Từ đó đưa ra những định hướng cơ bản làm tiền đề để xây dựng mô hình cơ chế pháp lí bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm một cách hữu hiệu nhất, nhằm giúp nạn nhân và gia đình họ nha
Trang 2B ộ T ư PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
U M >
ĐÊ TÀI NGHIÊN c ứ u KHOA HOC CẤP TRƯỜNG
C ơ CHÉ PHÁP LÍ BẢO VỆ QUYÈN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
Mã số đề tài: LH 2010 - 17/DHL-HN Chủ nhiệm đề tài: TS Trần Hữu Tráng TRUNG TÂM TỘI PHẠM HỌC• • • KHOA PHÁP LUẬT HÌNH s ự
TRUNG TÂM THÔNG TIM THƯ ViỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC HA MỘi PHÒNG ĐỌC_
HÀ NỘI 2011
Trang 3DANH SÁCH THAM GIA ĐÈ TÀI
Chuyên đề 1: Vai trò của nạn nhân của tội phạm trong hệ thống tư pháp hình sư
Chuyên đề 3: Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Cộng hòa liên bang Đ ứ c
Chuyên đề 7: Thực trạng thiệt hại, bồi thường thiệt hại, bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở nước ta và hướng hoàn thiện cơ chế pháp lí bảo vệ quyền
và lợi ích cơ bản của nạn nhân của tội pham
Chuyên đề 8: Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân của tội phạm
Chuyên đề 2: Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa kì
Chuyên đề 5: Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hàn quốc
Chuyên đề 4: Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Vương quốc Anh
Chuyên đề 6: N ạn nhân của nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ của con người
89
Trang 4Trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm
( The Crỉme Victim Support Center)Hậu quả thiệt hại về sức khỏeNhà xuất bản
Phòng ngừa tội phạmTòa án nhân dânTòa án nhân dân tối cao
Tội phạm họcTrang
Xâm phạm sở hữu
Vụ án hình sự
III
Trang 5M Ụ C L Ụ C
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I Tính cấp thiết của đề tài 1
II Tình hình nghiên cứu đề tà i 3
III Phương pháp nghiên cứu 5
IV Mục đích nghiên cứ u 5
V Phạm vi nghiên cứu 6
VI Nội dung nghiên cứu của đề tà i 6
PHẦN I 7
TỔNG THUẬT KÉT QUẢ NGHIÊN cứu CỦA ĐÈ TÀI 7
I Vai trò của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự 7
II Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở một số quốc gia 9
III Thực trạng bảo vệ và trợ giúp nạn nhân ở nước ta 21
IV Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân của tội phạm 26
PHÀN II 34
CÁC CHUYÊN Đ È 34
CHUYÊN ĐÈ 1 34
VAI TRÒ CỦA NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM TRONG HỆ THÓNG TƯ PHÁP HÌNH S ự 34
I.Vaỉ trò của nạn nhân trong giai đoạn điều tra, khỏi tố vụ án hình sự 35
II Vai trò của nạn nhân của tội phạm trong giai đoạn xét xử 38
III Vai trò của nạn nhân trong việc định tội, định khung và quyết định hình phạt 39
IV Hoàn thiện cơ chế pháp lí nhằm tăng cường vai trò của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự 43
CHUYÊN ĐE 2 47
BẢO VỆ VÀ TRỢ GIÚP NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM Ở HOA KÌ 47
I Tổng quan về vấn đề trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa Kì 47
II Trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở các cơ quan công tố và cơ quan thi hành pháp luật k h ác 51
III Trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở các nhóm cá nhân và tổ chức phi chính phủ * 54
CHUYÊN ĐÈ 3 58
BẢO VỆ VÀ TRỢ GIÚP NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM Ở CHLB ĐỨC 58
I Cơ sở pháp lý của việc trợ giúp và bảo vệ nạn nhân của tội phạm 58
II Thực tiễn hoạt động trợ giúp và bảo vệ nạn nhân của tội phạm 66
III Những bài học kỉnh nghiệm từ mô hình bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ỞCHLB Đưc 7 r r „ .69
CHUYÊN ĐÈ 4 72
BẢO VỆ VÀ TRỢ GIÚP NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM 72
Ở VƯƠNG QUÓC ANH 72
I Cơ sở pháp lý cho việc hỗ trợ và đền bù thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm 72 II Quy định chung của Cộng đồng Châu Âu đối vói việc xác định quyền lợi của nạn nhân trong quy trình tố tụng hình s ự 75
III Bồi thường thương tích do tội phạm gây ra 77
IV Đền bù thiệt hạỉ vật chất trong các vụ phạm tội 78
V Tổ chức hỗ trợ cho nạn nhân của tội phạm 79
Trang 6VI Tịch thu tài sản do phạm tội mà có 80
CHUYỆN ĐÈ 5 81
BẢO VỆ VÀ TRỢ GIÚP NẠN NHẢN CỦA TỘI PHẠM Ở HÀN QUỐC 81
I Tổng quan về vấn đề trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hàn Quốc 81
II Chủ thể tiến hành trơ giúp nan nhân của tôi pham ở Hàn Quốc 84
CHUYÊN ĐE 6 8 9 BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ VÈ NẠN NHÂN CỦA NHÓM TỘI XÂM PHẠM TM, SK, DD, NP CỦA CON NGƯỜI VÀ NHÓM TỘI XPSH 89
I Nhóm tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người 89
II Nhóm tội xâm phạm sở hữu 94
CHUYÊN Ì)È 7 98
THựC TRẠNG THIỆT HẠI VÀ BÒI THƯỜNG THIỆT HẠI CHO NẠN NHÂN CỦẤ TỘI PHẠM Ở NƯỚC TA VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN c ơ CHÉ BẢO VỆ VÀ TRỢ GIÚP NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM ! 98
I Thực trạng thiệt hại và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm 98
II Thực trạng trợ giúp, bảo vệ nạn nhân của tội phạm ở nước ta và hướng hoàn thiện . 7 107
CHUYÊN ĐÈ 8 113
C ơ CHÉ PHÁP LÍ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM 113
I Các nguyên tắc, phương thức, cách thức, thủ tục để đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế 116
II Các chủ thể tiến hành việc bảo vệ nạn nhân của tội phạm 119
III Các chủ thể tiến hành trợ giúp nạn nhân của tội phạm 120
IV Các đối tượng được hưởng sự bảo vệ và trợ giúp 123
V Hệ thống văn bản quy định việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm 125 VI Mối quan hệ tác động giữa các yếu tố trong cơ chế pháp lí bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm 126 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO A PHỤ LỤC D
V
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Là người bị hành vi phạm tội trực tiếp gây thiệt hại, nạn nhân của tội phạm phải chịu những thiệt hại nặng nề không chỉ về tính mạng sức khoẻ, tinh thần, tình cảm mà cả những thiệt hại về kinh tế và những quyền cơ bản khác Không những thế, sau khi hành vi phạm tội xảy ra, nhiều nạn nhân của tội phạm còn bị đe doạ, cưỡng bức, không dám tố giác tội phạm cũng như không dám làm chứng trong các
vụ án hình sự Nhiều nạn nhân của tội phạm luôn phải sống trong tình trạng vô cùng khó khăn về kinh tế cũng như lo lắng về tính mạng, sức khoẻ của mình và của người thân trong gia đình Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lí xã hội có trách nhiệm không chỉ bảo vệ nạn nhân của tội phạm cũng như cuộc sống của gia đình
họ mà còn phải giúp đỡ tạo điều kiện để nạn nhân và gia đình họ có cuộc sống ổn định, khắc phục được về cơ bản những thiệt hại do hành vi phạm tội xâm hại
Trên thế giới, nhiều nước đã chú trọng đến các chính sách bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Các chính sách này được luật hoá tập trung vào việc bảo vệ nạn nhân, nhân chứng và hỗ trợ các vấn đề thiết yếu trong cuộc sống của nạn nhân
và gia đình họ Văn bản đầu tiên trên thế giới về trợ cấp thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm được Nghị viện New Zeland thông qua năm 1963 Tiếp đó là các văn bản
về „Định mức trợ cấp thiệt hại của nhà nước cho nạn nhân“ lần đầu tiên được đưa
ra ở Anh quốc năm 1964; „Mức trợ cấp thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm“ lần đầu tiên được thực thi ở bang New South Wales của Australia năm 1967.1 Ở Mỹ, Luật bảo vệ nạn nhân và nhân chứng (The Victim and Witness Protection Act of 1982) được ban hành để tăng cường bảo vệ nhân chứng và nạn nhân của tội phạm
trong quá trình tiến hành tố tụng Cùng với bộ luật này, Bộ luật về nạn nhân của tội
phạm (The Victims o f Crime Act o f 1984) đã đặt nền móng cho việc thành lập các quỹ trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm về tài chính, đặc biệt là các nạn nhân của bạo lực gia đình, nạn nhân bị lạm dụng tình dục trẻ em và nạn nhân của bạo lực tình dục (domestic violence, child abuse, and sexual assault) Nhiều chương trình trợ giúp nạn nhân để ổn định cuộc sống sau khi bị hành vi phạm tội xâm hại cũng
đã được thực hiện.2
' Xem: Basia Spalek, Crime V ictim s -T h eory, policy and practice, Palgrave M acmillan, Nevv York 2006, tr 16.
Trang 8Tuyên bô vê các nguyên tăc cơ bản vê tư pháp đôi với nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của lạm dụng sức mạnh của liên hợp quốc ban hành ngày 29 tháng 11 năm 19853 đã giành 6 điều (từ điều 12 đến điều 17) để xác định rõ những nguyên tắc về trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm về tài chính, thuốc men, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Trên cơ sở những nguyên tắc này, nhiều nước trên thế giới đã thành lập các
tổ chức để trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm như Liên bang ú c , Vương quốc Bỉ, Ca-na-đa, Đan mạch, CHLB Đức, CH Phần Lan, CH Pháp, Ai-len, Lúc-xăm-bua,
Hà Lan, Bắc Ai-len, Na Uy, Ba Lan, Thụy Điển và Hoa Kì.4
Vấn đề bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm hiện nay ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập Nạn nhân của tội phạm chỉ trông chờ vào việc bồi thường của người phạm tội Trong nhiều trường hợp, người phạm tội chết hoặc không có khả năng bồi thường thiệt hại thì nạn nhân của tội phạm sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, v ấ n đề bảo vệ nạn nhân của tội phạm ở nước ta hiện nay cũng chưa có bộ luật riêng điều chỉnh Nhiều nạn nhân của tội phạm luôn chịu
sự đe doạ cưỡng bức của người phạm tội, thậm chí của bạn bè hay gia đình người phạm tội Điều này vừa ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của nạn nhân và gia đình họ, đồng thời cũng làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm Trong tình hình đó, nghiên cứu hoàn thiện
cơ chế pháp lí bảo vệ nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đảm bảo hoàn thiện khung pháp lí cũng như các thiết chế nhà nước và xã hội nhằm đáp ứng tốt nhất cho việc đảm bảo an toàn tính mạng sức khoẻ và tài sản của nạn nhân của tội phạm cũng như người thân của họ, giúp họ ổn định cuộc sống và tích cực đóng góp cho cuộc đấu tranh chổng và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự, an ninh, an toàn xã hội Chính vì vậy nhóm tác giả đăng kí đề
tài: „Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân của tội
phạm“ làm đề tài nghiên cứu khoa học của năm 2010.
