1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của người bào chữa trong luật tố tụng hình sự việt nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn

103 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 11,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ tinh thần của những quy định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, chúng ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu vấn đề về địa vị pháp lý cũng như nâng cao vai trò của người bào chữa trong hoạt

Trang 2

ĐỖ ĐÌNH NGHĨA

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỬA

TRONG LUÂT T ố TUNG HÌNH s ư VIÊT NAM • • • •

Trang 3

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỂ NGƯỜI BÀO CHỮA

VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

Chương 2: QUYỂN VÀ NGHĨA v ụ CỦA NGƯỜI BÀO CHỬA

Chương 3: THựC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA VÀ

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG

3.2 Những thuận lợi và bảo đảm cho việc thực hiện quyền của người

3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của người bào chữa và

3.4 M ột số kiến nghị nhằm nâng cao địa vị pháp lý của người bào

chữa và hiệu quả của hoạt động bào chữa, phương hướng phát triển và

Trang 4

Kể từ khi giành được độc lập và khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hoà đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi tham gia tố tụng hình sự (TTHS), một lĩnh vực ảnh hưởng rất lớn đến tính mạng, sức khỏe và tự

do của mỗi cá nhân trong xã hội, đặc biệt là đối với những đối tương chịu ảnh hưởng trực tiếp của pháp luật tố tụng hình sự là bị can, bị cáo fBCBC) Các hoạt động TTHS như bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét x ử của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) ảnh hưởng trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân Đ ể góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bi tạm giữ (NBTG), BCBC, pháp luật quy định cho họ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Những quy định về quyền bào chữa đã hình thành một

c h ế định pháp lý về người bào chữa và địa vị pháp lý của người bào chữa Trong TTHS, địa vị pháp lý của người bào chữa rất quan trọng, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện quyền bào chữa của BCBC, đến hiệu quả của công việc bào chữa vì vậy việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về người bào chữa là rất cần thiết

Trước yêu cầu đổi mới đất nước cho phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc

tế, trong điều kiện xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chú nghĩa của dân, íio dàn và vì dân, Đảng ta đã xác định cải cách tư pháp là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay Nhận thức được vai trò quan trọng của người bào chữa đối với hiệu quả của các phiên tòa xét xử, ngày 02/01/2001 Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ra

Nghị quyết số ()8-NQ/TW trong đó chỉ rõ “Khi xét xử, các tòa án phải bảo

dcìm cho m ọi công dán đểu bình tĩihìịị trước pháp luật, thực sự íláíì chủ, khách quan; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán

Trang 5

quyết của tòa Ún phải căn cứ chủ yêu vào kết quà tranh tụniỊ tụi p h iên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn cliện các chứng cứ, ỷ kiến của kiểm sá t viên của người bào chữa, bị cáo, nhân chửng, nguyên đơn, bị đơn và nhữnq người

có q u yền , lợi ích hợp pháp d ể ra những bàn Ún, quyết dinh đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy đ ịn h ’' Từ tinh thần của

những quy định trong Nghị quyết số 08-NQ/TW, chúng ta có thể thấy rằng việc nghiên cứu vấn đề về địa vị pháp lý cũng như nâng cao vai trò của người bào chữa trong hoạt động TTHS là một nhu cẩu cấp thiết.^Việc xác định đúng đắn và nâng cao địa vị pháp lý của người bào chữa (phía gỡ tội) cho tương xứng với các chủ thể tiến hành tố tụng khác (phía buộc tội) trong TTHS là một yêu cầu bức xúc đặt ra và cần phải giải quyết ■ Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với công cuộc cải cách tư pháp,/đỉa vị pháp lý của người bào chữa trong TTHS ngày càng được củng cố và trên thực tế việc tham gia của người bào chữa đã góp phần bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của BCBC Sự tham gia của người bào chữa vào các giai đoạn của TTHS đã ít nhiều làm cho các CQTHTT, người tiến hành tố tụng tìm ra sự thật khách quan của vụ án, góp phẩn khắc phục được tình trạng oan, sai, đem lại một nền

tư pháp công bằng, dân chủ, văn minh, ở đó quyền và lợi ích họp pháp của cồng dân ngày càng được bảo vệ tốt hơn

Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước nói chung và cải cách tư pháp nói riêng, địa vị pháp lý của người bào chữa và những đảm bảo (về mặt pháp lý, tư tưởng ) cho người bào chữa thực hiện được quyền năng của mình còn nhiều hạn chế Những hạn chế này không chỉ bắt nguồn từ quy định của pháp luật mà còn từ những bảo đám khác trên thực tế

Trong giai đoạn gần đây, những vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của người bào chữa, cơ sở để hoàn thiện các quy định của pháp luật về người bào chừa được rất nhiều luật gia, tác giả quan tâm và đầu tư nghiên cứu, tiêu biểu

là cúc luận văn, luận án viết vẽ những vân đé liên quan đến người bào chữa

Trang 6

như tác giả Phạm Hổng Hải với đề tài Q uyên bào chữa trong lu ậ t T T H S của

nước C ộng hòa x ã hội ch ủ nghĩa Việt N am - Luận án Phó Tiến sỹ khoa học

pháp lý năm 1989; tác giả Vũ Văn Thìn, với luận văn Thạc sỹ năm 1996 về

Người bào chữa trong TTHS; tác giả Phan Trung Hoài - C ơ sớ kh o a học của việc hoàn th iện p h á p lu ậ t về lu ậ t sư ở nước ta hiện nay - Luận án Tiến sỹ

Luật học năm 2002; ngoài ra còn phải kể đến các bài viết về người người bào chữa được trên các tạp chí chuyên ngành như tác giả Phạm Hồng Hải, với các

bài viết: Vê chức năng bào chừa trong T T H S - Tạp chí nhà nước và pháp luật

sô 2 năm 1994; Đ ịa vị p h á p lý của người bào chữa trong T T H S - Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/1995; và bài viết về V ị trí của lu ậ t s ư bào chữa

tro n g p h iên tòa x é t x ử - Tạp chí luật học số 4/1999 Tác giả Đỗ Huy Trung

với bài viết về Q uyển và trách n h iệm của người bào chữa trong T T H S ; T hòi

điểm ngưòi bào chữa th a m gia tô tụ n g trong cuốn tài liệu Hội tháo về tố tụng

hình sự 9-11/9/2003; tác giả Đặng Quang Phương với bài viết T ìm h iểu m ột

s ố qu y địn h của bộ luật T T H S năm 2003 vê bào chữa - đăng trên tạp chí Tòa

án nhân dân - số 9, 5/2004 và nhiều bài viết khác

Các công trình, bài viết, đề tài đó đã chỉ ra được vai trò quan trọng của người bào chữa trong tiến trình giải quyết các vụ án hình sự, những bất cập trong quy định của pháp luật cần khắc phục, đưa ra phương hướng sửa đổi các quy định về người bào chữa, góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS nói riêng và

hệ thống pháp luật nói chung

Tuy nhiên, trước những biến động và sự phát triển của xã hội, trước những yêu cầu và đòi hỏi của quá trình hội nhập với khu vực và thế giới, pháp luật nói chung trong đó có pháp luật TTHS cũng như các quy định về người bào chữa luôn có sự bổ sung thay đối nên việc nghiên cứu và tìm hiêu vể vân

đề người bào chữa luồn có những điểm mới nhất định cần pluii đúc rút kinh nghiệm và cập nhật thông tin Để xây dựng được một nền tư pháp công bằng dân chủ, nghiêm minh, một nền tư pháp phục vụ nhân dân theo đúng như định

Trang 7

hướng mới trong hoạt động của cơ quan tư pháp mà Nghị quyết 08-NQ/TW

đã đề ra: tại phiên tòa xét xử phải thật sự có tranh luận dân chủ, bình đẳng giữa người bào chữa với kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác Để cao vai trò và trách nhiệm của người bào chữa trong hoạt động tố tụng, các CQTHTT cần bảo đảm và tạo điều kiện đế người bào chữa thật sự được tham gia đẩy đủ trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật Đặc biệt tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật tố tụng hình

sự (BLTTHS) ngày 26/11/2003 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004 (sau đây gọi là BLTTHS năm 2003) thay thế BLTTHS năm 1988 và các luật sửa đổi bổ sung mội số điều của BLTTHS năm 1988 được Quốc hội thông qua ngày 30/6/1990, 22/12/1992 và ngày 9/6/2000 BLTTHS năm 2003 có những quy định rất mới

về người bào chữa và các quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bào chữa so với BLTTHS trước đó đây và có những quy định chặt chẽ khác đảm bảo cho người bào chữa thực hiện được quyền hạn của mình trên thực tế

Nhũng điểm mới của BLTTHS năm 2003 đặt ra rất nhiều vấn đề mà việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS để hiểu rõ hơn nữa về địa vị pháp lý của người bào chữa trong TTHS là hết sức cần thiết

Với tất cả những lý đo đó, tác giả của luận văn đã lựa chọn đề tài “Địa

vị pháp ỉý của người bào chữa trong luật Tô tụng hình sụ Việt Nam- những vấn để lý luận và thực tiễn” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình

Bản luận văn này được viết ra với mong muốn góp phần làm rõ hơn nữa về vấn

đề các quy định về địa vị pháp lý của người bào chữa, sơ lược vể quá trình hình thanh và phát triển của chế định người bào chữa trong pháp luật của nước

la, sơ sánh và phân tích những điểm mới trong quy định của pháp luật TTHS qua các thời kỳ phát triển Đỏng thời luận văn phân tích một sô nguyên nhan của thực trạng các quy định về quyền của người bào chữa thường mang tính hình thức và khó đảm bảo được thực hiện trong thực tế nhu' hiện nay; nhằm góp phần tìm ra các lý do ụiái thích tại sao việc bào chữa kém hiệu quả Có

Trang 8

phải do "Pháp luật trong lĩnh vực rư pháp chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ và

còn nhiều sơ hở Công tác xây dựng, Ịịiải thích, hướng dẫn và tuyên truyền,

p h ố b iể n , Ịịicio dục pháp luật, trong đó cỏ pháp luật vé lĩnh vực tư pháp cồn nhiều bất cập và hạn c h ế ”; “ Việc triển khui vù tổ chức thực hiện cúc nghị quyết, c h í thị của Đảng về cải cách tư pháp chưa n g h iê m ”; “công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về lĩnh vực tư pháp chưa được chú ý đúng mức " 115, lrang2J.

