Còn theo Từ điển Luật học năm 2006, khái niệm tranh tụng được hiểu như sau: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
TRẦN LỆNH HÀ
BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
- -
TRẦN LỆNH HÀ
BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà
HÀ NỘI, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Lời đầu tiên của Luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô đang công tác và giảng dạy tại trường Đại học Luật Hà Nội nói chung và các thầy cô công tác tại Khoa Đào tạo sau Đại học và Khoa Pháp luật Dân sự nói riêng đã quan tâm, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hà - Giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự, đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Mặc dù nhận được nhiều sự giúp đỡ về chuyên môn, song Tôi - với tư cách
là tác giả của Luận văn này, cam đoan danh dự và hoàn toàn chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung của Luận văn./
Lạng Sơn, tháng 8 năm 2018
Học viên
Trần Lệnh Hà
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM 6
1.1 Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự 6
1.2 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự 13
1.2.1 Các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự 13
1.2.2 Trách nhiệm của Tòa án khi giải quyết vụ án dân sự 13
1.2.3 Cơ chế kiểm sát, giám sát hoạt động tranh tụng 15
1.2.4 Sự hiểu biết pháp luật của đương sự về tranh tụng trong tố tụng dân sự 16
1.2.5 Sự hỗ trợ đương sự thực hiện quyền tranh tụng từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức 16
1.3 Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự 17
1.3.1 Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong thủ tục sơ thẩm 18
1.3.2 Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong thủ tục phúc thẩm 34
1.3.3 Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 41
1.3.4 Trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 47
Trang 6CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG
SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 48 2.1 Thực tiễn bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn 48
2.1.1 Những kết quả đạt được 49 2.1.2 Những hạn chế, bất cập còn tồn tại 54 2.1.3 Nguyên nhân của một số hạn chế, tồn tại trong việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự 61
2.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự 65
2.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự 65 2.2.2 Một số kiến nghị khác nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72 KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước, bộ máy cơ quan tiến hành tố tụng
và pháp luật về tố tụng để góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang hướng tới Công cuộc cải cách tư pháp nói chung mà trọng tậm là đổi mới hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng do Đảng ta khởi xướng đã đạt được những thành tựu nhất định, góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển kinh tế - xã hội đất nước Nhìn chung, trong thời gian qua, ngành Tòa án nhân dân (TAND) luôn hoàn thành nhiệm vụ trọng tâm là xét xử, giải quyết các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, qua đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Hiện nay, công cuộc Đổi mới đất nước đang được đẩy mạnh hơn và đi vào chiều sâu Bên cạnh những thành tựu nhất định, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động đến xã hội làm gia tăng tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về kinh tế Mặt khác, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, đặc biệt là các tranh chấp về đất đai, nhà ở, thừa kế, hay tranh chấp về tài sản trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng ngày một gia tăng đã và đang đặt
ra nhiều thách thức cho TAND với tư cách là cơ quan xét xử, cơ quan bảo vệ pháp luật Số vụ việc dân sự mà Tòa án thụ lý, giải quyết ngày càng nhiều, chứng tỏ người dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào hoạt động tố tụng dân sự (TTDS) tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do đó, trách nhiệm của Tòa
án là phải bảo đảm thực hiện tốt hơn việc xét xử, đồng thời bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia vào hoạt động giải quyết vụ án dân sự (VADS) Thể chế hóa chủ trương của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật
Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã lần đầu tiên khẳng định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm Vậy, tranh tụng và bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS là gì? Bản chất, đặc điểm, ý nghĩa của bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong điều kiện cải cách tư pháp được thể hiện ra sao? Thực tiễn bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS diễn ra ở các địa phương như thế nào? Hiện nay, vấn đề xây dựng, thực thi và hoàn thiện pháp luật TTDS nhằm
Trang 8bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự đang thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều nhà khoa học pháp lý cũng như những nhà hoạt động pháp luật thực tiễn Nghiên cứu một số vấn đề mang tính lý luận, pháp luật thực định và thực tiễn về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Việt Nam sẽ góp phần mở ra một bước đi mới trong việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật TTDS ở nước ta, nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các VADS, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các bản án, quyết định dân sự bị hủy, sửa do vi phạm thủ tục tố tụng, trong đó có các vi phạm về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự Vì vậy, tác giả chọn đề tài:
“Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
và thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn” làm luận văn
thạc sỹ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, tranh tụng không phải là vấn đề mới nhưng vẫn giữ nguyên được tính thời sự Ngay từ trước và sau khi có BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã có một số công trình khoa học pháp lý nghiên cứu về vấn đề này như:
- Kỷ yếu hội thảo của Nhà pháp luật Việt – Pháp ngày 18/01/2002 về “Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm và quản lý Thẩm phán”;
- Luận văn thạc sỹ luật học “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà bảo vệ tại Trường Đại học Luật
- Đề tài cấp cơ sở “Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cầu cải cách
tư pháp” do Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện năm 2011;
- Bài viết “Nguyên tắc tranh tụng trong TTDS” của tác giả Mai Bộ đăng trên
Trang 9trang Web của TAND tối cao năm 2014 v.v…
Sau khi BLTTDS năm 2015 được ban hành với rất nhiều điểm mới, tiến bộ,
đã có một số công trình nghiên cứu đến vấn đề tranh tụng như:
- Luận văn thạc sỹ luật học của Đoàn Thị Xuân Sơn về “Bảo đảm tranh tụng trong TTDS Việt Nam” năm 2015;
- Luận văn thạc sỹ luật học của Trịnh Văn Chung về “Nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam” năm 2016;
- Luận văn thạc sỹ luật học của Phạm Thị Ánh Ngọc về “Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong TTDS Việt Nam” năm 2016;
- Luận văn thạc sỹ luật học của Nguyễn Thị Thu Hương về “Tranh tụng
trong TTDS - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2016…
Tranh tụng và bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Việt Nam là vấn đề rộng, có nhiều cách tiếp cận khác nhau Do mục đích và phạm vi nghiên cứu của các tác giả là khác nhau nên chưa có một công trình nghiên cứu nào đầy đủ và có hệ thống nhất về vấn đề này cũng như chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá thực tiễn tranh tụng tại Tòa án cụ thể
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề
lý luận về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Việt Nam, nội dung các quy định của pháp luật TTDS về vấn đề này Trên cơ sở phân tích thực tiễn, phát hiện những bất cập, vướng mắc về lập pháp và tổ chức thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Từ đó, đưa ra những kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS theo tinh thần cải cách tư pháp
- Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS; các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS; thực tiễn thực hiện việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây
Trang 10- Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS là vấn đề lớn được hiểu dưới nhiều góc độ và có nhiều nội dung khác nhau Vì vậy, trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Thứ nhất, luận văn tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm bảo đảm quyền
tranh tụng của đương sự trong TTDS, các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS và sự thể hiện việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự qua các quy định của BLTTDS năm 2015;
Thứ hai, luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu bảo đảm quyền tranh tụng
của đương sự trong quá trình giải quyết VADS tại Tòa án ở các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm Còn bảo đảm quyền tranh tụng của đương
sự trong quá trình giải quyết VADS theo thủ tục rút gọn và thủ tục giải quyết việc dân sự sẽ được nghiên cứu ở công trình tiếp theo
Thứ ba, luận văn tập trung nghiên cứu về bảo đảm pháp lý và việc tổ chức
thực hiện việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS, tập trung phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Từ đó, đề xuất một số kiến nghị giải pháp về lập pháp và tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS tại TAND huyện Lộc Bình
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Dưới góc độ phương pháp chung, đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
Với phương pháp nghiên cứu chung như trên, các phương pháp nghiên cứu
cụ thể được sử dụng trong luận văn là: liệt kê, so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng hợp
5 Đóng góp của Luận văn
Đây là công trình nghiên cứu về tranh tụng trong TTDS Việt Nam dưới góc
độ tiếp cận là một quyền của đương sự và cơ chế bảo đảm quyền, nên có những
Trang 11đóng góp mới như sau:
Một là, góp phần bổ sung, làm rõ và hoàn chỉnh nhận thức chung về khái
niệm, đặc điểm bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Việt Nam cũng như các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS
Hai là, phân tích các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng
của đương sự trong TTDS, chỉ ra những hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó Từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn và một số kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự
Nhìn về lịch sử, thuật ngữ “tranh tụng” đã được biết đến từ lâu trên thế giới, gắn với sự xuất hiện của Tòa án Các nhà nghiên cứu lịch sử pháp luật đều thống nhất loại hình tố tụng đầu tiên xuất hiện trong lịch sử của các hình thái xã hội là tố tụng tranh tụng Loại tố tụng này được áp dụng đầu tiên tại Châu Âu, mà cụ thể là tại Hy Lạp cổ đại, sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”1 Từ đó đến nay, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ, trở thành loại hình tố tụng phổ biến nhất bên cạnh loại hình tố tụng thẩm vấn và mô hình hỗn hợp Có thể nói, tranh tụng là kết tinh của nền tư pháp dân chủ
Ở Việt Nam, “tranh tụng” được xuất hiện lần đầu tiên tại Nghị quyết số NQ/TW ngày 02/01/2001 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
08-tư pháp trong thời gian tới Theo đó, Nghị quyết này đã đề cập đến thuật ngữ “tranh tụng” qua việc xác định định hướng mới trong hoạt động của các cơ quan tư pháp là
“…Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định”2
Trên cơ sở kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết trên, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,
1
Xem: Nhà pháp luật Việt - Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng Kinh
nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà Nội, tr 2
2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 08 - NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Trang 13khẳng định: “…Bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 một lần nữa nhấn mạnh: “…Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp Hoàn thiện cơ chế bảo đảm
để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ
năm 2013 đã lần đầu tiên quy định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm5
Sau đó, BLTTDS năm 2015 với tư cách là văn bản luật có nhiệm vụ cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về TTDS đã khẳng định bảo đảm tranh tụng trong xét xử là một nguyên tắc của TTDS6
Tuy vậy, không một văn bản quy phạm pháp luật hay văn kiện của Đảng đưa
ra định nghĩa cụ thể về khái niệm “tranh tụng” Về mặt ngôn ngữ, theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”; theo Hán - Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”7 Còn theo Từ điển
Luật học năm 2006, khái niệm tranh tụng được hiểu như sau: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của
độ ngôn ngữ học, có thể hiểu tranh tụng chính là quá trình kiện tụng bao gồm quá trình khởi kiện và giải quyết vụ kiện, theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Còn theo cách giải nghĩa của từ điển Hán Việt, tranh tụng dường như đồng
nhất với tranh luận Tuy nhiên, tranh tụng và tranh luận là hai khái niệm khác nhau
Tranh tụng là một quá trình liên tục từ khi khởi kiện VADS cho đến khi có phán
3 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 24/5/2005 về Chiến lược
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/6/2005 của Bộ chính
trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
5
Xem khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013
6 Xem Điều 24 BLTTDS năm 2015
7 Thiều Chửu (1993), Hán- Việt tự điển, Nxb TP.HCM, tr 621
8 Viện Khoa học pháp lý - Bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 807, 808
Trang 14quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án đó, còn tranh luận chỉ là một phần của phiên toà dân sự, nó là sự biểu hiện tập trung nhất của tranh tụng
Dưới góc độ khoa học pháp lý, xung quanh thuật ngữ “tranh tụng” có nhiều
quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS là phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo
đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án và
Quan điểm khác lại cho rằng: “Tranh tụng trong TTDS là việc các bên đương sự đưa ra, trao đổi về chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận đối lập, tranh luận với nhau dựa trên những thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước sự giám sát của Tòa án Sự tranh tụng chứa đựng trong chính hành vi khởi kiện”10 Các quan điểm này nghiên cứu tranh tụng dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, theo tác giả, khái niệm tranh tụng thể hiện đầy đủ bản chất và
nội hàm của tranh tụng được hiểu như sau: Tranh tụng là quá trình làm rõ sự thật khách quan của vụ án Quá trình này phải được diễn ra liên tục từ khi nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình cho đến khi tòa án ra quyết định giải quyết VADS Theo đó các bên chủ thể tranh tụng dưới sự điều khiển của tòa án được đưa ra chứng cứ, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy định Tòa án ra phán quyết VADS căn cứ vào kết quả tranh tụng của các chủ thể tranh tụng 11
Như vậy, tranh tụng trong TTDS về bản chất là quá trình tố tụng đi tìm sự thật khách quan của VADS Khi tham gia vào tranh tụng, có rất nhiều chủ thể nhưng đương sự là những chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quyết định kết quả tranh tụng Bởi vì, họ tham gia tranh tụng xuất phát từ chính yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong vụ án, kết quả tranh tụng ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích
11 Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Tranh tụng trong TTDS Việt Nam trước yêu cầu của cải
cách tư pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Mã số: LH - 2010 - 09/ĐHL - HN, Hà Nội, tr 8
Trang 15của bản thân các đương sự Hơn nữa, các VADS chủ yếu phát sinh là do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các đương sự Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ
đó có tồn tại hay không phải thuộc về các đương sự - người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ
sự thật, mà còn làm các bên thoả mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của pháp luật12 Tuy nhiên, TTDS là một quá trình phức tạp, cho nên không phải trong mọi trường hợp các bên đương sự đều có thể dễ dàng thực hiện được đúng và đầy đủ các quyền của mình Trên thực tế, việc thực hiện các quyền
này mà gọi chung lại là quyền tranh tụng của đương sự phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố như khả năng tham gia TTDS của đương sự, sự hỗ trợ từ những người khác đối với việc tham gia tố tụng của đương sự, trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng Thông thường, để thực hiện được quyền tranh tụng của mình thì đương sự phải có kiến thức pháp luật nhất định, có năng lực hành vi TTDS và trong trường hợp cần thiết họ còn nhận được sự giúp đỡ pháp lý từ phía luật sư hay người khác Mặt khác, việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự phải thông qua Toà án là
cơ quan xét xử chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết VADS Do đó, để đương sự thực hiện được quyền tranh tụng của họ thì Toà án phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật TTDS khi giải quyết VADS Đồng thời, Tòa án phải có trách nhiệm giúp đỡ, tạo điều kiện cho đương sự thực hiện được quyền tranh tụng của họ Vì vậy, để đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp trước Toà án thì việc bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng là rất cần thiết Trước hết, ta cần luận giải thế nào là quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS
Trong VADS, đương sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong đó, nguyên đơn trong VADS là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do pháp luật quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm Ngoài ra, cơ quan, tổ chức do pháp luật quy định khởi kiện VADS để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn
12 Nguyễn Thị Thu Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2011), Tlđd, tr 10
Trang 16Bị đơn trong VADS là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do pháp luật quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết VADS khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm
Còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong VADS là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết VADS có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trường hợp việc giải quyết VADS có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan13
Theo lý luận về nhà nước và pháp luật, quyền “là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được pháp luật cho phép”14 Do đó, trong TTDS, có thể hiểu, quyền tranh tụng của đương sự là khả năng tham gia vào việc tranh tụng tại Tòa án của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật
Theo từ điển Tiếng Việt, “bảo đảm” có nghĩa là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết”15
Trong TTDS, việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự bao gồm nhiều nội dung khác nhau như bảo đảm pháp lý, bảo đảm thông qua sự phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo đảm thông qua sự giám sát, kiểm sát của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm trong việc tổ chức thực hiện quyền tranh tụng của đương sự Tuy nhiên, do giới hạn của luận văn nên tác giả tập trung nghiên cứu về bảo đảm pháp lý Hơn nữa, trong các biện pháp bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS thì bảo đảm pháp lý là quan trọng nhất Đó là tiền đề cho việc thực hiện các bảo đảm khác cũng như tạo điều kiện cho các bảo đảm khác phát huy được vai
13
Xem thêm Điều 68 BLTTDS năm 2015
14 Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 454
15 Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr 38
Trang 17trò và hiệu quả của chúng trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Theo đó, bảo đảm pháp lý quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS là bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng bằng các quy định của pháp luật
Hệ thống pháp luật cần quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của đương sự để đương
sự thực hiện việc tranh tụng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, VKS
và những người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự, về trách nhiệm phối hợp của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác trong việc hỗ trợ cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng, về trình tự, thủ tục tố tụng tranh tụng cụ thể, công khai, minh bạch Tiếp đó, để các quy định của pháp luật TTDS về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự được thực hiện trên thực tế thì cần phải có cơ chế tổ chức thực hiện Theo đó, các phương tiện thông tin đại chúng,
cả hệ thống chính trị và xã hội phải thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật TTDS về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự, thực hiện cơ chế phối hợp, hỗ trợ của cá nhân, cơ quan, tổ chức, thực hiện cơ chế giám sát hoạt động TTDS của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, thực hiện nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho những người tiến hành TTDS và kiện toàn hệ thống tổ chức Tòa án
Bởi vậy, bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS là tổng hợp các biện pháp, cách thức để cho các đương sự gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện được trên thực tế quyền tranh tụng mà pháp luật TTDS quy định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án
Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS là hệ thống các biện pháp, cách thức để quyền tranh tụng của các đương sự được thực hiện trên thực tế
Quyền tranh tụng của đương sự được pháp luật TTDS ghi nhận nhưng để quyền tranh tụng đó của đương sự được “hiện thực hóa” thì cần phải tiến hành đồng
bộ các biện pháp, cách thức để đảm bảo quyền tranh tụng của đương sự được thực hiện trên thực tế Đó là, trước tiên các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội phải thực hiện các biện pháp tuyên truyền, phổ biến pháp luật TTDS về tranh tụng để
Trang 18đảm bảo các đương sự có đầy đủ hiểu biết pháp luật TTDS về tranh tụng Có như vậy thì đương sự mới biết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thực hiện đúng quyền tranh tụng của mình, không được lạm dụng quyền tranh tụng để gây khó khăn cho đương sự khác cũng như Tòa án trong quá trình giải quyết VADS Các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm cho các đương sự thực hiện được quyền tranh tụng, phải tạo điều kiện và không được cản trở các đương sự thực hiện quyền này Các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, tạo điều kiện cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng VKS thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tranh tụng của đương sự và Tòa án
- Tòa án là chủ thể chính có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS
Tòa án là cơ quan xét xử, giải quyết VADS để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng Các quyết định của Toà án có giá trị bắt buộc các chủ thể khác phải thực hiện Do đó, nếu Tòa án không vô tư, khách quan, không tuân thủ đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trong giải quyết VADS, không thực hiện đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định thì chắc chắn quyền tranh tụng của đương sự sẽ không được thực hiện trên thực tế
- Các biện pháp, cách thức bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS do pháp luật quy định
Để có cơ sở pháp lý cho các chủ thể có trách nhiệm thực hiện các biện pháp, cách thức bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS thì các biện pháp, cách thức này phải được pháp luật quy định Có như vậy, việc thực hiện các biện pháp, cách thức bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS mới hợp pháp
Trang 191.2 Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong
Hoạt động tranh tụng của đương sự trong TTDS muốn thực hiện có hiệu quả phải được điều chỉnh bằng quy định của pháp luật Điều này là tất yếu khách quan Pháp luật quy định trình tự, thủ tục, nội dung, cách thức thực hiện hoạt động tranh tụng, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng trong TTDS Nói cách khác, các quy định của pháp luật tạo ra hành lang pháp lý xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tranh tụng Pháp luật chính là bảo đảm pháp lý giữ vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ, bảo đảm quyền tranh tụng của đương
sự khi tham gia TTDS Dưới góc độ luật thực định, các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS tập trung nhất trong BLTTDS
và các văn bản hướng dẫn dưới luật do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc liên ngành Tư pháp trung ương ban hành Hiện nay, BLTTDS năm 2015 với những quy định mới, tiến bộ chính là cơ sở pháp lý, yếu tố ảnh hưởng tiên quyết đến việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS
1.2.2 Trách nhiệm của Tòa án khi giải quyết vụ án dân sự
Nếu như pháp luật TTDS là bảo đảm pháp lý quan trọng nhất thì có thể khẳng định rằng, Tòa án là thiết chế pháp lý thực tiễn - hữu hiệu, do Nhà nước và bằng pháp luật định ra để bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự có hiệu quả trên thực tế Nếu như không có Tòa án thì dù pháp luật TTDS có hoàn thiện đến đâu cũng chỉ như “con hổ giấy” Vì lẽ đó, Nhà nước thông qua pháp luật TTDS giao
Trang 20nhiệm vụ cho Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự khi họ tham gia TTDS
Để bảo đảm sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương
sự trong TTDS đòi hỏi Tòa án phải khách quan, có thái độ vô tư và công minh đối với các bên đương sự tham gia tranh tụng Đương sự có thể thực hiện đầy đủ các quyền tranh tụng của mình hay không phụ thuộc rất nhiều vào Tòa án Vì thế, Tòa
án phải bảo đảm cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác biết và thực hiện quyền tranh tụng của mình theo quy định của pháp luật Tòa án phải tôn trọng quyền tranh tụng của các đương sự, không được sinh định kiến với bất cứ đương sự nào vì bất cứ lý do gì trong quá trình giải quyết vụ án Mọi đương sự đều được Tòa
án triệu tập một cách hợp lệ để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Hơn nữa, Tòa án phải bảo đảm quyền bình đẳng cho các đương sự tham gia vào quá trình tranh tụng Điều đó đồng nghĩa với việc Tòa án phải bảo đảm cho đương sự được bình đẳng trong việc đưa ra yêu cầu, đề nghị, cung cấp tài liệu, chứng cứ, căn
cứ pháp lý, được đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ về những tình tiết của
vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, được biết tài liệu, chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ do bên kia cung cấp hoặc chứng cứ do Tòa án thu thập, được tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến, tranh luận, lập luận, đưa ra lý lẽ, chứng cứ công khai trước Tòa án
Như vậy, Tòa án có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự khi tham gia TTDS, tạo ra sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia tranh tụng, góp phần giải quyết đúng đắn vụ kiện Tòa án nói chung và Thẩm phán thụ lý vụ án nói riêng như người trọng tài “cầm cân nảy mực” phân xử giữa các bên tham gia tranh tụng, duy trì trật tự phiên tòa và điều hành quá trình tranh tụng, hướng quá trình tranh tụng vào việc giải quyết các yêu cầu của đương
sự, xem xét, đánh giá tính có căn cứ pháp lý và thực tiễn của các yêu cầu đó, cũng như các tình tiết khác liên quan đến quan hệ pháp luật dân sự phát sinh tranh chấp giữa các đương sự Tòa án bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong TTDS một cách bình đẳng, công khai và đúng pháp luật Bản án, quyết định của Tòa án được tuyên phải căn cứ vào kết quả tranh tụng dân chủ, công khai tại phiên tòa Đó là nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời cũng là trách nhiệm của Tòa án
Trang 211.2.3 Cơ chế kiểm sát, giám sát hoạt động tranh tụng
Về nguyên tắc, để đảm bảo việc giải quyết tranh chấp của Tòa án không mắc phải những sai lầm, tránh việc lạm quyền, thiếu công bằng, xâm phạm quyền tranh tụng của đương sự thì cần có một cơ chế kiểm sát, giám sát hoạt động của Tòa án Nguyên lý chung trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước là ở đâu có quyền lực nhà nước, có tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước thì phải có kiểm soát quyền lực Đó là đòi hỏi tất yếu khách quan
Trong TTDS, Tòa án là cơ quan “toàn quyền” trong việc thụ lý, giải quyết VADS, đồng thời, là “đầu mối” chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm quyền tranh tụng cho đương sự khi tham gia vào TTDS Vì vậy, sự tham gia của VKS trong TTDS với tư cách là một thiết chế độc lập bên ngoài Tòa án là cần thiết VKS kiểm sát hoạt động TTDS nhằm phát hiện những hành vi xâm phạm quyền tranh tụng của đương sự để có biện pháp ngăn chặn kịp thời, góp phần tạo môi trường tố tụng an toàn, bảo đảm quyền tranh tụng cho các đương sự Tuy nhiên, kiểm sát hoạt
động xét xử của Tòa án và những người tham gia tố tụng là để “hỗ trợ cho việc thực
công bằng, chính xác, đúng pháp luật, bảo đảm đương sự thực hiện hiệu quả quyền tranh tụng theo đúng quy định của pháp luật, chứ không phải kiểm sát là can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án
Bên cạnh đó, sự giám sát của công luận như người dân, nhà báo tham dự phiên tòa với các hoạt động TTDS của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Bởi kết quả của cơ chế giám sát này chính là sự lên án kịp thời những sai sót, lệch lạc, vi phạm của bất kỳ chủ thể nào trong hoạt động TTDS Cùng với đó, sự giám sát của các cơ quan đại diện nhân dân như Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc , thậm chí là Hội thẩm nhân dân trong thành phần Hội đồng xét xử cũng là một trong những yếu tố tác động tích cực đến việc bảo đảm các chủ thể tiến hành và tham gia TTDS đều phải tuân thủ pháp luật, bảo đảm tốt nhất quyền tranh tụng của đương sự
16 Nguyễn Thái Phúc (2005), “Những chức năng cơ bản trong TTDS”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (12), tr
48
Trang 221.2.4 Sự hiểu biết pháp luật của đương sự về tranh tụng trong tố tụng dân
sự
Như đã biết, bản chất của các tranh chấp, yêu cầu của các bên đương sự trong quan hệ pháp luật TTDS đều xuất phát từ quan hệ riêng tư của các bên Theo logic, các bên đượng sự phải là người trực tiếp tự giải quyết, tự quyết định Do đó, khi “nhờ” đến Tòa án, Thẩm phán sẽ chỉ tham gia với tư cách là “trọng tài” phân xử trên cơ sở tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự Vì lẽ đó, đòi hỏi đương sự phải có sự hiểu biết pháp luật nhất định mới có thể tranh tụng như đương sự đưa ra yêu cầu gì, cần phải biết thu thập tài liệu, chứng cứ ở đâu, bằng những biện pháp pháp lý nào, cung cấp những chứng cứ nào cho Tòa án, tranh tụng tại phiên tòa thì đặt các câu hỏi như thế nào với đương sự phía bên kia, chuẩn bị bản luận cứ để tranh luận, đối đáp với đương sự phía bên kia như thế nào… Tự trả lời được những câu hỏi này, đương sự mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như giúp Tòa án ra phán quyết kịp thời, chính xác và đúng pháp luật
1.2.5 Sự hỗ trợ đương sự thực hiện quyền tranh tụng từ các cá nhân, cơ quan, tổ chức
Trong nhiều trường hợp, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong tranh tụng, các đương sự cần có sự giúp đỡ từ người đại diện, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt là vai trò của Luật sư trong tư vấn, hướng dẫn cho đương sự nên làm thế nào để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất trước Tòa án Tại phiên tòa nói riêng và trong toàn bộ tiến trình tố tụng nói chung, bằng sự am hiểu pháp luật và kinh nghiệm tham gia tố tụng, cùng khả năng hùng biện, đưa ra lý lẽ, căn cứ pháp lý, lập luận sắc bén của các Luật sư sẽ giúp cho Tòa
án xem xét, đánh giá toàn diện vụ án từ đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự Với sự trợ giúp từ người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, các đương sự khi tham gia vào tranh tụng sẽ có được nhận thức đầy đủ hơn về pháp luật, có sự tự tin, từ đó tạo ra sự cân bằng giữa các bên đối tụng và ở khía cạnh nào đó, mang lại sự chế ước hữu hiệu đối với Tòa án Còn trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ thì sự hỗ trợ, thái độ hợp tác của họ ảnh hưởng rất lớn đến việc đương sự có được đủ tài liệu,
Trang 23chứng cứ để bảo đảm thực hiện được quyền tranh tụng của mình trước Tòa án
1.3 Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự
Thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, Hiến
pháp năm 2013, tại khoản 5 Điều 103 đã lần đầu tiên hiến định “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Đây là cơ sở pháp lý để BLTTDS năm 2015 tiếp
tục khẳng định “bảo đảm tranh tụng trong xét xử” là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTDS Trước đây, Điều 23a BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011
quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong TTDS với nội dung: “Trong quá trình giải quyết VADS, Tòa án bảo đảm để các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Nếu như quy định này mới bước đầu
mang sắc thái của tranh tụng17, thì BLTTDS năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử tại Điều 24, trên cơ sở kế thừa và phát triển quy định bảo đảm quyền tranh luận trong TTDS
Theo quy định tại Điều 24 BLTTDS năm 2015 thì bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS có một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, quyền tranh tụng của đương sự được bảo đảm thực hiện trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm, tái thẩm, tức là quyền tranh tụng không chỉ được thực hiện ở các phiên tòa mà là trong toàn quá trình tố tụng
Thứ hai, khi thực hiện quyền tranh tụng, đương sự, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý VADS; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác Tuy nhiên, đương sự cũng phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, nếu không thực hiện các nghĩa
vụ đó thì phải chịu hậu quả pháp lý theo luật định
Thứ ba, trách nhiệm của Tòa án trong TTDS là bảo đảm cho đương sự, người
17 Lê Thu Hà (2010), Tổ chức xét xử VADS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr 295
Trang 24bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong xét
xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Tòa án điều hành việc tranh tụng, chỉ hỏi những vấn đề còn chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng của các bên đương sự để ra bản án, quyết định Mọi phán quyết Tòa án đưa ra phải dựa trên
cơ sở bảo đảm mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, công khai, trừ trường hợp không được công khai theo quy định của pháp luật
Như vậy, có thể thấy Điều 24 BLTTDS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS về phạm vi thời gian, nội dung nguyên tắc và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm quyền tranh tụng cho đương sự
1.3.1 Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong thủ tục sơ thẩm
1.3.1.1 Bảo đảm quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập
Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã tuyên bố rất rõ ràng: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Hiểu rộng ra, mọi tổ chức, cá nhân đều được
Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch… Khi các quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước bảo vệ mình Một trong những phương thức để các chủ thể này tự bảo vệ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại là khởi kiện vụ án tại TAND theo thủ tục TTDS18 Quyền khởi kiện
vụ án là cơ sở đầu tiên để đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong TTDS Để bảo đảm quyền này cho đương sự, pháp luật TTDS quy định rất rõ ràng các chủ thể có quyền khởi kiện; điều kiện khởi kiện; hình thức và phạm vi khởi kiện; điều kiện để thụ lý vụ án và những trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện Trong trường hợp việc trả lại đơn khởi kiện không đúng thì đương sự có quyền khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện19
18 Xem Điều 4, Điều 186 BLTTDS năm 2015
19 Xem thêm các điều từ Điều 186 đến Điều 196 BLTTDS năm 2015
Trang 25Sau khi thụ lý vụ án, quyền khởi kiện chính là căn cứ để xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng Theo đó, người thực hiện quyền khởi kiện sẽ là nguyên đơn, trừ một số trường hợp Còn người bị kiện sẽ tham gia tố tụng với tư cách bị đơn20 Lúc này, đặt trong mối tương quan lợi ích, có sự đối kháng nhau về quyền lợi giữa nguyên đơn và bị đơn Để bảo đảm công bằng khi nguyên đơn đã thực hiện quyền khởi kiện, pháp luật TTDS quy định bị đơn có quyền yêu cầu phản tố Khoản
1 Điều 200 BLTTDS năm 2015 quy định: “Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập” Theo đó, việc phản tố của bị đơn chỉ được thực hiện sau khi đã có việc khởi
kiện của nguyên đơn và Tòa án đã thụ lý vụ án Tuy nhiên, để yêu cầu phản tố này không gây khó khăn cho việc thực hiện tranh tụng, pháp luật đã quy định giới hạn quyền yêu cầu phản tố trong một số trường hợp nhất định Theo khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015 thì yêu cầu phản tố của bị đơn với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Một là, yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
Hai là, yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một
phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập
Ba là, giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn
Ngoài việc giới hạn về mặt nội dung, pháp luật TTDS đã quy định rõ giới hạn về thời điểm mà bị đơn có thể thực hiện quyền yêu cầu phản tố là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo khoản 3 Điều 200 BLTTDS năm 2015
20 Xem thêm Điều 68 BLTTDS năm 2015
Trang 26Bên cạnh nguyên đơn, bị đơn, còn một đương sự khác tham gia vào TTDS là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đây là các chủ thể không đi kiện và cũng không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của
họ nên Tòa án theo đề nghị của đương sự quyết định hoặc tự mình quyết định khi không có đề nghị của đương sự đưa họ vào tham gia tố tụng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể tham gia tố tụng với bên nguyên đơn, với bên bị đơn hoặc tham gia độc lập Cũng như quyền yêu cầu phản tố của bị đơn, pháp luật TTDS quy định trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập nhưng phải có các điều kiện sau đây:
Một là, việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; Hai là, yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;
Ba là, yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho
việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải21
Như vậy, để bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự thì phải bảo đảm cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện được hai quyền trên trong quá trình Toà án giải quyết VADS Theo đó, sau khi thụ lý VADS, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Toà án có trách nhiệm phải tiến hành thông báo cho bị đơn và cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết VADS biết được việc Toà án đã thụ lý VADS theo Điều 196 BLTTDS năm 2015 Nội dung thông báo phải ghi rõ giải thích cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập để họ thực hiện Trong trường hợp yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định thì Toà
án phải xem xét giải quyết trong VADS Toà án chỉ không chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải
21 Xem Điều 201 BLTTDS năm 2015
Trang 27quyết trong VADS nếu yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập được đưa ra quá thời hạn
do pháp luật quy định hoặc không thoả mãn các điều kiện do pháp luật quy định
1.3.1.2 Bảo đảm quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự
Trong quá trình giải quyết VADS, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm pháp luật và không trái đạo đức xã hội Quy định này của pháp luật xuất phát từ nguyên tắc “tối cao” trong TTDS là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Khi đưa ra yêu cầu, đề nghị và xuất trình tài liệu, chứng cứ kèm theo, các bên đương sự sẽ phải tự xem xét, đánh giá yêu cầu, đề nghị của mình có hợp lý hay không? Các tài liệu, chứng cứ, lý lẽ, lập luận, căn cứ pháp lý mà họ viện dẫn có đủ sức thuyết phục hay không? Trong trường hợp các đương sự tự thấy các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý
mà họ đưa ra không đủ cơ sở để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của mình thì trong nhiều trường hợp đương sự sẽ tự nguyện rút yêu cầu và khi đó Tòa án có căn
cứ để ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS hoặc đình chỉ giải quyết phần yêu cầu
đã rút và thay đổi địa vị tố tụng Tại phiên tòa, trường hợp có đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đương sự đã rút và có thể thay đổi địa vị tố tụng22
Bên cạnh quyền rút yêu cầu là quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu Mặc dù pháp luật tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nhưng để quyền thay đổi, bổ sung này không gây khó khăn cho các đương sự trong việc thực hiện quyền tranh tụng, thì theo khoản 1 Điều 244 BLTTDS năm 2015, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản
tố, yêu cầu độc lập ban đầu Giới hạn phạm vi của những yêu cầu này đã được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Quy định này là hợp lý và cần thiết, bởi vì để giải quyết một yêu cầu mới phát sinh thì Toà án cần có thời gian xem xét những vấn đề liên quan đến yêu cầu mới Đồng thời, không gây ra sự bất lợi cho các
22 Xem Điều 217, Điều 244, Điều 245 BLTTDS năm 2015
Trang 28đương sự khác nhằm đảm bảo quyền tranh tụng giữa các đương sự trong TTDS Vì vậy, để bảo đảm cho các đương sự thực hiện được quyền này, Toà án cần phải thông báo, giải thích cho các đương sự biết rõ các quy định này ngay sau khi tiến hành thụ
án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có), hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu Thông báo của Tòa án giúp cho các đương sự khác biết được các thông tin liên quan đến vụ án, là cơ sở đầu tiên để họ chuẩn bị tài liệu, chứng cứ, đưa ra ý kiến phản hồi cho Tòa án và chủ động tham gia tranh tụng cũng như tạo điều kiện cho VKS có thể kiểm sát hồ sơ ngay từ đầu Do đó, thông báo của Tòa án phải kịp thời và đầy đủ nội dung cần thiết
Trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người được thông báo phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) Đương sự có thể yêu cầu xin gia hạn để có đủ thời gian cân nhắc việc thực hiện quyền này Như vậy, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bắt đầu tranh tụng với nguyên đơn bằng việc đưa ra các lập luận, các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình, bác
bỏ hay công nhận yêu cầu của nguyên đơn thông qua văn bản ghi ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn Ngược lại, khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập thì nguyên đơn, người có liên quan đến các yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đều có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập đó Quyền này được quy định tại khoản 3 Điều 71,
Trang 29khoản 3 Điều 72, Điều 73 BLTTDS 2015 nhằm đảm bảo cho đương sự thực hiện quyền phản đối yêu cầu của người khác Do đó, để bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của đương sự khác thì Tòa án cần tạo điều kiện cho họ thực hiện quyền này trong các giai đoạn của quá trình tố tụng
1.3.1.4 Bảo đảm quyền thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Theo khoản 1 Điều 6 BLTTDS năm 2015, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Cụ thể hóa quy định này, Điều 91 BLTTDS năm
2015 quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ một số trường hợp luật định Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó Như vậy, người khởi kiện, nguyên đơn phải gửi kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Còn với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có) trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý của Tòa án theo khoản 1 Điều 199 BLTTDS năm 2015 Những quy định trên đã phần nào thể hiện bản chất của việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong TTDS Đó là sự trao đổi, phản bác chứng cứ, lập luận giữa các bên đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Việc làm đầu tiên trước khi tiến hành tranh tụng là đương sự phải thu thập chứng cứ Khi đương sự đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu của bên đối lập để Toà án bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình thì phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu hay sự phản đối đó là có căn cứ và hợp pháp Khi đó, việc
“nói” và “mách” của đương sự mới bảo đảm “có sách” và “có chứng” được Pháp luật TTDS quy định đương sự có nghĩa vụ chứng minh và thu thập chứng cứ tạo ra
sự chủ động và nâng cao trách nhiệm của đương sự trong quá trình thu thập chứng
cứ và tham gia tranh tụng tại Tòa Trường hợp đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng
Trang 30cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết VADS theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ VADS
Để bảo đảm cho đương sự thực hiện tốt quyền tranh tụng, Toà án cần tạo điều kiện và đảm bảo sự bình đẳng cho các đương sự thực hiện quyền thu thập, cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ Toà án có trách nhiệm phải tiếp nhận các tài liệu, chứng cứ mà các bên đương sự tự chủ động giao nộp hoặc giao nộp theo yêu cầu của Tòa để đưa vào hồ sơ vụ án Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, đủ để các đương sự tìm kiếm, thu thập chứng cứ và chuẩn bị tổ chức việc biện hộ Việc BLTTDS năm 2015 quy định về thời hạn giao
nộp tài liệu, chứng cứ có hai ý nghĩa: Một là, bảo đảm cho việc giải quyết VADS được nhanh chóng, kịp thời, không bị kéo dài Hai là, tránh tình trạng các đương sự
giao nộp chứng cứ tùy tiện, không cung cấp chứng cứ trong thời hạn luật định Thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp đến tận lúc chuẩn bị nghị án mới xuất trình chứng cứ hoặc giữ lại để lên đến phúc thẩm mới đưa ra và như vậy, đương sự phía bên kia không thể có thời gian chuẩn bị chứng cứ, lý lẽ đối đáp, dẫn đến không thực hiện được quyền tranh tụng của mình Trong trường hợp này, Thẩm phán không chấp nhận các tài liệu, chứng cứ đó trừ một số trường hợp theo luật định23
Tài liệu, chứng cứ có thể do các bên đương sự lưu giữ nhưng cũng có thể do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác lưu giữ Để đảm bảo quyền thu thập chứng cứ và
chứng minh của đương sự, pháp luật còn quy định đương sự có quyền “đề nghị Tòa
án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu
23
Theo khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015, đó là các trường hợp sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự, đương sự mới cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ mà Tòa án đã yêu cầu giao nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng thì đương sự phải chứng minh lý do của việc chậm giao nộp tài liệu, chứng cứ đó Đối với tài liệu, chứng cứ
mà trước đó Tòa án không yêu cầu đương sự giao nộp hoặc tài liệu, chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm thì đương sự có quyền giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết
vụ việc dân sự
Trang 31tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản”24 Do
đó, nếu yêu cầu, đề nghị của đương sự là có căn cứ thì Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ và tiến hành một hoặc một số biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ theo luật định
Cùng với việc ghi nhận quyền đề nghị hỗ trợ thu thập chứng cứ của đương
sự, Điều 7 BLTTDS năm 2015 quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn các tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, VKS Trường hợp
cá nhân, cơ quan, tổ chức không cung cấp được các chứng cứ, tài liệu do mình đang quản lý, lưu giữ theo yêu cầu thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa
án, VKS biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ Bên cạnh đó, đương sự có quyền yêu cầu Toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc các biện pháp cần thiết khác để bảo toàn chứng cứ trong trường hợp chứng cứ đang
bị tiêu huỷ, có nguy cơ bị tiêu huỷ hoặc sau này khó có thể thu thập được theo Điều
110, Điều 111 BLTTDS năm 2015
1.3.1.5 Bảo đảm quyền được biết tài liệu, chứng cứ do người khác xuất trình
hoặc do Tòa án thu thập
Các quy định của pháp luật TTDS trước khi có BLTTDS năm 2015 chưa bảo đảm được đầy đủ quyền tiếp cận chứng cứ của các đương sự trước khi vụ án được Tòa án xét xử Trong nhiều trường hợp, đương sự chỉ biết được tài liệu, chứng cứ của đương sự đối lập khi họ xuất trình tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm Những hạn chế này dẫn tới sự bị động và khó khăn cho một bên đương sự trong việc thực hiện quyền tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình tại Tòa án Trước bất cập này, khoản
8, khoản 9 Điều 70 BLTTDS năm 2015 quy định khi tham gia vào tố tụng, đương
sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập, trừ tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này Cùng với đó là nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ, trừ tài liệu, chứng
cứ mà đương sự khác đã có và tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước,
24 Xem khoản 7 Điều 70 BLTTDS năm 2015
Trang 32thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 109 của BLTTDS Trường hợp
vì lý do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ
có quyền yêu cầu Tòa án hỗ trợ Hai quy định trên của BLTTDS năm 2015 tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự Rõ ràng, được bảo đảm quyền thu thập tài liệu, chứng cứ là đương sự mới chỉ tự “biết mình”, nay được bảo đảm thêm quyền biết tài liệu, chứng cứ do người khác thu thập đồng nghĩa với việc “biết người” Đây chính là điều kiện cần và đủ cho một cuộc tranh tụng nảy lửa và hiệu quả nhất giữa các bên đương sự đối tụng
Để thực hiện quy định này, sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công phải thông báo bằng văn bản về việc thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và VKS cùng cấp biết Văn bản thông báo phải thể hiện rõ nội dung quan trọng nhất là những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết và danh mục tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện Với việc thụ lý yêu cầu phản tố hay yêu cầu độc lập cũng vậy Văn bản thông báo của Tòa án giúp cho các đương sự khác biết được các thông tin liên quan đến vụ án, là cơ sở đầu tiên để họ chuẩn bị tài liệu, chứng cứ, đưa ra ý kiến phản hồi cho Tòa án và chủ động tham gia tranh tụng Do
đó, thông báo của Tòa án phải kịp thời và đầy đủ nội dung cần thiết Trách nhiệm sao gửi tài liệu, chứng cứ cho nhau giữa các đương sự cũng phải được bảo đảm thực hiện
Hơn nữa, để bảo đảm mọi chứng cứ được công khai trừ một số trường hợp luật định, các đương sự đều biết các tài liệu, chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh tụng, ngoài việc quy định nghĩa vụ của đương sự khi giao nộp tài liệu, chứng
cứ cho Tòa án thì phải gửi bản sao tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác và trách nhiệm của Tòa án trong việc thông báo tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được cho đương sự trong thời hạn 03 ngày làm việc25
, BLTTDS năm 2015 còn bổ sung quy định phải tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thành phần tham gia phiên họp phải
25 Xem khoản 5 Điều 97 BLTTDS năm 2015
Trang 33có các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự Tuy nhiên, để hạn chế việc phát sinh thêm thủ tục không cần thiết, phiên họp này được tiến hành cùng với phiên hòa giải Trong trường hợp VADS không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành phiên hòa giải Các tài liệu, chứng cứ của
vụ án được nghiên cứu, đánh giá, sử dụng công khai cho thấy sự minh bạch, khách quan của pháp luật trong việc tạo nền tảng bình đẳng pháp lý cho các bên tranh tụng Các đương sự được bảo đảm quyền được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu,
chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập “Đây là một biện pháp để bảo đảm quyền biện hộ và để vụ kiện diễn ra một cách thẳng thắn,
biết được đầy đủ và toàn diện các yêu cầu, chứng cứ và lý lẽ chống lại họ Về logic, người ta chỉ có thể đối đáp lại những gì mà họ biết Do đó, việc đưa ra các tình tiết, tìm và cung cấp chứng cứ làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến vụ án là quyền và nghĩa vụ của mỗi đương sự Thực hiện nghĩa vụ này, các đương sự không chỉ nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích của chính họ, mà còn nhằm thực hiện nghĩa vụ đối với bên đương sự phía đối tụng để họ chuẩn bị tổ chức việc biện hộ
1.3.1.6 Bảo đảm quyền thỏa thuận về việc giải quyết vụ án
Nghiên cứu nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự quy định tại Điều 5 BLTTDS năm 2015, có thể thấy nội dung của nguyên tắc này ngoài việc các đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, quyền chấm dứt, thay đổi, bổ sung các yêu cầu của mình thì trong quá trình giải quyết VADS, họ còn có quyền tự thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội Trong VADS, luôn tồn tại hai bên đối tụng có quyền lợi đối lập Khi hai bên tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì mâu thuẫn, tranh chấp đã được giải quyết Vụ án kết thúc nhanh chóng Do đó, khuyến khích các đương sự tự thỏa thuận với nhau, đồng thời phải tiến hành thủ tục hòa giải theo luật định để giải quyết vụ án là trách nhiệm của Tòa án Điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của VADS là “việc dân sự cốt ở hai bên”
26 Xem: Nguyễn Mạnh Bách (1996), Luật tố tụng dân sự Việt Nam giải lược, Nxb Đồng Nai, tr 79
Trang 34Để bảo đảm quyền tự thoả thuận của đương sự, Điều 205 BLTTDS năm
2015 quy định: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Khi tiến
hành hoà giải, Toà án phải tuân theo 02 nguyên tắc: Một là, tôn trọng sự tự nguyện
thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt
buộc các đương sự phải thoả thuận không phù hợp với ý chí của mình Hai là, nội
dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Việc hòa giải phải tiến hành bằng phương thức mở phiên họp lồng ghép với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ Trong phiên hòa giải, Thẩm phán chỉ là chủ thể đóng vai trò trung gian điều hành, giúp đỡ các đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án Kết thúc phiên hòa giải, Thẩm phán phải kết luận những vấn đề các bên đã hòa giải thành và những vấn đề chưa hòa giải thành để đương sự tiếp tục chuẩn bị các chứng cứ, căn
cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận để tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm Thư ký Tòa án có trách nhiệm giúp Thẩm phán lập biên bản về việc hòa giải Trường hợp các đương
sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, thì theo khoản 1 Điều
212 BLTTDS năm 2015, hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó, Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, kết thúc quá trình giải quyết VADS
Pháp luật cho phép đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa Tại phiên tòa, theo quy định tại Điều 246 BLTTDS năm 2015, chủ toạ phiên toà hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và việc thỏa thuận
là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự về việc giải quyết
vụ án
Vấn đề đặt ra ở đây là bảo đảm thực hiện quyền thỏa thuận của các đương sự
Trang 35có dẫn đến triệt tiêu quyền tranh tụng của đương sự? Mặc dù, bản chất của hoạt động hòa giải là các bên đương sự trong vụ án thỏa thuận, điều đình với nhau nhưng qua hoạt động này sự tranh tụng cũng được thể hiện khá rõ nét, bởi để thỏa thuận, hòa giải các bên cũng phải dùng đến lý lẽ, quan điểm, bằng chứng để thuyết phục lẫn nhau Do vậy, hòa giải và tranh tụng không triệt tiêu lẫn nhau mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau Có thể nói, trong hòa giải luôn tồn tại tranh tụng, nhưng là tranh tụng
“chưa đến nơi” hay có thể gọi là “tranh tụng thỏa hiệp”
1.3.1.7 Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Khoản 1 Điều 9 BLTTDS năm 2015 khẳng định: “Đương sự có quyền tự bảo
vệ hoặc nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” Khi tham gia vào tố tụng, để có thể
thực hiện quyền tranh tụng, đương sự cần phải có hiểu biết pháp luật nhất định Đó
là cơ sở để đương sự thực hiện tốt hơn quyền tranh tụng của mình Tuy nhiên, không phải đương sự nào cũng có trình độ hiểu biết về pháp luật Vì vậy, pháp luật quy định cho họ quyền nhờ luật sư hay người khác có đủ điều kiện theo luật định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo khoản 2 Điều 75 BLTTDS năm
d) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không có án tích
hoặc đã được xóa án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính; không phải là cán bộ, công chức trong các cơ quan Tòa án, VKS và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an”
Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ Khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án xem xét và làm thủ tục đăng ký người bảo vệ
Trang 36quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự theo luật định Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc từ bất
cứ giai đoạn nào của quá trình TTDS và có quyền và nghĩa vụ khác liên quan đến tranh tụng theo Điều 76 BLTTDS năm 2015 Quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ của đương sự có mối quan hệ biện chứng với quyền tranh tụng Quyền bảo
vệ của đương sự vừa là động lực, vừa là mục tiêu của quyền tranh tụng Đương sự khi tham gia tranh tụng không ngoài mục đích là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do vậy, pháp luật quy định không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS
1.3.1.8 Bảo đảm quyền tham gia phiên tòa sơ thẩm
Phiên tòa là nơi thể hiện rõ nét và tập trung nhất quyền tranh tụng của các đương sự Vì vậy, để bảo đảm quyền tranh tụng cần phải bảo đảm quyền tham gia phiên tòa sơ thẩm của các đương sự Thực hiện điều này, theo khoản 2 Điều 220 BLTTDS năm 2015, quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được Tòa án gửi cho đương sự và VKS cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định Quyền tham gia phiên tòa của đương sự và những người tham gia tố tụng khác
là một trong những quyền quan trọng để họ thực hiện quyền tranh tụng tại phiên tòa Do vậy, bên cạnh quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự, BLTTDS năm 2015 còn quy định về việc bảo đảm sự có mặt của đương sự tại phiên tòa dân sự sơ thẩm Theo đó, Tòa án có nghĩa vụ triệu tập hợp lệ tất cả đương sự tham gia phiên tòa sơ thẩm Khi đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì tùy trường hợp mà Tòa án giải quyết theo Điều 227 và Điều 228 BLTTDS năm
2015 Về nguyên tắc, quyền tranh tụng của đương sự chỉ có thể được bảo đảm và thực hiện có hiệu quả tại phiên tòa khi có đầy đủ các bên đương sự tham gia
Ngoài ra, một trong những điểm mới của BLTTDS năm 2015 nhằm bảo đảm quyền tranh tụng của các đương sự tại phiên tòa là khi vụ án thuộc trường hợp Kiểm sát viên tham gia phiên tòa mà vắng mặt thì phiên tòa vẫn diễn ra bình thường chứ không như trước đây là phải hoãn phiên tòa27 Quy định tiến bộ này xuất phát từ
27 Xem Điều 232 BLTTDS năm 2015 và Điều 207 BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011
Trang 37quan điểm phiên tòa dân sự sơ thẩm là để cho các bên đương sự tranh tụng với nhau chứ không phải tranh tụng với Kiểm sát viên nên Kiểm sát viên vắng mặt không là căn cứ để hoãn phiên tòa
1.3.1.9 Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm
Điều 247 BLTTDS năm 2015 quy định rất rõ ràng, tranh tụng tại phiên tòa bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, tình tiết của vụ án dân sự, quan hệ pháp luật tranh chấp
và pháp luật áp dụng để giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự thực hiện trực tiếp quyền tranh tụng của mình thông qua các quyền tương ứng với các thủ tục tranh tụng tại phiên tòa theo thứ tự: trình bày yêu cầu và chứng cứ, tham gia hỏi, tham gia phát biểu tranh luận và đối đáp Chủ tọa phiên tòa là người có vai trò điều hành tranh tụng Chủ tọa không được hạn chế thời gian tranh tụng của các đương sự mà phải tạo điều kiện cho đương sự, người tham gia tố tụng khác trình bày hết ý kiến của mình nhưng có quyền yêu cầu
họ dừng trình bày những ý kiến không liên quan đến VADS Có thể nói, các quy định trên là biểu hiện rõ nét nhất của nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và Điều 24 BLTTDS năm 2015 Về bản chất, tranh tụng tại phiên tòa là tranh tụng giữa các đương sự của vụ án hay nói cách khác, phiên tòa là “sân khấu chính” của đương sự khi thực hiện quyền tranh tụng Các quyền trình bày yêu cầu và chứng cứ, tham gia hỏi, tham gia phát biểu tranh luận và đối đáp tại phiên tòa chính là phần “cốt” của quyền tranh tụng mà các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện Vì vậy, các quy định về phiên toà sơ thẩm phải đảm bảo thực sự là phiên toà tranh tụng Theo
đó, cần phát huy quyền tranh tụng của đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như bảo đảm Toà án thực hiện đúng chức năng xét xử và vai trò “trọng tài” của mình trong TTDS để đạt được mục đích xác định sự thật khách quan của VADS28
Thực hiện điều này, BLTTDS năm 2015 đã bỏ nguyên tắc xét xử liên tục; gộp phần hỏi và phần tranh luận thành thủ tục tranh tụng tại phiên tòa ở vị trí giữa thủ tục bắt đầu phiên toà và
28 Bùi Thị Huyền (Chủ biên) (2016), Bình luận Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, NXb Lao động, Hà Nội, tr
388, 389
Trang 38Thứ nhất, nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn hỏi trước, tiếp đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
Thứ hai, những người tham gia tố tụng khác;
Thứ ba, Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân;
Cuối cùng, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Việc xác định thứ tự hỏi theo hướng đưa các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự lên trước tiên có ý nghĩa đề cao vai trò chủ động, tích cực của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đối với việc xác định sự thật khách quan của VADS Bởi lẽ, tranh tụng trong TTDS
là tranh tụng giữa các đương sự của vụ án Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ là
Trang 39người điều khiển hoạt động tranh tụng tại phiên tòa Chính vì vậy, đương sự phải được quyền hỏi trước, sau đó mới đến những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên Phạm vi hỏi tập trung vào những vấn đề mà các bên trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời khai trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của các đương sự khác Việc đặt câu hỏi phải rõ ràng, nghiêm túc, không trùng lắp, không lợi dụng việc hỏi và trả lời để xâm phạm danh
dự, nhân phẩm của những người tham gia tố tụng
Sau khi kết thúc việc hỏi, Hội đồng xét xử chuyển sang phần tranh luận tại phiên tòa Trình tự phát biểu khi tranh luận giống như trình tự trình bày của đương
sự Phần tranh luận chỉ có sự tham gia của các đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Chủ tọa phiên tòa có vai trò điều khiển việc đối đáp của các đương sự29 Khi phát biểu đánh giá về chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa cũng như kết quả việc hỏi tại phiên tòa Bởi quan điểm của các chủ thể tranh luận chỉ có sức thuyết phục khi nó được đặt nền móng bởi các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được trực tiếp hỏi và kiểm chứng tại phiên tòa Qua tranh luận, nếu có tình tiết của vụ án chưa được sáng tỏ, Hội đồng xét xử trở lại việc hỏi và tiếp tục tranh luận Tại phiên tòa sơ thẩm, các bên đương sự có quyền bổ sung chứng cứ theo luật định để chứng minh cho yêu cầu, có quyền yêu cầu Hội đồng xét xử nghe băng, đĩa ghi âm hoặc xem băng, đĩa ghi hình hoặc thiết bị khác chứa âm thanh hình ảnh; xem xét vật chứng; hỏi về kết luận giám định; yêu cầu giám định lại hoặc giám định bổ sung
Nghị án và tuyên án là thủ tục cuối cùng mà ở đó Hội đồng xét xử là chủ thể chịu trách nhiệm chính Theo Điều 265 BLTTDS năm 2015, qua nghị án, nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận Quy định này nhằm giúp Hội đồng xét xử ra phán quyết một cách thận trọng, khách quan
và toàn diện hơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Sau khi quay lại việc hỏi và tranh luận, thủ tục vẫn được đảm bảo tiến hành theo luật định Các
29 Xem thêm Điều 260 BLTTDS năm 2015
Trang 40đương sự tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc hỏi và tranh luận
Ngoài ra, một trong những điểm mới của BLTTDS năm 2015 so với trước đây có liên quan đến Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa sơ thẩm là theo quy định
tại Điều 262 BLTTDS năm 2015, “sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án” Việc Kiểm
sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án không đồng nghĩa với việc Kiểm sát viên tham gia vào tranh luận, bởi Kiểm sát viên chỉ thực hiện quyền này sau khi các đương sự đã tranh luận và đối đáp xong Về mặt lý luận, quy định mới này đã làm dấy lên một cuộc tranh luận là VKS tham gia vào tranh tụng, can thiệp quyền tranh tụng của đương sự Tuy nhiên, trên thực tế, quy định mới này có ý nghĩa giúp cho Hội đồng xét xử có thêm một “kênh thông tin” về hướng giải quyết vụ án, bên cạnh kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, để có thể ra một phán quyết
có căn cứ và đúng pháp luật
1.3.2 Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong thủ tục phúc thẩm
1.3.2.1 Bảo đảm quyền kháng cáo của các bên đương sự
Một trong những nguyên tắc quan trọng của TTDS là bảo đảm chế độ xét xử
sơ thẩm, phúc thẩm Theo Điều 17 BLTTDS năm 2015, bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử
phúc thẩm “Tính chất của xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực
cứ để vụ án được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Có thể hiểu, kháng cáo thể hiện
ý chí của đương sự không đồng ý với phán quyết sơ thẩm của Tòa án nên chống án lên Tòa án cấp cao hơn để tiếp tục tranh tụng với bên đương sự phía đối tụng ở cấp
30 Xem Điều 270 BLTTDS năm 2015