Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, chính sách bảo hiểm xã hội đã có những đóng góp không nhỏ vào việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về bảo đảm đòi sống cho người
Trang 1THỰC TIÊN
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
G IẢ I THƯỞNG “ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU K H OA H ộ c
NĂM 2005
Đ Ầ U T Ì M H IỂ U C ơ S Ở L Ý I
:c XÂY D Ụ N G Y Ầ G Ĩ Ắ Í P H Ì
Trang 2cứu
NĂM 2005
Tên công trình
THỰC TIỄN VIỆC XÂY DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Trang 3Mở đầu 1
1.2.2 Chính sách bảo hiểm xã hội giai đoạn từ 1/1/1995 và một số tồn tại
Tài liệu tham khảo
Trang 4Từ khi Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời cho đến nay, công tác bảo hiểm xã hội của nước ta đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần giúp người lao động ổn định đời sống do mất hoặc giảm thu nhập vì ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, già yếu, mất người lao động chính trong gia đình hoặc những rủi ro khác bảo đảm sự ổn định chung, gcp phần vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.
Trải qua các cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ cũng như công cuộc đổi mới hiện nay, đã có những ảnh hưởng đến chính sách xã hội nói chung và chính sách bảo hiểm xã hội nói riêng Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, chính sách bảo hiểm xã hội đã có những đóng góp không nhỏ vào việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng về bảo đảm đòi sống cho người lao động và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của đất nước
Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhiều chính sách kinh tế - xã hội cũng như nhiều thành tựu kinh tế - kỹ thuật - văn hoá, đã có những bưóc tiến đáng
kể, tốc độ hội nhập với thế giới không ngừng tăng lên Trước tình hình đó, chính sách bảo hiểm xã hội trong tổng thể chính sách xã hội bộc lộ nhiều hạn chế, xu hướng thay đổi và phát triển đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định, thi hành chính sách bảo hiểm xã hội nhiều vấn đề như: mối quan hệ giữa chính sách bảo hiểm xã hội với bảo trợ xã hội, an sinh xã hội; đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội; việc tách chế độ trợ cấp ra khỏi chính sách bảo hiểm xã hội; bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện; an toàn quỹ bảo hiểm xã hội trong cơ chế thị trường
Hàng năm có thêm nhiều người nghỉ để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, nhiều hoạt động bảo hiểm xã hội khác ra đời, kinh tế phát triển, đời sống ngày càng cao, nhu cầu của người hưởng bảo hiểm xã hội ngày càng lớn, việc chu chuyển lao
Trang 5động trong nước và nước ngoài cũng như người nước ngoài vào Việt Nam ngày càng tăng thì chính sách bảo hiểm xã hội, cũng như các hoạt động từ thiện ngày càng có vai trò quan trọng Việc bảo đảm chính sách bảo hiểm xã hội có tác động rất lớn đến tốc độ tăng trưởng, tốc độ phát triển của quốc gia nói chung và của từng cơ quan, doanh nghiệp, gia đình nói riêng Pháp luật, chím sách bảo hiểm xã hội hiện hành được quy định trong chương XII Bộ luật lao động, Nghị định 12/CP về ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội và một số nghị định khác.
Tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá X, Chính phủ đã trình Quốc hội cho ý kiến
về dự án Luật bảo hiểm xã hội Việc chọn nội dung “Bước đầu tìm hiểu cơ sở lý luận, thực tiễn việc xây dựng và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài nghiên cứu với hy vọng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã
Thực hiện báo cáo nghiên cứu khoa học tôi dựa vào hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hổ Chí Minh; các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến bảo hiểm xã hội; đánh giá một cách hệ thống các vấn đề tồn tại trong hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo hiểm xã hội; phân tích chính sách bảo hiểm xã hội; trình bày một số dự báo, qua đó đề xuất các kiến nghị để làm cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp duv vật biện chứng, duy vật lịch sử, các phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp diễn giải, quy nạp trong quá trình nghiên cứu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo; nội dung chính của
đề tài gồm 3 phần;
Phần 1: Tìm hiểu chung về bảo hiểm xã hội
Phần 2: Các chế độ bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay
Phần 3: Xu hướng hoàn thiện và một số kiến nghị
Trang 6PHẦN 1
1.1 Khái niệm và các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội
1.1.1 Bảo hiểm x ã hội
Hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên ra đời trên thế giới vào giữa thế kỷ XIX là công trình của Chính phủ Đức dưới thời Thủ tướng Bismark (1883-1889), lúc bấy giờ các chính phủ địa phương đã lập ra các quỹ ốm đau mà người lao động bắt buộc phải đóng góp Khi xảy ra ốm đau thì các chế độ hưởng sẽ được chi trả cho người lao động, các chế độ bảo hiểm ốm đau đầu tiên này được nối tiếp bởi các chế độ bảo hiểm khác như: thương tật trong lao động, tàn tật và tuổi già Với cơ chế ba bên (Nhà nước - giới chủ - giới thợ) cùng đóng góp nhằm bảo hiểm cho người lao động trong một số trường hợp họ gặp rủi ro nhưng điều cần chú ý là chính tình đoàn kết của người lao động đã đóng vai trò nổi bật trong các quan niệm, sự thiết lập và việc điều hành chế độ đó
Khái niệm bảo hiểm dựa trên nguyên tắc cùng chia sẻ rủi ro Điều này đòi hỏi người nào tham gia bảo hiểm và được chế độ đó che chắn phải đóng góp cho một quỹ chung Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp do tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động, thông qua việc hình thành, sử dụng một nguồn quỹ tài chính mà các bên tham gia bảo hiểm xã hội đóng góp, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của ngưòi lao động và gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội”
Bảo hiểm xã hội từ khi xuất hiện đến nay luôn luôn phát huy tác dụng trong lúc người lao động gặp khó khăn hiểm nghèo do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già trên cơ sở những cam kết đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động cho một bên thứ ba (cơ quan bảo hiểm) trước khi xảy ra những biến
cố đó Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội không trực tiếp chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm khi họ ốm đau, tai nạn, sắp xếp việc làm cho người mất việc làm mà chỉ
Trang 7giúp họ giữ thăng bằng phần thu nhập bị giảm, bị mất hoặc giúp họ trang trải phần chi tiêu bị tăng cao đột xuất do gặp các rủi ro nói trên.
Như vậy, Bảo hiểm xã hội được hiểu theo nhiều góc độ:
- v ề pháp luật, Bảo hiểm xã hội là chế độ pháp lý, là tổng hợp các quy định của Nhà nước để bảo vệ người lao động thông qua việc trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong các trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tuổi già hoặc chết
- Về mặt xã hội, Bảo hiểm xã hội được hiểu đó là sự liên kết giữa các bên tham gia là người lao động và Nhà nước trên cơ sở lợi ích chung
- Về mặt kinh tế, Bảo hiểm xã hội được hiểu đó là sự tổ chức, phân phối quỹ Bảo hiểm xã hội tập trung được sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội, nhằm bảo đảm thu nhập, ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tuổi già hoặc chết
1.1.2 Các nguyên tắc của bảo hiểm x ã hội
1.1.2.1 Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp lý Để đảm bảo thực hiện hài hoà các nội dung nói trên và đạt được mục tiêu mà bảo hiểm xã hội đặt ra thì việc thực hiện bảo hiểm xã hội trước hết là trách nhiệm của Nhà nước Trách nhiệm đó thể hiện: Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội thông qua việc ban hành các quy định pháp luật
về bảo hiểm xã hội và kiểm tra việc thực hiện các quy định đó Nhà nước tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ mà quy định chính sách quốc gia về bảo hiểm xã hội nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần
ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ khi người lao động bị suy giảm khả năng lao động hoặc gặp các rủi ro, khó khăn như chết, thất nghiệp
Mặt khác quỹ bảo hiểm xã hội với ý nghĩa là một quỹ tích luỹ hình thành trên
cơ sở đóng góp ba bên (Nhà nước - người sử dụng lao động - người lao động) nhằm giúp đỡ về mặt vật chất cho người lao động khi họ gặp các rủi ro, khó khăn không chỉ khi đang tham gia quan hệ lao động (người sử dụng lao động và người lao động) thì Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội và trong trường hợp cần
Trang 8thiết Nhà nước có các biện pháp để bảo toàn giá trị quỹ, đảm bảo sự an toàn về tài chính cho quỹ bảo hiểm xã hội.
Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 56 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Điều 140 Bộ luật lao động
1.1.2.2 Thực hiện bảo hiểm xã hội trên cơ sở đón ẹ ẹóp của nẹười lao độnạ.
Bảo hiểm xã hội là một trong những hình thức phân phối tổng sản phẩm quốcdân nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải dựa trên cơ sở sự kết hợp hài hoà giữa cống hiến và hưởng thụ (hay người ta còn gọi là dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động) Nghĩa là phải đảm bảo họp lý giữa đóng góp và hưởng thụ, tức là phải căn
cứ vào mức đóng góp của người lao động cho xã hội thể hiện thông qua mức tiền công, tiền lương, thời gian đóng góp cho quỹ bảo hiểm xã hội để từ đó quy định mức trợ cấp và độ dài thời gian hưởng trợ cấp phù hợp với sự đóng góp cho xã hội của người lao động Vì vậy, rất khó chấp nhận về mặt kinh tế, khi một người lao động vừa tham gia bảo hiểm xã hội trong một thời gian rất ngắn lại được hưởng ngay một mức trợ cấp cao, ví dụ: chế độ thai sản (ít nhất 5 tháng trợ cấp bằng 100% tiền lương) hoặc hưởng chế độ trợ cấp ốm đau suốt đời nếu mắc bệnh cần chữa trị dài ngày, khi người lao động mới tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian ngắn
Tuy nhiên, khi xem xét nguyên tắc này cần đặt chúng trong mối quan hệ phù hợp với nguyên tắc khác của bảo hiểm xã hội Bởi vì, bảo hiểm xã hội, bên cạnh nội dung kinh tế còn chứa đựng nội dung xã hội Do đó, người lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội không có nghĩa chắc chắn sẽ hưởng mọi chế độ bảo hiểm xã hội (ví dụ: chế độ thai sản nói chung chỉ áp dụng với lao động nữ nhưng lao động nam cũng tham gia đóng góp)
Để dung hoà yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội của bảo hiểm xã hội, vai trò của pháp luật rất quan trọng
1.1.2.3 Nguyên tắc mọi người lao độn? đêu có quyền tham ạia và hưởnẹ bảo hiểm xã hội.
Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hợp quốc ngày 12/10/1948 ghi nhận:
“Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởnẹ bảo hiểm xã
h ộ i Điều 56 Hiến pháp 1992 nước ta quy định: “Nhà nước quy định chính sách,
Trang 9chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức nhà nước và những nẹười làm công ăn
lương Mặt khác, ý nghĩa xã hội của bảo hiểm xã hội chỉ được thực hiện khi bảo
hiểm xã hội được áp dụng rộng rãi đối với tất cả mọi người lao động, không có sự
phân biệt
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo cho người lao động làm việc trong bất kỳ
thành phần kinh tế nào, bất kỳ loại hình tổ chức lao động nào - khi có đủ điều kiện,
dấu hiệu phát sinh quan hệ bảo hiểm xã hội thì đều được hưởng quyền lợi về bảo
hiểm xã hội không phân biệt hình thức pháp lý làm phát sinh quan hệ lao động, giới
tính, tuổi tác Tuy nhiên, việc quy định các chế độ bảo hiểm xã hội hay nói cách
khác là khả năng khống chế, khắc phục các rủi ro đến đâu còn phụ thuộc vào điều
kiện kinh tế - xã hội cụ thể
1.1.2.4 Mức bảo hiểm xã hội không được cao hơn mức tiền lươniị khi đanq làm việc và trong một số trường hợp không được thấp hơn mức trợ cấp bảo hiểm xã
hội tối thiểu.
Trợ cấp bảo hiểm xã hội được hiểu là khoản trợ cấp bằng tiền cho người lao
động thay cho thu nhập bị bỏ lỡ hoặc những chi tiêu tăng đột xuất khi họ gặp những
khó khăn rủi ro khác nhau trong cuộc sống
Chính vì vậy, mức trợ cấp này về mặt nguyên tắc phải thấp hơn tiền lương khi
đang làm việc, tuy nhiên phải tính đến những nhu cầu sinh hoạt tối thiểu cho người
được bảo hiểm Do đó, Nhà nước cần phải có quy định khống chế mức trợ cấp bảo
hiểm xã hội tối thiểu nhằm bảo vệ đời sống của người được hưởng bảo hiểm xã hội
trong những trường hợp nhất định
Trợ cấp bảo hiểm xã hội tối thiểu là mức bảo hiểm thu nhập thấp nhất mà
người được bảo hiểm xã hội có thể nhận để đảm bảo những nhu cầu tối thiểu khi có
các điều kiện bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
Trợ cấp bảo hiểm xã hội tối thiểu là mức trợ cấp bắt buộc do Nhà nước quy
định mà cơ quan bảo hiểm xã hội phải trả cho người được hưởng bảo hiểm xã hội
trên cơ sở mức thu nhập của họ Do vậy, vấn đề trợ cấp bảo hiểm xã hội tối thiểu
không đặt ra với những trường hợp hưởng bảo hiểm xã hội không tính trên cơ sở
mức thu nhập của người được bảo hiểm như: trợ cấp thương tật tai nạn ỉao động,
Trang 10bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tiền tuất hàng tháng Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội tối
thiểu được quy định, thay đổi tuỳ theo điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể và thường
căn cứ vào một số yếu tố liên quan như: mức sống tối thiểu, tiền lương tối thiểu, nhu
cầu chi tiêu tối thiểu khi có bảo hiểm xã hội phát sinh
1.1.2.5 Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích, các khả nănẹ và phương thức thực hiện bảo hiểm xã hội.
Các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm xã hội ít nhiều đều nhận được các lợi ích
khi tham gia quan hệ Nhưng những lợi ích con người hướng tới không phải bao giờ
cũng thống nhất với nhau mà trái lại có lúc mâu thuẫn với nhau
Đối với người lao động, khi sử dụng thu nhập của mình trước hết họ phải
dành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh sống của bản thân, phần còn lại mới xem xét
để đóng phí bảo hiểm xã hội Giả sử thu nhập của người lao động được giữ nguyên,
nếu đóng phí bảo hiểm xã hội thấp lợi ích trước mắt của người lao động được tăng
lên Nhưng khi họ ốm đau, mất việc làm, tuổi già thì đương nhiên chỉ được hưởng
trợ cấp thấp Nếu muốn được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội cao, lẽ đương nhiên sẽ
phải đóng phí bảo hiểm xã hội cao hơn thì phần chi cho đời sống hàng ngày phải
giảm đi Tương tự như vậy, việc tăng mức trợ cấp hoặc tăng thòi gian nghỉ làm việc
và hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ rất có lợi cho người lao động nhưng lại làm
tăng giá thành, ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh làm bất lợi cho người sử dụng lao
động Vì vậy, trong việc xây dựng các quy định hoặc điều hành bảo hiểm xã hội cần
phải tìm ra giải pháp để kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt cũng như lâu dài của các
bên trong quan hệ bảo hiểm xã hội
Để có thể chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động phải có quỹ tài
chính bảo hiểm xã hội độc lập và tập trung Nguồn cơ bản để hình thành quỹ này là
đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước Muốn phát triển
bảo hiểm xã hội thì phải tăng quỹ, muốn tăng quỹ thì phải tăng nguồn thu nhưng
nguồn thu từ các đóng góp của các chủ thể trên lại có những giới hạn không cho
phép vượt Vì vậy, phải tích cực tăng cường các nguồn thu khác để bổ sung như đầu
tư phần nhàn rỗi tương đối của quỹ bảo hiểm xã hội vào hoạt động sinh lợi (một số
nước bảo toàn và tăng nguồn quỹ bảo hiểm xã hội bằng cách Ihông qua hoạt động
tái bảo hiểm) Ngoài ra, còn có thể tìm tòi, áp dụng nhiểu phương cách bảo hiểm xã
Trang 11hạn, Nhà nước có thể ban hành luật pháp chuyên một số chế độ bảo hiểm xã hội cho các chủ thể trực tiếp của quan hệ bảo hiểm xã hội (người sử dụng lao động và người lao động) thực hiện với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thông qua mối quan hệ của
cơ chế hai bên, ba bên
1.2 Sơ lược lịch sử ra đời của chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam
Cách mạng tháng 8 thành công, cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự ra đời của bảo hiểm xã hội ở Việt Nam là Hiến pháp năm 1946 Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước đã thông qua các sắc lệnh 29/SL ngày 12/3/1947, sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 quy định về các trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức Nhà nước
Hiến pháp năm 1959 đã thừa nhận công nhân viên chức có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội Quyền này được cụ thể hoá trong Điều lệ tạm thời về bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân ban hành kèm theo Nghị định số 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ Việc thực hiện những chính sách bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức, quân nhân và gia đình họ, động viên sức người, sức của cho thắng lợi của cuộc kháng chiến chống xâm lược
Đất nước ta thực hiện cải cách kinh tế và chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường từ năm 1986 Sự thay đổi đó cho thấy cần
có những đổi mới tương ứng về chính sách xã hội và chính sách bảo hiểm xã hội
Hiến pháp năm 1992 nêu rõ: “Nhà nước thực hiện c h ế độ bảo hiểm xã hội đối với
công chức Nhà nước và n ạ ười làm công ăn lươn ạ, khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao đ ộ n q \ Trên cơ sở đó, Chính phủ ban
hành Nghị định 43/CP ngày 22/6/1993 quy định tạm thời chế độ bảo hiểm xã hội Sau một thời gian thực hiện, với việc đúc rút kinh nghiệm và từ yêu cầu của thực tế đời sống, pháp luật bảo hiểm xã hội được xây dựng thành một chương độc lập (XII) trong Bộ luật Lao động ngày 23/6/1994, đã tạo ra cơ sở pháp lý cho việc đổi mới,
Trang 12cải cách chế độ bảo hiểm xã hội Để cụ thể hoá các quy định của Bộ luật Lao động, Chính phủ ban hành Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 kèm theo Điều lệ bảo hiểm
xã hội; Nghị định 45/CP ngày 15/7/1995 về việc ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân; Nghị định 19/CP ngày 16/2/1995 về việc thành lập Bảo hiểm xã hội Việt Nam Sau khi Bộ Luật Lao động được sửa đổi, bổ sung thì một số nội dung
về bảo hiểm xã hội cũng được sửa đổi Theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 01/2003/NĐ-CP ngày 09/01/2003 về việc sửa đổi, bổ sung môt số điểu của Điều
lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 và ban hành Nghị định số 89/2003/NĐ-CP ngày 05/08/2003 sửa đổi một số điều của Điều
lệ bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP ngày 15/07/1995 của Chính phủ; Nghị định số 208/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004
về điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội
Như vậy, việc xây dựng và pháp triển pháp luật bảo hiểm xã hội ở nước ta luôn phản ánh và song hành với các yêu cầu của đời sống trên cơ sở điều kiện kinh
tế - xã hội cụ thể
Văn kiện Đại hội lần thứ VIII cũng đã nêu rõ “mở rộnẹ chế độ bảo hiểm xã
hội đối với người lao động thuộc các thành phần kinh têu Ngày 26/5/1997, Ban
chấp hành Trung ương đã ban hành chỉ thị 15- CT/TW về việc tăng cường lãnh đạo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đã xác định chính sách bảo hiểm xã hội là chính sách lớn góp phần ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật
tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước
Văn kiện Đại hội Đảng IX cũng đã nêu: “Khẩn trương mở rộnẹ hệ thốnạ bảo
hiểm xã hội và an sinh xã hội Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm với nqười lao độnẹ thất nạhiệp”.
Các văn bản trên thê hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với cuộc sống của người lao động và nhân dân, là định hướng quan trọng cho đổi mới từng bước chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
1.2.1 Chính sách bảo hiểm xã hội và các giaỉ đoạn phát triển trước năm 1995.
Trang 131.2.1.1 Giai đoạn từ tháno, 8 năm 1945 đến năm 1960.
Bảo hiểm xã hội là một trong những nội dung quan trọng của chính sách xã hội, nên ngay sau khi cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, mặc dù gặp muôn vàn khó khăn nhưng Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ban hành và sửa đổi, bổ sung chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội để áp dụng cho người lao động, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở thời kỳ này Riêng đối với công nhân viên chức Nhà nước và quân nhân, Chính phủ đã nhiều lần ban hành các chính sách bảo hiểm xã hội gồm các chế độ trợ cấp ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, già yếu, chế
độ trợ cấp gia đình khi công nhân viên chức qua đời để đảm bảo đời sống cho họ và gia đình, góp phần đảm bảo ổn định xã hội
Thực tế này được nhận thấy ngay từ những năm đầu của kháng chiến chống Pháp, Chính phủ ta đã áp dụng chế độ hưu trí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số công chức đã làm việc dưới thời Pháp, sau đó đi theo kháng chiến nay đã già yếu Khi Cách mạng tháng 8 thành công, do điều kiện kinh tế rất khó khăn, nên chế độ này thực hiện đến năm 1949 thì không thực hiện nữa
Đến năm 1950 Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành Quy chế công chức và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành Quy chế công nhân Theo sắc lệnh này, thì cán bộ, công chức, công nhân làm việc cho Chính phủ được hưởng chế độ hưu trí
- Điều 92 của Sắc lệnh số 76/SL quy định: “Công chức của ngạch thuộc hạng thường trú được về hưu khi đủ 30 năm công tác hay đủ 55 tuổi; đối với công chức thuộc hạng lưu động được về hưu khi đủ 50 tuổi hay 25 năm làm việc”;
- Điều 42 của Sắc lệnh số 77/SL quy định: “Công nhân làm việc được 30 năm hoặc đủ 55 tuổi được về hưu”;
Nhưng cũng do tình hình kinh tế - tài chính giai đoạn này khó khăn, nên những quy định trên được thực hiện cho công nhân viên chức già yếu về nghỉ chỉ được hưởng trợ cấp 1 lần, với mức 1 năm công tác được 1 tháng lương và phụ cấp, tối đa không quá 6 tháng lương theo điều 35 (Sắc lệnh số 77/SL) quy định
Đối với những người bị mất sức lao động, sau ngày hoà bình lập lại (7/1954) công nhân viên chức mất sức lao động do ốm yếu được trợ cấp 1 lần theo Nghị định
Trang 14số 594/TTg ngày 11/12/1957 với mức bằng 100.000 đồng (nếu tham gia kháng chiến), bằng 1 tháng tiền lương (đối với công nhân viên chức lưu động).
Nhìn lại chế độ bảo hiểm xã hội đã ban hành trong thời kỳ này thấy rằng: các chế độ bảo hiểm xã hội chưa được thực hiện đầy đủ, quy định còn đơn giản, chỉ mới
áp dụng một số chế độ cơ bản, mức trợ cấp thấp có tính chất hỗ trợ cho cán bộ, công nhân viên chức kháng chiến khi ốm đau, già yếu nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu cho công nhân viên chức nhà nước; các khoản chi về hưu trí và mất sức lao động còn lẫn lộn với tiền lương nên rất khó khăn cho việc hạch toán, chính sách bảo hiểm xã hội chưa có quỹ riêng để thực hiện; 100% lấy từ nguồn chi ngân sách Tuy vậy, chính sách bảo hiểm xã hội ở giai đoạn này đã có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết khó khăn cho công nhân viên chức khi tuổi già hoặc mất sức lao động
1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1961 đến thánẹ ỉ năm 1995.
Hoà bình lập lại, từ năm 1960, sau khi hoàn thành kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, miền Bắc đã bước vào kế hoạch dài hạn 5 năm lần thứ nhất Lực lượng công nhân viên chức lúc này ngày càng đông hơn Trước tình hình đó, Nhà nước thấy cần phải bổ sung chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp
và đáp ứng được mục tiêu không ngừng cải thiện đời sống cho công nhân viên chức
Vì vậy, ngày 27/12/1961 Chính phủ đã ban hành Điều lệ bảo hiểm xã hội tạm thời kèm theo Nghị định số 218 về các chế độ bảo hiểm xã hội cho công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang Điều lệ quy định:
- Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là công nhân viên chức nhà nước, lực lượng vũ trang
- Đã hình thành nguồn để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội trong ngân sách Nhà nước Nguồn được hình thành trên cơ sở đóng góp của cơ quan, xí nghiệp và từ ngân sách Trung ương Theo quy định, hàng tháng doanh nghiệp nộp cho Quỹ bảo hiểm xã hội theo tỷ lệ phần trăm (%) so với quỹ tiền lương của công nhân viên chức trong xí nghiệp và được hạch toán vào giá thành sản phẩm Mức đóng góp của các xí nghiệp là 4,7% so với tổng quỹ lương Trong đó 1% để chi 3 chế độ dài hạn và 3,7% chi 3 chế độ ngắn hạn Đối với phần từ ngân sách Nhà nước, hàng năm Quốc hội thông qua ngân sách cấp cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước
Trang 15- Áp dụng 6 chế độ bảo hiểm xã hội là: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất cho công nhân viên chức.
- Năm 1985, khi Nhà nước ta thực hiện cải cách chính sách tiền lương lần thứ
2, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 về việc
bổ sung, sửa đổi chế độ bảo hiểm xã hội cho công nhân viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang Đặc điểm của chính sách bảo hiểm xã hội theo Nghị định này thể hiện những nội dung cơ bản sau:
+ Thứ nhất, đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội là công nhân viên chức Nhà
nước và lực lượng vũ trang Lực lượng này đến năm 1985 có khoảng 3,5 triệu người (chiếm khoảng 12% lực lượng lao động xã hội) Còn lại 88% lao động làm việc ở các đơn vị sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngoài quốc doanh chưa được tham gia
+ Thứ hai, Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành một phần từ sự đóng góp
của cơ quan, xí nghiệp và người lao động; phần còn lại do Ngân sách nhà nước cấp Mức đóng góp tăng lên 13% so với tổng quỹ lương của xí nghiệp Trong đó tách làm
2 khoản: 8% để chi trả 3 chế độ mất sức lao động, hưu trí và tử tuất do Bộ lao động - Thương binh và Xã hội quản lý; còn 5% để chi trả 3 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý Mặc
dù Nghị định số 236/HĐBT quy định khá chặt chẽ trách nhiệm đóng góp của xí nghiệp, nhưng thời gian này do các đơn vị sản xuất gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ, nên hầu hết nộp thiếu hoặc không nộp được, nên dẫn đến tình trạng thu không đủ chi, phần ngân sách nhà nước cấp năm sau cao hơn năm trước Đến năm 1993, ngân sách Nhà nước cấp bù tới 92,7% trong tổng sô tiền chi bảo hiểm xã hội
+ Thứ ba, về tổ chức quản lý bảo hiểm xã hội ở giai đoạn trước năm 1986,
nguồn tài chính bảo hiểm xã hội do Bộ lao động - Thương binh và Xã hội quản lý theo hệ thống quản lý ba cấp
+ Thứ tư, theo Nghị định 236/HĐBT của Hội đổng Bộ trưởng, trong chính
sách bảo hiểm xã hội có 6 chế độ áp dụng cho người lao động trong các trường hợp
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghiề nghiệp, mất sức lao động hoặc chết Các chế định bảo hiểm xã hội được quy định chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động gắn với quá trình cống hiến của họ Đặc
Trang 16biệt, đối với lao động làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, làm việc ở các
vùng xa xôi, hẻo lánh, nơi hải đảo, và lực lượng vũ trang chiến đấu ở chiến trường
được quan tâm, ưu tiên trong việc tính thời gian công tác, như: quy định quy đổi thời
gian công tác 1 năm làm việc thực tế được tính thành 1 năm 6 tháng (nếu trực tiếp chiến đấu ở chiến trường gian khổ)
Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội được tính theo tỷ lệ (%) trên mức lương cơ bản
của công nhân viên chức trước khi nghỉ hưu và mức trợ cấp bảo hiểm xã hội theo
Nghị định số 236/HĐBT được nâng lên để đảm bảo đời sống cho công nhân viên
chức, như: mức lương hàng tháng đối với nam có đủ 30 năm công tác, và nữ có đủ
25 năm công tác được tính bằng 75% lương chính và các khoản phụ cấp theo lương,
ngoài ra cứ 1 năm làm việc thêm được tính thêm 1 % tối đa lương hưu được hưởng là
95% lương chính và các khoản phụ cấp (nếu có) Từ những quy định đó mà đã có
trường hợp người hưởng hưu trí có mức lương hơn 100% lương họ lĩnh trước khi
nghỉ hưu
Đến cuối năm 1993, do thay đổi cơ chế quản lý nền kinh tế, chính sách bảo
hiểm xã hội cũng bắt đầu thay đổi từ cơ chế tập trung, bao cấp sang hạch toán, gắn
quyền lợi với trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của người lao động Việc tổ chức
quản lý Nhà nước và quản lý bảo hiểm xã hội như trên đã bộc lộ 1 số tồn tại, không
đáp ứng yêu cầu về xây dựng, bổ sung chính sách cũng như tổ chức thu, chi và quản
lý quỹ bảo hiểm xã hội Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra là phải đổi mới hệ thống tổ chức
quản lý nhà nước và sự nghiệp bảo hiểm xã hội
1.2.1.3 Đánh giá chính sách bảo hiểm xã hội trước năm 1995.
