giao lưu HNQT Đặc biệt, từ cách tiếp cận cấu trúc hai mặt của văn hoá, văn hoá và lối sống thanh niên trong xu thế toàn cầu hoá và HNQT hiện nay, các tác giả làm rõ
sự cần thiết phải giữ gìn những giá trị truyền thống văn hoá dân tộc hiện nay, tính qui luật trong giao lưu, tiếp biến văn hoá, giữ gìn bảo tồn BSVHDT, cách nhìn nhận, xem xét, đánh giá và phát huy vai trò thanh niên trong xây dựng văn hoá và lối sống hiện nay …Những vấn đề cơ bản đó cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng để tiếp cận, nghiên cứu và luận giải việc giữ gìn BSVHDT ở TNQĐ hiện nay
* Về văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá
Vấn đề văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá không chỉ là mối quan tâm của các cấp ngành, của toàn xã hội mà còn của nhiều nhà khoa học có tâm huyết Từ đặc thù của thanh niên nên sự tác động ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hoá và HNQT đến văn hoá thanh niên, đến BSVHDT là rất lớn và khó lường Vì thế, vấn đề văn hoá thanh niên, thanh niên với văn hoá được các cấp ngành có liên quan và nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Tháng 10 năm 2002, Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương đã tổ chức hội thảo khoa học “Văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá” tại Hà Nội Với 40 bản tham luận tham gia hội nghị, các tác giả đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận thực tiễn của mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá với thanh niên trong điều kiện lịch sử mới Toàn bộ các tham luận được in trong cuốn “Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá, một số vấn đề lý luận thực tiễn”, của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Các tham luận trong hội thảo đã khẳng định, vấn đề văn hoá với thanh niên và thanh niên với văn hoá không chỉ là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác của Đảng, Nhà nước và các
Trang 18đoàn thể, mà còn là mối quan tâm, lo lắng vì sự an nguy của toàn xã hội Từ nghiên cứu cả về lý luận, thực tiễn, các kết quả khảo sát điều tra, những nhận định, kiến nghị từ kết quả điều tra trong hoạt động thực tiễn, các tác giả đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về văn hoá thanh niên và thanh niên với văn hoá, cung cấp cơ sở lý luận thực tiễn cho công tác thanh niên nói chung, thanh niên với sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy BSVHDT hiện nay nói riêng
Cũng bàn về vấn đề trên, tác giả Dương Tự Đam trong cuốn “Văn hoá thanh
niên và thanh niên với văn hoá dân tộc”, đã đề cập các khía cạnh: văn hoá phát
triển, văn hoá thanh niên, văn hoá tuổi trẻ; các yếu tố cụ thể trong nhân cách thanh niên; thanh niên với công bằng, dân chủ, bình đẳng xã hội, những tác động của văn hoá phẩm đồi truỵ đến nhân cách thanh niên; những thách thức đối với thanh niên
và tiền đề để thanh niên bước vào thế kỷ XXI; một số nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ di sản văn hoá dân tộc Những nội dung trên đây cung cấp những góc nhìn cụ thể về văn hoá ở một đối tượng nhạy cảm cần được quan tâm, đặc biệt
là đề cập sâu cách tiếp cận trong quan niệm văn hoá của UNESCO, những thách thức về văn hoá với thanh niên hiện nay, bước đầu đề cập quan điểm, nhiệm vụ xây dựng, phát triển và bảo vệ di sản văn hóa dân tộc ở đối tượng thanh niên
* Về thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Trên thực tế chưa có công trình nào bàn về vấn đề này Tuy nhiên, liên quan tới các góc độ tiếp cận gần với văn hoá, xây dựng môi trường văn hoá quân sự, phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan có một số công trình nghiên cứu như: “Văn hoá quân sự Việt Nam” của tác giả Lê Văn Quang và Văn Đức Thanh; “Về xây dựng môi trường văn hoá cơ sở” của PGS, TS Văn Đức Thanh,
“Phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan trẻ QĐNDVN hiện nay”(2005) luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Trường…Các công trình đó đã đề cập vai trò của văn hoá và sự tác động, ảnh hưởng của nó đến quá trình xây dựng, phát triển môi trường văn hoá quân sự, đến sự nghiệp xây dựng quân đội
Trang 19nói chung, đến giữ vững và phát huy bản chất truyền thống của quân đội cách mạng nói riêng trong giai đoạn hiện nay; đề cập đến tính qui luật, xu hướng và yêu cầu phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan trẻ QĐNDVN trước những tác động ảnh hưởng phức tạp của tình hình thế giới, trong nước xu thế toàn cầu hoá và HNQT
Nghiên cứu giá trị văn hoá giữ nước Việt Nam, những nét đặc sắc của văn hoá quân sự có các công trình nghiên cứu: “Tìm hiểu văn hoá giữ nước Việt Nam” (2002), của Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự[107], “Văn hoá quân sự - một văn hoá độc đáo Việt Nam”(2008), của Nxb QĐND[105]… Các công trình này đã nêu ra quan niệm văn hoá giữ nước, văn hoá quân sự, điều kiện hình thành, phát triển và đặc trưng của văn hoá giữ nước, văn hoá quân sự Đặc biệt, đã tập trung đi sâu phân tích, luận giải, chứng minh những giá trị tiêu biểu, nét đặc sắc của văn hoá giữ nước, văn hoá quân sự; làm nổi bật giá trị tinh hoa của BSVHDT được đúc kết trong lịch sử giữ nước; dự báo xu hướng vận động phát triển của nó trong thời kỳ mới và những giải pháp nhằm giữ gìn, phát huy những giá trị đó hiện nay
Những vấn đề cơ bản mà các công trình đề cập trên đây đã cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn cho việc tiếp cận, luận giải nhằm giải quyết mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, nhất là việc đi sâu nghiên cứu, luận giải làm rõ vai trò TNQĐ giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong HNQT hiện nay
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
* Về văn hoá và tác động của hội nhập quốc tế đến văn hoá dân tộc
Trong những năm gần đây, các vấn đề liên quan đến văn hoá và phát triển, văn hoá và hội nhập, văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá là chủ đề thường được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu và đưa ra thảo luận trong mọi diễn đàn, nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của các quốc gia dân tộc trên thế giới Điều đó khẳng định vị trí chiến lược, trung tâm, vai trò nền tảng điều tiết xã hội của văn hoá hiện nay cần được quan tâm, nâng cao hơn về nhận thức và chỉ đạo tổ chức
