1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở việt nam

79 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 641,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Tham gia vào hoạt động cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam, có rất nhiều các chủ thể khác, như các TCTD, Hiệp hội Ngân hàn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG VĂN THÀNH

CẠNH TRANH VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Vân Anh

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Lời đầu tiên, tôi gửi lời cám ơn sâu sắc nhất tới các thầy giáo, cô giáo khoa Pháp luật Kinh tế, khoa Sau đại học nói riêng và các thầy giáo, cô giáo trong toàn trường Đại học Luật Hà Nội đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian đã qua

Đặc biệt, tôi vô cùng cám ơn TS Nguyễn Thị Vân Anh, giảng viên khoa Pháp luật Kinh tế, Giám đốc Trung tâm Pháp luật Cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, Trường Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Cuối cùng, tôi gửi lời cám ơn chân thành nhất tới gia đình, bè bạn và thầy giáo,

cô giáo Bộ môn Luật – Học viện Ngân hàng, những người đã luôn quan tâm và động viên, giúp đỡ tôi trong khoảng thời gian viết Luận văn và công tác đã qua

Kính chúc các thầy giáo, cô giáo, gia đình và các bạn sức khỏe, may mắn và hạnh phúc!

Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2011

Tác giả

Hoàng Văn Thành

Trang 3

STT TỪ VIẾT TĂT Ý NGHĨA

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 5

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 5

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 5

1.1.1.1 Định nghĩa cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 5

1.1.1.2 Đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 6

1.1.2 Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng 9

1.2 Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 13

1.2.1 Khái niệm pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 13

1.2.2 Nội dung pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 15

1.2.2.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 15

1.2.2.2 Hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 20

1.2.3 Vai trò của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 26

1.2.4 Khái quát sự phát triển của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 27

1.2.4.1 Pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trước khi Luật Cạnh tranh năm 2004 ra đời 27

1.2.4.2 Pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng từ thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 có hiệu lực thi hành đến nay 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 31

2.1 Thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 31

2.1.1 Các phương thức cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 31

Trang 5

2.1.1.3 Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ khách hàng 32 2.1.1.4 Cạnh tranh bằng áp dụng công nghệ, khoa học – kỹ thuật hiện đại trong kinh doanh và quản lý 32

2.1.2 Thực trạng môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 33

2.1.2.1 Thực trạng về môi trường pháp lý về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 33 2.1.2.2 Đánh giá về mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 36

2.2 Thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 37

2.2.1 Thực thi pháp luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng 37 2.2.2 Thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 42

2.2.2.1 Thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 42 2.2.2.2 Thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng 46 2.2.2.3 Thực thi pháp luật về kiểm soát hành vi tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng 51

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56 CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 58 3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 58

3.1.1 Đảm bảo thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường ngân hàng đúng hướng và phát huy vai trò đi đầu trong công cuộc xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 58

Trang 6

3.1.3 Đáp ứng các cam kết quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng 60

3.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam 61

3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 61 3.2.2 Có cơ chế phối hợp hoạt động giữa NHNN Việt Nam với Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công thương trong việc xem xét, thụ lý và giải quyết các vụ việc cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 65 3.2.3 Đảm bảo tính độc lập trong tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh 67 3.2.4 Tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng 68

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 69 KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX, nước ta bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới nền kinh tế - xã hội Với đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam thực

sự thực thi những nguyên lý của cơ chế thị trường chưa từng được biết đến trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung Chúng ta đã dần quen với việc vận dụng một động lực mới của sự phát triển là cạnh tranh Cạnh tranh đã đem lại cho thị trường và cho đời sống xã hội một diện mạo mới, linh hoạt, đa dạng, phong phú và ngày càng phát triển Đặc biệt, trong lĩnh vực ngân hàng, khi nước ta chuyển đổi từ hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp, đã tạo điều kiện vô cùng quan trọng cho sự phát triển như vũ bão của hệ thống NHTM ở nước ta Vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các NHTM đã sử dụng mọi phương phức khác nhau, trong đó có cả các phương thức có biểu hiện của hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, mà đề tài nóng hổi nhất trong ngành ngân hàng thời gian qua chính là “cuộc chiến lãi suất” giữa các NHTM Tuy nhiên, việc kiểm soát và xử lý của các cơ quan có thẩm quyền chưa thực sự có hiệu quả, đặt ra một dấu hỏi lớn về tính hoàn thiện của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng hiện hành và tính hiệu quả của các cơ quan thực thi pháp luật

Bên cạnh đó, trong điều kiện hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng ở nước

ta hiện nay, chúng ta đang từng bước thực hiện các cam kết quốc tế Việt Nam như mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng, nhằm hướng đến xây dựng hệ thống ngân hàng cạnh tranh bình đẳng theo khuôn khổ pháp lý phù hợp và thống nhất Chính vì vậy, sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng trở nên gay gắt, đồng thời là một thách thức lớn đối với các NHTM của nước ta, nhất là khi Chính phủ gỡ bỏ các rào cản đối với các ngân hàng thương mại nước ngoài và tiến đến xóa bỏ những bảo hộ của Nhà nước đối với ngân hàng trong nước

Chính vì những lý do trên, thiết nghĩ đã đến lúc để chúng ta hệ thống hóa các lý thuyết cạnh tranh mà các nhà khoa học pháp lý đã xây dựng, đồng thời qua đó tìm ra những giải pháp nhằm tiếp tục củng cố và hoàn thiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh

Trang 8

vực ngân hàng, từ đó góp phần làm cho công tác thực thi pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền đạt hiệu quả cao hơn

Theo đó, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu về cạnh tranh cũng như pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam trong thời gian qua sau đây:

- Áp dụng Luật cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng – TS Nguyễn Văn Tuyến – Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 6/2006

- Hoàn thiện các quy định pháp luật về cạnh tranh của các tổ chức có hoạt động ngân hàng trong bối cảnh hội nhập quốc tế nhìn từ góc độ những bất cập và yêu cầu đặt ra – Viên Thế Giang – Tạp chí Nhà nước và pháp luật Viện nhà nước và pháp luật,

Số 4/2008

- Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng – Nhìn từ góc độ pháp

lý – TS.Nguyễn Kiều Giang – Luật học Trường đại học luật Hà Nội Số:12/2007

- Học viện Ngân hàng – Pháp luật về kiểm soát hành vi tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam – Bộ môn Luật – Năm 2010

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm hai mảng đề tài lớn: một là, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam và hai là, thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam Với những nội dung đó, luận văn sẽ nghiên cứu và giải quyết trên cơ sở tiếp cận vấn đề từ góc độ lý luận chung, cho đến tìm hiểu và đánh giá

về thực trạng cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở

Trang 9

Việt Nam, và cuối cùng, trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

Tham gia vào hoạt động cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam, có rất nhiều các chủ thể khác, như các TCTD, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam,… tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về việc hoạt động cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh của các TCTD (đặc biệt là của các NHTM)

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo, làm cơ để giải quyết những yêu cầu mà

đề tài đặt ra

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê,

so sánh,… nhằm làm sáng tỏ các quy định của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam, chỉ ra những tồn tại và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi trong giai đoạn hiện nay

Cụ thể, phương pháp phân tích được sử dụng trong toàn bộ nội dung luận văn; phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng khi thống kê các số liệu về hệ thống ngân hàng ở Việt Nam ở Chương 1 và Chương 2;…

6 Bố cục Luận văn

Bên cạnh phần Lời mở đầu, Mục lục, Bảng từ viết tắt, Kết luận chung và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành ba (03) chương như sau:

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

- Chương 2: Thực trạng cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

- Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

Trang 10

“ Cạnh tranh và thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam” là một đề tài đòi hỏi phải có sự tìm hiểu và nghiên cứu một cách kỹ lưỡng,

ở mức độ chuyên sâu Tuy nhiên, do những hạn chế về thời gian nghiên cứu cũng như vốn kiến thức về lý luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế, nên Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn để Luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT

CẠNH TRANH TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

1.1.1 Khái niệm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

1.1.1.1 Định nghĩa cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Cho đến nay, các nhà khoa học dường như chưa thể thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh Bởi với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có của kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học