3 Declaration o f Basic Pri nci pl es o f Justice for Victim s o f Crime and Abuse o f Povver, trang web:
http://w w w.un.org/docutnents/ga/res/40/a40r034.htm
4 Xem: Basia Spalek, Sđd, tr 16.
2
Trang 9Nạn nhân học là lĩnh vực khoa học còn mới mẻ không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, vì vậy chưa được quan tâm nghiên cứu Ớ trong nước, có thể
kể đến một số bài báo, công trình nghiên cứu như:
- Nạn nhân học trong tội phạm học Việt Nam-một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án thạc sỹ luật học của tác giả Trần Hữu Tráng, Trường Đại học Luật
- Một số đặc điểm tội phạm học của tội giết người của ThS Đỗ Đức Hồng
Hà Tạp chí Nhà nước và pháp luật Viện Nhà nước và pháp luật, số 6/2004
- Nạn nhân của tội phạm dưới góc độ tội phạm học của tác giả Dương Tuyết Miên, Tạp chí Toà án, Toà án nhân dân tối cao, số 20/2005
- Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ
em và giải pháp khắc phục của tác giả Dương Tuyết Miên, Tạp chí Luật học, số đặc san 2005
- Vấn đề nạn nhân của tội phạm, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, mã số: LH-09-03/DHL-HN, Trần Hữu Tráng chủ nhiệm đề tài, bảo vệ tháng 5 năm 2010
- Bàn về khái niệm nạn nhân của tội phạm, Trần Hữu Tráng, Tạp chí Nghề Luật, số 05/2010
Những công trình nghiên cứu này còn chưa hoặc đề cập không nhiều đến khía cạnh bảo vệ nạn nhân của tội phạm
Ở nước ngoài đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu đề cập đến nạn nhân của tội phạm cũng như việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
II Tinh hình nghiên cứu đề tài
Trang 10- Công trình nghiên cứu: Viktimologie- Wissenschaft vom Verbrechenopíer (tạm dịch: Nạn nhân học - khoa học nghiên cứu nạn nhân của tội phạm), của tác giả Hans Joachim Schneider nhà xuất bản Paul Siebeck, Tũbingen, 1975 Trong tác phẩm này, tác giả đã tập trung làm rõ khái niệm nạn nhân của tội phạm; quá trình trở thành nạn nhân của tội phạm; mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội; thiết hại của nạn nhân và vấn đề bồi thường thiệt hại; nạn nhân của tội phạm trong luật hình sự và luật tố tụng hình sự; nạn nhân của tội diệt chủng.
- Công trình nghiên cứu: Das Opfer nach der Straíìtat (tạm dịch: Nạn nhân của tội phạm) của hai tác giả Michael c Baurmann và Wolfram Schădler, nhà xuất bản Wiesbaden 1991 Công trình nghiên cứu này chia làm hai phần: Phần lí luận và phần nghiên cứu thực tiễn Trong phần lí luận, các tác giả đã làm rõ các vấn đề như khái niệm nạn nhân, bảo vệ nạn nhân, trợ giúp nạn nhân; phân loại nạn nhân; bảo
vệ nạn nhân trong quá trình tố tụng hình sự và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm Trong phần hai, các tác giả trình bày kết quả nghiên cứu về thực trạng nạn nhân của tội phạm ở Đức thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu và phỏng vấn Các đặc điểm được nghiên cứu bao gồm đặc điểm về tuổi, giới tính, dân tộc của nạn nhân; tình trạng kinh tế của nạn nhân; động cơ tố giác tội phạm; thời gian từ khi tố giác đến khi vụ án được giải quyết; đánh giá về hoạt động của cảnh sát và các nhân viên tư pháp; thực trạng thiệt hại và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm
- Công trình nghiên cứu: Kriminologische Opferforschung (tạm dich: Nghiên cứu nạn nhân trong tội phạm học) của hai tác giả Gủnther Kaiser và Jốrg- MartinJehle, nhà xuất bản Heidelberg, 1995 Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu về những vấn đề như sự lo lắng về tội phạm và những kinh nghiệm của nạn nhân của tội phạm; sự thay đổi của xã hội và sự gia tăng tội phạm trong các tiểu bang; ý nghĩa của sự gia tăng tội phạm và sự gia tăng nguy cơ trở thành nạn nhân đối với sự lo lắng về tội phạm; các nhóm cá nhân là nạn nhân của tội phạm như nạn nhân của nhóm tội phạm tinh dục, nạn nhân là trẻ em bị lạm dụng hay nạn nhân của bạo lực
- Crime Victims - Theory, Policy and Practice (tạm dịch: Nạn nhân của tộiphạm - Học thuyết, chính sách và thực tiễn) của tác giả Basia Spalek, một nhà tộiphạm học người mỹ của nhà xuất bản Palgrave, New York 2006 Tác giả đã làm rõcác vấn đề như khái niệm nạn nhân học, khái niệm nạn nhân; nạn nhân và hệ thống
tư pháp hình sự; trách nhiệm của Nhà nước với nguy cơ trở thành nạn nhân của tội
4
Trang 11phạm; các học thuyết về nạn nhân; các tác động mà tội phạm gây ra cho nạn nhân;
nhu cầu và quyền của nạn nhân; những khía cạnh mới trong nạn nhân học
- Victims o f crime (tạm dịch: Nạn nhân của tội phạm) của các tác giả Robert
c Davis, Arthur J Lurigio và Susan Herman, tái bản lần thứ 3, nhà xuất bản Sage
Publications, Caliíòmia 2007 Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập
trung nghiên cứu về tội phạm và ảnh hưởng của tội phạm đến các nạn nhân bao gồm
các nhóm nạn nhân như nhóm nạn nhân bạo lực, nhóm nạn nhân của tội giết người,
nhóm nạn nhân của tội phạm trong lĩnh vực tài chính, nhóm nạn nhân bị lạm dụng
Nhóm tác giả cũng làm rõ tác động của gia đình, bạn bè và hàng xóm đến việc ngăn
ngừa nguy cơ trở thành nạn nhân của tội phạm; vai trò của nạn nhân cũng như quyền
của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự
Có thể thấy, những công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến những vấn đề
bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở nước ngoài
III Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đe tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí
Minh về Nhà nước và pháp luật
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Đề tài sử dụng các phương pháp phân
tích, so sánh, tổng họp, phương pháp lịch sử, thống kê để nghiên cứu, phân tích các
văn bản của nước ta cũng như của nước ngoài, các báo cáo tổng kết áp dụng thực tiễn
pháp luật, các bản án, quyết định hình sự của TAND, các bảng thống kê và các tài liệu
pháp lý liên quan khác đến nạn nhân của tội phạm Đề tài cũng sử dụng phương pháp
điều tra xã hội học và thống kê để tiến hành điều tra thực trạng thiệt hại của nạn nhân
của tội phạm cũng như vấn đề bồi thường cho nạn nhân của tội phạm
IV Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng đến là nghiên cứu kinh nghiệm của
các quốc gia có hoạt động trợ giúp và bảo vệ nạn nhân rất hiệu quả và điển hình
trên thế giới, nghiên cứu tình hình thực tế của nước ta về bồi thường, trợ giúp và
bảo vệ nạn nhân của tội phạm Trên cơ sở đó, đề tài sẽ đưa ra những định hướng cơ
bản làm tiền đề để xây dựng một cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của nạn nhân của tội phạm, nhằm giúp nạn nhân và gia đình họ nhanh chóng khắc
Trang 12phục những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, cũng như khuyến khích các nạn nhân và người làm chứng tham gia tích cực vào hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện lí luận về nạn nhân của tội phạm, một lĩnh vực khoa học còn khá mới ở nước ta
V Phạm vi nghiên cứu
Năm 2009, đề tài nghiên cứu „vấn đề nạn nhân của tội phạm“ với mã số
LH-09-03/DHL-HN đã được thực hiện Trong đề tài này, những vấn đề lí luận cơ bản về nạn nhân của tội phạm đã được nhóm tác giả nghiên cứu đề tài làm rõ, như vấn đề khái niệm, phân loại nạn nhân của tội phạm, vai trò của nạn nhân trong cơ chế hành vi phạm tội V ì vậy, trong đề tài này, nhóm tác giả không nghiên cứu những vấn đề lí luận chung về nạn nhân của tội phạm mà tập trung giải quyết các vấn đề về cơ chế pháp lí bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm cả về lí luận và thực tiễn Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm về bảo vệ
và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở bốn quốc gia phát triển trên thế giới, điển hình cho các châu lục, các dòng họ pháp luật là Cộng hoà liên bang Đức, Vương quốc Anh, Hòa kì và Hàn quốc Đề tài cũng phân tích để thấy được vài nét tổng quan
„Bức tranh“ về thực trạng thiệt hại của nạn nhân của tội phạm, thực trạng bồi thường thiệt hại, cũng như bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở nước ta Đề tài cũng tập trung chủ yếu vào nhóm nạn nhân là cá nhân chịu các thiệt hại lớn về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tài sản
VI Nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về bảo vệ
và trợ giúp nạn nhân của tội phạm trên cả hai bình diện là cơ sở pháp lí và các thiết chế bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Từ đó đưa ra những định hướng cơ bản làm tiền đề để xây dựng mô hình cơ chế pháp lí bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm một cách hữu hiệu nhất, nhằm giúp nạn nhân và gia đình họ nhanh chóng khắc phục những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, cũng như khuyến khích nạn nhân và người làm chứng tham gia tích cực vào hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo tăng cường an ninh, trật tự, an toàn xã hội
6
Trang 13PHẦN I
Năm 2009, đề tài nghiên cứu „vấn đề nạn nhân của tộ ip h ạ m “ với mã số LH-09-03/DHL-HN đã được thực hiện và nghiệm thu Trong đề tài này, những vấn
đề lí luận cơ bản về nạn nhân của tội phạm đã được nhóm tác giả nghiên cứu đề tàilàm rõ, như vấn đề khái niệm, phân loại nạn nhân của tội phạm, vai trò của nạnnhân trong cơ chế hành vi phạm tội V ì vậy, trong đề tài này, nhóm tác giả không nghiên cứu những vấn đề lí luận chung về nạn nhân của tội phạm mà đi sâu nghiên cứu hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm trên thế giới Trên cơ sở
đó, nhóm tác giả đưa ra những định hướng cơ bản để hoàn thiện cơ chế pháp lí bảo
vệ quyền và lợi ích họp pháp của nạn nhân của tội phạm ở nước ta Đe tài nghiên cứu bao gồm tám chuyên đề:
1 Vai trò của nạn nhân của tội phạm trong hệ thống tư pháp hình sự
2 Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Cộng hòa liên bang Đức
3 Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Vương quốc Anh
4 Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa kì
5 Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hàn quốc
6 Báo cáo đánh giá về nạn nhân của nhóm tội xâm phạm TM, SK, DD, NP của con người và nạn nhân của nhóm tội XPSH
7 Thực trạng thiệt hại, bồi thường thiệt hại, bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở nước ta và hướng hoàn thiện cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản của nạn nhân của tội phạm
8 Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân của tội phạmSau một năm nghiên cứu, nhóm tác giả đã thu được những kết quả nghiên cứu quan trọng như sau:
I Vai trò của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự
Nghiên cứu vai trò của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự có ý nghĩaquan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống tội phạm Bởi
Trang 14việc phạm tội, biêt rõ vê người thực hiện hành vi phạm tội Sự họp tác của nạn nhân với cơ quan bảo vệ pháp luật sẽ giúp các cơ quan này giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ án hình sự Mặc dù nạn nhân và người bị hại là những khái niệm không đồng nhất5, tuy nhiên phân tích làm rõ vai trò của người bị hại trong hệ thống tư pháp hình sự cũng cho thấy rõ vai trò của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự.
1.1 Vai trò của nạn nhân trong giai đoạn khởi tố VAHS
Trong hệ thống tư pháp hình sự, vai trò của nạn nhân của tội phạm trước hết thể hiện trong giai đoạn khỏi tố, điều tra vụ án Trong giai đoạn này, những thông tin
mà nạn nhân cung cấp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là một trong những căn cứ quan trọng để khỏi tố vụ án hình sự.6 Đặc biệt, trong những trường họp vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, quyết định yêu cầu khởi tố của nạn nhân chính là căn cứ quan trọng để mở đầu quá trình TTHS Đây vừa là một quyền nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp cho nạn nhân của tội phạm nhưng cũng đồng thời tạo ra những hạn chế nếu quy định này bị người phạm tội lợi dụng để đe dọa, khống chế nạn nhân và người nhà của họ, làm cho họ không dám yêu cầu khởi tố vụ án
1.2 Vai trò của nạn nhân trong giai đoạn điều tra
Trong giai đoạn điều tra, lời khai của người bị hại là một trong những chứng
cứ quan trọng trong chứng minh tội phạm Sự tham gia của nạn nhân vào các hoạt động, như nhận dạng, đối chất, khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, xem xét dấu vết trên cơ th ể sẽ giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật đánh giá chính xác, khách quan quá trình, diễn biến của vụ việc, xác định đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như làm rõ những vấn đề còn nghi ngờ, giúp cho kết luận điều tra đảm bảo tính chính xác
1.3 Vai trò của nạn nhân trong giai đoạn xét xử
Trong giai đoạn xét xử, nạn nhân của tội phạm cũng có vai trò quan trọng Đối với những vụ án khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, trước ngày mở phiên tòa, nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì vụ án phải được đình chỉ Mặt khác, nạn nhân có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, quyền đưa ra yêu cầu bồi thường thiệt hại, quyền trình bày lời buộc tội (trong trường họp yêu cầu khởi tố vụ án hình sự)
5 về sự khác biệt giữa hai khái niệm này, xem: Trần Hữu Tráng, Luận văn thạc sỹ luật học: Nạn nhân học trong Tội phạm học Việt N am - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà N ội, 2000.
Xem: Điều 100 BLTTHS.
8
Trang 15Nạn nhân của tội phạm cũng có vai trò quan trọng trong hoạt động định tội danh, định khung và quyết định hình phạt Nhiều đặc điểm của nạn nhân là những tình tiết quan trọng cần phải nghiên cứu khi định tội danh, như đặc điểm nghề nghiệp, chức vụ công tác (Điều 128, Điều 257, Điều 319, Điều 321 BLHS), đặc điểm giới tính của nạn nhân (Điều 111, Điều 113, Điều 130 BLHS), đặc điểm về
độ tuổi của nạn nhân (Điều 94, Điều 114, Điều 115, Điều 116, Điều 120, Điều 252, Điều 256 BLHS), đặc điểm về mối quan hệ của nạn nhân với người phạm tội (Điều
100, Điều 150, Điều 151, Điều 152 BLHS) Ngoài ra cũng có nhiều tình tiết thuộc
về nạn nhân của tội phạm là những tình tiết định khung hình phạt, như các tình tiết nạn nhân là người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; nạn nhân là ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của người phạm tội; nạn nhân là phụ nữ có thai; nạn nhân là người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh Một số đặc điểm của nạn nhân còn được nhà làm luật quy định là các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS trong quyết định hình phạt Ví dụ tình tiết „nạn nhân là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng“ là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS Các tình tiết
„nạn nhân là trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người ở trong tình trạng không thể
tự vệ được hoặc nạn nhân là người lệ thuộc người phạm tội về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác“ quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 48 BLHS là tình tiết tăng nặng TNHS của người phạm tội
II Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở một số quốc gia 2.1 Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa kì
Hoa kì là một trong những quốc gia có sự triển khai đồng bộ và mạnh mẽ các chương trình bảo vệ và trợ giúp cho nạn nhân và nhân chứng cũng như bảo đảm quyền được bồi thường của nạn nhân của tội phạm Bảo đảm quyền được bồi thường của nạn nhân của tội phạm được quy định tại điều 3771 [các quyền của nạn nhân của tội phạm (Crime victims’ rights)] trong Bộ tổng luật Hoa kì phần 18: Bộ luật hình sự và tố tụng hình sự (Title 18 Crimes and Criminal Procedure) Theo đó, nạn nhân của tội phạm có quyền được bồi thường đầy đủ và nhanh chóng theo quy định của pháp luật; quyền được đối xử công bằng, tôn trọng phẩm giá và các quyền
cá nhân của nạn nhân.7 Trên cơ sở quy định của Bộ Tổng luật, Bộ luật của các
ỉ 4 Vai trò của nạn nhân trong quá trình quyết định hình phạt
Trang 16bang cũng quy định chi tiết quyền của nạn nhân của tội phạm Bộ luật tố tụng hình
sự của bang Texas Hoa kì đã quy định chi tiết về các quyền của nạn nhân của tội phạm trong chương 56 v ề quyền bồi thường cho của các nạn nhân của tội phạm, các nhà lập pháp bang Texas - Hoa kì đã quy định, trước hết, các nạn nhân của tội phạm có quyền được cung cấp các thông tin (khi yêu cầu) có liên quan đến việc người phạm tội bồi thường cho những thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây
ra (restitution) Quyền được nhận các thông tin về việc bồi thường của nhà nước (compensation) theo quy định của pháp luật, thông tin về thủ tục làm đơn xin bồi thường thiệt hại cũng như bồi thường cho các khoản thanh toán thuốc men cho các nạn nhân bị bạo lực tình dục và khoản trợ giúp xã hội cần thiết nếu có yêu cầu Tiếp đó, các nhà làm luật cũng xác định rõ quyền được đòi bồi thường những thiệt hại mà tội phạm đã gây ra cho nạn nhân và gia đình họ.8 Bộ luật tố tụng hình sự của bang Utah cũng dành chương 37 để quy định về quyền của nạn nhân của tội phạm Theo đó, nạn nhân và nhân chứng có quyền được thông báo về mức độ bảo
vệ khỏi sự nguy hiểm cũng như sự đe dọa có thể xảy ra cho họ khi tham gia quá trình tố tụng Các nạn nhân và nhân chứng kể cả người giám hộ cũng có quyền được thông tin và trợ giúp như vậy Các nạn nhân và nhân chứng có quyền được giải thích rõ ràng về quá trình tố tụng hợp pháp Họ có quyền được đảm bảo an toàn tại những nơi biệt lập với bị cáo cũng như gia đình và bạn bè của bị cáo Nạn nhân và nhân chứng có quyền được hưởng sự bồi thường bao gồm cả chi phí thuốc men theo quy định của pháp luật Nạn nhân và nhân chứng có quyền yêu cầu trả lại những tài sản đã bị hành vi phạm tội xâm hại hoặc tài sản có liên quan đến vụ án Nạn nhân và nhân chứng cũng có quyền được thông báo kịp thời về các thủ tục tư pháp mà họ tham dự để họ chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, được thông báo kịp thời việc hủy các hoạt hoạt động tố tụng Nạn nhân của các tội phạm tình dục có quyền yêu cầu kiểm tra tự nguyện về việc nhiễm HIV cũng như có quyền yêu cầu kiểm tra bắt buộc việc nhiễm HIV đối với người phạm tội Cùng với việc quy định quyền của các nạn nhân của tội phạm, chương này cũng quy định cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện các quyền này của nạn nhân Hầu hết các điều khoản trong chương này đều quy định nghĩa vụ của các nhân viên cơ quan tư pháp hình sự có nghĩa vụ bảm đảm việc thực thi các quyền này như nghĩa vụ thông báo cho nạn nhân của tội phạm các quyền của họ, nghĩa vụ cung cấp thông tin, nghĩa
vụ trả lại tài sản liên quan đến vụ án khi thấy việc tạm giữ đồ vật và tài sản không
8 Xem: Chapter 56, Texas Code o f Criminal Procedure Nguồn: http://law iustia.com /codes/texas/2005/cr.htm l.
10
Trang 17còn cần thiết 9 Cùng với các bang Texas và Utah thì hầu hết các bang của Hoa kì đều quy định rất cụ thể những quyền của nạn nhân của tội phạm và cơ chế bảo đảm các quyền cơ bản của nạn nhân của tội phạm để bảo vệ quyền lợi cho họ; quyền được bảo vệ khỏi những nguy hiểm và sự đe dọa của người phạm tội cũng như quyền được bồi thường những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và quyền được hưởng những trợ giúp như trợ giúp thuốc men, trợ giúp tài chính hay trợ giúp pháp lí nhằm giúp nạn nhân và gia đình họ nhanh chóng khắc phục những hậu quả do hành
vi phạm tội gây ra, ổn định cuộc sống Hầu hết các bang của Hoa kì đều tích cực triển khai các chương trình bảo vệ nạn nhân và nhân chứng cũng như thành lập các
cơ quan, các quỹ bồi thường và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Ngày nay, toàn bộ đất nước Hoa kì đã triển khai gần 1000 chương trình trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm trong đó có sự phối kết họp của nhiều cơ quan, tổ chức như cơ quan công tố,cục điều tra liên bang, cơ quan trợ giúp người nhập cư, văn phòng nạn nhân của tộiphạm, văn phòng chống bạo lực đối với phụ nữ, trung tâm quốc gia trợ giúp nạn nhân của tội p h ạm 10 Hoạt động tích cực và có hiệu quả của các cơ quan này nhằm bảo đảm tốt nhất sự bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Từ các quy định của các văn bản pháp luật và thực tiễn hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hoa kỳ cho thấy, một cơ chế đảm bảo hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm chỉ phát huy hiệu quả trên cơ sở có sự kết hợp đồng bộ giữa yếu tố pháp luật và cách thức tổ chức thực hiện Hệ thống văn bản pháp luật phải tạo ra được một hành lang pháp lí để có đầy đủ căn cứ thực hiện tốt việc bảo vệ vào trợ giúp cho nạn nhân cũng như có thể huy động được tối
đa sức mạnh của cả nhà nước và xã hội tham gia vào hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Mặt khác, nhà nước phải tổ chức được một mạng lưới cơ quan, tổ chức tham gia rộng rãi vào hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Trong đó, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan phải được xác định cụ thể rõ ràng, c ầ n xác định rõ cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan này với nhau và giữa các cơ quan này với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong xã hội Có như vậy, các nạn nhân của tội phạm mới có thể tiếp cận dễ dàng và nhanh chóng với hệ thống bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm nhằm tránh nguy cơ tái trở thành nạn nhân của tội phạm cũng như giúp nạn nhân nhanh chóng khắc phục những hậu quả mà hành vi phạm tội đã gây ra
9 Xem: Section 3 của Chapter 37, Utah Code o f Criminal Procedure Nguồn:
http://le.utah.gov/~code/T IT L E 77/htm /77 37 000300.htm
Trang 182.2 Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở CHLB Đức 2.2.1 Bồi thường cho nạn nhân của tội phạm
Là một nước thuộc khối cộng đồng chung Châu âu, các quyền của nạn nhân của tội phạm ở CHLB Đức vừa được bảo đảm theo Tuyên ngôn của Liên hợp quốc
về những nguyên tắc cơ bản trong tư pháp đối với các nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng bạo lực, vừa được đảm bảo theo Hiệp định khung về địa
vị của nạn nhân trong tố tụng hình sự ở Châu Âu Để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích cơ bản của nạn nhân của tội phạm, năm 1976, Quốc hội Đức đã thông qua Luật
về bồi thường cho nạn nhân của hành vi bạo lực (Das Gesetz ũber die Entschădigung fìir Opfer von Gewalttaten) Theo đó, những đối tượng có quyền được bồi thường là những người bị thiệt hại về sức khỏe hoặc người thân trong gia đình của người bị thiệt hại tính mạng do một hành vi tấn công thực tế, trái pháp luật hoặc do sự phòng vệ hợp pháp Những người này được nhận khoản bồi thường
để khắc phục hậu quả thiệt hại về sức khỏe và kinh tế do hành vi phạm tội gây ra Nạn nhân của các hành vi bạo lực có quyền yêu cầu bồi thường với mức tương đương như một nạn nhân của chiến tranh theo quy định của Luật về bồi thường cho nạn nhân của chiến tranh của liên bang (Gesetz iiber die Versorgung der Opfer des Krieges - viết tắt: Bundesversorgungsgesetz).n
Luật về bồi thường cho nạn nhân của hành vi bạo lực không chỉ có hiệu lực đối với các công dân của CHLB Đức mà còn được áp dụng cho cả người nước ngoài khi họ là công dân của một nước thành viên của liên minh Châu Âu hoặc người nước ngoài khác khi họ cư trú hợp pháp trong phạm vi lãnh thổ của CHLB Đ ức.12
Các nạn nhân là công dân Đức bị hành vi phạm tội xâm hại ở nước ngoài vẫn được quyền yêu cầu bồi thường về kinh tế và sức khỏe Người nước ngoài bị hành vi phạm tội xâm hại ở nước ngoài cũng được yêu cầu bồi thường về kinh tế
và sức khỏe nếu họ cư trú hợp pháp và sinh sống trong phạm vi có hiệu lực của pháp luật Đức và tính đến thời điểm bị hành vi phạm tội xâm hại, họ đã có thời gian cư trú ít nhất sáu tháng Những người này sẽ được yêu cầu khoản bồi thường cho việc điều trị thương tích, phục hồi sức khỏe cũng như trị liệu
11 Xem khoản 1, Đ iều 1 Luật về trợ giúp cho nạn nhân cùa hành vi bạo lực Nguồn: http://w w w gesetze-im -
intemet.de/bundesrechƯoeg/gesamt.pdf.
12 X em khoản 4, Đ iều 1 Luật về trợ giúp cho nạn nhân cùa hành vi bạo lục Nguồn: http://w w w gesetze-im -
intem et.de/bundesrecht/oeg/gesam t.pdf.
12
Trang 19Theo quy định của Luật về bồi thường cho nạn nhân của hành vi bạo lực, những nạn nhân của các tội phạm bạo lực được hưởng các khoản bồi thường giống như các khoản bồi thường của nạn nhân của chiến tranh bao gồm hai khoản: Thứ nhất là các khoản bồi thường một lần bao gồm các khoản, như khoản điều trị thương tích và số tiền thuốc men điều trị bình phục, khoản tiền trợ giúp tìm việc làm, trợ giúp để đào tạo nghề, trợ giúp thử việc Ngoài ra trẻ em còn được nhận thêm khoản tiền bồi thường cho trẻ em, cho giáo dục Định mức bồi thường một lần có thể từ 714 Euro đến 25.632 Euro tùy theo mức độ thương tích Trường hợp nạn nhân chết thì người nhà nạn nhân được hưởng mức bồi thường một lần là 1.272 Euro đến 4.488 Euro Ngoài ra những người thân trong gia đình nạn nhân kể
cả bố mẹ của đứa trẻ bị giết ở nước ngoài được nhận thêm khoản trị liệu tâm lý tùy theo mức độ, cao nhất là 1.506 Euro.13 Thứ hai là khoản bồi thường hàng tháng đối với những người mà khả năng làm việc bị mất hoặc bị giảm sút là từ 104 Euro đến 546 Euro Trường hợp vợ góa, chồng góa, bạn đời của người đã chết hoặc con
mồ côi của những nạn nhân thiệt mạng cũng được hưởng mức bồi thường hàng tháng từ 92 Euro đến 443 Euro.14
2.2.2 Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Bên cạnh việc đảm bảo quyền bồi thường cho nạn nhân của tội phạm thì CHLB Đức cũng ban hành Luật bảo vệ nhân chứng (tên đầy đủ: Luật để bảo vệ nhân chứng bị nguy hiểm (Gesetz zur Harmonisierung des Schutzes gefảhrdeter Zeugen) có hiệu lực từ 01.12.1998 Luật này ra đời nhằm đảm bảo quyền được bảo
vệ của những nhân chứng (trong đó có nạn nhân của tội phạm) tránh được nguy cơ trở tái thành nạn nhân của các tội xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe, tự do hoặc tài sản.15 Không chỉ có nhân chứng mà quyền được bảo vệ cũng có hiệu lực đối vói những người thân thích của họ như người có quan hệ trực hệ do cùng dòng máu hay do hôn nhân, người vợ hoặc người chồng, bạn đời, người có quan hệ đính hôn, anh chị em ruột, vợ hay chồng hay bạn đời của anh chị em ruột, anh chị em ruột của vợ hay chồng hay bạn đời hoặc bố mẹ nuôi và con nuôi của họ.16 Luật bảo vệ
13 X em Điều 3a Luật về trợ giúp cho nạn nhân của hành vi bạo lực Nguồn: http://w w w gesetze-im -
intem et.de/bundesrecht/oeg/gesam t.pdf.
14 Xem: Hilfer fìlr Opfer von Gewalttaten, phần 1 Nguồn: http://w w w gesetze-im -
intem et.de/bundesrecht/bvg/gesam t.pdf.
http://w w w.bm as.de/portal/10066/hilfe fiier opfer von gewalttaten.html.
15 X em khoản 1 Đ iều 1 Luật bảo vệ nhân chứng Nguồn: http://www.gesetze-im -
internet.de/zshg/BJN R 351010001 html.
16 X em khoản 2 Đ iều 1 Luật bảo vệ nhân chứng Nguồn: http://w ww gesetze-im -
Trang 20nhân chứng cũng quy định rõ việc đảm bảo quyền được giữ bí mật cá nhân của nạn nhân và nhân chứng thông qua việc quy định cụ thể nghĩa vụ phải giữ bí mật của nhà chức trách cũng như những người không phải là nhà chức trách Việc giữ bí mật này phải được thực hiện ngay cả khi chương trình bảo vệ nhân chứng đã kết thúc.
Cùng với việc đảm bảo quyền được bồi thường và được bảo vệ thì quyền được trợ giúp của nạn nhân cũng được CHLB Đức rất chú trọng Đe đảm bảo quyền trợ giúp của nạn nhân, mạng lưới tổ chức Opferfibel đã được thành lập ở tất
cả các bang trên toàn nước Đức nhằm trợ giúp pháp lí cho các nạn nhân của tội phạm Một người khi bị hành vi phạm tội xâm hại thường đứng trước một hoàn cảnh vô cùng khó khăn và thường không biết cách thức, trình tự, thủ tục, cơ quan
để khai báo cũng như đòi lại công lí cho mình Mạng lưới tổ chức Opferfíbel được thành lập nhằm đáp ứng các yêu cầu mọi mặt về trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm nhằm giúp cho nạn nhân của tội phạm đảm bảo tốt hơn các quyền của mình trong quá trình tố tụng Chính vì vậy, mạng lưới tổ chức này thực hiện sự trợ giúp
từ những công việc đầu tiên cho đến khi kết thúc quá trình tố tụng Những hoạt động cơ bản mà mạng lưới tổ chức này trợ giúp nạn nhân của tội phạm bao gồm:
- Hướng dẫn làm đơn tố cáo tội phạm về cả nội dung và hình thức, hướng dẫn địa chỉ các cơ quan tiếp nhận đơn, thời gian nộp đ ơ n
- Hướng dẫn thực hiện các thủ tại cơ quan cảnh sát, viện công tố cũng như một số trường hợp cần lưu ý để bảo đảm quyền lợi của nạn nhân,
- Hướng dẫn các quyền và nghĩa vụ tham dự phiên tòa, các hoạt động cần thiết trước khi mở phiên toà, các trường họp cần tham gia chương trình bảo vệ nhân chứng nếu họ lo sợ có sự nguy hiểm đến thân thể, tính mạng, tài sản , các yêu cầu bồi thường đối với người phạm tội, các yêu cầu trợ giúp về vật chất của nhà nước, các tổ chức xã hội cũng như những sự trợ giúp khác, yêu cầu trợ giúp trong trường hợp là nạn nhân của tai nạn giao thông, yêu cầu bảo vệ nhân chứng hoặc người bị hại là trẻ em, yêu cầu sự giúp đỡ của luật sư bào chữ a
Những nạn nhân của tội phạm có thể liên hệ với bất kì một văn phòng nào của mạng lưới tổ chức của Opferfibel Mạng lưới tổ chức Opferfibel có hơn 100 văn phòng trên toàn quốc, với đội ngũ chuyên gia chuyên nghiệp và rất nhiều cộng tác viên, những luật sư giỏi, các văn phòng của mạng lưới Opferfibel luôn là sự hồ trợ vô cùng quý giá cho các nạn nhân của tội phạm trong việc bảo vệ những quyền
và lợi ích chính đáng của mình
14
Trang 21Nghiên cứu hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở CHLB Đức cho thấy, CHLB Đức có một hệ thống văn bản rất cụ thể, chi tiết làm cơ sở cho hoạt động bồi thường và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Những quy định của pháp luật không chỉ quy định phạm vi, đối tượng được hưởng sự bảo vệ và trợ giúp, định mức cụ thể sự trợ giúp mà còn quy định cả nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động bảo vệ và trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm Bên cạnh đó, hệ thống các cơ quan, tổ chức thực hiện việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm bao gồm nhiều cơ quan được tổ chức một cách rộng rãi trên phạm vi toàn bộ đất nước Điều đó đã tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở CHLB Đức được thực hiện rất hiệu quả Nạn nhân của tội phạm có thể tiếp cận một cách dễ dàng với các tổ chức bảo vệ và trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm, được giúp đỡ một cách nhiệt tình và có hiệu quả trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình và gia đình Chính vì vậy số người tham gia các chương trình bảo vệ và trợ giúp nạn nhân rất đông Điều này cũng đồng nghĩa với việc số lượng người tích cực hợp tác với các cơ quan bảo vệ pháp luật là rất đông Điều này là rất có ý nghĩa đối với hoạt động phòng, chổng tội phạm bởi sự tích cực hợp tác với các cơ quan bảo vệ pháp luật sẽ góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động điều tra, truy tố xét xử cũng như hoạt động phòng ngừa tội phạm.
2.3 Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân ở Vương quốc Anh
2.3.1 Pháp luật về bảo vệ và trơ giúp nạn nhân của tội phạm
Cũng như CHLB Đức, hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Vương quốc Anh dựa trên Tuyên ngôn của Liên họp quốc về những nguyên tắc cơ bản trong tư pháp đối với các nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng bạo lực, cũng như Hiệp định khung về địa vị của nạn nhân trong tố tụng hình sự ở Châu Âu Theo đó những nguyên tắc như: Nguyên tắc tôn trọng và thừa nhận, Quyền được cung cấp thông tin của nạn nhân, Quyền được đảm bảo giao tiếp trước tòa, nguyên tắc trợ giúp đặc biệt cho nạn nhân, nguyên tắc chi phí của nạn nhân trong quá trình tiến hành tố tụng, Nguyên tắc được bảo vệ cho nạn nhân, nguyên tắc đền bù thiệt hại ỉà những nguyên tắc luôn luôn được nghi nhận
Để cụ thể hóa những nguyên tắc này, năm 2006, Chính phủ Anh đã ban hành
Luật về nạn nhân của tội phạm có hiệu lực vào ngày 3/4/2006 (Code o f Practice for Victims o f Crime 2006) Bộ luật này là cơ sở để thiết lập và bảo vệ các quyền và lợi ích họp pháp của nạn nhân của tội phạm Trước hết, Luật về nạn nhân của tội phạm
Trang 22đã ghi nhận một số quyền quan trọng của nạn nhân như quyền được biết các quyền của mình trong hoạt động tố tụng, được khiếu nại nếu không được các cơ quan tư pháp đảm bảo quyền lợi đó, quyền được nhận sự hồ trợ miễn phí và bí mật từ tố chức từ thiện có tên là Dịch vụ hỗ trợ nạn nhân (Victim Support) Nạn nhân của tội phạm cũng được đảm bảo giữ bí mật về thông tin cá nhân của mình Trong trường họp cần sử dụng thông tin cá nhân của họ để đăng tài trên các phương tiện truyền thông phục vụ hoạt động phòng, chống tội phạm thì phải được sự cho phép của họ Đặc biệt, trong các vụ án hiếp dâm, cố ý gây thương tích, việc công bố thông tin cá nhân, tên tuổi, hình ảnh của nạn nhân thì có thể bị xử lý hình sự.
Nạn nhân có quyền khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại bất kể tội phạm đã bị kết án hay chưa Việc bồi thường thiệt hại cho các nạn nhân trong các vụ án hình
sự ở Vương quốc Anh là một phần quan trọng của bản án do tòa án đưa ra Quyết định buộc bồi thường thiệt hại của tòa án trong một số trường hợp là chế tài duy nhất đối với tội phạm Tuy nhiên, đa số các trường hợp, việc bồi thường thiệt hại được coi là hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính Đe có thể đưa ra những quyết định bồi thường chính xác, tòa án phải chứng minh được mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội với những thiệt hại gây ra, đồng thời đảm bảo mức bồi thường đưa ra phải tương xứng với thiệt hại thực tế Những chứng cứ liên quan tới việc xác định thiệt hại cũng phải được thu thập và đưa ra trước tòa, néu không có những chứng cứ này thì tòa án sẽ không đưa ra các quyết định bồi thường cho nạn nhân, trong những trường hợp đó nạn nhân có thể tiếp tục khởi kiện ở tòa án dân
sự Thông thường yêu cầu bồi thường ở tòa án dân sự không chặt chẽ bàng tòa hình
sự, do đó các quyết định, bản án đưa ra tại tòa dân sự sẽ khác so với tòa hình sự trong cùng một vụ án Tại tòa dân sự phán quyết về bồi thường bàng tiền đối với người phạm tội thể hiện dưới hình thức gán nợ với số tiền có thể lên tới 15.000 bảng Anh Có rất nhiều hình thức cưỡng bức việc trả nợ này đối với người phạm tội, như biện pháp khấu trừ thu nhập (Attachment o f Eamings Order)
Bên cạnh việc bồi thường thiệt hại, nạn nhân của tội phạm ở Anh quốc còn được đền bù một khoản tiền theo Quy chế đền bù thương tích do tội phạm gây ra.17 Quy chế này được ban hành từ những năm 1960 và là một trong những quy định đầu tiên trên thế giới về đền bù thiệt hại cho nạn nhân của tội phạm Nạn nhân của các tội phạm cố ý gây thương tích, tội phạm bạo lực được nhận đền bù tương ứng
17 Xem nguồn:
http://www.cica.gov.uk/Docum ents/publications/Crim inal% 20Iniuries% 20Com pensation% 20Schem e% 202008.pdf.
16
Trang 23với mức độ thương tích Mức độ đền bù dao động trong khoảng từ 1.000 đến500.000 bảng Anh.
2.3.2 Các tổ chức bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Luật về nạn nhân của tội phạm đã quy định rất rõ các cơ quan thuộc hệ thống
tư pháp hình sự tham gia vào hoạt động trợ giúp và bảo vệ nạn nhân bao gồm: Lực lượng cảnh sát, cảnh sát giao thông và Bộ Công an, Viện công tổ, Tòa án Hoàng gia,
Cơ quan bảo vệ nhân chứng (thành lập bởi sự phổi họp giữa cảnh sát và cơ quan kiểm sát), Hội đồng xét đặc xá cho phạm nhân, Lực lượng quản lý trại giam, Hội đồng địa phương về giám sát thực hiện án treo, Hội đồng quản lý tội phạm vị thành niên, Cơ quan quản lý đền bù thiệt hại do tội phạm gây ra, Ban xử lý khiếu nại về đền bù thương tích do tội phạm gây ra và ủ y ban xét duyệt hồ sơ vụ án hình s ự 18 Văn phòng trợ giúp của trại giam thực hiện bảo vệ trước các nạn nhân bị quấy rối bằng điện thoại hoặc trước người phạm tội được tha tù
Cơ quan chuyên trách về đền bù thương tích do tội phạm gây ra (The Criminal Injuries Compensation Authority - viết tắt là CICA)19 là cơ quan quyết định mức đền bù cho những thiệt hại về sức khỏe, tinh thần của các nạn nhân của tội phạm bạo lực, bao gồm cả những hậu quả đã xảy ra và hậu quả để lại về lâu dài cho nạn nhân Trường hợp nạn nhân chết, người thân của nạn nhân sẽ được hưởng khoản tiền đền bù tương ứng Hàng năm có khoảng 200 triệu bảng được chi đền bù cho nạn nhân của tội phạm Việc thực hiện quy chế này thực tế là rất tốn kém, do đó một hệ thống biểu giá mới được ban hành vào năm 1996 quy định một mức bồi thường hợp lí hơn tương ứng với từng loại thương tích cụ thể
Bên cạnh Cơ quan chuyên trách về đền bù thương tích, một tổ chức từ thiện độc lập có tên Quỹ hỗ trợ nạn nhân (Victims Support) cũng cung cấp sự hỗ trợ miễn phí các thủ tục pháp lý cho nạn nhân trên toàn lãnh thổ Vương quốc Anh Sự trợ giúp này bao gồm cả việc hỗ trợ về thông tin, hướng dẫn cụ thể về quy trình yêu cầu đền bù và trợ giúp nạn nhân hoàn thiện hồ sơ đòi bồi thường cũng như xin đền bù Khi nạn nhân của tội phạm không có đủ khả năng chi trả cho dịch vụ hướng dẫn về mặt pháp lý, thì tổ chức này sẽ cung cấp sự trợ giúp miễn phí đó qua
hệ thống các văn phòng đại diện ở các cấp tổ chức hành chính Ví dụ, Văn phòng
18 Xem Đ iều 2 Code o f Practice for Victim s o f Crime 2006, nguồn:
http://www.gloucestershire.police.uk/Other/Code% 20ofp/o20Practice%:
Trang 24trợ giúp pháp lý cho công dân (Citizens Advice Bureaux), Trung tâm tư vấn luật được tài trợ bởi các quỹ từ thiện và các tổ chức phúc lợi xã hội20 Trong trường hợp nạn nhân không hợp tác với cảnh sát hoặc các cơ quan tư pháp khác trong quá trình điều tra tội phạm hoặc nạn nhân là người đã có tiền án, tiền sự thì họ không được hưởng quyền đền bù theo luật này Trường hợp nạn nhân không thỏa mãn với mức
độ bồi thường thì có quyền khiếu nại lên nhân viên cấp cao hơn trong CICA, hoặc gửi khiếu nại tới ủ y ban xử lý khiếu nại về đền bù thương tích do tội phạm gây ra (Criminal Injuries Compensation Appeals Panel)21 ủ y ban này được điều hảnh bởi các chuyên gia đặc biệt và độc lập, thường là các thẩm phán và luật sư chuyên ngành sẽ giải quyết việc khiếu nại này
Hàng năm có khoảng 1,3 triệu nạn nhân được trợ giúp thông qua mạng lưới
và các chi nhánh địa phương của tổ chức hỗ trợ nạn nhân trên toàn nước Anh Nhân viên và các tình nguyện viên của tổ chức này có trách nhiệm hồ trợ về mặt tinh thần, cung cấp thông tin và những sự hỗ trợ thực tế cho nạn nhân trong những trường hợp cần thiết Tổ chức hỗ trợ nạn nhân cũng đồng thời duy trì chương trình
hỗ trợ nhân chứng tại các tòa án hình sự, trong đó nhân chứng trong các vụ án hình
sự được cung cấp thông tin về thẩm quyền, chức năng của tòa án, quy trình xét xử cũng như quyền, nghĩa vụ của nhân chứng, nạn nhân và gia đình trước, trong và sau khi phiên tòa diễn ra Tổng đài hồ trợ hồ trợ miễn phí dành cho nạn nhân của tội phạm số 0845 30 30 900 sẽ cung cấp thông tin cần thiết và sự trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm.22
Nghiên cứu hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân ở Anh quốc cho thấy hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của nước Anh cũng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ của hai yếu tố: Pháp luật về bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm và các thiết chế được tổ chức để thực hiện hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân Để tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm, Luật về nạn nhân của tội phạm ra đời đã tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Luật về nạn nhân của tội phạm đã quy định cụ thể các quyền cơ bản của nạn nhân của tội phạm như quyền được thông tin về quá trình tố tụng, về các quyền của mình; quyền được hưởng sự bảo vệ trong những trường hợp có nguy hiểm đe dọa tính mạng sức khỏe nạn nhân và gia đình họ, được đảm bảo giữ bí mật
cá nhân; quyền được hỗ trợ miễn phí một số dịch vụ như dịch vụ trợ giúp pháp
20 Xem nguồn: http://www.victim support.org.uk/.
Xem nguồn: http://w w w cicap u ov.u k/.
22 Xem nguồn: http://www.victim support.org.uk/.
18
Trang 25lí Trên cơ sở Luật vê nạn nhân của tội phạm, các tố chức bảo vệ và trợ giúp nạn nhân ra đời bao gồm nhiều cơ quan, tổ chức như: Bộ Công an, Viện công tố, Tòa án Hoàng gia, Cơ quan bảo vệ nhân chứng, Hội đồng xét đặc xá cho phạm nhân, Lực lượng quản lý trại giam, Hội đồng địa phương về giám sát thực hiện án treo, Hội đồng quản lý tội phạm vị thành niên, Cơ quan quản lý đền bù thiệt hại do tội phạm gây ra, Ban xử lý khiếu nại về đền bù thương tích do tội phạm gây ra và ủ y ban xét duyệt hồ sơ vụ án hình sự Với sự phối hợp hoạt động của nhiều cơ quan, tổ chức, cùng với những quy định cụ thể về hoạt động bảo vệ, cũng như hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm như các biện pháp thực hiện việc bảo vệ, các mức độ bồi thường và trợ giúp Hoạt động bồi thường và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Anh đã được thực hiện rất hiệu quả góp phần quan trọng vào việc bảo đảm những quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân của tội phạm cũng như góp phần vào việc tăng cường sự hợp tác của nạn nhân của tội phạm với các cơ quan bảo vệ pháp luật, tăng cường hiệu quả hoạt động đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
2.4 Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hàn quốc
2.4.1 Pháp luật Hàn Quốc về bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Hàn Quốc là một trong những quốc gia có hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân khá phát triển Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp lí liên quan đến hoạt động này như Pháp lệnh về bồi thường thiệt hại (29/1/1981) trong đó có qui định khá cụ thể về việc bồi thường cho nạn nhân của tội phạm, Hiến pháp (sửa đổi ngày 29/10/1987) qui định rõ nạn nhân được quyền trợ giúp (Điều 30) và được quyền làm chứng tại phiên toà (Điều 27), Đạo luật về trợ giúp nạn nhân của tội phạm (28/11/1987), Đạo luật về áp dụng hình phạt đổi với tội phạm tình dục và bảo vệ nạn nhân của các tội phạm này (5/1/1994), Đạo luật về ngăn chặn bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân của bạo lực gia đình (31/12/1997), Đạo luật về bảo vệ người cung cấp thông tin (31/8/1999), Đạo luật về bảo vệ nạn nhân của tội phạm (ban hành ngày 23/12/2005 và có hiệu lực ngày 24/3/2006) Nạn nhân của tội phạm không chỉ được trợ giúp về tài chính, chữa trị về tâm lí, sức khoẻ mà còn được tư vấn về pháp lí Những văn bản pháp lý này đã tạo cơ sở pháp lí cho việc tổ chức thực hiện việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Ke hoạch khung bảo
vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm thời gian 2007-2011 đã được xây dựng Ke hoạch này đã huy động các cơ quan nhà nước, các tổ chức và công dân tham gia chương trình trợ giúp nạn nhân của tội phạm và hiện vẫn đang tổ chức triển khai có hiệu quả ở Hàn Quốc
Trang 262.4.1 Các tổ chức thực hiện bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm• • • • “ 1 • • 1 •
- Các tổ chức bảo vệ và trợ giúp nạn nhân như Trung tâm trợ giúp nạn nhân của bạo lực tình dục (thành lập ngày 13/4/1991), Hiệp hội nạn nhân học Hàn Quốc (thành lập ngày 25/4/1992)4, Trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm ra đời ngày 5/12/2003 và hoạt động với tính chất là cơ quan dân sự trong việc trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở vùng Gimcheon và Gumi Hiệp hội trợ giúp nạn nhân của tội phạm được thành lập ngày 3/9/2008 với 57 văn phòng đặt ở các tỉnh ở Hàn Quốc
- Trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm {The Crime Victim Support Center - gọi tắt là CVSC) có nhiệm vụ giúp đõ nạn nhân của tội phạm khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra để sớm ổn định cuộc sống Các văn phòng của c v s c trực thuộc cơ quan công tố cấp quận ở Hàn Quốc và hoạt động dưới sự giám sát của Bộ tư pháp, c v s c cũng có mối quan hệ chặt chẽ với Uỷ ban phòng ngừa tội phạm quốc gia trong điều hành, tổ chức các hoạt động của mình Các hoạt động trợ giúp nạn nhân của c v s c rất đa dạng, như bổ trí, tạo điều kiện vào bệnh viện, thuốc điều trị cho nạn nhân của tội phạm tình dục và tội phạm bạo lực gia đình Trong trường hợp khẩn cấp, trung tâm có thể bố trí chỗ ở tạm thời, cung cấp thuốc men và trợ giúp pháp lí trực tiếp ngay đến nạn nhân của tội phạm Trung tâm cũng cung cấp một số hoạt động dịch vụ bao gồm: Dịch vụ tư vấn miễn phí trực tiếp hoặc qua điện thoại, internet; dịch vụ trị liệu tâm lí cho nạn nhân; cung cấp các thông tin liên quan đến quá trình tố tụng nhất là giải thích về các quyền và nghĩa
vụ của nạn nhân theo qui định của pháp luật; Hỗ trợ cơ quan điều tra và toà án; cung cấp dịch vụ y tế; giúp đỡ tài chính cho nạn nhân của tội phạm
- Trung tâm chăm sóc nạn nhân của tội phạm (the Weỉfare Center fo r Victims o f Crỉme), được thành lập bởi Bộ tư pháp Hàn Quốc Hiện nay, mạng lưới của trung tâm đã phát triển khắp toàn quốc, cung cấp các dịch vụ chăm sóc tinh thần và tâm lí miễn phí đối với nạn nhân của tội phạm bạo lực và bạo lực gia đình Trung tâm cũng là nơi cho các nạn nhân khi không có điều kiện chăm sóc tại nhà
- Các tổ chức trợ giúp pháp lí chuyên giúp đỡ nạn nhân của tội phạm trong các vấn đề pháp lí, như yêu cầu về mức bồi thường cho nạn nhân của tội phạm, bào chữa tại phiên toà, diễn thuyết, giải thích pháp lu ật
- Trung tâm trợ giúp nạn nhân của bạo lực tình dục, Hiệp hội trợ giúp nạn nhân của tội phạm, Trung tâm hỗ trợ gia đình có yếu tố nước ngoài là các tổ
4 http://www.kcrim inology.or.kr/ hoặc http://www.kic.re.kr/english/index.asp
20
Trang 27chức xã hội hoạt động phi lợi nhuận với kinh phí từ các hội viên hoặc được tài trợ bởi cá nhân hoặc tổ chức Các trung tâm này thực hiện các hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm như trợ giúp tài chính đối với nạn nhân hoặc gia đình nạn nhân, trợ giúp về chi phí chăm sóc và phục hồi sức khoẻ về thể chất hoặc tinh thần, tư vấn pháp lí
Kinh nghiệm bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở Hàn quốc cho thấy Hàn quốc là một quốc gia có hệ thống văn bản pháp luật khá phong phú về bảo vệ
và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Với một hệ thống văn bản khá đầy đủ như vậy, hoạt động bảo vệ và trợ giúp của Hàn quốc được tổ chức khá tốt với nhiều hiệp hội, trung tâm thực hiện các hoạt động bảo vệ và trợ giúp khác nhau cho nạn nhân của tội phạm Các cơ quan, tổ chức luôn có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm luôn huy động được sự tham gia rộng rãi của nhiều đơn vị tổ chức và hoạt động này được tổ chức một cách khoa học nên đã hỗ trợ rất lớn cho nạn nhân của tội phạm, giúp các nạn nhân có thể bảo đảm an toàn nhất tính mạng, sức khỏe của mình cũng như khắc phục nhanh chóng các thiệt hại do tội phạm xâm hại, ổn định cuộc sống
III Thực trạng bảo vệ và trợ giúp nạn nhân ở nước ta• • o • • o ẵ •
Bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm chính là thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ cho nạn nhân tránh khỏi những thiệt hại cũng như giúp họ khắc phục nhanh chóng những thiệt hại mà hành vi phạm tội đã gây ra cho họ Thiệt hại của nạn nhân của tội phạm chính là những tổn hại, mất mát về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm hay tài sản mà hành vi phạm tội gây ra cho nạn nhân Thông thường, thiệt hại được chia thành thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần hoặc thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp Cũng có thể chia thành bốn nhóm là thiệt hại về
tâm lí, thiệt hại về tình cảm, thiệt hại về cánh ứng xử (hành động), thiệt hại về thể
chất và thiệt hại về tài chính.23
3.1 Vài nét tổng quan về thực trạng thiệt hại của nạn nhân của tội phạm ở nước ta
Hiện nay nước ta chưa thực hiện việc thống kê thiệt hại của nạn nhân của tội phạm Để đưa ra được vài nét về „Bức tranh“ phác họa thực trạng tình hình thiệt
Trang 28hại của nạn nhân, các tác giả đã tiến hành một nghiên cứu mẫu trên 328 phiếu điều tra các bị án phạm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và nhóm tội xâm phạm sở hữu tại bốn trại giam ở Sơn La, Ninh Bình, Thanh Hóa và Lâm Đồng Ngoài ra, các tác giả cũng tiến hành một cuộc điều tra mẫu ngẫu nhiên 300 người để đánh giá về tình hình nạn nhân của tội trộm cắp trên địa bàn các quận nội thành thành phố Hà Nội.
Kết quả điều tra nạn nhân của 169 bị án phạm các tội xâm phạm sở hữu cho thấy: Thông tin về thiệt hại tài sản mà các bị án gây ra cho nạn nhân tuy được hỏi khá chi tiết nhưng đa số các bị án đều lảng tránh không trả lời Chỉ có 21 bị án gây thiệt hại tài sản với giá trị dưới năm triệu đồng (chiếm 12,4%) là khai báo
Nghiên cứu về tình hình tình tội trộm cắp trên địa bàn thành phố Hà Nội được thực hiện tháng 8 năm 2010 với 300 phiếu điều tra ngẫu nhiên trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội cho thấy: Trong tổng số 300 người được điều tra thì có đến 109 người (36%) bị mất trộm tài sản một lần, 59 người (20%) bị mất tài sản hai lần và 34 người (18%) bị mất từ ba lần trở lên Trong số này thì số người bị mất tài sản dưới 2 triệu đồng là 126 người (56,8%), số người bị mất tài sản trị giá từ 2 triệu đồng đến 20 triệu đồng là 73 người (32,9%), số người bị mất tài sản trị giá từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng là 14 người (6,2%) và số người bị mất tài sản trị giá trên 50 triệu đồng là 9 người (4,1%) Nếu loại bỏ những trường hẹyp thiệt hại dưới 2 triệu đồng thì có 96 người bị mất tài sản từ 2 triệu đồng trở lên Bằng phương pháp bình quân, chúng ta ước tính được số tiền bị mất của bình quân một người là 19 triệu đồng Ngoài ra, theo thống kê của văn phòng Cục cảnh sát điều tra tội phạm hình sự, thiệt hại về tài sản
do các tội phạm xâm phạm sở hữu ở nước ta gây ra chỉ tính riêng năm 2008 là 28 ôtô, 9.145 xe máy các loại và tài sản khác ước tính giá trị khoảng 436 tỷ Việt Nam đồng Kết quả này cho thấy hành vi phạm tội trộm cắp trên địa bàn thành phố Hà Nội
đã gây ra thiệt hại về tài sản không nhỏ
về bồi thường thiệt hại, đa số các bị án trong cuộc điều tra đã lảng tránh, không trả lòi thông tin về việc bồi thường thiệt hại Chỉ có 54 bị án trong tổng số 169 người (chiếm tỷ lệ 32%) trả lời phải bồi thường với số tiền bồi thường dưới 5 triệu đồng cho một nạn nhân Sở dĩ các bị án lảng tránh không trả lời là vì đa số họ đều chưa hề thực hiện bồi thường cho nạn nhân mặc dù bản án đã tuyên, do vậy họ ngại không muốn trả lời
22
Trang 29Đối với nhóm tội xâm phạm TM, SK, DD, NP của con người, kết quả điều tra nghiên cứu 159 bị án cho thấy: Có 97 bị án gây thương tích cho một người chiếm tỉ lệ là 61%; 14 bị án gây thương tích cho hai người chiếm tỉ lệ 8,8% và có 6
bị án gây thương tích cho ba người trở lên chiếm 3,8% Điều này cho thấy các hành vi phạm tội cố ý gây thương tích là khá nghiêm trọng với 20 trường họp (chiếm gần 13%) gây thương tích cho từ hai nạn nhân trở lên về mức độ thương tích: Có đến 54 trường họp (34%) người phạm tội gây ra thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ đến 30% Có 19 trường hợp (11,9%) người phạm tội gây thương tích cho nạn nhân từ 30% trở lên đến 60%, và 16 (10,1%) người phạm tội gây thương tích cho nạn nhân từ 60% trở lên Kết quả trên cho thấy thiệt hại mà các bị án gây ra cho sức khỏe của nạn nhân là khá nghiêm trọng Mặc dù vậy, mức độ bồi thường cho nạn nhân của tội phạm là không lớn số tiền người phạm tội phải bồi thường cho nạn nhân đến 10 triệu đồng là 43 trường hợp, chiếm 27,1% Có 29 trường họp người phạm tội phải bồi thường cho nạn nhân từ 10 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 18,2%) Chỉ có 14 trường hợp người phạm tội phải bồi thường cho nạn nhân từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng (chiếm tỷ lệ 8,8%) Có một số trường hợp, người phạm tội lảng tránh không trả lời thông tin về bồi thường thiệt hại Những trường hợp này đều là các trường hợp người phạm tội chưa hề bồi thường cho nạn nhân nên họ đã cố tình lảng tránh Sử dụng phương pháp số bình quân, có thể ước tính, trong số những người được người phạm tội khai báo bồi thường (86 trường hợp) thì bình quân mỗi nạn nhân chỉ nhận được số tiền bồi thường là khoảng
21 triệu đồng Đây là một con sổ rất nhỏ so với hậu quả mà hành vi phạm tội đã gây
ra cho nạn nhân, cũng như so với những chi phí thực tế mà nạn nhân và gia đình họ
đã bỏ ra để khắc phục hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Ngoài gây thiệt hại về sức khỏe, các hành vi phạm tội thuộc nhóm này còn gây ra những tổn hại vô cùng nghiêm trọng, không thể khắc phục được, đó là tước đoạt tính mạng của con người Trong số các bị án trả lời phiếu điều tra, có 56 bị án gây ra cái chết cho nạn nhân, trong đó có 55 bị án làm chết 1 người và 1 bị án làm chết 2 người
về bồi thường thiệt hại cho gia đình các nạn nhân của tội phạm thì có một số
trường họp lảnh tránh không trả lời thông tin về số tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân Đó là do họ chưa hề thực hiện sự bồi thường cho nạn nhân nên ngại không trả lời Chỉ có 46 bị án trả lời thông tin về bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân Trong đó có 3 bị án phải bồi thường cho nạn nhân sổ tiền đến 10 triệu
Trang 30đồng Có 26 người phải bồi thường cho nạn nhân số tiền bồi thường từ 10 triệu đến
30 triệu đồng Có 9 người phải bồi thường cho nạn nhân của tội phạm số tiền bồi thường từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng và có 8 người phải bồi thường cho nạn nhân số tiền bồi thường từ 100 triệu đồng trở lên Cũng theo phương pháp bình quân, ước tính bình quân mỗi trường hợp nạn nhân chết, người phạm tội phải bồi thường số tiền khoảng 40 triệu đồng Đây là một con số rất nhỏ và hoàn toàn không thể bù đắp dù chỉ một phần thiệt hại mà người phạm tội đã gây ra cho nạn nhân và gia đình họ
Nghiên cứu nạn nhân của các tội mua bán phụ nữ, trẻ em, (hiện nay đổi thành mua bán người, mua bán trẻ em) cho thấy hành vi phạm tội thuộc nhóm này cũng gây ra những hậu quả hết sức nặng nề cho nạn nhân của tội phạm Tổng hợp của nhóm tác giả từ 100 vụ án về mua bán phụ nữ trẻ em do TAND tỉnh Lạng Sơn xét xử từ năm 2000 đến nay cho thấy: Những người phạm tội trong 100 vụ án được tổng hợp đã thực hiện hành vi mua bán 178 phụ nữ, trẻ em (bình quân mỗi vụ có1,78 nạn nhân) Trong số đó, chỉ có 46 vụ án với 89 nạn nhân được giải quyết vấn
đề bồi thường dân sự (chiếm tỷ lệ 50% số nạn nhân) N hư vậy vẫn còn một nửa số nạn nhân của nhóm tội phạm này không nhận được khoản bồi thường nào cho thiệt hại mà hành vi phạm tội đã gây ra cho mình Tổng số tiền mà 89 nạn nhân được bồi thường là 394.426.000 đồng Tính bình quân mỗi nạn nhân chỉ được bồi thường 4.431.752,8 đồng (bốn triệu bốn trăm ba m ốt triệu bảy trăm năm mươi hai phảy tám đồng) Trong đó nạn nhân được bồi thường ít nhất là 500.000 đồng và nhiều nhất là 27.000.000 đồng.24 Như vậy so với mức độ thiệt hại mà các nạn nhân
và gia đình họ phải gánh chịu, thì số tiền mà những người phạm tội bồi thường cho nạn nhân là quá ít
3.2 Pháp luật về bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm nước ta
- Pháp luật về bảo vệ nạn nhân của tội phạm
BLTTHS đã có những quy định nhằm bảo vệ nạn nhân, nhân chứng và người tố giác tội phạm Tại Điều 7 BLTTHS đã ghi nhận „Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản ”
Tại Điều này cũng có quy định dành riêng cho nạn nhân cùng với những người tham gia tố tụng khác:
24 Nguồn: T rung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước tinh Lạng Sơn, 107 vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em , xuất bàn năm 2009.
24
Trang 31“Người bị hại, người làm chủng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh
dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tổ tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật.“
các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tổ giác tội p h ạ m Khoản 1 Điều 335 BLTTHS quy định người tố cáo có quyền „Yêu cầu cơ quan có thâm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập, trả thùu.
Cùng với các quy định của BLTTHS thì một số văn bản luật khác cũng có những quy định nhằm bảo vệ nạn nhân của tội phạm Khoản 3 Điều 3 Luật phòng
kịp thời phũ hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kỉnh tể - xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.” Đe đảm bảo tối đa việc bảo vệ nạn nhân của bạo lực gia đình, Điều 5 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định rõ những quyền của nạn nhân của bạo lực gia đình bao gồm các quyền: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình; Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc; Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật; Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và thông tin khác theo quy định của Luật này; Các quyền khác theo quy định của pháp luật Những quy định này là vô cùng cần thiết để trợ giúp cũng như bảo vệ nạn nhân của bạo lực gia đình
- Pháp luật về bồi thường cho nạn nhân của tội phạm
Mặc dù chưa có luật riêng về bồi thường cho nạn nhân của tội phạm, tuy nhiên, việc bồi thường cho nạn nhân của tội phạm hiện nay được xác định theo quy định của BLDS tại Chương XXI Mục 2 từ Đ iều 608 đ ến đ iề u 622 B L D S và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 7 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Thiệt hại mà nạn nhân của tội phạm có thể được bồi thường bao gồm: T h iệ t hại tà i sản (Đ iều 628 B L D S ), Thiệt hại về sức khỏe (Điều 609 BLDS), Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 610 BLDS), Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 611 BLDS), Thiệt hại về tinh thần (các Điều từ 609 đến 212)
Trang 32Để bảo trợ giúp nạn nhân của tội phạm, Nhà nước đã ban hành các văn bản như: Luật trợ giúp pháp lí được thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 đã tạo điều kiện cho các nạn nhân của tội phạm là người nghèo, người có công với cách mạng, người già cô đơn, người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa và người dân tộc thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng sự trợ giúp pháp luật miễn phí.
3.3 Một số mô hình bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm• • • o I • • ! •
Xuất phát từ các quy định của pháp luật cũng như nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn, một số mô hình trợ giúp nạn nhân của tội phạm ở nước ta đã hình thành
Mô hình “Nhà hỗ trợ chị em phụ nữ, trẻ em bị buôn bán và bạo lực gia • • r • 7 • • • ” đình” với tên gọi “Ngôi nhà Bình yên ” là một mô hình hoạt động khá hiệu quả
trong việc trợ giúp nạn nhân của tội phạm bạo lực gia đình và tội phạm mua bán người Mỗi nạn nhân được nhận vào Ngôi nhà bình yên sẽ được tạm trú trong thời gian 18 tháng Sau khi được kiểm tra và chăm sóc sức khỏe toàn diện, được hỗ trợ tâm lý, tư vấn pháp lý, nạn nhân sẽ được tư vấn hướng nghiệp và chọn học một nghề phù hợp với năng lực bản thân, điều kiện thực tế của gia đình, như tin học, cắt may, trang điểm, nhà hàng - khách sạn
Ngoài mô hình trợ giúp nạn nhân của bạo hành gia đình, nạn nhân của tội mua bán người, cũng có rải rác những hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm, nhất là nạn nhân của các tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
IV Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của nạn nhân của tội phạm
Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân của tội phạm có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng Để có thực hiện điều đó, cần phải thiết lập một cơ chế pháp lí hữu hiệu
Theo đại từ điển tiếng việt, „Cơ chế“ được hiểu là „Cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện“25. Từ định nghĩa này, có thể định nghĩa: „Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhãn của tội phạm là cách thức tổ chức để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản cho nạn nhân của tội phạm “. Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
- Pháp luật trợ giúp nạn nhân của tội phạm
25 Xem: N guyễn Như Ý , Đại từ điển tiếng việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà N ội 2 0 0 8 , tr 464.
26
Trang 33nạn nhân của tội phạm bao gôm bôn nhóm yêu tô: Thứ nhât là các nguyên tăc, phương thức, cách thức, thủ tục để đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế Thứ hai là các chủ thể thực hiện việc bảo vệ, trợ giúp Thứ ba là các đối tượng được bảo vệ, trợ giúp Thứ tư là hệ thống văn bản pháp luật tạo hành lang pháp lí thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp nạn nhân của tội phạm.
Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nạn nhân của tội phạm cũng được phân biệt với cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nạn nhân của tội phạm Khái niệm „Cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nạn nhân của tội phạm“
là khái niệm có phạm vi rộng hon khái niệm „Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nạn nhân của tội phạm“ Khái niệm „Cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nạn nhân của tội phạm“ không chỉ bao gồm các yếu tố mang tính pháp lý
mà còn bao gồm cả những yếu tố khác có tác động, ảnh hưởng đến tổ chức và vận hành của hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nạn nhân của tội phạm Có thể định nghĩa cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nạn nhân của tội phạm như sau:
Cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nạn nhân của tội phạm
là các nguyên tắc, phương pháp và cách thức tổ chức thực hiện hoạt động bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho nạn nhân của tội phạm.
4.1 Các nguyên tắc, phương thức, cách thức, thủ tục để đảm bảo cho sự vận hành của cơ chế
Bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp nạn nhân của tội phạm là hoạt động mang tính rộng rãi và liên tục do hành vi phạm tội xảy ra thường xuyên, liên tục cũng như nguy cơ tái trở thành nạn nhân của tội phạm Chính vì vậy, để đảm bảo một cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp nạn nhân của tội phạm vận hành có hiệu quả, cần có hệ thống các nguyên tắc, phương pháp, cách thức tổ chức thực hiện và các thủ tục cụ thể
4.1.1 Các nguyên tắc tổ chức, hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nạn nhân của tội phạm
- Nguyên tắc huy động sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân tham gia
Nguyên tắc này đòi hỏi không chỉ huy động sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân vào hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân mà còn phải huy động nguồn tài chính đóng góp, hỗ trợ của các tầng lóp nhân dân cho hoạt động
Trang 34này Huy động tôi đa sự ủng hộ vê tài chính của mọi tâng lớp nhân dân trong xã hội, đặc biệt là từ các doanh nghiệp, để hỗ trợ hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm sẽ tạo ra sức mạnh đảm bảo hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm thực sự có hiệu quả.
- Nguyên tắc đảm bảo sự tiếp cận nhanh chóng th u ận lợi của nạn nhân
Nguyên tắc này đòi hỏi hệ thống cơ quan, tổ chức thực hiện hoạt động bảo
vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm phải được tổ chức rộng rãi trên toàn bộ lãnh thổ của đất nước Mặt khác phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để mọi
cá nhân, xã hội biết đầy đủ các thông tin về hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm để họ có thể tiếp cận nhanh chóng sự bảo vệ và trợ giúp
- Nguyên tắc bảo vệ quyền và lọi ích tối đa cho nạn nhân của tội phạm
Nguyên tắc này đòi hỏi phải đảm bảo quyền và lợi ích họp pháp tối đa cho nạn nhân của tội phạm, trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe và tài sản của họ
Đe bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân của tội phạm, cũng cần đảm bảo quyền bồi thường thiệt hại cho nạn nhân Trong những trường hợp người phạm tội không có hoặc không đủ nguồn tài chính để thực hiện các khoản bồi thường này thì Nhà nước, với tư cách là chủ thể quản lí xã hội cần phải dành nguồn tài chính từ ngân sách hoặc các nguồn xã hội hóa để thực hiện việc bồi thường này Bên cạnh
đó, cần phải đảm bảo quyền bí mật cá nhân của nạn nhân, nhất là nạn nhân của các tội phạm xâm phạm tình dục
4.1.2 Phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm được thực hiện theo phương pháp kết hợp tuyên truyền, giáo dục, động viên, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội nhiệt tình tham gia Hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm luôn cần sự tham gia cộng tác tích cực của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Càng nhiều cá nhân, tổ chức tham gia thì hoạt động này càng mang lại hiệu quả thiết thực Đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị cần phải tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức này với nhau cũng như giữa các cơ quan, tổ chức đơn vị với các cơ quan tư pháp hình sự trong hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Các hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp cần tham gia tích cực vào hoạt động tạo việc làm cũng như nguồn tài chính để hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm đạt hiệu quả cao c ầ n tổ chức rộng rãi mạng lưới bảo vệ và
28
Trang 35trợ giúp nạn nhân của tội phạm nhằm thu hút sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân, đảm bảo giúp nạn nhân có thể tiếp cận nhanh chóng, dễ dàng với
sự bảo vệ và trợ giúp Sử dụng triệt để các phương tiện truyền thông hỗ trợ hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Xây dựng nhiều trang web để phổ biến các thông tin đến rộng rãi đến mọi người dân trong xã hội
4.2 Các chủ thể tiến hành viêc bảo vê nan nhân của tôi pham• • • • K •
4.2.1 Các cơ quan tư pháp hình sự
Các cơ quan Tư pháp hình sự là trung tâm của hệ thống bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm, đặc biệt là trong hoạt động bảo vệ Trong đó, cơ quan công
an giữ vai trò là lực lượng nòng cốt trong hoạt động bảo vệ nạn nhân và nhân chứng Cơ quan công an cần phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát và tòa án trong việc xác định những trường họp cần được bảo vệ; các biện pháp cần thiết áp dụng
để việc bảo vệ thực sự có hiệu quả Cơ quan công an cũng phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các cá nhân trong
xã hội để tận dụng sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo vệ an toàn nhất tính mạng, tài sản của nạn nhân, nhân chứng và gia đình họ
4.2.2 Bô tài chính
Bộ tài chính là cơ quan đảm bảo một phần ngân sách cho hoạt động bảo vệ nạn nhân của tội phạm Bộ tài chính phối hợp với các cơ quan tư pháp hình sự để lập các dự toán ngân sách hàng năm cho hoạt động bảo vệ nạn nhân, nhân chứng và gia đình họ
4.2.3 Các cơ quan, tổ chức khác và cá nhân trong xã hội
Các tổ chức và doanh nghiệp là các đơn vị vừa có thể đảm bảo nơi làm việc cho các nạn nhân và nhân chứng trong các trường hợp họ cần phải thay đổi nơi làm việc để đảm bảo bí mật cá nhân và bảo vệ cho họ và người thân trong gia đình Các
tổ chức, doanh nghiệp cũng có vai trò quan trọng trong việc đóng góp nguồn tài chính quan hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ nạn nhân của tội phạm Bên cạnh đó, các
cá nhân trong xã hội cũng có vai trò quan trọng trong hoạt động bảo vệ nạn nhân của tội phạm Các cá nhân trong xã hội không chỉ tham gia trực tiếp vào hoạt động bảo vệ nạn nhân của tội phạm mà còn đóng góp tài chính hỗ trợ cho hoạt động bảo
vệ nạn nhân của tội phạm
Trang 36Hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm tập trung vào ba nhóm: Trợ giúp pháp lí, trợ giúp tài chính và trợ giúp y tế.
Đe đảm bảo hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm có hiệu quả, cần thành lập cơ quan đầu mối là các Trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm Các Trung tâm này có thể trực thuộc Bộ tư pháp hoăc trực thuộc các Bộ chủ quản Các Trung tâm có nhiệm vụ điều phối các hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm và gia đình họ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình Các Trung tâm thành lập những mạng lưới rộng rãi trên địa bàn cả nước để giúp các nạn nhân có thể tiếp nhận thông tin và thực hiện những sự trợ giúp có hiệu quả Các Trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm phải phổi hợp chặt chẽ với các cơ quan tổ chức, đơn vị và
cá nhân, đặc biệt là các cơ quan chuyên môn như Bộ tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ tài chính và Bộ y tế Các cơ quan này có thể cung cấp những dịch vụ cần thiết cho các Trung tâm thực hiện có hiệu quả việc trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm Các Trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm bao gồm ba Trung tâm: Trung tâm trợ giúp pháp lí, Trung tâm trợ giúp tài chính và Trung tâm trợ giúp y tế Các trung tâm này thực hiện các chức năng theo thẩm quyền chuyên môn để trợ giúp cho các nạn nhân phù hợp với nhu cầu của họ T ru n g tâm tr ợ
giúp pháp lý chuyên trợ giúp cho nạn nhân của tội phạm tất cả những vấn đề về
pháp luật như trình tự, thủ tục để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thủ tục khai báo, thủ tục tìm luật sư bảo vệ quyền lợi, thủ tục nhận được sự trợ
giúp, thủ tục đòi bồi thường thiệt hại Trung tâm tr ợ giúp tài chính chuyên thực
hiện những trợ giúp nạn nhân của tội phạm những khoản tài chính để bù đắp cho những thiệt hại mà hành vi phạm tội đã gây ra cho nạn nhân, nhất là trong những trường hợp người phạm tội không có khả năng tài chính để bồi thường cho nạn
nhân Trung tâm trợ giúp y tế là cơ quan trợ giúp những vấn đề thuốc men điều
trị cho nạn nhân và cả những người thân của nạn nhân của tội phạm (ví dụ người nhà của nạn nhân bị giết, bị hiếp dâm ) Các khoản điều trị phục hồi chức năng cho các nạn nhân bị các tổn thương nghiêm trọng làm mất hoặc hạn chế các chức năng của các bộ phận của cơ thể Trợ giúp y tế cũng bao gồm cả những khoản trị liệu về tâm lý để những nạn nhân và người thân của họ có thể nhanh chóng khôi phục sức khỏe, trở về tình trạng ban đầu
Mô hình các Trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm cần được tổ chức từtrung ương đến các địa phương theo các cấp chính quyền và cần phải huy động
30
4.3 Các chủ thể tiến hành trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Trang 37được những lực lượng tình nguyện viên tích cực tham gia hỗ trợ cho hoạt động của mạng lưới trung tâm c ầ n phải tận dụng các phương tiên truyền thông, đặc biệt là internet để tuyên truyền, quảng bá cho hoạt động trợ giúp nạn nhân của tội phạm Các trung tâm trợ giúp nạn nhân của tội phạm cần xây dựng các trang web với đầy
đủ các thông tin về chức năng, nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động và đặc biệt là những hướng dẫn để các nạn nhân và người nhà của họ có thể nhanh chóng tiến hành các thủ tục để nhận được sự trợ giúp của trung tâm Giữa các cơ quan tiến hành việc bảo vệ và các cơ quan tiến hành việc trợ giúp nạn nhân cũng phải luôn có mối quan
hệ phối họp chặt chẽ với nhau để cùng thực hiện mục đích: Đảm bảo tốt nhất những quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân, nhân chứng và gia đình họ
4.4 Các đối tượng được hưởng sự bảo vệ và trự giúp
Các đối tượng được hưởng sự bảo vệ và trợ giúp gồm ba loại: Nạn nhân của tội phạm, nhân thân của nạn nhân và người làm chứng Nạn nhân của tội phạm theo nghĩa rộng là các cá nhân, tổ chức bị hành vi phạm tội tác động gây thiệt hại Tùy theo tính chất, mức độ của sự xâm hại cũng như hậu quả thiệt hại mà các nạn nhân của tội phạm có thể được hưởng những sự bảo vệ và trợ giúp khác nhau Những người chứng kiến hành vi phạm tội trong một số trường hợp cũng được hưởng chương trình bảo vệ nhân chứng tương tự như chương trình bảo vệ nạn nhân của tội phạm, v ề nguyên tắc, khi những nạn nhân và nhân chứng được tham gia các chương trình bảo vệ thì những người thân của họ cũng được hưởng sự bảo
vệ Bởi vì khi những nạn nhân và nhân chứng này rơi vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe thì người thân của họ cũng rất dễ rơi vào tình trạng nguy hiểm
đó do người phạm tội nhằm đến
4.5 Hệ thống văn bản quy định việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Tuyên ngôn của Liên họp quốc về những nguyên tắc cơ bản trong tư pháp đối với các nạn nhân của tội phạm và nạn nhân của sự lạm dụng bạo lực (Declaration o f Basic Principles o f Justice for Victims o f Crime and Abuse o f Povver) là một văn bản pháp lý quan trọng xác định những nguyên tắc cơ bản để các quốc gia cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật nước mình Nước ta đã có một
số văn bản quy định về vấn đề trợ giúp và bảo vệ nạn nhân của tội phạm như Bộ luật tố tụng hình sự, Luật phòng chống, tham nhũng, Luật phòng, chống mua bán người, Luật phòng, chống bạo lực gia đình Tuy nhiên các văn bản này mới chỉ dừng lại ở một số quy định về bảo vệ nạn nhân của tội phạm, chưa đưa ra được
Trang 38những cơ chế thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Ở hầu hết các nước đều ban hành luật bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Để làm cơ sở cho việc xây dựng một cơ chế hữu hiệu bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm thì cần phải có một văn bản pháp luật quy định chi tiết, cụ thể Luật bảo vệ và trợ giúp nạn nhân sẽ được xây dựng trên cơ sở quy định một cách chi tiết, cụ thể Luật bảo vệ và trợ giúp nạn nhân cần trước hết cần phải xác định một phạm vi các đối tượng cần được bảo vệ và trợ giúp Luật bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm cũng phải xác định rõ các mức trợ giúp cụ thể cũng như các biện pháp bảo vệ kèm theo những điều kiện tài chính giúp cho hoạt động bảo vệ nạn nhân và nhân chứng Luật bảo vệ và trợ giúp nạn nhân cũng phải đưa ra hệ thống các biện pháp đảm bảo có thể bảo vệ một cách hữu hiệu an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của nạn nhân và gia đình họ
Luật bảo vệ và trợ giúp nạn nhân cũng phải quy định cụ thể các cơ quan, tổ chức làm đầu mối cho hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Các cơ quan này chính là các mối liên kết, hợp tác để hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm đạt hiệu quả cao nhất
Cùng với luật bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm thì các văn bản hướng dẫn cần được ban hành đồng bộ giúp cho việc tổ chức và thực hiện các quy phạm pháp luật được thực hiện trên thực tế Một hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ
có thể tạo ra một hành lang pháp lí thuận lợi để cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản của nạn nhân của tội phạm vận hành một cách trơn tru và có hiệu quả
4.6 Mối quan hệ tác động giữa các yếu tố trong cơ chế pháp lí bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm
Các yếu tố trong cơ chế pháp lí bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm có mối quan hệ mật thiết tác động lẫn nhau Các nguyên tắc tổ chức và vận hành cơ chế này chính là kim chỉ nam để xây dựng các văn bản pháp luật và định hướng cho các hoạt động bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm Ngược lại, nội dung các quy phạm pháp luật trong các văn bản luật cũng cần phải quy định rõ các nguyên tắc làm tiền đề cho việc tổ chức và vận hành cơ chế pháp lí bảo vệ quyền
và lợi ích cơ bản của nạn nhân của tội phạm Các nguyên tắc cũng như các văn bản pháp luật chính là nền tảng để tổ chức và vận hành bộ máy bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm cũng như định hướng cho các hành vi, xử sự của nạn nhân, người làm chứng và người thân của họ (những đối tượng được hưởng sự bảo vệ và
32
Trang 39trợ giúp) Các yêu tô này tác động, hô trợ lân nhau tạo động lực thúc đây sự vận hành của cơ chế pháp lí bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản của nạn nhân của tội phạm Bất kì một khâu, một yếu tố nào không hoàn thiện sẽ gây ảnh hưởng đến các yếu tố khác làm cản trở sự vận hành chung của toàn bộ hệ thống Cơ chế pháp lí bảo vệ và trợ giúp nạn nhân của tội phạm có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:
vận hành cơ chế
t r
Các chủ thê tiên hành bảo vệ và trợ giúp
Cơ quan tư
Các cơ quan,
tổ chức, đon
vị cá nhân
r
Các đôi tượng được bảo vệ và trợ giúp
vi phạm tội
Người thân của nạn nhân
và nhân chứng
Trang 40PHẦN II CÁC CHUYÊN ĐỀ CHUYỂN ĐÊ 1
VAI TRÒ CỦA NẠN NHÂN CỦA TỘI PHẠM TRONG HỆ THÓNG T ư
PHÁP HÌNH S ự
TS Trần Hữu Tráng Khoa Pháp luật hình sự
Nạn nhân của tội phạm theo nghĩa hẹp là những người phải chịu những hậu quả thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội gây ra.26 Mặc dù khái niệm „nạn nhân“ và khái niệm „người bị hại“ là không đồng nhất27, tuy nhiên phân tích vai trò của người bị hại trong quá trình tố tụng hình sự chính là làm rõ vai trò của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự Trong hệ thống tư pháp hình
sự của bất kì quốc gia nào, nạn nhân luôn có vai trò vô cùng quan trọng cả trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và cả trong quá trình phòng ngừa tội phạm Trong nhiều vụ án hình sự, nhất là những vụ án xảy ra ở những nơi chỉ có nạn nhân
và người phạm tội thì sự hợp tác của nạn nhân với cơ quan bảo vệ pháp luật có vai trò quyết định trong việc phát hiện, điều tra truy tố và xét xử người phạm tội Vai trò quan trọng của nạn nhân được thể hiện không chỉ trong giai đoạn điều tra, truy
tố mà cả trong giai đoạn xét xử Vì vậy, nếu phát huy tốt vai trò của nạn nhân của tội phạm trong việc hợp tác với các cơ quan bảo vệ pháp luật thì hiệu quả hoạt động của các cơ quan này sẽ được nâng cao và do đó, hoạt động phòng chống tội phạm sẽ đạt hiệu quả cao nhất Nghiên cứu vai trò của nạn nhân trong hệ thống tư pháp hình sự vì vậy có nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động phòng chống tội phạm Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi nghiên cứu về vai trò của nạn nhân của tội phạm trong hệ thống tư pháp hình sự
26 Hiện nay còn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nạn nhân cùa tội phạm Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi nghiêng về quan điểm nạn nhân theo định nghĩa cùa BLTTHS về người bị hại theo điều 51 BLTTHS v ề khái niệm nạn nhân của tội phạm, xin xem thêm: Trần Hữu Tráng, Bàn về khái niệm nạn nhân cùa tội phạm trong Tội phạm học, Tạp chí N ghe Luật, số 05/2010, tr 13.
27 về sự khác biệt giữa hai khái niệm này, xem: Trần Hữu Tráng, Luận văn thạc sỹ luật học: Nạn nhân học trong Tội phạm học V iệt Nam - Một sô vân đê lí luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà N ội, 2000.
34