Qua nghiên cứu phân tích toàn bộ các chính sách bảo hiểm xã hội do Nhà
nước ban hành để thực hiện cho công nhân viên chức từ khi thành lập nước đến
tháng 1 năm 1995, có thể rút ra kết luận như sau:
* M ặt được:
chống Pháp và chống Mỹ, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn quan tâm đến đời
sống của cán bộ công nhân viên chức Nhà nước và các lực lượng vũ trang, nên đã
kịp thời ban hành các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội cho họ khi tuổi già, mất
sức lao động, ốm đau hoặc chết Qua gần 50 năm thực hiện, hàng triệu người đã
Trang 17được hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, làm cho đội ngũ công nhân viên
chức gắn bó với cách mạng, với chính quyền, khuyến khích họ hăng say chiến đấu
trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như hăng hái tham gia lao động, sản xuất,
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
- Chính sách bảo hiểm xã hội đã đảm bảo điều kiện thiết yếu về vật chất và
tinh thần cho người lao động và gia đình họ trong những trường hợp gặp rủi ro
không làm việc, không có thu nhập, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
- Kết quả xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội cho công nhân
viên chức và lực lượng vũ trang trong 50 năm qua tuy chưa đầy đủ và hoàn thiện về
cơ chế chính sách, nhưng đó là cơ sở thực tiễn vững chắc cho việc nghiên cứu nhằm
bổ sung, sửa đổi và đổi mới chính sách bảo hiểm xã hội sau này, đặc biệt là cho việc
triển khai xây dựng Chương 12 về bảo hiểm xã hội trong Bộ luật Lao động và Điều
lệ bảo hiểm xã hội đã được ban hành ngày 26/1/1995 kèm theo Nghị định số 12/CP
* Tồn tại: Các chính sách bảo hiểm xã hội đã ban hành ở giai đoạn này, cũng
bộc lộ một số tồn tại sau:
- Thứ nhất, phạm vi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chỉ giới hạn cho công
nhân viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước, còn đại bộ phận (88%) lao động
làm việc ở khu vực tập thể và cá thể chưa được tham gia bảo hiểm xã hội Điều này
đã hạn chế việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và việc phát huy tác
dụng của nó trong việc đảm bảo đời sống cho người lao động làm việc ở mọi thành
phần kinh tế, chưa thể hiện rõ sự công bằng đối với người lao động làm việc trong
và ngoài khu vực Nhà nước
- Thứ hai, nguồn chi bảo hiểm xã hội chủ yếu lấy từ ngân sách Nhà nước
Quyền lợi và trách nhiệm của các bên tham gia bảo hiểm xã hội chưa được thiết lập
Sự đãi ngộ theo các chế độ hưu trí, mất sức lao động còn mang tính bình quân,
nhìn chung là thấp và bất hợp lý Các mức trợ cấp bảo hiểm xã hội không đảm bảo
ổn định cuộc sống cho đối tượng được hưởng chính sách
- Thứ ba, việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội mang tính hành
chính nhà nước cao, có sự lẫn lộn với chức năng đoàn thể, làm hạn chế hiệu quả thực
hiện chính sách bảo hiểm xã hội của Nhà nước
Trang 181.2.2 Chính sách bảo hiểm x ã hội giai đoạn từ sau ngày 1 tháng 1 năm 1995 và
đánh giá chính sách pháp luật bảo hiểm x ã hội ở nước ta hiện nay.
1.2.2.1 Chính sách, pháp luật bảo hiểm xã hội giai đoạn từ sau ngày 1 tháng
1 năm 1995.
Trước năm 1990, chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam chỉ áp dụng trong
khu vực Nhà nước, nguồn chi các chế độ bảo hiểm xã hội chủ yếu do ngân sách nhà
nước đảm bảo, người lao động hầu như không phải đóng Thời gian người lao động
làm việc cho Nhà nước được tính là thời gian công tác để hưỏng bảo hiểm xã hội Từ
năm 1990 đến trước năm 1995, chính sách bảo hiểm xã hội đã chuyển dần theo cơ
chế đóng hưởng để phù hợp với cơ chế quản lý mới nền kinh tế nhiều thành phần
Ngày 23/6/1994, tại Kỳ họp thứ V, Quốc hội khoá IX đã thông qua Bộ luật
Lao động và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1995, trong đó Chương 12 quy định
các nguyên tắc chung về bảo hiểm xã hội Để thi hành quy định tại Chương 12,
Chính phủ đã ban hành Điều lệ Bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP ngày
26/1/1995, quy định thực hiện bảo hiểm xã hội đối với công chức, công nhân viên
chức Nhà nước và người lao động theo loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và Nghị
định số 45/CP ngày 15/7/1995, thực hiện bảo hiểm xã hội đối với sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân Đây là
văn bản chính thức đầu tiên của Nhà nước ta kể từ khi thành lập đến nay về chính
sách bảo hiểm xã hội và đã có nhưng nội dung đổi mới cơ bản phù hợp với cơ chế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong Điều lệ bảo hiểm xã hội này đã xác định rõ mục tiêu cơ bản là thực
hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội được quy định trong Bộ luật lao động đối
với người lao động khi họ rơi vào những trường hợp rủi ro ngoài ý muốn trong quá
trình làm việc; quyền lợi của người phụ nữ khi sinh đẻ và nuôi con; quyền lợi của
người lao động khi hết tuổi lao động được quyền nghỉ hưu
Nội dung của chính sách bảo hiểm xã hội mới đã giải quyết các vấn đề rất cơ
bản có tác dụng nhiều mặt trong việc đảm bảo an toàn xã hội và có ý nghĩa chính trị
- xã hội rất quan trọng đó là:
Trang 19- Thứ nhất, phạm vi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội lần này rộng lớn hơn,
được áp dụng cho mọi người lao động trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong mọi thành phần kinh tế;
- Thứ hai, người lao động và người sử dụng lao động đều có trách nhiệm đóng
bảo hiểm xã hội (người lao động đóng 5% và người sử dụng lao động đóng 15% cho
5 chế độ và đối với chế độ bảo hiểm y tế, người lao động đóng 1% và người sử dụng lao động đóng 2%) Trách nhiệm này là bắt buộc theo nguyên tắc có đóng có hưởng, đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít và có chia sẻ rủi ro;
- Thứ ba, Quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu được hình thành trên cơ sở đóng góp
của người sử dụng lao động và người lao động, Nhà nước có hỗ trợ thêm Trước hết Nhà nước chịu trách nhiệm bảo đảm tiền lương hưu cho những người đã hưởng hưu trí từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước, ngay cả khi chỉ số giá cả tăng Cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quản lý, sử dụng nguồn quỹ theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển vốn Đồng thời cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm cùng người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình Nhà nước có chính sách để khuyên khích sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội khi nguồn quỹ này chưa sử dụng
- T h ứ tư, Nhà nước thực hiện quản lý thống nhất các chế độ bảo hiểm xã hội,
thể hiện qua việc ban hành các quy định cụ thể về bảo hiểm xã hội, tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội Chính phủ thành lập
cơ quan bảo hiểm xã hội Việt Nam, có chức năng và nhiệm vụ quản lý bảo hiểm xã hội, thực hiện thu và chi trợ cấp cho các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội Đây là điều kiện để đảm bảo quyền lợi cho người lao động được công bằng theo sự đóng góp, khắc phục dần tình trạng giữ bảo hiểm xã hội như một khoản thu và một khoản chi ngân sách nhà nước
1.2.2.2 Đánh giá chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta ẹiai đoạn hiện nay.
* Mặt được:
- Thứ nhất, phạm vi đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội được mở rộng đến
mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế và trong các tổ chức kinh tế - xã hội Đến nay, đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã được mở
Trang 20rộng, chiếm khoảng 22,5% lực lượng lao động xã hội (cả nước có khoảng 41 triệu
lao động, trong đó có khoảng 10 triệu người có quan hệ lao động thuộc đối tượng
tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc)
Quy định này đã tạo ra sự bình đẳng giữa những người lao động trong các
thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phân bố lại lao động một cách linh hoạt
theo yêu cầu của thị trường Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đã tăng lên đáng
kể từ 3,2 triệu người năm 1996 lên 5,8 triệu người năm 2004 (tăng gấp 2 lần) Trong
đó, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội ở khu vực ngoài quốc doanh (kể cả doanh
nghiệp liên doanh) có xu hướng tăng
Tuy số lượng người tham gia còn nhỏ, mới chiếm khoảng 13% người trong độ
tuổi lao động, nhưng đã mở ra cơ chế tạo tiền đề cho mọi người lao động có thể
tham gia bảo hiểm xã hội Đây là kết quả có ý nghĩa kinh tế - chính trị - xã hội hết
sức quan trọng, có tác dụng tạo điều kiện cho nền kinh tế nhiều thành phần phát
triển, là yếu tố quan trọng để thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội khác nhau
như xoá đói giảm nghèo, việc làm
- Thứ hai, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của
người sử dụng lao động và người lao động với mức đóng góp bắt buộc hàng tháng là
20% trong đó: người lao động đóng 5% tiền lương và người sử dụng lao động đóng
15% so với tổng quỹ lương của đơn vị Quỹ đã hoạt động theo nguyên tắc hạch toán
thu chi, độc lập với ngân sách Nhà nước và được quản lý, sử dụng theo quy định của
pháp luật
Việc thực hiện cơ chế hình thành, quản lý và sử dụng quỹ trong chính sách
bảo hiểm xã hội hiện hành đã có một số kết quả bước đầu:
+ Số thu bảo hiểm xã hội hàng năm tăng lên Theo báo cáo của Bảo hiểm xã
hội Việt Nam: trước khi đổi mới cơ chế, gần 93% nguồn quỹ để chi trợ cấp bảo
hiểm xã hội dựa vào ngân sách Nhà nước, thì năm 1995 đã thu được 1.530 tỷ đồng,
năm 1996 thu được 2.570 tỷ đồng, cuối năm 1998 thu được 3.875 tỷ đồng, năm
1999 thu được 4.188 tỷ đồng, năm 2000 thu được 5.215 tỷ đồng, năm 2003 số thu là
9.620 tỷ đồng (tăng gần 4 lần so với năm 1996) và năm 2004 số thu đạt mức 10.704
tỷ đồng, tăng 11% so với số thu năm 2003 Từ chỗ quỹ chỉ có rất ít mang tính danh
6Ỏ
Trang 21nghĩa, đến nay quỹ bảo hiểm xã hội đã có kết dư lớn, tính đến hết năm 2004 số kết
dư của quỹ trên 39.000 tỷ đồng
+ Quỹ bảo hiểm xã hội được tách ra khỏi ngân sách Nhà nước, hạch toán độc
lập Phần quỹ nhàn rỗi đã được đầu tư tăng trưởng dưới nhiều hình thức Nếu phần
tăng thu được năm 1999 là 665 tỷ đổng, thì trong các năm 2002, 2003 mỗi năm là
1.800 tỷ đổng và năm 2004 thu 2.200 tỷ đồng Quỹ bảo đảm thu đủ chi và có phần
quỹ dự phòng bảo đảm cho việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội ổn định Như
vậy, kể từ năm 1995 chính sách bảo hiểm xã hội đã có nguồn quỹ riêng để thực hiện
chính sách, không còn lệ thuộc vào ngân sách như trước
+ Đê đảm bảo cho quỹ bảo hiểm xã hội cân đối giữa thu và chi, mức chi trả
các chế độ như hưu trí, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được
quy định cụ thể, chặt chẽ, phù hợp với mức đóng góp của người lao động Việc quy
định này là phù hợp với cơ chế quản lý quỹ theo chính sách hiện hành, đảm bảo cho
nguồn quỹ thu đủ chi, tồn tại và phát triển
Đây là một trong những kết quả có ý nghĩa kinh tế - chính trị - xã hội rất quan
trọng, góp phần hoàn thiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, củng cố và phát
triển hệ thống bảo hiểm xã hội, khắc phục những hạn chế về tài chính để thực hiện
chính sách bảo hiểm xã hội như trước đây
- Thứ ba, các chế độ bảo hiểm xã hội đã được hoàn thiện phù hợp với nhu cầu
thực tế của người lao động và khả năng đóng góp của họ Theo quy định, chính sách
bảo hiểm xã hội hiện hành chỉ có 5 chế độ đó là: chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất; không có chế độ mất sức lao động Tuy
nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho người lao động, Nhà nước quy định những người
mất sức lao động từ 61% trở lên đã đủ 50 tuổi (đối với nam), 40 tuổi (đối với nữ), 45
tuổi (đối với nữ) và có 20 năm công tác được nghỉ hưu; hoặc người lao động có 20
năm công tác trong đó có 15 năm làm nghề đặc biệt nặng nhọc độc hại cũng được
nghỉ hưu không cần tính đến tuổi đời Điều kiện đê hưởng các chế độ bảo hiểm xã
hội cũng được quy định phù hợp với đóng góp của người lao động, gắn đóng góp với
hưởng thụ, khắc phục tính bình quân của các chính sách bảo hiểm xã hội trước đây
Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hàng năm đã giải quyết quyền
lợi cho hàng triệu người theo đúng các chế độ hiện hành, được người lao động đồng
Trang 22tình Ví dụ như năm 2000, số người lao động được hưởng trợ cấp ốm đau là 7,8 triệu
người với số tiền là 98,8 tỷ đồng; được hưởng chế độ thai sản là 98 ngàn người với
số tiền là 190 tỷ đồng; được hưởng chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp là
21 ngàn người với số tiền là 32,7 tỷ đồng; được hưởng chế độ hưu trí là 1,24 triệu
người với số tiền là 5.511 tỷ đồng
- Thứ tư, đã phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước và chức năng quản lý
sự nghiệp bảo hiểm xã hội Chính phủ giao cho Bộ lao động-Thương binh và Xã hội
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội, bao gồm các hoạt động:
xây dựng chính sách bảo hiểm xã hội; hướng dẫn các ngành, các cấp việc thực hiện;
kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách đã ban hành và giải quyết các khiếu nại
của đối tượng hưởng chính sách Năm 1995 tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam được
thành lập để thực hiện việc thu, chi và quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội
Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường Thông qua công tác thanh tra,
kiểm tra đã phát hiện ra nhiều trường hợp khai gian dối để hưởng chế độ, thu về cho
quỹ bảo hiểm xã hội hàng tỷ đổng Trong 10 năm, bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng
đã giải quyết được 53.000 trường hợp tồn đọng về bảo hiểm xã hội trước năm 1995
* Một sô tồn tại của chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay:
Qua thực tiễn hoạt động chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành vẫn còn một
số tổn tại cần hoàn thiện như:
+ Tỷ lệ lao động tham gia bảo hiểm xã hội trong tổng số lao động nói chung
còn thấp Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội chủ yếu vẫn là công chức, quân nhân
và lao động ở khu vực Nhà nước, (chiếm khoảng 80% số người tham gia bảo hiểm
xã hội) Số người thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội mới đạt khoảng
52% (5,8 triệu người) Bộ luật Lao động quy định hai loại hình bảo hiểm xã hội bắt
buộc và tự nguyện áp dụng cho người lao động, nhưng cho đến nay loại hình bảo
hiểm xã hội tự nguyện chưa được ban hành Vì vậy, hiện nay, tỷ lệ tham gia bảo
hiểm xã hội cũng chỉ đạt khoảng 14,1% so với tổng số lao động trong độ tuổi
(5,8/41 triệu) Điều này đã làm cho số đông người lao động chưa được bảo hiểm
giúp đỡ khi ốm đau, thai sản, tuổi già, đời sống gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tác
động xấu cho an sinh xã hội cả trước mắt và lâu dài
Trang 23+ Nguồn quỹ bảo hiểm xã hội còn thất thu lớn Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 1997 thu được 3.445 tỷ đồng, trong khi theo kế hoạch là 3.600
tỷ đổng; năm 1999 dự kiến thu 4.500 tỷ đồng nhưng chỉ thu được 4.188 tỷ đồng Nhiều đơn vị đã đăng ký, nhưng thực tế chưa tham gia hoặc còn nợ đọng nhiều mà chưa có biện pháp giải quyết dứt điểm
+ Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội còn một số hạn chế, chưa có giải pháp tích cực để chống tình trạng chiếm dụng, nợ đọng quỹ bảo hiểm
xã hội.Theo số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến 31/12/2004 số nợ đọng
bảo hiểm xã hội khoảng 582,5 tỷ đổng (chiếm 5% tổng số thu bảo hiểm xã hội trong
năm 2004) Một số quy định về thủ tục, hổ sơ giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động còn rườm rà gây khó khăn cho người tham gia bảo hiểm xã hội, chưa đảm bảo các yêu cầu của cải cách hành chính
Công tác đầu tư và phát triển quỹ bảo hiểm xã hội còn bị hạn chế Hiện nay Bảo hiểm xã hội Việt Nam mua tín phiếu kho bạc Nhà nước, kỳ phiếu ngân hàng của ngân sách Nhà nước và một số ngân hàng thương mại Riêng năm 1998, việc đầu tư có thể nói là lỗ, bởi vì bình quân lãi suất ngân hàng trả cho quỹ bảo hiểm xã hội là 7%/năm, nhưng tỷ lệ mất giá là 9,2%/ năm Bên cạnh đó, phần quỹ nhần rỗi chủ yếu cho ngân sách Nhà nước vay, trong khi đó chi phí quản lý bộ máy của hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam được tính từ tiền sinh lời cho thực hiện các biện pháp bảo toàn quỹ, mức tính bằng 4% tổng số thu bảo hiểm xã hội hàng năm, tương ứng với 50% tiền sinh lời từ quỹ, cũng là nguyên nhân làm cho quỹ có tỷ lệ tăng trưởng thấp
+ Chưa quy định mức tiền lương, tiền công “ trần” để đóng bảo hiểm xã hội khi chuyển sang cơ chế quản lý mới Nhà nước giao quyền tự chủ xây dựng thang lương, bảng lương, trả lương cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, nhiều người đóng bảo hiểm xã hội theo mức tiền lương cao (từ 10-20 triệu đồng/tháng) làm tăng chi phí đầu vào đối với doanh nghiệp, làm cho quỹ bảo hiểm xã hội phải bù nhiều, người lao động khi nghỉ hưu hưởng từ 5 triệu đến 10 triệu đồng/tháng thậm chí còn cao hơn nữa, tạo ra sự chênh lệch về lươiỊơ hưu giữa những người nghỉ hun không hợp lý
Trang 24+ Chính sách bảo hiểm xã hội mới chưa được quán triệt, tuyên truyền rộng khắp nên nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động về chính sách bảo hiểm xã hội chưa đầy đủ dẫn đến việc thực hiện chính sách còn nhiều thiếu sót.
+ Quỹ bảo hiểm xã hội dài hạn chưa đảm bảo cân đối dài hạn Kết quả dự tính cho thấy, quỹ bảo hiểm xã hội dài hạn có khả năng cân đối thu - chi đến năm 2019,
từ năm 2020 trở đi số chi lớn hơn số thu Quỹ sẽ giảm nhanh và dự báo năm 2031 số chi sẽ lớn hơn rất nhiều so với số thu
Nguyên nhân của tình trạng này là do các quy định về quyền lợi hưởng và trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của người lao động chưa hợp lý; tỷ lệ số người đóng bảo hiểm xã hội cho một người hưởng lương hưu giảm dần, năm 2000 có 34 người đóng /1 người hưởng, thì năm 2001 là 29 người, 2002 là 23 người, 2003 là 21 người và 2004 là 19 người Các quy định của pháp luật về tuổi nghỉ hưu là nam phải
đủ 60 tuổi, nữ phải đủ 55 tuổi, trước năm 1999 tuổi nghỉ hưu bình quân là 54,4 tuổi (năm là 57,1 và nữ là 51,9), từ năm 1999 đến nay do thực hiện một số chính sách xã hội như tinh giảm biên chế, sắp xếp tổ chức trong khu vực hành chính sự nghiệp, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước nên tuổi nghỉ hưu bình quân chỉ đạt 51,8 tuổi (nam là 54,8 và nữ là 49,2) đã làm giảm nguồn thu và tăng chi trả từ quỹ
+ Nguyên nhân của những tồn tại nêu trên trong chính sách bảo hiểm xã hội hiện hành:
Nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của cơ chế chính sách bảo hiểm xã hội theo cơ chế mới chưa được các ngành, các cấp quán triệt đầy đủ, đặc biệt là chưa làm cho người lao động có nhận thức về trách nhiệm đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, dẫn đến tình trạng không tham gia bảo hiểm xã hội, hoặc tham gia không đầy
Đã hình thành được cơ chế, chính sách bảo hiểm xã hội mới, nhưng điều kiện kinh tế - xã hội chưa đảm bảo cho việc thực hiện có hiệu quả nhất là trong điều kiện nển kinh tế nước ta chưa phát triển, tình trạng không có hoặc thiếu việc làm khá phổ biến, các đơn vị sản xuất kinh doanh làm ăn thua lỗ, tiền lương và thu nhập thấp, dẫn đến tình trạng cả người lao động và người sử dụng lao động trốn tránh trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội, nên chưa thực hiện tốt cơ chế, chính sách bảo hiểm xã hội mới
Trang 25Tuy Quỹ bảo hiểm xã hội đã tách khỏi ngân sách Nhà nước, hạch toán độc lập nhưng quỹ bảo hiểm xã hội vẫn được coi như là một nguồn để giải quyết các chính sách kinh tế - xã hội khác Thí dụ, để giải quyêt số lao động dôi dư của doanh nghiệp, Nhà nước cho giảm tuổi nghỉ hưu làm giảm số năm đóng bảo hiểm xã hội của người lao động và tăng số năm hưởng của họ so với quy định, hoặc quy định trích quỹ bảo hiểm xã hội cho các doanh nghiệp, (ơ quan chi nghỉ ngơi, dưỡng sức mà chưa tính tới nguồn bổ sung cho quỹ, bảo đảm tính bền vững an toàn quỹ lâu
Việc tính toán cân đối nguồn thu và chi quỸ bảo hiểm xã hội chưa có cơ sở khoa học, mức đóng và mức hưởng không tương ứng, tuổi nghỉ hưu để hưởng chế độ hưu trí thực tế thấp hơn quy định của pháp luật Điều này làm cho độ tin cậy về an toàn quỹ không chắc chắn Các biện pháp để duy trì và làm tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội còn nghèo nàn, chủ yếu chỉ do nhà nước vay bằng con đường tiết kiệm mua công trái, do đó quỹ bảo hiểm xã hội về lâu dài khó có thể cân đối giữa thu và
Chính sách bảo hiểm xã hội liên quan đến quyền lợi vật chất hàng triệu người làm việc, có tiền lương và thu nhập ở các thời kỳ khác nhau, quá trình thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội theo cơ chế mới vẫn còn phải giải quyết những tổn đọng trước đây theo cơ chế cũ, nên không thể hoàn thiện cơ chế chính sách bảo hiểm xã hội mới trong một thời gian ngắn
1.3 Đặc điểm của bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội có các đặc điểm sau đây:
1.3.1 Trách nhiệm pháp lý của chủ sử dụng lao động.
Ở những nước chưa có pháp luật về bảo hiểm xã hội, trách nhiệm của chủ sử dụng lao động đối với người lao động rất hạn chế Khi người lao động gặp tai nạn hoặc các rủi ro khác, chủ sử dụng lao động có thể trợ giúp, tuỳ thuộc vào “hảo tâm” của người chủ v ề mặt pháp lý, chủ sử dụng lao động không bị ràng buộc vào bất kỳ một trách nhiệm nào Dần dần, cùng với sự tăng cường pháp lý của Nhà nước đối với bảo hiểm xã hội, các điều khoản về trách nhiệm pháp lý của chủ sử dụng lao
Trang 26động đối với người lao động được đưa vào các điéu luật về bảo hiểm xã hội Trách nhiệm pháp lý của chủ sử dụng lao động thể hiện ở chỗ phải trợ cấp, đền bù, điều trị, hoặc các chi phí khác liên quan đến hậu quả rủi ro đem lại Điểm nổi bật ở đây là giữa pháp luật các nước có một điểm chung là khi tai nạn xảy ra, thì không xét đến nguyên nhân do đâu, chủ sử dụng lao động đều phải chịu trách nhiệm xử lý và giải quyết Pháp luật cũng thường quy định những nghĩa vụ của chủ sử dụng lao động đối với từng loại rủi ro cụ thể khi xảy ra Đây là yếu tố vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính nhân văn mà pháp luật các nước đều áp dụng.
1.3.2 Tính cộng đồng cao.
Một trong những đặc trưng nổi bật của bảo hiểm xã hội là tính cộng đồng cao Trước đây, khi bảo hiểm xã hội còn ở giai đoạn “phường hội” thì mỗi người tham gia bảo hiểm khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra sẽ được nhận lại toàn bộ số tiền mà mình đóng góp Ngày nay, người tham gia bảo hiểm đóng góp và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, nghĩa là số tiền được hưởng không đúng số tiền đóng góp nữa
Tính cộng đồng thể hiện ở chỗ, trong hệ thống bảo hiểm xã hội của một quốc gia có rất nhiều người tham gia bảo hiểm và thông qua hệ thống bảo hiểm xã hội, có
sự phân phối lại thu nhập giữa các nhóm người tham gia bảo hiểm Người ta chia phân phối lại làm hai loại: theo chiều dọc và theo chiều ngang
- Phân phối lại theo chiều dọc: là sự phân phối lại giữa những nhóm người có
thu nhập khác nhau Ở nhiều nước người ta quy định tỷ lệ đóng góp bảo hiểm xã hội khác nhau tuỳ theo mức thu nhập: thu nhập càng cao thì tỷ lệ đóng góp bảo hiểm xã hội càng cao Nhưng khi nghỉ hưu, mọi người đều được nhận một mức cơ bản như nhau Như vậy, những người nghèo hơn thì được lợi hơn trong việc tham gia bảo hiểm xã hội
- Phân phối lại theo chiều nẹanẹ: là phân phối lại giữa những nhóm người có
cùng mức thu nhập và mức đóng góp nhưng do điểu kiện hoàn cảnh khác nhau nên được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội khác nhau Ví dụ: có nhiều người cùng đóng góp như nhau nhưng chỉ người gặp tai nạn lao động mới được hưởng chế độ tai nạn lao động Tương tự như vậy, chỉ có phụ nữ mới được hưởng chế độ thai sản
Trang 27Phân phối lại thu nhập còn thể hiện giữa những người đang làm việc và những người đang nghỉ hưu Theo con số về tính toán, trung bình ở nhiều quốc gia, số tiền một người đóng bảo hiểm xã hội thường là không đủ để chi trả các chế độ bảo hiểm
xã hội của người đó, mà còn phải có sự đóng góp hỗ trợ của ngân sách Nhà nước Điều đó có nghĩa là quỹ bảo hiểm xã hội dùng để chi trả cho những người đang nghỉ hưu còn được hình thành từ đóng góp của những người đang làm việc Như vậy, những người đang làm việc cũng có phần hỗ trợ những người đã nghỉ hưu Tuy nhiên, do bảo hiểm xã hội có tính kế tục từ thế hệ này sang thế hệ khác nên đây chỉ
là “nợ đổng lần” mà thôi Hôm nay những người đang làm việc hỗ trợ cho những người đang nghỉ hưu thì mai sau, khi họ nghỉ hưu thì lại được những người đang làm việc ở thế hệ sau hỗ trợ lại
Tuỳ theo mục đích về mức độ phân phối lại cao hay thấp mà các nước có những khác nhau về mức đóng góp và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội
So với các nước có mức độ phân phối lại cao hơn, ở Việt Nam, sự phân phối lại theo chiều dọc thể hiện còn mờ nhạt, bởi lẽ tỷ lệ đóng góp bảo hiểm xã hội của tất cả mọi người là như nhau Sự phân phối lại dạng này thể hiện duy nhất ở chỗ: Nếu lương hưu của ngưòi lao động thấp hơn lương cơ bản (hiện nay là 290.000 đồng/tháng) thì được bù cho đủ lương cơ bản
1.3.3 Tính kinh tế - x ã hội.
Khác với mục đích của kinh doanh bảo hiểm là lợi nhuận, mục đích của bảo hiểm xã hội là phục vụ cho xã hội mà nội dung chủ yếu là góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, an toàn xã hội và qua đó góp phần xây dựng đất nước
Chức năng xã hội của hệ thống bảo hiểm xã hội ở tất cả các nước là giống nhau, cho dù chính sách pháp luật hay các quy định về bảo hiểm xã hội khác nhau Mục tiêu chính của mọi hệ thống bảo hiểm xã hội là đền bù thu nhập, nâng cao sức khoẻ và chất lượng cuộc sống cho người được bảo hiểm Vì chức năng phục vụ xã hội nên hệ thống bảo hiểm xã hội luôn được sự đảm bảo của Nhà nước, từ việc hỗ trợ vể pháp luật, ưu tiên trong các hoạt động kinh tế đến các trợ giúp về tài chính, cơ
sở vật chất,
Trang 28Tính kinh tế của hoạt động bảo hiểm xã hói không chỉ thể hiện ở các hoạt động đầu tư mà còn ở mục đích bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội: từ quy định về nguồn tài chính cho quỹ bảo hiểm xã hội, đến các hoạt động về thu, chi bảo hiểm xã hội Không thể có một hệ thống bảo hiểm xã hội phát triển với cách điều hành, quản lý kinh tế kém cỏi.
1.3.4 Hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước.
Thực tế đã chỉ ra rằng Quỹ bảo hiểm xã hội phải được hạch toán độc lập với ngân sách Nhà nước và có hạch toán độc lập thì ngành bảo hiểm xã hội mới phát triển được
Nếu dùng ngân sách nhà nước để chi trả bảo hiểm xã hội thì việc thực hiện các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội rất phức tạp và hạn chế Bởi việc cân bằng thu - chi ngân sách nhà nước là rất khó, nhất là ở những nước kinh tế kém phát triển
Do vậy, các khoản chi bảo hiểm xã hội rất dễ bị “cắt xén” khi ngân sách bị thâm hụt như vậy sẽ ảnh hưởng tới đời sống của ngưòi tham gia bảo hiểm xã hội
Một trong những hoạt động quan trọng của ngành bảo hiểm xã hội là tự đầu
tư nhằm bảo toàn và phát triển vốn Nếu như quỹ bảo hiểm xã hội không được hạch toán độc lập thì cũng không thể phát triển hoạt động này
Tính độc lập của quỹ bảo hiểm xã hội còn thể hiện ở chỗ việc quản lý và sử dụng quỹ hoàn toàn do cơ quan bảo hiểm xã hội đảm nhiệm và điều hành theo luật định Ngay khi ngân sách nhà nước thâm hụt, Nhà nước cũng không thể sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội như là nguồn ngân sách và trường hợp cần vay thì cũng phải có
sự thoả thuận của cơ quan bảo hiểm xã hội Chính vì thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này mà quỹ bảo hiểm xã hội của nhiều nước trở nên rất lớn, ở một số nước quỹ bảo hiểm xã hội lớn gấp 2-3 lần ngân sách nhà nước
1.3.5 Không phá sản.
Một trong những chức năng quan trọng của bảo hiểm xã hội là ổn định xã hội Theo chức năng của mình, bảo hiểm xã hội chăm lo đời sống cho hàng triệu người lao động đang làm việc và đã nghỉ việc thông qua hưởng lương các chế độ bảo hiểm
xã hội Do vậy, nếu hệ thống bảo hiểm xã hội bị phá sản thì cũng có nghĩa là đời sống của người lao động bị ảnh hưởng trực tiếp và từ đó sẽ gây mất ổn định trật tự
xã hội ở tất cả các nước, Nhà nước đều dành cho tổ chức bảo hiểm xã hội những ưu