Trong lĩnh vực ngân hàng, cạnh tranh ngày càng được các nhà nghiên cứu lập pháp quan tâm cùng với quá trình cải cách hệ thống ngân hàng ở nước ta Thị trường ngân hàng nước ta chính thức hình thành theo mô hình ngân hàng hai cấp từ tháng 6 năm 1987 khi có sự cải tiến về tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng nhà nước

mà trọng tâm là chuyển mô hình ngân hàng nước ta sang mô hình ngân hàng hai cấp, tức là tách hoạt động kinh doanh ngân hàng ra khỏi hệ thống ngân hàng nhà nước theo hướng kiện toàn NHNN làm nhiệm vụ phát hành và quản lý nhà nước về tiền tệ - tín dụng Phát triển các ngân hàng chuyên nghiệp là tổ chức kinh doanh tín dụng và dịch

vụ ngân hàng

Hệ thống ngân hàng hai cấp tiếp tục được quy định trong hai luật: Luật các TCTD và Luật NHNN có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 1998 tạo khung pháp lý cho quá trình phát triển lâu dài của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong tiến trình đổi mới

Và đặc biệt, khi Luật NHNN Việt Nam và Luật Các TCTD ra đời năm 2010 đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong nhận thức của Nhà nước về vai trò của cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh đối với hệ thống ngân hàng

Tham gia vào hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay không chỉ còn là cuộc chiến giới hạn giữa các TCTD trong nước nữa, mà hiện nay

Trang 12

đã xuất hiện thêm các đối thủ đầy tiềm năng, là các TCTD nước ngoài TCTD nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài.

Chính sự ra tăng ngày càng nhanh chóng về số lượng các TCTD trên thị trường dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam làm cho cuộc chiến tranh giành khách hành, thị phần và lợi nhuận ngày càng trở lên khốc liệt

Từ những phân tích trên có thể hiểu cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các TCTD trên thị trường dịch vụ ngân hàng

sử dụng bằng cách sử dụng tối đa các nguồn lực của mình để giành về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị phần và lợi nhuận, đồng thời từng bước khẳng định vị trí của mình trên thị trường ngân hàng

1.1.1.2 Đặc điểm cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trước tiên mang những đặc điểm chung của cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh như: cạnh tranh chỉ diễn ra khi các đối thủ nắm trong tay quyền tự chủ trên thương trường, hoặc về mặt hình thức, cạnh tranh là

sự ganh đua, kình địch giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm giành về phía mình những lợi ích nhất định Tuy nhiên, do đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng nên cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có những đặc thù sau đây:

Thứ nhất, về mặt chủ thể, tham gia vào hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là các chủ thể đặc biệt của nền kinh tế, đó là các TCTD, chủ yếu là các NHTM

Không giống với lĩnh vực kinh doanh khác, các đối thủ cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thường có số lượng giới hạn và sự gia tăng hay giảm bớt số lượng này là rất khó khăn và hạn chế, đôi khi không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chính các đối thủ cạnh tranh Điều này hoàn toàn đúng và dễ hiểu, bởi hoạt động ngân hàng

là hoạt động kinh doanh đặc biệt, đó là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản (khoản 12 Điều 4 Luật Các TCTD năm 2010) Và chính vì

Trang 13

tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng đối với nền kinh tế mà chỉ có một số lượng nhất định các chủ thể đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng khá nhanh cả về số lượng và quy mô Năm 1991 có 9 ngân hàng, đến năm

2009, số lượng ngân hàng đã tăng gấp 10 lần, lên gần 100 ngân hàng Trong đó, số ngân hàng thương mại cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập nhiều và tăng nhanh chóng hơn cả

Bảng 1.1 Số lượng ngân hàng qua các năm Loại hình ngân hàng Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 T12/2009

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Qua bảng trên có thể thấy rằng, trong hoạt động ngân hàng, chỉ có tổng cộng 97 ngân hàng có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau Số lượng chủ thể như vậy, cùng với

sự gia tăng khá chậm các thành viên mới của thị trường dịch vụ ngân hàng chứng tỏ sự khó khăn khi gia nhập, cũng như rút lui khỏi thị trường này Có thể nói, sự khó khăn

và hạn chế trong khả năng và cơ hội gia nhập hay rút lui khỏi thị trường ngân hàng là một trong những dấu hiệu có tính đặc thù của môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Thứ hai, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng luôn diễn ra gay gắt nhưng vẫn trên cơ sở sự hợp tác chặt chẽ với nhau

Trước tiên, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng luôn diễn ra gay gắt, thậm chí

là cực kỳ khốc liệt, bởi cạnh tranh chính là động lực thúc đẩy các TCTD không ngừng vận động Một khi, TCTD không còn đủ sức để tham gia cuộc chơi về cạnh tranh, đồng nghĩa với việc họ đang tự loại mình ra khỏi quy luật vận động của thị trường

Trang 14

Trong hoạt động ngân hàng, cạnh tranh diễn ra trên rất nhiều phương diện, như cạnh tranh về giá, cạnh tranh bằng sản phẩm, cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ khách hàng,… Thời gian gần đây, cuộc đua tranh về lãi suất đi vay nhằm thu hút vốn của các thành viên trong xã hội diễn ra cực kỳ khốc liệt Bảng tỷ giá lãi suất huy động của các ngân hàng thay đổi từng ngày, từng giờ Trong cuộc đua tranh đó, các NHTM

đã tìm mọi cách để chiếm phần lợi về phía mình, thậm chí là bất chấp cả các quy định

về trần lãi suất theo quy định của NHNN Để có thể chấm dứt được tình trạng đó, NHNN đã phải mạnh tay đưa ra rất nhiều biện pháp nhằm bình ổn thị trường

Như vậy, cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng là điều không thể tránh khỏi và

là một yêu cầu quan trọng của nền kinh tế thị trường, tuy nhiên, cạnh tranh lại luôn luôn đi kèm với sự hợp tác chặt chẽ của các bên Điều này tương đối dễ hiểu và tất yếu, bởi lẽ, hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính hệ thống, không một TCTD nào có thể hoạt động được một cách bình thường trong thị trường nếu không có sự liên kết bình đẳng với các đối thủ khác Chính sự liên kết mang tính tự nhiên giữa các đối thủ cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ngân hàng khiến cho mối quan hệ cạnh tranh giữa họ trở nên ít khốc liệt hơn

Thứ ba, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp thường xuyên của Ngân hàng Nhà nước

Mặc dù Nhà nước vẫn chấp nhận và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các đối thủ tham gia thị trường nhưng vì mục tiêu giữ gìn sự ổn định của nền kinh tế và quyền lợi của người gửi tiền hay các chủ thể vay tiền, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình cạnh tranh này bằng việc thực thi những chính sách đặc thù như chính sách tiền

tệ quốc gia (trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu như chính sách tín dụng, chính sách dự trữ bắt buộc, chính sách ngoại hối, chính sách thị trường mở…) hay chính sách kiểm soát đặc biệt Điều này tương đối rõ nét trên thị trường ngân hàng trong thời gian qua Ví dụ, vào hồi giữa tháng 12/2010, Techcombank là ngân hàng đầu tiên công khai chương trình khuyến mại với lãi suất “khủng” 17% một năm Ngay sau đó, hàng loạt các NHTM khác cũng đồng loạt tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên mức này, thậm chí có nơi lên tới 18% một năm cho kỳ hạn một tháng như Seabank Ngay sau đó,

Trang 15

NHNN đã có văn bản chấn chỉnh và mặt bằng lãi suất huy động đã được đưa về 14% một năm

Mặc dù, vai trò điều tiết của NHNN đối với thị trường ngân hàng là vô cùng quan trọng, tuy nhiên, dưới góc độ cạnh tranh, sự can thiệp này từ phía công quyền lại khiến cho giới hạn cạnh tranh giữa các đối thủ trên thị trường dịch vụ ngân hàng có phần bị thu hẹp Điều đó có nghĩa là, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng chỉ được phép diễn ra trong một phạm vi, giới hạn “chật hẹp” do NHNN định ra

Thứ tư, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng chịu sức ép cạnh tranh từ thị trường chứng khoán

Sự phát triển của thị trường chứng khoán ở nước ta thời gian qua cho thấy thị trường chứng khoán đã trở thành kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế Với vai trò là các trung gian tài chính, đi vay để cho vay của các TCTD đã bị mất đi một phần không nhỏ nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để gửi tiết kiệm vào ngân hàng Bởi lẽ, giờ đây, thay vì gửi tiền vào ngân hàng để lấy lãi, thì họ đầu tư vào thị trường chứng khoán với khả năng sinh lời cao hơn rất nhiều Nói khác đi, nguồn vốn huy động của các TCTD bị hạn chế và nếu huy động vốn trên thị trường chứng khoán thì sẽ chịu tác động rất lớn của thị trường này Mối tương tác giữa thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ nước ta thời gian qua là minh chứng sinh động [15, tr 8-10]

