Chương 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ cơ sở LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÀY DƯNG BỒ LUẢT TÓ TỤNG VÉ DÂN sự, KINH TẾ, LAO ĐÔNG, HỒN NHÂN VÀ GIA DÌNH 8 Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Bộ luậ
Trang 2Phân Hữu Thư
V
' ^
c ơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIÊN ĐỂ BAN HÀNH
BỘ LUẬT TỐ TỤNG VỂ DÂN s ự , KINH TẾ, LAO ĐỘNG, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 5.05.15
LUÂN ÁN TIẾN SỸ LUÂT HOC • • •
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS Lê Hồng Hanh
2 TS Hoàng Thê Liên
I H y ¥ : 5* 1 * TDiĩ"ĩ: ' •" 7.‘iồl
- r - — ;—
« V 1 » - 4
Hà Nội - 2001
Trang 3n à y , là vấn đê ồ đ ù i và là m tề^ tắĩi
^ o A í ' M i n h
Trang 4cam đoan đây là công trình nghiên cứu củư riêng tôi C ác kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công b ố trong bấ t kỳ công trình nào khác.
Trang 5JICA Japan International Cooperation Agency
Cơ quan hựp tác quốc tế Nhật bản iNxb Nhà xuất bản
'TAND Toà án nhân dân
TANDTC Toà án nhân dân tối cao
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UNDP United Naíion Development Program
Chương trình phát triển Liên hiệp quốc
UBTVQH Uỷ han thường vụ Quốc Hội
UNCITRAL Hội đồng thương mại quốc tế Liên hợp quốc
Trang 6Chương 1: TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ cơ sở LÝ LUẬN CỦA VIỆC
XÀY DƯNG BỒ LUẢT TÓ TỤNG VÉ DÂN sự, KINH TẾ, LAO ĐÔNG, HỒN NHÂN VÀ GIA DÌNH
8
Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự,
kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình 8
Tiền để kinh tế, xã hội của việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự,
kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình 9
Cơ sở lý luận của việc xây dựng Bô luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao
Cải cách về thủ tục-bước đột phá của cải cách tư pháp 26Các quan điểm xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động,
Tính thống nhất trong tổ chức và hoạt động của TAND-CƠ sở lý luận
của việc xây dựng Bộ luật tố tụng vế dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân
Lý luận và truyền thống pháp lý của Việt Nam vể pháp luật lố tụng dân
sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình 50Những xu hướng cải tổ pháp luật tố tụng ở một số nước và những kinh
nghiệm đối với việc xây dựng Bộ luật tố tụng vể dân sự, kinh tế, lao ^đông, hôn nhân và gia đình Việt Nam
Chương 2: THỰC TRẠNG, THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT Tố TỤNG
DÂN Sự, KINH TẾ, LAO ĐỘNG, HỎN NHAN và gia đình và
YÊU CẦU HOÀN THIỆNĐánh giá thực trạng pháp luật tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn
Trang 7Đánh giá chung
Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân
và gia đình và yêu cầu tiếp tục hoàn thiộn
Sự phân định không rõ ràng về mặt thẩm quyền
Sự vắng mặt những quy định vé bổi thường thiệt hại dân sự trong vụ án kinh tế và lao động
Sự bất cập giữa các thủ tục tố tụng hiện hành về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh
Những vướng mắc của chế định hoà giải trong các thủ tục tố tụng hiện hành
Chương 3: XẢY DỰNG Dự THẢO BLTTDS - NHỮNG THÀNH QUẢ VÀ
NHỮNG VẤN ĐẾ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN
Quá trình xây dựng Dự thảo BLTTDS - những thành quả đã đạt được và những vấn đề tiếp tuc hoàn thiên
Quá trình xây dựng Dự thảo BLTTDS
Về cơ cấu và nội dung các Dự thảo BLTTDS
Những thành quả đã đạt được của quá trình xây dựng BLTTDS
Những vẩn đề cẩn tiếp tục hoàn thiện
Những kiến nghị hoàn thiện Dự thảo BLTTDS
Về phạm vi điều chỉnh của Dự thảo BLT1DS
Những kiến nghị hoàn thiện một số khái niệm và thuật ngữ dùng trong
Dự thảo BLTTDS
Những kiến nghị hoàn thiộn Dự thảo BLTTDS
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÒNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BÓ CỦA TÁC GIẢ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8M Ở Đ Ẩ U
I Tính cáp thiết của việc nghiên cứu để tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH TW khoá VIII khẳng định tiếp tục cải cách tư pháp [22, tr.55-59], trong đó có chú trọng việc cải cách thủ tục tố tụng Việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình cũng là một trong những công viêc nhằm triển khai chủ trương trên của Đảng ta Công cuộc cải cách tư pháp ử nước ta có thực hiện thành công hay không phụ thuộc một phần rất lớn vào công cuộc cải cách thủ tục tố tụng Việc ổn định và tiến tới khẳng định một số thủ tục tố tụng chủ yếu ờ VN là mấu chốt của cải cách Ihủ tục lố tụng Ngoài
Bộ luật TTHS đã được ban hành và sẽ còn được tiếp tục hoàn thiên để phù hợp với chủ trương của Đảng ta được thể hiôn trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH
TW khoá VỈII [22, tr.57], trong thời gian tới Nhà nước ta cần ban hành Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Mục đích của việc ban hành
Bộ luật tố tụng vổ dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình là phải thổ hiện
được quan điổm của Đảng ta trong việc xây dựng và củng cố nhà nước pháp quyền.
Chúng ta đã và đang tiến hành công việc đổi mới toàn diên trong tất cả các lĩnh vực, trong đó việc cải cách tư pháp cũng được Đảng và Nhà nước rất quan tâm Trong năm 1994 Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung Luật tổ chức TAND
và Toà kinh tế đã đi vào hoạt động từ 01-07-1994 Năm 1995, Quốc hội lại tiếp tục sửa đổi bổ sung Luật tổ chức TAND và lừ 01-07-1996 có hai toà mới đi vào hoạt động, đó là Toà lao động và Toà hành chính
Như vậy, khác với ở một số nước, nơi các toà chuyên trách được thành lập riêng biệt, ở nước ta, các toà chuyên trách này không được thành lập thành một hê thống Toà án riêng mà được xây dựng thành các toà nằm trong hệ thống TAND Do
đó, mặc dù có những nét khác biệt về thẩm quyền nhưng nhìn chung các quy định
vể thủ tục tố tụng đều là thủ tục tố tụng tư pháp, nghĩa là được thực hiên thông qua
hệ thống TAND
Trang 9Trong thời gian vừa qua, Nhà nước ta đã han hành các Pháp lệnh licn quan đến hoạt động xét xử của các toà này Trước hết phải kổ đến các Luật sửa đổi bổ sung Luật tổ chức TAND, sau đấy là các Pháp lệnh điều chỉnh các quan hệ tố tụng trong từng lĩnh vực cụ thể, như Pháp lênh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động và cuối cùng là Pháp lênh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
Đây là bước giao thời để tiến tới ban hành các Bộ luật về các lĩnh vực này Tuy nhiên, việc ban hành nhiều Bộ luật về các thủ tục tố tụng khác nhau có thể sẽ gây ra những khó khăn không cần thiết Do đó, quan điểm đã được Ban soạn thảo BLTTDS chấp nhận là sẽ ban hành một Bộ luật tố tụng chung cho tất cả các lĩnh vực nêu trôn trừ lĩnh vực tố tụng hình sự
Thủ tục tố tụng hành chính tuy có những nét giống với thủ lục tố tụng về dân
sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, nhưng cũng là một lĩnh vực tương đối đặc thù Về vấn đề này còn nhiều điểm chưa thống nhất Có nhiều quan điổm cho rằng cần tách loại hình tố tụng này riêng biệt với tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Có những quan điổm khác lại cho rằng cần gộp lại và chỉ nên xây dựng một Bộ luật tố tụng chung cho tất cả các quan hệ về dân sự, kinh
tế, lao động và hành chính Cũng có người cho rằng nên thống nhất chỉ có một loại hình tố tụng là tố tụng tư pháp và đã là thủ tục tố tụng thì không phân biêt, kể cả tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, kinh tế, lao động hay hành chính
Việc cần thiết phải xây dựng một Bộ luật tố tụng chung cho tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình đã được khẳng định Sự khẳng định đó thể hiện qua việc Ban soạn thảo BLTTDS đang xúc tiến xây dựng Bộ luật này theo hưóng bao gồm cả các quy định tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Trong một thời gian dài, từ 1945 cho đến cuối những năm 80 chúng ta mới ban hành được Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự Mặc dù trong quá trình thực hiện, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự cũng còn bộc lộ nhiều điểm khiếm khuyết nhưng đây là một bước phát triển mới về thủ tục tố tụng, là tiền
Trang 10đề cho nhiều quy định của các thủ tục tố tụng sau này như thú tục tố tụng kinh tế, lao động, hành chính.