Trang 20thực hiện ở từng quốc gia dân tộc, cũng như trên phạm vi thế giới Đặc biệt, trong xu thế toàn cầu hoá và HNQT ngày càng sâu rộng hiện nay, vấn đề phát triển văn hóa, giữ gìn BSVHDT không những đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, mà còn trở thành quốc sách trong chiến lược phát triển chung của mỗi quốc gia dân tộc Văn hoá với phạm vi bao trùm và ý nghĩa sâu rộng luôn là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Giữa kinh tế với văn hoá, xã hội có mối quan hệ gắn bó với nhau không tách rời Chúng ta không thể xây dựng được một xã hội văn minh với nền kinh tế nghèo nàn
và lạc hậu Ngược lại, khó có thể phát triển nền kinh tế tăng trưởng cao nếu không coi trọng xây dựng nền văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Bởi vậy, trong quá trình phát triển chung của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế hiện nay, đã luôn luôn quan tâm và tính đến sự tác động ảnh hưởng của mối quan hệ gắn
bó này Có thể nói, sự kết hợp giữa kinh tế với văn hoá, văn hoá với toàn cầu hoá, hội nhập và phát triển là yêu cầu bức thiết, là thách thức trong chiến lược phát triển của tất cả các nước trên thế giới hiện nay Trong cuộc phát động “Thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá”, chính ông F.Mayor - Tổng Giám đốc tổ chức Khoa học, giáo dục và văn hoá của Liên hiệp quốc(UNESCO) đã khẳng định có tính chất cảnh báo: “Hễ nước nào tự đặt ra cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá, và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều”[44, tr 278] Những hậu qủa mất cân đối đó, không chỉ xảy ra tại các nước đang phát triển, mà ngay cả các nước công nghiệp tiên tiến, nơi mà cuộc chạy đua ráo riết nhằm gia tăng của cải vật chất gây thiệt hại đến giá trị tinh thần, đạo đức và thẩm mỹ của cuộc sống, nó đã gây ra những mất cân đối nghiêm trọng giữa con người với con người và với môi trường tự nhiên Sự khẳng định trên là tiếng chuông cảnh báo đối với mọi quốc gia trong chiến lược phát triển của mình phải luôn chú ý đến mối quan hệ giữa kinh tế với văn hoá, quan tâm và chú ý hơn nữa đến con người, đặc biệt lưu ý giữ gìn
BSVHDT trong xu thế HNQT hiện nay
Trang 21Trên thực tế những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu của các
tác giả nước ngoài đề cập trên mọi phương diện của vấn đề này như: “Sinh thái nhân
văn” của Georges Olivier (1992); “Tiếng chuông cảnh tỉnh cho thế kỷ XXI” của
D.I-ke-đa và A.Péc-xây (1993); “Văn hoá học” của V.M.Rôđin (2000), đã khẳng định
vai trò to lớn của văn hoá đối với sự phát triển xã hội, các tác giả khẳng định rằng không thể có sự phát triển bền vững nếu không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, giữa giao lưu HNQT với giữ gìn bản sắc văn hoá Đối với khu vực, gần đây nhất, trong hội thảo quốc tế tại Hà Nội, Tokyo
và Noọng khai năm (1996) về “Văn hoá trong phát triển và toàn cầu hoá”, các tác
giả tham gia đều thừa nhận bản chất của văn hoá là sáng tạo; phát triển văn hoá không thể đóng kín, bó hẹp trong quốc gia dân tộc mà phải mở rộng giao lưu, tiếp nhận văn hoá bên ngoài là một xu thế tất yếu, nhưng phải biết chọn lọc những tinh hoa và gạt bỏ những lạc hậu, lỗi thời Tuy nhiên, các tác giả cũng đồng thời đưa ra những cảnh báo trong phát triển và giữ gìn BSVHDT, những mâu thuẫn nảy sinh giữa phát triển và mặt trái của nó để các quốc gia cần lưu ý trong chiến lược phát triển hiện nay Chỉ có trên cơ sở như vậy, mỗi quốc gia dân tộc mới phát triển một cách bền vững, thu hẹp dần khoảng cách với các nước trên thế giới, đồng thời khắc phục được mặt trái của toàn cầu hoá, HNQT, giữ vững BSVHDT
* Về bản sắc văn hoá và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Ở phạm vi khu vực, khi đi sâu tham bàn, phân tích việc giải quyết mối quan hệ giữa văn hoá và toàn cầu hoá, HNQT, phát triển văn hoá và giữ gìn BSVHDT trong
xu thế mới, các tác giả Trung Quốc đã đưa ra những quan điểm khá sâu sắc, có cơ sở khoa học về vấn đề này Thực tế đã có nhiều công trình, nhiều bài viết bàn về chủ đề nêu trên như: “Tranh luận về văn hoá và đối thoại về văn hoá ở thời đại toàn cầu hoá” của Vương Ninh, Tạp chí “Văn hoá phương Đông” (1999); “Xung đột và chỉnh hợp văn hoá trong toàn cầu hoá kinh tế” của Vương Trường Khôn, Tạp chí “Quang minh Nhật báo” (2002); “Bàn về văn hoá toàn cầu và văn hoá dân tộc” của Hồ Mẫn Trung, Tạp chí “Học tập và tìm hiểu” (2003); “Toàn cầu hoá văn hoá: chỗ sai của hiện đại
Trang 22hoá” của Tịch Vân Thư, “Quang minh Nhật báo”(6/2003); “Quan niệm thân phận văn hoá hậu thực dân” của Lý Lâm và Sinh An Phong, Tạp chí “Động thái lý luận nước ngoài”(2004) Đáng lưu ý, gần đây nhất là bài viết: “Xung đột văn minh và tính
đa dạng văn hoá ở thời đại toàn cầu hoá” đăng trên tạp chí “Vấn đề CNXH trong thế giới đương đại” tháng 1 năm 2006, của hai tác giả Dư Tự Niệm, Hạ Kim Bố Các tác giả đã bàn, khẳng định quan điểm của mình về những khía cạnh liên quan đến văn hoá, giữ gìn BSVHDT trong toàn cầu hoá như: tính đa dạng văn hoá không phải là toàn cầu hoá văn hoá, sự cần thiết tất yếu phải tận dụng toàn cầu hoá để hiện đại hoá văn hoá dân tộc, toàn cầu hoá chỉ là toàn cầu hoá tài nguyên văn hoá chứ không phải giá trị văn hoá, các dân tộc cần chống thủ đoạn xâm lăng về văn hoá của chủ nghĩa đế quốc văn hoá, giữ vững và phát triển văn hoá dân tộc trong xu thế toàn cầu hoá, HNQT Đề cập mối quan hệ cá tính (bản sắc) dân tộc với tính chung (phổ quát) văn hoá nhân loại trong toàn cầu hoá, tác giả khẳng định, văn hoá dân tộc luôn thống nhất
và làm phong phú tính đa dạng của văn hoá thế giới, “văn hoá vì cá tính mà rực rỡ, mất cá tính mà khô héo”, nên phải chú trọng giữ gìn và phát triển BSVHDT với thái
độ “rộng mở, bình đẳng, tìm ra chỗ giống nhau và bảo lưu chỗ khác nhau, tự hoàn thiện mình”, thực hiện “hoà bình phát triển” trong giao lưu văn hoá, đảm bảo sự phát triển nền văn hoá XHCN mang bản sắc dân tộc…Ngoài ra, bàn về thái độ đối xử với