Đứng trước tình thế như vậy, buộc các TCTD phải đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm thu nguồn vốn nhàn rỗi từ dân chúng chảy ra vào các ngân hàng Một trong những biện pháp hiệu quả mà Nhà nước ta đang tích cực thực hiện đó là cổ phần hóa các TCTD, nhằm từng bước xã hội hóa hoạt động ngân hàng ở Việt Nam

1.1.2 Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các tổ chức tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng

Thứ nhất, nguồn vốn của các NHTM

Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Ngân hàng thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh

Trang 16

doanh của ngân hàng Việc sở hữu nguồn vốn lớn đồng nghĩa với việc ngân hàng đó có sức mạnh nội tại lớn, và đây chính là yếu tố quyết định quan trọng tạo nên năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Đối với một ngân hàng, khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi để mở rộng quan hệ tín dụng, bởi nguồn vốn lớn sẽ giúp các TCTD chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, quyết định mức lãi suất cho khách hàng Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của TCTD sẽ tăng lên nhanh chóng và TCTD sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh Đây cũng là điều kiện để bổ sung thêm vốn tự

có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.…Chính vì thế, vốn góp phần quan trọng làm tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường

Trên thực tế, trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, số ngân hàng có vốn lớn, mà trước tiên là vốn điều lệ lớn không nhiều, đa số là các NHTM quốc doanh, hoặc có tiền thân là NHTM quốc doanh đã cổ phần hóa

Bảng 1.2 Cơ cấu vốn điều lệ của các khối ngân hàng

Đơn vị: Nghìn tỷ đồng

Khối ngân hàng 31/12/07 31/3/08 30/6/08 30/09/08

5 NHTMNN + 7 NHTMCP lớn 49.47 49.60 57.69 59.05

NHTMCP còn lại + MHB 27.17 29.95 31.69 34.66

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Qua bảng thống kê trên của NHNN cho thấy, những ngân hàng có sức mạnh về vốn điều lệ chủ yếu nằm ở khối NHTMNN và một số NHTMCP lớn Sở dĩ các TCTD này có số vốn điều lệ lớn như vậy do đã có quá trình tích lũy lâu dài, trong đó không thể không kể tới tỷ lệ vốn nhà nước trong các ngân hàng này vô cùng lớn

Trang 17

Bảng 1.3 Mười ngân hàng có số vốn điều lệ lớn nhất

(tính đến ngày 30/6/2009)

Đơn vị: Tỷ đồng

(tỷ đồng)

2 Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn VN 13.400

3 Ngân hàng CP Ngoại thương Việt Nam 12.100

4 Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam 8.755

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thứ hai, quy mô tài sản:

Tương tự như nguồn vốn, quy mô tài sản của ngân hàng cũng thể hiện sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng trên thương trường Ngân hàng nào có quy mô tài sản lớn có nghĩa ngân hàng đó có tiềm lực tài chính mạnh, có thế mạnh hơn các ngân hàng quy mô nhỏ Hiện nay, quy mô tài sản của các ngân hàng Việt Nam đang tăng trưởng không ngừng Theo số liệu của NHNN Việt Nam, tính đến ngày 30/9/2008, các NHTM Việt Nam có mức tăng trưởng tài sản khoảng 13.7% so với năm 2007, các NHNNg tăng mạnh ở mức 23.4% và Ngân hàng liên doanh tăng ở mức 12.1%

Thứ ba, mạng lưới hoạt động:

Mạng lưới hoạt động là một lợi thế cạnh tranh đặc biệt hữu hiệu của các TCTD, mạng lưới hoạt động càng lớn, khả năng tiếp cận thị trường và khách hàng càng nhiều Trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, dẫn đầu về sức mạnh này là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam với hơn 100 chi nhánh cấp 1 cùng với tổng

số gần 2000 chi nhánh từ cấp 2 đến cấp 4 đến 100% số huyện thị trong cả nước, đạt tới

Trang 18

mật độ bình quân 4 xã có một chi nhánh Các ngân hàng khác trong khối các NHTMNN có mạng lưới ít hơn, song là những tổ chức tín dụng có mạng lưới hoạt động lớn trong toàn ngành Ngân hàng Công thương Việt Nam có 80 chi nhánh cấp 1, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có 28 chi nhánh cấp 1, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam có 76 chi nhánh cấp 1,

Tiếp đến là các NHTMCP tư nhân có sức mạnh về mạng lưới chi nhánh ít hơn, hạn chế hơn Thống kê của NHNN cho thấy các NHTMCO tư nhân có mạng lưới chi nhánh khoảng từ vài chục đến 200, cho thấy đối với một số NHTMCP, mạng lưới chi nhánh chưa phủ đến 63 tỉnh thành trong cả nước, điều này cũng gây hạn chế cho các ngân hàng trong kinh doanh và cạnh tranh

Thứ tư, công nghệ thông tin:

Công nghệ thông tin là yếu tố rất quan trọng trong phát triển ngân hàng hiện đại bởi những lý do sau:

- Công nghệ thông tin giúp hoàn thiện, mở rộng hệ thống kế toán khách hàng và

hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng theo mô hình tập trung hoá tài khoản

- Với sự phát triển của hệ thống công nghệ thông tin, các ngân hàng sẽ góp phần vào chính sách giảm tối đa việc phải sử dụng tiền mặt trong nên kinh tế của Nhà nước Đối với các ngân hàng, sự phát triển của hệ thống công nghệ thông tin sẽ giúp các ngân hàng có thể nhanh chóng thực hiện các giao dịch với khách hàng, qua đó đẩy mạnh hoạt động kinh doanh

- Ngoài ra, với một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại sẽ giúp đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống thông tin ngân hàng Sở dĩ nói như vậy bởi, nếu như các ngân hàng xây dựng được một hệ thống an ninh mạng hiệu quả sẽ giúp cho quá trình lưu trữ

và mã hóa dữ liệu của khách hành diễn ra nhanh và an toàn hơn

Do vậy ngân hàng nào ứng dụng được công nghệ thông tin hiện đại và sớm nhất, ngân hàng đó tự xây dựng cho mình nền tảng cho sự phát triển các sản phẩm mới mang tính công nghệ cao Tuy nhiên để đầu tư phát triển công nghệ tin học vào ngân hàng đòi hòi một nguồn vốn đáng kể Do vậy, có thể coi tin học vừa là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới kinh doanh và cạnh tranh, vừa là một trong những rào cản trong kinh doanh của các ngân hàng [4]

Trang 19

1.2 Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

1.2.1 Khái niệm pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Tại Việt Nam nói riêng và trên phạm vi toàn cầu nói chung, có thể nói, hệ thống ngân hàng đang giữ một vai trò hết sức quan trọng Sự tăng trưởng của hệ thống này tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tăng trưởng của toàn nền kinh tế Những thành công của hơn 20 năm đổi mới đất nước và đặc biệt là trong khoảng gần chục năm trở lại đây là một minh chứng rõ nét nhất khẳng định vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng

Rõ ràng, vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế là không phải bàn cãi Tuy nhiên sự phát triển của hệ thống ngân hàng lại kéo theo những thách thức không nhỏ cho các ngân hàng Đó là sự canh tranh khốc liệt trên thị trường và đặc biệt là các nguy cơ rủi ro có thể xảy ra khi các ngân hàng mở rộng mạng lưới, phát triển dịch vụ mới Có thể nói, cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng đã đặt ra những bài toán mới Bài toán quan trọng nhất là làm thế nào để duy trì được một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong ngành ngân hàng? Không gì khác, chúng ta cần phải xây dựng hệ thống pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng hoàn chỉnh, có khả năng thực thi cao

Thông qua những phân tích trên có thể rút ra kết luận như sau: pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng là tổng thể các quy định của pháp luật điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh của các chủ thể tham gia vào hoạt động ngân hàng, nhằm tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong hoạt động ngân hàng

Từ khái niệm trên, có thể thấy, pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng mang những đặc điểm sau đây:

Trước tiên, nó mang đầy đủ các đặc điểm của pháp luật cạnh tranh nói chung: như pháp luật cạnh tranh không phải là loại pháp luật mang tính “mở đường”, mà nó thuộc loại pháp luật mang tính “ngăn cản”, mang tính “can thiệp” Thực ra, mục tiêu của pháp luật cạnh tranh là ngăn ngừa và xử lý những hành vi cạnh tranh trái pháp luật, trái đạo đức và tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp với động cơ cạnh tranh

Trang 20

mà qua đó, tìm cách tạo cho mình những lợi thế cạnh tranh “không đáng có”; bên cạnh

đó, pháp luật cạnh tranh có mục tiêu là thực hiện việc “bảo toàn” năng lực cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp trên thị trường cho nên nó không tạo ra sức cạnh tranh mới trong nền kinh tế [23, tr 312-313]

Ngoài những đặc điểm chung đó, pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng còn mang những đặc điểm đặc thù sau:

Thứ nhất, pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng chịu sự tác động mạnh mẽ của bởi chính sách điều tiết của NHNN

Với tính đặc thù riêng của hoạt động ngân hàng là quy mô lớn, có khả năng gây

đổ vỡ hệ thống cao và nguy cơ ảnh hưởng xấu tới nền kinh tế, cho nên hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng nhận được

sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là của NHNN Để đảm bảo duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh, trên cơ sở đó tạo các điều kiện tốt nhất cho các TCTD phát huy hết khả năng của mình để đóng góp cho

sự phát triển chung của toàn xã hội, NHNN sử dụng rất nhiều các biện pháp nhau, từ các biện pháp mang tính kinh tế cho đến các biện pháp mang tính hành chính của cơ quan công quyền, như các công cụ có trong của NHNN như lãi suất, tý giá, dự trữ bắt buộc, …

Quan sát thị trường dịch vụ ngân hàng ở nước ta trong thời gian qua có thể thấy rất rõ vai trò điều tiết quan trọng của NHNN, đặc biệt là khi các NHTM lao vào cuộc đua huy động lãi suất vô cùng khốc liệt, tưởng như không có điểm dừng Các biện pháp mà NHNN kịp thời áp dụng đã mang lại hiệu quả lớn, góp phần quan trọng duy trì ổn định hoạt động ngân hàng, qua đó tác động trực tiếp tới việc hoạch định và thực thi chính sách cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng

Thứ hai, pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng

Trong thị trường dịch vụ ngân hàng, mặc dù Nhà nước vẫn chấp nhận và khuyến khích sự cạnh tranh giữa các đối thủ tham gia thị trường nhưng vì mục tiêu giữ gìn sự ổn định của nền kinh tế và quyền lợi của công chúng gửi tiền hay các chủ thể

Trang 21

vay tiền, Nhà nước có thể can thiệp vào quá trình cạnh tranh này bằng việc thực thi những chính sách đặc thù như chính sách tiền tệ quốc gia (trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu như chính sách tín dụng, chính sách dự trữ bắt buộc, chính sách ngoại hối, chính sách thị trường mở…) hay chính sách kiểm soát đặc biệt Việc thực hiện các biện pháp này của NHNN không ngoài mục đích gì khác đó là đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng Chính những điểm khác biệt này đã có những ảnh hưởng nhất định đến nội dung điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

ở Việt Nam

1.2.2 Nội dung pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Giống như pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

ở các nước trên thế giới, nội dung pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở

Việt Nam bao gồm hai nội dung chủ yếu, đó là quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh

1.2.2.1 Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng

Theo quy định của LCT 2004, Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi

cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dung (khoản 4 Điều 3)

Từ quy trên có thể nhận thấy, những căn cứ để nhận dạng cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:

- Nhằm mục đích cạnh tranh phát sinh trong kinh doanh;

- Trái với pháp luật cạnh tranh hoặc tập quán kinh doanh thông thường;

- Gây thiệt hại cho đối thủ hoặc cho khách hàng

Lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực kinh doanh của nền kinh tế nên những hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng trước tiên phải thỏa mãn các quy định chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà LCT 2004 đã quy định Tuy nhiên, do là một lĩnh vực kinh doanh đặc thù, có tầm quan trọng đối với thị trường nên đòi hỏi phải có những hướng dẫn cụ thể riêng về vấn đề này Theo đó, Điều 16

Trang 22

Luật các TCTD năm 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2004, quy định hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, bao gồm:

- Khuyến mại bất hợp pháp;

- Thông tin sai sự thật làm tổn hại lợi ích của TCTD khác và của khách hàng;

- Đầu cơ lũng đoạn thị trường tiền tệ, vàng, ngoại tệ;

- Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác

Tuy nhiên, theo quy định mới của Luật các TCTD năm 2010, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh không được quy định cụ thể trong luật mà được chuyển cho Chính phủ quy định chi tiết Hiện nay, Chính phủ vẫn đang trong quá trình nghiên cứu

để đưa ra các quy định hợp lý nhất từ đó làm cơ sở điều chỉnh pháp luật về chống hành

vi cạnh tranh không lành mạnh giữa các TCTD

Như vậy, căn cứ vào các văn bản trên và thực tiễn hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở nước ta hiện nay, có thể nhận diện một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong ngành ngân hàng như sau:

Thứ nhất, chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn là hành vi của TCTD đưa ra các chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên của TCTD, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về dịch vụ do TCTD đó cung cấp nhằm mục đích cạnh tranh

Thông thường, hành vi này chủ yếu được các TCTD nhỏ, mới gia nhập thị trường ngân hàng, chưa có kinh nghiệm, cũng như uy tín, niềm tin của khách hàng và các đối tác, nên đã sử dụng tên tuổi, cũng như khẩu hiệu kinh doanh của các TCTD đã

có uy tín lâu năm trên thị trường, qua đó dần dần có được thành công trên thương trường Tuy nhiên, rõ ràng đây là những hành vi có dấu hiệu của cạnh tranh không lành mạnh cần được pháp luật xem xét và có biện pháp xử lý thích hợp

Thứ hai, xâm phạm bí mật kinh doanh

Trong hoạt động kinh doanh, bí mật kinh doanh giữ vai trò cực kỳ quan trọng tạo nên thành công của mỗi doanh nghiệp Sở dĩ bí mật kinh doanh có tầm quan trọng như vậy, bởi xuất phát từ bản chất của các thông tin được coi là bí mật kinh doanh Theo quy định của LCT 2004, bí mật kinh doanh là thông tin có đủ các điều kiện sau:

Trang 23

- Không phải là hiểu biết thông thường;

- Có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó

- Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được

Căn cứ vào các điều kiện của bí mật kinh doanh nói chung, có thể hình dung các thông tin được coi là bí mật kinh doanh bao gồm những bí mật liên quan đến hoạt động kinh doanh của TCTD (trừ những bí mật mà theo quy định của pháp luật phải công khai), bí mật liên quan đến tài khoản của khách hàng Những thông tin liên quan đến chiến lược phát triển của TCTD, các hợp đồng, giao dịch, tình hình tài chính….đều được coi là những bí mật kinh doanh Ngoài ra, những thông tin liên quan đến khách hàng gửi tiền (ví dụ số dư tiền gửi của khách hàng, các giao dịch phát sinh trên tài khoản của khách hàng) cũng được coi là thông tin mật và trách nhiệm của TCTD phải giữ bí mật thông tin này

Theo đó, các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh của các TCTD có thể gồm các hành vi sau đây:

- Tiếp cận thông tin, phá hệ thống bảo mật của TCTD nhằm chiếm đoạt những thông tin bảo mật của TCTD

- Tiết lộ những thông tin thuộc bí mật kinh doanh của TCTD mà không được phép

- Lừa gạt, mua chuộc, lợi dụng lòng tin của nhân viên bảo mật của TCTD cạnh tranh nhằm thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của TCTD này

- Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của TCTD khi TCTD này làm các thủ tục hành chính nhà nước, hoặc dùng các biện pháp thâm nhập hệ thống thông tin bảo mật của cơ quan nhà nước để chiếm đoạt thông tin về TCTD khác nhằm mục đích phục vụ hoạt động kinh doanh của mình

Thứ ba, ép buộc trong kinh doanh

Trang 24

Căn cứ vào Điều 42 LCT 2004, có thể hiểu, pháp luật cấm TCTD ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của TCTD khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với TCTD đó

Trong hoạt động ngân hàng, hành vi ép buộc khách hàng có thể thể hiện trong việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng kèm theo các điều kiện bất hợp lý như: chỉ được sử dụng các dịch vụ kèm theo do ngân hàng đó cung cấp hoặc phải mở tài khoản duy nhất ở ngân hàng đó mà không được có tài khoản ở ngân hàng khác…

Thứ tư, gièm pha TCTD khác

Theo Điều 43 LCT 2004, có thể hiểu, hành vi gièm pha TCTD khác là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp đưa ra thông tin không trung thực gây ảnh hưởng xấu tới uy tín, tình trạng tài chính và hoạt động kinh doanh của các TCTD khác

Trong hoạt động ngân hàng, hành vi gièm pha các TCTD khác có thể như: Nói xấu TCTD khác, tung tin không chính xác về tình hình tổ chức hoặc hoạt động kinh doanh của TCTD khác nhằm gây khó khăn cho hoạt động của tổ chức này Có thể kể đến vụ ngân hàng ACB bị tung tin là Tổng giám đốc Phạm Văn Thiệt bỏ trốn vào năm

2003 khiến khách hàng gửi tiền đồng loạt kéo đến ngân hàng đòi rút tiền Mặc dù chưa thể xác định được đây có phải là tin đồn do một ngân hàng khác đưa ra hay không nhưng nếu các cơ quan chức năng xác định được điều này thì đây có thể coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc gièm pha TCTD khác

Thứ năm, gây dối hoạt động kinh doanh của TCTD khác

Căn cứ vào Điều 44 LCT 2004 có thể hiểu đây là hành vi của TCTD trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh của TCTD khác

Có thể coi các hành vi gây dối hoạt động kinh doanh của TCTD khác thuộc loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh ít gặp nhất và cũng có mức độ nguy hại cho các TCTD ở mức nhẹ nhất Có thể kể đến một số biểu hiện thực tế của loại hành vi này như: TCTD cử người phá hoại hoạt động kinh doanh của TCTD khác như phá hoạt hệ thống ATM, hệ thống điện nước,…

Thứ sáu, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Đây là loại hành vi có thể xuất hiện nhiều trong thời gian tới do đi kèm với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật Cùng với Điều 45 LCT 2004, hành vi quảng cáo

Trang 25

nhằm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực ngân hàng có thể bao gồm những hành vi sau đây:

- So sánh trực tiếp dịch vụ mình cung cấp với dịch vụ của các TCTD khác theo hướng làm giảm uy tín của các TCTD khác, gây nhầm lẫn cho khách hàng để nhằm mục đích làm giảm lượng khách hàng của các TCTD này

- Bắt chước sản phẩm quảng cáo của một TCTD khác nhằm làm cho khách hàng nhầm lẫn về dịch vụ mình cung cấp là dịch vụ mà khách hàng đã biết và tín nhiệm trước đó do TCTD khác cung cấp

- Nội dung quảng cáo chứa đựng những thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về khả năng tài chính, số lượng chi nhánh, mạng lưới phục vụ, chất lượng và số lượng dịch vụ, đội ngũ nhân viên…

Thứ bảy, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Trong kinh doanh, khuyến mại là hoạt động bình thường của các TCTD nhằm xúc tiến thương mại, tăng khả năng thu hút vốn của các TCTD Tuy nhiên, không phải mọi hoạt động khuyến mại đều được pháp luật thừa nhận Theo quy định của pháp luật hiện hành, hoạt động khuyến mại sẽ bị cấm khi thuộc vào các trường hợp sau đây:

- Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng

- Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về dịch vụ để lừa dối khách hàng

- Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại,…

Thứ tám, phân biệt đối xử của hiệp hội

Hiện nay, trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam có sự tồn tại của một hiệp hội,

đó là Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam thành lập theo Quyết định số 247/QĐ-TTg ngày 14 tháng 5 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ Hiệp hội ngân hàng Việt Nam gồm có 50 hội viên, trong đó có 6 ngân hàng và tổ chức thuộc sở hữu nhà nước, 34 Ngân hàng thương mại cổ phần, 2 ngân hàng liên doanh và

8 công ty tài chính

Trang 26

Hiệp hội Ngân hàng có vai trò quan trọng, như là một tổ chức tập thể liên kết và

là tiếng nói chung của các TCTD ở Việt Nam Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cấm Hiệp hội có những hành vi sau đây:

- Từ chối TCTD có đủ điều kiện gia nhập hoặc rút khỏi Hiệp hội nếu việc từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho TCTD đó bị bất lợi trong cạnh tranh

- Hạn chế bất hợp lý hoạt động kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quan tới mục đích kinh doanh của các TCTD thành viên

Thứ chín, đầu cơ dẫn đến lũng đoạn tỷ giá ngoại tệ, vàng và thị trường tiền tệ

Hoạt động mua, bán ngoại tệ và vàng là hoạt động kinh doanh bình thường của các TCTD nếu được NHNN cấp phép Tuy nhiên, nếu một TCTD hoặc nhóm TCTD lợi dụng quyền này, thỏa thuận đầu cơ nhằm lũng đoạn tỷ giá ngoại tệ, vàng và thị trường tiền tệ thì hậu quả sẽ rất tai hại Trước hết, hành vi này sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cạnh tranh bình thường trong lĩnh vực ngân hàng, ảnh hưởng đến việc kinh doanh ngoại tệ và vàng của các TCTD khác Bên cạnh đó, tỷ giá ngoại tệ và giá vàng

có tác động rất lớn đến nền kinh tế Do vậy, mọi sự biến động của những chỉ số này chắc chắn sẽ tác động trực tiếp đến sự bình ổn của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng trong đó [18, tr.53]

Hiện nay, NHNN đang có chính sách kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh ngoại tệ và vàng trên thị trường tự do, qua đó tạo nên một trật tự ổn định cho nền kinh

tế Quy định này của NHNN đang bước đầu phát huy hiệu quả, làm cho nguồn cung vàng và ngoại tệ từ dân chúng chảy vào các TCTD đang tăng lên Vì thế, để đảm bảo quyền và lợi ích cho người gửi cũng như đảm bảo ổn định hệ thống ngân hàng, NHNN nên sớm có quy định cấm các hành vi đầu cơ dẫn đến lũng đoạn tỷ giá ngoại tệ, vàng

và thị trường tiền tệ

1.2.2.2 Hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Một cách khái quát nhất, có thể hiểu: Hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của

doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế (khoản 3 Điều 3 LCT 2004)

Trang 27

Như vậy, theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam, hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm:

- Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

- Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền

- Hành vi tập trung kinh tế

Một là, hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Về mặt lý luận, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được hiểu là hành vi cấu kết giữa hai hay nhiều TCTD để thủ tiêu sự cạnh tranh giữa chúng và ngăn cản sự tham gia thị trường của các đối thủ cạnh khác cũng như sự nhập cuộc của các TCTD tiềm năng

Hiện nay, mặc dù có những cách thức khác nhau khi định nghĩa về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, nhưng về cơ bản, pháp luật các quốc gia đều thống nhất thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm các dấu hiệu sau đây:

Dấu hiệu đầu tiên, đó là về mặt chủ thể, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra giữa các TCTD là đối thủ cạnh tranh của nhau

Điều đó có nghĩa, muốn xác định một thỏa thuận nào đó có phải là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh hay không, tiêu chí đầu tiên chúng ta phải chỉ ra, đó là thỏa thuận

đó có sự tham gia của các TCTD trên cùng thị trường liên quan hay không? Các TCTD đó có hoạt động độc lập với nhau không? Nếu như thỏa thuận đó được xác lập giữa một TCTD mẹ với một TCTD con thì đó không thể được coi là một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Dấu hiệu thứ hai, về mặt nội dung, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất của các bên về tỷ suất huy động vốn, tỷ suất cho vay, phân chia thị trường, điều kiện ký kết hợp đồng với TCTD,…

Khi nội dung của thỏa thuận được các bên thống nhất đồng nghĩa với sự cạnh tranh giữa các bên tham gia thỏa thuận đó bị triệt tiêu Khi đó, chỉ còn sự cạnh tranh giữa các TCTD khác trên thị trường không tham gia thỏa thuận với một tập thể là các TCTD đã tham gia thỏa thuận đó Chính vì vậy, có thể nói, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh làm cho sức mạnh cạnh tranh của các TCTD tham gia tăng lên một cách nhanh chóng, và có thể đè bẹp các đối thủ cạnh tranh khác Khi các TCTD thỏa thuận về một

tỷ suất huy động vốn ở mức cao thì sẽ rất khó cho các TCTD khác có thể huy động

Trang 28

được vốn nếu như không chấp nhận nâng mức huy động vốn của mình lên ngang bằng với mức huy động của các TCTD tham gia thỏa thuận Vì thế, khó khăn cho TCTD không tham gia thỏa thuận sẽ tăng lên, đồng thời với đó, lợi nhuận và cơ hội phát triển của TCTD đó cũng bị giảm xuống