Việc ban hành Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình là không thể trì hoãn Hiên nay Nhà nước đang xúc tiến soạn thảo xây dựng BLTTDS theo hướng không chỉ giới hạn phạm vi điều chỉnh của Bộ luật trong khuôn khổ các quan hê pháp luật tố tụng dân sự, mà còn mở rộng sang cả các quan hô tố tụng kinh tế và lao dộng, hôn nhân và gia đình Việc nghiôn cứu các cơ sờ lý luận và thực tiễn để xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình
là một việc làm bức xúc, không những chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc Ban soạn thảo BLTTDS từ Dự thảo I đã quyết định dùng thuật ngữ
Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) để chỉ bộ luật tố tụng chung về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Vì vậy, trong Luân án thuật ngữ BLTTDS và thuật ngữ
Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình được sử dụng cùng mội ý nghĩa như nhau Tuy nhiên để nhấn mạnh ý nghĩa của đề tài chúng tôi xin phép được sử dụng thuật ngữ Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân
vầ £ia đình khi nói về các diỗn giải của tác giả lrong quá trình nghiôn cứu cơ sở lý luậr và thực tiễn để xây dựng Bộ luật Ngoài ra để tôn trọng Ban soạn thảo Dự thảo
Bộ uật, chúng tôi sử dụng thuật ngữ Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) là thuật ngữ đưọc sử dụng chính thức trong quá trình xây dựng Dự thảo Bộ luật này
2 Mục đích của việc nghiên đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá, so sánh và tổng hợp thực trạng
phéo luật và áp dụng pháp luật về tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia
đìni, luận án làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiỗn của việc xây dựng một Bộ luật
tố ụng chung có phạm vi điều chỉnh mờ rộng bao gồm không những chỉ các vấn đề TTDS mà còn bao gồm cả các lĩnh vực khác như tố tụng kinh tế, lao động, hôn nhân
và ịia đình Thông qua quá trình nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xâ) dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình tác giả
đề ỉuất những ý kiến thiết thực để hoàn chỉnh BLTTDS (Dự thảo) và mở ra những vấr đề mới để tiếp tục nghiên cứu trong tương lai
Trang 113 Đòi tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ sờ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng một bộ luật tố tụng chung có phạm vi điều chỉnh được mờ rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực như tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động Tác giả chú trọng khai thác một số vướng mắc của hoại động thực tiễn trong thời gian qua, một
số mâu thuẫn và không thống nhất giữa lý luận và thực tiỗn đổ thấy sự cần thiết phải
có một bộ luậl mói mà phạm vi điều chỉnh của nó không những được mở rộng mà còn bao gồm những vấn đề từ trước đến nay chưa được xcm xét Để đưa ra được các
cơ sở lý luận và cơ sở thực tiỗn tác giả phải nghiôn cứu thực tiẻn và các quy định hiện hành có liên quan Sau khi khẳng định được các cơ sờ lý luận và thực tiễn cần
và đủ để ban hành , tác giả đã kiến nghị một số điểm cụ thổ để hoàn thiện Dự thảo
về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình chung Sau đó để góp phần hoàn thiộn Dự thảo Bộ luật đang trong quá trình soạn thảo tác giả đã trình bày một số quan điểm cá nhân và một số khuyến nghị Do Luận án thuộc chuyên ngành Luật kinh tế (mã số 5.05.15) nên trong phạm vi nghiên cứu tác giả có chú trọng hơn những vướng mắc từ thực tiễn áp dụng pháp luật kinh tế và tố tụng kinh tế Luận án không có tham vọng đi sâu phân tích tất cả các vấn đề liên quan đến nội dung, cơ cấu cũng như hình thức của Bộ luật và chỉ dừng lại ở cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng Bộ luật Việc đưa ra các khuyến nghị đóng góp cho Dự thảo được coi là một hệ quả tấl yếu của việc xây dựng Bộ luật theo các cơ sở đã trình bày
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 12Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quản
lý Nhà nước, quản lý xã hội, về vai trò của pháp luật và mối quan hệ giữa pháp luật
và kinh tế, về chính sách xây dựng luật pháp nói chung cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng Bộ luật tô' tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình nói riêng
Ngoài các phương pháp nghiên cứu khoa học chung như phân tích, tổng hợp trong quá trình hoàn thành bản luận án này còn sử dụng các phương pháp khác như:
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án là một công trình nghiên cứu công phu và kéo dài trong nhiều năm của tác giả Đây là một công trình khoa học lần đầu tiên trình bày một cách có hệ thống về các cơ sờ pháp lý, lý luận và thực tiễn để xây dựng một Bộ luật lớn mà phạm vi điều chỉnh của nó rộng chưa từng thấy trong lịch sử lập pháp của Nhà nước
ta Cảc cơ sở pháp lý, lý luận cũng như thực tiễn mà tác giả trình bày trong luận án được đưa ra dựa trên việc nghiên cứu, so sánh các Pháp lệnh đã được ban hành về vấn đề này Tác giả cũng đã nghiên cứu một cách công phu công trình nghiên cứu
khoa học cấp Bộ: "Một số vấn đề về cơ sỏ lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ
luật tố tụng dân sự' mà TANDTC đã thực hiện Từ thực tiễn xét xử phong phú đa
dạng đã được nghiên cứu, tác giả đưa ra các khuyến nghị hoàn thiên để giúp Ban soạn thảo cũng như Tổ biên tập BLTTDS xem xét khi xây dựng Bộ luật Phần trình bày về phạm vi điều chỉnh và những kiến nghị hoàn thiện Dự thảo BLTTDS vừa có ý
Trang 13nghĩa như một đổ xuất mang tính khoa học, vừa có giá trị thực tiễn đối với công việc xây dựng BLTTDS hiện đang được tiến hành Với tư cách là một thành viên trong
Tổ Biên tập Bộ luật tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, tác giả
đã có cơ hội thuyết trình trước Tổ về các quan điểm khoa học của mình và đã góp một phần khiêm tốn giúp cho Tổ Biên tập cũng như Ban soạn thảo có được một cái nhìn tổng quát về những vấn đề quan tâm Luận án đã có những đóng góp không những chỉ về mặt lý luận mà còn có một ý nghĩa hết sức thiết thực, nó giúp cho tiến trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình được triển khai nhanh hơn, tốt hơn
6 Những dóng góp mới của luận án
Đây là một công trình nghiôn cứu khoa học nghiôm túc và có hê thống về nhiều vấn đề mà từ trước đến nay chưa được giải quyết hoặc chưa được giải quyết triệt đổ Đó là các vấn đổ về xác định theo nghĩa rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ luật; vấn đề tôn gọi hoặc các thuật ngữ thống nhất dùng trong một Bộ luật có tẩm cỡ như Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Có những vấn
đề từ trước đến nay gây nhiều tranh luận cũng được luận giải rõ ràng; đó là vấn đề nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng; vấn đề hoà giải, thủ tục và hiệu lực của quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự; vai trò của VKSND;
sự tham gia của Hội thẩm nhân dân; vấn đề kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm và giám đốc thẩm; thủ tục rút gọn Trên cơ sở nghiên cứu sâu sắc hoạt động thực tiễn của các TAND, tác giả đã đưa ra nhiều giải pháp để khắc phục những thiếu SÓI trong các Pháp lệnh tố tụng đang hiện hành Đó là các vấn đề về thẩm quyền; bổi thường thiệt hại dân sự trong vụ án kinh tế, lao động Lần đầu tiên tác giả
đề nghị đưa phần thủ tục riêng giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hê hôn nhân và gia đình vào trong Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình
Trang 147 Nội dung của luận án
Trang 15Chương 1
TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN VÀ c ơ SỞ LÝ LUẬN
CỦA VIỆC XÂY DỰNG BỘ LUẬT T ố TỤNG VỂ DẦN s ự , KINH TẾ,
LAO ĐỘNG, HỔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1 Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng Bộ luật tò tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hòn nhân và gia đình
Bảy mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản VN, đất nước và Nhân dân ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ và gian khổ, Đảng Cộng sản VN đã lãnh đạo toàn dân tộc giành thắng lợi
vẻ vang Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mờ ra một giai đoạn mới: Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội trong toàn nước VN thống nhất Tuy vậy, những năm tháng sau đó VN liên tiếp gặp phải những khó khăn về mặt kinh tế Đất nước VN đã phải đối đầu với chiến tranh biên giới, rồi nạn “thuyền nhân” ồ ạt Trên mặt trận ngoại giao cũng gặp không ít những khó khăn Trước bối cảnh đó, Đại hội VI của Đảng Cộng sản VN năm 1986 đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, từng bước đưa VN thoát khỏi khủng hoảng, đi dần vào thế ổn định và bước sang một thời kỳ phát triển mới Đại hội VI của Đảng là một cái mốc quan trọng, là điểm xuất phát đích thực của mọi điểm xuất phát Từ điểm xuất phát quan trọng đó, cùng với những tiến bộ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao; những bước cải cách hành chính và cải cách tư pháp đầu tiên được tiến hành, nhiều Bộ luật, Pháp lênh đã ra đời
Thế giới trong sự vận động không ngừng của nó đã luôn tạo ra những thách thức cho con người Ngược lại, con người trong cuộc đấu tranh sinh tồn và cải tạo thế giới lại không ngừng hoàn thiện mình và hoàn thiộn xã hội bằng cách tạo ra các quy luật cho mình và cho xã hội Như Montesqicu đã nhìn nhận từ năm 1748 rằng:
“Con người, như mội thực thể vật lý, cũng bị các quy luật bất biến cai trị, giống như
Trang 16mọi vật thể khác Nhưng con người, là một thực thể có trí tuệ, lại không ngừng vi phạm các luật do Thượng đế quy định, và thay đổi ngay cả các luật do chính mình quy định ra Con người phải tự dẫn dắt lấy mình, nhưng họ lại bị hạn chế, hay phạm điều dốt nát và lầm lẫn như tất cả các trí tuệ hữu hạn, có khi họ đánh mất cả những kiến thức đơn sơ của mình nữa” Ị 36, tr.41 ] Tất nhiên, con người muốn thay đổi luật của Đấng tạo hoá hay luật của chính mình thì cũng chỉ có thể thực hiện trong một bối cảnh xã hội cho phép Đó là chúng ta nói đến những tiền đề để con người tạo ra pháp luật Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác đã chỉ rõ mối quan hê biên chứng hợp quy luật giữa lực lượng sản xuất và quan hê sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng
và kiến trúc thượng tầng Quan hê sản xuất hợp thành kết cấu kinh tế là cơ sở hạ tầng, cơ sờ hạ tầng này quyết định sự hình thành và phát triổn của kiến trúc thượng tầng trong đó có Nhà nước và pháp luật theo từng giai đoạn lịch sử nhất định Cơ sở kinh tế, chế độ sở hữu quyết định kiến trúc thượng tầng chính trị - pháp lý, mối quan
hệ sản xuất tạo ra các quan hê pháp luật và những hình thức cầm quyền của Nhà nước phù hợp với các quan hê pháp luật và quan hệ sản xuất Với quan điểm nêu trên của Mác, chúng ta khẳng định rằng Nhà nước và pháp luật được xây dựng và củng cố phù hợp với quy luật khách quan, tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất [43, 13] Như vậy, để xây dựng một văn bản pháp luật, một Bộ luật, một văn bản quy phạm pháp luật phải tính đến các điều kiện chúi muồi về mặt khách quan
và chủ quan Đó chính là các tiền đề về mặt kinh tế, xã hội và pháp luật BLTTDS cũng không nằm ngoài đòi hỏi này
1.1.1 Tiền đề kinh tẻ, xã hội của việc xây dựng Bộ luật tô tụng về dân sự, kinh tê, lao động, hôn nhãn và gia đình
“Thắng lợi của cách mạng nước ta thật lờ to lớn dồng thời những khó khán mà ta vượt
qua cũng rất to lớn." Ị26|
1.1.1.1 Sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường dẫn đến hình thành nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các hình thức sở hữu này ngày càng phát triển và đang thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Chế độ sở hữu XHCN được hình
Trang 17thành, phát triổn và được khẳng định từ những năm 1950, đặc biệt tại Điều 11 Hiến pháp năm 1959 đã quy đinh: “Ở nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trong thời kỳ quá
độ, các hình thức sở hữu chủ yếu về tư liệu sản xuất hiện nay là hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động” [3] Trong những năm sau chiến thắng 1975, chế
độ sở hữu XHCN về lư liôu sản xuất được quy định trong Hiến pháp 1980 cũng bao gồm hai thành phần chủ yếu đó là: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể Từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản VN năm 1986 cơ chế kinh tế đã từng bước được chuyển đổi từ đó dẫn đến việc hình thành nhiều hình thức sở hữu khác nhau Bắt đầu từ việc áp dụng
cơ chế khoán trong nông nghiệp trên nguyôn tắc hợp tác xã hay tập đoàn sản xuất chịu trách nhiệm làm đất, tưới tiêu, cung cấp hạt giống, phân bón và phòng trừ sâu bênh, nông dân chịu trách nhiôm cày cấy, chãm sóc và thu hoạch sau đó nộp một phần sản phẩm cho hựp lác xã và giữ phần còn lại để sử dụng hoặc bán trên thị
trường tự do nếu họ muốn ITieo Theo hướng rồng bay: cải cách kinh tế ở Việt Nam
của Viên Harvard về phát triển quốc tế thì trong công nghiêp, vào tháng 3 năm
1989, ngoại trừ ba mặt hàng xăng dầu, điện và vận tải, giá cả mọi hàng hoá đều được thả nổi Vật tư cũng như sản phẩm đều được phân phối qua thị trường thay vì
qua kế hoạch Các doanh nghiệp được mờ rộng quyền tự chủ vào năm 1989 Cũng
Theo hướng rồng bay: cải cách kinh tế ở Việt Nam thì đến năm 1990 tất cả các chỉ
tiêu kế hoạch đều bị loại bỏ ngoại trừ một chỉ tiêu duy nhất, là chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước, mà về bản chấl là thuế lợi tức1 Các doanh nghiệp hầu như hoàn toàn
tự do quyết định sản xuất những gì và đem bán cho ai [40, tr.6] v ề đất đai, các doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân đều có thể sử dụng nhưng lại phải thông qua các cơ chế khá phức tạp dù đã từng bước được cải tiến, nhất là sau khi ban hành Luật đất đai năm 1993 Hệ thống các Ngân hàng thương mại cũng có những thay đổi đáng kể Kể từ năm 1990 các Ngân hàng thương mại đã chuyển sang hoạt động theo
cơ chế thị trường Các ngân hàng phải trả lãi cho những người gửi tiền tại ngân hàng
1 Nhận định này chưa thực sự chuẩn xác vì cho đến nay vẵn còn những loại chỉ tiêu kê hoạch nhất định và nộp ngân sách vản còn là một quy c h ế bắt buộc bên cạnh các nghĩa vụ thuế.
Trang 18và cho vay với lãi suất đù cao đổ có lời Rõ ràng là hộ thống ngân hàng đã có chuyển biến Năm 1993, các Ngân hàng không còn cho vay thoải mái như trước đây mà họ phải tự hạch toán, có nghĩa là lượng vốn cho vay phải được căn cứ theo lượng tiền gửi Tuy có nhiều thay đổi song vấn đề sờ hữu trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường có điều tiếl là một vấn đề phức tạp Một mặt sự chuyển đổi phải có định hướng và có điều tiết theo các chính sách thượng tầng Mặt khác sự chuyổn đổi này ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bời sự phát triổn khách quan của xã hội Tuy vậy dể cho một thị trường hoạt động tốt, theo Giáo
sư Dwight H.Pcrkins thì cần có 5 yếu tố sau đây:
i Kiểm soát lạm phát và cân đối thu chi để Chính phủ không bị cám dỗ quay trở lại với cơ chế khống chế giá cả, từ đó hạn chế trong mức cung hoặc bằng cách bắt người dân phải xếp hàng hoặc phân phối hàng hoá theo chế độ hành chính bao cấp thay vì thông qua thị trường
ii Vật tư sản phẩm cũng như các nhân tố sản xuất phải luôn có sẩn để trao đổi trên thị trường chứ không nên được phân phối qua bộ máy hành chính quan liêu.iii Giá cả phải phản ánh đúng sự khan hiếm tương đối của các tài nguyên trong nền kinh tế
iv Phải có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
V Các nhà quản lý doanh nghiôp phải tuân theo các quy luật của thị trường, có nghĩa là họ phải tìm cách tối đa hoá lợi nhuận chứ không phải tăng số lao động hay tối đa hoá giá trị tổng sản phẩm, và họ phải làm được điều này bằng cách tăng doanh thu hay cắt giảm chi phí Tăng lợi nhuận bằng cách trốn thuế hay xin trợ cấp của Chính phủ không phải là cách hoạt động đúng đắn trong nền kinh tế thị trường Theo Ông H.Perkins, ở VN, việc này chưa thực hiên được vào những năm 1993-
1994 [40, tr.8-11 ] Từ những năm 1993-1994, VN đã cổ phần hoá đối với một số doanh nghiệp quốc doanh Gần đây, việc cổ phần hoá không những chỉ được thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật mà còn được thực hiện trong thực tế Như vậy cùng với việc hình thành và phát triển một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
Trang 19phần, Chính phủ VN đã xây dựng những tiền đề về mặt kinh tế xã hội phù hợp với
sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Một trong những cố gắng của VN trong giai đoạn này là điều tiết thị trường trên cơ sở điều tiết giá của các sản phẩm trong thị trường nội địa đồng thời điều tiết tỷ giá trao đổi giữa đồng tiền trong nước và ngoại tô để khuyến khích sản xuất trong nước
1.1.1.2 Sự phát triển các hình thức sờ hữu dẫn đến sự cần thiết phải bảo vệ các quan hô sở hữu Điều này đã tạo những tiền đề cần thiết và quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển pháp luật nội dung và tất yếu dẫn đến việc thay đổi và hoàn thiện pháp luật tố tụng Tuy vậy, cũng cần thấy rằng chúng ta không những chỉ phải xây dựng một thủ tục tố tụng phù hợp với pháp luật về nội dung mà cần thiết phải tạo ra một thủ tục bình đẳng cho các thành phần kinh tế để mỗi một doanh nghiệp thực sự được bình đẳng trước pháp luật trong cả hoạt động sản xuất kinh doanh lẫn trong tham gia tố tụng Thực tiễn xét xử của các Toà kinh tế trong thời gian qua cho thấy nhiều doanh nghiệp đã rất e ngại khi phải ra trước toà thậm chí không phải với tư cách bị đơn mà ngay cả với tư cách nguyên đơn Theo Báo cáo chuyôn đề về các lĩnh vực của khung pháp luật kinh tế tại VN (Kỷ yếu Dự án VIE/94/003: “Tăng cường năng lực pháp luật tại VN”) [35, tr.61J thì tại Hà Nội, trung tâm kinh tế lớn của cả nước với khoảng hơn 2000 doanh nghiệp đang hoạt động nhưng năm 1995 mới thụ lý 16 vụ án kinh tế Trong những năm gần đây số vụ
án kinh tế tuy có tăng nhưng vẫn chưa đạt tới số lượng tranh chấp kinh tế mà trọng tài kinh tế giải quyết hàng năm trước đây khi chưa thành lập Toà Kinh tế Nếu so sánh các vụ tranh chấp dân sự đã thụ lý ở cấp sơ thẩm với các tranh chấp kinh íế thì càng thấy rõ điều đó Theo Báo cáo tổng kết ngành toà án năm 1999 thì trong năm
1999, toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý 129.215 vụ án dân sự, tăng 14.971 vụ so với năm
1998 Trong lúc đó các tranh chấp kinh tế được thụ lý trong năm 1999 là 1280 vụ so với nãm 1998 giảm 2 vụ Nói chung tâm lý các bên tranh chấp đều không thích khởi kiên trước toà vì sợ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, ngại sự phiền hà và án phí quá cao Theo kết quả điều tra của Sờ Tư pháp Hà Nội thì trong 300 doanh nghiệp cả Nhà nước và Tư nhân được hỏi ý kiến thì:
- 72,5% cho rằng nên tự hoà giải
Trang 20- 65,8% cho rằng nên hoà giái thông qua trọng tài
- 33,3% cho rằng nên kiện ra toà
Xuất phát từ thực tế là sự thay đổi các hình thức sở hữu dần đến thay đổi về
bản chất và nội hàm của các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ giữa những chủ sở
hữu khác nhau này, nhu cầu về một văn bản pháp luật phân định rõ ràng thẩm quyền
và thủ tục giải quyết các tranh chấp này đã trở nên ngày càng bức xúc
1.1.1.3 Đất nước ta đang xây dựng một xã hội công dân Trong cơ chế trước đây, lợi ích cá nhân không được coi trọng đúng mức Pháp luật chỉ thiôn về bảo vệ
các lợi ích tập thể và nhà nước Các lợi ích này chủ yếu được bảo vê bằng biên pháp
hành chính và hình sự Chính vì lẽ đó sự tranh tụng giữa cá nhân với cá nhân hoặc cá
nhân với tổ chức thường ít được thực hiện thông qua thủ tục tố tụng dân sự Trong
giai đoạn hiện nay, viêc bảo vệ các lợi ích rất khác nhau cần phải được thực hiện
trên cơ sờ của các nguyên tắc bình đẳng mà trong đó thủ tục tố tụng là biên pháp
hữu hiệu đé thực hiện các nguyên tắc đó Trong một thời gian tương đối dài, trong
tiểm thức của nhiều cán bô, nhân dân thì cơ quan công an, kiểm sát và các cơ quan
chính quyền địa phương là các cơ quan có thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề
Việc khởi kiên ra trước Toà dân sự để yêu cầu pháp luật bảo vệ các quyền và lợi ích
chính đáng của cá nhân và pháp nhân chưa được quan tâm đúng mức Trong một số
irường hợp cá nhân và pháp nhân cũng như một số cơ quan tiến hành tố tụng còn
muốn hình sự hoá các việc về dân sự và kinh tế, tạo một không khí nặng nề trong
đời sống xã hội Ngược lại, khi có các tranh chấp phát sinh giữa công dân với pháp
nhân, giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân thì tình trạng đối xử bất
bình đẳng còn xảy ra Trong lịch sử lập pháp của nước ta cũng như trên thế giới
trước đây đéu có tình trạng các vi phạm pháp luật đều được hình sự hoá Trong một
số trường hợp hạn hữu các vấn đề dân sự được quy đinh trong hình luật Cần phải
nhìn nhận một cách đúng đắn là trong một xã hội công dân thì các quy định về hình
sự càng ngày càng thu hẹp lại đổ nhường chỗ cho các quy đinh dân luật phát triển
Việc ban hành Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác về kinh tế, lao động,
hôn nhân và gia đình và việc soạn thảo Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động,
Trang 21hôn nhân và gia đình là những bước đi của Nhà nước ta nhằm từng bước đáp ứng các đòi hỏi tất yếu của xã hội công dân.
1.1.1.4 Lợi ích trong xã hội hiện nay rất đa dạng Vì vậy, việc sử dụng đa dạng các biộn pháp tranh tụng là rất cần thiết cho việc bảo vệ quyền lợi của các công dân Trong điều kiên có sự tồn tại của nhiều cơ quan tài phán như Toà án, các Trung tâm trọng tài phi chính phủ và Trung tâm trọng tài quốc tế thì khả năng tự do lựa chọn cơ quan tài phán để giải quyết các tranh chấp kinh tế đã phần nào tạo cơ hội cho các doanh nghiệp bảo vê được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy vậy,
do các phán quyết của trọng tài lại không mang tính cưỡng chế thi hành nôn nhiều khi tranh chấp đã giải quyết xong nhưng lại không thi hành được Điều này đã tạo tâm lý thiếu tin tưởng trong các đương sự đối với các cơ quan tài phán phi chính phủ Việc xây dựng một Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình là rất cần thiết nhằm khẳng định một cách rõ ràng quyền được lựa chọn cơ quan tài phán của các đương sự, mặt khác cũng thể chế hoá khả năng cưỡng chế thi hành các phán quyết của cơ quan tài phán phi chính phủ mà trước đây trong thực tế chưa được thực hiCn hoặc thực hiộn chua trọn vẹn Đối với các doanh nghiôp điéu này lại càng cần thiết vì trên cơ sở quy đinh của pháp luật họ có thể thực hiên phương thức bảo vê quyền và lợi ích hợp pháp của mình phù hợp với mong muốn, nhất là trong trường hợp họ không muốn phải ra toà đổ bảo đảm uy tín kinh doanh và nghề nghiệp của mình
1.1.2 Tiền đê chính sách và pháp luật
1.1.2.1 Những chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế thị trườngNhững quyết sách quan trọng của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đầu đổi mới
đã tạo ra đột phá trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế và mở đầu quá trình kết cấu lại nền kinh tế nước nhà Trong những năm 1979-1980 nền kinh tế VN lâm
vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ6 ịkhoá VI) chỉ
rõ “Thắng lợi của Cách mạng của nước ta thật là to lớn đồng thời những khó khăn
Trang 22mà ta vượt qua cũng rất to lớn Điều đặc biệt quan trọng là người lao động thiếu hăng hái sản xuất” 126Ị Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương chuyển dần sang cơ chế sản xuất hàng hoá với nhiều giải pháp theo trình tự bước đầu thừa nhận kinh tế
hộ với nhiều thành phần, tiến tới cho các hộ xã viên mượn đất, sau đó ổn định thu mua lương thực, điều chỉnh giá mua nông sản, để rồi thực hiện mua theo giá thoả thuận, tiến tới bãi bỏ việc phân phối định suất nhằm hạn chế mức trích lập quỹ tập thể để tàng thu nhập cho xã viên và cuối cùng là sự thừa nhận kinh tế gia đình như một bộ phận hợp thành của kinh tế xã hội chủ nghĩa TTieo "Báo cáo tổng kết hợp tác
xã nông nghiệp 1958-1990 định hướng hợp tác xã nông nghiệp thời kỳ sau 1990" thì thực hiện chủ trương khoán đến nhóm và người lao động, tháng 1 năm 1981 hộ gia đình nông dân trổng lúa đưực tự chủ ba khâu trong quá trình sản xuất nông nghiệp: gieo mạ, cấy trồng, chăm bón và thu hoạch Hợp tác xã đảm nhiêm 5 khâu: làm đất, thủy lợi, bảo vê thực vật, giống và phân hoá học Quyền chi phối quá Irình tái sản xuất vẫn thuộc về Ban quản lý hợp tác xã Mặc dù vậy, so với thời kỳ 1976-1980 năng suất lao động đã tăng 23,8%, sản lượng lương thực tăng 27%, diện tích cây công nghiệp tăng 62,1%, đàn bò tăng 33%, đàn lợn tăng 22,1% Bình quân lương thực đầu người năm sau cao hơn năm trước (1981: 273kg, 1985: 304kg) Tuy nhiên,
Chỉ thị 100 ngày 5-4-1988 của Ban Bí thư về cơ chế khoán trong nông nghiệp vẫn
còn nhiều hạn chế do cơ chế tập trung quan liêu chưa được tháo gỡ, cơ chế quản lý nội bộ hợp tác xã, nhất là vai trò kinh tế hộ gia đình chưa được khẳng định Bộ máy quản lý cồng kềnh, mức khoán giao động thiếu ổn định đã dần dần triệt tiêu động lực kinh tế mới được khơi dậy Hậu quả là hợp tác xã lại đứng trước nguy cơ mới Năm 1987 sản lượng lương thực giảm gần 1 triệu tấn, mức Nhà nước huy động giảm gần 40 vạn tấn Trong hai năm liền 1987-1988, nạn đói đã xảy ra ở một số vùng Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức được vai trò to lớn của nông nghiôp và xem xét kỹ hai vấn đề cơ bản đang đạt ra để đẩy manh nông nghiệp phát triển Một, phải bảo đảm lợi ích kinh tế nông dân thì sản xuất nông nghiệp mới
có động lực Hai, vai trò của kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp cũng như mối quan hệ kinh tế giữa kinh tế hộ gia đình và hợp tác xã phải được xác lập đúng
Trang 23Trước tình hình đó, nhằm khắc phục những hạn chế của Chỉ thị 100, ngày 5
tháng 4 năm 1988, Bộ Chínlĩ trị khoá VI đã ra Nghị quyết 10 và sau đó là Hội nghị
BCH TW Đảng lần thứ ố khoá VI đã ra Nghị quyết với những chủ trương đúng đắn,
kịp thời Các nghị quyết này chủ yếu thúc đẩy quá trình giải phóng sức sản xuất, chuyển nền nông nghiệp lự cấp tự túc ở nhiều vùng sang sản xuất hàng hoá nhiều thành phần Nội dung của các nghị quyết này cũng nhằm thực hiện điều chỉnh một bước quan trọng về sở hữu tư liệu sản xuất, giao khoán ổn định lâu dài ruộng đất đến
hộ gia đình nông dân, hoá giá các tư liệu sản xuất khác và cơ sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã trước đây mà tập thổ quản lý kém hiệu quả Khuyến khích nông dân mua sắm công cụ sản xuất và trâu bò cày kéo, khảng định vai trồ tự chủ của hộ gia đình, thực hiện cơ chế phân phối theo lao động và xóa bỏ chế độ theo công điểm và hiện vật Xã viôn hợp tác xã chỉ còn một nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và thực hiên các nghĩa vụ hợp đồng, sản phẩm còn lại được tự do lưu thông, thương mại hoá vật tư, khuyến khích sản xuất và làm giàu chính đáng Các nghị quyết này của Đảng cũng lần đầu tiên thừa nhận sự tồn tại và khuyến khích phát triển kinh tế cá thể, kinh
tế tư nhân, Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng và được bình đẳng trước pháp luật [48, tr 139]
Từ những chủ trương đúng đắn đó của Đảng và Nhà nước, ở nước ta đã hình thành động lực kinh tế mới thúc đẩy phát triển sản xuất Lợi ích kinh tế của người nông dân đã được coi trọng Bước đầu giải quyết mối quan hê ba lợi ích: Nhà nước, tập thể và người lao động, trong đó chú trọng lợi ích của người lao động Kết quả là, theo một điều tra xã hội học ở tỉnh Hải Hưng năm 1990 thì 97,4% nông dân được hỏi muốn giữ nguyên hoặc được nhận thêm ruộng khoán, trong đó muốn giữ nguyên
là 52,3% và nhận thêm là 43,03% [25, tr 961
Để nông nghiệp tiếp tục phát triển làm cơ sở phát triển toàn bộ nền kinh tế, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức được là cần phải đặt sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo sản xuấi hàng hoá hướng tới quá trình hiên đại hoá, công nghiệp hoá đất nước Thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần, gắn sản xuất với thị trường,
mở rộng thị trường trong và ngoài nước, giải quyết được đầu vào và đầu ra để nông dân yên tâm với nhiêm vụ sản xuất Có thể, có người cho rằng các chính sách về
Trang 24nông nghiệp không hề liên quan đến việc ban hành Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh
tế, lao đông, hôn nhân và gia đình Nhưng nhìn vổ bản chất thì chính các chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp đã tạo tiến đề không những để xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình mà còn
là tiền đề để xây dựng nhiều bộ luật khác như Bộ luật dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật TTHS
1.1.2.2 Chính sách kinh tế đúng đắn đối với doanh nghiệp nhà nước
Điểm mấu chốt trong chính sách kinh tế đối với doanh nghiệp nhà nước là xác lập quyền tự chủ sản xuấl kinh doanh của xí nghiệp nhằm phát huy mọi tiềm năng
trên cơ sở giải phóng sức sản xuất Từ Nghị quyết TW Đảng lần thứ 6 khoá VI năm
1979, Đảng đã chủ trương xác lập vai trò và quyền tự chủ kinh doanh của các xí
nghiôp quốc doanh, khuyến khích lợi ích kinh tế của người lao động Văn kiện Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ 5 và các văn bản của Chính phủ đã xác đinh mở rộng
quyền chủ động sáng tạo, xác lập quyền tự chủ cho các đưn vị sản xuất kinh doanh, lấy đơn vị cơ sờ làm trung tâm của quá trình cải tiến quản lý Từ năm 1987 cơ chế quản lý kinh tế đối với doanh nghiệp nhà nước được đổi mới, bảo đảm cho các xí nghiệp kinh tế quốc doanh có quyền thực sự chuyển sang hoạch toán kinh doanh
Hội nghị TW 3 khoá Ví năm 1989 đã cụ thể một bước quan điểm này: Các xí nghiệp
quốc doanh chuyển sang hoạt động tự chủ hoạch toán kinh doanh, đổi mới cơ chế sản xuất kinh doanh bảo đảm quyền tự chủ cho các đơn vị cơ sở Chủ trương của Đảng về đổi mới doanh nghiCp nhà nước đã được thổ chế hoá bằng pháp luật mà trước hết cần phải kể đến Quyết định 217/HĐBT ngày 14-11-1987 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch và hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh và Quyết đinh ban hành những quy đinh bổ
sung Quyết định 217IHĐBI ngày 14-11-1987 của Hội đổng Bộ trưởng ngày 2-12-
1989 Các văn bản này đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với các xí nghiệp
quốc doanh từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế hoạch toán kinh doanh XHCN, trên cơ sờ được tự chủ sản xuất kinh doanh nhằm từng bước tháo
gỡ những khó khăn để thúc đẩy sản xuất phát triển Ị48, tr,143J Đại hội Đảng toàn
Ị
Trang 25quốc lần thứ VII năm 1991 vẫn tiếp tục khẳng định xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp,
hình thành đồng bộ và vận hành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, tạo
điều kiên môi trường cho các doanh nghiệp phát triển Cũng như đối với nông
nghiêp, vấn đề quan trọng nhất đổ các doanh nghiệp nhà nước phát triển là phải bảo
đảm được lợi ích của người lao động, kích thích họ sản xuất kinh doanh để họ thực
sự làm chủ xí nghiôp gắn trách nhiêm và quyền lợi của họ vào xí nghiệp Trước tình
hình đó, Đảng ta đề ra chính sách cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước nhằm đổi
mới các doanh nghiôp nhà nước, mờ rộng tiềm năng, tạo khả năng cạnh tranh lành
mạnh, mờ rộng thị trường trong và ngoài nước, thực sự chủ động trong hạch toán
kinh tế
1.1.2.3 Chính sách kinh tế nhiéu thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Sau hơn 10 năm tìm tòi, thể nghiệm và tổng kết thực tiễn, Nghị quyết Đại hội
v n của Đảng đã khảng định phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Phải nói rằng tư tưởng đổi mới đã xuất hiên trong Nghị quyết TW 6 khoá V năm
1979 nhưng phải đến Đại hội VI bước ngoặt về quan điểm đổi mới mới được khảng
định đó là VN có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản
chủ nghĩa nhưng phải đi theo con đường phát triển hàng hoá Hội nghị TW lần thứ 6
khoá VI đã khẳng định tính chất nhiổu thành phần trong sản xuất hàng hoá ở nước
ta, mỗi thành phần kinh tế được quy định bởi một hình thức sở hữu tư liệu sản xuất,
như vậy đa dạng hoá các hình thức sờ hữu vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của
nhiều thành phần kinh tế Khi đất nước chuyển sang kinh tế hàng hoá thì sự phát
triển kinh tế quốc dân phải thông qua cơ chế thị trường Bản chất của cơ chế thị
trường là nền sản xuất hàng hoá được điều tiết theo nhu cầu của xã hội, người lao
động hoặc chủ sở hữu sản xuất kinh doanh phải đầu tư tính toán để làm lợi cho
chính mình từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội Tất nhiên, nền kinh tế vận hành
theo cơ chế thị trường đòi hỏi phải có những chính sách đúng đắn điều tiết để tránh
dản đến sự hỗn loạn về kinh tế, và hậu quả là làm cho các doanh nghiệp bị phá sản,
kinh tế của nước nhà lâm vào khủng hoảng Kinh tế nhiều thành phần tạo ra các
Trang 26quan hô xã hội mới cần được điều chính hằng những văn bản pháp luật thích hợp và bằng những thủ tục pháp lý và cơ quan tài phán thích hợp.
1.1.2.4 Chính sách mờ cửa
Từ trước năm 1986 VN là một nước khép kín, chủ yếu chỉ quan hệ với các nước trong hô thống XHCN Vì vậy nước ta chịu ảnh hưởng tương đối năng nề cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trong tất cả các lĩnh vực Sau khi Liên Xô tan rã, các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, nước ta đã bắt đầu quan tâm mở rộng quan hộ kinh tế với các nước trong khu vực và các nước tư bản chủ nghĩa trôn toàn thế giới, khai thông chính sách kinh tế mở cửa theo chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
từ Đại hội VI của Đảng Chính sách kinh tế mở cửa một mặt, tăng cường xuất khẩu các sản phẩm do VN sản xuất, giao lưu hàng hoá với các nước ngoài, trên cơ sở đó, mãt khác, khuyến khích sản xuất hàng hoá trong nước phát triển Từ chính sách kinh
tế mở cửa của Đảng và Nhà nước, đã phát động một tinh thần sản xuất hăng say đối với tất cả các thành phần kinh tế Trong những năm đầu vận dụng chính sách kinh tế
mở, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng lên rõ rệt Nếu như năm 1991 kim ngạch xuất khẩu đạt 2,08 tỷ đôla và nhập khẩu đạt 2,388 tỷ đôla thì đến năm 1993 ước tính xuất khẩu đạt 3 tỷ đôla và nhập khẩu 2,505 tỷ đôla [15] Nhờ có chính sách kinh tế mở cửa VN đã trờ thành thị trường thu hút đầu tư của một số nước Trước khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1999, các dự án đầu tư nước ngoài vào VN tăng không ngừng VN mở rộng quan hô thương mại với trôn 100 nước trên thế giới Trong những tháng đầu của năm 2000 nền kinh tế của các nước Châu Á và khu vực
đã dần dần ổn định và đầu tư của nước ngoài vào VN lại tiếp tục được nhích lên Chính sách kinh tế mở cửa của Đảng và Nhà nước ta một măt được dựa trên các chủ trương đúng đắn của Đảng thông qua các kỳ đại hội, đồng thời Nhà nước và Chính phủ cũng đã kịp thời ban hành các văn bản pháp luật để điều tiết các quan hệ xã hội mới phát sinh từ các chính sách đó và đương nhiên từ thực tiễn này cho thấy cũng cần thiết phải ban hành các quy đinh về lố tụng để xử lý về mặt hình thức các quan hệ
xã hội vừa được điều tiết
Trang 271.1.2.5 Sự ra đời của Hiến pháp 1992 tạo tiền đổ vổ mạt lập pháp quan trọng, chính thức đưa nền kinh tế VN phát triển theo cơ chế thị trường có điều tiết Năm
1992, Hiến pháp mới của nước CHXHCNVN ra đời, tạo tiền đề quan trọng về mặt lập pháp, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng và đưa cả nước phát triển sang nền kinh tế nhiều thành phần Hiến pháp 1992 thể hiện một cách đậm nét đường lối đổi mới của Đảng, mà trước hết coi trọng đổi mới kinh tế Điều 15 Hiến pháp 1992 đã khẳng định: “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN Cơ cấu kinh tế nhiéu thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sờ hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu lư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và
sở hữu tập thổ là nền tảng” Điều 24 của Hiến pháp cũng tuyên bố: “Nhà nước thống nhất quản lý và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức quan
hê kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ và thúc đẩy sản xuất trong cả nước” Điều 25 Hiến pháp 1992: “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào VN phù hợp với pháp luật VN, pháp luật và thông lộ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài, không bị quốc hữu hoá” Tại Điểu 16 Hiến pháp 1992 khẳng định rõ mục đích của sự phát triển kinh tế là “làm cho dân giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế ”
|4| Hiến pháp 1992 xác định rất rõ các hình thức và thành phần sờ hữu và địa vị pháp lý của từng loại sở hữu đó Đó là hình thức sờ hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sờ hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng Hiến pháp 1992 cũng quy định các thành phần kinh tế gồm kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh
tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước Ị4]
Như vậy, Hiến pháp năm 1992 đã:
1) Khẳng đinh phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường;
Trang 282) Thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu đối với tư liệu
sản xuất;
3) Khẳng định chính sách xã hội đúng đắn của Đảng và Nhà nước: Đó là các tư
tưởng tiến bộ về lao động- xã hội như chính sách về lao động (Điều 55, 56), chính
sách đối với diôn chính sách (Điều 67)
4) Khẳng định chính sách đất đai theo quan điểm Nhà nước thống nhất quản lý
đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiộu
quả; Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài
1.1.2.6 Sự ra đời của các đạo luật quan trọng về kinh tế, dân sự, lao động, hôn nhân và gia đình
Trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước đã ban hành và
áp dụng một số văn bản quy phạm pháp luật để khơi thông và tạo tiền đề cho công
cuộc cải cách Trước hết đó là các chính sách tài chính công cộng như thuế xuất
nhập khẩu, thuế doanh thu và tiêu thụ, thuế thu nhập [40] Các văn bản quy phạm
pháp luật về thương mại đã được từng bước cải thiện, góp phần đưa VN hưóng tói
một nền kinh tế mờ Tiếp theo đó là các chính sách công nghiộp hoá và xuất khẩu
hàng công nghiệp, các chính sách cải cách nông thôn, xoá đói giảm nghèo và tăng
trường kinh tế, nhất là các chính sách liên quan đến ruộng đất và quyền sử dụng đất
Luật đất đai năm 1993 đánh dấu một bước tiến Irong công cuộc lập pháp ở VN trong
những năm vừa qua Trong cuốn "Theo hướng rồng bay-cải cách kinh tế ờ Việt
Nam" [40], Viên phát triển Quốc tế Harvard, ấn hành vào tháng 6-1994, các tác giả
như: GS Dwight H Perkins, GS David D Dapice và GS Jonathan H Haughton đã
kể ra những nỗ lực của VN trong việc hoạch định các chính sách trong thời kỳ đầu
mờ cửa như sau:
i Chính sách tài chính công cộng
ii Quy chế và chính sách thương mại
iii Chính sách công nghiệp hoá và xuất khẩu hàng công nghiệp
Trang 29iv Chính sách về cải cách nông thôn, xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế
V Chính sách tăng trường kinh tế và thị trường lao động
vi Chính sách bảo vê môi trường và phát triển bền vững
vii Cải cách hành chính và cải cách tư pháp
Thực tiễn lập pháp của VN trong những năm vừa qua đã chứng tỏ VN đã đi những bước đi phù hợp với tiến trình quy luật phát triển của thế giới Bắt đầu của quá trình đổi mới là ban hành các quy định về chính sách tài chính; tiếp theo là các chính sách thương mại; tiếp đến là các chính sách về công nghiệp và xuất khẩu hàng công nghiệp; trong giai đoạn gần đây hơn là thực thi các chính sách về phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế; các chính sách về tăng trường kinh tế và thị trường lao động và bảo vê môi trường được ban hành sau khi đất nước
đã ổn định về kinh tế và đang có các tăng trưởng kinh tế tương đối cao Các cải cách hành chính mặc dù đã được quan tâm ngay từ thời gian đầu của thời mở cửa nhưng chỉ có những chuyển biến mạnh mẽ nhất trong thời gian gần đây với các chủ trương rút gọn và tinh giản bộ máy, thực hiện chính sách một cửa, một dấu Cải cách tư pháp cũng đã ghi nhận những dấu ấn của mình thông qua Bộ luật hình sự năm 1999, việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS, sự ra đời một loạt các Pháp lệnh về thủ tục tố tụng, Luật sửa đổi Luật Tổ chức TAND, việc thành lập thêm các toà mới trong hệ thống TAND
Những nhận xét của các tác giả trong cuốn "Theo hướng rồng bay-cải cách kinh tế ở Việt Nam" là phù hợp Tuy vậy, cũng cần kể đến một loạt chính sách được hoạch định trong thời mở cửa của VN mà "Theo hướng rồng bay-cải cách kinh tế ở Việt nam" chưa đề cập đến đó là các chính sách và đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng Cộng sản VN và Nhà nước VN Các chính sách đối ngoại đúng đắn đã tạo
cơ sở cho Luật đầu tư nước ngoài được ban hành và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào VN Gần đây nhất tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khoá X đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một sô' điều của Luật đầu tư nước ngoài tại VN, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật khoa học và công nghệ , thể hiện tính nhất quán
Trang 30của Nhà nước ta trong việc tiếp tục công cuộc đổi mới và việc đổi mới kinh tế trước hết phải được dựa trên cơ sở các quy định của luật pháp vì vậy việc ban hành, sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật là điều được ưu tiên.
1.1.2.7 Sự ra đời của Bộ luật dân sự
Năm 1995 Quốc hội nước CHXHCNVN đã thông qua Bộ luật dân sự Bộ luật dân sự thể hiên xu hướng ngày càng mở rộng sản xuất hàng hoá của nền kinh tế, nhấn mạnh tính chất hàng hoá của các quan hệ kinh tế, thúc đẩy giao lưu dân sự, góp phần tạo nôn một thị trường hàng hoá thống nhất trong cả nước 163, tr.l 1 Ị Bộ luật dân sự thổ hiện nguyên tắc lự do cam kếl và thoả thuận do đó nó đã trở thành công cụ điểu tiết cơ bản nhất của các quan hê thị trường bởi vì thị trường luôn luôn đòi hỏi yếu tố tự do kinh doanh mà điểm khởi đầu là sự bình đẳng của các chủ sở hữu, sự bình đẳng của các chủ thể của các quan hệ dân sự [63, tr.4| Bộ luật dân sự của nước CHXHCNVN là Bộ luật điều chỉnh các quan hô kinh tế- dân sự phát triển theo định hướng XHCN, phấn đấu vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh [63, tr.7ị Bộ luật dân sự không những chỉ đề cập đến những vấn đề thuần tuý dân sự mà nó còn là tiền đề để xây dựng các đạo luật về thương mại, kinh tế Thể hiện tư duy của thời kỳ đổi mới, Bộ luật dân sự đã đề cập đến những quan hộ pháp luật theo một tinh thần mới, trong một cơ chế mới: “Cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Có thổ nói, sau sự ra đời của Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS, và một số Bộ luật khác thì sự ra đời của Bộ luật dân sự chính thức tạo một tiền đề vững chắc về măt luật pháp cho việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình Bộ luật dân sự đã đề cập đến những vấn đề không những mang ý nghĩa dân sự theo nghĩa hẹp mà còn bao hàm cả những vấn đề dân sự theo nghĩa rộng, ở một mức độ nào đó Bộ luật dân sự đã điều chỉnh cả một số quan hệ kinh tế Điều đó về mặt pháp lý đã tạo một tiền đề hết sức
cơ bản cho việc xây dựng một Bộ luật tố tụng để điều chỉnh các tranh chấp phát sinh Bộ luật dân sự cũng là bước đầu tạo một cơ hội để xích lại gần nhau hơn trong suy nghĩ và trong hành động về việc phân định ranh giới giữa luật dần sự, luật kinh
tế, luật thương mại
Trang 31Cùng với sự ra đời của Bộ luật dân sự cũng cần phải kể đến sự ra đời của các đạo luật khác, ví dụ: Bộ luật lao động, Luật thương mại Trước đó là sự ra đời của các văn bản pháp luật như Pháp lệnh HĐKT (28-9-1989), Bộ luật Hàng hải VN (30- 6-1990), Pháp lệnh ngân hàng, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (12-12- 1997), Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính (24-5-1990), Luật các Tổ chức tín dụng (12-12- 1997);Luật Công ty (21-12-1990 và Luật sửa đổi một số điẻu của Luật công
ty ( 22-6-1994)), Luật Doanh nghiệp tư nhân (21-12-1990) và Luật sửa đổi một số điều của Luật doanh nghiệp tư nhân (22-6-1994), Luật hàng không dân dụng (26- 12-1991), Luật doanh nghiệp nhà nước (20-4-1995), Luật phá sản doanh nghiệp (30- 12-1993 ) Rõ ràng, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã thúc đẩy sự hoàn thiên và phát triển của hô thống pháp luật Nền kinh tế nước ta hiôn nay mặc
dù là có điều tiết theo định hướng XHCN song nó vẫn vản chịu tác động của những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Đòi hỏi quan trọng đầu tiên của kinh tế thị trường
là tính chất đa thành phần của nền kinh tế Tính đa dạng của nền kinh tế bao hàm tính đa dạng của hình thức sở hữu Ngoài ra cơ chế kinh tế thị trường điều tiết theo định hướng XHCN đòi hỏi sự tác động tích cực của Nhà nước [46, tr.9-11] Từ hai đòi hỏi trôn của cơ chế thị trường, Nhà nước ta đã nhận thức được là cần thiết phải hoàn thiên pháp luật kinh tế và trong thực tế đã ban hành mới nhiều văn bản pháp luật kinh tế Để xây dựng một hệ thống pháp luật kinh tế hoàn chỉnh cần thiết phải xác định các nguyên tắc xuyên suốt toàn bộ quá trình điều chỉnh quan hệ kinh tế thị trường bằng pháp luật PGS TS Lê Hồng Hạnh trong một nghiên cứu của mình đã chỉ ra các nguyôn tắc sau đây:
i Bảo đảm sự bình đẳng của tất cả các chủ thể khi tham gia các quan hệ kinh
tế thị trường;
ii Hoàn thiện chế định quyén sở hữu, nhất là sở hữu nhà nước nhằm đáp ứng việc giải quyết các vấn đề phát sinh từ việc góp vốn, liên doanh, các uỷ thác v.v iii Hợp đồng phải được coi là hình thức pháp lý chủ yếu của tất cả các quan
hê kinh tế thị trường;
iv Các doanh nghiệp bắt buộc phải tồn tại dưới một loại hình do luật định;
Trang 32V Pháp luật kinh tế chỉ tạo ra các khung pháp lý cho hoạt động của các
doanh nghiệp, còn nhà nước chỉ can thiệp khi hoạt động của chúng vượt ra ngoài các
khung pháp lý đó;
vi Pháp luật phải quy định chính xác trách nhiệm pháp lý của tất cả các
doanh nghiệp đối với những vi phạm pháp luật kinh tế;
vii Pháp luật phải tạo được thủ tục giải quyết nhanh chóng, có hiệu quả các
tranh chấp kinh tế bảo đảm hiộu lực thi hành của các quyết định xét xử;
viii Pháp luật phải bảo đảm được sự chi phối của Nhà nước XHCN đối với
hoạt động của doanh nghiệp |46, tr.9-11 ]
Trong hê thống pháp luật kinh tế thì định chế HĐKT có ảnh hưởng đến nội
dung của Bộ luật tố tụng dân sự Những vấn đề của HĐKT có ảnh hưởng đến các
quy định của Bộ luật tố iụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình sau
này, chảng hạn, theo PGS TS Lê Hổng Hạnh, việc miễn giảm trách nhiêm vi phạm
hợp đồng cần được xem xét lại dưới góc đô thị trường Bên vi phạm hợp đổng có
nghĩa vụ phục hồi lợi ích hạch toán cho bên bị vi phạm Điéu này lại càng phải được
khẳng định đối với việc vi phạm do một bên phải thực hiện lênh khẩn cấp của cơ
« quan nhà nước có thẩm quyền Không thể coi sự vi phạm HĐKT của một chủ thể
khác là cơ sở miễn, giảm trách nhiêm HĐKT Điều này dẫn đến tình trạng không
thể xác định được trách nhiệm HĐKT khi nó bị vi phạm Những nhận xét trên không
những chỉ liên quan đến việc hoàn thiện pháp luật nội dung mà còn là tiền đề và là
những ý tường gợi mở cho việc xây dựng các quy phạm pháp luật về tố tụng nhằm
giải quyết tốt các tranh chấp về hợp đồng
1.1.2.8 Sự ra đời của các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (29- 11-1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (16-3-1994), Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các tranh chấp lao động (20-4-1996), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án hành chính (20-4-1996)
Sự ra đời của các Pháp lệnh này đã đánh dấu một bước phát triổn quan trọng
trong lịch sử xây dựng pháp luật tố tụng của VN v ề bản chất đây là các quy định
Trang 33mang nội dung tố lụng lần đầu tiên được han hành kịp thời nhằm phục vụ tốt cho công tác xét xử của Toà án vốn trước đó chỉ chủ yếu dựa vào các hướng dẫn của TANDTC về các vấn đề dân sự Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã có một vai trò rất quan trọng không những chỉ đối với lĩnh vực xét xử dân sự mà có ý nghĩa to lớn trong việc làm tiền đề cho việc xây dựng các văn bản tố tụng tiếp theo Tất nhiên có một số vấn đề quan trọng chưa được đề cập đến trong các Pháp lệnh này (như vấn đề chứng cứ) nhưng nhìn chung các Pháp lệnh này đã tạo ra nền tảng nhất định cho việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân
và gia đình Qua thực tiễn áp dụng hơn 10 năm cho thấy các Pháp lệnh này không còn phù hợp với các quan hệ pháp luật về nội dung ngày càng phát triển như hiện nay Do đó nhu cầu thay thế các Pháp lệnh này bàng một Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình mới vừa là nhu cầu vừa là một công việc mang tính tất yếu
1.2 Cơ sở lý luận của việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình
Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ là trong thời gian tới phải "ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội", "tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật làm cơ sở cho tổ chức và hoạt động của hê thống các cơ quan tư pháp, bảo đảm mọi vi phạm pháp luật đều phải xử lý, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật."; "củng cố, kiện toàn lại bộ máy các cơ quan tư pháp, phân định lại thẩm quyền xét xử của TAND, từng bước mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm của TAND huyện." 121, tr 131-132]
í 2.1 Cải cách vế thủ tục - bước đột phá của cải cách tư pháp
Nhiều người quan niệm đơn giản thủ tục tố tụng chỉ là những vấn đề về kỹ thuật và vì vậy muốn cải cách tư pháp trước hết phải cải cách luật nội dung Quan niệm này không sai nhưng chưa đầy đủ và nếu tiến hành thực hiên theo quan niệm
Trang 34này thì có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực Thực tế thì vai trò của thủ tục tố tụng rất to lớn Chính thủ tục tố tụng ảnh hường lớn đến sự hình thành và phát triển của pháp luật về nội dung, là nền tảng thực hiện pháp luật về nội dung Pháp luật về nội dung sẽ mãi mãi chỉ là lý luân nếu chúng ta không xây dựng một cơ chế tố tụng thích hợp để đưa pháp luật nội dung vào thực tiễn.
Nếu hiểu đầy đủ quan điểm của Henry Marryman vồ vai trò của luật tố tụng thì
đó sẽ là một sự đột phá về cải cách tư pháp Ông cho rằng thủ tục là nền tảng của nội dung và ngược lại Nói như thố có nghĩa là thủ tục đóng vai trò mấu chốt trong luật pháp Không dừng lại ở quan điểm chỉ coi luật về thủ tục là hình thức và luật về
nội dung là nội dung, Marryman cũng chỉ rõ mối quan hô máu thịt giữa luật tố tụng
và luật nội dung Ngoài ra, ông còn khẳng định vai trò nền tảng của luật nội dung đối với luật tố tụng chỉ là vai trò thứ yếu, nghĩa là trước hết thủ tục phải trở thành nền tảng cho pháp luật về nội dung sau đó luật về nội dung mới trở thành nền tảng của luật về tố tụng
Marryman cũng khẳng định vai trò của luật tố tụng không những chỉ là nền tảng mà còn hướng dẫn và điều chỉnh quá trình tố tụng và có ảnh hưởng tới kết quả Chúng tôi hiổu rằng luật nội dung sẽ không thể nào phát huy được hiệu quả của mình nếu trong quá trình xét xử, Toà án hoặc các cơ quan tài phán không áp dụng đúng pháp luật về tố tụng Việc nghiên cứu hai truyền thống pháp luật chủ yếu của thế giới cho thấy các nguyên tắc của pháp luật về nội dung khác nhau không nhiều
mà chủ yếu khác nhau ở thủ tục tố tụng Với cùng một nội dung pháp luật, với cùng những tình tiết tranh chấp giống nhau nhưng áp dụng theo hai thủ tục tố tụng khác nhau có thể dần tới hai kết quả khác nhau Như đã nêu ở phần trước, trong thời gian vừa qua, Nhà nước ta đã chú trọng công tác xây dựng pháp luật Một số bộ luật về nội dung đã ra đời Chúng ta có đầy đủ pháp luật nội dung về quyền sử dụng đất đai,
về thừa kế, về xây dựng, về chia tài sản, về HĐKT, HĐDS Nhưng chúng ta vẫn loay hoay trong các quy đinh về thủ tục tố tụng sơ sài, lỏng lẻo, thiếu logic, không đồng
bộ và chắp vá Cho đến nay vẫn chưa có các Bộ luật tố tụng tương ứng đổ điều chỉnh các quan hệ tranh chấp phát sinh Như vậy, thực tế là có pháp luật về nội dung Các quy định về pháp luật nội dung hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu của xã hội
Trang 35nhưng các quy định về tố tụng thì rất bất cập Ngoài Bộ luật tố tụng hình sự, hầu như chưa có vần bản nào đáp ứng được những yêu cầu mà một thủ tục tố tụng đặt ra Các Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lênh về thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế thì còn nhiều khiếm khuyết, chưa ngang tầm với các quy đinh về nội dung Chẳng hạn những quy định về thời hiệu cho đến nay vẫn chưa thống nhất Điều này dẫn đến việc án xử ra còn bị huỷ vì sai thủ tục tố tụng nhiều Cần phải tạo một thay đổi trong quan niộm và trong nếp nghĩ là phải chú trọng hơn nữa đối với việc xây dựng pháp luật về tố tụng, coi cải cách thủ tục tố tụng là điểm đột phá trong cải cách tư pháp, trôn cơ sở đó thúc đẩy và hoàn thiện hơn nữa pháp luật về nội dung
Một trong những điểm bất cập của việc giải quyết tranh chấp bằng Toà án hiên nay là sự chậm chạp, kém hiệu quả, kéo dài, không gắn liền với trách nhiệm của các
cơ quan tài phán cũng như không phân biệt được trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng Theo trình tự tố tụng hiện nay, một vụ án có thể được xét xử theo trình
tự sơ thẩm, nếu có kháng cáo kháng nghị phúc thẩm thì vụ án lại được phúc thẩm lại, nếu có kháng nghị của người có thẩm quyén, vụ án lại được giám đốc thẩm Nếu Toà án giám đốc huỷ án, giao về sơ thẩm xét xử lại theo trình tự sơ thẩm thì vòng luẩn quẩn đó lại được lặp lại Vì vậy, cần đặt vấn đề cải cách tổ chức tư pháp song song với việc cải cách thủ tục tố tụng Tất nhiên, cải cách thủ tục tố tụng có thể được thể hiộn trong Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình nhưng có được một Bộ luật tố tụng vừa bảo đảm được các yêu cầu về cải cách thủ tục vừa đáp ứng được yêu cầu cải cách tổ chức tư pháp là điều không đơn giản Việc cải cách tổ chức tư pháp đòi hỏi phải sửa đổi luật tổ chức TAND và một số văn bản
có liên quan
Cần thiết phải lý giải một cách cụ thể hơn luận điổm cải cách tố tụng là bước
đột phá của cải cách tư pháp Thực vậy, hệ thống pháp luật Việt Nam là một thể
thống nhất Các thiết chế thực thi pháp luật cũng cần phải là một thể thống nhất và vận hành đồng bộ trong một cơ chế hữu hiệu Một tổ chức tư pháp có hiệu quả sẽ tạo
ra sự vận hành có hiôu quả của các thiết chế thực thi pháp luật, trên cơ sở đó bảo
Trang 36đảm việc thực hiện quyền lực công của nhà nước và hảo vô chủ quyền tư của các
chủ thổ bình đẳng trong quan hô pháp luật dân sự Tổ chức tư pháp thực chất là tổ chức của các cơ quan cỏng an, toà án, kiểm sát, tư pháp Phần lớn các cơ quan này vận hành theo theo một quy trình nhất định Nếu chúng ta ví dụ pháp luật về nội dung như một con tầu hoả thì pháp luật về hình thức chính là đường ray Tuy nhiên,
hệ thống tư pháp là toàn bộ hô thống giao thông đa dạng như tầu hoả, xe cộ, thuyền
bè, máy bay Muốn hê thống đó vận hành đồng bộ, có hiệu quả tạo thành huyết
mạch thì trước hết phải có nội dung tốt Nội dung hay pháp luật về nội dung chính
là phương tiện giao Ihông như tầu hoả, máy bay, tầu thuỷ, xe hơi Tuy vậy, có
phương tiên tốt chưa đủ mà phải có đường sá, sông lạch, bầu trời Như vậy, không phải sắm xe hơi trước khi làm đường, mà ngược lại phải làm đường rồi mới mua xe hơi Thủ tục tố tụng chính là các quy trình để vận hành pháp luật về nội dung Chính bản thần nền tư pháp nước nhà cũng không thể đi chệch khỏi quỹ đạo của các quy trình luật định
Trong thực tế, pháp luật lố tụng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc của các cư quan công an, toà án và kiểm sát Nếu quá trình điều íra, truy tố, xéí xử tốt thì bản án tuyên ra cũng được thi hành Ngược lại, nếu có những vi phạm thủ tục
tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì chắc chắn bản án tuyên ra cũng không có sức thuyết phục và không thi hành được Đã bao nhiêu năm chúng ta nghĩ đơn giản rằng chỉ cần có pháp luật nội dung đẩy đủ là có thể làm cho các cơ quan tư pháp vững mạnh, làm cho hệ thống tư pháp trong sạch, lành mạnh, hữu hiệu Nhưng thực tế cho thấy, pháp luật về nội dung không phải là yếu tố quyết định hoạt động của hệ thống tư pháp Điểm mấu chốt là các quy trình tố tụng phải thực sự rõ ràng
và thuận lợi để vận hành pháp luật nội dung vào đời sống xã hội Như vậy, muốn đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp trước hết phải cải cách thủ tục tố tụng, tạo đường đi thông thoáng cho các cơ quan bảo vê pháp luật hoàn thành được nhiêm vụ của mình
Nhìn nhận một cách chi tiết hơn có thể thấy rằng những vấn đề quy định trong luật tố tụng là những vấn đề cụ thể của hoạt động của các cơ quan tư pháp Từ vấn
Trang 37đc thẩm quyền của cơ quan xct xử đến hiệu lực của cơ quan thi hành án Nhìn rộng
ra cả các quy định của pháp luậl TTHS có thể Ihấy pháp luật tố tụng quy định cả quyền hạn của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử; quyền và nghĩa vụ của các thiết chế này Muốn tăng cường năng lực của các cơ quan này không gì khác hơn là phải quy định về quyền và nghiã vụ của chúng trong pháp luật tố tụng
Chính vì vậy, chúng ta nói, cải cách thủ tục là khâu đột phá của cải cách tư pháp Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình mới ra đời phải đón đầu được những sửa đổi, bổ sung trong các văn bản ra đời sau nó, bao gồm
cả Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật liên quan như Luật Tổ chức TAND, Luật Tổ chức VKSND
1.2.2 Các quan điêm xây dựng Bộ luật tô tụng vê dán sự, kinh tê, lao động, hôn nhân và gia đình
1.2.2.1 Các quan điểm chung
Trong công trình nghiôn cứu khoa học do TANDTC thực hiện từ năm 1995-
1996 đã có sự phân tích các quan điểm khác nhau đối với việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự Quan điểm thứ nhất cho rằng, BLTTDS chỉ nôn quy định quy trình tố tụng giải quyết các tranh chấp dân sự, các việc yêu cầu, khiếu nại về dân sự để các chủ thể bảo vệ quyền, lợi ích dân sự của mình mà Bộ luật dân sự đã quy định Các tranh chấp phát sinh từ các quan hê pháp luật khác như kinh tế, lao động, thương mại thì phải xây dựng những quy trình tố tụng riêng lương ứng và phù hợp với từng loại quan hô theo từng ngành luật cụ thể đó Quan điểm thứ hai cho rằng BLTTDS quy đinh thủ tục tố tụng và áp dụng ihủ tục này để giải quyết các vụ việc phát sinh từ các quan hê pháp luật kinh tế, lao động, thương mại, hôn nhân và gia đình Quan điểm thứ ba cho rằng, mặc dù về nội dung các quan hệ dân sự, hôn nhân - gia đình, lao động, kinh tế, thương mại kể cả hành chính có những đặc thù khác nhau, nhưng khi chủ thể các quan hệ đó muốn bảo vệ quyền tại toà án thì cũng phải nhất nhất tuân theo một quy trình tố tụng thống nhất, do đó chỉ có một quy trình tố tụng duy nhất đổ các chủ thể tự đứng ra yêu cầu toà án bảo vệ quyền, lợi ích của mình Nhóm thực hiộn đề tài của TANDTC cho rằng thực tiễn tố tụng của Toà
Trang 38án từ trước tới nay, cũng như các quy định trong các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự, kinh tế, hành chính và lao động đã chứng tỏ rằng về cơ bản những thủ tục íố tụng này là giống nhau Sự khác nhau chỉ gặp ở những chi tiết nhỏ như thời hạn giải quyết vụ án, thành phần HĐXX không đến mức phải xây dựng một quy trình tố tụng riông Ngay cả các thủ tục đặc thù như giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, thủ tục giải quyết các cuộc đình công cũng có thổ quy định như một đặc thù trong Bộ luật tô tụng dân sự Xuất phát iừ những lập luận nêu trên, nhóm nghiên cứu đề tài của TAND tối cao cho rằng cần thiết phải xây dựng một quy trình tố tụng chung nhất được bổ trợ thêm những quy trình giải quyết các vụ việc đặc thù để mọi chủ thể có thể bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình 133, tr.56]
Trong quá trình nghiên cứu đề tài Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn
của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự, nhóm nghiên cứu cũng đã xác định những
tư tưởng chỉ đạo về bố cục của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tiêu chuẩn hoá các phạm trù pháp lý về tố tụng dân sự, vé pháp điển hoá pháp luật tố tụng dân sự, về việc xây
dựng một chuẩn mực pháp lý cho mọi hoạt dộng tố tụng dân sự, bảơ vộ tốt quyền và
lợi ích cho đương sự [33, tr.56, 57, 58]
Trên cơ sờ nghiên cứu thực tiễn và nhu cầu của hoạt động tố tụng trong thời gian tới, chúng tôi cho rằng cần thống nhất một số quan điểm lớn đối với việc ban hành Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình như sau:
Trước hết, cần quán triệt một số tư tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng pháp luật nói chung và xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình nói riêng Những vấn đề cần quán triệt là:
Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và thể hiện được tinh thần quyền lực thuộc về nhân dân Ý tưởng này phải được thể hiện trong suốt quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh lế, lao động, hôn nhân và gia đình Nếu xa rời, tách rời sự lãnh đạo của Đảng hoặc đi theo hướng buông lỏng sự quản lý và định hướng XHCN có thể gây tổn thất cho sự nghiệp của nhân dân thông qua quá trình pháp điển hoá pháp luật
Trang 39Pháp luật nói chung và Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân
và gia đình nói riêng phải phục vụ công cuộc xây dựng nhà nước của dân, do dân và
vì dân Từ đây cũng thấy được ý đồ của nhà làm luật rằng pháp luật phải là công cụ
để củng cố và xây dựng nhà nước
Các tư tưởng của Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình phải thể hiện được những nguyên tắc của hệ thống pháp luật trong nhà nước pháp quyền hoăc nói cách khác pháp luật TTDS phải phục vụ cho sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền trong đó pháp luật là nền tảng cho mọi hoạt động kể cả hoạt động tố tụng Nhà nước pháp quyền là một khái niệm có thể còn chưa thấm sâu vào nhiều người Việt nam nhưng thực chất thì tư tưởng của nhà nước pháp quyền đã
đi vào cuộc sống của chúng ta từ rất lâu Theo Barry M Hager trong cuốn The rule
o f Law - A lexicon for policy makers do The Mansfìeld Center for Paciýìc affairs ấn
hành năm 1999 thì khái niệm nhà nước pháp quyền có thổ được hiểu qua các tiêu chí sau đây: i) chủ nghĩa lập hiến; ii) chính quyền phải bị điều chỉnh bằng pháp luật; iii)
hê thống toà án độc lập; iv) pháp luật phải được áp dụng bình đẳng và thích hợp; v) pháp luật phải rõ ràng minh bạch và gần gũi với mọi người; vi) việc áp dụng pháp luât phải có hiệu quả và đúng lúc; vii) các quyền về kinh tế kể cả tài sản, kể cả hợp đồng phải được bảo hộ; viii) quyền con người và tư tưởng phải được bảo hộ; ix) pháp luật chỉ có thể được thay đổi với quy trình được thiết lập minh bạch, rõ ràng và gần gũi với tất cả mọi người
Theo tinh thần đó, vai trò của pháp luật trong nhà nước pháp quyền là vô cùng quan trọng Ngay từ khâu xây dựng những quy định đầu tiên đã phải tính đến những điều đó
Việc xây dựng Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình phải phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường có điều tiết của nhà nước theo định hướng XHCN Đây là một tư tưởng rất quan trọng vì nó liên quan đến sự sống còn của Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình sau khi nó ra đời
Trang 40Định hướng và đón đầu nền kinh tế tri thức và công nghệ thông tin Đây là một ý tưởng rất quan trọng bởi vì các quan hệ xã hội phát triổn và thay đổi không ngừng Trong giai đoạn hiên nay mối quan tâm đang hướng tới một xã hội nơi mà kinh tế tri thức sẽ trị vì Trong một thời gian không xa những quan hê mới phát sinh
từ công nghệ thông tin, từ việc mua bán trên mạng sẽ trở thành bình thường và tranh chấp loại này có thổ sẽ đặt ra những thách thức mới cho ngành toà án nếu ngay từ bây giờ không tính đến những quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh
tế, lao động, hôn nhân và gia đình
Cần thiết phải mờ rộng phạm vi điều chỉnh của BLTTDS Nếu cho rằng BLTTDS chỉ điều chỉnh những quan hệ pháp luật mà hiện tại đang được điều chỉnh bởi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thì quá hẹp, không phù hợp với tình hình và nhiêm vụ mới Tuy vậy, nếu mờ rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ luật sang cả kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình thì trong giai đoạn trước mắt có thể lại quá rộng Lĩnh vực hành chính là một lĩnh vực tương đối đăc thù do
đó phạm vi điều chỉnh của Bộ luật tố tụng về dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình trước mất không nôn bao hàm lĩnh vực này Tuy nhiôn, viộc mở ra một hướng nghiên cứu lâu dài để có thể cho xây dựng một BLTTDS mà phạm vi điều chỉnh của nó bao gồm cả tố tụng hành chính cũng là một việc cần tính đến Cũng có người cho rằng không nôn mở rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Điều này có nghĩa là đã gọi là BLTTDS thì chỉ nên điều chỉnh các quan hê pháp luật dân sự như phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự hiên nay Có ý kiến đồng ý mở rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ luật nhưng cần lý giải được cơ sở khoa học của việc mở rộng phạm vi điều chỉnh này Theo những người này, truyền thống lập pháp của ta từ trước đến nay đã coi luật dân sự, kinh tế, lao động là những ngành luật độc lập Trên cơ sở các ngành luật độc lập này, pháp luật nước ta
đã xác định các thủ tục tố tụng độc lập bằng viêc ban hành các Pháp lênh đã nêu trên Việc gộp các thủ tục tố tụng khác nhau hiên nay lại thành một thủ tục chung có thể gây khó khăn cho thẩm phán trong hoạt động xét xử Thực ra, suy nghĩ như trên
là hơi phiến diện Việc so sánh các thủ tục tố tụng dân sự, kinh tế, lao động và hành chính ở trong phần 2.1 của luận án cho thấy có thể có những khác nhau giữa các thủ