Từ đó có những kiến nghị hợp lý góp phần đưa quan điểm chỉ đạo của

Đáng ta về lĩnh vực tư pháp nhằm mục tiêu “Nâng cao chất lượng công tố của

kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng k h á c ”; "Các cơ quan tư pháp cố trách nlỉiệm tạo điều kiện đ ể luật sư thum gia vào quá trình tố tụng: Tham ẹia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ SƯ vụ án, tranh luận dân chủ tụi phiên tòa ”[15,

trang3-4] giúp mọi cá nhân tăng cường thêm những hiểu biết của mình về người bào chữa, địa vị pháp lý của người bào chữa trong TTHS để họ thấy dược quyền lợi của mình sẽ được đảm bảo như thế nào khi có người khác cỏ Irình độ, hiểu biết pháp luật đứng ra bảo vệ cho họ, góp phần nâng cao được tính dân chủ, đảm bảo pháp chế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tránh được oan sai, giảm thiểu số án phải cải sửa, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa

án, góp phần nâng cao được ý thức pháp luật của người dân nói chung trong

xã hội

2 PHẠM VI NGHIÊN c ứ u CỦA ĐỂ TÀI

Trong phạm vi một luận văn cao học, với khả năng cho phép, tác giả cố găng nghiên cứu một cách tổng quát về địa vị pháp lý của người bào chữa (cụ thế là quyền và nghĩa vụ của người bào chữa) Qua đó, đi sâu tìm hiếu và làm

rỏ cư sứ lý luận và thực tiễn của quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa trong TTHS ở nước ta qua các ban Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980,

Trang 9

1992, BLTTHS năm 1988, các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003, Pháp lệnh về luật sư và các văn bản pháp luật TTHS có liên quan khác Trên cơ sở đó đánh giá những mặt ưu điểm, những mặt còn hạn chế, nêu ra các giải pháp, góp phần hoàn thiện ch ế định địa vị pháp lý của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, đế TTHS ngày càng bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM v ụ CỦA LUẬN VĂN

Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý, phương thức thực hiện quyển và nghĩa vụ của người bào chừa; trên cư sớ dó đánh giá những

ưu điếm, hạn chế trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người bào chữa, tìm ra những nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chế định địa vị pháp lý của người bào chữa phù hợp với công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong giai đoạn hiện nay

Đê thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

M ột là: Phân tích làm rõ cơ sở lý luận trong việc xác định địa vị pháp lý

của người bào chữa; mối quan hệ giữa người bào chữa với cơ quan tiến hành

tố tụng, người liến hành tố tụng và người tham gia tố tụng khác

H ai là: Khái quát quá trình hình thành và thực hiện chế định pháp lý về

người bào chữa ở nước ta qua trong lịch sử các bán Hiến pháp, các văn ban pháp luật TTHS; đánh giá thực trạng quy định của pháp luật địa vị pháp lý của người báo chữa, trên cơ sở đó rút ra những mặt được, mặt chưa được và nguyên nhân của nó

Ba /à: Đề xuất các quan điếm và các giải pháp hoàn thiện chế định địa vị

pháp lý của người bào chữa ở nước ta

Trang 10

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

Bán luận vãn này dược viết ra chủ yêu dựa trên cơ sớ phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và tư tưởng quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về pháp luật nói chung và công tác tư pháp nói riêng Luận văn được trình bày dựa trên các phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp Sử dụng phương pháp

này trong việc phân tích và đánh giá các quy định hiện hành cua pháp luật Việt nam về các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, qua đó thấy được toàn cành thực trạng của những quy định này Tác giả cũng cố gắng chí ra mặt hạn chế và những mâu thuẫn trong các quy định hiện hành về người bào chữa, những việc đã làm được trong lĩnh vực này, nguyên nhân của những mặt còn tồn tại; và trong khả năng của mình lý giải, kiến nghị các giải pháp khắc phục, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc quy định cụ thể về địa vị pháp lý của người bào chữa

- Phương pháp so sánh, lịch sử, dụ đoán, quan sát, điều tra xã hội học, thăm dò lấy ý kiến của những chuyên gia trong ngành Khi lìm hiểu

về địa vị pháp lý - quyền và nghĩa vụ- của người bào chữa người ta thường chỉ chú ý tìm hiểu và áp dụng theo những quy định hiện hành của pháp luật, nhưng các quy định này được kế thừa và phái triến qua các giai đoạn khác nhau của pháp luật nước ta VI vậy luận văn có sử dụng phương pháp so sánh giữa các quy định của pháp luật trong từng giai đoạn khác nhau, diều tra, thăm dò, lấy ý kiến của các chuyên gia để chỉ ra hoặc nhận thức những ưu và nhược điểm của các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của người bào chữa

lừ đó để ra các phương hướns hoàn thiện; kết hợp với phương pháp lịch sử đế

có dược cái nhìn về lĩnh vực này theo quy định của pháp luật qua từng thời kỳ

sẽ giúp cho việc nghiên cứu cỏ tính hệ thống hơn và toàn diện hơn, thấy được tính kế thừa, phủ định quy định cũ để thay thế bằng quy định mới như thế nào,

Trang 11

và nhất ỉà dự đoán hướng phát triển trong tương lai, định hướng thay đổi quan điểm, quan niệm và những quy định của pháp luật về người bào chữa Hay nói cách khác, làm cho người đọc hình dung ra được địa vị pháp lý của người bào chữa như hiện nay như thế nào, bao gồm những gì, trước đây như the nao

và sau này nó sẽ phát triển ra sao

5 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phẩn 1Ĩ1Ở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục luận văn gồm ba chương:

C h ư ơ n g I: K h á i q u á t c h u n g về người bào ch ừ a và địa vị p h á p lý củ a người bào ch ữ a tro n g Tô tụ n g h ìn h sự

C h ư ơ n g 2: Q uyền và n g h ĩa vụ của người bào chữ a tro n g T ố tụ n g h ìn h sự

C h ư ơ n g 3: T h ự c tiễn h o ạ t đ ộ n g của ngư ờ i bào ch ữ a và các g iả i p h á p n â n g cao h iệ u q u ả củ a cô n g tác bào ch ữ a tro n g T T H S ở nước ta h iện nay.

Trang 12

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỂ NGƯỜI BÀO CHỮA

VÀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

TRONG TỐ TỤNG HÌNH s ự

Tố tụng hình sự bao gồm rất nhiều hoạt động của các CQTHTT, người liến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những chủ thể khác góp phần vào việc giai quyết vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS Theo trình tự tố lụng thông thường, quá trình giái quyết vụ án hình sự được phân thành nhiều giai đoạn và công việc khác nhau: xác minh sự kiện phạm tội, củng cố»các tài liệu ban đầu để khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra, kẽt thúc điều tra và để nghị truy lố gửi đến Viện kiểm sát Viện kiếm sát sẽ xem xét, quyết định truy tố bị can ra tòa bằng bản cáo trạng Tòa án có nhiệm

vụ xét xử (ở các cấp) và bản án có hiệu lực sẽ được chuyển cho cơ quan thi hanh án để thi hành

Ciiái quyết vụ án hình sự là một quá irình phức tạp ảnh hưởng rất lớn đến quvền con người, quyền tự do của công dân với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Vì vậy pháp luật TTHS quy định quá trình này phải được tiến hành trên một cơ sỏ pháp lý chung, đảm bảo không xét xử oan saiđối với người vô tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công d â r^ B ọ luật TTHS thế hiện cách xử sự của Nhà nước đối với NBTG, BCBC, họ vần có quyèn như mọi công dân khác lự do khác trừ một số quyền tạm thời bị pháp luật TTHS hạn chế hoặc tước bỏ Khi một công dân trở thành đối tượng bị.Nhà nước nghi là thực hiện tội phạm và buộc phải tham gia vào quan hệ TTHS với

các CƯ quan nhà nước, đang trong quá trình điều tra truy tố, xét xử, người đó

có the hị Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự, bị chịu biện pháp trừng phạt

nuhiôm khắc nhất là hình phạt, có thể bị tước bỏ nhiều quyền cơ bán của công

Trang 13

dân như quyền tự do về thân thể và thậm chí bị tước bỏ cả quyền sống Vì vậy pháp luật quy định những người này có quyền biện minh cho bản thân mình nhằm phủ nhận một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội của Nhà nước, quyền

đó là quyền bào chữa Quyền bào chữa có thể coi như là quyền đối trọng với quyền buộc tội của nhà nước Tuy nhiên, khi tham gia vào TTHS, chủ thể của quyền bào chữa thường có trạng thái tâm lý căng thẳng, tự mình không nhận thức được hết những tinh tiết có lợi để bào chữa cho mình Phần đông NBTG, BCBC không có kinh nghiệm khi va chạm, liếp xúc với các CQTHTT, người liến hành tố tụng (NTHTT) và hơn nữa pháp luật ngày càng phát triển, càng phức tạp nên không phải ai cũng có thể hiểu biết hết các quy định của pháp luật đế mà tự mình bào chữa, điều này dẫn đến một nhu cầu khách quan trong

xã hội là phải có những người hiểu biết sâu, có chuyên môn về pháp luât để

giúp BCBC bào chữa cho mình - đó chính là những Người bào chữa Và pháp

luật TTHS cũng có những quy định hết sức cụ thể, chi tiết về chủ thể này

Như vậy có thế thấy rằng, việc người bào chữa xuất hiện và tham gia vào trong quá trình TTHS là một đòi hỏi khách quan và hết sức tự nhiên của

xã hội loài người tiên tiến Nó là thước đo để đánh dấu mức độ văn minh, dân chú trong TTHS Và khi người bào chữa đã tham gia vào TTHS thì pháp luật phai quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của họ; những quy định này sẽ tạo ihànli địa vị pháp lý của người bào chữa Irong TTHS

1.1 CÁC QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỂ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG T ố TỤNG HÌNH SỤ

Theo một số tác giả, người bào chữa xuất hiện từ rất lâu từ khi bắt đầu

có sự thừa nhận quyền bào chữa của những người bị đưa ra xét xử từ thời cổ đại, cùns với sự xuất hiện của tòa án Tuy nhiên những quy định cụ thế về quyén và nghĩa vụ pháp lý của người bào chừa, điều kiện hành nghề và cách thức tham gia bào chữa mới chí thực sự phái iriển khi xã hội loai người phái

Trang 14

những quy định của pháp luật về người bào chữa như: điều kiện hành nghề, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quyền và nghĩa vụ .vv bắt đầu xuất hiện và được ghi nhận trong pháp luật của các quốc gia khác nhau, tùy theo điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia đó; Pháp luật của một số nước hạn ch ế chỉ

quy định luật SU' mới có thế làm người bào chữa, pháp luật cúa một số nước

khác thì lại quy định ngoài luật sư ra, một số chủ thể khác cũng có thể làm người bào chữa, ví dụ:

+ Theo quy định của pháp luật Trung Quốc: "K hi m ột người bị truy tố

vù đưa ra xét xử, người đố có quyền tự bào chữa và yêu cầu sự giúp đ ỡ của

luật sư Trong trường hợp công tố viên truy t ố trước tòa vù nếu bị cáo không yêu cáu người bào chữa thì tòa án p h ả i ch ỉ định bào chữa cho người đó Bào

chữa viên do tòa án c h ỉ định là luật sư chuyên nghiệp ”[37, trang 30].

+ Theo luật M alaysia quy định về người bào chữa thì: “ H iến pháp liên

bani> quy diiìh, m ọi bị cáo đểu có quyền có m ột luật SƯ dại diện Tronq đa s ố các II'ườn ạ hợp thì bị cáo thuê m ột luật sư riêng dại diện cho m ình T uy nhiên

nếu bị cáo bị buộc tội là đ ã p hạm m ột tội m ang án tử hình và bị cáo do quá

/líịlìèo khổ, không thuê được luật sư dụi diện thì Nliủ nước s ẽ c h ỉ định m ột luật

su'đại diện cho bi c á o ” [37, trang 196].

đã rộng hơn: Bao gồm cả luật sư, và một số chủ thể khác như luật TTHS Hàn

Quốc, Nga

+ Theo quy định của Luật Tố tụng hình sự Hàn Quốc: "Bị can/bị cáo

hay người bị tình Mị hi cồ th ể mời bào chữa viên Đ ại diện hợp pháp vợ/chồng,

Iií>ưởi thân thích, anh chị em, hay nạười chủ ịịia dinh của bị cun/bị cáo hay

HỊịười tình Iiạhi cỏ th ể mời bào CÌ1ĨĨLI li ê n g ” "Bào chừa viên ph ả i là luật sư.

Trang 15

Nhưng Iroiií> trường hợp dặc biệt, trừ tỏa ủ lì tối cao, thì các tỏa án khác có

thờ dổnsị V ch o việc c ứ người k h ô n g p h u i lủ luụi s ư lả m b a o chữa viưn"

138, trang 8]

+ Theo luật TTHS của Liên bang Nga: “ Người bào cliữa là người thực

hiện việc hào vệ các quyên vù lợi ích cùa m*ười bị tình nghi vù bi can vù Íịịítp

ho vờ mặt pháp lý trong quá trình tố tụng đối với vụ án theo thủ tục quy định

rụi bộ luật này Luật sư được tham gia tố tụng với tư cách của người bào chữa

Theo quyết định của Tòa án hên cạnh luật sư thì m ột trong s ố những người họ

hùng thân thích của bị can hoặc nạười khác theo yêu cầu của bị can có th ể

dược chấp nhận là người bào chữa Đối với vụ Ún do thẩm phún hỏa iịiài thụ

ly thì nhữiiịỉ HịịKỜi nói trên dược chấp lìliận thay cho luậl sư " và "Luật sư

dược chấp nhận tham gia vào vụ án với tư cách là người bào chữa khi họ đệ

trình giấy chứng nhận luật sư vả th ể luật s ư ”.

“NiỊUỜi bào chữa do người bị tình nghi, bi can, người đại diện hợp

pháp của họ, cũng như những người khác được người bi tình nghi, bị can uỷ

quyền hoặc những nqười được sự đồng ý của người bị tình nghi, bị can mời

Nlụíời bị tình nghi, bị can có quyền mời m ột s ố người bào ch ữ a ”

[40, trang 28, 29]

Tuy quá trình hình thành và phát triển của những quy định pháp luật về

nuười hào chữa ở các Quốc gia khác nhau là khúc nhau, nhưng tựu chung lại,

có ihể kết luận rằng:

ười bị kết án mời hoặc được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

chi định tham gia vào quá trình TTHS đê bảo vệ quyền và lợi ích của NBTG,

BCBC Họ có thể tiến hành những hoạt động phù hợp với quy định của pháp

luật để đưa ra những chứng cứ chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách

Trang 16

nhiệm cho Ihân chủ của mình Người bào chữa có thể nhận hoặc không nhận

Ihù lao từ công việc bào chữa

phái triếii cỏ tính kế thừa, ánh hưởng và tác động qua lại với nhau giữa các

quốc gia Cùng với quá trình phái triển của xã hội, các quan niệm về người

bào chữa, nghề bào chữa, pháp luật về người bào chữa ngày càng gần nhau

hơn: Đều hướng tới Iĩiột mục tiêu chung là bảo vệ và đảm bảo điều kiện để

thực hiện quyền con người khi tham gia vào TTHS đã được ghi nhận trong các

Công Ước Quốc Tế, đó là những quyền như:

ư) Được thông báo không chậm tr ễ vù chi tiết bưng m ột ngón ngừ mù

nạười đó hiểu về bản chất và lý do buộc tội mình;

b) Có đủ thời gian phù hợp và điều kiện thuận tiện đ ể chuẩn bị

bào chữa và liên hệ với người bào chừa do chính mình lựa chọn;

c) Được xét x ử không chậm trễ thái quá;

ả) Được có m ặt trong khỉ xét xử và được tự bào chữa hoặc nhờ sự

giú p đỡ vê p h áp lý do mình chọn ; nếu chưa có sự giú p đỡ vê pháp

lý thỉ ph ải được thông báo về quyển này; trong trường h(/p do lợi

ích của công /v đòi liói, phủi b ố trí cho người đố m ột sự giúp đỡ về

pháp /v mà khôm> phái trả tiền nếu người đó khônq ró đủ điên kiện

trả;

ừ) Được thẩm vấn hoặc nhờ ni>ười thẩm vấn những nhân chứng buộc

tôi mình và được mời nạười lủm chứtìíỊ đại diện cho mình tới phiên

tòa và thẩm vấn tại tỏa với những điểu kiện giống như đối với những

người lảm chứiìiị buộc lội mình;

f) Được ý úp đỡ về phiên dịch không phái trá tiền, nếu người đố

không hiểu hoặc khôn lị Iiói được ngôn nẹữ sử dụng trong phiên tỏa;

Trang 17

ỉ>) K hông bị ép buộc p h á i chứng mình chống lụi chính mình hoặc buộc tự thú lủ mình có lội.

(Trích” Công ư ớ c Q uốc T ế về các Quyền Dân sự và Chính trị”

Thông qua và để ngỏ cho các nước ký kết, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc số 2200 A (XXI) ngày ] 6-12-1966 Có hiệu lực ngày 23-3-1976 căn cứ theo điều 49

(Việt Nam gia nhập ngày 24-9-1982), phần III- điều 14- khoản 3)

vào việc dam bảo dân chủ, công bằng, là tiêu chí để đánh eiá mức đô văn

minh pháp lý trong hoạt động TTHS Trước đây, người bào chữa chỉ thực sự

tham gia háo vệ quyền lợi cho BCBC trong giai đoạn xét xử Tuy nhiên, nhận

thức của xã hội cũng có những thay đổi nhất định và họ thấy rằng thời điểm

tham gia của người bào chữa vào quá trình TTHS càng sớm thì càng bảo đảm

cho quyền lợi của BCBC, chính vì vậy mà theo quy định của pháp luật TTHS ở

các nước người bào chữa ngày càng được tham gia sớm hơn vào quá trình tố

lụng, quyền của người bào chữa cũng được coi trọng và đảm bảo thực hiện

hơn lừ phía các QTHTT

1.2 NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG T ố TỤNG HÌNH s ự VIỆT NAM

1.2.1 Khái niêm nguời bào chữa theo pháp luât T TH S Vỉét nam

Ớ Việt nam ta, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất cũng

ệ :

như khổng nêu khái niệm thê nào là người bào chữa trong TTHS, nhưng dựa

vào khái niệm chung về người bào chữa, về luật sư trong các quy định tại

các vãn ban pháp luật TTHS vù theo cách giải thích hiện nay thì ta có thể hiểu:* người bào chữa ỉà người được NBTG, BCBC, người đại diện hợp pháp của họ,

nhún 12 na ười khác được NBTG, BCBC uv quyền mời hav được CỌTH TT yêu

cầu Đoan luật SU' phân công Văn phòng luạl sư hoặc đê nuhị Uỷ ban mặt trận

lổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của m ật í rận cử để bào chữa cho NBTCi,

Trang 18

BCBC, nhàm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho NBTG, BCBC và giúp đõ' họ về mặt pháp lý.