sự khác biệt về văn hoá, các tác giả còn đưa ra những vấn đề có tính nguyên tắc trong giao lưu hội nhập văn hoá xu thế toàn cầu hoá, cung cấp thêm cơ sở trong việc tiếp thu văn hoá nhân loại, giữ gìn BSVHDT, xây dựng phát triển nền văn hoá hiện đại vừa thích ứng với xu thế thời đại, vừa mang màu sắc dân tộc Trong đó, khi giao lưu hội nhập văn hoá, cần đặc biệt lưu ý vấn đề tính đa nguyên về chủ thể văn hoá, dựa vào nội lực mình là chính theo phương châm “càng dân tộc thì càng là thế giới”, từ nội lực, lấy phát triển xã hội làm mục tiêu, tiền đề cơ bản cho giao lưu hội nhập văn hoá… Đồng thời, tích cực chống những biểu hiện sai trái trong giao lưu, hội nhập, hiện đại hoá văn hoá như: chủ nghĩa hư vô dân tộc, chủ nghĩa quốc tuý, bài ngoại về văn hoá Những biểu hiện sai trái trên dễ dẫn đến chủ trương lệch lạc trong quá trình giao lưu hội nhập phát triển văn hoá, không giữ vững BSVHDT
Trang 23Phạm vi rộng hơn, trong chiến lược mới của Mỹ và các thế lực thù địch nhằm lợi dụng xu thế toàn cầu nhằm áp đặt sự thống trị về văn hoá, là thách thức đối với BSVHDT, biểu hiện mâu thuẫn mới giữa CNTB với các dân tộc trong xu thế mở rộng HNQT, tác giả James Petras có bài viết với tựa đề: “Chủ nghĩa đế quốc văn hoá cuối thế kỷ XX”, do Vũ Văn Hoà dịch từ nguồn tiếng Nga và tiếng Anh, được đăng tải trong tài liệu học tập của Học viện Chính trị năm 2004…Ở công trình này, tác giả
đã nêu lên bức tranh toàn cảnh về CNTB, CNĐQ thời kỳ toàn cầu hoá, một biến tướng mới trong chiến lược, chính sách kinh doanh và bóc lột núp dưới vỏ bọc mới - chủ nghĩa đế quốc văn hoá Với phương thức và thủ đoạn mới này, chúng hy vọng một mũi tên sẽ trúng hai đích, cả kinh tế lẫn chính trị; vừa “giành thị trường cho sản phẩm văn hoá Mỹ”, vừa “thiết lập được quyền thống trị của Mỹ thông qua việc tác động lên ý thức xã hội của các dân tộc khác” Trên cơ sở sự thống trị văn hoá và bóc lột trên quy mô toàn thế giới, nhất là với thế giới thứ ba, CNĐQ văn hoá tiến hành thâm nhập mang tính hệ thống và sự thống trị đối với đời sống văn hoá của quần chúng từ phía giai cấp cầm quyền phương Tây, nhằm mục tiêu sắp xếp lại các giá trị, hành vi và bản sắc của các dân tộc bị áp bức, để cho những giá trị, hành vi và bản sắc
đó phù hợp với lợi ích của các thế lực đế quốc Điều đặc biệt nguy hiểm và thâm độc của chủ nghĩa đế quốc văn hoá là bóc lột kinh tế, chính trị đối với thế hệ trẻ, nhóm xã hội dễ bị tổn thương nhất trước tác động của tuyên truyền thương mại hoá, thông qua lực lượng này để thực hiện chính sách, mục tiêu chiến lược toàn cầu phản cách mạng Đây là những vấn đề hết sức quan trọng để vận dụng luận giải làm rõ cơ sở lý luận thực tiễn của việc giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
1.2 Những vấn đề liên quan đến đề tài chƣa đƣợc nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hoá và HNQT ngày càng sâu rộng hiện nay, mức độ ảnh hưởng tác động của nó đến văn hoá và BSVHDT ngày càng bộc lộ rõ nét Tuy
đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này nhưng vẫn còn những vấn
đề lý luận thực tiễn về giữ gìn BSVHDT chưa được đề cập và nghiên cứu một cách
hệ thống, dựa trên cơ sở khoa học:
Trang 24- Một là, chưa có đề tài nào đề cập dưới góc độ chính trị xã hội vai trò
TNQĐNDVN giữ gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
- Hai là, chưa có đề tài nào khảo sát đánh giá một cách toàn diện thực trạng
vai trò TNQĐ giữ gìn BSVHDT thời gian vừa qua
- Ba là, chưa có đề tài nào đưa ra một hệ thống giải pháp cơ bản để TNQĐ giữ
gìn BSVHDT trong HNQT hiện nay
Giải quyết được những vấn đề lý luận thực tiễn đặt ra trên đây sẽ góp phần tác động tích cực vào giữ gìn, phát huy BSVHDT trong quân đội, đóng góp quan trọng vào quá trình xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” đến thắng lợi
Kết luận chương 1
Về văn hoá, hội nhập quốc tế, bản sắc văn hoá dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong xu thế hội nhập quốc tế… đã có rất nhiều công trình của các cá nhân, tập thể ở trong nước, ngoài nước nghiên cứu, bàn luận, đề cập nhiều góc độ liên quan đến đề tài Những vấn đề cơ bản đó, một mặt là cơ sở lý luận mang tính nền tảng cho việc luận giải vấn đề nghiên cứu của đề tài, mặt khác cung cấp những kiến thức thực tiễn hết sức phong phú sinh động, để vận dụng trực tiếp làm rõ những vấn
đề nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, trên thực tế chưa có công trình nào nghiên cứu
một cách hệ thống và đầy đủ vấn đề “Thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam giữ
gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập quốc tế hiện nay” Vì vậy, tác giả đã
chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu của luận án Vấn đề này không trùng với bất
kỳ công trình khoa học nào đã công bố ở trong và ngoài nước
Trang 25Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
VIỆT NAM VÀ VAI TRÕ THANH NIÊN QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
VIỆT NAM GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY
2.1 Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam và tác động của hội nhập quốc tế đến bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
2.1.1 Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
2.1.1.1 Văn hoá
Nghiên cứu lịch sử nhân loại từ khi thành văn đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức quốc tế đưa ra quan niệm khác nhau về văn hoá Tuỳ theo cách tiếp cận và điều kiện lịch sử cụ thể mà đưa ra quan niệm, từ đó làm rõ
vị trí, vai trò và ý nghĩa nghiên cứu, nhằm phục vụ cho mục đích của mình
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các tác phẩm của mình, luôn coi văn hoá là một lĩnh vực rộng lớn của đời sống xã hội, là mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Theo các ông, văn hoá không chỉ là sự sáng tạo ra đời sống vật chất và đời sống tinh thần, mà còn bao hàm sự sáng tạo
ra cộng đồng xã hội cũng như sự sáng tạo ra bản thân con người với đúng tư cách người của mình Theo đó, nói tới văn hoá là nói tới những lực lượng bản chất người, tức là những năng lực sáng tạo mang tính xã hội và tính nhân văn của con người, nhằm hướng đến con người, quan tâm đến lợi ích vật chất, tinh thần của con người, tất cả vì sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người và giải phóng xã hội Trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tập trung lên án và chỉ ra nguyên nhân làm biến dạng bản chất của con người (các ông gọi là sự tha hoá) chính là chế độ tư hữu, là tình trạng bóc lột vô nhân tính của giai cấp tư sản, dẫn tới sự tha hóa lao động, tha hoá về văn hoá
