Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, việc sắp xếp, chuyển đổi công ty nhà nước còn gặp nhiều khó khăn và còn tồn tại nhiều hạn chế: Quy mô công ty nhà nước vẫn chưa lớn, còn
Trang 2B ộ G IẢ O DỤC VÀ Đ À O TẠO • • • B ộ T ư PHÁP•
TRƯ Ờ NG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI• • • •
PHAN THỊ LÊ HIÉU
t h ư v i ệ n
ĨRƯỜNG ĐẠI H Ọ C LŨÂĨ h à n ò i
PHÒNG
CHUYỂN ĐỎI CÔNG TY NHÀ NƯỚC
VÀ TH ựC TIỄN CHUYẺN ĐÒI TẠI CÔNG TY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 50
LUẬN VĂN TH Ạ C SỸ LUẬT HỌC• • • •
N G Ư Ờ I HƯ Ớ NG DẢN: TS N guyễn V iết Tý
H \ NỘI - 2009
Trang 3Chương 2: THỤC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHƯYÉN ĐỔI
2.2 Nhừng khó khăn vướng mac trong quá trình chuyển đổi Công ty nhà nước 44Chương 3: T H ự C TIỄN CHUYỂN ĐÔI TẠI CÔNG TY THÔNG TIN
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công ty nhà nước ở Việt Nam là những cơ sở sản xuất kinh doanh
do Nhà nước sở hữu toàn bộ hay phần lớn vốn trong doanh nghiệp Những doanh nghiệp này thuộc quyền sở hữu của Nhà nước hay cơ bản thuộc quyền sở hữu nhà nước Sự tồn tại của công ty nhà nước bắt nguồn
từ yêu cầu giải quyết các mục tiêu kinh tế xã hội và yêu cầu điều tiết vĩ
mô trong nền kinh tế thị trường Nhưng trong nền kinh tế thị trường, công
ty nhà nước chỉ cần có mặt ở những ngành, những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Còn những công ty nhà nước hoạt động trong những ngành, lĩnh vực không quan trọng, Nhà nước có thể quyết định chuyển đổi sở hữu đối với những công ty này
Những năm qua, việc sắp xếp, chuyển đổi sở hữu công ty nhà nước luôn gắn với đổi mới cơ chế, chính sách nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của công ty nhà nước trong mọi lĩnh vực hoạt động, đồng thời dần tiến tới mục tiêu để các công ty nhà nước hoạt động trên cùng một mặt bằng pháp lý với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh
tế khác trong cơ chế thị trường
Vấn đề đổi mới, sắp xếp, chuyển đổi công ty nhà nước đã được đặt
ra cùng với đường lối đổi mới toàn diện đất nước từ Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Đại hội đã thực sự mở đầu cho công cuộc đổi mới và phát triển công ty nhà nước một cách cơ bản, mạnh mẽ và toàn diện Cho đến nay, Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản pháp lý tương đối đồng bộ qua các thời kỳ, tạo khung pháp lý để sắp xếp, đổi mới
và phát triển công ty nhà nước Đặc biệt, tại điều 166 - Luật Doanh
nghiệp năm 2005 đã quy định về chuyển đổi công ty nhà nước: “Chậm
nhất trong thời hạn 4 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực, các công ty
Trang 5nhà nước thành lập theo quy định của Luật công ty nhà nước năm 2003 phải chuyển đổi thành công ty TNHH hoặc công ty cổ phần theo quy định của luật này ” [1]
Quá trình sắp xếp, chuyển đổi sở hữu công ty nhà nước trong thời gian qua cho thấy, đã giảm mạnh các doanh nghiệp nhỏ, làm ăn thua lỗ, phát triển những doanh nghiệp quy mô lớn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt, tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong nền kinh tế công cuộc cổ phần hóa đã và đang thực sự trở thành bước chuyển mình quan trọng để sắp xếp lại, tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả công ty nhà nước
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, việc sắp xếp, chuyển đổi công ty nhà nước còn gặp nhiều khó khăn và còn tồn tại nhiều hạn chế: Quy mô công ty nhà nước vẫn chưa lớn, còn nhiều DN hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực mà nhà nước không cần chi phối; Tỷ lệ
nợ trên vốn của công ty nhà nước còn quá cao; cơ chế quản lý công ty nhà nước còn nhiều bất cập, kết quả sản xuất kinh doanh của công ty nhà nước nói chung và tổng công ty nhà nước nói riêng chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước; v ấn đề hậu cổ phần hóa chưa được quan tâm đúng mức, sự hiểu biết về công ty cổ phần còn hạn chế; các mô hình tổ chức, quản lý mới triển khai còn chậm, một số nơi vẫn duy trì biện pháp quản lý hành chính đối với các công ty con như giao chỉ tiêu kế hoạch, thu phí quản lý
Vì vậy, việc chọn đề tài: “Chuyển đổi công ty nhà nước và thực tiễn chuyển đổi công ty nhà nước tại công ty Thông tin Viễn thông Điện lực” với mong muốn qua nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành
về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước để tìm hiểu những quy định mới, những điểm còn bất cập và có kiến nghị hoàn thiện và đưa ra phương
Trang 6hướng giúp cho việc chuyển đổi công ty nhà nước được thực thi tốt hơn trong thực tiễn.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Khái niệm cổ phần hóa và chuyển đổi công ty nhà nước hiện đang được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi Ở nước ta, hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài chuyển đổi công ty nhà nước, đặc biệt là về
cổ phần hóa công ty nhà nước Ở những phạm vi và mức độ khác nhau đã
có khá nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến cổ phần hóa hay chuyển
đổi công ty nhà nước, như: Luật công ty nhà nước và các quy định về cỏ
phần hóa, giao, bán, khoán kinh doanh của Viện nghiên cứu quản lý trung
ương; Tìm hiểu những quy định về đổi mới công ty nhà nước của tác giả Anh Thơ; c ổ phần hóa công ty nhà nước - những vấn đề lý luận và thực
tiễn - PGS.TS Lê Hồng Hạnh; Cải cách công ty nhà nước (các quy định hiện hành) của tác giả Phan Đức Hiểu Ngoài ra, còn có các công trình
nghiên cứu là luận văn thạc sỹ như: Định giá công ty nhà nước khi cổ phần
hóa theo pháp luật hiện hành của tác giả Đỗ Mạnh Hùng; Những vẩn đề pháp lý về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH của tác giả
Thái Thị An Chung; Những vấn đề pháp lý về vốn của công ty nhà nước
khi cổ phần hóa của tác giả Nông Sỹ Hiệp
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh và ở các mức độ khác nhau của quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, một công trình nghiên cứu về các hình thức chuyển đổi công ty nhà nước và thực trạng chuyển đổi công ty nhà nước theo lộ trình quy định như trong Luật doanh nghiệp 2005 là chưa có
Trang 73 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Căn cứ vào những quan điểm của Đảng và Nhà nước về sắp xếp, đổi mới và phát triển công ty nhà nước, cũng như thực tiễn chuyển đổi, sắp xếp đổi mới công ty nhà nước trong thời gian qua, mục đích của Luận văn là tìm hiểu, so sánh các hình thức chuyển đổi công ty nhà nước dựa trên những quy định pháp luật hiện hành, trên cơ sở đó tìm ra những định hướng, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc chuyển đổi công ty nhà nước trong thực tế, đáp ứng lộ trình chuyển đổi theo Luật Doanh nghiệp 2005
Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của Luận văn là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chuyển đổi công ty nhà nước, từ đó xác định đúng bản chất, nội dung của từng hình thức chuyển đổi;
- Phân tích, đánh giá những quy định hiện hành về chuyển đổi công
4 Phạm vi nghiên cứu
công ty nhà nước là một trong các loại hình doanh nghiệp có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường Nhưng hiện nay, các doanh nghiệp trong nền kinh tế sẽ thống nhất hoạt động theo các mô hình đã được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 Vì vậy, Luận văn chỉ giới hạn phạm
vi nghiên cứu tại những quy định của pháp luật kinh tế, cụ thể là những
Trang 8quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến quá trình chuyển đổi công ty nhà nước.