Dấu hiệu thứ ba, về mặt hình thức, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được hình thành thông qua các hợp đồng, các nghị quyết, các thỏa thuận ngầm giữa các TCTD

Sở dĩ thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một thỏa thuận ngầm bởi thỏa thuận này

bị cấm theo pháp luật của các quốc gia Chính vì thể, rất khó để khám phá và chứng minh được một thỏa thuận nào đó là một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Vì thế, bằng chứng của một thỏa thuận loại này có thể là bán ghi nhớ mà các TCTD tham gia đã cùng nhau lập ra hoặc cuộc gặp mặt giữa những người đại điện cho TCTD, trong đó có bàn bàn và thống nhất về nội dung cùng hành động để hạn chế cạnh tranh

Dấu hiệu thứ tư, về mặt hậu quả, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ngân hàng

Dấu hiệu này được phản ánh rõ nét nhất bởi sự triệt tiêu cạnh tranh giữa các TCTD tham gia thỏa thuận đó Đồng thời, thỏa thuận này cũng hạn chế khả năng tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, loại bỏ một số đối thủ cạnh tranh nào đó trên thương trường,…

Hai là, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền trong lĩnh vực ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, việc một hoặc một nhóm TCTD chiếm lĩnh được

vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền là một quy luật tất yếu Bởi về mặt khách quan, thành công đó là kết quả của một quá trình cố gắng, phấn đấu không biết mệt mỏi của TCTD Tuy nhiên, nếu như vị thế đó mà TCTD có được lại xuất phát từ một phương thức cạnh tranh không lành mạnh, không trung thực hoặc xuất phát từ cạnh tranh lành mạnh, trung thực nhưng sau đó, TCTD đó đã lạm dụng ví trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh hoặc thủ tiêu cạnh tranh thì lại đáng bị lên án và cần phải được pháp luật can thiệp Như vậy, vấn đề trọng tâm ở

Trang 29

đây không phải là vị trí thống lĩnh thị trường hay độc quyền của TCTD mà trọng tâm

là TCTD có lạm dụng vị trí này để hạn chế hay thủ tiêu cạnh tranh hay không ?

Pháp luật thực định của nước ta không đưa ra định nghĩa thế nào là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, nhưng về cơ bản, có thể nhận diện một số dấu hiệu đặc trưng như sau :

Dấu hiệu đầu tiên, về mặt chủ thể, thực hiện hành vi là một hoặc một nhóm TCTD có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan

Như đã khẳng định ở trên, một hoặc một nhóm TCTD có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền mà lạm dụng vị trí ấy để hạn chế hoặc thủ tiêu cạnh tranh

sẽ bị pháp luật trừng phạt Đầu tiên, về mặt số lượng, chủ thể thực hiện hành vi lạm

dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền là một hoặc một số TCTD trên thị trường liên quan Theo quy định của LCT 2004, số lượng tối đa ở đây là bốn, tức là hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền sẽ do một hoặc tối

đa là bốn TCTD thực hiện Thứ hai, hành vi lạm dụng chỉ xảy ra sau khi TCTD có vị

trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan Chính vì vậy, pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới chống hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền của TCTD chứ không phải nhằm xóa bỏ vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền của TCTD

Dấu hiệu thứ hai, về mặt bản chất, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền phải là hành vi đã được quy định trong luật thực định

Sở dĩ có yêu cầu như vậy, bởi xuất phát từ bản chất của pháp luật cạnh tranh không phải là loại pháp luật mang tính mở đường mà là loại pháp luật mang tính ngăn cản, mang tính can thiệp Vì thế pháp luật cạnh tranh quy định giới hạn những hành vi

mà các chủ thể không được phép thực hiện nhằm bảo đảm năng lực và môi trường cạnh tranh lành mạnh

Thông qua việc cố gắng chỉ ra các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền bị cấm, để dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở pháp lý để đối chiếu với các hành vi trên thực tế Như vậy, một hành vi của một hoặc một nhóm TCTD trên thị trường chỉ bị quy là lạm dụng vị trí để hạn chế cạnh tranh khi hành vi đó đã được quy định trong luật thực định

Trang 30

Dấu hiệu thứ ba, về mặt hậu quả, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền của TCTD làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan

Một khi TCTD hoặc một nhóm TCTD nào đó nắm trong tay vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền ngành dịch vụ ngân hàng, thì đồng nghĩa với việc TCTD hoặc nhóm TCTD đó đang sở hữu một lợi thế cực kỳ lớn trong cuộc cạnh tranh với các TCTD khác, đồng thời với đó là khả năng cho phối tới khách hàng, ví dụ như khả năng kiểm soát tỷ suất huy động tiền gửi, tỷ suất cho vay,… Như vậy, hậu quả của hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền vô cùng nghiêm trọng, không những có thể làm hạn chế hoặc triệt tiêu cạnh tranh, mà nó còn có thể xâm phậm trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của các khách hàng của các TCTD

Như vậy, thông qua việc phân tích trên, có thể hiểu hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà một hoặc một nhóm TCTD có vị trí thống lĩnh thị trường dịch vụ ngân hàng hoặc vị trí độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của mình trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế, triệt tiêu cạnh tranh

Ba là, hành vi tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng

Hiện nay, tập trung kinh tế hay còn gọi là M&A (Merger & Acquisition in Banking) là xu thế lớn của ngành ngân hàng và tài chính trên thế giới Đây là việc các ngân hàng tự nguyện hoặc bắt buộc phải tham gia các nghiệp vụ mua, bán, sáp nhập để tạo ra những ngân hàng lớn hơn với mục tiêu tăng vốn, mở rộng thị trường, tăng năng lực cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận Có thể nhận thấy M&A ngân hàng là một sản phẩm phát triển của nền kinh tế thị trường, là công cụ để thị trường tài chính tự điều chỉnh thay cho việc can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính và các chính sách bao cấp, sử dụng tiền từ ngân sách trong hoạt động mua bán, sáp nhập ngân hàng

Là một trong ba loại hành vi có thể gây hạn chế cạnh tranh, nên tập trung kinh

tế cũng mang những đặc điểm chung loại hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, đó là do các các TCTD thực hiện và gây ra hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Bên cạnh đó, tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng còn có những dấu hiệu đặc thù sau đây :

Trang 31

Dấu hiệu đầu tiên, về mặt chủ thể, hành vi tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng do nhiều TCTD cùng tham gia thực hiện

Đây là dấu hiệu đầu tiên có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp phân biệt với các hành vi gây hạn chế cạnh tranh khác Nếu như hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền có thể do một TCTD thực hiện thì ở đây, hành vi tập trung kinh tế phải do nhiều TCTD cùng thể hiện ý chí và cùng thực hiện Đây không phải là hành vi đơn phương mà là hành vi mang tính tập thể

Dấu hiệu thứ hai, về mặt hình thức, tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng bao gồm: hợp nhất, sáp nhập, mua lại và liên doanh giữa các TCTD

Như vậy, thông qua các hình thức tập trung kinh tế, các TCTD đã chủ động tích

tụ và mở rộng các nguồn lực kinh tế như: vốn, quy mô hoạt động của TCTD, hệ thống khách hàng, lực lượng chuyên môn, nhân viên có trình độ và kinh nghiệm,… Trong

đó, có thể hiểu các hình thức tập trung kinh tế của TCTD như sau :

Hợp nhất TCTD là hình thức hai hoặc nhiều TCTD hợp nhất thành một TCTD

mới bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các TCTD bị hợp nhất

Sáp nhập TCTD là hình thức một hoặc nhiều TCTD sáp nhập vào một TCTD

khác bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang TCTD nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của TCTD bị sáp nhập

Mua lại TCTD là hình thức một TCTD mua toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và

lợi ích hợp pháp của TCTD khác Sau khi mua lại, TCTD bị mua lại trở thành công ty trực thuộc của TCTD mua lại

Liên doanh TCTD là hình thức hai hay nhiều TCTD cùng góp vốn để thành

lập tổ chức tín dụng mới bằng cách chuyển một phần tài sản sang TCTD đó và cùng kinh doanh

Dấu hiệu thứ ba, về mặt hậu quả, tập trung kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng có thể làm hình thành nên các TCTD có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc thay đổi cấu trúc thị trường và tương quan cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ngân hàng

Các hình thức như hợp nhất TCTD, sáp nhập TCTD sẽ làm cấu trúc thị trường thay đổi theo chiều hướng giảm đi số lượng TCTD đang hoạt động bằng cách dồn tất

Trang 32

cả năng lực cạnh tranh vào một TCTD duy nhất Ngoài ra, việc mua lại hay liên doanh cũng sẽ hình thành nên các liên kết giữa các TCTD làm cơ sở cho sự ra đời mô hình tập đoàn trong ngành ngân hàng ở Việt Nam

Như vậy, thông qua việc phân tích trên về các yếu tố cấu thành của hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hành, cho thấy, mỗi loại hành vi đều có thể gây ra

sự cản trở, làm sai lệch cạnh tranh và thậm chí còn có thể làm triệt tiêu cạnh tranh Vì thể, để có thể kiểm soát có hiệu quả các hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, yêu cầu quan trọng đối với các quy định của pháp luật đó là phải nắm rõ bản chất, cũng như phân biệt rõ ràng từng loại hành vi hạn chế cạnh tranh, trên cơ sở

đó đưa ra các biện pháp tác động phù hợp

Tóm lại, pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh của các TCTD cần điều chỉnh cả hai vấn đề đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động của các TCTD và các hành vi hạn chế cạnh tranh, có như vậy nó mới bảo đảm sự phát triển an toàn của các TCTD

1.2.3 Vai trò của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Thứ nhất, pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng khẳng định và bảo

hộ quyền tự do kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngân hàng của các TCTD, song cũng phải bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng

Với vai trò là nhân tố bảo đảm cho tự do cạnh tranh, LCT xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng như các biện pháp xử lý đối với những chủ thể kinh doanh có hành vi cạnh tranh không lành mạnh Khác với lĩnh vực kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh ngân hàng ngoài việc tuân thủ quy luật của thị trường còn phải bảo đảm sự quản lý, can thiệp của NHNN trong những trường hợp cần thiết Do đó, pháp luật cạnh tranh ngân hàng cần xác định giới hạn cách xử sự của các TCTD trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh của mình, nhất là hiện tượng phá sản mang tính dây chuyền hệ thống ngân hàng

Thứ hai, pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng góp phần vào việc duy

trì và ổn định trật tự cạnh tranh của các NHTM

Trang 33

Khác với hoạt động cạnh tranh ở các lĩnh vực khác của nền kinh tế, hoạt động cạnh tranh của các TCTD không phải là cuộc chiến “một mất, một còn” mà trong cạnh tranh, các TCTD vẫn có sự “hợp tác” với nhau

Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như thực thi chính sách tiền tệ và chính sách hỗ trợ lãi suất cho các doanh nghiệp để đối phó với trạng suy giảm kinh tế đã thấy rất rõ sự hỗ trợ lẫn trong hoạt động Điều này đã góp phần vào việc duy trì ổn định trật tự thị trường, tránh những hậu quả xấu cho nền kinh tế Do đó, pháp luật cạnh tranh ngân hàng cần làm tốt sứ mạng bảo hộ cho quyền lợi chính đáng của các TCTD trong cạnh tranh; xác định và xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh, góp phần xác lập chuẩn mực chung cho đạo đức kinh doanh để duy trì, đảm bảo trật tự cạnh tranh trên thị trường

Thứ ba, pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng góp phần hình thành ý

thức cạnh tranh lành mạnh trên thị trường ngân hàng

Việt Nam vốn là một nước có truyền thống nông nghiệp, lại trải qua một quá trình dài trong tư duy kinh tế tập trung bao cấp, cho nên chúng ta cũng mới chỉ biết tới cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh trong trong thời gian rất ngắn Do đó, sự non nớt của các TCTD trong việc xây dựng chiến lược cạnh tranh dài hơi, hợp lý và hiệu quả

là điều dễ hiểu Mặt khác, thói quen sử dụng pháp luật như công cụ bảo vệ quyền và

lợi ích hợp pháp trong các TCTD còn rất hạn chế, đây thật sự là rảo cản không nhỏ trong việc áp dụng LCT Trong khi đó, yêu cầu thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo lộ trình hội nhập quốc tế, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các ngân hàng và các tổ chức tài chính nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta Hình thành môi trường pháp luật về tiền tệ, tín dụng minh bạch, công khai, loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp, ưu đãi và phân biệt đối

xử giữa các TCTD của Đảng ta ngày càng trở nên bức thiết hơn [15, tr.13-15]

1.2.4 Khái quát sự phát triển của pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

1.2.4.1 Pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trước khi Luật Cạnh tranh năm 2004 ra đời

Trang 34

Trước khi có LCT ra đời năm 2004, các quy định pháp luật cạnh tranh được quy định tản mạn trong rất nhiều văn bản pháp luật theo từng lĩnh vực, từng ngành nghề nhất định, như Điều 8, Điều 9 Luật Thương mại 1997, Pháp lệnh Quảng cáo

2001, pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp… các vi phạm pháp luật cạnh tranh giai đoạn này được xử lý theo chế tài chính và chế tài hình sự

Nằm trong bối cảnh chung đó, Luật các TCTD năm 1997 cũng dành Điều 16 quy định về hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng Điều 16 Luật các TCTD

1997 quy định: i) Các tổ chức hoạt động ngân hàng được hợp tác và cạnh tranh hợp pháp; ii) Nghiêm cấm các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp, gây tổn hại đến việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống các TCTD và lợi ích hợp pháp của các bên; iii) Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp bao gồm:

- Khuyến mại bất hợp pháp;

- Thông tin sai sự thật làm tổn hại lợi ích của TCTD khác và của khách hàng;

- Đầu cơ lũng đoạn thị trường tiền tệ, vàng, ngoại tệ;

- Các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp khác

Như vậy, các quy định về cạnh tranh của các tổ chức có hoạt động ngân hàng được xây dựng trong thời kỳ chúng ta mới bước đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường, vừa chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 nên các quy định đó mang tính “phòng ngừa”, “quản lý” là chính, nên các quy định pháp luật

về cạnh tranh ngân hàng không đạt được hiệu quả cao

Trong thời kỳ này, các yếu tố của nền kinh tế thị trường chưa được hình thành một cách đồng bộ Hoạt động kinh doanh ngân hàng khi đó vẫn còn được quan niệm là ngành kinh doanh độc quyền của Nhà nước và các NHTM nhà nước còn phải gánh vác rất nhiều các “trọng trách xã hội” mà Nhà nước giao cho Các quy định pháp luật đã dành rất nhiều điều luật quy định về chính sách tín dụng đối với từng loại hình doanh

nghiệp và các đối tượng đặc biệt Nói một cách khác, khi xây dựng Luật các TCTD năm 1997 chúng ta cũng chưa phân tách được tín dụng chính sách và tín dụng thương mại Người ta vẫn có cảm giác các quy định của Luật các TCTD 1997 là dành cho các NHTM nhà nước hơn là dành cho các chủ thể kinh doanh ngân hàng Luật khi đó mới

Trang 35

dừng lại ở việc quy định các TCTD được “hợp tác và cạnh tranh”, Luật trú tâm vào việc liệt kê các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp hơn là quy định các tiêu chính để xác định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật quy định về cạnh tranh bất hợp pháp, nhưng lại vẫn dành vị trí “độc quyền” và các ưu đãi cho các NHTM nhà nước…

Do vậy, ở thời kỳ này, các quy định pháp luật về cạnh tranh mang tính hình thức, chung chung và không có tính khả thi

1.2.4.2 Pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng từ thời điểm Luật Cạnh tranh năm 2004 có hiệu lực thi hành đến nay

Trước khi LCT được ban hành năm 2004, pháp luật cạnh tranh được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau với quan điểm chưa thực sự rõ ràng và thống nhất

về cạnh tranh trong nền kinh tế nói chung, cũng như trong ngành ngân hàng nói riêng; cộng thêm với đó là kinh tế thị trường đã làm xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi hạn chế cạnh tranh, chính vì vậy, sự ra đời của LCT 2004, là

cơ sở pháp lý quan trọng nhằm điều chỉnh hoạt động cạnh tranh của các chủ thể kinh

doanh nói chung, và các TCTD nói riêng

Cùng với LCT 2004, Chính phủ cũng đã hành nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật này như:

- Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh;

- Nghị định của chính phủ Số 110/2005/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp;

- Nghị định 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh;

- Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh;

- Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục quản lý cạnh tranh ;

- Luật các TCTD năm 2010

Trang 36

Bên cạnh một số văn bản quy phạm trên, riêng trong lĩnh vực pháp luật về kiểm soát hành vi tập trung kinh tế có một số văn bản sau:

- Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam;

- Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11 tháng 02 năm 2010 quy định về việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD;

- Thông tư số 06/2010/TT-NHNN ngày 26 tháng 02 năm 2010 hướng dẫn về tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi Giấy phép, Điều lệ của NHTM

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Như vậy, thông qua việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng và pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam, cho ta thấy rằng:

Thứ nhất, cạnh tranh trong đời sống kinh tế nói chung và trong lĩnh vực ngân

hàng nói riêng đã và đang tiếp tục được thừa nhận như một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của hoạt động ngân hàng, cũng như trong sự thành công của các TCTD ở Việt Nam Hiện nay, một trong những nội dung quan trọng trong việc hoạch định chính sách tài khóa của các TCTD, đó là vấn đề về xây dựng chiến lược cạnh tranh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các TCTD trên thị trường ngân hàng

Thứ hai, nội dung pháp luật điều chỉnh hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực

ngân hàng vẫn đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhằm đáp ứng việc quản lý và tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh Những quy định này được xây dựng có nhiều nét tương đồng với pháp luật của các nước trên thế giới, bao gồm: pháp luật về kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên, các quy định của pháp luật ở Việt Nam lại chưa có sự tương đồng và thống nhất giữa các quy định của luật chung với luật chuyên ngành Chính điều đó đã làm cho việc thực thi pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT CẠNH TRANH

TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM 2.1 Thực trạng cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

2.1.1 Các phương thức cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Hiện nay, trong lĩnh vực ngân hàng, để đẩy mạnh hoạt động kinh doanh cũng như nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thương trường, các TCTD sử dụng rất nhiều các phương thức khác nhau, trong đó, có thể kể tới một số phương thức điển hình sau đây:

2.1.1.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm

Không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, ngành ngân hàng rất chú trọng trong việc đẩy mạnh các hoạt động liên quan đến thị trường và sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, các ngân hàng cũng rất cố gắng trong việc đa dạng hóa các loại hình sản phẩm để cung cấp cho xã hội Đây là một xu thế tất yếu khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập vào thế giới và các ngân hàng trong nước đang phải đối phó với sức ép cạnh tranh từ bên ngoài

Giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ cũng mang lại lợi ích cho người tiêu dùng Khác với sản phẩm hữu hình, dịch vụ nói chung và dịch vụ ngân hàng nói riêng mang tính chất vô hình, không thể phân chia được Chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào quá trình giao tiếp giữa người bán và người mua trong quá trình mua bán, tiêu dùng sản phẩm Do vậy ngân hàng rất khó thiết kế và duy trì sản phẩm ngân hàng mang đặc trưng riêng của ngân hàng mình Ví dụ như tiền gửi tiết kiệm ở các ngân hàng đều giống nhau về bản chất, đó là ngân hàng trả lãi cho các khoản tiền gửi khách hàng Về bản chất giống nhau là thế, tuy nhiên, thiết kế sản phẩm riêng lại rất khó Hơn nữa, việc duy trì sản phẩm đó trên thị trường sao cho vừa sinh lợi, vừa tồn tại được lâu lại càng khó hơn, thậm chí là không thể, bởi vì dịch vụ là vô hình, và do vậy không thể ngăn cấm các ngân hàng sao chép các sản phẩm của nhau

Các ngân hàng ở Việt Nam nhìn chung cung cấp dịch vụ còn nghèo nàn, do vậy việc cạnh tranh bằng sản phẩm chưa phải là chiến lược chủ yếu của họ trong thời điểm hiện nay [4]

Trang 38

2.1.1.2 Cạnh tranh về giá

Về nguyên tắc, giá của sản phẩm ngân hàng phụ thuộc vào độ co giãn của cầu, giá của các đối thủ cạnh tranh và nhận thức của khách hàng về giá trị sản phẩm và các quy định hiện hành Trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ và dịch vụ thanh toán, duy trì giá thấp không phải là một chiến lược mang lại lợi thế cạnh tranh lâu dài bởi sản phẩm ngân hàng như tiền gửi, cho vay, mức lãi suất bao gồm cả rủi ro Các ngân hàng có độ tín nhiệm và xếp hạng thấp luôn duy trì lãi suất tiền gửi cao hơn các ngân hàng có độ tín nhiệm và xếp hạng cao hơn Bên cạnh đó, các đối thủ cạnh tranh hoàn toàn có thể điều chỉnh giá của mình Đối với ngân hàng có cơ cấu chi phí cao, hoặc trong môi trường cạnh tranh gay gắt thì ngân hàng khó có thể duy trì chính sách giá thấp trong thời gian dài Hơn nữa, chính sách về giá cũng không phải là không có rủi ro Nhiều ngân hàng bán một dịch vụ cho khách hàng mà không thu phí, như dịch vụ thanh toán tiền qua tài khoản, nhưng để bù lại ngân hàng dự định có được các thu nhập khác từ dịch vụ kèm theo, như khách hàng để tiền nhàn rỗi tại tài khoản Tuy nhiên, làm như vậy, ngân hàng rất khó phân bổ chi phí cố định và phí biến đổi cho từng loại sản phẩm dịch vụ Do vậy, thực tế ngân hàng không thể xác định một cách kịp thời giao dịch nào

bị lỗ Ngoài ra, sức ép về cạnh tranh và sự biến động liên tục về lãi suất trên thị trường khiến cho các ngân hàng phải thường xuyên xem xét và điều chỉnh mức giá của mình

vì vậy, các TCTD hiện nay, bên cạnh việc không ngừng cải tiến bộ máy và phương thức kinh doanh, thì xây dựng một lực lượng nhân viêc năng động và chuyên nghiệp đang được đặc biệt quan tâm

2.1.1.4 Cạnh tranh bằng áp dụng công nghệ, khoa học – kỹ thuật hiện đại trong kinh doanh và quản lý

Trang 39

Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, khi hành lang pháp lý được thông thoáng, các rào cản về việc phân biệt đối xử giữa các ngân hàng với nhau cũng không còn nữa, khi mà dịch vụ của các ngân hàng gần như tương đương nhau thì công nghệ

là yếu tố hàng đầu để các ngân hàng duy trì lợi thế cạnh tranh của mình Công nghệ giúp ngân hàng trong lĩnh vực quản trị, trong việc mở rộng sản phẩm, dịch vụ thông qua đó ngày càng đáp ứng được các nhu cầu khắt khe của hệ thống ngân hàng Công nghệ hiện đại cũng cho phép các ngân hàng giảm chi phí, giảm thời gian trong giao dịch, tăng độ an toàn cho khách hàng Ngân hàng nào có công nghệ tiên tiến hơn, ngân hàng đó sẽ có được ưu thế giành lấy lòng tin của khách hàng Hiện nay hầu hết các ngân hàng đang tự động hoá các hoạt động tác nghiệp, sử dụng máy tính để tự động hoá các khâu xử lý nhằm tối ưu hoá hoạt động và hạn chế tín dụng Hầu hết các TCTD đều thực hiện các nghiệp và các giao dịch bằng máy tính [4]

2.1.2 Thực trạng môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam

2.1.2.1 Thực trạng về môi trường pháp lý về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng

Môi trường pháp lý về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng được ban hành tương đối đầy đủ, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cạnh tranh là luật chung và các quy định chuyên ngành ngân hàng Đặc biệt Luật các TCTD 2010 mới ban hành đã khắc phục rất nhiều bất cập của Luật các TCTD 1997 về các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng Tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn còn thiếu các quy định của Chính phủ và NHNN hướng dẫn chi tiết việc quản lý hoạt động cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là những quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các TCTD Chính những điều này làm cho môi trường pháp lý về cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam còn tồn tại nhiều khoảng trống, biểu hiện ở các vấn đề sau đây:

Thứ nhất, các rào cản gia nhập thị trường dịch vụ ngân hàng

Khác với các ngành kinh tế, để có thể trở thành một thành viên của thị trường dịch vụ ngân hàng, các nhà đầu tư phải vượt qua các rào cản tự nhiên và rào cản pháp

Ngày đăng: 16/02/2021, 20:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w