Trang 26Trên cơ sở kế thừa xuất sắc tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong các tác phẩm của mình, V.I.Lênin luôn khẳng định vai trò, tầm quan trọng của văn hoá đối với sự nghiệp xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Văn hoá được nhân hoá thông qua hoạt động thực tiễn của con người V.I.Lênin luôn coi văn hoá, nhất là tri thức, khoa học và giáo dục là những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội Theo Người, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, với mục đích đem lại quyền lợi cho đại đa số quần chúng lao động trên mọi phương diện, sẽ làm cho nó trở thành hình thái phát triển cao nhất của văn hoá, văn minh nhân loại
Văn hoá là thành quả của hoạt động lao động sáng tạo của con người, của
xã hội trong lịch sử, mỗi bước tiến của con người trong quá trình sản xuất vật chất cũng đồng thời khẳng định một bước tiến của thành tựu văn hoá, văn minh nhân loại trên con đường vươn tới sự nghiệp giải phóng con người, xã hội và toàn thể nhân loại Vì thế, một mặt, không thể có văn hoá tách khỏi cuộc sống của con người, xã hội; mặt khác, cũng không thể có sự phát triển văn hoá với đúng nghĩa của nó khi không biết kế thừa có chọn lọc những thành tựu văn hoá, văn minh trước đó Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu người cộng sản trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng XHCN không nhận thức đúng vị trí, vai trò văn hoá, phủ định sạch trơn những giá trị văn hoá, văn minh nhân loại
Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin dù chưa bàn sâu đến các khía cạnh của văn hoá, về bản sắc văn hoá, giữ gìn BSVHDT, nhưng trong tư tưởng của các ông, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đòi hỏi những người cộng sản, đặc biệt là những đoàn viên thanh niên phải nhận thức đúng vị trí, vai trò của văn hoá, của tri thức khoa học, qui luật phát triển văn hoá; đồng thời phải biết kế thừa, vận dụng toàn bộ hệ thống tri thức nhân loại, giải quyết một cách khoa học nhiệm vụ thực tiễn, nhằm đạt được mục tiêu đề ra Đây là cơ sở phương pháp luận quan trọng để chúng ta vận dụng học thuyết Mác
- Lênin vào quá trình tiến hành cách mạng XHCN, đảm bảo sự ổn định và phát
Trang 27triển bền vững mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, phát triển văn hoá, giữ gìn BSVHDT nói riêng trong xu thế HNQT hiện nay
Dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học cách mạng, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định văn hoá là một bộ phận cấu thành nên hình thái kinh tế - xã hội, cho nên xây dựng xã hội XHCN tất yếu phải xây dựng nền văn hoá mới Đặc biệt, tư tưởng của các ông về văn hoá là phương thức hoạt động sống căn bản của con người gắn với điều kiện lịch sử nhất định, là toàn bộ dấu ấn của con người lên những thành quả do con người sáng tạo ra, tồn tại dưới dạng vật thể và phi vật thể Thông qua phương thức hoạt động lao động tái sản xuất ra đời sống hiện thực, văn hoá là “thiên nhiên thứ hai” của con người Đồng thời, văn hoá gắn liền với giao lưu, hội nhập, để vừa lan toả, quảng bá vừa tiếp biến, kế thừa chọn lọc giá trị tinh hoa để làm giàu, phát triển văn hoá dân tộc Điều đó, làm cho văn hoá vừa mang tính phổ quát, vừa mang tính đặc thù, trong quá trình đó cần lưu ý sự tác động hai mặt của giao lưu HNQT đến văn hoá dân tộc C Mác và Ph.Ăngghen ngay từ giữa thế kỷ XIX đã chỉ rõ rằng: “Tính chất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương, muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học toàn thế giới”[57, tr.602] Đây là cơ sở lý luận quan trọng để tiếp cận, nghiên cứu, vận dụng làm rõ các quan điểm về văn hoá, từ đó làm sáng
tỏ những nội dung đề tài nghiên cứu
Với cách tiếp cận tính đặc thù dân tộc, nhấn mạnh bản sắc dân tộc, ông Federico Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCO quan niệm: “Văn hoá là bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động”[10, tr 187] Quan niệm này chỉ rõ và nhấn mạnh tính đặc thù của các giá trị văn hoá, tức là “cái làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác” Hệ thống giá trị đặc thù này được hình thành, được hun đúc trong lịch sử trường kỳ của mỗi dân tộc Hệ thống giá trị này khi đã hình thành sẽ tạo ra sức mạnh gắn kết
Trang 28bền chặt, trở thành một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho dân tộc tồn tại, phát triển bền vững Cách tiếp cận này cho phép đi sâu nghiên cứu làm rõ tính đặc thù của văn hoá dân tộc, những tác động của HNQT đến hệ thống giá trị này và những việc cần làm để giữ gìn giá trị đó trong xu thế HNQT hiện nay Trên cơ sở phương pháp luận mác - xít, gắn chặt với đời sống hiện thực, phản ánh cái tinh tuý cốt lõi nhất của văn hoá dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu
ý nghĩa của văn hoá:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo
và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở
và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức
là văn hoá [62, tr 433]
Từ nhận thức khái quát trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan niệm:
“Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của
nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [62, tr 433] Đây là cách tiếp cận văn hoá một cách khái quát, đặc trưng nhất; hết sức cô đọng, chính xác về văn hoá, cho phép
đi sâu nghiên cứu làm rõ nội hàm và vị trí, vai trò của nó trong thực tiễn đời
sống xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra quan niệm, mà còn chỉ ra một cách cụ thể nội dung, yêu cầu xây dựng nền văn hoá dân tộc với những đặc trưng
cơ bản: “…về tâm lý: tinh thần độc lập tự cường;…về luân lý: biết hy sinh mình,
làm lợi cho quần chúng; …về xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội; … về chính trị: dân quyền; và xây dựng kinh tế” [62,
tr 433] Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá dân tộc phải được đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời sống xã hội, chỉ có trên cơ sở và gắn liền với những bình diện ấy, mới làm cho văn hoá trở thành phẩm chất tốt đẹp, mang đặc trưng riêng và có ý nghĩa tích cực trong từng
Trang 29lĩnh vực của đời sống xã hội Quan niệm văn hoá và những yêu cầu xây dựng nền văn hoá dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện tầm chiến lược thiên tài trong xác định vị trí, vai trò và những tiêu chí cơ bản nhằm định hướng phát triển nền văn hoá Việt Nam, tạo cơ sở nền tảng tinh thần cho quá trình phát triển toàn diện xã hội Việt Nam trong tương lai
Văn hoá là một khái niệm có cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp và rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Tác giả luận án chỉ đề cập khái quát về những vấn đề cơ bản của văn hoá và quan niệm về văn hoá của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở lý luận và phương pháp luận quan trọng
để nghiên cứu vận dụng làm rõ BSVHDT Việt Nam, sự tác động của HNQT đến BSVHDT Việt Nam và vai trò TNQĐ giữ gìn bản sắc đó trong HNQT hiện nay
2.1.1.2 Bản sắc văn hoá dân tộc
Đến nay đã có rất nhiều nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu và đưa ra quan điểm về BSVHDT ở các góc độ khác nhau, như cơ sở hình thành, cấu trúc và phương pháp nghiên cứu
Theo Từ điển tiếng Việt, bản sắc là màu sắc, sắc thái, là đặc tính, là tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính để phân biệt các sự vật hiện tượng với nhau, thể hiện sự phong phú và đa dạng của sự vật hiện tượng Từ nghĩa đó, vận dụng vào các lĩnh vực cụ thể sẽ có cách tiếp cận và biểu hiện đặc thù của nó Trong tâm lý học, khái niệm bản sắc cá nhân có liên quan đến “cái tôi” và do đó tất nhiên phải có mối quan hệ với “cái khác”, “tôi” khác với “anh” vì tôi luôn là tôi không phải ai khác, có những tính cách riêng không hề lẫn với người khác…Vận dụng vào quan niệm bản sắc dân tộc thì trước hết cần khẳng định và được chứng minh trên thực tế là cái “tôi” dân tộc thông qua mối quan hệ và so sánh với cái
“khác”, đó là những dân tộc khác, với những chủ thể mang tính đặc trưng cộng đồng khác…Theo nghĩa đó, nói một cách khái quát, BSVHDT là những giá trị văn hoá mang sắc thái đặc thù, riêng có của dân tộc, được hình thành trong quá trình tồn tại, phát triển; gắn chặt với điều kiện tự nhiên xã hội và môi trường
Trang 30sống của họ, nó phản ánh diện mạo, cốt cách, tâm hồn, tính cách, tâm lý con người và cộng đồng người tồn tại trên đó
Trên thực tế, chưa có khái niệm hoàn chỉnh, thồng nhất về BSVHDT nên
có rất nhiều tác giả tiếp cận, nghiên cứu về nó ở các góc độ khác nhau Trước hết, theo tác giả Phan Ngọc nêu trong cuốn: “Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới” thì bản sắc văn hoá được coi là một kiểu quan hệ, cách diễn đạt và luận giải chủ yếu thiên về tiêu chí khúc xạ, tiếp thu có lựa chọn làm cho nó khác đi, phù hợp đặc điểm lịch sử dân tộc Nếu đem so sánh với các góc tiếp cận khác thì quan niệm này gần nghĩa như “tiếp biến văn hoá”, tức là tiếp thu, biến đổi và làm cho nó khác đi, đảm bảo sự phù hợp với điều kiện, với đặc điểm của dân tộc mình, thể hiện sự độc đáo sáng tạo trong quá trình giao lưu với các nền văn hoá khác Nếu như giao lưu và tiếp biến văn hoá là một trong những qui luật phát triển văn hoá chung mang tính phổ quát thì đối với Việt Nam, quá trình tiếp biến văn hoá không những mang tính qui luật chung đó mà còn thể hiện một năng lực sáng tạo tài tình trong mọi hoàn cảnh, đến mức “…tiếp biến văn hoá trở thành phương tiện để người Việt chống lại đồng hoá văn hoá, làm giàu và phát triển mạnh mẽ nền văn hoá với bản sắc riêng của mình, tạo ra sức mạnh giải phóng và bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước trước những thế lực xâm lược bành trướng to lớn”[12, tr 8]
Nghiên cứu cơ sở hình thành và nội hàm của bản sắc dân tộc, tác giả Trường Lưu cho rằng: “Bản sắc dân tộc là tố chất tinh tuý nhất của dân tộc…”,
“…là cách thức yêu nước, cách thức tự hào dân tộc của con người, với tất cả chiều sâu trí tuệ, phong cách tâm hồn và phương pháp tư duy, vừa đậm đặc cái riêng, không lẫn với ai, nhưng cũng không tách biệt trong quan hệ tổng thể giao lưu”[54, tr 125] Với cách tiếp cận bản sắc như hệ giá trị của dân tộc, tác giả Nguyễn Hồng Phong cho rằng: “Bản sắc dân tộc biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của nó, giúp dân tộc đó giữ được tính duy nhất, nhất quán so với bản thân mình Nó được thể hiện trong hệ giá trị của dân tộc, nó là
Trang 31cốt lõi của văn hoá”[80, tr 131] Đi sâu khai thác giá trị cốt lõi, đặc trưng của dân tộc, Tác giả Phạm Duy Đức quan niệm: “Bản sắc văn hoá là những dấu hiệu đặc trưng để phân biệt văn hoá của dân tộc này với dân tộc khác”, “là “gien” di truyền văn hoá của dân tộc, trong quá trình giao lưu và phát triển nếu để mất bộ
“gien” này dân tộc sẽ không còn tồn tại” [28, tr.145]
Ở một hướng tiếp cận khác, với quan điểm bám sát thực tiễn, nhà thơ Huy Cận cho rằng, BSVHDT gắn với nơi “chôn nhau, cắt rốn”, được ví như tấm “căn cước”, để tự phân biệt mình với dân tộc khác trong quá trình tồn tại và phát triển Tác giả quan niệm BSVHDT là “…cái hạt nhân của tinh thần sáng tạo của dân tộc, truyền từ đời này qua đời khác, …được làm giàu bằng những kinh nghiệm sống và sức sáng tạo của các thế hệ”, …”là chứng minh thư của dân tộc”, “nằm trong máu thịt, nhuyễn trong tâm hồn” [11, tr.158]
Như vậy, trong điều kiện bị áp bức, cùng với mưu đồ đồng hoá văn hoá một cách cưỡng bức, kẻ thù đã buộc dân tộc ta phải giao lưu tiếp xúc văn hoá ngoại lai Nhưng cũng chính trong quá trình đó, dân tộc ta không những không
bị đồng mà còn tiếp biến, bổ sung phát triển, làm giàu thêm BSVHDT Chính lịch sử đã chứng minh và cho thấy sự tài tình, sáng tạo trong giao lưu tiếp biến văn hoá của dân tộc, đảm bảo việc bảo tồn giá trị truyền thống, khơi dậy tiềm năng phát triển, củng cố và tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao tính ổn định và sức sống trường tồn cho dân tộc Có thể nói, đây là sắc thái riêng độc đáo, riêng có được xây đắp, hun đúc trong suốt lịch sử dân tộc BSVHDT có sức mạnh to lớn đảm bảo sự trường tồn, ổn định và phát triển bền vững của dân tộc Đồng thời, chính bản thân nó đòi hỏi, yêu cầu luôn phải được giữ gìn và phát huy trong mọi thời điểm lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu các cách tiếp cận trên đây, tác giả quan niệm: bản sắc văn hoá
dân tộc là tổng hoà những giá trị văn hoá bền vững phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn, tâm lý… của một dân tộc, được thường xuyên hun đúc, bổ
Trang 32sung và toả sáng trong lịch sử dân tộc, trở thành tài sản tinh thần đặc sắc tạo sức mạnh gắn kết cộng đồng và để phân biệt sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác trong cộng đồng nhân loại
Từ quan niệm như trên, nội hàm của BSVHDT bao gồm một số vấn đề cơ bản như sau:
Trước hết, BSVHDT là hệ thống các giá trị văn hoá đặc trưng tiêu biểu
phản ánh diện mạo, sắc thái, cốt cách, tâm hồn và bản lĩnh riêng của quốc gia dân tộc được hun đúc thành những gì tinh tuý nhất, đặc sắc nhất tạo nên sự gắn kết bền chặt, trở thành sức mạnh tinh thần to lớn đảm bảo cho dân tộc vượt qua khó khăn thử thách để tồn tại và phát triển không ngừng
Xét về cơ sở nguồn gốc, BSVHDT chính là sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với điều kiện tự nhiên xã hội và môi trường sống Điều kiện tự nhiên, môi trường sống qui định và sau đó đến xã hội quy định, quyết định đến bản chất và tính cách cũng như sự sáng tạo của con người, là nơi ghi đậm dấu ấn của con người trên đó Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất con người trong quan hệ với tự nhiên xã hội đã chứng minh tính thích nghi của con người với điều kiện tự nhiên, môi trường sống Theo đó, có thể khẳng định cơ sở gốc của bản sắc văn hoá dân tộc do chính điều kiện tự nhiên xã hội và môi trường sống qui định Trên thực
tế, mỗi dân tộc đều cư trú trên một địa bàn nhất định, đó là lẽ tự nhiên không dân tộc nào giống dân tộc nào Từ nhu cầu của cuộc sống, con người và cộng đồng một mặt phải khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm ra của cải vật chất nuôi sống mình, mặt khác lại phải đấu tranh với tự nhiên để tồn tại phát triển Cũng chính trong quá trình đó, con người sáng tạo ra các giá trị văn hoá, tích luỹ và xây dựng những truyền thống mang đậm dấu ấn của con người, của cuộc sống cộng đồng Từ khi sinh ra, lớn lên, tồn tại phát triển và kết thúc cuộc đời, con người luôn luôn gắn
bó với một điều kiện tự nhiên xã hội nhất định Các thế hệ người cứ kế tiếp nhau, nối tiếp những giá trị truyền thống mà các thế hệ trước để lại Cứ thế, hệ thống những giá trị và truyền thống của cộng đồng được tiếp thu, kế thừa hun đúc, được
Trang 33tiếp biến và lưu truyền trở thành bản sắc văn hoá cộng đồng người Nó có tác dụng
to lớn tạo nên sự gắn bó, cố kết cộng đồng, nhằm nhân sức mạnh lên gấp bội, giúp cho cộng đồng vượt qua khó khăn thử thách để tồn tại và không ngừng phát triển Khi bàn về mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên xã hội, môi trường sống với bản sắc văn hoá, tác giả Trường Lưu cho rằng: “Giữa cái đặc điểm lịch sử và tính chất dân tộc đều có quan hệ mật thiết đến tố chất tinh tuý của dân tộc”[54,
tr 125] Cái tố chất dân tộc được kết tinh từ đặc điểm và bản chất ấy chính là tâm lý dân tộc Như thế, để có thể hiểu về bản sắc dân tộc của văn hoá, trước hết phải tìm đến các yếu tố cơ bản nhất của con người, cái tạo nên cái tố chất tinh tuý của dân tộc Rõ ràng, điều kiện môi trường đã qui định những đặc trưng riêng có của con người, cũng như cộng đồng dân tộc, làm nên bản sắc dân tộc nhằm phân biệt với các dân tộc khác
Văn hoá có qui luật phát triển của nó, BSVHDT cũng không nằm ngoài qui luật đó, nó luôn gắn chặt với từng con người, với môi trường sống của con người và cộng đồng, nó là sự sáng tạo không ngừng, có sức mạnh to lớn, là yếu
tố cơ bản và quyết định nhất đảm bảo cho dân tộc vượt qua mọi khó khăn thử thách Vì thế, trong mọi giai đoạn phát triển của dân tộc phải luôn kế thừa, giữ vững và phát huy BSVHDT đó
Thứ hai, BSVHDT không phải là bất biến, mà nó là khái niệm “động” và
“mở”, luôn vận động và phát triển, thích nghi và đổi mới không ngừng, đảm bảo
sự phù hợp thời đại lịch sử Bản sắc dân tộc bao gồm những phẩm chất, tâm hồn, tình cảm, cốt cách của dân tộc, thể hiện ở thị hiếu, thẩm mỹ, lối sống, sức sáng tạo, ý chí quyết tâm của mỗi dân tộc đã được hình thành trong lịch sử tồn tại và phát triển, phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường sống Trên thực tế, BSVHDT không phải là một đối tượng có tính vật chất bình thường, mà mang đậm dấu ấn của con người và cộng đồng người Ở mỗi nước khác nhau đều có đất đai, núi rừng, sông ngòi, thiên nhiên khoáng sản…, những cái đó không bao giờ giống nhau, nhưng tự chúng không thể tạo thành của cải vật chất nuôi sống
Trang 34con người, mà phải thông qua hoạt động thực tiễn lao động sản xuất của con người, từ đó hình thành nền văn hoá với bản sắc riêng và tạo nên sự khác biệt giữa các quốc gia dân tộc Nói đến bản sắc dân tộc là nói đến con người, đến cộng đồng dân tộc Mỗi dân tộc tạo ra bản sắc dân tộc của mình, văn hoá của mình trên cơ sở những điều kiện, hoàn cảnh địa lý và lịch sử dân tộc, truyền thống dân tộc, nền kinh tế, chính trị và văn hoá của nước mình Bằng trí tuệ, tri thức và kinh nghiệm truyền thống của mình, con người tích cực lao động cải tạo môi trường tự nhiên, làm ra của cải vật chất nuôi sống bản thân, làm giàu cho xã hội và thông qua quá trình lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học và đấu tranh cách mạng mà làm giàu thêm bản sắc văn hoá cho dân tộc mình Điều này đã được lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin chứng minh bằng thực tiễn quá trình chuyển biến từ vượn thành người, sau đó trở thành chủ thể của tự nhiên, xã hội thông qua lao động sản xuất và đấu tranh sinh tồn C.Mác đã cho rằng lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, lao động đã sáng tạo ra bản thân con người
Trong BSVHDT đan xen cả những yếu tố cơ bản, cội nguồn và cả những yếu tố khả biến, ngày càng phát triển sinh động, đa dạng theo tiến trình lịch sử
Nó không chỉ là một trạng thái cố hữu, bất biến mà luôn vận động, bổ sung, sự
kế thừa, tiếp biến, đảm bảo không ngừng phát triển phù hợp với thời đại Sự vận động, phát triển của BSVHDT là tất yếu theo qui luật phát triển của lịch sử xã hội, của dân tộc và thời đại Tuy nhiên, điều quan trọng là nhận thức, quan niệm và hiểu như thế nào về sự vận động phát triển đó Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc cũng như giữ gìn BSVHDT trong xu thế HNQT hiện nay Chúng ta đều thấy, một mặt BSVHDT là nét riêng biệt, cụ thể để phân biệt nền văn hoá này với những nền văn hoá khác Nếu xét về nội hàm, nó là tổng hoà tất cả diện mạo, cốt cách, phẩm chất, bản lĩnh, các yếu tố này tạo nên sự ổn định, cố kết
và bền vững của một dân tộc Mặt khác cũng phải thấy, BSVHDT tuy không
Trang 35tách rời với đặc điểm lịch sử và tính chất dân tộc, nhưng cái phản ánh và biểu hiện ra là tâm lý dân tộc, mà tâm lý dân tộc lại luôn vận động theo những biến đổi của thời đại lịch sử, nên làm cho BSVHDT cũng vận động biến đổi Tuy nhiên, vấn đề cần lưu ý là tuy có những biến đổi nhưng vẫn gắn liền với tố chất tinh tuý của dân tộc được nâng cao theo trình độ thẩm
mỹ và dân trí Sự vận động biến đổi không phải là đổi màu, mà phải xoay quanh cái trục cốt lõi, tinh tuý của dân tộc, phải giữ bản sắc dân tộc, không
để đánh mất mình, không bị hoà nhập, hoà tan vào các nền văn hoá khác
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh dân tộc ta là một trong những quốc gia đã thành công trong việc tiếp biến nhiều giá trị văn hoá, nhưng BSVHDT vẫn được giữ gìn và có bước phát triển mới Xu thế HNQT hiện nay, đang tạo ra những cơ hội để các dân tộc phát triển, nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức trong giữ gìn BSVHDT Do đó, trong điều kiện HNQT cần phải khẳng định chỗ đứng
và đề cao vai trò vị trí của BSVHDT Việt Nam, muốn vậy phải thường xuyên quan tâm tổng kết thực tiễn, bảo vệ và phát triển nó Khi đó, bản sắc dân tộc sẽ
có sự điều chỉnh và hoàn thiện theo tố chất tinh tuý của dân tộc được nâng cao trong nền văn minh trí tuệ và trong bối cảnh một nền văn hoá tiên tiến giàu tính dân tộc, hiện đại và nhân văn Làm được như thế là thể hiện việc giữ vững và phát huy được BSVHDT trong HNQT Đây là điều kiện quan trọng để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mà Đảng ta đã đề ra
2.1.1.3 Đặc trưng của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kinh nghiệm các nước trong khu vực, cũng như trên thế giới để xác định đường lối đúng đắn phát triển văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hóa trong HNQT Đảng ta luôn nhận thức rõ vị trí vai trò của văn hoá, của BSVHDT đối với sự phát triển đất nước trong mọi giai đoạn cách mạng, thấy rõ những thách thức với BSVHDT trong quá trình HNQT, qua đó đề
ra chủ trương, biện pháp hữu hiệu nhằm giữ gìn, phát huy BSVHDT, góp phần
Trang 36quan trọng đảm bảo cho đất nước ổn định, phát triển bền vững, thực hiện đúng mục tiêu đã được xác định
Thực tiễn lịch sử các cuộc kháng chiến chống các thế lực xâm lược, nhất
là hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ở thế kỷ XX đã chứng minh bản lĩnh, ý chí Việt Nam, minh chứng cho tinh thần yêu nước sẵn sàng hy sinh vì độc lập, chủ quyền của dân tộc Bản lĩnh và ý chí ấy luôn được tiếp nối, được nhân lên, được tiếp thêm sức mạnh mỗi khi đất nước bị xâm lăng Lịch sử hào hùng ấy càng khẳng định sự kế tục xứng đáng truyền thống dân tộc được hội tụ trong các bản tuyên ngôn độc lập bất hủ của cha ông, khẳng định sự
tiếp nối sức mạnh dân tộc của chân lý: “Không có gì quí hơn độc lập tự do”
trong thời đại Hồ Chí Minh
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn có đường lối đúng đắn nhằm định hướng và phát triển văn hoá, chưa bao giờ hạ thấp vị trí, vai trò văn hoá với sự phát triển xã hội Bối cảnh đất nước hiện nay đòi hỏi Đảng ta phải có cách nhìn cụ thể và toàn diện hơn đảm bảo vừa tận dụng được thời cơ để phát triển đất nước một cách bền vững, đúng mục tiêu đã chọn, vừa giữ vững, phát huy BSVHDT, để không bị hoà tan, đánh mất bản sắc dân tộc khi mở rộng hội nhập quốc tế Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá VIII) đã
đề ra đường lối chiến lược với hệ thống những quan điểm, giải pháp cơ bản, toàn diện, đúng đắn, phù hợp nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong xu thế mở rộng HNQT
Quan niệm về bản sắc dân tộc Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) khẳng định:
Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản
Trang 37dị trong lối sống… Bản sắc văn hoá dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [22, tr 56]
Trong quan niệm trên đây của Đảng ta, khi nói đến bản sắc văn hoá là nói đến hệ giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp xây dựng nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Từ thời đại Hùng Vương, trải qua các triều đại phong kiến, đến thời đại Hồ Chí Minh là sự kế tục và phát triển bản lĩnh, ý chí Việt Nam lên tầm cao mới, thật sự xứng đáng là con Rồng, cháu Tiên Sức sống mãnh liệt đó là bản sắc văn hoá, là sức chiến đấu để tự bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh Truyền thuyết con Rồng cháu Tiên thời Hùng Vương, các bản tuyên ngôn của cha ông ta qua các triều đại phong kiến, tuyên ngôn độc lập thời đại Hồ Chí Minh là những minh chứng lịch sử hào hùng, phản ánh rõ nét nhất sự tiếp nối, phát triển đến đỉnh cao ý chí quật cường, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc của các cộng đồng dân tộc Việt Nam Lời dặn của Bác Hồ với các thế hệ Việt Nam: “Các vua Hùng đã
có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[28, tr 17], chính
là sự nhắc nhở các thế hệ Việt Nam phải luôn nhớ cội nguồn, phải biết giữ gìn và phát huy BSVHDT trong mọi giai đoạn lịch sử, chỉ có vậy mới đảm bảo cho dân
tộc luôn ổn định, trường tồn và phát triển không ngừng
Về nội dung, BSVHDT Việt Nam được biểu hiện cụ thể trên những đặc trưng cơ bản sau đây
Trước hết, đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc
Lòng yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết gắn bó cộng đồng là nội dung cốt lõi bao trùm nhất của BSVHDT Việt Nam Đây là nội dung, là hệ giá trị tiêu biểu, đặc sắc nhất, mang tính bền vững và định hướng các giá trị khác, cũng như chi phối toàn bộ quá trình phát triển của văn hoá Việt Nam Do điều kiện môi trường và vị trí địa lý tự nhiên qui định, trải qua sự biến thiên của lịch sử mấy ngàn năm đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại cũng như chiến đấu chống ngoại
Trang 38xâm để giữ bờ cõi, khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc đã hun đúc, tôi luyện tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng của dân tộc Việt Nam, mà hiếm thấy dân tộc nào trên thế giới có được Trong lịch sử tồn tại, có lẽ hiếm thấy dân tộc nào trên thế giới lại phải chiến đấu chống lại nhiều kẻ thù xâm lược như dân tộc Việt Nam, kể cả về thời gian, qui mô, tính chất, cũng như sự chênh lệch về lực lượng và phương tiện, tiềm lực và sức mạnh quân sự
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, để bảo vệ và giữ vững chủ quyền dân tộc, giành lấy tự do độc lập, cộng đồng các dân tộc Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là phải cố kết vững chắc trong mối tương quan bền chặt giữa cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc Vì lợi ích quốc gia dân tộc, mọi thành viên sẵn sàng gạt bỏ thù riêng, siết chặt tay nhau, thống nhất, đoàn kết cao, triệu người như một, chung sức, chung lòng chiến đấu, chống kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc Chính trong điều kiện chống xâm lược ấy, đã làm cho tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, lòng tự tôn tự hào dân tộc được phát triển thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng; đồng thời thường xuyên được bồi đắp trở thành bản lĩnh, ý chí, tôi luyện thành tinh hoa của bản sắc dân tộc, gắn kết và quện chặt thành sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Tinh thần và ý chí ấy đã luôn được hun đúc, thử thách, dần chuyển hoá thành niềm tin, tình cảm, thành lối sống, lẽ sống, như ý thức thường trực, như hành động tự nhiên vốn có trong mọi thành viên cũng như cả cộng đồng tạo nên sức mạnh vô địch không gì ngăn cản nổi Đó là chân lý đã được khẳng định và kiểm nghiệm trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, trở thành tài sản tinh thần vô giá, nguồn vốn quí báu của dân tộc Việt Nam, mà ít dân tộc có được ở mọi giai đoạn lịch sử phải được nhân lên, được phát huy cao độ nếu muốn dân tộc ổn định, phồn vinh và phát triển bền vững Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khái quát:
“Dân tộc ta vốn có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quí báu của
ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì truyền thống ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi hiểm nguy, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [63, tr 171]
Trang 39Nền tảng và biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước là tinh thần tự tôn, tự lập tự cường, cơ sở cho lòng trung thành và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc Vì chỉ có trên tinh thần tự tôn dân tộc chúng ta mới có ý chí quyết chiến, quyết thắng, phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Lịch sử thường diễn ra với những bước quanh co và mỗi dân tộc
dù lớn hay nhỏ, trình độ phát triển có khác nhau, đều có lòng tự tôn dân tộc, tự khẳng định mình trước cộng đồng nhân loại Tuy nhiên, với người Việt thì tinh thần độc lập, tự tôn tự cường có những nét đặc sắc riêng, không hề lẫn với ai Điều đó được thể hiện và chứng minh rất rõ trong lịch sử dân tộc, từ tên nước, đến tinh thần, khí phách của các tướng lĩnh, các bậc anh hùng thể hiện trước kẻ thù trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các triều đại Chính nhờ nền tảng vững chắc và sức mạnh to lớn ấy nên mặc dù phải chịu nhiều cuộc đô hộ cùng âm mưu đồng hoá, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy được bản sắc dân tộc của mình, làm cho dân tộc ta không những không bị đồng hoá mà còn quật cường đứng dậy giành lại độc lập chủ quyền dân tộc Tinh thần độc lập và quật cường ấy càng được hun đúc và thử thách khi đối mặt với kẻ thù và nó được khẳng định như là một chân lý của dân tộc trong suốt trường kỳ lịch sử dân tộc Đúng như Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Lòng yêu nước, yêu quê hương trên nền tảng tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch
sử Việt Nam” [32, tr 114]
Lòng yêu nước, thương nòi, ý thức tự tôn, tự cường dân tộc là cơ sở của tinh thần đoàn kết, ý thức gắn bó cộng đồng, một trong những yếu tố quyết định tạo sức mạnh cho dân tộc chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược Điều này đã được thực tế lịch sử chứng minh và được Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tổng kết lịch sử giữ nước của dân tộc đã khẳng định: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào dân
ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân
ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [63, tr 219] Như vậy, tinh thần yêu nước và đoàn kết là hai yếu tố chủ yếu quyết định thắng lợi trong các cuộc chiến tranh giữ nước, là nội dung chủ đạo, bao trùm xuyên suốt BSVHDT Việt
Trang 40Nam Nội dung cơ bản đó cần được nhận thức, được thể hiện, đảm bảo giữ gìn
và phát huy trong mọi giai đoạn và thời điểm lịch sử Hiện nay, tinh thần trên được thể hiện ở quyết tâm của toàn dân tộc đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu sánh vai cùng các nước trong khu vực và quốc tế
Thứ hai, là lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động Đây cũng là một trong những nội dung
cốt lõi của BSVHDT Việt Nam, một di sản giá trị văn hoá tinh thần phong phú, thể hiện tâm hồn và cốt cách của con người Việt Nam qua lối sống, lối ứng xử giữa con người với con người Nội dung giá trị này chi phối qui định cách ứng xử nhân văn giữa cá nhân, cộng đồng, kể cả trong và ngoài nước
Về cơ sở, nếu xét rộng theo trung tâm văn hoá khi so với phương Tây, thì tính nhân ái trong nội dung này thuộc văn hoá phương Đông, chủ yếu ứng
xử theo lối trọng tình nghĩa, không như cách ứng xử trọng lý của phương Tây Việt Nam là nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, do ảnh hưởng và chi phối của kinh tế sản xuất nông nghiệp lúa nước, của tín ngưỡng tôn giáo, của hoàn cảnh lịch sử đấu tranh chống thiên nhiên để sinh tồn và chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập chủ quyền Những cơ sở đó tạo nên đặc tính riêng, giá trị đặc trưng của bản sắc dân tộc Việt Nam là tình thương với giá trị nhân văn cao cả thể hiện trong lối sống, trong cách ứng xử hết sức giản
dị, nhưng rất tinh tế, đầy tình người
Cần cù, sáng tạo trong lao động là đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam, một trong những nội dung giá trị truyền thống của BSVHDT Việt Nam
Do điều kiện môi trường thiên nhiên khắc nghiệt đã buộc con người Việt Nam phải dùng tất cả sức lực, trí lực, cần mẫn, chịu khó “thức khuya dậy sớm”, “một nắng hai sương”, “năm liệu bảy lo”, tích cực hăng hái lao động sản xuất làm ra nhiều lúa gạo, của cải vật chất, duy trì sự sống, đảm bảo sự tồn tại phát triển của bản thân cũng như cộng đồng Từ đó, đức tính cần cù sáng tạo được hình thành phát triển và trở thành giá trị cơ bản, cốt lõi trong bản sắc văn hoá dân tộc