Khi nghiên cứu hệ thống quy định pháp luật kinh tế, luận văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu về công ty nhà nước và chuyển đổi công ty nhà nước Vì vậy, hướng nghiên cứu của luận văn là luôn bám sát những quy định hiện hành của pháp luật về chuyển đổi công ty nhà nước, so sánh với những quy định trước đây
5 Co’ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của Đảng
và Nhà nước về chuyển đổi công ty nhà nước trong nền kinh tế thị trường, đảm bảo sự bình đẳng của các thành phần kinh tế đáp ứng định hướng phát triển đất nước theo xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa
Luận văn vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, phương pháp luận biện chứng duy vật và những phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp, chứng minh trong quá trình giải quyết những vấn đê mà đê tài dặt ra
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuyển đổi công ty nhà nước;Chương 2: Thực trạng pháp luật chuyển đổi công ty nhà nước và thực tiễn chuyển đổi công ty nhà nước;
Chương 3: Thực tiễn chuyển đổi tại công ty Thông tin Viễn thông Điệnlực
Trang 9CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ CHUYẺN ĐỐI CÔNG TY NHÀ
NƯỚC 1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TY NHÀ NƯỚC 1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của công ty nhà nưóc
Đe hiểu khái niệm công ty nhà nước, trước hết cần đề cập đến khái niệm Doanh nghiệp nhà nước:
Luật về Doanh nghiệp nhà nước được ban hành lần đầu vào năm
1995 và được sửa đổi bổ sung tại Luật Doanh nghiệp nhà nước 2003, theo
đó đã thay đổi quan niệm về Doanh nghiệp nhà nước:
“Doanh nghiệp nhà nước là tỏ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phổi, được to chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cỏ phần, công ty TNHH” [2]
Còn công ty nhà nước là một trong số các loại hình của doanh nghiệp nhà nước Doanh nghiệp nhà nước có thể bao gồm: công ty nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên, công ty cổ phần nhà nước, doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước, công ty nhà nước là doanh nghiệp
do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được Nhà nước thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp nhà nước và các văn bản thi hành (trong khi các loại hình khác của doanh nghiệp nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp), công ty nhà nước có hai hình thức tồn tại, đó là: công ty nhà nước độc lập
và Tổng công ty nhà nước
công ty nhà nước là một loại hình của doanh nghiệp nhà nước nên cũng có những đặc điểm chung của doanh nghiệp nhà nước và cũng có những đặc điểm riêng như sau:
Trang 10+ về sở hữu: công ty nhà nước là doanh nghiệp mà toàn bộ vốn điều lệ do Nhà nước nắm giữ 100% và thuộc sở hữu Nhà nước
+ v ề quyền quyết định đối với công ty nhà nước: Vì công ty nhà nước do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ nên Nhà nước có toàn quyền định đoạt đối với doanh nghiệp hoặc quyền định đoạt đối với điều
lệ hoạt động, đối với việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, đối với việc tổ chức, quản lý và quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp
công ty nhà nước độc lập và Tổng công ty Nhà nước
+ v ề tư cách pháp lý và trách nhiệm tài sản: công ty nhà nước là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh doanh, lấy thu bù chi và phải đảm bảo có lãi để tồn tại và phát triển, công
ty nhà nước có tài sản riêng và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng đó
về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của công ty nhà nước
công ty nhà nước hiện nay vẫn giữ vai trò chủ đạo: mặc dù chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần vẫn là giảm số lượng công ty nhà nước ở những ngành lĩnh vực mà N hà nước không cần thiết phải chi phối, nhưng vai trò chủ đạo của công ty nhà nước vẫn được khẳng định ở chỗ: thông qua công ty nhà nước, Nhà nước có thể điều tiết được nền kinh tế, định hướng sự phát triển của các thành phần kinh tế khác
Vai trò kinh tế: Doanh nghiệp nhà nước nói chung cũng như công
ty nhà nước nói riêng giúp khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường, đảm bảo đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh có tính chiến lược đối với sự phát triển của kinh tế xã hội, nhưng đòi hỏi có vốn
Trang 11đầu tư lớn vượt quá khả năng của tư nhân; tham gia vào những lĩnh vực khoa học công nghệ mũi nhọn, có hệ số rủi ro cao mà các loại hình doanh nghiệp khác không muốn đầu tư; tham gia vào một số ngành có lợi thế cạnh tranh
Vai trò chính trị: công ty nhà nước nắm giữ những ngành đặc biệt quan trọng liên quan đến an ninh quốc phòng quốc gia; tham gia chiếm giữ một số vị trí thiết yếu, quan trọng để chủ động định hướng xã hội và làm đối trọng trong phát triển hội nhập quốc tế
Vai trò xã hội: công ty nhà nước gánh vác chức năng và vai trò xã hội khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp khác Đó là đầu tư vào những ngành ở những địa bàn khó khăn có ý nghĩa chính trị - xã hội mà
tư nhân không muốn đầu tư, đảm bảo sự cân bằng phát triển vùng miền; đảm nhận sản xuất các hàng hoá công cộng thiết yếu Ngoài ra các công
ty nhà nước là nơi giải quyết vấn đề lao động xã hội tốt nhất, là nơi người lao động được thực hiện một số quyền chính trị của mình
Tuy nhiên, hiện nay trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc
tế, Việt Nam gia nhập WTO, mô hình hoạt động của các công ty Nhà nước còn nhiều bất cập Cụ thể là:
Thứ nhất, trước đây, ở nước ta phần lớn các công ty nhà nước được
hình thành do ý chí chủ quan của các cơ quan nhà nước chứ không phải
do yêu cầu khách quan của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây
là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của hầu hết các công ty nhà nước Chính vì hình thành dựa trên ý chí chủ quan của các cơ quan nhà nước, nên các công ty nhà nước chịu sự chi phối của nhiều tầng lớp quản lý, nhiều mệnh lệnh hành chính trong hoạt động của mình Cơ chế quản lý công ty nhà nước còn nhiều bất cập, từ quyền tự chủ tuyển chọn nhân sự, điều hành công ty đến tài chính, giá cả, tiền lương Đồng thời, những người quản lý trong các công ty nhà nước có nguy cơ tham