Người bào chữa là người được NBTG, BCBC (chủ thể có quyền bào chữa) trực tiếp trao toàn bộ hoặc một phần quyền BC của mình đế tham gia báo vệ cho quyền lợi của h ọ / Khi tham gia vào TTI IS, n g ười bào th ừ a là iig«kji đại diện cho BCBC để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NBTG, BCBƠ^Việc người bào chữa đại diện cho BCBC không làm mất đi quyển tự bào chữa của BCBC; Trong tất cả các trường hợp tham gia tố tụng: Theo lời mời của NBTG, BCBC, người bị kết án (hoặc người đại diện hợp pháp của những người này) hay

llieo chí định của CQTHTT thì người bao chữa đều hoạt dộng trẽn CƯ sỏ cỏ bự

đồng ý của những người có quyền bào chữa mà họ đại diện, người bào chữa có thế bị thay hoặc bị từ chối bơi chủ thể của quỵỂn bào chữa nếu họ không hài lòng hoặc không đồng ý với người bào chữa đó ÍQuan hệ giữa người bào chữa với những chủ thê tiến hành lố lụntĩ, tham gia tố tụng khác chỉ xuất hiện và tồn lại ihông qua người được bào chữa (người có quyền bào chữa)

Như vậy, NBTG, BCBC hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền lựa chọn, cử người bào chữa và chính họ mới là neười có quyền yêu cầu thay dổi hoặc lừ chối người bào chữa Hay nói cách khác người bào chữa được tham gia vào TTHS và có được các quyền và nghĩa vụ hay không là phụ thuộc vào ý chí của người có quyên bào chữa

Á 1.2.2 Phán loai người bào chữa

Theo BLTTHS năm 1988 hiện hành, điều 35 quy định: “N gười bào chữa

cỏ thờ’ là: ti) Luật sư; b) Ni>ười đại diện hợp pháp của BCBC; c) Bào chừa viên nhân d â n ” Nhưng^theo quy định tại điều 56 của BLTTHS năm 2003 thì

ngoại diên của người bào chữa rộng hơn: “Người bào chữa cố th ể lù: ư) Luật

SƯ; bì N nuứi đai diên hơp pháp CH:í N B TG , BCRC; '(') Bào chữa viên nhân

J jn r

Trang 19

Theo cách hiểu và giải thích hiện nay thi luật sư tham gia vào TTHS khác với luật sư nói chung, vì vậy ở bản luận văn này, khi phân lích vổ người

hào chữa là “ L u ậ t sư” , tác giá xin được bổ sung thêm từ “ bào c h ữ a ” ờ phía

chung hoặc luật sư tham gia vào TTHS nhưng giữ vai trò khác: ví dụ khi luật

sư tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân

sư bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ cũng không phái là người bào chữa mà họ tham gia với tư cách là người bảo vệ quvén lợi của đương sự

Theo quy định của pháp luật TTHS thì người bào chữa có thể chia thành

3 loại như quy định tại Điều 35 BLTTHS năm 1988 và nay là điều 56 BLTTHS năm 2003:

Luât su bào chữa

Theo điều 1 Pháp lệnh luậl sư và theo quy định của pháp luạt TTHS thì một người muốn trở thành luật sư bào chữa phải là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của Pháp lệnh luật sư và được CỌTHTT chỉ định tham gia hoạt động tố tụng hoặc theo yẽu cẩu của NBTG, BCBC nhằm bảo vệ quyển lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật Người muốn la Luạl sư bào chữa phải đáp ứng được những tiêu chuán sau:

a) Đủ điều kiện hành nghề luật sư:

Theo quy định tại Điều 7 của Pháp lệnh luật sư 2001: người muôn hành nghé luật su’ phái có chứng chí hành nghề luật sư và là phải gia nhập (là thành viên của) một Đoàn luật sư nào đó Những người muốn gia nhập Đoàn luật sư lại phai hội đủ 5 điều kiện sau:

+ Là công dán Việt nam, ihường trú tại Việt nam;

+ Có trình độ Đại học luật: là người có bằng cử nhân luật hoặc bằng tốt

nghiệp đại học chuyên ngành luật do CO' sở giáo dục đại học của Việt nam cấp

hoặc có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật do cơ sở giáo dục đại học

Trang 20

cua nước ngoài cấp và được công nhận tại Việl nam theo quy định của pháp luật Việt nam;

+ Tốt nghiệp khoá đào lạo nghề luật sư ở Việt nam hoặc ở nước ngoài được pháp luật Việt nam cônc nhận

+ Có phẩm chất đạo đức tôì;

+ Không phái là cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán

bộ, công chức

b) Đ ang hành nghề luật sư Iheo quy định của Pháp lệnh luật sư:

Theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự nước ta, thì chỉ những người hoạt động Irong các đoàn luật sư mới được gọi là luật sư, và theo quy định tại

đi cu 17 cúa pháp lệnh luật sư 2001 thì Luật sư có thể lựa chọn một trong 2 hình thức tổ chức hành nghề là thành viên của Văn phòng luật sư hoặc của Công ty luật hợp danh; đồng thời theo quy định tại khoản 2 điều 18 và khoản

2 đi0 11 19 pháp lệnh luật sư, thì chỉ có luật sư thuộc Văn phòng luật sư mới dược Ihực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng, mới được tham gia làm

luật SU' bào chữa trong TTHS, còn luật sư trong công ty luật hợp danh không

(tược thực hiện dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng

Ngoài ra, còn có một chủ thể chưa phái là luật sư, nhưng vẫn có thể làm

nụ ười bào chữa đó là Luật su tập sự: đây là một dạng đặc biệt của luật su' bào

chừa khi họ chưa được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, chủ thể này được quy định tại Khoản 2, Điều 5 Nghị định 9 4 /2 0 0 1/NĐ-CP: Luật sư tập sự được tham £Ìa lố tụng trong các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân clan cấp hu vện, Tòa án quân sự khu vực theo sự phân công của luật sư hướng tian và khi được khách hàng đống ý Khi tham gia tố tụng, Luật sư tập sự có các quycn và nghĩa vụ của luật sư theo quy định của pháp luật tố tụng và Pháp lệnh Luật sư Đối với những vụ án thuộc thám quyền cứa Tòa án nhân dân cáp tỉnh Tòa án quân sự quân khu và tươnă đương, luật sư lập sự được cùng với luạí SU' hưóns dẫn nghiên cứu hổ sơ, gặp BCBC và đương sự khác, khi được họ

T H Ư V I Ệ N

isu èf« ? W l HO** Ị 'ÌẬt HÀ «/• '

Trang 21

dỏng ý Luật sư tập sự đạt yêu cầu kiểm tra hết tập sự sẽ được Đoàn luậl sư dề nghị cấp Chứng chí hành nghé luật sư; người có Chứng chỉ hành nghề luật sư

và !à thành viên Đoàn luật sư mới được sử dụng Chứng chí hành nghề luật sư

đò hành nghề luật sư (Nghị định 9 4 /2 0 0 1/NĐ-CP, Điều 7)

Cho đến nay, có thể nói luật sư bào chữa là chủ thể chính tham gia vào cồng tác bào chữa cho NBTG, BCBC trong TTHS Nên Hiến pháp năm 1992, các văn han luật: BLTTHS, Pháp lệnh Luật sư, và các văn bán khác đã quy định khá cụ thế về chủ thể này, lạo cho luật sư bào chữa có dược một vị trí pháp lý nhất định; Có thể nói đây là chủ thể được ưu tiên hơn và được quy định chi tiết các chủ thể bào chữa khác, điều kiện đệ trở thành luật sư bào chữa cũng rất khắt khe: không phải bất kỳ người nào cũng có thể trở thành

luậl SU' và không phải bất kỳ luật sư nào cũng trở thành luật sư bào chữa được Niìuòi đai diên hop pháp của NBTG BCBC

Loại chủ thể bào chữa (người bào chữa) thứ 2 là người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC; Pháp luật T Ỉ HS không quy định cụ thể ai là người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC; nhưng có ihế hiếu dựa trên các quy định khác cua Luạt Hòn nhân gia đình và Bộ luật dân sự: Người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC là: bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, người giám hộ, anh, chị em ruột và những người khác Iheo quy định của pháp luật (người đại diện theo pháp luật) đối với những trường hựp NBTG, bị can bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần

Đicu 305 BLTTHS năm 2003 quy định “Người dại diện hợp pháp ciiư

N B T G , BCBC là người chưa thành niên có th ể lựa chọn người bào chữa hoặc

tự m ình bào chữa cho N B TG , BCBC ” Người đại diện hợp pháp của NBTG,

BCBC nhát thiết phái là người đã thành niên; không bị tâm thán; có quốc tịch Việt luim và cư trú tai Việt nam !rừ trường hợp pháp luật có quv định khác đối với NBTCÌ BCBC là người Việt nam ở nước ngoài

Trang 22

Bào chữa viên nhân dân (BCVND)

Loại chủ thế bào chữa này rất ít khi tham gia bào chữa trong TTHS Trong thực tiễn thì các quy định về BCVND chí có hiệu lực từ trước khi Pháp lệnh tổ chức luật sư ban hành năm 1987 Sau này, theo Thông tư của Bộ Tư pháp số 313-TT/LS ngày 15/4/1989 hướng dần thực hiện quy chế đoàn Luật

sư: "íỉờ kịp thời phục vụ thực hiện BLTTHS, cúc địa phương cần khẩn trương

chi đạo chặt c h ẽ việc chuẩn bi thành lập Đoàn luật sư theo đúng các quy đinh cảu Pháp lệnh tổ chức luật sư Quy c h ế Đoàn luật sư và hướng dẫn của Thông

tư này Khi Uỷ ban nhún dân tỉnh rư quyết định thành lập Đoàn luật sư thì ílồiìiị thời ra quyết địnli giai tliơ Đoàn luật sư, đoàn bào chữa viên lìhân dân hiện có tụi địa phương được thành lập theo Thông tư số 6 9 1 /Q L T P K ní’ủy 31-

1 0-Ị 983 của Bộ T ư p h á p ” ('Thông tư số 313-TT/LS ngày 15/4/1989, khoản3-

mục UI) Theo quy định này thì đoàn BCVND gần như không còn hoạt động nữa Và cho đến nay vẫn chưa có một cách hiểu thống nhấl về khái niệm BCVND Thực tiễn hoạt động bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành một hệ thống; điều kiện để trở thành bào chữa viên nhân dân cũng không được quy định cụ thể, nhưng có thể hiểu BCVND là bất cứ người nào

có kiến íhức pháp luật cần thiết, có khả năng bào chừa được tổ chức, đoàn thể

xã hội cử ra để bào chữa cho bị cáo và được CQTHTT cấp giấy chứng nhận « bao chừa

Phái đến khi BLTTHS năm 2003 ra đời mới có một số quy định rõ ràng

I

hơn một chút về BCVND, tại điều 57, khoản 3 đã quy định thủ tục cử BCVND

" u V hau M ật trận T ổ quốc Việt N a m , các tổ chức thành viên của M ặt trận có I/U VCII ( lí bao chữa viên lỉlhín (iân de bào chữa cho NBTCỈ, BCBC /ủ thành viên cíta lổ chức m ình” và tại điều 305 khi quy định về người bào chữa cho

ngirời chưa thành niên cũng quy định “T ro n " ĩrưởniỊ hợp BCBC /ả người chưa

thành ni ớn hoặc n^ười đại diện hợp pháp của họ không /ưa chọn dược người

Trang 23

bào chữa thì C ơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tỏa ân ph á i yêu cầu Đoàn luật su’ phùn công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đ ể nghị ơv han Mại trận Tỏ quốc Việt N a m , tó chức thành vi'ớn cua Mặt trận cứ Iiqười

hủo chừa cho tlìùnh viên của lô chức minh", đây là những quy định hoàn toàn

mới so với BLTTHS năm 1988,^1160 đó có thể hiểu BCVND là bất kỳ người nào được Uỷ ban mặt trận Tổ quốc Việt nam, và các tổ chức thành viên của mặt trận như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ cử để tham gia bào chữa V

1.2.3 Vai trò và su cần thiết có sư tham gia của người bào chữa trong tỏ tung hình sư

Việc pháp luật TTHS ngày càng ghi nhận và đánh giá đúng yai trò của

ẬhSv

người bào chữa đổng không ngừng nâng cao địa vị pháp lý của người bào cliừa irung TTHS có ý nghĩa xã hủi hêì sức sáu sác; ihể hiện dược lính dan chủ, khách quan của Nhà nước ta trong hoạt động tố tụng; đám bảo thực hiện quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa:

- Qua tình hình thực tế điệu, tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự thì người bao chữa tham gia TTHS đã góp phần giái quyết vụ án mội cách khách quan góp phán vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG BCBC; tăng cường lính dân chủ trong hoạt động tư pháp; đảm bảo pháp chế xã hội chú nghĩa; loại bỏ được phần nào sự chuyên quyền của các CQTHTT, hiệu quả cổng việc bào chữa ngày càng cao từ đó mà lấy được lòng tin SƯ 1 0n trong từ imười dan nói chung và từ các CQTHT\nói riêng; giúp các CQTHTT thây được những thiêu sót cần phải bổ sung trong công tác điều tra, truy tố hoăc xét

xử thòng qua các kiến nghị hợp lý của người bào chữa khi phái hiện ra các sai sót của CQTHTT

- Niiơời bào chữa, qua côníi việc bào chữa của mình, giúp cho các t'Q T H ỈT người dân hiếu dược bản chái của sự việc, hành vi phạm tội, cũng

Trang 24

như động cơ, mục đích, nguyên nhân xảy ta tội phạm Qua đó giúp CQTHTT

la được một bán án công minh, chính xác; Chỉ ra được những nguyên nhân dan đen tội phạm; giúp cho các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luậl bổ sung điều chỉnh sau này

Tóm lai: Theo quy định của pháp luật TTHS và theo cách hiểu hiện nay ihì người bào chữa trong TTHS gồm 3 lo ạ i chính là Luật SU' bào chữa, BCVND

và người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC, những người này có thể tham gia vào TTHS để thực hiện bào chữa khi được chính thân chủ của họ mời hoặc được các CQTHTT chỉ định Tuy nhiên việc chấp nhận hoặc từ chối người nào trong số những người kể trên làm người bào chữa cho mình hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí và sự lựa chọn của chủ thể có quyền bào chữa Trong thực tiền tiến hành tố tụng ở Việt nam ta, chủ yếu người tham gia bào chữa trong tố tụng hình sự là Luật sư, rất ít khi BCVND và người đại diện hợp pháp của NBTG, BCBC tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa

Trang 25

CHƯƠNG 2

QUYỂN VÀ NGHĨA v ụ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

TRONG TỐ TỤNG HÌNH s ự

2.1 Q U Y Ể N VÀ NGHĨA v ụ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA T Ừ 1945 ĐẾN

TRƯỚC KHI CÓ BLTTHS NĂM 1988

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, khai sinh ra nước

TTHS đã sớm được nhà nước la quan tàm và chú ý Ngay 10/10/1945, Chu

lịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46 thành lập tổ chức luật sư mới ớ nước ta

thay thế cho tổ chức luật sư cũ tồn tại dưới thời kỳ Thực dân Phong kiến, tạm

thòi cho thi hành sắc lệnh tổ chức luật SU' ngày 25/5/1930 của chế độ thực dân

Pháp, với một số điểm sửa đổi phù hợp với điều kiện mới của đất nước Một irong những sửa đổi đó là phạm vi và điều kiện để được hành nghề luật sư:

"Cúc luật su' có quyền bào chữa ở trước tất cả các tòa Ún hàng tỉnh trở lên vù trước các tòa án quân s ự ” (Điều2, sắc lệnh số 46).

"Muốn được liệt danh vào bâng luật sư tại Tòa Thượng thẩm Hù N ội hay Sài Gòn phủi có đủ những diều kiện sau này:

ỉ - Có quốc lịch Việt Nam, hất luận nam nữ;

2- Cố bằng cử nhân luật;

3- Đ ã làm luật sự tập sự trong ba năm (k ể từ ngày tuyên thệ) ở m ột Vãn p/ìòníỊ luật sư thực thụ troníỊ Iiước Việt Nam.

N hữnẹ ngưởi đ ã làm luật sự tập sự ở Pháp cỏ thề xin tính thời hạn tập

sự ơ Pháp nhưng chỉ được trừ nhiều nhất lủ 12 tháng.

4- Có hạnh kiểm í ốt;

5- Dược bằiìíị chứniỊ rằng d ã hết hạn tập sự vủ chi I I I ' cách lủm /ttậĩ sự tliực thụ "(Điều 3 sắc lệnh số 46).

Trang 26

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ vừa phải xây dựng kiến thiết đul nước vừa phải kháng chiến chống Thực dân Pháp, còn rất nhiều khó khăn trong quán lý và điều hành đất nước nên các quyền bào chữa cua BCBC cũng bị hạn chế nhất định, theo đó địa vị pháp lý của người bào chữa cũng không dược coi trọng đúng mức, các quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chừa ít được nhắc tới trong các quy phạm về trình tự tiến hành tố tụng Tai Sác lệnh số 13 của Chủ tịch nước ngày 24/1/1946 về tổ chức các tòa án và các

ngạch tư pháp quy định về trình tự xét xử ở các tòa án, có quy định người bào

chữa chí được tham gia biện hộ từ tòa đệ nhị cấp trở lên “Gác luật sư cố quyền

biện hộ trước tất cả các tòa Ún trừ nhữìĩiị Tỏa sơ cấp” (Điều 46) Và một quy

định nhỏ nữa về việc tham gia của người bào chữa, đó là “Trong việc dại hình,

lìếu trước Tòa Thượng thẩm một bị cun không có ai bênh vực, ông Chánh án

s è cử m ột luật sư đ ể bào chữa cho hắn" (Điều 44).

Tiếp đó khi Hiến pháp năm 1946 ra đời (thông qua ngày 9/11/1946) tại

điều 67 đã ghi nhận: “Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấv hoặc mượn

luật sư" Từ đó quyền và nghĩa vụ của luật SU' (người bào chữa) cũng được xác

định chính thức và rõ ràng hơn Trong hoàn cảnh chiến tranh lúc đó của đất nước ta, hoạt động của Đoàn luật sư gặp nhiều khó khăn và nhiều khi không thể đáp ứng được yêu cầu bào chữa của BCBC Trước tinh hình đó, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh số 69-SL ngày 18/6/1949 quy định thòm một chú thể khác (.lược quyển đứng ra bào chữa cho BCBC- có thế coi đây là một loại người bào chữa thứ hai - người bào chữa do BCBC mời:

""Từ nay đến khỉ nào có th ể lệ khác, trước các tỏa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại lĩìnli, trừ Tòa án binh tại m ặt trận, bi can có th ể nhờ Dĩô! cõiì.íi dân khôiì.íi phai lủ Ịuủt_ SƯ bào chữa ch o Công dân do bị can d ã tự chọn dí' bênh vực mình phủi diCỢc ÔI 1 ÍỊ Chánh án tlìừa n h ậ n ” "N êu bị can khôníỊ có ai bênh vực, ônq Chánh án có th ể tụ’ mình hay theo lòi yêu cẩu của

bị can cứ m ột Hi-ưới ra bào chữa cho hi can

Trang 27

Và cũng do hoàn cánh kinh tế lúc bấy giờ mà pháp luật cũng quy định người bào chữa không có quyền được nhận thù lao từ công việc bào chữa:

"Người đứng ra bênh vực không được nhận tiền tliù lao của bị can htiy của thân nhân bị can Người nào phạm vào điều Iiàv s ẽ bi truy lố và ỉrừiìíị phạt nhu' tội lừa d á o ” Tiếp sau (tó, sắc lệnh 144-SL ngày 22/12/1949 sửa đổi bổ

sung Sác lệnh 69-SL lại quy định rõ hơn, chi tiết hơn về sự tham gia của người hào chữa trong TTHS, mở rộng đối tượng được quyền nhờ người bào chữa Qua đó thì cơ hội tham gia bào chữa của người bào chữa cũng rộng và nhiều

hơn: 'T ừ nay, trước tỏa Ún việc x ử hộ vù Thương mại, trước các Tòa ẩìi

thường và Tòa án đặc biệt x ử việc tiểu hình, đụi hình, trừ Tòa Ún binh tại mặt trận, nguyên cáo, bi cáo và bi can có th ể nhờ m ôt công dân k h ó m phải Ị ù luât Mi' bênh VƯC clio m ình Công dân đó ph ả i được ô n g Chánh án thừa nhận."

(Điều 1, Sắc lệnh 144) Trong những năm phát triển tiếp Iheo dó của Nhà nước Việt nam ta, những quy định về người bào chữa được bổ sung, thay đổi và phát triển theo hướng ngày càng tích cực: Mỏ' rộng phạm vi tham gia của

người bào chữa, đối tượng, điều kiện có thể tham gia làm người hào chữa

Ngày 12/01/1950 Bộ Tư pháp ban hành Nghị định số 1-NĐ/VY ấn định điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấp của bào chữa viên, quy định cụ thể một

sô quyến của người bào chữa Theo quy định tại Điều 1 của Nghị định này thì những công dân sau đây có thể được cử ra hay được thừa nhận để bào chữa trước các tòa án:

Cỏ quốc tịch Việt nam, không phân biệt đàn ỏnq hay dàn bà;

ít nhất 21 tuổi;

Hạnh kiểm tốt vù clìiía can án.

Nghị định này còn quy định chi tiết về cử người bào chữa, quyền và nghĩa vụ

của nmrời bào chữa trong trường hợp này: “Đươriíỉ sự có th ể trình bày một

</anh sách ba nại tời b ên h vực cho mình, ôníị Chánh án s ẽ chọn một tronsị ba ìiạiíởi Itùv", “Niịiíới bào chỮLi ch rực cử ra hoặc được thừa nhận đê bào chữa

Trang 28

có quyên đến phỏng lục sự xem và chép hổ s ơ ” Trước khi xem hồ sơ người

hào chữa phải cam kết với Chánh án tuyệt đối giữ hí mật những điều mà mình biết khi xem hồ sơ và khi thẩm vấn ở phiên tòa nếu công chúng không được

dự thính [36, trang 41] Người được chí định làm người bào chữa trong phiên tòa bãt buộc phải đến dự, nêu vắng mặt hoặc từ chối không có duyên cớ chính đáng Ihì sẽ bị xóa tên trong danh sách bào chữa viên của năm đó [36, trang

42 Ị Ngoài ra tại điểu 8, Nghị định này còn quy định: người bào chừa có quyền nhận phụ cấp cho công việc bào chữa theo Nghị định số 885-HCTP ngày 4/6/1956

Việc quy định những người khác, không phải là luật sư, được làm người bào chữa cho BCBC đã mở rộng hơn nữa những đối tượng được tham gia bào chứa Qua đó số lượng người có đủ điều kiện tham gia bào chữa sẽ nhiều hơn, cóng tác bào chữa được tăng cường hơn nữa và đám bảo được yếu tố công

bằng, dân chủ trong hoạt động tố tụng góp phẩn bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của công dân

Sau này, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa đã được Thông tư số 22- HCTP ngày 18/12/1957 (của Bộ tư pháp trả lời một số điếm về quyển bào

chừa) hướng dẫn tương đối cụ thể: "về quyền hạn của người bào chữa cho bị

cáo thì trong “Đ ề án về quyền bào chữa của bị c a n ’’ (do H ội nghị T ư pháp họp à Bộ nẹày 20/6/ 1956 thông qua) có nhận đinh rầng bị cáo nhờ người bảo chữa lù đ ể giúp bị cáo thực hiện các quyền lợi về tố tụng và bênh vực cho bị can, do dó, khi chấp hành nghĩa vụ, người bàu chữa cho bị cun củng được hương dầy đủ các quyền hạn về tỏ'tụng lỉhư bị can ” [36, trang 42], cụ thể là:

Trước khi xét xử: Người bào chữa có thể bắt đẩu công tác từ khi mớ cuộc thẩm cứu

I roniĩ quá trình thám cứu: Người hào chữa dược theo dõi cuộc thám cứu;

có mặi với bị cáo trong những cuộc hỏi cung; yêu cầu điều tra thêm nếu thấy chứng cứ không đầy đủ, không rõ ràng; yêu cầu điều tra lại nếu phát hiện

Trang 29

hành vi dùng nhục hình, bức cung, mớm cung hoặc đe dọa, dụ dỗ, hứa hẹn để

bị cáo chịu nhận tội; người bào chữa được gặp và nói chuyện với bị cáo không được cu người tham dự hoặc được giao thiệp với bị cáo bằng thư từ; người bào chữa dược xem và chép hồ sơ để nghiên cứu (nhưng thực tế người bào chữa ở giai đoạn này chi được bắt đầu công việc Iham gia bào chữa khi Viện kiểm sát hoàn llùinh cáo trạng)

Trong phiên tòa xét xử: Người bào chữa được đề nghị với lòa án mời giám định viên hoặc người làm chứng mới có lợi cho bị cáo; tại phiên tòa người hào chữa được hỏi tất cả những người cung khai trước phiên tòa, sau khi xin phép ông Chánh án; Nếu có hiện lượng không dân chủ, irấn áp bị cáo làm mất quyền tự do bào chữa thì người bào chữa được đề nghị với tòa án chấm dứt ngay; Sau khi công tố viên luận tội, người bào chữa được trình bày lời bào chữa của mình, đề ra những điểm không đồng ý với Công tố viện và biện bác, xuất phát từ quan điểm bảo vệ luật pháp, chính sách và quyền lợi chính đáng can hi can; Sau khi người bào chữa nói xong mà công tố viện đáp lại thì người hào chữa có quyền trả lời; người bào chữa còn được xem bút lục của phiên tòa

và đề nghị với ông Chánh án đính chính hoặc bổ khuyết nếu phát hiện những chỗ ghi chép sai lầm, thêm bớt hoặc thiếu sót

Sau phiên tòa xét xử: Người bào chữa có thể chống án thay cho bị can, nếu bị can yêu cầu hoặc được sự đồng ý của bị can Người bào chữa có thế liếp tục bênh vực cho bị can tại Tòa án trên [36, trang 43/44]

Ngoài các quy định về quyền cho người bào chữa, Thông tư 22-HCTP cũng có những quy định về nghĩa vụ của người bào chữa: Người bào chữa phải thực sự cầu thị, tuyệt đối không xuyên tạc sự thật bảo vệ quyển lợi ích kỷ của đưưng sự trái với lợi ích của nhân dân Người bào chữa không thế có thái độ hay lòi nói đối lập với bị cáo mà mình bênh vực Lời lẽ bênh vực cho bị cáo phái có căn cứ thực tế và pháp luật; người bào chữa phải giữ bí mật những điều

đã biết được khi đọc hồ sư, khi dự những cuộc tham vãn mà cóng chúng

Trang 30

không dược nghe, hoặc khi bào chữa trong phiên tòa xử kín; người bào chữa không được viết hay nói gì hay có cử chí gì trái với sự lổn trọng của Chính

quyền, Tòa án, pháp luật và nhân dân; nếu có duyên cớ chính đáng, người bào

chừa có thê từ chối việc bào chữa, khi đã nhận bào chữa, phái làm nhiệm vụ một cách sốt sắng, đầy đủ, đúng đắn không được vượt ra ngoài quyền hạn của mình [36, trang 42-43]

Việc quy định và giải thích quyền và nehĩa vụ của người bào chữa như trone thòng tư 22-HCTP như đã nói ở trên là hết sức tiến bộ, nhưng trong thực tiễn hoạt động tư pháp ỉúc bấy giờ thì quyền của người bào chữa bị hạn chế hơn rất nhiều so với những quy định của pháp luật

Tiếp theo đó, Hiến pháp năm 1959 cũng đã ghi nhận quyền bào chữa

của bị cáo tại điều 101: “Quyển bào chữa của người bị cáo được bảo đ ả m ” và

dó là liên đề để cho các văn bán pháp luật khác quy định về người bào chữa và

địa vị pháp lý của người bào chữa: "N goài việc tự bào chữa ra, bị cáo có th ể

n hờ luật sư bào chữa cho mình Bị cáo cũng cố th ể nhờ nạười công dân được doàn tliể nhân dân giới thiệu hoặc được Tỏa án nhân dãn chấp nhận bảo chữa clio mình Khi cần thiết, Tòa án nhân dân chỉ định nạ ười bào chữa cho hi

c á o " (Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960, Điều7) Ngoài ra quyền và

nghĩa vụ của người bào chữa còn được quy định ở trong các văn bản pháp luật khác như Thông tư số 06/TC ngày 09/09/1967 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc báo đám quyền bào chữa cho bị cáo, trong đó có quy đinh vé quyền của người bào chữa và những báo đám từ phía các CQTHT cho người bào chữa được thực hiện những quyền đó:

+ Tỏa án phải chú ỷ sắp xếp lịch phiên tỏa đ ể người bào chữa có thời gian

cần thiết đ ể chuẩn bi bào chữa Người bào chữa cỏ th ể xin hoãn phiên tòa, nên nhặn thấy khôníỊ có đù thời giờ cho việc bào chữa Tàu án cũng càn sắp ÃCỊ) họp lý thời iịiưn pliiên tòa đ ế có đủ thời iịiờ cho việc bào chữa và tranh luận ỉ rước tòa Lời bào chữa cần dược iịhi chép trong biên ban phiên tòa, trừ

Trang 31

1 rường hợp người bào chữa đọc bủn bào chữa viết và đưa ban dó vào hồ so’ vụ

Ún Người bào chữa được xem biên bản phiên tỏa và đ ể nghị với chủ tọa phiên tòa dính chính hoặc b ổ khuyết nếu thấy có những chỗ ghi chép sai sót Tỏa án

p h ủ i nghiên cứu kỹ lưỡng m ọi lý lẽ của người bào chữa đ ể cố chủ trương xét

x ứ thật sút, đúng; Nếu xét thấy càn thiết củ th ể cho hoãn p/iiciì lòa d ể nghiên cứu thêm Bủn án của Tòa Ún phủi trà lởi Iihữntị lý lẽ mù Iiiịuòi bào chừa nêu

ra Sau phiên tòa người bào chữa cỏ th ể gặp bị cáo đ ể trao đổi với bị cáo về bàn án vù nếu bị cáo yêu cầu thì giúp đỡ cho bị chống án; nếu được bị cáo ủy nhiệm người bào chữa cố th ể chống án thay cho bị cáo [36, trang 38 ]

Ngoài ra, Thông tư cũng đã khắng định vai trò của người bào chữa thế hiện qua việc quy định những trường hợp phải có sự tham gia của người bào

chữa trong phiên tòa: “Tỏa án cần chỉ định người bào chữa tham gia bào chữa cho bi cáo nếu bị cáu không có người bào chữa đối với những vụ Ún có ảnh hưởng chính trị lớn, những vụ án mù bị cáo là người có nhược điểm về th ể chất lioặc tinh thần, những vụ án mà bị cáo cỏ th ể bi xử phạt tù chung thân hoặc í ử hình” [36, trang 38].

Thông tư này cũng có hướng dãn thực hiện và phát triển các quy định về

na ười hào chữa là hào chữa viên nhân dân: Mỗi tòa án nhân dân Khu, Thành, Tỉnh, Huyện cần xây dựng một danh sách BCVND bao gồm một số cán bộ của các cơ quan, đoàn thể ở xung quanh Tòa án để tiện cho bị cáo nhờ người bào chữa hoặc khi cần thì Tòa án chỉ định người bào chữa cho bị cáo Điều kiện để được giới thiệu vào danh sách BCVND là những cá nhân có trình độ chính trị khá, có khả năng làm công tác bào chữa, có nhiệt tình và điều kiện thiết thực; có tư cách đạo đức tốt [36, trang 38-39]

Kế thừa các quy định trước đày, Thông tư này cũng quy định thêm về

một loại người bào chữa nữa không phải là luật SU' cũng không phải là

BCVND Đó là nsười bào chữa do bị cáo mời: “M ặc dầu d ã có danli sách

lì/ìữiiíị người bào chữa, hi cáo vần có th ể yêu cầu Tòa ủn chấp nhận một cỏtiỊị

Trang 32

ílán lủm người bào chữa cho mình; Tỏa án cổ th ể chấp nhận hoặc không chấp lì/lận n^ười được bi cáo cử ra đ ể bào chữa Khi cần thiết, các đoản th ể nhân dân ãuiỊị có th ể cử người không cố tên trong danh sách bào chữa cho bi cáo"

[36 trang 39]

Sau đó, trong bán hướng dẫn về trình tự tố lụng phúc thẩm về hình sự (kèm thông tư số 16/TATC ngày 27/09/1974 của Tòa án nhân dân Tối cao) còn có những quy định cụ thể về quyền của người bào chữa và trường hợp phải

cỏ người bào chữa tham gia: “Người bào chữa có th ể là luật Mí hoặc người

bùo chữa nhân dân Bị cáo có th ể tự mình nhờ người bàu chữa, nhưng Tòa án nhãn dãn ph ả i chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong những trường hợp san đây:

+ Bị cáo có th ể bị ph ạ t tù chung thân hoặc p h ạ t tử hình;

+ Bi cáo là người có nhược điểm vê th ể chất (thí dụ: mù câm, điếc )

hoặc vê tinh thần (thí dụ: có bệnh động kinh, trước khi phạm pháp, kẻ phạm pháp đ ã bị điên nhưng được chữa khỏi ) mà phạm pháp nghiêm trọng;

+ Vụ án có tính chất nghiêm trọng và C'ó ảnh hưởng lớn trong d ư luận của nhân dân.

NiịUỜi bào chữa có quyền: dưoì ỵăji riêng bi cáo bi tam ịiiurn mà không

ai được tham dự; được nghiên cứu hồ sơ vụ án; được đ ề xuất chứng cứ và Iiliữnt' lời thỉnh cầu; đươc xin thay đổi thẩm phán htíăc hỏi thẩm nhản d à n ; dược tham gia cuộc thấm vấn và trình bày lời bào chữa ở phiên tòa, được bi cáo ux Iihiệm cho kháng tô' theo quy định của pháp luật; nếu bi cáo ỉù vị thành niên hoặc là người có nhược điểm về th ể chất hoặc rinh thần thì người bào chữa có quyền chủ động kháng tố d ể bảo vệ những quyền lợi của bị cáo

mủ không cần ph ả i cố sự đồng V của họ " [36, trang 1 19].

Sau này, đến khi Hiến pháp năm 1980 ra đời và Luật tổ chức lòa án

nhân dan 1981, địa vị pháp lý cua người bào chửa ve ban ván như quy định

Trang 33

trước đây nhưng Hiến pháp năm 1980 quy định, đề cập cụ thế hơn về tổ chức

chuyên nghiệp của những người bào chữa trong các vụ án hình sự: "Quyên

bào chữa của bị cáu được bào dam Tô chức luật sư dược thành lập dê giúp bị cáo vù cúc dương sự khác về mặt pháp / ý ” (Điều 133) Tiếp đó, địa vị pháp lý

cua người bào chữa nói chung và luật sư bào chữa nói riêng thật sự được khảng định khi Pháp lệnh tổ chức luật sư được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 18/12/1987 để cụ thể hóa những quy định về luật sư ớ Hiến pháp năm

1980 Pháp lệnh quy định chi tiết về điều kiện để gia nhập đoàn luật sư và trớ thành luật sư (Điều 11,12), quyền và nghĩa vụ của luật sư khi tham gia vào tố tụng hình sự với tư cách là người bào chữa đã được mở rộng hơn những quy định trước kia rất nhiều, luật sư có quyền:

- Bình đẳng với các thành phần khác trước Tòa án; không buộc phải

làm chứng về những vấn đ ề biết được khi làm nhiệm vụ bào chữa cho BCBC hoặc đụi cliện cho các đươnạ sự khác;

- Nghiên cứu hồ sơ vụ Ún, đ ể xuất chứng cứ, xăp liên g BC BC , dương sự;

đ ề nghị b ổ sung hồ sơ, trưng cầu giám định và đưa ra những đê nghị cần thiết khác;

- D ề nghị thay đổi người tiến hành, người tham gia tố tụng;

- Tham gia thẩm vấn và tranh luận tại phiên tòa, đ ề nghị biện pháp xử

Ịý bi cáo, bồi thường thiệt hại và các biện pháp ý á i quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân, gia dinh và lao động;

- Đọc, yêu cầu bổ' sung, đính ch ín h biên bản phiên tòa;

- K hán” ráo bản án và (/IIyết định của tòa ớn trong trường hợp làm hào chữa hoặc đại diện cho bị cáo, đương sự lù người chưa thành niên,

lì lị ười có nhược điểm vờ ihừ chất hoặc tủm thần.

Khi tham gia tố tụng, luật sư có th ể cố những quyền khúc theo quy đinh của pháp luật (Điều 14, Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987).

Trang 34

Đ ồng thời với những quyền trên, Điều 18, Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 cũng quy định luật sư có nghĩa vụ:

- Sử dụng các biện pháp dược pháp luật quy định đ ể báo vệ quyền và lợi

ích hợp pháp của BCBC vù các cĨKơìiịị sự khác;

- Không dược từ chối bào chữa cho BCtìC hoặc dụi diện cho dươnạ sự

mà mình đ ã đảm nhận hoặc đ ã được chỉ định, nếu không có lý do chính đáng;

- Không dược tiết ỉ ộ nhữiiịỉ bí mật mù mình biết dược troiiíị klii lủm nhiệm vụ giúp đỡ pháp lý.

Ngoài ra, đế đảm báo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, Pháp lệnh cũng có những quy định: Luật sư không được bào chữa hoặc đại diện trong vụ

án, nếu đã tiến hành hoặc tham gia tố tụng đối với vụ án với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch; hoặc là người thân thích của điêu tra viên, kiếm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân đã hoặc đang tiến hành tố tụng đối với

vụ án đó (Điều 15, Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987)

Nhìn chung, trước khi có BLTTHS năm 1988 thì các quy định về người bào chữa còn rất tản mạn, không thống nhất Và người bào chữa gần như chí iham gia vào TTHS ở giai đoạn xét xử Đó cũng là một trong nhũng lý do mà quyền của BCBC không được đảm bảo, gây ra nhiều oan sai, vi phạm Nhu cầu phải có quy định thống nhất về cách thức bảo vệ quyền lợi hợp pháp của BCBC thông qua người bào chữa dược đặt ra hết sức cấp thiết Và đến sau này, khi BLTTHS năm 1988 ra đời đã làm được điều đó

Trang 35

2.2 QUYỂN VÀ NGHĨA v ụ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TỪ KHI CỎ BLTTHS NAM 1988 ĐẾN NAY

Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được hệ thống hóa và quy định lập trung trong một văn bản khi BLTTHS năm/988 được thông qua vào ngày 28/6/1988 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1989 BLTTHS năm 1988

đã quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa tương đối rõ ràng và cỉày đủ đánh dâu một bước tiến lớn trong sự thay đổi cua tố tụng hình sự vê người bào chữa; Ngoài việc xác định địa vị pháp lý chung của người bào chữa trong mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng khác đổ đám báo sự bình

đãng: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị h ạ i, nguyên dơn dân

sự, bị dơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và lì/lững người đại diện hợp pháp của họ đểu có quyền bình đẳng trong việc đưa

ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Tỏa án” (BLTTHS năm 1988,

Điều 20) Bộ luật còn quy định rõ và tương đối chi tiết về các loại người bào chữa, quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép cho người bào chữa tham gia bào chữa

luật sư còn được xác định theo Quy chế Đoàn luật sư ban hành kcm theo Nghị định số 15/HĐBT ngày 21/2/1989 và thông tư của Bộ tư pháp số 313-TT/LS ntiày 15/4/1989 Hướng dẫn thực hiện quy chế đoàn luật sư Hai văn bản này

đã quy định và giải thích rõ ràng về điều kiện để trở thành luật sư, quyền,

nghĩa vụ, cơ chế hoạt động của luật sư và tổ chức luật sư khi tham gia bào

chữa cho các BCBC trong TTHS: “K hi tliam gia tố tụng, Luật su' có cúc quyền

vù Hiịhĩư vụ theo quy định của pháp luật tô tụng Cúc co' quan, lố chức và cá nhân có liên quan có trách nhiệm báo dám cho Luật SƯ thực hiện các quyên

vù nghĩa V I I đ ó ” (Điều 16-Quy chế đoàn luật sư).

Trang 36

Sự ra đời của những văn bản kể trên này đã đánh dấu một bước phát triển mới về chất đối với địa vị pháp lý của người bào chữa nói chung và luật

sư nói riêng trong TTHS ở nước ta, giúp cho việc xét xử được đúng người dung tội, đúng pháp luật nhưng vàn đảm bảo quyền tự do dân chủ của BCBC

Theo quy định tại Điều 36 của BLTTHS nám 1988, người bào chữa có những quyền và nghĩa vụ sau:

2.2.1 Ouvển của nguời bào chữa theo quv đỉnh của BLTTHS năm 1988

Người bào chữa được tham gia tổ tụng từ khi khơi tố bị can Trong tnỉờng liựp cần phái í>iữ bí mật (liều tru dối với tội đặc biẹt ni>ny hicni xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định đ ể )ií>ười bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra Khi đã xác định được

người có hành vi phạm tội, cơ quan điều tra (CQĐT) ra quyết định khới tố bị can tức là đã xuất hiện sự buộc lội của nhà nước đối với người bị can, vì vậy pháp luật TTHS quy định người bào chữa được tham gia từ khi có quyết định khới lố bị can trừ một số tội nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia thì người bào chữa có thể được tham gia từ khi kết thúc điều tra Việc BLTTHS năm

1988 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng ngay từ khi có

quyết định khởi tố bị can là một bước phái triển mới trong luật TTHS ở nước

ta so với irước đây khi chưa có BLTTHS năm 1988 - trước đây người bào chữa háu như chỉ tham gia vào tố tụng khi vụ án đã được chuyển sang Tòa án Quy định này thể hiện sự tiến bộ và dân chủ trong TTHS, đảm bảo cho việc bắt giữ, khới tố của CQĐT là đúng pháp luật, có căn cứ Tránh sự lạm quyền từ phía CQĐT, hál giam, tạm giữ không cần thiết; việc thực hiện quyền này cũng giúp cho người bào chữa được tiếp xúc với vụ án ngay từ đầu, sẽ thuận lợi hơn che? nmrừi bào chữa trong việc thu thập chứng cứ gỡ tội và những tình tiết giảm nhẹ cho bị can, để có thể bào chữa cho bị can ở giai đoạn sau của quá trình TTHS-giai đoạn xét xử

Trang 37

Khi đã tham gia tố tụng và được cấp giấy chứng nhận bào chữa để bào

chữa cho thân chủ, người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi ciiìHị bị can

Người bào chữa tham gia tố lụng là đế bác bỏ, phu nhận một phán hoặc toàn

bộ sự buộc tội của các CQTHTT đối với thân chủ của họ, nhằm đám báo cho quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án được khách quan và toàn diện Với

tư cách là người gỡ tội, người bào chữa cần thiết phải nắm đươc toàn bộ vu án xuyên suốt từ giai đoạn khới tố và điều tra; nếu đế ra đến tòa mới lìm hiểu, nghiên cứu hồ sơ mà tranh luận thì nhiều khi bị cáo bị oan mà người bào chữa không gỡ được, hoặc có gỡ được thì oan sai cũng đã xảy ra rồi, vì có nhiều trường hợp các bị cáo ra tòa khai họ bị mớm cung, ép cung, nhục hình, Irong klìi đó người bào chữa không được tham gia từ giai đoạn điều tra nên không biết thực hư thế nào; người bào chữa có mặi chứng kiến việc lấy lời khai hoặc hoi cung bị can sẽ làm cho bị can yên tâm hơn, và khi đó nếu phái hiện trong lời khai có những tình tiết gỡ tội phù hợp và có lợi cho bị can mà bán thân họ không ý thức được, người bào chữa sẽ có thể nhắc như thân chủ khai thêm về những tình tiết giảm nhẹ hay có lợi đó và lưu ý với điều tra viên để họ thể hiện vào biên bán hỏi cung hoặc biên bản lấy lời khai; đảm bảo cho việc diều tra được khách quan, ngăn ngừa hoặc hạn chế được phần nào đó sự vi phạm từ phía cán bộ điều tra như bức cung, mớm cung, nhục hình đối với NBTG, bị can BLTTHS quỷ-địxih người bào chữa được quyền có mặt khi lấy lời khai có

ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo dân chú, hạn chế oan sai Tại CQĐT, nếu không có người bào chữa, chí có điều tra viên và NBTG hoặc bị

can, điều tra viên rất dễ duy ý chí, chủ quan và thậm chí còn tiêu cực có những

hanh vi ép cung, bức cung, nhục hình đế lấy lời khai cho phù hợp với suy luận cua diều tra viên, rất dễ làm sai lệch hồ sơ vụ án Ngoài ra việc có mặt ngay từ đáu sc giúp cho người bào chữa có thể thu được những chúttiĩ cứ quan trọng khi bào chữa cho Ihân chủ trước tòa; Khi có mặt của người bào chừa Irong quá

trình hỏi cung sẽ hạn chế được tình trạng bức cung, ép cung phải nhận tội và

Trang 38

cũng sẽ chứng minh những trường hợp không có ép cung, bức cung bị cáo vần

khai là có bị cán bộ điều tra ép cung, bức cung; sẽ khẳng định vai trò của người bào chữa khi tham gia vào quá trình tố tụng: góp phần nâng cao chất lưựng điều tra, xét xử của các cơ quan tư pháp Vì vậy, việc BLTTHS quy định cho người bào chữa quyền này là hết sức cần thiết

BLTTHS năm 1988 cũng quy định, khi tham gia hỏi cung bị can nếu

diều tra viên đổng ý thì người bào chữa được hỏi bị can và có mặt trong những hoạt động điều trư khúc Khi được tham gia hỏi bị can, người bào chữa

sC' có thể hỏi những câu hỏi để làm sáng tỏ những tình tình tiết mà người bào chừa thây là cần thiết và quan trọng với công việc bào chữa của mình Người hào chữa cũng có quyền có mặt trong những hoạt động điều tra khác nếu được diều tra viên đồng ý, có thể hiểu đó là các hoạt động điều tra như:

- Lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;

- Đối chất, nhận dạng;

- Khám xét, thu giữ, tạm giữ kê biên tài sán;

- Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, giám định;

Đê đám bảo giải quyết vụ án được vô tư, khách quan toàn diện và chính xác, góp phần bảo vệ quyền lợi của bi can bị cáo BLTTHS năm 1988 quy định

Ni>ưởi bào chữa có quyền đ ề nghị thay đổi người tiến hành tô' tụng, người giám định, người phiên clịch Quyền này được quy định xuất phát từ nguyên

tấc đảm bảo sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng

theo như Điều 14 của BLTTHS năm 1988 “Thấm phán, hội thấm nhân d â n ,

kienĩ sát viên, điều tra viên, thư kỷ phiên tỏ a , nqười phiên d ịc h , người ỊỊÌúm (lịnh không được tiến hành hoặc tham ạia tố tụnạ, nếu cỏ /v do xúc dáng đ ể cho rằ/ií> họ có th ể không vỏ tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình Điều luật này đã quy định người bào chữa có quyền ycu cầu thay đổi NTHTT,

Trang 39

người giám định người phiên dịch nếu có căn cứ cho thấy nhũng người này không khách quan khi tiến hành công việc, người bào chữa sẽ căn cứ vào những quy định tại điều 28 BLTTHS năm 1988 để đề nghị thay đổi NTHTT,

đó là những căn cứ sau:

- Họ đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đon dân sự; người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân thích của nhũng người đó hoặc của BCBC;

- Họ đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó;

- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thê' không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

Quyền này được quy định đã mở rộng quyền của người bào chữa hơn so với trước đây Nó cũng xuất phát từ việc người bào chữa được tham gia vào TTHS sớm hơn những quy định trước khi có BLTTHS năm 1988, trước đây người bào chữa chỉ tham gia từ khi vụ án đã được chuyển sang Tòa án và theo đó thì

người bào chữa chí có quyền yêu cầu thay đổi thẩm phán, hội thẩm nhân dân

Nay, theo quy định của BLTTHS thì nếu thấy cần thiết người bào chữa có quyền yêu cầu thay đổi Điều tra viên, người giám định ngay từ giai đoạn điều tra

Trong khi tiến hành các hoạt động để thu thập tài liệu, chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa có ihế phát hiện

ra những tình tiết mới quan trọng có lợi cho thân chủ mà CQĐT chưa có hoặc

chưa thu thập được Chính vì vậy, BLTTHS quy định người bào chữa có quyền

dưa ra chứng cứ và nhữnq yêu cầu, theo đó người bào chữa có quyền đưa ra

chứng cứ mà mình đã thu thập được hoặc ycu cầu CỌTH 7T xem xét hoặc thu Ihập Ihèrn những chứng cứ chứng minh sự vô lội, các tình tiél uiám nhẹ trách nhiệm của BCBC Quyền đưa ra chứng cứ và vêu cầu ớ đây được hicu la

Trang 40

quyền trong tất cả các giai đoạn tố tụng, ví dụ như những yêu cầu đề xuất ớ giai đoạn điều tra để CQĐT điều tra thu thập thêm chứng cứ, yêu cầu CQĐT

bổ sung kịp thời những thiếu xót Irong hoạt động điều tra (hoạt động đối chất, nhận dạng ); người bào chữa có quyền yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng, đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét, yêu cầu hoãn phiên tòa, yêu cáu giám định pháp y nếu trước đây chưa có hoặc đã có rồi nhưng chưa chính xác thì yêu cầu giám định lại khi có căn cứ để thấy rằng kết quả giám định là không khách quan Những yêu cầu này có thể sẽ làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến vụ án có lợi cho thân chủ của họ; hay ít ra cũng dế họ có thời gian để thu thập thêm chứng cứ mới để bào chữa cho thân chủ Trong thực tế, quyền này của của người bào chữa là rất quan trọng, đã có nhiều trường hợp nhiều kết luận giám định không chính xác đã dẫn đến việc xét xử định tội oan' (itbư giám định tỉ lệ thương tích sai dẫn đến kết tội sai khung) Chính vì vậy

mà người bào chữa phải xem xét, đánh giá tình hình sử dụng quyền đưa yêu cầu của minh hợp lý là việc rất cần thiết

Đổ đảm bảo cho việc bào chữa được hiệu quả thì người hào chữa cần phái có những thông tin chính xác về vụ án, và cần thiết phải gặp thân chủ của mình để trao đổi, tìm hiểu những thông tin đó Nhưng trong một số trường hợp thì thân chủ của người bào chữa lại bị tạm giam, cách ly với xã hội; vì vậy.,

BLTTHS quy định cho người bào chữa quyền được gặp BCBC đang bị tạm

lịiưm Việc gặp bị can bị cáo đang bị tạm giam là một trong nhữrm cách thức

dó người bào chữa nghiên cứu tìm hiểu về những tình tiết của vụ án thông qua

nmrời liên quan trực tiếp đến vụ án Gặp BCBC không những giúp để người

bào chữa thu thập thông tin về các tình Liếl của vụ án mà người bào chùa còn

có 1 hể tư vấn pháp luật cho thân chủ: giái thích cho họ biết về họ và CQTHTT

có những quyển và nghĩa vụ gì? Việc thực hiện quyền này sẽ giúp ngưừi bào

chữa thu Ihập thêm các tình tiết liên quan đến vụ án, thuyết phục động viên

ihân chủ nói ra những tình tiết mà họ chưa khai báo hoặc không muốn khai

Ngày đăng: 16/02/2021, 19:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w