1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học theo dự án môn công nghệ 10 tại trường trung học phổ thông bình an tỉnh bình dương

165 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 9,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

giới thiệu và sử dụng ở Việt Nam thông qua các dự án đào tạo bồi dưỡng giáo viên như các chương trình: “Dạy học hướng đến tương lai”, chương trình này được sự hỗ trợ của Intel nhằm giúp

Trang 2

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1: Sơ đồ tiến trình dạy học theo dự án 30

Hình 2: Trường THPT Bình An tỉnh Bình Dương 40

Hình 3: Trường PTTH Bình An tỉnh Bình Dương 42

Hình 4: Sơ đồ tổ chức trường PTTH Bình An 43

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Bảng tiêu chí đánh giá (Rubric) cho kỹ năng làm việc nhóm 26

Bảng 2: Bảng tiêu chí đánh giá kỹ năng thuyết trình 27

Bảng 3: Bảng phân phối chương trình môn Công Nghệ 10 48

Bảng 4: Kết quả khảo sát nhận thức của học sinh về nội dung môn học Công nghệ 1050 Bảng 5: Kết quả thống kê thái độ HS học tập môn công nghệ 10 52

Bảng 6 Kết quả thống kê về nguyên nhân HS không thích học môn Công nghệ 53

Bảng 7: Tính tích cực của học sinh trường PTTH Bình An trong giờ học môn CN 10 53 Bảng 8: Tính tích cực của học sinh trường PTTH Bình An ngoài giờ học môn CN 1054 Bảng 9: Bảng thống kê về mức độ sử dụng các PPDH 57

Bảng 10: Kết quả ý kiến của giáo viên về việc đổi mới phương pháp dạy học 58

Bảng 11: Bảng thống kê mức độ sử dụng các tiêu chí vào kiểm tra đánh giá 58

Bảng 12: Bảng thống kê mức độ sử dụng phương pháp đánh giá 59

Bảng 13: Bảng thống kê về sự đáp ứng cơ sở vật chất, thiết bị 61

Bảng 14: Bảng thống kê mức độ sử dụng phương tiện dạy học 61

Bảng 15: Bảng thống kê ý kiến GV về những khó khăn khi giảng dạy môn CN 10 62

Bảng 16: Bảng cấu trúc nội dung chương trình môn Công Nghệ 10 theo dự án 67

Bảng 17: Đề xuất phương án tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 72

Bảng 18: Tiêu chí đánh giá dự án 84

Bảng 19: Bảng số liệu thái độ học tập của lớp TN và lớp ĐC 85

Bảng 20: Bảng thống kê về kỹ năng tư duy sáng tạo của lớp TN và lớp ĐC 85

Bảng 21: Bảng thống kê khả năng tổ chức khi làm việc nhóm của lớp TN và lớp ĐC86 Bảng 22: Bảng thống kê về khả năng tìm kiếm, xử lý thông tin của lớp TN và lớp ĐC87 Bảng 23: Bảng thống kê về kỹ năng thuyết trình của lớp TN và lớp ĐC 88

Bảng 24: Bảng thống kê về kỹ năng tự học, tự nghiên cứu của lớp TN và lớp ĐC 89

Bảng 25: Bảng thống kê về kỹ năng sử dụng CNTT của lớp TN và lớp ĐC 90

Bảng 26: Bảng phân bố tần suất điểm số của học sinh lớp TN và lớp ĐC dự án 1 92

Bảng 27: Bảng phân bố tần suất điểm số của học sinh lớp TN và lớp ĐC dự án 2 93

Bảng 28: Bảng phân bố tần suất điểm số của học sinh lớp TN và lớp ĐC dự án 3 94

Bảng 29: Bảng phân bố tần suất điểm số của học sinh lớp TN và lớp ĐC dự án 4 96

Bảng 30: Thống kê số liệu kết quả học tập của lớp TN và lớp ĐC 99

Trang 4

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Phiếu khảo sát (dành cho giáo viên) 1

Phụ lục 2: Phiếu khảo sát (dành cho HS) 3

Phụ lục 3: Phiếu khảo sát (dành cho HS lớp TN và lớp ĐC) 5

Phụ lục 4: Phiếu phỏng vấn giáo viên 7

Phụ lục 5: Biên bản quan sát hoạt động dạy–học môn công nghệ 10 8

Phụ lục 5.1 Biên bản quan sát hoạt động học môn công nghệ 10 8

Phụ lục 5.2 Biên bản quan sát hoạt động dạy môn công nghệ 10 9

Phụ lục 6: Giáo án dự án 1 và dự án 2 10

Phụ lục 7: Một số hình ảnh người nghiên cứu dạy bằng phương pháp truyền thông ở lớp đối chứng 18

Phụ lục 8: Sản phẩm dự án xác định sức sống của hạt 19

Phụ lục 9: Sản phẩm dự án pha chế dung dịch boocđô phòng trừ nấm hại 20

Phụ lục 10: Một số hình ảnh quá trình thực hiện dự án và hoàn thành sản phẩm dự án làm sữa chua 22

Phụ lục 11: Một số hình ảnh sản phẩm dự án kinh doanh 24

Phụ lục 12: Một số đề kiểm tra môn Công nghệ 10 44

Trang 5

MỤC LỤC

LÝ LỊCH KHOA HỌC I LỜI CAM ĐOAN II TÓM TẮT III DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT V DANH MỤC CÁC HÌNH VI DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC VIII MỤC LỤC IX

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2

5 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 2

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 5

1.1 TỔNG QUAN LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN Ở TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2.Tại Việt Nam 7

1.2 KHÁI NIỆM DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 10

1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 13

1.4 PHÂN LOẠI DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 15

1.5 ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 17

1.6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KỸ THUẬT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 18

1.6.1 Phương pháp thuyết trình 18

1.6.2 Phương pháp đàm thoại 19

1.6.3 Phương pháp thảo luận nhóm 21

Trang 6

1.6.4 Kĩ thuật động não (Công não) 22

1.6.5 Sơ đồ tư duy (Lược đồ tư duy) 23

1.7 KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 24

1.8 TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO DỰ ÁN 28

1.9 ĐẶC ĐIỂM VỀ TÂM LÍ CỦA HỌC SINH PTTH 32

1.9.1 Đặc điểm về sự phát triển thể chất 32

1.9.2 Điều kiện sống và hoạt động 33

1.9.3 Đặc điểm hoạt động nhận thức và sự phát triển trí tuệ 34

1.9.4 Những đặc điểm nhân cách chủ yếu của học sinh PTTH 34

1.10 ĐỊNH HƯỚNG KHOA HỌC CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN CÔNG NGHỆ 1O TẠI TRƯỜNG PTTH BÌNH AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG36 1.10.1 Tính khoa học 36

1.10.2 Tính thực tiễn 36

1.10.3 Phát triển toàn diện học sinh 37

1.10.4 Kết hợp lý thuyết và thực hành 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG PTTH BÌNH AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 40

2.1 MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 40

2.1.1 Vị trí địa lý tỉnh Bình Dương 40

2.1.2 Vị trí địa lý thị xã Dĩ An, Bình Dương 41

2.1.3 Giáo dục - đào tạo 41

2.1.4 Tổng quan về trường PTTH Bình An 42

2.2 GIỚI THIỆU MÔN CÔNG NGHỆ 10 44

2.2.1.Mục tiêu môn học 44

2.2.2 Vai trò, nhiệm vụ của môn Công nghệ lớp 10 ở trường phổ thông hiện nay 44

2.2.3 Giới thiệu chương trình khung môn Công nghệ lớp 10 45

2.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG PTTH BÌNH AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG 48

2.3.1.Thực trạng hoạt động học môn Công nghệ 10 của học sinh trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương 50

Trang 7

2.3.2 Thực trạng hoạt động dạy môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An tỉnh

Bình Dương 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 63

CHƯƠNG 3 TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG PTTH BÌNH AN TỈNH BÌNH DƯƠNG 64

3.1 CÂU TRÚC NỘI DUNG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG PTTH BÌNH AN TỈNH BÌNH DƯƠNG 64

3.1.1 Nguyên tắc cấu trúc nội dung môn học Công nghệ 10 theo dự án 64

3.1.2 Nội dung cấu trúc chương trình môn Công nghệ 10 64

3.2 TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MÔN CÔNG NGHỆ 10 TẠI TRƯỜNG PTTH BÌNH AN TỈNH BÌNH DƯƠNG 68

3.2.1 Đề xuất phương án tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương 68

3.2.2 Thiết kế giáo án để tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương 73

3.2.3 Tiêu chí đánh giá 83

3.3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84

3.3.1 Mục đích thực nghiệm, đối tượng và nội dung thực nghiệm 84

3.3.2.Kết quả thực nghiệm 84

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100

KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 101

1.KẾT LUẬN 101

2 KIẾN NGHỊ 102

3 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với sự biến đổi của khoa học công nghệ, thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức với hàm lượng tri thức cao đòi hỏi ngành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ về mọi mặt, trong đó đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học và phương tiện dạy học Nghị quyết TW 2 khóa

VIII đã chỉ rõ“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước

áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”[10, tr.41]

Định hướng trên đây đã được nêu rõ trong Luật giáo dục điều 26 mục 2 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng t ạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [21]

Chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước là nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất [21, tr.8] Mục tiêu dạy học không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn đào tạo ra con người có kỹ năng đáp ứng nhu cầu của xã hội, học tập suốt đời, và các kỹ năng thế kỷ 21 của thế giới

Bên cạnh đó,“Việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường PTTH phải nhìn nhận vấn đề một cách rộng rãi và linh hoạt theo 3 hướng: phát triển năng lực nội sinh của người học, đổi mới quan hệ thầy trò, đưa công nghệ hiện đại vào nhà trường” [15] Sự chuyển biến này còn kéo theo sự thay đổi và đòi hỏi phải áp dụng các phương pháp dạy học mới như: dạy học nêu và giải quyết vấn đề, học tập theo kinh nghiệm, dạy học theo theo dự án, dạy học theo tình huống… mà trước đây ít được quan tâm [16, tr.56]

Mỗi phương pháp dạy học kể trên đều có những đặc điểm, thế mạnh riêng nên không thể cho phương pháp nào là nổi trội hơn cả Vì vậy, việc lựa chọn và vận dụng linh hoạt các phương pháp này vào thực tiễn dạy học là rất cần thiết Các phương pháp dạy học này không chỉ góp phần hình thành năng lực giải quyết vấn đề ở người

Trang 9

học mà còn là cơ sở để hình thành năng lực tư duy, sáng tạo, năng lực làm việc nhóm, mở rộng những tri thức lĩnh hội trong quá trình học tập ở người học [50, tr.18] Điều này được khẳng định qua nhiều nghiên cứu và ứng dụng của Tổ chức Giáo dục George Lucas, Viện nghiên cứu Giáo dục Buck, … chương trình dạy học

dự án của Intel [11], Microsoft và dự án Việt – Bỉ tại Việt Nam [7]

Thực tế dạy học môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương, bên cạnh việc sử dụng phương pháp truyền thống là chủ yếu có một số giáo viên đã sử dụng phương pháp dạy học tích cực như đàm thoại, thảo luận song không thường xuyên Mặt khác, trong quá trình dạy học, giáo viên ít sử dụng các nhiệm vụ học tập phức hợp, vận dụng nội dung kiến thức liên môn giải quyết vấn đề trong thực

tế Vì vậy, với thực tế dạy môn Công nghệ nói trên khiến một bộ phận không nhỏ học sinh chưa tích cực chủ động tự giác trong học tập cũng như hình thành các thái

độ, kỹ năng, năng lực giải quyết vấn đề

Từ những lý do trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy - học môn Công

nghệ 10 tại Trường PTTH Bình An việc nghiên cứu đề tài: “Dạy học theo dự án môn Công Nghệ 10 tại Trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương” là cần thiết

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung giải quyết các nhiêm vụ sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học theo dự án

- Nghiên cứu thực trạng dạy học môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

- Tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Dạy học theo dự án

5 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Quá trình dạy học môn Công Nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

Trang 10

6 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Thực nghiệm sư phạm dạy học theo dự án cho học sinh khối 10: Lớp 10C1, 10C2 đối chứng và lớp 10C3, 10C4 thực nghiệm Các nội dung tiến hành thực nghiệm gồm:

- Xác định sức sống của hạt

- Pha chế dung dịch Boocđô phòng trừ nấm hại

- Làm sữa chua

- Xây dựng kế hoạch kinh doanh

7 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

Hiện nay, môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương chủ yếu được giảng dạy bằng phương pháp thuyết trình một chiều nên học sinh chưa có được các kỹ năng, năng lực giải quyết vấn đề Vì vậy, nếu vận dụng cách thức tổ chức dạy theo dự án môn Công nghệ 10 như người nghiên cứu đã đề xuất thì học sinh sẽ hình thành các kỹ năng tự giải quyết vấn đề, thuyết trình, tổng hợp và xử lý thông tin, làm việc nhóm, tư duy, sáng tạo của người học

8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài, người nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu liên quan tới đổi mới phương pháp dạy học, dạy học tích cực, dạy học theo dự án đã được xuất bản trên các ấn phẩm trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

8.2.1 Phương pháp quan sát

Quan sát hoạt động của giáo viên và học sinh trong giờ học môn Công nghệ 10

để tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong giờ học theo phương pháp truyền thống và dạy học theo dự án [Phụ lục 5]

8.2.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Khảo sát bằng phiếu hỏi nhằm tìm hiểu thực trạng và kết quả thực nghiệm môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương [Phụ lục 1,2,3]

Trang 11

8.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý về hoạt động dạy và học môn Công Nghệ 10 nhằm tìm hiểu sâu hơn thực trạng dạy và học môn Công nghệ 10 tại trường PPTH Bình An, tỉnh Bình Dương [Phụ lục 4]

8.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm dạy học môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An để kiểm nghiệm hiệu quả ban đầu của việc sử dụng cách thức tổ chức dạy học theo dự án mà người nghiên cứu đã đề xuất

8.3 Phương pháp thống kê toán học

- Phân tích kết quả thực nghiệm: phương pháp thống kê toán học được sử dụng để

xử lý kết quả thu được từ khảo sát thực trạng dạy học và kết quả dạy học theo dự

án môn Công nghệ 10 theo cách thức tổ chức

- Kiểm nghiệm giả thiết nghiên cứu: để khẳng định kết quả bước đầu của việc tổ

chức dạy học theo dự án môn Công Nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

9 NHỮNG GIÁ TRỊ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài góp phần làm phong phú hơn cách thức tổ chức dạy học theo dự án nói chung và việc vận dụng cách thức tổ chức dạy học theo dự án vào môn Công nghệ

10 nói riêng tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

10 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Luận văn gồm có các phần sau:

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án

Chương 2: Thực trạng dạy học môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

Chương 3: Tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường PTTH

Bình An, tỉnh Bình Dương

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 12

“Phương pháp dự án” và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống [55, tr.139] Theo Michael Koll, sau khi nghiên cứu trên 53 tác giả với 73 tài liệu tham khảo khoa học được công bố từ những năm 1880 đến 1995 trên các lĩnh vực nghệ thuật, kiến trúc, kĩ thuật, y học, giáo dục, công nghệ thông tin…lịch sử phát triển của phương pháp pháp dạy học theo dự án có thể được chia thành 5 giai đoạn

chính như sau [56]:

- Giai đoạn 1: Năm 1590-1765: Sự khởi đầu của dạy học dự án tại các học viện

kiến trúc ở Roma và Paris Vào thế kỉ 16, những kiến trúc sư người Ý đã làm việc chuyên nghiệp xu hướng nghề nghiệp của họ bằng cách thành lập Học viện nghệ thuật – The Accademia di San Luca – Rome dưới sự bảo trợ của Giáo hoàng Gregory XIII năm 1577 Cuộc thi đầu tiên của Học viện được tổ chức vào năm 1656 Cấu trúc của các cuộc thi vào Học viện tương đương với kì thi kiến trúc Việc thiết kế trong các cuộc thi vào Học viện chỉ là những tình huống giả định Sau mô hình của Ý, Viện hàn lâm kiến trúc Hoàng gia cũng được thành lập ở Pháp năm 1761 Với sự giới thiệu của Prix d’Emulatiom, việc đào tạo đã tập trung vào học tập bằng các dự án Sinh viên phải hoàn thành một vài

dự án cấp tháng để được trao tặng huân chương hoặc được công nhận kết quả

Sự công nhận này hết sức cần thiết để học tiếp thạc sĩ và được trao tặng danh hiệu kiến trúc sư hàn lâm Với Prix d’Emulatiom năm 1763, sự phát triển ý

tưởng dự án thành phương pháp học tập và giáo dục hàn lâm được hoàn thiện

Trang 13

- Giai đoạn 2: Năm 1765-1880: Dạy học theo dự án đã trở thành một phương

pháp dạy học được áp dụng thường xuyên, bắt đầu ở các trường kĩ thuật của Pháp, Đức và Thụy Sĩ Năm 1865 được William B.Rogers, Đại học Kĩ thuật

Massachuserrs giới thiệu ở Mỹ

- Giai đoạn 3: Năm 1880-1915: Calvin M.Woodward, hiệu trưởng trường Đại

học Bách khoa O’Fallon (thuộc Đại học Washington) đã đưa phương pháp dạy học theo dự án vào trường dạy nghề Dạy học theo dự án, sinh viên không chỉ thiết kế mà trực tiếp tạo ra các sản phẩm Dần dần, cách này lan rộng ra các trường nghề (theo Charles R.Richards), rồi trở thành một phong trào cải cách giáo dục (theo David.S Snedden, Rufus W.Stimson) áp dụng vào các ngành khoa học nói chung (theo John F.Woodhull) Những quan điểm triết học giáo dục và lí thuyết nhận thức của J.Dewey đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho phương pháp dạy học theo dự án của các nhà sư phạm

Mỹ đầu thế kỉ XX

- Giai đoạn 4: Năm 1915-1965: William Heard Kilpatrick đề cập tới dạy học là

“hành động có mục đích bằng cả trái tim”- đề cao ý nghĩa “mục đích” của dạy học dự án: cho học sinh tự do hành động nhằm phát triển sự độc lập, tư duy phê phán và năng lực hành động [53,tr 319-334] Tư tưởng này của Kilpatrick đã giảm dần mức độ ảnh hưởng của dạy học theo dự án ở Mỹ nhưng lại nhận được

sự đón nhận ở Châu Âu, Ấn Độ và Cộng hòa liêng bang Xô-viết

- Giai đoạn 5: Từ năm 1965 đến nay: Phương pháp dạy học của Kilpatrick hiện

được áp dụng như phương pháp dạy học tích cực ở Đức, Thụy Sĩ và các nước Châu Âu khác Dưới ảnh hưởng của nền giáo dục tiểu học Anh, các nhà giáo dục Mỹ cố gắng xác định lại phương pháp dạy học theo dự án, nhìn nhận nó như một phương pháp dạy học phụ trợ quan trọng bên cạnh chương trình giảng dạy hướng vào chủ đề, hướng vào giáo viên (teacher-orented, subject-centered) truyền thống Có thể coi đây là giai đoạn tái thiết dạy học theo dự án và làn sóng thứ ba của việc dạy học theo dự án có tính chất quốc tế phổ biến trên toàn cầu

Ngày nay, dạy học theo dự án được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là các nước phương Tây Dạy học theo dự án là một trong những phương pháp dạy học hướng vào người học, tích cực hóa người học với các

Trang 14

công trình nghiên cứu đã được công bố của các nhà nghiên cứu sau: Dewey, J [51], Richards, C.R [58], Kilpatrick, W H [53], Pearl Chen, Huei-Lien [54], Michael Knoll [55], John W Thomas [56], Susan J Wolft, Ed D [57], Regie Stites [59]

Tất cả các công trình nghiên cứu trên đều đề cập tới cơ sở lý luận của dạy học theo dự án, bản chất quá trình thực hiện dạy học theo dự án ở nhiều góc độ khác

nhau, trong các môn học khác nhau

Như vậy, trên thế giới dạy học theo dự án đã được bắt đầu từ 300 năm trước và

đã có những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành, phương thức áp dụng, mức độ phổ biến….từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ châu lục này sang châu lục khác Ngày nay, phương pháp dạy học theo dự án được áp dụng không chỉ ở các nước có nền giáo dục phát triển mạnh Vì giáo dục là quốc sách hàng đầu

để tạo nguồn nhân lực cho đất nước phát triển vững mạnh và đi lên nên việc đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới cũng rất được chú trọng Dạy học theo dự án giúp các học sinh tích cực, chủ động, kích thích tư duy bậc cao, tư duy phê phán, giúp các học sinh dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống

1.1.2.Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, dạy học dự án đưa vào môi trường học tập của các trường Cao đẳng và Đại học thông qua các đồ án tốt nghiệp của các ngành học Hiện nay, các hình thức bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận trong các trường Đại học nói chung và trong đào tạo giáo viên đã rất quen thuộc với sinh viên Trong các hình thức này, sinh viên tự lực thực hiện những nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo viên

Trong giáo dục phổ thông, vào những năm 1960-1980 ở các trường phổ thông cũng có những hoạt động gần gũi với dạy học theo dự án Đặc biệt trong những năm

1980, cùng với sự phát triển của phong trào hướng nghiệp, nhiều trường đã thực hiện các dự án như dự án trồng cây, dự án phát triển vườn trường Tuy nhiên cho đến nay, dạy học theo dự án vẫn chưa được sử dụng như một phương pháp dạy học phổ biến ở mọi cấp học, bậc học

Một số năm gần đây, với ưu điểm vượt trội, dạy học theo dự án đang được nghiên cứu rộng rãi và được đề cập nhiều hơn trong các tài liệu Tiếng Việt với những tên gọi khác nhau: đề án, dạy học theo dự án, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp dự án Với sự tăng cường hợp tác quốc tế, dạy học theo dự án đã được

Trang 15

giới thiệu và sử dụng ở Việt Nam thông qua các dự án đào tạo bồi dưỡng giáo viên như các chương trình: “Dạy học hướng đến tương lai”, chương trình này được sự hỗ trợ của Intel nhằm giúp các giáo viên khối phổ thông trở thành những nhà sư phạm hiệu quả thông qua việc hướng dẫn họ cách thức đưa công nghệ vào bài học, cũng như thúc đẩy kỹ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán và kỹ năng hợp tác đối với học sinh

Dạy học dự án của Microsoft đã ký kết với Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam giai đoạn một 2005 – 2009 và giai đoạn hai vào ngày 18 tháng 3 năm 2010 nhằm đẩy mạnh việc tích hợp công nghệ thông tin vào lĩnh vực giáo dục của Việt Nam, đồng thời hỗ trợ giáo viên và học sinh Việt Nam tiếp cận và khai thác hiệu quả những nguồn lực công nghệ thông tin mới nhất nhằm phát huy tối đa khả năng

Chương trình dạy học theo dự án của Việt – Bỉ triển khai bắt đầu từ niên học 2007-2008 đã tập huấn cho giảng viên, giáo viên cốt cán của một số tỉnh miền núi phía Bắc [7]

Ngày 23-12-2010 Sở Giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức khai giảng lớp tập huấn trực tuyến khóa dạy học theo dự án Intel teach elements (ITE) cho hàng trăm giáo viên tiểu học và THCS trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh [11]

Cùng với việc nghiên cứu lí luận về dạy học theo dự án, hiện nay có nhiều tác giả đề cập đến việc tổ chức bồi dưỡng phương pháp dạy học theo dự án trong một số bài báo, sách như là Nguyễn Văn Cường [8-9], Đỗ Hương Trà [13-15], Lê Huỳnh Vy [22], Nguyễn Thị Diệu Thảo [30-32], Nguyễn Lăng Bình, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng [13], Nguyễn Thị Hương [28], Trần Văn Thành [45], Nguyễn Thị Phê [34], Nguyễn Thị Phương Thanh [33] Có thể cụ thể một số công trình nghiên cứu sau:

Trên cơ sơ nghiên cứu lý luận và phương pháp dạy học theo dự án cho giáo viên môn Công nghệ phần kinh tế gia đình của Nguyễn Thị Diệu Thảo [32, tr.22] (2007), tác giả Nguyễn Văn Cường - Nguyễn Thị Diệu Thảo đã đưa ra một số phương pháp có chức năng kép trong đào tạo giáo viên [29, tr.15] ,…Trong các công trình nghiên cứu này các tác giả đều cho rằng dạy học theo dự án là phương pháp hay hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào

Trang 16

người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội…

Cùng với hướng nghiên cứu này tác giả Lê Thị Phương Hoa [23] đã thực hiện

tổ chức dạy học theo dự án một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” sách giáo khoa Vật lý 10 nâng cao Đề tài đã làm rõ được cở sở lý luận của dạy học hiện đại trong đó có dạy học dự án nhằm phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập Tác giả đã nghiên cứu soạn thảo tiến trình tổ chức dạy học dự án thông qua tổ chức câu lạc bộ vật lí trong chương “Động lực học chất điểm” nhằm đảm bảo cho học sinh tham gia tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của bản thân, vận dụng các kiến thức lý thuyết vào thực tiễn Quá trình thực nghiệm của tác giả đã chứng tỏ tính khả thi của tiến trình soạn thảo.Với việc tổ chức hoạt động dạy học như thiết kế không những phát huy được tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của người học mà còn rèn luyện cho người học những kỹ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá…) Đặc biệt, học sinh biết phân công công việc, biết cách hợp tác trong công việc, biết tự xây kế hoạch thực hiện các dự án, biết cách đánh giá và tự đánh giá Tiến trình này cũng có thể làm tài liệu cho giáo viên phổ thông trung học khi dạy nội dung kiến thức chương “ Động lực học chất điểm” Cũng nghiên cứu về phương pháp dạy học theo dự án, tác giả Trương Phước Tân [46] đã vận dụng phương pháp dạy học theo dự án vào dạy học môn Toán 12, tác giả Nguyễn Thị Phê [34] vận dụng dạy học theo dự án vào môn hoa trang trí cho sinh viên ngành sư phạm Trong đề tài này, hai tác giả đã nêu được hiệu quả do phương pháp dự án mang lại cho học sinh là vô cùng to lớn, đặc biệt việc hình thành cho người học các “kĩ năng mềm” – những kĩ năng thật sự cần thiết cho ngưỡng cửa vào đời

Trong luận án tiến sĩ Giáo dục học của Nguyễn Thị Hồng Gấm [40], Nguyễn Tuyết Nga - Nguyễn Thị Thanh Trà [42] đã đề cập tới dạy học theo dự án như một trong các biện pháp hữu hiệu nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho sinh viên và học sinh

Như vậy, trong quá trình đổi mới các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học, nhiều tác giả đã vận dụng phương pháp dạy học theo dự án vào các môn học trong các cấp học và bậc học khác nhau Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, việc nghiên cứu và vận dụng dạy học theo dự án trong môn Công

Trang 17

nghệ nói chung và môn Công nghệ 10 nói riêng chưa được quan tâm đúng mức, các nghiên cứu chưa đề cập đến cách thức tổ chức dạy học và công cụ đánh giá trong việc áp dụng phương pháp dạy học này một cách hiệu quả Vì vậy, người nghiên cứu

quyết định lựa chọn đề tài “Dạy học theo dự án môn Công Nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương”

1.2 KHÁI NIỆM DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

Dạy học theo dự án đã trở thành một phương pháp dạy học được áp dụng thường xuyên ở các bậc học cũng như ở các môn học khác nhau Do đó, có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu tiến hành tìm hiểu khái niệm “dự án” và “dạy học theo dự án” như sau:

Trong từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê, “Dự án” là một danh từ nghĩa

là bản dự thảo về một văn kiện về luật pháp hay về một kế hoạch cụ thể nào đó [19] Trong tiếng Anh thuật ngữ “Dự án” là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La Tinh

là “Proicere” có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế Khái niệm “Dự án” còn là một loại đề tài có mục đích ứng dụng xác định, cụ thể về kinh tế, xã hội (đáp ứng một nhu cầu đã được nêu ra, chịu sự ràng buộc của thời hạn, nguồn lực, phải thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn [56] Dự án là bất cứ nỗ lực nào mang tính duy nhất nhằm thực hiện một mục tiêu, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc xác định [36]

Vậy: Dự án là tập hợp các hoạt động có liên quan đến với nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian, nguồn lực và tài chính giới hạn để đạt mục tiêu rõ ràng làm thỏa mãn nhu cầu đối tượng mà dự án hướng đến [35]

Từ đầu thế kỷ 20, khi các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống Dạy học theo dự án ban đầu chỉ được áp dụng giảng dạy môn kỹ thuật ở các trường đại học và cao đẳng, dần dần được sử dụng rộng rãi trong các môn học khác ở trường phổ thông và trở nên phổ biến, nhất là ở các nước phát triển Chính vì vậy mà cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về phương pháp dạy học theo dự án Theo người nghiên cứu có thể khái quát hai nhóm khái niệm chính về dạy học theo dự án

như sau:

Trang 18

Thứ nhất: Khái niệm dạy học theo dự án theo nghĩa rộng nhấn mạnh tính tự lực

cao của học sinh Hoạt động thực hành không được coi là bắt buộc

Với khái niệm này thì theo các nhà giáo dục Mỹ, dạy học theo dự án là quá trình mô phỏng và giải quyết các vấn đề thực tế, trong đó học sinh tự lựa chọn đề tài

và thực hiện các dự án học tập dựa trên sở thích và khả năng của bản thân Các dự án học tập không chỉ giúp các học sinh học tốt bài trên lớp mà còn mở rộng ra ngoài phạm vi lớp học khi các em được phát huy trí thông minh để hoàn thành dự án

thử thách trong cuộc sống [8]

Theo cục Giáo dục Hồng Kông, dạy học theo dự án là một hoạt động tìm hiểu sâu về một chủ đề cụ thể với mục tiêu, tạo cơ hội để học sinh thực hiện nghiên cứu vấn đề thông qua việc kết nối các thông tin, phối hợp nhiều kỹ năng giá trị và thái độ nhằm xây dựng kiến thức và phát triển khả năng và thái độ học tập suốt đời Các chủ

đề trong học theo dự án chủ yếu liên quan đến việc học và đời sống hàng ngày của

học sinh, có thể nằm trong các môn học tích hợp hoặc nằm ngoài chương trình [8]

Theo dự án Việt - Bỉ, dạy học theo dự án là một chuỗi các hoạt động dựa trên động cơ bên trong của học sinh nhằm khám phá và phát hiện một phần của thực tế (các chuỗi hoạt động thực tế: thực hiện nghiên cứu; khám phá các ý tưởng theo sở thích; tìm hiểu và xây dựng kiến thức; học liên môn; giải quyết các vấn đề; cộng tác với các thành viên trong nhóm; giao tiếp; phát triển các kỹ năng, thái độ và sự

đam mê) [7]

Trang 19

Thứ hai: Khái niệm dạy học theo dự án theo nghĩa hẹp hơn yêu cầu dạy học

theo dự án gắn với hoạt động thực hành và có tạo ra các sản phẩm hành động của

dự án

Với khái niệm này theo Intel (Mỹ), dạy học theo dự án là một hình thức dạy học Trong đó, học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được [32] Dạy học dự án là việc học tập thông qua các dự án, thông qua nhiệm vụ phức tạp dựa trên các câu hỏi và vấn đề thách thức, trong đó người học đóng vai trò là người thiết kế, giải quyết vấn đề, đưa ra các quyết định, hay thực hiện các hoạt động tham vấn; Với dạy học dự án tạo cho người học có cơ hội làm việc độc lập trong thời gian dài, hoàn thành sản phẩm hay bài thuyết trình của dự án (Jones, Rasmussen, & Moffitt, 1997; Thomas, Mergendoller, & Michaelson, 1999)

Dạy học theo dự án là một phương pháp học lấy người học làm trung tâm, phát triển việc hoạt động học tập và đào sâu kiến thức bằng cách cho người học tham gia vào giải quyết các vấn đề của thế giới thực trong môi trường cộng tác Trong đó, giáo viên đóng vai trò như người hướng dẫn và người học là người tự xây dựng kiến thức thông qua dự án [27, tr.42]

Dạy học dự án sinh viên (hoặc từng nhóm) được giao nhiệm vụ tổng hợp từ xác định mục tiêu, lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra và tự điều chỉnh quá trình thực hiện, đánh giá kết quả sản phẩm ….của một công việc nào đó theo nhiệm vụ môn học [39, tr.106]

Dạy học dự án là một phương pháp giảng dạy mà người học tham gia vào học kiến thức và kỹ năng thông qua nhu cầu và tiến trình được cấu trúc từ câu xác thực, phức hợp và các nhiệm vụ và sản phẩm được thiết kế cẩn thận [49, tr.4]

Dạy học dự án là một kỹ thuật giảng dạy biến nội dung dạy học thành các dạng vấn đề, kích thích người học xây dựng kiến thức và tư duy phê phán [60, tr.348] Trên cơ sở phân tích các khái niệm về dạy học theo dự án, theo người nghiên

cứu quan niệm dạy học theo dự án là một phương pháp dạy học, trong đó người học

thực hiện nhiệm vụ học tập phức hợp theo một quy trình đã xác định, nội dung học tập gắn liền với thực tiễn, tự lực lập kế hoạch, hoạt động theo nhóm, thực hiện và đánh giá kết quả dưới sự cố vấn, giám sát của người dạy Kết quả dự án là những sản phẩm có

Trang 20

thể giới thiệu được.Vậy với cách hiểu như trên, thì dạy học theo dự án thuộc phạm trù phương pháp dạy học trong đó có nhiều phương pháp dạy học cụ thể khác nhau được

sử dụng trong dự án học tập

1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

Phương pháp dạy học theo dự án góp phần đảm bảo, cập nhật hóa mục tiêu kiến thức hướng tới các vấn đề thực tiễn, gắn kết nội dung bài học với thực tế, từ đó vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo hơn Thông qua việc thực hiện các dự án sẽ góp phần hình thành rèn luyện kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, kết hợp giữa lí thuyết và thực hành là một trong những đặc trưng cơ bản của phương pháp dự án Do đó, khi thực hiện dự án các kĩ năng thực hành sẽ thường xuyên được vận dụng Với việc tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, học sinh rèn luyện và phát triển các kĩ năng quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp đánh giá từ các nguồn thông tin, tư liệu thu thập được Qua đó, giúp học sinh nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng làm việc độc lập để hình thành kiến thức và tạo ra sản phẩm Bên cạnh, việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án nhằm nâng cao kiến thức và kĩ năng của học sinh thì hiệu quả của phương pháp này giúp cho học sinh nâng cao về thái độ cảm thấy yêu thích môn học hơn, nhận thấy những giá trị của hoạt động nhóm, chấp nhận những quan điểm khác nhau, phát triển tư duy phê phán từ đó không ngừng học tập Để hình thành được kỹ năng trên, đầu thế kỷ XX các nhà sư phạm Mỹ khi xác lập cơ sở lý thuyết cho phương pháp dạy học theo dự án đã nêu ra ba đặc điểm cốt lõi của dạy học theo

và có thể mang lại những tác động xã hội tích cực

Ví dụ: Trong môn Công Nghệ 10 Bài 6:“Ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế

bào trong nhân giống cây trồng nông, lâm nghiệp” nhờ ứng dụng của khoa học kĩ

thuật mới, các nhà tạo giống đã đề ra phương pháp tạo và nhân giống mới vừa nhanh,

Trang 21

tốn ít vật liệu cũng như diện tích Xuất phát từ thực tiễn đó, giáo viên sẽ thiết kế dự

án học tập “Nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống cây trồng nông, lâm nghiệp” Sau

khi thực hiện dự án học tập này, học sinh sẽ có được kỹ năng thực hiện các bước

trong quy trình nuôi cấy mô tế bào

 Có ý nghĩa thực tiễn xã hội

Các dự án học tập góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống, xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể

mang lại những tác động xã hội tích cực

Ví dụ: Khi học về một số loài sâu bệnh hại cây trồng, các loại thuốc bảo vệ thực

vật…giáo viên có thể cho học sinh đi tham quan một cơ sở sản xuất rau, một vườn trái cây để tìm hiểu về các loài sâu bệnh đó và cách sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật để phòng tránh chúng như thế nào Đồng thời, trong quá trình này, học sinh cũng có thể thấy được thực tiễn sản xuất của người dân ra sao Hoặc là khi học về quy trình sản xuất phân bón, giáo viên có thể cho học sinh tham quan một nhà máy

sản xuất phân bón để thấy được trực tiếp quy trình sản xuất đó diễn ra như thế nào

 Định hướng hứng thú người học

Trong dạy học theo dự án, người học tham gia tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện Ở đây, giáo viên chủ yếu

đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn và giúp đỡ người học

 Tính phức hợp

Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc môn học khác nhau nhằm giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp

Ví dụ: Đối với nội dung môn Công nghệ 10 có sự kết hợp ở nhiều lĩnh vực khác

nhau như nông- lâm- ngư nghiệp, dịch vụ, kinh doanh…ngoài ra nội dung môn Công

nghệ 10 còn liên quan tới môn Sinh học và Hóa học

 Định hướng hành động

Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành Thông qua đó, người học có thể tự kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng

hành động, kinh nghiệm thực tiễn

Trang 22

 Tính tự lực cao của người học

Trong dạy học theo dự án, người học đóng vai trò chủ đạo, họ tự lên kế hoạch cho mình, tự sáng tạo Giáo viên chỉ đóng vai trò người hướng dẫn và chỉ đường,

Như vậy, trong phương pháp dạy học theo dự án, giáo viên là người hướng dẫn cho học sinh tìm ra tri thức của mình và tạo cơ hội cho học sinh tham gia tích cực vào hoạt động nghiên cứu, sáng tạo Vì vậy, trong đề tài này người nghiên cứu sẽ tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 dựa vào các đặc điểm để phù hợp với môn học, lứa tuổi học sinh PTTH cũng như điều kiện học tập của nhà trường: định hướng hứng thú người học từ đó sẽ kích thích sự tìm hiểu của học sinh; định hướng hành động để giúp học sinh tìm ra tri thức của mình ; tính tự lực cao của người học Chính điều này giúp cho học sinh hình thành nhiều kĩ năng tìm kiếm thông tin, kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, khả năng tư duy, sáng tạo, tự đọc tài liệu, phân tích, tổng hợp tài liệu,…cộng tác làm việc để cho ra đời sản phẩm dự án - một sự sáng tạo của

cả tập thể

1.4 PHÂN LOẠI DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

Dạy học theo dự án có thể được phân loại theo nhiều phương diện và tiêu chí khác nhau Dựa vào các tiêu chí khác nhau, dạy học theo dự án được phân loại

như sau [9, tr.92]:

Trang 23

 Theo chuyên môn

- Dự án trong môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học

- Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm trong nhiều môn học khác nhau

- Dự án ngoài chuyên môn: là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các

môn học

 Theo sự tham gia của người học

- Dự án cho nhóm học sinh, dự án cá nhân, dự án toàn trường, dự án dành cho

một khối lớp, dự án cho một lớp học

 Theo sự tham gia của giáo viên

- Dự án dưới sự hướng dẫn của một giáo viên, dự án với sự cộng tác hướng

dẫn của nhiều giáo viên

 Theo quỹ thời gian

Theo K.Frey, dạy học theo dự án được phân thành các loại như sau [52, tr 20]:

- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học

- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”) nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học

- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần, có thể

kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)

 Theo nhiệm vụ:

Theo H.J.Apel và M.Knoll đã khái quát các dự án theo các dạng sau (Apel H.J, Knoll, M: Aus Projekten Lernen, Muenchen, 2001) [49, tr.99]:

- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trang đối tượng

- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình

- Dự án thực hành (dự án kiến tạo sản phẩm): trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác

- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên

Các dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dự án theo đặc thù riêng Đối với môn Công nghệ 10, ở mỗi dạng kiến thức khác nhau cần có sự lựa chọn loại hình dự án cho phù hợp Với các kiến thức lý thuyết có ứng dụng như bài 53: “Xác định kế hoạch kinh doanh” thì dự

Trang 24

án hỗn hợp là thích hợp nhất Với các dạng kiến thức có thể tạo ra sản phẩm như bài 47: “Thực hành - Làm sữa chua” thì dự án thực hành là thích hợp nhất Do đó, trong đề tài này người nghiên cứu xây dựng dự án theo cách phân loại dự án thực hành

và dự án hỗn hợp Bên cạnh đó, khi áp dụng phương pháp dạy học theo dự án cho việc dạy học nói chung, tùy theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể về quỹ thời gian, địa điểm, tình hình đặc điểm lớp học, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường, gia đình học sinh… và cả dự án học sinh lựa chọn mà giáo viên đưa ra các kế hoạch thực hiện

1.5 ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

Dạy học theo dự án mang lại rất nhiều lợi ích cho cả giáo viên và học sinh Đối với học sinh, dạy học theo dự án tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập, tự chủ phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh, biến quá trình truyền đạt kiến thức ở người dạy thành quá trình tự xây dựng kiến thức ở người học Bên cạnh đó, dạy học theo dự án giúp hình thành các năng lực cần thiết cho người học, kĩ năng học tập hợp tác, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng học tập suốt đời, kiến thức thu được mang tính chiều sâu vì thông qua điều tra, tìm hiểu người học sẽ hiểu rõ

và vận dụng được các kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn Vì vậy, dạy học theo dự án sẽ kích thích động cơ và hứng thú học tập của người học, điều

đó giúp cho người học có thể vượt qua được những khó khăn trong khi giải quyết các vấn đề, đặc biệt là những vấn đề mang tính phức hợp.Từ đó, học sinh có cơ hội phát triển những kĩ năng phức hợp như tư duy bậc cao, giải quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp Ngoài ra, trong quá trình thực hiện dự án, học sinh đã tham gia vào những hoạt động thực tế có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học Khi đó, học sinh có thể sử dụng kiến thức của những môn học khác nhau để giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực

tự đánh giá

Đối với giáo viên, dạy học theo dự án không chỉ tạo ra các cơ hội xây dựng các mối quan hệ với học sinh mà còn nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp Ngoài ra, giáo viên có thể bồi dưỡng kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin và các phương tiện kĩ thuật hiện đại trong dạy học Bên cạnh đó, khi áp dụng phương pháp dạy học theo dự án, giáo viên luôn có ý thức tìm hiểu và gắn kết lý thuyết với thực tiễn Từ đó, sẽ tạo được bộ tư liệu dạy học ngày càng đa dạng, sâu sắc và giáo viên cảm thấy yêu nghề hơn

Trang 25

Ngoài những ưu điểm trên thì phương pháp dạy học theo dự án cũng có những hạn chế và thách thức nhất định Dạy học theo dự án đòi hỏi người dạy phải có kiến thức sâu, rộng chuyên ngành và kiến thức liên quan Do đó, sẽ gây cho nhiều giáo viên khó khăn trong việc thực hiện chương trình giảng dạy Trong khi đó, thời gian hoàn thành cho một dự án thường kéo dài vì vậy rất khó áp dụng cho một tiết học bình thường Khi dạy học theo dự án đòi hỏi phải sử dụng kiến thức liên ngành Vì vậy, không phải môn nào, nội dung gì cũng có thể áp dụng được dạy học theo dự án Ngoài

ra, phương pháp dạy học theo dự án không thích hợp trong việc truyền thụ những tri thức lí thuyết có tính hệ thống Đối với những trường không có đủ phương tiện dạy học cũng như cơ sở vật chất còn hạn chế thì phương pháp dạy học theo dự án không đạt hiệu quả cao Bên cạnh đó, có nhiều học sinh đã quen với phương pháp dạy học truyền thống nên không quen với việc chủ động định hướng quá trình học tập vì thế cũng gặp nhiều khó khăn đối với việc vận dụng vào môn Công nghệ 10

1.6 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ KỸ THUẬT ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

1.6.1 Phương pháp thuyết trình

Có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm về phương pháp thuyết trình Trong đề

tài này, người nghiên cứu trình bày khái niệm phương pháp thuyết trình theo tác giả Phan Trọng Ngọ: “phương pháp thuyết trình là phương pháp mà giáo viên sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập, người học tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lý chúng tùy

theo tính chủ thể của người học và các yêu cầu của quá trình dạy học” [25, tr.187]

Phương pháp này thường được sử dụng vì dễ tổ chức, có thể trình bày cho nhiều người cùng một lúc, khả năng truyền đạt và bao quát thông tin nhanh chóng Bên cạnh đó,

phương pháp thuyết trình cũng có những hạn chế như thông tin truyền đạt chỉ mang

tính một chiều, học sinh thụ động, không chứng tỏ được kiến thức của mình, do đó dễ

bị bão hòa hay quá tải về thông tin

Phương pháp thuyết trình tuy là một phương pháp truyền thống nhưng không thể thiếu trong bất kỳ một mô hình dạy học nào Đối với môn Công nghệ 10, sử dụng phương pháp thuyết trình là cần thiết trong quá trình cung cấp cho học sinh một số khái niệm cơ bản và một số nội dung khó của bài học

Trang 26

Đây là phương pháp được sử dụng ở hầu hết các bài học, tuy nhiên không nên chỉ thuyết trình đơn giản một chiều từ giáo viên đến học sinh mà nên kết hợp vấn đáp,

sử dụng các trang thiết bị hỗ trợ…nhằm làm giảm đi những hạn chế của phương pháp này

1.6.2 Phương pháp đàm thoại

Phương pháp đàm thoại (vấn đáp), là phương pháp được sử dụng sớm và dài lâu trong nhà trường Từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng nổi tiếng như Soocrat, Khổng Tử chính là những người khởi xướng và sử dụng hiệu quả phương pháp này Từ đó cho đến nay, đã có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm về phương pháp đàm thoại Trong phạm vi đề tài, người nghiên cứu sử dụng khái niệm của tác giả Nguyễn Ngọc Quang [41, tr.90]: “phương pháp đàm thoại là phương pháp trong đó giáo viên khéo léo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho học sinh sáng tỏ những vấn đề mới;

tự khai phá những tri thức mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiêm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình dạy học

 Căn cứ vào mục đích sư phạm của phương pháp đàm thoại (vấn đáp) người ta phân biệt: đàm thoại gợi mở, đàm thoại tổng kết, đàm thoại củng cố, đàm thoại

kiểm tra [41, tr.91]

- Đàm thoại gợi mở: được sử dụng khi dạy bài mới, trong đó giáo viên khéo léo

dùng một hệ thống câu hỏi dẫn học sinh đi tới những kiến thức mới Phương pháp này được phát triển trong thực tiễn nhà trường nước ta, tạo điều kiện cho học sinh phát huy được tính tích cực độc lập nhận thức, phát triển được hứng

thú học tập, khát vọng tìm tòi khoa học

- Đàm thoại củng cố: được sử dụng sau khi giảng bài mới, giúp học sinh nắm

vững tri thức cơ bản nhất, mở rộng, đào sâu những khái niệm, định luật đã lĩnh

hội, khắc phục được những nhận thức sai lệch mơ hồ thiếu chính xác

- Đàm thoại tổng kết: được sử dụng lúc cần giúp học sinh hệ thống hóa, khái quát

hóa kiến thức sau khi học một chương, một phần hay toàn bộ chương trình môn học, phát triển kĩ năng tư duy hệ thống hóa, khái quát hóa, khắc phục tình trạng

nắm tri thức một cách rời rạc

Trang 27

- Đàm thoại kiểm tra: được sử dụng trước, trong hoặc cuối tiết học, cuối chương

hay cuối chương trình, giúp học sinh tự kiểm tra kiến thức của mình, giúp giáo viên đánh giá chất lượng lĩnh hội của học sinh để củng cố, bổ sung kịp thời

 Căn cứ vào tính chất nhận thức của người học, người ta phân biệt đàm thoại tái hiện, đàm thoại giải thích - minh họa, đàm thoại tìm tòi - phát hiện (đàm

thoại ơrixtic)

- Đàm thoại tái hiện: giáo viên đặt ra những câu hỏi chỉ đòi hỏi học sinh nhớ lại

kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ không cần suy luận Đàm thoại tái hiện có nguồn gốc từ lối dạy giáo điều Ngày nay, lí luận dạy học hiện đại

không coi đàm thoại tái hiện là phương pháp có giá trị sư phạm

- Đàm thoại giải thích - minh họa: có mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó

Giáo viên nêu ra một hệ thống các câu hỏi kèm theo những ví dụ minh họa để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ Phương pháp này vẫn còn có thể áp dụng có hiệu quả

trong một số trường hợp như khi giáo viên biểu diễn phương tiện trực quan

- Đàm thoại tìm tòi - phát hiện (đàm thoại ơrixtic): phương pháp đàm thoại này

vận dụng bản chất của phương pháp đàm thoại Soocrat Giáo viên tổ chức cuộc trao đổi ý kiến, kể cả tranh luận giữa giáo viên và cả lớp, có khi giữa giáo viên với học sinh, thông qua đó học sinh nắm được tri thức mới Hệ thống câu hỏi của giáo viên phải mang tính chất nêu vấn đề ơrixtic để buộc học sinh luôn luôn phải cố gắng phát huy trí tuệ, tự lực tìm lời giải đáp Hệ thống câu hỏi - lời giải đáp mang tính chất nêu vấn đề, tạo nên nội dung trí dục chủ yếu của bài học, là nguồn kiến thức và là mẫu mực của cách giải quyết một vấn đề nhận thức Như vậy, thông qua phương pháp này, học sinh không những nắm vững được cả nội dung trí dục mà còn học được cả phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói.Trong phương pháp này, hệ thống câu hỏi của giáo viên giữ vai trò chỉ đạo chỉ có tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp Hệ thống câu hỏi của giáo viên vừa là kim chỉ nam, vừa là bánh lái hướng tư duy của học sinh đi theo một logic hợp lí, nó kích thích tính tìm tòi, trí

tò mò khoa học và sự ham muốn giải đáp của học sinh Vì thế khi kết thúc đàm thoại, học sinh có vẻ như tự lực tìm ra chân lí và chính khía cạnh này đã tạo ra cho người học niềm vui sướng của nhận thức, một tình cảm rất tốt đẹp cần phát triển ở học sinh Đến cuối của quá trình đàm thoại, giáo viên cần khéo léo kết

Trang 28

luận vấn đề dựa vào ngôn ngữ, ý kiến và chính nhận xét của học sinh, tất nhiên

có thêm bớt những ý kiến chính xác và cấu tạo lại kết luận cho chặt chẽ súc tích

và hợp lí Làm như vậy, học sinh càng hứng thú và tự tin vì thấy kết luận của giáo viên vừa nêu rõ ràng có sự đóng góp quan trọng của chính mình

Phương pháp đàm thoại giúp học sinh mạnh dạn phát biểu ý kiến, luyện tập khả năng đối đáp, diễn đạt ý tưởng, tập cho học sinh quan sát, suy nghĩ, phán đoán được nhanh chóng Thông qua phương pháp đàm thoại, giáo viên dễ dàng nắm được tư tưởng và cách suy luận của học sinh, có thể nhận định chính xác và nhanh chóng trình

độ của từng học sinh, từ đó kịp thời uốn nắn những sai sót, giúp học sinh sử dụng đúng thuật ngữ và diễn đạt ý một cách logic Bên cạnh những ưu điểm thì phương pháp đàm thoại cũng có những hạn chế là mất nhiều thời gian khi áp dụng cho cả một lớp học, ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch bài học Có thể biến đàm thoại thành cuộc tranh luận giữa giáo viên và học sinh, giữa các thành viên của lớp với nhau Vì vậy, trong dạy học theo dự án sử dụng phương pháp đám thoại sẽ phát huy được tính cực trong học tập của học sinh

1.6.3 Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp giao cho nhóm nhỏ học sinh có trách nhiệm cùng hoàn tất nội dung học tập Phương pháp này giúp học sinh rèn luyện khả năng giao tiếp, hợp tác, khả năng quản lý và lãnh đạo nhóm [9, tr.67] Phương pháp thảo luận nhóm giúp học sinh phát triển khả năng tìm hiểu, phân tích phán đoán và giải quyết vấn đề Ngoài ra, phương pháp làm việc theo nhóm còn coi trọng việc học tập mang tính độc lập tư duy, khả năng tương tác, khả năng tự khám phá của học sinh Thông qua phương pháp này học sinh phát triển khả năng đánh giá, phân tích, suy luận, khả năng điều chỉnh và áp dụng kiến thức của học sinh vào thực tiễn Bên cạnh

đó phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức với các hình thức:

 Báo cáo có thảo luận:

- Học sinh chuẩn bị các chủ đề, phân công cá nhân hoặc nhóm thực hiện Cử

người báo cáo (thời gian ngắn), sau đó lớp thảo luận theo các chủ đề trên

- Chủ đề được chọn từ tình huống trong thực tế hoặc mở rộng, đào sâu nội dung

môn học Học sinh phân tích vấn đề, nhận diện và tìm phương án giải quyết Đặc trưng của hình thức này là:

- Giáo viên dành cho học sinh thời gian để chuẩn bị tài liệu xây dựng đề cương

Trang 29

- Các nhóm tham gia tranh luận, tìm lời giải cho vấn đề

- Giáo viên đóng vai trò người hướng dẫn trong thảo luận

Cũng giống như các phương pháp dạy học khác, phương pháp thảo luận nhóm

có những ưu điểm như thúc đẩy hoạt động học tập một cách chủ động, tích cực, sáng tạo, qua đó tăng cường khả năng tự học của học sinh, khả năng hợp tác giữa cá nhân

và tập thể nhóm qua đó giáo viên đánh giá khả năng và nhu cầu cụ thể của từng học sinh

Ngoài ra, phương pháp này còn giảm giờ lý thuyết trên lớp, tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có những hạn chế như chỉ thành công với nhóm nhỏ, tùy chủ đề và hình thức Giáo viên và học sinh tốn nhiều công sức và thời gian để hoàn thành bài tập lớn có chất lượng Nếu quản lý không hiệu quả, khối lượng công việc sẽ dồn vào một số học sinh và sẽ không công bằng trong đánh giá Như vậy, phương pháp thảo luận nhóm không thể thiếu trong phương pháp dạy học theo dự án

1.6.4 Kĩ thuật động não (Công não)

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường: Động não (công não) là một kỹ thuật nhằm huy động những tư tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận Các thành viên được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra cơn lốc các ý tưởng) Kỹ thuật động não do Alex Osborn (Mỹ)

phát triển, dựa trên một kỹ thuật truyền thống từ Ấn Độ [9, tr.115]) Kĩ thuật động não

Trang 30

có nhiều ứng dụng trong dạy học theo dự án như dùng trong giai đoạn nhập đề vào một chủ đề hay tìm các phương án giải quyết vấn đề và thu thập các khả năng lựa chọn

và ý nghĩa khác nhau Ngoài những ứng dụng trong dạy học ra thì kĩ thuật động não có những ưu điểm như dễ thực hiện, không tốn kém, sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy động tối đa trí tuệ của tập thể, tạo cơ hội cho tất cả thành viên tham gia Bên cạnh

ưu điểm, kĩ thuật động não cũng có những hạn chế như có thể đi lạc đề, có thể mất nhiều thời gian trong việc chọn ý kiến thích hợp, có thể có một số học sinh quá tích cực còn số khác thì thụ động

Để thực hiện kĩ thuật công não, giáo viên cần dẫn nhập và xác định rõ vấn đề, học sinh đưa ra những ý kiến của mình về chủ đề giáo viên đã đề cập Khi học sinh đưa ra ý kiến để trả lời cho vấn đề giáo viên đã nêu, giáo viên thu thập các ý kiến, không đánh giá, hoặc nhận xét nhằm huy động được nhiều ý kiến tiếp nối nhau Sau quá trình thu thập ý kiến, giáo viên phân tích, đánh giá về nội dung các ý kiến và đưa

ra kết luận

1.6.5 Sơ đồ tư duy (Lược đồ tư duy)

Theo tác giả Nguyễn Văn Cường: Sơ đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc cá nhân hay nhóm về một chủ đề Sơ đồ tư duy có thể được viết trên giấy, trên bảng trong hay thực

hiện trên máy tính [9, tr.115] Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống

khác nhau như tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề, trình bày tổng quan một chủ đề hay chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng

Ngoài ra, nó có thể thu thập, sắp xếp các ý tưởng và ghi chép khi nghe bài giảng

Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học đem đến hiệu quả đối với học sinh, kĩ thuật này sẽ giúp học sinh phát triển tư duy logic và khả năng phân tích tổng hợp Từ đó, giúp học sinh hiểu bài và nhớ bài lâu hơn thay cho việc học thuộc lòng và dễ dàng hệ thống kiến thức Bên cạnh đó, kĩ thuật sử dụng sơ đồ tư duy phù hợp với tâm lí của học sinh với thiết lập đơn giản, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh, giai điệu từ đó kích thích tư duy và tính sáng tạo của học sinh Đối với giáo viên, có thể sử dụng sơ đồ tư duy để hệ thống kiến thức, thiết kế các hoạt động dạy học trên lớp một cách hợp lý và trực quan Ngoài những ưu điểm trên thì kĩ thuật sơ đồ tư duy cũng có những hạn chế như: từ khóa bị chìm khuất dẫn đến người học không nắm được khái niệm trọng tâm cũng như các mối liên kết của nó Về nội dung thì khó nhớ

Trang 31

vì chỉ có một màu đơn điệu và một chuỗi dài không có gì khác biệt Do đó, không kích thích não sáng tạo và cản trở não tìm các mối liên kết, làm cho não có cảm giác “đã xong” Để thực hiện được sơ đồ tư duy thì trước tiên cần viết tên chủ đề ở trung tâm sau đó từ chủ đề trung tâm vẽ các nhánh chính Trên mỗi nhánh chính viết một khái niệm phản ánh một nội dung lớn của chủ đề được viết bằng CHỮ IN HOA Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng một màu Khi đó, nhánh chính được nối với chủ

đề trung tâm và chỉ sử dụng các thuật ngữ quan trọng để viết trên các nhánh.Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường và tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo

Như vậy, để tổ chức dạy học theo dự án, các phương pháp và kỹ thuật dạy học

đã nêu ở trên có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành và phát triển các kỹ năng của học sinh như phân tích, tổng hợp thông tin, làm việc nhóm, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, thuyết trình, sử dụng công nghệ thông tin

1.7 KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

Mục đích của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học theo dự án là cung cấp cho người học cơ sở để chứng minh các kỹ năng, kiến thức mà người học đạt được thông qua quá trình hoạt động học tập Việc kiểm tra được thực hiện trong điều kiện nhất định để xác định sự tiến bộ của người học, thúc đẩy phát triển, giáo viên đánh giá được sự chiếm lĩnh tri thức của người học cũng như điểm mạnh, điểm yếu của mỗi cá nhân học tập Cho nên việc kiểm tra phải được lựa chọn khi thiết kế khóa học và đây là một nhiệm vụ đầy thách thức cho giáo viên [2]

Đánh giá là một quá trình diễn ra liên tục, xuyên suốt dự án Việc đánh giá thường xuyên và lồng ghép nó vào tiến trình thực hiện dự án là rất quan trọng Đánh giá để điều chỉnh người học hơn là để kiểm tra trí tuệ hoặc mức độ tiếp thu các kiến thức Thông qua đánh giá giáo viên sẽ có thêm thông tin về nhu cầu của học sinh, từ

đó có thể điều chỉnh dự án nhằm nâng cao sự tiếp thu và phù hợp với học sinh hơn Do

đó, hoạt động đánh giá trong dạy học theo dự án cần được thiết kế để đảm bảo có thể

sử dụng nhiều chiến lược đánh giá khác nhau đồng thời cũng có thể tiến hành đánh giá suốt quá trình dạy học và các mục tiêu quan trọng của bài dạy Bên cạnh đó, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia quá trình đánh giá kết quả học tập của mình sau khi học theo phương pháp dự án Như vậy, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trang 32

trong dạy học theo dự án cần được thực hiện qua bộ công cụ đánh giá cụ thể [43] Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu sử dụng bộ công cụ để đánh

- Các tiêu chí cụ thể về nội dung

- Các tiêu chí về các kĩ năng thiết yếu và kĩ năng tư duy bậc cao

- Các tiêu chí cụ thể về chất lượng được thể hiện ở sản phẩm cuối cùng

 Đánh giá năng lực

Là việc đánh giá dựa trên khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội Năng lực của cá nhân là sự tổng hòa của kiến thức, kĩ năng, thái độ và kinh nghiệm

Có nhiều năng lực khác nhau, trong đó năng lực hành động bao gồm: năng lực tìm tòi, năng lực khám phá, năng lực xử lý thông tin, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực

hợp tác [13, tr.177]

 Đánh giá theo tiêu chí

Là phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí Nội dung của một phiếu hướng dẫn đánh giá là một tập hợp các tiêu chí thường được liên hệ với mục tiêu học tập và được

sử dụng đánh giá hoặc thông báo về sản phẩm hoặc quá trình thực hiện nhiệm vụ của người học Phiếu đánh giá bao gồm một hoặc nhiều khía cạnh như năng lực thực hiện được đánh giá, các khái niệm hoặc ví dụ làm sáng tỏ những yếu tố đang được đánh giá

và một thang điểm cho từng khía cạnh Các khía cạnh được gọi là tiêu chí, thang đánh giá được gọi là mức độ [43]

Trang 33

Tiêu chí Yếu Trung bình Khá Tốt Điểm

Chuẩn bị tốt trước buổi làm việc nhóm

Chuẩn bị tốt và chi tiết trước buổi làm việc nhóm

Tham gia phần lớn trong việc thiết lập mục tiêu và kế hoạch của nhóm

Đóng góp vai trò chủ đạo trong việc thiết lập mục tiêu và kế hoạch của nhóm

Tham gia Quan sát thụ

động và không

phát biểu ý kiến

Tham gia thảo luận dựa vào định hướng của các thành viên khác

Tham gia tích cực vào thảo luận và đặt câu hỏi

Tham gia tích cực vào thảo luận

và đặt câu hỏi, dẫn dắt thảo luận

lời các câu hỏi

Hiếm khi lên tiếng và trả lời câu hỏi

Lắng nghe tích cực và thể hiện

sự hiểu vấn đề thông qua việc diễn giải lại

Lắng nghe tích cực và thể hiện

sự hiểu vấn đề thông qua việc diễn giải lại và phát triển ý tưởng dựa vào vấn đề

đó Mức độ

Có vắng mặt nhưng báo trước và sắp xêp để thực hiện trách nhiệm của mình

Tự nguyện gánh vác và san sẽ trách nhiệm của nhóm

Tổng điểm

Bảng 1: Bảng tiêu chí đánh giá (Rubric) cho kỹ năng làm việc nhóm

Trang 34

Bảng 2: Bảng tiêu chí đánh giá kỹ năng thuyết trình

Tập trung quá nhiều vào một phần nào đó

Nội dung cơ bản thể hiện được chủ đề

Nội dung phù hợp với chủ đề, nhưng chưa làm rõ được chủ đề

Nội dung phản ánh rõ chủ đề từ khái quát đến chi tiết

Phân phối thời

gian hợp lý

Phân phối thời gian giữa các phần không hợp lý (>50%)

Thời gian thuyết trình lệch từ 20- 40%

Thời gian thuyết trình lêch từ 10- 20%

Thời gian thuyết trình lệch từ 5-10%

Phân phối thời gian giữa các phần hợp lý

Dàn bài

Không có dàn bài

Có dàn bài nhưng chưa chi tiết

Có dàn bài chi tiết rõ ràng nhưng chưa hợp

lý về thứ tự nôi dung

Có dàn bài chi tiết

rõ ràng, hợp lý về thứ tự nội dung

Có dàn bài chi tiết

rõ ràng, có chuyển tiếp giữa các phần trong bài

Cách dung từ

Nhiều lỗi chính

tả, nhiều từ khó hiểu, không giải thích các

từ chuyên môn

Mắc ít lỗi chính tả, dùng từ chưa chính xác

Không mắc lỗi chính tả, dung

từ hợp lý

Dùng từ hợp lý, có giải thích những từ chuyên ngành nhưng chưa đầy đủ

Dùng từ chính xác, dễ hiểu, có giải thích, minh họa các từ chuyên ngành

Cách đặt vấn đề

Không đặt vấn

đề

Vào đề lủng củng, dài dòng nhưng đúng vấn đề

Vào đề gây chú

ý và đúng vấn

đề

Vào đề hấp dẫn, hay

Vào đề bất ngờ,

có sáng tạo và cuốn hút

Tương tác với

người nghe

Đúng một chỗ, không bao quát toàn bộ lớp, không tương tác với người nghe

Có di chuyển nhưng không bao quát lớp

Di chuyển rộng

và bao quát lớp

Di chuyển rộng và bao quát lớp, tương tác nhiều và gây hứng thú cho người nghe

Di chuyển nhiều, bao quát lớp, gây hứng thú, người nghe tham gia vào quá trình thuyết trình

Giọng nói

Nói nhỏ, khó nghe hay vấp

Nói rõ nhưng hay lặp lại

Nói to, rõ và trôi chảy nhưng đều đều, dễ gây buồn ngủ

Nói to, rõ, trôi chảy và truyền cảm

Nói to, rõ, trôi chảy và truyền cảm và lôi cuốn người nghe

Thái độ, tác phong

Rụt rè, thiếu tự tin, hay gãi đầu

Tự tin nhưng còn lung túng khi xử

lý tình huống

Tự tin nhưng không nhiệt tình trong giải đáp thắc mắc

Điềm tĩnh, tự tin, nhưng không sôi nỗi

Điềm tĩnh, tự tin luôn hướng tới người nghe, trả lời câu hỏi nhiệt tình

Cách sử dụng

phương tiện trực

quan

Không sử dụng phương tiện trực quan

Có sử dụng phương tiện trực quan nhưng ít

Sử dụng phương tiện trực quan vừa đủ

Phối hợp hợp lý giữa hình ảnh, video và phù hợp với nội dung cần minh họa

Phương tiện trực quan, giải thích rõ nội dung cần minh họa,hình ảnh rỗ ràng phản ánh đúng nội dung

Cỡ chữ, độ tương

phản giữa nền và

chữ

Độ tương phản giữa chữ và nền khó thấy

Độ tương phản giữa chữ và nền tương đối tốt

Nền và chữ tương phản tốt nhưng màu sắc chưa hợp lý

Nền và chữ tương phản tốt, hợp lý

Nền thiết kế đẹp

và tương phản rõ với chữ, tuân thủ đúng quy tắc 7x7

Trang 35

Trong dạy học theo dự án, để đánh giá thái độ, năng lực, kỹ năng của người học thì người giáo viên cần kết hợp cả đánh giá từng phần, đánh giá tổng thể, đánh giá theo năng lực và đánh giá theo tiêu chí để học sinh đạt được về thái độ, kỹ năng và các năng lực giải quyết vấn đề Với phạm vi nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứu sử dụng công cụ đánh giá theo tiêu chí để tiến hành kiểm tra và đánh giá dạy học theo dự

án môn Công nghệ 10 tại trường PTTH Bình An, tỉnh Bình Dương

1.8 TIẾN TRÌNH DẠY HỌC THEO DỰ ÁN

Trong quá trình vận dụng dạy học theo dự án vào việc tổ chức dạy học một nội dung khoa học cụ thể, nhiều tác giả đã có những đề xuất khác nhau về tiến trình tổ chức dạy học theo dự án Tổng hợp các nghiên cứu về tiến trình dạy học theo dự án, người nghiên cứu nhận thấy có nhiều quan điểm khác nhau song nhìn chung các tác giả đã chia tiến trình dạy học theo dự án thành các giai đoạn khác nhau Theo TS Nguyễn Thị Diệu Thảo, dạy học theo dự án gồm 5 giai đoạn sau [25, tr.78]:

1 Chọn đề tài và xác định mục tiêu, nhiệm vụ của dự án

2 Xây dựng đề cương, kế hoạch thực hiện

Trang 36

Như vậy, mỗi tác giả đều có quy trình riêng khi tổ chức dạy học theo dự án Tuy nhiên, điểm chung thống nhất trong các quy trình này là có sự tương tác giữa giáo viên và học sinh và giữa các thành viên tham gia dự án; việc kiểm tra đánh giá

dự án luôn được bắt đầu từ giai đoạn phát hiện dự án, mô tả dự án cho đến khi trình bày dự án

Trên cơ sở phân tích các quy trình dạy học theo dự án đã nêu ở trên, trong đề tài này, để tổ chức dạy học theo dự án môn Công nghệ lớp 10 tại trường THPT Bình An, tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu đề xuất quy trình tổ chức dạy học theo dự án thành 5 giai đoạn như sau:

Trang 37

Hình 1: Sơ đồ tiến trình dạy học theo dự án

GIÁO VIÊN kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiên dự án

HỌC SINH tiến hành thu thâp thông tin, thảo luận nhóm, thực hiện kế hoạch

GIÁO VIÊN đánh giá sản phẩm, bài báo cáo,quá trình thực hiện dự án của nhóm theo các tiêu chí

GIÁO VIÊN HỌC SINH rút ra bài học kinh nghiệm

để thực hiện dự án sau hoàn thiện hơn

GIÁO VIÊN gợi ý một số vấn đề liên quan đến nội dung và mục tiêu bài học chuẩn bị làm dự án

HỌC SINH cụ thể hóa ý tưởng và xác định mục tiêu

dự án

GIÁO VIÊN tổ chức cho học sinh trình bày kết quả,

tổ chức cho các nhóm trao đổi ý kiến HỌC SINH trình bày kết quả thực hiện dự án (báo cáo powerpoint, mô hình, sản phẩm …)

Trang 38

Dưới đây, người nghiên cứu sẽ đi sâu phân tích cụ thể về nội dung của từng giai

đoạn trong tiến trình dạy học theo dự án

Giai đoạn 1: Xác định chủ đề và mục tiêu của dự án

Đây là giai đoạn quan trọng, giáo viên cần có sự định hướng trước cho học sinh Giáo viên có thể gợi ý một số vấn đề liên quan đến thực tiễn cuộc sống và nội dung bài học để học sinh có thể đưa ra những ý tưởng dự án Từ những gợi ý của giáo viên, học sinh suy nghĩ, tìm ý tưởng về dự án của mình sao cho dự án phải có tính thực tiễn liên quan đến cuộc sống và thể hiện nội dung bài học Mục tiêu của dự án là giáo viên cần hình thành cho học sinh sau khi thực hiện dự án có những kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng tổng hợp và xử lý thông tin, kỹ năng tư duy sáng

tạo Mục tiêu dự án có tác dụng định hướng cho quá trình thực hiện dự án

Giai đoạn 2: Lập kế hoạch thực hiện dự án

Đây là giai đoạn quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến giai đoạn sau và kết quả thực hiện dự án Các công việc cần được tiến hành trong giai đoạn này gồm:

- Giáo viên chia nhóm và giao nhiệm vụ cho từng nhóm

- Học sinh phân công công việc trong nhóm

- Học sinh xây dựng kế hoạch thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo viên: thời gian dành cho từng công việc, kinh phí thực hiện dự án, quy định sản phẩm mà

dự án phải đạt được

- Giáo viên đưa ra tiêu chí đánh giá

Giai đoạn 3: Thực hiện dự án

Các thành viên trong nhóm sẽ thực hiện kế hoạch đề ra Tiến hành thu thập thông tin và chia sẽ, thảo luận trong nhóm, giải quyết các công việc cần làm Khi làm cần kết hợp giữa lý thuyết và thực hành Giáo viên kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện dự án để kịp thời can thiệp sư phạm để giúp học sinh về phương pháp tự học,

tự nghiên cứu, hợp tác làm việc nhóm, viết báo cáo

Giai đoạn 4: Thu thập kết quả và công bố sản phẩm

Kết quả thực hiện dự án có thể viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, sản phẩm của

dự án có thể được trình bày trên powerpoint, thiết kế trang web, mô hình, sản phẩm Kết quả dự án có thể trình bày giữa các nhóm người học, giới thiệu trong trường hay ngoài xã hội

Trang 39

Giai đoạn 5: Đánh giá dự án

Giáo viên và học sinh cùng đánh giá sản phẩm dự án của từng nhóm theo tiêu chí đánh giá đã đề ra (tiêu chí đánh giá sản phẩm, tiêu chí đánh giá theo năng lực làm việc nhóm, báo cáo, thuyết trình….) Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho dự án tiếp theo

Tuy nhiên, trong thực thế khi áp dụng quy trình dạy học theo dự án chúng ta có thể xen kẽ, thâm nhập lẫn nhau ở các bước tùy theo hoàn cảnh Vì vậy, việc phân chia các bước trong quy trình chỉ mang tính tương đối

1.9 ĐẶC ĐIỂM VỀ TÂM LÍ CỦA HỌC SINH PTTH

Lứa tuổi học sinh PTTH thuộc thời kì 15-18 tuổi, gọi là tuổi đầu tuổi thanh niên, đã có sự phát triển về thể chất và tư duy ở mức độ nhất định, các em đã định hướng được sự phát triển trong tương lai của mình [12]

1.9.1 Đặc điểm về sự phát triển thể chất

Tuổi học sinh trung học phổ thông là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt

cơ thể Sự phát triển thể chất đã bước vào thời kỳ phát triển bình thường, hài hòa,

cân đối Cơ thể của các em đã đạt tới mức phát triển của người trưởng thành, nhưng

sự phát triển của các em còn kém so với người lớn Ở thời kỳ lứa tuổi này quá trình phát triển thể chất đã hoàn thành về căn bản, các cơ quan, các bộ phận của cơ thể

cũng như các chức năng của nó dần dần trở nên cân đối hoàn thiện Điều đó được biểu hiện ở các đặc điểm sau:

Chiều cao và trọng lượng đang tiếp tục phát triển nhưng tốc độ đã bắt đầu chậm lại Hệ cơ và hệ xương đã được cốt hóa và phát triển ở mức độ cao nên cơ thể các em trở nên rắn chắc, nở nang, cân đối trông rất khỏe mạnh (ở các em nữ biểu hiện rõ rệt nhất) Do cơ thể phát triển mạnh gần như người lớn nên các em có thể làm được những công việc nặng của người lớn Hệ tuần hoàn đi vào thời kỳ hoạt động bình thường, sự mất cân đối giữa tim và mạch đã chấm dứt Trọng lượng và chức năng hoạt động của não bộ đã đạt tới mức phát triển tương đương như não người lớn nên hoạt động trí tuệ của các em có thể phát triển tới mức cao Khả năng hưng phấn và ức chế ở vỏ não tăng lên rõ rệt có thể hình thành mối liên hệ thần kinh tạm thời phức tạp hơn Tư duy, ngôn ngữ và những phẩm chất ý chí có điều kiện phát triển mạnh Tuổi đầu thanh niên đa số đã qua thời kỳ phát dục, giới tính các em biểu hiện rõ rệt về cả hình thể bên ngoài lẫn chức năng bên trong Nhưng ở một số em

Trang 40

do sự phát dục kéo dài nên cơ thể các em phát triển chậm hơn so với các em khác (thể hiện nhiều ở các em nam) Nhìn chung tuổi đầu thanh niên các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ phát triển mạnh mẽ rất sung sức, nên người ta thường hay gọi “Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển tâm lý và nhân cách, đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này của các em

1.9.2 Điều kiện sống và hoạt động

Về vị trí trong gia đình thì các em đã có nhiều quyền lợi và trách nhiệm như người lớn, cha mẹ bắt đầu trao đổi với các em về một số vấn đề quan trọng trong gia

đình Các em cũng thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế

chính trị của gia đình (như việc chấp hành chính sách của đảng và nhà nước, sẵn sàng đấu tranh chống lại tư tưởng sai trái) Có thể nói rằng cuộc sống của nhiều

thanh niên mới lớn là cuộc sống vừa học tập vừa lao động Bên cạnh đó, vị trí của các em ở trong nhà trường hoạt động học tập vẫn là chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên, đòi hỏi các em tự giác tích cực độc lập hơn, các em phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo trong học tập Ở lứa tuổi này môi trường hoạt động chính là nhà trường, nhà trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì nội dung học tập không chỉ nhằm trang bị và hoàn chỉnh tri thức, mà còn có tác dụng hình thành thế giới quan, nhân sinh quan cho các em Khoảng 14 - 15 tuổi các em đủ tuổi gia nhập đoàn Thanh niên Cộng sản trong nhà trường, đó là một tổ chức chính trị đóng vai trò tích cực đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh, đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo phải

có tính nguyên tắc, tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình [17] Về xã hội,

thì vị trí của các em vượt ra khỏi phạm vi nhà trường và ảnh hưởng của xã hội đến các em rất mạnh Xã hội đã giao cho các em quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng giống người lớn như được bầu cử, có nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ lao động Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập vào cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này

Ngày đăng: 16/02/2021, 19:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm