Mục đích của môn học là cung cấp một cáchrõ ràng và chi tiết phương pháp phát triển sản phẩm có sự phối hợp đồng thời các công việc tiếp thị, thiết kế và hoạt động chế tạo trong công ty
Trang 7Sự thành công về kinh tế của các công ty sản xuất phụ thuộc:
- Mức độ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.
- Khả năng nhanh chóng phát triển các sản phẩm thích hợp.
và chuyển giao sản phẩm.
Trang 8Mục đích của môn học là cung cấp một cách
rõ ràng và chi tiết phương pháp phát triển sản phẩm có sự phối hợp đồng thời các công việc tiếp thị, thiết kế và hoạt động chế tạo trong công
ty và một vài khía cạnh ứng dụng trong công nghiệp của phương pháp phát triển sản phẩm.
Trang 9I Các tiêu chuẩn đánh giá sự thành công của quá trình phát triển Sản phẩm:
1 Chất lượng sản phẩm (product quality):
- Sản phẩm của quá trình phát triển tốt như thế nào?
- Nó có thoả mãn những yêu cầu của khách hàng hay không?
- Sản phẩm có ổn định và tin cậy không?
Chất lượng của sản phẩm được đánh giá
thông qua sự phản hồi từ thị trường và giá
cả mà khách hàng chấp nhận trả cho sản
phẩm đó
Trang 102 Chi phí cho sản phẩm (product cost):
I Các tiêu chuẩn đánh giá sự thành công của quá trình phát triển Sản phẩm:
- Vốn đầu tư cho thiết bị và công cụ
- Chi phí chế tạo từng sản phẩm.
- Chi phí gián tiếp
Chi phí chế tạo sản phẩm quyết định lợi nhuận của công ty đối với số lượng sản phẩm
và giá bán cụ thể.
Trang 11I Các tiêu chuẩn đánh giá sự thành công của quá trình phát triển Sản phẩm:
3 Thời gian phát triển sản phẩm (Development time):
Nhóm làm việc sẽ hoàn thành phát triển một sản phẩm trong khoảng thời gian bao lâu?
Thời gian cần thiết để phát triển sản phẩm
sẽ xác định khả năng đáp ứng của công ty dưới
áp lực của sự cạnh tranh và phát triển của khoa học, công nghệ, đồng thời công ty cũng
sẽ càng nhanh chóng thu hồi được vốn và lợi nhuận nếu thời gian phát triển sản phẩm của nhóm làm việc càng ngắn.
Trang 12I Các tiêu chuẩn đánh giá sự thành công của quá trình phát triển Sản phẩm:
4 Chi phí cần thiết để phát triển sản phẩm (Development cost):
Để phát triển một sản phẩm, công ty cần phải tiêu tốn một khoảng tài chính là bao nhiêu? Chi phí phát triển sản phẩm là một phần quan trọng trong toàn bộ vốn đầu tư để
có thể thu được lợi nhuận từ sản phẩm.
Trang 13I Các tiêu chuẩn đánh giá sự thành công của quá trình phát triển Sản phẩm:
5 Năng lực phát triển sản phẩm (Development capability):
Công ty và nhóm phụ trách phát triển sản phẩm có khả năng phát triển các sản phẩm khác trong tương lai nhờ vào các kiến thức và kinh nghiệm của họ thu thập được trong quá trình phát triển sản phẩm này hay không?
Năng lực phát triển sản phẩm là tài sản mà công ty có thể sử dụng để phát triển sản phẩm một cách hiệu quả hơn và kinh tế hơn trong tương lai.
Trang 14Song song với đó, các tiêu chuẩn khác cũng rất quan trọng, những tiêu chuẩn này xuất phát
từ sự mong muốn của người sử dụng, những cá nhân trong nhóm phát triển, những người làm các công tác khác và môi trường trong đó sản phẩm được chế tạo.
Tuy nhiên, phương hướng và mục tiêu trong quá trình phát triển sản phẩm của các nhóm phụ trách phải chịu sự ràng buộc của những cá nhân và cả của các tổ chức có liên quan Nhóm phát triển sản phẩm phải quan tâm đến việc tạo ra sản phẩm hoàn thiện
Trang 15II Ai tham gia vào quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm?
Phát triển sản phẩm là một hoạt động phối hợp đòi hỏi sự đóng góp của hầu hết các bộ phận chức năng trong công ty Tuy nhiên, có
ba bộ phận chức năng luôn là nòng cốt trong hoạt động phát triển sản phẩm, đó là:
- Tiếp thị
- Thiết kế
- Chế tạo
Trang 16a) Tiếp thị:
Bộ phận tiếp thị là môi trường trao đổi qua lại giữa công ty và khách hàng Tiếp thị thị trường sẽ nhận biết được thời cơ phát triển sản phẩm, đối tượng khách hàng và nhu cầu của khách hàng Tiếp thị cũng là cầu thông tin giữa công ty và khách hàng của mình, nó xác định giá thành mục tiêu và thời điểm khởi động và đẩy mạnh tiến trình phát triển sản phẩm
II Ai tham gia vào quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm?
Trang 17kế sẽ bao gồm các chức năng sau: thiết kế
kỹ thuật (cơ khí, điện, phần mềm…) và thiết
kế công nghiệp (mỹ thuật, nhân lực, tâm lý khách hàng).
Trang 18II Ai tham gia vào quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm?
3 Chế tạo:
Bộ phận chế tạo thường chịu trách nhiệm thiết kế và vận hành hệ thống sản xuất để có thể chế tạo ra sản phẩm, nó bao gồm cả việc mua vật tư, thiết bị, phân phối và lắp đặt sản phẩm Tập hợp các hoạt động này thường được gọi là dây chuyền sản xuất.
Đảm bảo kiến thức nhất định về các lĩnh vực : nghiên cứu thị trường, kỹ thuật cơ khí,
kỹ thuật điện, khoa học vật liệu, kỹ thuật chế tạo.
Trang 19II Ai tham gia vào quá trình thiết kế và phát triển sản phẩm?
Một vài sản phẩm được phát triển bởi các cá nhân riêng lẻ, còn lại phần lớn là có sự góp sức của nhiều cá nhân Nhóm làm việc này thường
có người đứng đầu đến từ bất kỳ bộ phận chức năng nào trong công ty Đôi khi, cấu trúc nhóm
có thể bao gồm các thành viên nòng cốt và có thành phần mở rộng.
Để làm việc có hiệu quả, nhóm nòng cốt thường nhỏ để có thể làm việc đủ trong phòng họp; trong khi đó, thành phần mở rộng có thể bao gồm hàng chục, hàng trăm, hay hàng ngàn thành viên (mặc dù giới hạn đội không phù hợp với số lượng hàng ngàn người).
Trang 20III) Thời gian và chi phí phát triển sản phẩm:
Thực tế cho thấy rất ít sản phẩm có thế phát triển trong khoảng thời gian dưới 1 năm, phần lớn sản phầm cần từ 3-5 năm, và một số khác
có thể kéo dài đến 10 năm.
Chi phí phát triển sản phẩm tỉ lệ thuận với số người trong nhóm dự án và thời gian thực hiện
dự án phát triển.
Bên cạnh đó, hầu hết các công ty phải có ít nhiều đầu tư vào dụng cụ và trang thiết bị cần thiết cho quá trình phát triển sản phẩm Khoản chi phí này càng lớn nếu phần còn lại của ngân sách dành cho phát triển sản phẩm càng lớn, có thể xem nó là một phần của chi phí cố định.
Trang 21IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
1 Tối ưu thiết kế:
Ví dụ, một máy bay có thể được chế tạo nhẹ hơn nhiều, nhưng điều này sẽ làm gia tăng chi phí chế tạo Một trong những đòi hỏi của quá trình phát triển sản phẩm là khả năng nhận biết, hiểu và kiểm soát được trạng thái cân bằng của các yếu tố theo hướng có được sự thành công lớn nhất của sản phẩm.
Trang 22IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
2 Tính linh hoạt trong thiết kế :
Sự phát triển của công nghệ, nhận thức của khách hàng, sản phẩm mới của các đối thủ cạnh tranh và những thay đổi của hoàn cảnh kinh tế vĩ mô Phải đưa ra được những quyết định chính xác trong những hoàn cảnh luôn có sự biến động trên là một nhiệm vụ rất khó khăn.
Trang 23IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
3 Khả năng phân tích chi tiết:
Việc phát triển một sản phẩm hiện đại và phức tạp có thể phải cần đến hàng ngàn quyết định Mỗi quyết định đều có thể gây ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của sản phẩm đang phát triển Ví dụ, sự lựa chọn giữa hai phương án ghép bằng vít hay chốt cài để ráp vỏ máy tính có thể dẫn đến
sự khác biệt về giá trị đầu tư hàng triệu dollar
Trang 24IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
4 Áp lực về thời gian:
Các vấn đề khó khăn đều có thể giải quyết được nếu có nhiều thời gian, thế nhưng các quyết định được đưa ra trong quá trình phát triển sản phẩm lại phải thực hiện một cách nhanh chóng trong điều kiện không có đủ thông tin Nếu không nhanh chóng phát triển thì thiệt hại sẽ rất lớn cả về cả về uy tín lẫn kỹ thuật, kinh tế …
Trang 25IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
5 Tính kinh tế:
Để phát triển, chế tạo và tiếp thị một sản phẩm mới cần một khoảng đầu tư tài chính khá lớn Do đó, để thu được lợi nhuận ở mức chấp nhận được trên khoản đầu tư này thì sản phẩm sau cùng phải vừa lôi cuốn được khách hành và chi phí chế tạo cũng tương đối thấp Điều này đòi hỏi cần phải có sự tính toán, cân đối hợp lý và chính xác.
Trang 26IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
6 Tính sáng tạo:
Quá trình phát triển sản phẩm được bắt đầu từ ý tưởng và kết thúc bằng một sản phẩm cụ thể Khi xem xét một cách toàn diện
và ở các khía cạnh khác nhau thì quá trình phát triển sản phẩm là một quá trình sáng tạo rất công phu Quá trình này sẽ góp phần tạo cho sản phẩm có tính mới, đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, mà nhu cầu thì luôn luôn thay đổi theo thời gian.
Trang 27IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
7 Khả năng đáp ứng các yêu cầu của xã hội và
cá nhân:
Tất cả các sản phẩm chế tạo ra đều nhằm mục đích là làm thoả mãn những nhu cầu nào đó của một nhóm người, hay một đối tượng cụ thể Còn đối với các cá nhân quan tâm tới việc phát triển sản phẩm mới, họ luôn có thể tìm được môi trường thích hợp
để họ có thể phát triển sản phẩm đáp ứng những nhu cầu mà họ cho là quan trọng.
Trang 28Manufacturing Engineer
TEAM LEADER
Mechanical Déigner
Electronics Designes
Finance Sales
legal
Extended Team
(Including Suppliners)
Core Team
Trang 29IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
8 Tính đa dạng của nhóm:
Để phát triển thành công một sản phẩm nào đó, đòi hỏi trong nhóm phát triển sản phẩm phải có nhiều nhân tài và chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau Do đó, các nhóm phát triển sản phẩm thường bao gồm những người có linh vực chuyên môn, kinh nghiệm, tầm nhìn xa và cá tính khác nhau.
Trang 30IV) Những thách thức của quá trình phát triển sản phẩm:
Các bộ phận chức năng chính là tiếp thị, thiết kế và chế tạo, các thành viên trong nhóm được coi là có năng lực tốt trong một hoặc nhiều lĩnh vực khác nhau như: kỹ thuật cơ khí, điện thiết kế công nghiệp, nghiên cứu thị thường hay kỹ thuật chế tạo.
Trang 31V) Cách tiếp cận công việc :
1) Các phương pháp cấu trúc hóa:
Các phương pháp sử dụng ở đây có dạng cấu trúc hóa, nghĩa là quá trình được phân chia thành các bước và thường xuyên cung cấp các mẫu của hệ thống xử lý thông tin chính yếu nhóm dự án sử dụng Các phương pháp cấu trúc hóa là rất có ích vì 3 lý do sau:
Thứ nhất: Chúng làm cho quá trình ra quyết định rõ ràng, cho phép mọi thành viên trong nhóm hiểu được lý do cơ bản của việc ra quyết định và giảm bớt những khả năng thay đổi dẫn đến những quyết định không được ủng hộ.
Trang 32Thứ hai: Bằng phương pháp sử dụng bảng liệt
kê công việc cần kiểm tra trong các bước quan trọng của quá trình phát triển sản phẩm, bảo đảm rằng các vấn đề quan trọng không bị bỏ sót.
V) Cách tiếp cận công việc :
1) Các phương pháp cấu trúc hóa:
Thứ ba: Các phương pháp cấu trúc hóa tự bản thân là các tư liệu; trong quá trình thực hành phương pháp cấu trúc hóa, nhóm dự án tạo ra
hệ thống hồ sơ dữ liệu của quá trình ra quyết định để tham khảo và đào tạo những người mới đến.
Trang 332) Bố cục của các chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Quá trình phát triển sản phẩm và cơ cấu tổ chức
Chương 3: Lập kế hoạch phát triển sản phẩm
Chương 4: Xác định nhu cầu khách hàng
Chương 5: Xác định yêu cầu kỹ thuật
Chương 6: Đưa ra ý tưởng thiết kế và phát triển sản phẩm
Chương 7: Đánh giá và lựa chọn ý tưởng
Chương 8: Thử nghiệm ý tưởng
Trang 342) Bố cục của các chương:
Chương 9: Thiết kế hệ thống cho sản phẩm
Chương 10: Thiết kế công nghiệp
Chương 11: Thiết kế để chế tạo
Chương 12: Xây dựng mô hình cho sản phẩm Chương 13: Tính kinh tế của quá trình thiết kế Chương 14: Phương pháp quản lý dự án của quá trình PT SP
Trang 36I Dạng tổng quát của qúa trình phát triển :
Quá trình phát triển sản phẩm là một chuỗi các bước hoặc các hoạt động mà nhóm sử dụng để nhận biết, thiết kế và thương mại hóa sản phẩm
Những lợi ích khi có quy trình:
a) Bảo đảm chất lượng :
Quy trình phát triển định rõ những giai đoạn mà một dự án phát triển sản phẩm sẽ trải qua và có kiểm soát trong suốt quá trình Khi các giai đoạn và thời điểm kiểm tra được xác định hợp lý và kịp thời thì quá trình phát triển sản phẩm sẽ luôn bảo đảm được chất lượng của sản phẩm sau cùng.
Trang 37I Dạng tổng quát của qúa trình phát triển :
b) Có sự phối hợp hành động:
Một quy trình phát triển được xác định rõ ràng và hợp lý có tác dụng như một sơ đồ tổng thể, nó sẽ xác định rõ được vai trò của từng cá nhân trong nhóm phát triển dự án Nó cũng sẽ cho biết khi nào thì sự tham gia của họ là cần thiết và họ cần phải trao đổi với ai về thông tin hay hồ sơ dự án.
c) Có kế hoạch :
Quy trình phát triển sản phẩm bao gồm các mốc thời gian tương ứng với thời điểm kết thúc của mỗi giai đoạn Những ràng buộc về mốc thời gian này sẽ bảo đảm tiến độ của dự án.
Trang 38I Dạng tổng quát của qúa trình phát triển :
d) Có sự quản lý:
Quy trình phát triển là một chuẩn mực để đánh giá thực trạng của một quá trình phát triển Căn cứ vào kết quả đối chiếu các sự kiện thực tế với quy trình thiết lập người phụ trách dự án có thể xác định những công đoạn có khả năng có những vấn đề xãy ra.
e) Có điều kiện hoàn thiện sản phẩm:
Hệ thống lưu giữ tư liệu của quá trình phát triển sản phẩm kỹ càng sẽ giúp nhận biết cơ hội để hoàn thiện sản phẩm Một quy trình phát triển sản phẩm chung bao gồm 6 giai đoạn, được bắt đầu bằng công việc lập kế hoạch, công việc có liên hệ mật thiết với các hoạt động nghiên cứu của khoa học và công nghệ.
Trang 39Kết quả của giai đoạn lập kế hoạch là các nhiệm vụ
cụ thể của dự án, kết quả này sẽ là thông tin đầu vào của giai đoạn phát triển ý tưởng thiết kế và là các hướng dẫn cho nhóm dự án Giai đoạn cuối của quá trình phát triển sản phẩm kết thúc bằng sản phẩm sau cùng tại thời điểm mà nó được đưa ra thị trường.
Một cách hiểu về quy trình phát triển sản phẩm, đầu tiên là đưa ra một tập hợp rộng rãi các ý tưởng ban đầu, sau đó từng bước thu nhỏ dần tập hợp các ý tưởng này lại đồng thời với sự gia tăng các thông số kỹ thuật cụ thể của sản phẩm cho đến khi sản phẩm trở nên tin cậy, có thể chế tạo ổn định trên dây chuyền sản xuất.
Sáu giai đoạn của quá trình phát triển:
Trang 401 Lập kế hoạch:
Giai đoạn này được bắt đầu từ chiến lược tổng thể của công ty có bao gồm các đánh giá về sự tiến bộ của khoa học công nghệ và yêu cầu của thị trường Đầu ra của giai đoạn lập kế hoạch là bản kê các yêu cầu của
dự án chỉ rõ thị trường mục tiêu cho sản phẩm, những mục đích kinh doanh, những hạn chế và các ràng buộc
có thế có.
2 Phát triển ý tưởng :
Một ý tưởng về sản phẩm là một sự mô tả cụ thể về hình dạng, chức năng và đặc tính của sản phẩm và thường đi kèm với một tập hợp các chỉ tiêu kỹ thuật, phân tích các sản phẩm cạnh tranh và các đánh giá về tính kinh tế của dự án.
Trang 413 Thiết kế hệ thống:
Giai đoạn thiết kế hệ thống bao gồm việc xác định cấu trúc của sản phẩm và phân tích sản phẩm thành các bộ phận và các chi tiết thành phần Sơ đồ lắp ráp cuối cùng phục vụ dây chuyền sản xuất thường được xác định trong giai đoạn này Đầu ra của quá trình này thông thường bao gồm sơ đồ hình học của sản phẩm, các yêu cầu kỹ thuật về chức năng cho mỗi bộ phận của sản phẩm, và một sơ đồ thứ tự sơ bộ của quá trình lắp ráp sản phẩm sau cùng.