Trang 12nhũng, trục lợi rất cao, vì tài sản là của Nhà nước nhưng giao cho họ quản
lý, dẫn đến tình trạng hoạt động kinh doanh thua lỗ nhưng họ lại không gánh vác trách nhiệm mà trách nhiệm này lại thuộc về Nhà nước
Thứ hai, quy mô công ty nhà nước chưa lớn, còn nhiều công ty hoạt
động trong một số ngành lĩnh vực mà Nhà nước không cần chi phối, trình
độ công nghệ còn lạc hậu, sử dụng công nghệ cũ, năng suất lao động và hiệu quả hoạt động còn thấp, sức cạnh tranh chưa đủ đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tể Vì vậy, một số tổng công ty nhà nước chưa phát huy được vai trò chi phối trong ngành, lĩnh vực hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước
Chính vì vẫn còn tồn tại khó tránh khỏi trong hoạt động của công ty nhà nước nên Nhà nước ta đã đề ra chủ trương đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói chung, trong đó có các công ty nhà nước Những năm qua, Chính phủ đã tập trung cho việc ban hành các cơ chế, chính sách, tạo khung pháp lý tương đối đồng bộ để sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi để phát triển công ty nhà nước và đã đạt được kết quả quan trọng
1.2 Khái quát về chuyển đổi công ty nhà nước
1.2.1 Khái niệm chuyển đổi công ty nhà nước
Chuyển đổi công ty nhà nước là việc thay đổi hình thức sở hữu vốn, tài sản trong doanh nghiệp và thay đổi cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nhà nước nhằm tạo ra một cơ chế hoạt động họp lý hơn, có hiệu quả kinh tế hơn
Bản chất của việc chuyển đổi này là chuyển phương thức sở hữu, phương thức hoạt động cũ không hợp lý, kém hiệu quả, năng suất chất lượng thấp sang một phương thức mới hợp lý hơn, hiệu quả hơn
Không chỉ riêng các nước XHCN chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường mới nghĩ đến việc chuyển đổi
Trang 13các đơn vị kinh tế thuộc khu vực Nhà nước Việc này đã và đang diễn ra ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển Từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới, chưa có một nước nào kinh doanh công cộng mà đạt hiệu quả kinh doanh cao.
Ví dụ, ở Bắc Âu, doanh nghiệp công rất phát triển song đối với các doanh nghiệp công không sinh lợi thì hiệu quả phát triển cao, còn đối vớicác lĩnh vực liên quan đến dịch vụ nếu như để đạt kết quả như những doanh nghiệp tư thì chi phí bỏ ra rất lớn Ở Nhật Bản, sau chiến tranh thế giới thứ hai, do nền kinh tế chưa phát triển, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh để vực dậy nền kinh tế trong nước, Nhà nước đã tiến hành quốc hữu hoá nhưng chỉ trong một thời gian ngắn phải buông tay vì hoạt động không hiệu quả
Ở Việt Nam, trước đây, có thể nói không một lĩnh vực nào từ hàng không, dịch vụ, kinh doanh, lương thực mà không có sự can thiệp của Nhà nước, Nhà nước dã tham gia tất cả các lĩnh vực nhưng hiệu quả hoạt động của các công ty nhà nước không cao, mặc dù nguồn lực đầu tư lớn hon gấp 1.5 đến 2 lần so với doanh nghiệp dân doanh Đặt trong xu thế hội nhập với thế giới, phát triển nền kinh tế thị trường, Việt Nam cũng cần phải lành mạnh hoá các quan hệ kinh tế với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hình thức tổ chức sản xuất đa dạng dựa trên sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Đó là “nền kinh tế đa thành phần trong
đó kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo” (Hiến pháp 1992 - sửa đổi bổ sung 2001 - điều 15)
Chuyển đổi công ty nhà nước có nhiều hình thức khác nhau ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam Đó là các hình thức như: c ổ phần hoá công ty nhà nước, bán toàn bộ công ty nhà nước, giao công ty nhà nước cho tập thể người lao động trong công ty
Trang 14Những năm qua, Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành cơ chế, chính sách, tạo khung pháp lý tương đối đồng bộ và phù họp cho sắp xếp, cổ phần hoá, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nưóc nói chung và công ty nhà nước nói riêng Cụ thể, về cơ bản, có những văn bản pháp luật quy định về chuyển đổi công ty nhà nước như sau:
- Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính Phủ quy định về việc chuyển Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần;
- Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính Phủ quy định về việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
- Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ
về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
- Thông tư số 95/2006/TT-BTC ngày 12/10/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi bổ sung Nghị định số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần;
- Nghị định 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính Phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
- Thông tư số 20/2007/TT-BLĐTBXH ngày 4/10/2007 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính Phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
- Vlghị định số 63/2001/NĐ-CP ngày 14/9/2001 về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành công ty TNHH một thành viên;
Trang 15> - Thông tư của Bộ kế hoạch và đầu tư số 01/2002/BKH ngày 28/1/2002 về việc hướng dẫn quy trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên;
í - Nghị định của Chính phủ số 145/2005/NĐ-CP ngày 21/11/2005
về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 63/2001/NĐ-CP ngày 14/9/2001 về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành công ty TNHH một thành viên;
£■ Nghị định của Chính phủ số 95/2006/NĐ-CP ngày 8/9/2006 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên;
- Nghị định của Chính phủ số 153/2004/NĐ-CP ngày 9/8/2004 về
tổ chức, quản lý Tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo
mô hình công ty mẹ - công ty con;
- Nghị định số 41/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 04 năm 2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước;
- Nghị định số 155/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 08 năm 2004 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 41/2002/NĐ-
CP ngày 11 tháng 04 năm 2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước;
- Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước;
- Nghị định số 80/2005/NĐ-CP ngày 20 tháng 06 năm 2005 của Chính phủ về giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê công ty nhà nước theo hướng xoá bỏ cơ chế khoán kinh doanh và cho thuê công ty nhà nước;
1.2.2 Sự cần thiết chuyển đổi công ty nhà nước
Trang 16Trong một thời gian dài hoạt động, công ty nhà nước đã bộc lộ những điểm bất cập trong cơ chế quản lý doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế Cụ thể là:
vùng, quy mô Phần lớn các công ty nhà nước có quy mô nhỏ, trình độ kỹ thuật, công nghệ cũ, lạc hậu, tiêu hao nhiên liệu, năng lượng cao sức cạnh tranh còn hạn chế Tỷ lệ nợ trên vốn của công ty nhà nước cao, việc xử lý tồn tại về tài chính còn chậm, kết quả sản xuất kinh doanh của công ty nhà nước nói chung và tổng công ty nhà nước nói riêng chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước
v ề hiệu quả hoạt động: các công ty nhà nước còn chưa chứng tỏ được tính hiệu quả của mình so với khu vực dân doanh, càng thua kém khu vực đầu tư nước ngoài, chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước (mặc dù đã được ưu đãi đầu tư, sau nhiều lần sắp xếp tổ chức lại, đổi mới
cơ chế)
chủ chọn nhân sự, điều hành công ty, đến tài chính, giá cả, tiền lương Một số Tổng công ty Nhà nước chưa phát huy được vai trò chi phối trong ngành, lĩnh vực hoạt động Một số công ty hoạt động còn kém hiệu quả Ở nhiều tổng công ty, giữa Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc chưa có sự thống nhất trong quản lý, điều hành doanh nghiệp
Chủ trương đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói chung và công ty nhà nước nói riêng đã được đặt ra suốt từ những năm 90 của thế kỷ XX Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế trong việc triển khai chủ trương, thực hiện các biện pháp đổi mới doanh nghiệp Các công ty nhà nước đã chuyển đổi quy mô vẫn chưa lớn, còn nhiều công ty hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực mà N hà nước không cần chi phối Không ít tỉnh thành phố vẫn chưa kiên quyết trong việc chuyển đổi, số lượng doanh
Trang 17nghiệp tham gia nhiệm vụ cung cấp sản phấm, dịch vụ công ích còn nhiều, đặc biệt là khối an ninh quốc phòng Tổ chức quản lý trong công ty nhà nước đã chuyển đổi chuyển biến rất chậm, nhiều công ty nhà nước được cổ phần hoá nhưng chưa có điều kiện thay đổi cơ bản quản trị công
ty, một phàn do Nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ tỷ lệ cổ phần lớn trong các công ty cổ phàn này Các mô hình tổ chức quản lý mới triển khai còn chậm, ở một số Tổng công ty nhà nước chuyển sang hạot động theo mô hình công ty mẹ - công ty con vẫn còn duy trì biện pháp quản lý hành chính đối với các công ty con như giao chỉ tiêu kế hoạch, thu phí quản lý
Chính vì những hạn chế trên mà Đảng và chính phủ đã đưa ra chủ trương ngày càng phải đẩy mạnh công tác chuyển đổi các công ty nhà nước sang hình thức hoạt động khác nhau, nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế kinh doanh của các công ty nhà nước trong nền kinh tế thị trường và theo lộ trình như đã quy định trong Luật doanh nghiệp 2005: Đen năm
2010 các doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện xong việc chuyển đổi
Việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước nói chung và công ty nhà nước nói riêng nhằm mục tiêu là:
Cơ cấu lại sở hữu của công ty nhà nước mà Nhà nước thấy không cần nắm giữ nữa hoặc không cần nắm giữ 100% vốn điều lệ để sử dụng
có hiệu quả hơn số tài sản Nhà nước đã đầu tư ở công ty Khắc phục, xóa
bỏ sự can thiệp quá rộng của các cơ quan nhà nước vào tố chức và hoạt động của các Doanh nghiệp
Huy động thêm các nguồn vốn đầu tư của cá nhân tổ chức trong và ngoài công ty để hình thành công ty có nhiều nguồn vốn, nhiều chủ sở hữu để đầu tư mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của công ty Tạo điều kiện về cơ sở vật chất và cơ chế thuận lợi cho các chủ thể kinh tế phát huy tiềm năng, thế mạnh và lợi thế cạnh tranh
Trang 18Đảm bảo sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp và phát huy được
năng lực, khả năng, trình độ, sự sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của các
công ty nhà nước
Tạo điều kiện cho người lao động góp vốn thật sự làm chủ công ty
và có việc làm, tăng thu nhập
1.2.3 Kinh nghiệm chuyển đổi công ty nhà nưóc của một số nước trên thế giới
Quá trình chuyển đổi các công ty nhà nước ở Nga (Liên Xô cũ) là
quá trình tư nhân hoá các công ty nhà nước thuộc sở hữu công Vì nhận
thấy ở nhược điểm ở các công ty nhà nước là tính không hiệu quả, không
minh bạch, không rõ quyền sở hữu nhà nước, không thực hiện được vai
trò và nhiệm vụ như mong muốn nên ở Nga, quá trình tư nhân hoá này
diễn ra khá ồ ạt, toàn diện và triệt để ngày từ những ngày đầu chuyển đổi
Qua hon 10 năm tiến hành tư nhân hoá, ở Nga đã có một số kinh nghiệm
về việc chuyển đổi công ty nhà nước như là:
Việc tư nhân hoá nên phải là tư nhân hoá 100%, nếu không thì nhà nước nắm giữ 100%, còn hỗn họp Nhà nước-tư nhân là không thích họp, ngay cả khi nhà nước có hơn 50% cổ phần Trong các công ty cổ phần hỗn họp, cổ phần nhà nước thường được giao cho một hoặc một số người trực tiếp quản lý, do đó nếu nhà nước có hơn 50% cổ phần thì những người được giao quản lý cổ phần nhà nước nắm quyền chi phối, và các cổ đông tư nhân ở vị thế thiểu số chủ động tìm cách cấu kết với những người nói trên chuyển giá trị tài sản nhà nước sang đầu tư cho tất cả họ Còn nếu Nhà nước chỉ chiếm nhỏ hơn 50%, thì chính những người được giao quản lý cổ phần sẽ chủ động tìm cách cấu kết với các cổ đông khác chuyển giá trị công ty ra bên ngoài Như vậy, luôn có yếu tố ngầm trong hoạt động kinh doanh của cả hai trường họp nói trên Thêm vào đó, các cơ quan hành
Trang 19chính và công chức có liên quan vẫn có thói quen và cơ sở để can thiệp hành chính và hạot động kinh doanh của doanh nghiệp Tóm lại, doanh nghiệp với cơ cấu sở hữu hỗn họp nhà nước - tư nhân thường có hoạt động
“ngầm” và chưa hoàn toàn tuân theo cơ chế thị trường
Ngoài ra, việc chuyển đổi doanh nghiệp ở Séc trong thời gian qua cũng đưa lại những kinh nghiệm đáng quan tâm như trong vấn đề định giá doanh nghiệp Tuy tiến hành tư nhân hoá toàn diện với tốc độ nhanh nhưng giá bán doanh nghiệp vẫn được quan tâm Mặc dù vậy, giá bán không phải là mối quan tâm duy nhất của tư nhân hoá, vì ngoài giá bán, việc tìm được người mua có chiến lược kinh doanh hợp lý, ổn định và phát triển được doanh nghiệp cũng rất quan trọng Chính vì vậy, ở Séc, phương thức tư nhân hoá chủ yếu là hai phương thức đấu giá và đấu thầu
Việc tư nhân hoá ở Nga và Séc khôg hạn chế hay khống chế sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài Người nước ngoài có quyền mua đến 100% cổ phần ở các doanh nghiệp cổ phần hoá ở tất cả các lĩnh vực Ở hai nước này, việc tư nhân hoá được thực hiện ngay cả đối với các lĩnh vực công nghiệp độc quyền Ở Séc, các ngành điện, viễn thông, khai thác
mỏ và luyện kim, xăng dầu, khí đốt đều đã tư nhân hoá hết Công nghiệp điện được tư nhân hoá bằng cách tách riêng biệt ba phần: sản xuất điện, chuyển tải điện và phân phối điện Phần chuyển tải điện, tức mạng lưới chuyển tải, không tư nhân hoá thuộc sở hữu Chính phủ trung ương,
do Cơ quan điều tiết và giám sát ngành điện quản lý Còn lại, khu vực sản xuất điện và phân phối điện đã được tư nhân hoá Ở Séc, Nhà nước chỉ duy trì 100% sở hữu đối với các nhà máy điện hạt nhân Theo hệ thống này, nhà phân phối được quyền tự do lựa chọn nhà sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng được tự do lựa chon nhà phân phối Có sự cạnh tranh ở cả sản xuất và phân phối điện; và thậm chí, nhà phân phối có thể chọn mua
Trang 20nguồn điện từ nước ngoài Nhà nước chỉ quy định mức giá tối đa, và các doanh nghiệp cạnh tranh trong mức giá tối đa đó Thực ra, cải cách như miêu tả trên đây là thực hiện theo mô hình phổ biến ở các nước phát triển
Ở Nga, tư nhân hoá ngành điện đang trong quá trình chuẩn bị v ấ n đề khó của nước Nga nằm ở hệ thống chuyển tải do có sự “tranh chấp” về quyền
sở hữu giữa chính quyền trung ương và địa phương Nếu Chính quyền trung ương không giữ được quyền sở hữu hoặc chi phối mạng lưới chuyển tải, thì mạng đó khó vận hành một cách thống nhất, thông suốt Việc tư nhân hoá ngành điện theo cách nói trên sẽ không thực hiện được triệt để Vấn đề khác ở nước Nga là hiện nay nhà nước đang thực hiện trợ cấp chéo, lấy thu từ bán điện cho sản xuất để trợ giá điện cho người tiêu dùng; do đó, giá điện tiêu dùng dân cư ở Nga còn rất thấp Tư nhân hoá tất yếu sẽ dẫn đến tăng giá điện tiêu dùng dân cư và điều đó sẽ đụng chạm đến lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân Nga Đây là vấn đề không dễ giải quyết
Cho đến nay, có thể nói tư nhân hoá ở Nga và Séc đã vào giai đoạn cuối Khu vực kinh tế nhà nước ở Séc chỉ chiếm 20% GDP; số doanh nghiệp nhà nước còn lại rất ít Ngoài ra, nhà nước còn có cổ phần trong các doanh nghiệpchỉ tư nhân hoá một phần Ở Nga hiện còn 9500 xí nghiệp liên hợp nhà nước, 4000 công ty nhà nước có 100% đến vài phần trăm cổ phần (trong đó, từ 250 đến 300 công ty có cổ phần chi phối của nhà nước, còn lại là dưới 50%, 5000 công ty nhà nước có cổ phần vàng
Một kinh nghiệm cải cách doanh nghiệp Nhà nước ở một nước xã hội chủ nghĩa khác đó là Trung Quốc Trung Quốc bắt đầu cố phần hóa doanh nghiệp nhà nước vào giữa những năm 1980 và đến những năm
1992 thì công cuộc này phát truênr mạnh Việc thực hiện cổ phần hóa của Trung Quốc trước hết nhằm góp phần cải cách toàn bộ cơ cấu kinh tế,
THƯ VI ỆNTRƯỜNG ĐẠI HOC LUẬT HÀ NÒI
I PHÒNG DOC
Trang 21nâng cao hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước, nhằm giữ vai trò chủ đạo của nó, đồng thời xây dựng những doanh nghiệp hiện đại thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, tăng thêm nguồn vốn cho những doanh nghiệp nhà nước phát triển sản xuất, đồng thời rút vốn ra khỏi những doanh nghiệp nhà nước không cần giữ 100% vốn Các công ty cổ phần của Trung Quốc
ra đời và phát trển cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Doanh nghiệp cổ phần và thị trường cổ phiếu có mối quan hệ phụ thuộc nhau và cùng phát triển Sự hình thành và hoàn thiện thị trường cổ phiếu
là tiền đề cho sự phát triển của các doanh nghiệp cổ phần Nhận thức được mối quan hệ này, Trung Quốc đã xây dựng phát triển thị trường chứng khoán và kiện toàn các quy định pháp luật, chế độ quản lý thị trường chứng khoán
Trung Quốc đã phân loại các doanh nghiệp cổ phần như sau:
Doanh nghiệp cổ phần hình thành đo việc tham gia nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh nghiệp;
Doanh nghiệp cổ phần hình thành tờ vốn tập trung của người lao động trong doanh nghiệp;
Doanh nghiệp cổ phần do phát hành công khai cổ phiếu ra ngoài xãhội;
Doanh nghiệp cổ phần lấy quan hệ tiền tệ làm chủ thể tham gia cổ phần với doanh nghiệp lớn phát hành cổ phiếu ra ngoài xã hội [13]
Trang 22CHƯƠNG 2 THựC TRẠNG PHÁP LUẬT VÈ CHUYỂN ĐỐI CÔNG TY NHÀ
NƯỚC 2.1 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÈ CHUYỂN ĐỐI CÔNG TY NHÀ NƯỚC
2.1.1 Các hình thức chuyển đổi công ty nhà nước
Việc chuyển đổi công ty nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành có nhiều hình thức như: cổ phần hóa công ty nhà nước, chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên, chuyển đổi công
ty nhà nước thành công ty TNHH hai thành viên, chuyển đổi công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, bán toàn bộ công
ty nhà nước, giao công ty nhà nước cho tập thể người lao động trong công
ty-Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp năm
2005, các công ty nhà nước phải chuyển đổi theo mô hình hoạt động công
ty cổ phần và công ty TNHH, hoạt động theo Luật doanh nghiệp Quy định về việc chuyển đổi này, hiện nay Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực như:
Nghị định của Chính phủ số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;
Nghị định của Chính phủ sổ 95/2006/NĐ-CP ngày 8/9/2006 về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên;
Nghị định của Chính phủ số 111/2007/NĐ-CP về tổ chức, quản lý Tỏng công ty nhà nước và chuyển đổi Tổng công ty nhà nước, công ty
Trang 23nhà nước độc lập, công ty mẹ là công ty nhà nước theo hình thức công ty
mẹ - công ty con hoạt động theo Luật doanh nghiệp
Theo quy định của pháp luật hiện hành, chuyển đổi công ty nhà
nước được thực hiện dưới những hình thức cụ thể sau:
♦ Chuyển cồng ty nhà nước sang hình thức công ty cồ ph ần (còn được g ọi là cổ phần hóa)
Thời gian gần đây, khái niệm cổ phần hóa đã trở nên quen thuộc
với chúng ta, cổ phần hóa công ty nhà nước là một chủ trương của Đảng
và Nhà nước ta trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước, c ổ
phần hóa là việc chuyển công ty nhà nước từ chồ nó chỉ thuộc sở hữu của Nhà nước thành công ty cổ phần thuộc sở hữu của nhiều cổ đông, c ổ
phần hóa công ty nhà nước thực chất là bán một phần hoặc toàn bộ doanh
nghiệp thông qua hình thức bán cổ phần của doanh nghiệp Vì vậy, cổ phần hóa công ty nhà nước nhằm đa dạng hóa hình thức sở hữu doanh nghiệp nhà nước, tạo động lực cho người có vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh và người lao động trong doanh nghiệp tích cực tham gia lao động
vì lợi ích chính đáng, đồng thời thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh
tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
Cổ phần hóa là giải pháp quan trọng trong việc cơ cấu lại công ty nhà nước để công ty nhà nước có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn hơn, tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế c ổ phần hóa góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Cụ thể:
Thứ nhất, Cổ phần hóa huy động thêm vốn của xã hội, đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh, khi cổ phần hóa, vốn nhà nước tại công ty nhà nước được đánh giá lại khách quan và chính xác hơn và là cơ sở để công ty có thể huy động thêm vốn của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội
Trang 24vào công ty để đầu tư đổi mới công nghệ mở rộng sản xuất, kinh doanh Bên cạnh đó, việc cổ phần hóa tạo ra loại hình công ty có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo người lao động tham gia, tạo động lực mạnh
mẽ và cơ chế quản lý năng động, nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của công ty, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của Nhà nước Ngoài ra, cổ phần hóa tạo cơ sở thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển trên cơ
sở sự phát triển của một loại hàng hoá đặc biệt (chứng khoán) mà các công ty cổ phần là nguồn cung cấp hàng hóa đặc biệt đó cho thị trường chứng khoán Ngược lại, thị trường chứng khoán phát triển sẽ trở thành một kênh quan trọng huy động vốn cả xã hội đầu tư trực tiếp vào công ty
Thứ hai, Cổ phần hóa bước đầu tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, hiệu quả cho công ty nhà nước, tăng cường vai trò giám sát của cổ đông và xã hội đối với doanh nghiệp Công ty cổ phần hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cổ đông về hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh Việc kiểm tra giám sát của người lao động - cổ đông và xã hội đối với công ty
cổ phần, nhất là những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tạo điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong công ty một cách thực chất hơn
Thứ ba, Cổ phần hóa tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp Một bộ phận quan trọng người lao động ở công ty nhà nước được cổ phần hóa trở thành cổ đông, có đầy đủ những quyền của cổ đông công ty như dự họp Đại hội đồng cổ đông để thông qua điều lệ công ty, bầu các thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, biểu quyết các vấn đề liên quan hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông
Trang 25Pháp luật hiện hành đã quy định cụ thể về thủ tục chuyển đổi công
ty nhà nước sang hình thức công ty cổ phần, bao gồm:
Một là, về vấn đề xử lý tài chính khi cố phần hóa, Nghị định
109/2007/NĐ-CPđã quy định rất cụ thể các trường họp xử lý tài chính của công ty nhà nước như: Kiểm kê, phân loại tài sản và xử lý tồn tại về tài chính; xử lý tài sản thuê, mượn, nhận góp vốn liên doanh liên kết, tài sản không cần dùng, tài sản được đầu tư bằng Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi; các khoản nợ phải thu; các khoản nợ phải trả; khoản nợ dự phòng, lỗ- lãi; vốn đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác: góp vốn liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần góp vốn bằng thành lập công ty TNHH, và các hình thức đầu tư dài hạn khác; số dư bằng tiền của Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi; Số dư Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại doanh nghiệp [3]
cũng quy định rõ tại điều 21: Xử lý tài chính ở thời điểm doanh nghiệp chính thức trở thành công ty cổ phần
Nghị định mới bổ sung thêm trách nhiệm của các Tập đoàn, Tổng công ty (công ty mẹ) trong việc xử lý các tồn tại tài chính với tư cách là
cơ quan chủ sở hữu vốn, cụ thể: Theo qui định của Nghị định 187, tài sản không cần dùng, nợ phải thu khó đòi loại ra khỏi giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, bàn giao về Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng; trách nhiệm xử lý những tài sản này thuộc về Tổng công ty, Tập đoàn
Theo qui định tại Luật quản lý thuế có hiệu lực từ 01/07/2007 thì các doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi sở hữu không thuộc đối tượng được xoá nợ thuế (Điều 55 và Điều 65) Đe phù họp với qui định của Luật Quản lý thuế, Nghị định mới đã qui định: Doanh nghiệp cổ phần hoá có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế trước khi chuyển đổi; trường hợp doanh nghiệp chuyển đổi chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì công ty
cổ phần sau này có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế
Trang 26Hai là, về vấn đề định giá công ty nhà nước, Nghị định mới đã bổ
sung các qui định nhằm hoàn thiện phương pháp định giá, trong đó qui định đối với việc xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu (các tổ chức ngân hàng, tài chính thường dùng) được sử dụng kết quả kiểm toán để làm thông số tính giá trị doanh nghiệp, song cần phải kiểm kê, đánh giá lại giá trị quyền sử dụng đất theo Luật đất đai.[3]
Tuy nhiên, để tránh khả năng gây thất thoát cho Nhà nước trong hoạt động định giá, Nghị định đã qui định việc xác định giá trị doanh nghiệp có thể áp dụng bằng nhiều phương pháp, giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản Nghị định mới bổ sung thêm những doanh nghiệp cổ phần hoá phải thực hiện thuê tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp ngoài những doanh nghiệp không có tổng trị giá tài sản theo
sổ kế toán từ 30 tỷ đồng trở lên còn bao gồm cả doanh nghiệp có giá trị Vốn Nhà nước theo sổ kế toán từ 10 tỷ đồng trở lên hoặc có vị trí địa lý thuận lợi Trường hợp có từ 2 tổ chức tư vấn định giá đăng ký tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn định giá trở lên thì phải tổ chức đấu thầu lựa chọn đơn vị thực hiện tư vấn định giá theo qui định hiện hành Doanh nghiệp cổ phẩn hóa được điều chỉnh giá trị doanh nghiệp đã công bố trong trường họp gặp nguyên nhân khách quan (thiên tai, địch họa, danh sách Nhà nước thay đổi hoặc do các nguyên nhân bất khả kháng khác) làm ảnh hưởng đến giá trị những tài sản của doanh nghiệp; và sau 12 tháng kể từ thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp và doanh nghiệp chưa thực hiện việc bán cổ phần
Ba là, về việc xác định giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp: Nếu như Nghị định 187 quy định trường họp doanh nghiệp cổ
phần hóa chọn hình thức thuê đất thì không tính giá trị quyền sử dụng đất
Trang 27vào giá trị doanh nghiệp thì tại điều 30 Nghị định 109/2007/NĐ-CPquy định rõ, trường họfp doanh nghiệp cổ phần hóa chọn hình thức thuê đất, nếu doanh nghiệp trả tiền thuê đất một lần cho toàn bộ thời gian thuê đất thì tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp theo giá sát với giá thị trường tại thời điểm định giá được ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định và công bố Đối với những doanh nghiệp trả tiền thuê đất hàng năm thì không tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp [3] Việc không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp trong thời gian qua đã khiến cho giá trị thực tế của doanh nghiệp
và giá trị được định giá trên sổ sách có một khoảng cách khá lớn Hậu quả
là Nhà nước sẽ bị thất thu một khoản tiền không nhỏ khi doanh nghiệp cổ phần hóa chọn hình thức thuê đất, người lao động thì phải mua cổ phiếu với giá cao hơn gấp nhiều lần giá trị thực tế Một số người lao động không đủ khả năng tài chính để mua cổ phiếu đành phải “bán lúa non”
Do vậy, tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chính là trả lại sự công bằng trong cổ phần hóa và tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội sở hữu cổ phiếu làm chủ doanh nghiệp Chính vì vậy, Nghị định 109/2007/NĐ-CPđã đưa ra nguyên tắc xác định giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường và trách nhiệm của ƯBND tỉnh, thành phố trong việc qui định và công bố giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị của doanh nghiệp trong trường hợp được giao đất Ngoài ra, đối với trường họp doanh nghiệp trả tiền thuê đất một lần thì tính tiền thuê đất vào giá trị doanh nghiệp Giá thuê đất được lấy theo giá tại thời điểm định giá
Bổn là, về cơ chế bán cổ phần ỉần đầu, Nghị định mới qui định tỷ
lệ bán cho nhà đầu tư chiến lược theo phương thức thoả thuận và các nhà đầu tư thường theo phương pháp đấu giá không thấp hơn 25% vốn điều
lệ, trong đó cổ phần bán đấu giá cho các nhà đầu tư thông thường không
Trang 28thấp hơn 50% số cổ phần nêu trên Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp qui mô lớn, mức bán ra công chúng do cơ quan quyết định phương
án cổ phần hoá xác định
v ề phương thức lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, phương thức bán, giá bán cho nhà đầu tư chiến lược, Nghị định mới đã qui định cụ thể phương thức bán thoả thuận trực tiếp Đối với các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước (bao gồm cả các ngân hàng thương mại Nhà nước) nếu nhất thiết phải chọn nhà đầu tư chiến lược thì cơ quan quyết định cổ phần hoá báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định việc tổ chức đấu thầu riêng giữa các nhà đầu tư chiến lược Giá bán không thấp hơn giá đấu thành công bình quân Trước đây, Nghị định 187 cho phép nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần ưu đãi với giá giảm 20% so với giá đấu bình quân Nay, Nghị định mới bỏ ưu đãi về giá cho nhà đầu tư chiến lược, điều này sẽ hạn chế được tình trạng cổ phiếu tập trung vào một số ít nhà đầu tư làm cho một số người giàu lên nhanh chóng, hạn chế tình trạng thất thoát tiền Nhà nước do bán cổ phiếu cho nhà đầu tư chiến lược
Mặt khác, để giảm thiểu sự lợi dụng trong việc đấu giá, Nghị định mới qui định nếu nhà đầu tư tò chối mua trên 30% số lượng cổ phiếu bán
ra thì tổ chức đấu giá tiếp phần từ chối đó; không áp dụng cơ chế chọn thầu cho những nhà đầu tư trả giá thấp hơn như trước
Để tăng cường công khai minh bạch trong quá trình bán cổ phần lần đầu, Nghị định mới bổ sung qui định về công bố thông tin, về thực hiện phát hành ra công chúng để niêm yết trên thị trường chứng khoán Trường hợp doanh nghiệp cổ phần hoá đồng thời niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán thì phương án cổ phần hoá có thể qui định khối lượng cổ phần đặt mua tối đa, tối thiểu đối với phần bán ra công chúng trong phương án phát hành cổ phần lần đầu để doanh nghiệp sau khi cố
Trang 29phần hoá có đủ điều kiện niêm yết Quy định mức đặt mua tối đa, tối thiểu trong phương án phát hành cổ phần lần đầu không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế.
Như vậy, Nghị định 109/2007/NĐ-CP có những điểm đổi mới so với những quy định cũ tại Nghị định 187/2004/NĐ-CP:
Điểm mới đầu tiên của Nghị định 109/2007/NĐ-CP, đó là về đối
tượng cổ phần hóa đã được mở rộng, không chỉ bao gồm các công ty nhà nước độc lập mà còn cả các tổng công ty nhà nước, công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty con và công ty TNHH do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ Việc mở rộng đối tượng cổ phần hóa là hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Nhà nước, đó là Nhà nước chỉ nắm giữ quyền chi phối đối với các doanh nghiệp đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế và từng bước giảm bớt sự tham gia của Nhà nước vào quản lý doanh nghiệp
Thứ hai, về vấn đề nhà đầu tư chiến lược, Nghị định 109/2007/NĐ-
CP cũng đã có quy định chi tiết và cụ thể hơn về vấn đề gây tranh cãi trong một thời gian dài trước đây Khái niệm nhà đầu tư chiến lược hiện nay đã được mở rộng bao gồm cả nhà đầu tư nước ngoài Điều này đã mở rộng cửa cho doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa, để doanh nghiệp chủ động thu hút vốn, kinh nghiệm và nguồn lực của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài Đồng thời, Nghị định 109/2007/NĐ-CP cũng đã bãi bỏ
cơ chế bán với giá ưu đãi “giảm 20% so với giá đấu bình quân” cho nhà đầu tư chiến lược Một điểm đáng lưu ý là nhà đầu tư chiến lược không được chuyển nhượng số cổ phần được mua trong thời hạn tối thiểu 3 năm,
kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Trường hợp đặc biệt cần chuyển nhượng số cố phần này trước thời hạn trên phải được đại hội đồng cổ đông chấp thuận
Trang 30Thứ ba, Nghị định 109/2007/NĐ-CP cũng có những quy định mới
về vấn đề các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp và định giá tài sản doanh nghiệp: Trong mọi trường hợp giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố không thấp hơn giá trị doanh nghiệp được xác định theo phương pháp tài sản Nghị định đã cho phép giá trị quyền sử dụng đất tính vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa
Thứ tư, về quản lý, sử dụng số tiền thu được từ bán cổ phần: Tại
điều 45 - Nghị định 109/2007/NĐ-CP đã cho phép doanh nghiệp sử dụng tiền thu từ cổ phần hoá để thanh toán chi phí cổ phần hóa và giải quyết chế độ cho người lao động dôi dư khi cổ phần hoá (kể cả người lao động nghỉ việc theo Luật lao động cũng như người lao động thuộc đối tượng áp dụng chính sách dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo qui định của Chính phủ)
Nghị định lần này đã qui định thành lập các Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, đặc biệt là Quỹ hỗ trợ, sắp xếp doanh nghiệp tại Tồng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước để tiếp nhận tiền thu từ cổ phần hoá còn lại sau khi trừ đi chi phí cổ phần hoá doanh nghiệp sắp xếp lao động dôi dư Cụ thế:
- Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tập đoàn kinh tế, Tổng công
ty (đối với doanh nghiệp do tập đoàn, Tổng công ty làm chủ sở hữu) sử dụng để: hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu; giải quyết chính sách đối với người lao động dôi dư và xử lý các vấn đề tài chính theo quy định của pháp luật; bổ sung vốn điều lệ theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền, phần còn lại được đầu tư phát triển doanh nghiệp theo qui định của pháp luật
- Tập trung nguồn thu từ cổ phần hoá các doanh nghiệp độc lập thuộc Bộ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố; toàn bộ Tổng công ty
Trang 31Nhà nước; toàn bộ Tập đoàn kinh tế, công ty mẹ được tổ chức hoạt động
theo mô hình công ty mẹ - công ty con và công ty TNHH do Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ thuộc các Bộ, Ưỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố về Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công ty đầu tư và kinh
doanh vốn nhà nước Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Tổng công ty
đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước sử dụng để: hỗ trợ các doanh nghiệp
thực hiện sắp xếp, chuyển đổi sở hữu; giải quyế chính sách đối với lao
động dôi dư và xử lý các vấn đề về tài chính theo qui định của pháp luật;
bổ sung vốn điều lệ của Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước
hoặc đầu tư vào các dự án theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
trên giữa các Tập đoàn, Tổng công ty (gồm cả Quỹ tại Tổng công ty đầu
tư và kinh doanh vốn Nhà nước) để phục vụ cho việc đầu tư phát triển của
đất nước trong từng thời kỳ theo đ ề nghị của Bộ Tài chính
Điểm nổi bật này của Nghị định 109/2007/NĐ-CPđáng được ghi
nhận bởi lẽ tiền thu được từ bán cổ phần lần đầu (IPO) từ các doanh
nghiệp có khi lên đến hàng ngàn tỷ đồng và đủ để đầu tư vào các dự án lớn như điện, cầu đường
Thứ năm, về quan hệ lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp, Nghị
định 109/2007/NĐ-CP bỏ cơ chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá, bãi bỏ việc hỗ trợ các công ty cổ phần trong việc xử lý lao động dôi dư sau khi đã chuyển thành công ty cổ phần,
người lao động trong doanh nghiệp vẫn tiếp tục được hưởng cơ chế mua
cổ phần ưu đãi giảm giá 40% so với giá đấu thành công bình quân như trước đây, nhưng quyền mua cổ phần sẽ được Nhà nước đảm bảo tối đa theo số năm làm việc trong khu vực Nhà nước (100 cổ phần cho mỗi năm
Trang 32làm việc), tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp cổ phần hoá cũng được mua cổ phần theo giá ưu đãi như người lao động trong doanh nghiệp.
Thứ sáu, về trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan liên quan, Nghị
định 109/NĐ-CP bổ sung qui định về trách nhiệm của Tổng công ty đầu
tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) trong việc tham gia vào quá trình
cổ phần hoá đối với những doanh nghiệp cổ phần hoá thuộc đối tượng chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước về SCIC như: Thành phần Ban chỉ đạo cổ phần hoá doanh nghiệp có đại diện của SCIC; phối hợp với Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức triển khai thực hiện cổ phần hoá; lựa chọn người đại diện phần vốn Nhà nước góp tại công ty cổ phần
Nghị định 109/2007/NĐ-CP qui định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan trong việc cổ phần hóa, đẩy mạnh phân cấp đồng thời bổ xung qui định về xử lý vi phạm và qui định về giải quyết khiếu nai, tố cáo Theo dó, Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt phương án cổ phần hoá đối với các Tập đoàn, các Tổng công ty đặc biệt (theo phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21/8/2006 của Chính phủ), các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng (như Ngân hàng thương mại Nhà nước), viễn thông Hội đồng quản trị các Tập đoàn, các Tổng công ty được uỷ quyền quyết định phương án cổ phần hoá, công bố giá trị doanh nghiệp đối với các công ty trực thuộc
Thứ bảy, về giá trị lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp và các
khoản đầu tư dài hạn vào doanh nghiệp khác cũng được xác định Cụ thể, giá trị vốn đầu tư dài hạn được xác định trên cơ sở tỉ lệ vốn đầu tư của doanh nghiệp trên vốn điều lệ hoặc tổng số vốn thực góp tại doanh nghiệp khác Đối với phần vốn góp tại công ty niêm yết, giá trị vốn góp được tính
Trang 33theo giá cổ phiếu đang giao dịch tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.
♦ Chuyển đỗi công ty nhà nước thành công ty TNHH 1 thành viên
Chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên
là việc chuyển đổi từ: Công ty nhà nước độc lập; công ty nhà nước là công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con; công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; công ty thành viên hạch toán độc lập của Tổng công ty nhà nước; công ty thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty nhà nước được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành công ty TNHH một thành viên hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2005
Việc chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty TNHH một thành viên thực chất chỉ là sự thay đổi về hình thức hoạt động chứ không thay đổi về hình thức sở hữu như cổ phần hóa công ty nhà nướcv
Việc chuyển công ty nhà nước sang công ty TNHH một thành viên không chỉ là sự chuyển đổi về hình thức pháp lý mà quan trọng hơn là thông qua sự chuyển đổi tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp 100% vốn thuộc sở hữu Nhà nước phát huy đầy đủ quyền chủ động, sáng tạo trong hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và cùng chịu sự điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp như các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác
^T hủ tục chuyến đổi công ty nhà nước sang công ty TNHH 1 thành viên được quy định trong Nghị định 95/2006 cụ thế như sau:
Việc chuyển đổi công ty Nhà nước, công ty mẹ, đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng công ty Nhà nước được quy định tại khoản 1 điều 7 Nghị định 95/2006, gồm các bước sau: